Friday, June 1, 2012 8:35:03 AM
ngày 6/6
Ngày 6 tháng 6, Việt Nam sẽ được chứng kiến sao Kim đi qua đĩa Mặt trời. Đây được coi là sự kiện thiên văn nổi bật nhất trong năm 2012, và có thể 105 năm nữa mới lặp lại.
Theo Space.com, ngày 5/6, quỹ đạo của sao Kim sẽ đưa nó lọt vào Mặt trời và Trái đất. Đây là hiện tượng mà giới thiên văn gọi là “sự di chuyển ngang qua Mặt trời” (transit).
Khi hiện tượng trên xảy ra, sao Kim sẽ di chuyển từ trái sang phải của đĩa Mặt trời, trông như một chấm đen di động. Ông Jay Pasachoff, trưởng khoa Thiên văn của Đại học Williams (Mỹ), cho biết, chấm đen sẽ chỉ tương đương khoảng một phần nghìn diện tích đĩa Mặt trời.
Hiện tượng này xảy ra trong 6 tiếng 40 phút, nhưng phải đến năm 2117 chúng ta mới có thể quan sát lại một lần nữa. Theo ông Nguyễn Đức Phường, Tổng Thư ký Hội Thiên văn – Vũ trụ Việt Nam: “Hầu hết các nơi trên thế giới đều có thể chiêm ngưỡng hiện tượng này, đây là sự kiện rất đặc biệt vì lần xảy ra tiếp theo là 105 năm nữa”, ông Phường nhấn mạnh”.
Trong lịch sử, con người mới chỉ chứng kiến cảnh tượng sao Kim di chuyển ngang qua Mặt trời 6 lần vào các năm 1639, 1761, 1769, 1874, 1882 và 2004.
Ở Bắc Mỹ, người dân có thể chứng kiến thời điểm sao Kim bắt đầu đi ngang qua đĩa của Mặt trời vào buổi chiều và buổi tối ở chân trời phía Tây vào ngày 5/6. Trong khi, phần lớn của châu Á và châu Âu chỉ được chứng kiến hiện tượng này vào sáng sớm ngày 6/6 khi Mặt trời vừa ló rạng ở phía Đông, và sao Kim đã nằm trong đĩa của Mặt trời.
Tại Việt Nam, hiện tượng này bắt đầu xảy ra vào lúc Mặt trời vừa xuất hiện ở chân trời phía Đông và kết thúc vào khoảng 12h trưa ngày 6/6.
Các nhà thiên văn khuyến cáo, tuyệt đối không được quan sát hiện tượng này bằng mắt thường hoặc bằng các dụng cụ quan sát không có tấm lọc Mặt trời, vì ánh sáng Mặt trời có thể gây tổn hại đến giác mạc thậm chí gây mù lòa. Chúng ta có thể đeo kính lọc Mặt trời hoặc dùng tấm phim lọc Mặt trời để bao lấy các thiết bị quan sát.
Trong tháng 6, Việt Nam cũng sẽ được chứng kiến một hiện tượng thiên văn khác là nguyệt thực. Thời điểm bắt đầu nguyệt thực là lúc 16h59 giờ Việt Nam và đạt cực đại vào lúc 18h03 ngày 4/6, khi ấy 37% bề mặt Mặt trăng sẽ bị che phủ. Hiện tượng này kết thúc lúc 19h06 cùng ngày.
Những lần sao Kim đi ngang mặt trời thực sự là sự kết hợp hết sức kỳ quái, vào tháng 6 hoặc tháng 12 chứ không lọt sang thời điểm nào khác. Khi đã diễn ra 1 lần, lần kế tiếp cũng sẽ xuất hiện cùng tháng nhưng cách đó 8 năm, rồi sau đó là một khoảng lặng dài đằng đẵng. Cặp hành trình vào tháng 12 sẽ theo sau cặp hành trình tháng 6 sau 105 năm, rồi cặp hành trình tháng 6 lại đến sau 121 năm và 6 tháng.
Sao Kim, còn gọi là Kim Tinh, Sao Hôm, Sao Mai (tên tiếng Anh: Venus) là hành tinh gần Mặt Trời thứ nhì của Thái Dương Hệ và thuộc loại hành tinh có đất và đá giống như Trái Đất (terrestrial planet). Kích thước, khối lượng và trọng lực của Sao Kim suýt soát với Trái Đất nên hai hành tinh này vẫn thường được coi như hai hành tinh sinh đôi. Ngoại trừ các điểm đó, Trái Đất và Sao Kim, trên thực tế, khác hẳn nhau: một nơi có khí hậu ôn hoà, nơi kia cực kỳ nóng; áp suất khí quyển ở một nơi thì vừa phải, áp suất nơi kia cực cao đủ để bóp bẹp một chiếc xe bọc sắt; không khí một nơi có nhiều hơi nước, dưỡng khí và thuận lợi cho sự sống, không khí nơi kia dầy đặc với chất độc, thán khí và các axít ăn thủng được kim loại. Với mắt trần Sao Kim là thiên thể sáng thứ ba trên bầu trời, sau Mặt Trời và Mặt Trăng. Cấp sao biểu kiến của Sao Kim biến đổi trong khoảng -4,6m đến -3,8m và được quan sát thấy dễ dàng nhất vào lúc trước khi Mặt Trời mọc hay sau khi Mặt Trời lặn, dẫn đến nhiều nền văn hóa cổ đại đã coi đây là hai ngôi sao riêng biệt.
Tên tiếng Việt của sao Kim được rập dựa vào nguyên tố kim của Ngũ Hành; Nhưng người Việt còn gọi là sao Hôm, khi hành tinh này mọc lên lúc hoàng hôn, và sao Mai, khi hành tinh này mọc lên lúc bình minh.
Các văn hóa Tây phương dùng tên thần Venus (tiếng Việt là Vệ nữ), vị nữ thần của sắc đẹp và của tình yêu trong thần thoại La Mã, cho hành tinh này; trong thần thoại Hy Lạp tên của vị thần này là Aphrodite (Αφροδίτη). Sao Kim được các nền văn hóa thượng cổ để ý đến vì độ sáng của nó. Người Hy Lạp cổ đại tuy biết Sao Kim xuất hiện trên bầu trời cả ban ngày lẫn ban đêm nhưng, giống như người Việt, vẫn đặt tên riêng cho Sao Hôm là Hesperus và cho Sao Mai là Phosphorus. Trong thần thoại Trung Quốc, Thái Bạch Kim Tinh là tinh chủ của sao Kim (Kim Tinh). Các nền văn hóa cổ khác như Ai Cập, Babylon, Maya, Ả Rập, Trung Hoa, Ấn Độ... không chỉ có tên riêng cho Sao Kim, và cả cho Sao Hôm và Sao Mai, mà còn có nhiều văn kiện quan trọng nghiên cứu về hành tinh này qua nhiều thế hệ.
Nhiệt độ tại bề mặt của Sao Kim, như giải thích ở trên, rất cao – trung bình vào khoảng 464C (740K). Đây là nhiệt độ nóng đủ để biến kim loại chì thành chất lỏng. Sự cách biệt về nhiệt độ tại bề mặt giữa ban ngày và ban đêm của Sao Kim rất ít vì ảnh hưởng của ánh sáng Mặt Trời trên nhiệt độ rất ít. Sao Kim có thể xem như là hành tinh với khí hậu nóng nhất Thái Dương Hệ.
Liệu sự kiện thiên văn xảy ra trong ngày 6 tháng 6 năm 2012 có ảnh hưởng gì đến trái đất của chúng ta hay không ?. Có một số nhà dự báo( ngoại cảm ) cho rằng sẽ có những biến cố ( xấu ) trong ngày này.Vậy chúng ta thử chờ xem điều gì sẽ xảy ra.
Soleil ( Mặt trời )
Mercure (Mercury , Sao Thủy),
Venus (Sao Kim),
Terre (Earth , Trái Ðất),
Mars (Sao Hỏa),
Jupiter (Sao Mộc),
Saturne (Saturn, Sao Thổ),
Uranus (Sao Thiên Vương),
Neptune (Sao Hải Vương)
Pluton (Pluto, Sao Tử Vương)
Friday, May 11, 2012 3:54:29 PM
TB
Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Hồ chí Minh với sự cộng tác của Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người tổ chức Hội thảo khoa học & Thực nghiệm về tiềm năng con người.
Thời gian : 7h 30, thứ bẩy , ngày 19 tháng 5 năm 2012
Địa điểm :Hội trường Bảo tàng Quân khu 7, số 247 Hoàng Văn Thụ, P 1 , Quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh.
Nội dung :
- Báo cáo khoa học về tiềm năng con người
- Thực nghiệm tìm mộ liệt sỹ, chữa bệnh bằng năng lượng sinh học.
- Các nhà ngoại cảm phát biểu ý kiến..
- Giải đáp khoa học…
Ban Tổ chức Hội thảo
Cố vấn chỉ đạo
1- HT. Ts Thích Trí Quảng- Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh.
2- GS. Phạm Minh Hạc- Chủ tịch danh dự Hội khoa học Tâm lý giáo dục VN
Ban Tổ chức
1- Trưởng ban : HT. Ths . Thích Đạt Đạo – Phó viện trưởng Học viện Phật giáoViệt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh.
2- Phó ban: GS. VS Đào Vọng Đức – Chủ tịch Hội đồng khoa học- TTNCTNCN.
3- Phó ban kiêm thư ký : TT.Ts Thích Nhật Từ- Phó viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp Hồ Chí Minh.
Thành viên
1- Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải – chủ nhiệm Bộ môn Thông tin dự báo – TTNCTNCN.
2- Nhà ngoại cảm Nguyễn Tư- TTNCTNCN
Monday, April 30, 2012 1:59:39 AM
Việt Nam
Nghĩ về đạo lý dân tộc
- Cách đây 8 năm, cũng vào dip kỷ niệm 30 tháng 4, để trả lời câu hỏi “vì sao một đất nước tương đối nhỏ bé và lạc hậu về công nghệ lại có thể đánh thắng hai cường quốc là Pháp và Mỹ” Pino Tagliazucchi, nhà nghiên cứu người Ý, cố tìm “một điều gì đó không liên quan đến khoa học quân sự cổ điển..." rồi kết luận rằng đó chính là : lịch sử và văn hoá của dân tộc Việt Nam, và cuộc đấu tranh vì độc lập là của tất cả mọi người.”
Đường nét cơ bản của đạo lý dân tộc mà chung ta đang nghĩ về được khởi phát ngay trong giai đoạn mở đầu thời kỳ tự chủ thoát khỏi ách Bắc thuộc, đặt cơ sở vững chắc cho nền độc lập. Vào buổi ấy, trong tuyên ngôn được xem như là "cương lĩnh dựng nước" của Khúc Hạo năm 907 đã khẳng định : "Chính sự cốt chuộng khoan dung giản dị" khiến cho "trăm họ đều được yên vui". Vào thời điểm lịch sử ấy, trong bài kệ "Vận Nước" [Quốc Tộ] của Thiền sư Pháp Thuận [915-990] cũng nói về khát vọng hòa bình, an lạc:
"Vận nước đan xen với nhau như mây quấn
Đất trời Nam đang hưởng thái bình
Nếu triều đình thấm nhuần lẽ vô vi
Mọi nơi sẽ không còn chiến tranh
[Quốc tộ như đằng lạc/
Nam thiên lý thái bình/
Vô vi cư điện các/Xứ xứ tức đao binh"]
Quả thật, nếu "Thiền tâm thấm tận triều đinh/ Thì nhân gian dứt đao binh đời đời" [Nguyễn Duy dịch thơ], khát vọng nhân văn cao cả ấy đã được ông cha ta nuôi dưỡng và ghi trên những trang sử vàng của dân tộc. Đương nhiên lịch sử cũng từng tô đậm những trang oanh liệt về ý chí quật cường, lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều đập tan những đạo quân xâm lược khiến chúng "ra đến biển chưa thôi trống ngực, về đến Tàu còn đổ mồ hôi" [Cáo bình Ngô]
Trong cái thế "chẳng đặng đừng" của tình huống "gươm dơ lấy nước làm sạch, nước dơ lấy máu làm sạch", ông cha ta phải tuốt gươm. Cho dù " Thù nước chưa trả mà mái tóc đã sớm bạc, Bao phen mang gươm báu ra mài dưới ánh trăng" [Quốc thù vị báo đầu tiên bạch, Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma]* [Đặng Dung. "Cảm hoài" ] . Thế nhưng, khi "Giặc tan muôn thuở thanh bình" thì lại nghiệm ra rằng "Sông đây rửa sạch giáp binh...Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao" [Trương Hán Siêu "Bạch đằng giang phú"] Nội hàm của khái niệm "đức" ở đây cần được hiểu là đạo lý truyền thống của dân tộc ta.
Đừng quên rằng, bài phú Sông Bạch Đằng được làm ra trong khí thế ngút trời của ba lần đại thắng quân Nguyên, ấy vậy mà kết thúc bài phú lại mượn ý của Đỗ Phủ "an đắc tráng sĩ vãn Thiên hà, tĩnh tẩy giáp binh trường bất dụng" [ước gì được tráng sĩ kéo sông Ngân hà xuống, rửa sạch giáp binh mãi mãi không dùng nữa] để nói lên cái khát vọng hòa bình, an lạc thấm đẫm triết lý nhân văn của ông cha ta. Chẳng thế mà cùng thời điểm với bài phú của Trương Hán Siêu, với "Trảm xà kiếm phú", Sử Hy Nhan cũng từng viết : "sinh ở thời văn minh không nên bàn về uy vũ, sống ở thời thịnh trị chớ có nói chuyện chiến tranh". Trong mạch tư duy ấy, bài phú kết thúc bằng mấy câu thơ :
Kiếm này! Kiếm này! Là vật chẳng lành
Thánh nhân túng thế mới dùng mi, đâu phải vật quý
Ôi! Thánh triều ta sùng thượng văn học
Thiên hạ nhất thống, thái bình thịnh trị
Nếu có kiếm chừ, dùng đến mà chi.
1-Càng ngẫm nghĩ kỹ về những câu thơ này, càng ngộ ra được cái tầm cao của một suy tư thể hiện bản lĩnh văn hóa của một dân tộc "vốn xưng văn hiến đã lâu" như Nguyễn Trãi từng chỉ ra trong áng văn bất hủ vốn được xem là "Tuyên ngôn Độc lập" thế kỷ XV. Vì thế, cần hiểu rẳng nội hàm của khái niệm "sùng thượng văn học" nói ở đây chính là đề cao văn hóa, là hiểu rõ bản lĩnh truyền thống dân tộc đã xây đắp nên nền văn hóa Việt Nam. Và đó chính là cội nguồn của sức mạnh Việt Nam.
Cách đây 8 năm, cũng vào dip kỷ niệm 30 tháng 4, để trả lời câu hỏi “vì sao một đất nước tương đối nhỏ bé và lạc hậu về công nghệ lại có thể đánh thắng hai cường quốc là Pháp và Mỹ” Pino Tagliazucchi, nhà nghiên cứu người Ý, cố tìm “một điều gì đó không liên quan đến khoa học quân sự cổ điển..." rồi kết luận rằng đó chính là : lịch sử và văn hoá của dân tộc Việt Nam, và cuộc đấu tranh vì độc lập là của tất cả mọi người.”
2 -Ở vào vị thế địa-chính trị ngặt nghèo của "trứng chọi đá", phải thường trực cảnh giác với tham vọng bành trướng của các thế lực phong kiến phương Bắc, nhân dân ta luôn phải dùng yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều. Vì vậy, để có sự đồng thuận cả nước một lòng, phải tìm mọi cách phát huy đến mức cao nhất tinh thần đại đoàn kết.Có thể nói, “đại đoàn kết dân tộc là một tư tưởng chính trị lớn, đồng thời là một đạo đức lớn…Tư tưởng và đạo đức ấy coi đoàn kết là lẽ sinh tồn của dân tộc ta từ ngàn xưa, là sức mạnh vô địch của cách mạng nước ta hiện nay và sau này. Tư tưởng và đạo đức ấy thể hiện tinh thần hòa hợp dân tộc, tình tương thân tương ái của con người, sự độ lượng bao dung và lòng quý trọng từng nhân cách, tập hợp được đông đảo nhân dân, động viên được công sức tài năng của mọi người, không bỏ rơi, không để sót một ai
3. Càng thiết thực và có ý nghĩa trực tiếp hơn khi hiểu rằng bài học đại đoàn kết dân tộc cũng là bài học của "tinh thần hòa hợp dân tộc ", bài học về "sự độ lượng bao dung và lòng quý trọng từng nhân cách", do vậy mà "tập hợp được đông đảo nhân dân, động viên được công sức tài năng của mọi người, không bỏ rơi, không để sót một ai".Để sáng tỏ hơn nữa điều này, cần nhắc lại ở đây tư tưởng chỉ đạo trong bức thư năm 1972 của Lê Duẩn "Gửi Trung ương Cục miền Nam về những công tác cấp bách ở miền Nam sắp tới" : "Theo tinh thần hòa hợp dân tộc, cách mạng chủ trương "đại xá" đối với những người đã tham gia các tổ chức chính trị hoặc vũ trang của địch. Tất cả những ai thấy được tội lỗi, đoạn tuyệt với quá khứ, quay về đường ngay lẽ phải, đều có chỗ đứng trong lòng dân tộc...Chính sách của chúng ta lấy nhân nghĩa để cảm hóa, lấy khoan hồng để đối xử, tuyệt đối không báo oán, trả thù"
4. Sau này, khi nhắc lại tư tưởng ấy, Võ Văn Kiệt day dứt với những suy tư : “Sau 30.4, khi đồng chí Lê Duẩn vào Sài Gòn, vừa xuống thang máy bay, đồng chí nắm tay đưa lên cao, giọng đầy cảm xúc, nói : “Đây là thắng lợi của cả dân tộc, không phải của riêng ai”. Sau ba mươi năm, tôi thấy không phải dễ dàng làm cho mọi người Việt Nam cảm nhận được điều đó”.
5 -Những suy tư ấy của một người thường trực đứng nơi đầu sóng ngọn gió của cuộc chiến đấu khốc liệt thấm đẫm tính nhân văn trong truyền thống Việt Nam. Ông thẳng thắn nói lên một sự thật mà không phải ai cũng dám nhìn thẳng vào sự thật ấy để đưa ra những quyết sách : “Chiến thắng của chúng ta là vĩ đại, nhưng chúng ta cũng đã phải trả giá cho chiến thắng đó bằng cả nỗi đau và sự mất mát. Lịch sử đã đặt nhiều gia đình người dân miến Nam rơi vào hoàn cảnh có người thân vừa ở phía bên này, vừa ở phía bên kia, ngay cả họ hàng tôi cũng vậy. Vì thế, một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu…. Chính vì thế “…nếu chỉ dùng đối đầu và bạo lực để giải quyết những thù hận thì chỉ đẻ ra thù hận. Nếu dùng cách cảm hóa để giải quyết thù hận thì có thể triệt tiêu được thù hận và tạo ra sức mạnh ngày càng dồi dào hơn. Nếu cứ còn chia rẽ do thù hận vì bại, kiêu vì thắng thì có ích gì cho bản thân, cho đất nước, cho hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế ?”
6-Những ý tưởng cao đẹp dẫn ra ở trên, nghĩ cho kỹ, chính là sự kế thừa một cách trung thực và sáng tạo truyền thống nhân ái và khoan dung của ông cha ta, khởi đầu từ "cương lĩnh dựng nước" nhắc ở trên, cội nguồn của ý chí và sức mạnh dân tộc. Xin chỉ gợi vài ví dụ.
Đại Việt sử ký toàn thư. Quyển X. Kỷ Nhà Lê đã chép chỉ dụ của Lê Thái Tổ : “Trả thù báo oán là thường tình của mọi người, nhưng không thích giết người là bản tâm của bậc nhân đức. ... tha mạng sống cho ức vạn người để dập tắt mối chiến tranh cho đời sau, sử xanh ghi chép, tiếng thơm muôn đời, há chẳng lớn lao sao?”. Cũng Đại Việt Sử ký. Quyển V. Kỷ Nhà Trần chép : "Trước kia, khi người Nguyên vào cướp, vương hầu, quan lại nhiều người đến doanh trại giặc xin hàng. Đến khi giặc thua, bắt được cả một hòm biểu xin hàng. Thượng hoàng sai đốt hết đi...".
Vào thế kỷ XVIII, Nguyễn Huệ, người đã đánh tan hai mươi vạn quân xâm lược trong vòng mười ngày đã từng nói với Ngô Thời Nhiệm : "nay ta đến đây tự đốc việc quân, đánh hay giữ đã có kế cả rồi...nhưng nước Thanh lớn hơn nước ta đến mười lần, bị thua chắc phải tìm cách rửa hận. Nếu cứ để binh lửa liên miên, thực không phải là phúc của nhân dân, lòng ta sao nỡ. Vì vậy, sau khi thắng trận phải khéo dùng từ lệnh thì mới dập tắt được lửa binh". "Gò Đống Đa" với bài văn tế những tên xâm lược xấu số là một biểu hiện sống động của "từ lệnh" đó : " Nay ta cho thu nhặt xương cốt chôn vùi. Bảo lập đàn bên sông cúng tế. Lòng ta thương chẳng kể người phương Bắc. Xuất của kho đắp điếm đống xương khô. Hồn các ngươi đừng vất vưởng dưới trời Nam. Hãy lên đường quay về nơi hương chỉ ". Chỉ nửa năm sau "sự kiện Đống Đa", Quang Trung đã lập lại quan hệ hòa hiếu với nhà Thanh!
Kế thừa và đẩy lên đỉnh cao truyền thống nhân ái và khoan dung ấy, Hồ Chí Minh đưa thêm nội dung dân chủ và tự do vào trong đó để chỉ ra tính chất "huynh đệ tương tàn" trong "cuộc chiến tranh giữa những người cùng theo đuổi một lý tưởng Tự do - Bình đẳng - Bác ái và chế độ dân chủ. Trong thư trả lời bà Chossis trong Hội Liên hiệp Phụ nữ Pháp viết ngày 22.9.1946 có đoạn : "Trong khi một bà mẹ Pháp thương khóc đứa con mình thì có bao nhiêu bà mẹ Việt Nam vừa thương khóc những người con bị giết, lại vừa đau xót vì nỗi nhà tan, cửa nát... Phải chấm dứt cuộc huynh đệ tương tàn này. Người Việt Nam và người Pháp chúng ta cũng theo đuổi một lý tưởng giống nhau: Tự do - Bình đẳng - Bác ái. Chúng ta cùng có mục đích giống nhau là chế độ dân chủ...Theo tinh thần “bốn bể đều là anh em”, tôi yêu mến thanh niên Pháp cũng như yêu mến thanh niên Việt Nam.
7-Đừng quên rằng ở đây, đối tượng của bức thư là người Pháp, tác giả là người thấm nhuần văn hóa và triết lý phương Đông nhưng lại hiểu biết sâu sắc văn hóa Pháp nói riêng và văn hóa phương Tây nói chung, nội dung của bức thư nói lên điều đó. Đối với những người con của các bà mẹ Pháp cũng như đứa con của các bà mẹ Việt Nam từng đứng ở hai chiến tuyến đối địch mà Hồ Chí Minh vẫn dùng khái niệm "huynh đệ tương tàn" để kêu gọi lương tri của những người mẹ nói riêng và của cả hai dân tộc nói chung vì "tình yêu nước và tình mẫu tử" mà đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh.
Thì chẳng phải Đức Phật đã từng dạy : “Nước mắt nào cũng cùng một vị mặn, máu của người nào cũng cùng một màu đỏ” đó sao. Triết lý ấy bắt gặp tư tưởng nhân văn cao cả của người Việt Nam ta"thương người như thể thương thân", nội dung cốt lõi của đạo lý truyền thống dân tộc. Phải từ tầm cao văn hóa đó mới có được lời lẽ chân tình và xúc động trong bức thư nói trên. Cũng nên biết thêm rằng, bức thư này Bác viết ngay trên chiến hạm Durvin của Pháp trên đường về nước.
Ngày 30 .4. 1975, non sông quy vào một mối, cột mốc chói lọi tô điểm thêm vào trang sử vàng của những Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa xưa kia để hiểu thêm về nội dung "sùng thượng văn học" thấm đẫm triết lý nhân văn trong đạo lý truyền thống dân tộc nhân văn để nhớ lại lời răn dạy của ông cha : "chính sự cốt chuộng sự khoan dung, giản dị", ngọn nguồn của tư tưởng " khoan sức cho dân, lấy kê sâu rễ bền gốc, đấy là thượng sách để giữ nước " trong lời căn dặn của Đức Thánh Trần, mà mỗi người Việt Nam, trước hết là những người gánh trọng trách quốc gia phải ghi nhớ nằm lòng. Đấy không chỉ là kế sách giữ nước, đấy chính là đạo lý dân tộc.
Tương Lai
Tuesday, April 24, 2012 9:41:44 AM
ghi chép
Tôi có một thói quen hàng ngày đọc báo vào buổi sáng. Lúc còn đi làm việc tại cơ quan, thì việc đầu tiên trong ngày là đi lấy báo ở văn phòng về để đọc. Thường thì các công sở đều có đặt báo hàng tháng, người đọc như tôi không mất tiền mua, không biết ở các công sở của các nước trên thế giới có như thế không? Nhưng được đọc báo như vậy là một việc không thể thiếu trong một ngày làm việc. Tôi không bàn về việc tiêu tiền như thế có đúng hay không? Nhưng tôi cho rằng đây là việc có văn hóa.
Khi về nghỉ hưu, thì thói quen của tôi có thay đổi đôi chút. Trước tiên tôi cũng đọc báo, nhưng mà đọc báo trên mạng Internet. Tôi hay vào mạng Cua hangnet.net. Phải công nhận báo mạng vô cùng phong phú và nhanh chóng, không những thế nó còn thông tin rộng rãi trên toàn thế giới. sau đó thì tôi mới đọc báo giấy. Đọc báo giấy thì phải mất tiền mua, cho nên phải lựa chon. Có người cho rằng bây giờ mọi thông tin ( trong đó có báo chí ) đều có trong mạng Internet và báo giấy sẽ hết thời. Nhưng theo tôi không hẳn như vậy. Nếu bạn ra quầy báo thì sẽ thấy vô vàn các loại báo giấy ra hàng ngày và vẫn bán chạy. Một số báo như Khoa học & Đời sống, Tuổi trẻ & Đời sống…nếu ra mua muộn thì báo đã hết.
Vậy người đọc báo quan tâm những gì trên tờ báo ( kể cả báo trên mạng Internet). Theo tôi nhiều người quan tâm đến tin tức thời sự, những vấn đề nóng bỏng trên thế giới, như tình hình Trung Đông, Triều Tiên hay vùng Biển Đông của Việt Nam. Kể ra người Việt Nam chúng ta cũng thật lạ, là hay quan tâm những điều đâu đâu và rộng lớn mang tầm thế giới, từ những bậc trí thức cho đến những người lao động bình thường.Ai cũng biết ông Putin, thậm chí còn biết cả quê ông ở đâu.Nhưng khi hỏi người dân, chủ tịch phường tên gì,trụ sở của phường mình ở đâu thì nhiều người nói là không biết.,,Tôi đã ở châu Âu một thời gian vài năm trong một thành phố lớn, nhưng nhiều người dân ở đây chỉ thấy họ đọc báo thể thao mà thôi và khi hỏi đến Việt nam thì họ không biết ở đâu cả? Tất nhiên về sau này tôi mới hiểu rằng : người dân ở đây đã sống từ lâu trong cảnh no ấm hòa bình và có thể nói là hạnh phúc nữa, cho nên điều họ quan tâm chỉ là thời tiết và thể thao mà thôi.
Trong nhà tôi, lúc nào cũng có một chồng báo với nhiều loại báo, nào báo ngày, báo tuần và cả tạp chí nữa. Đọc báo là quá trình tiếp nhận thông tin, đôi khi có cả tri thức nữa. Ta có thể gọi đó là văn hóa đọc, ta đọc báo tức là thu nhận những tri thức và văn hóa . Có người nói rằng : báo chí bây giờ viết nhiều về tiêu cực, về các vụ án..tất nhiên là có nhiều bài báo lạm dụng để câu khách, nhưng người đọc phải biết lựa chọn, báo nào nên đọc. Vì chúng ta đọc báo không phải để tiêu phí thời gian ( và tiền bạc ) mà chính nhờ đọc báo hàng ngày mà chúng ta hòa đồng cùng mạch sống của nhân loại, của mọi người chung quanh ta và cũng từ đó ta chắt lọc được những vốn sống của người khác thành của riêng ta.
Người xưa nói rằng : Người quân tử ba ngày không đọc sách, thì khi soi gương thấy mặt mình khó coi.
Nay tôi thấy mình mấy ngày không đọc báo thì thấy nhớ , như nhớ vợ vậy.
Friday, April 6, 2012 5:10:26 AM
Thăng Long - Hà Nội
Sư cụ Thích Phúc Trí - Sư Cụ chùa Mễ Trì ( Hà Nội )
Sư cụ Thích Phúc Trí sinh năm 1917 tại Hoài Đức, Hà Nội.Theo lời kể lại: Thì gia đình cụ năm đời đều là nhà phú hộ giàu có, tuy vậy ngay từ còn ít tuổi, cụ đã xuất gia theo cửa Phật, không màng đến chốn danh lợi.
Sư cụ Thích Phúc Trí là đệ tử của Đức đệ nhất Pháp chủ GHPGVN Thích Đức Nhuận. Hòa thượng Thích Đức Nhuận (1897 - 1993) là Đệ nhất Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam, từ năm 1981 đến năm 1993.
Hòa thượng Thích Đức Nhuận có pháp hiệu Thanh Thiệu, pháp danh Đức Huy, tục danh (tên thật) là Phạm Đức Hạp. Hòa thượng sinh năm Đinh Dậu (1897), tại thôn Quần Phương, xã Hải Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ là cụ Phạm Công Toán hiệu Thành Phủ; thân mẫu là cụ bà Lê Thị Vụ. Hòa thượng là con thứ 6 trong gia đình có 8 anh chị em. Sinh trưởng trong gia đình Nho học, cụ đi học khi 7 tuổi. Thân phụ cụ làm nghề thuốc và thường lên chùa Đồng Đắc tại Kim Sơn, Ninh Bình (thuộc dòng thiền Tào Động) bàn luận với sư trụ trì ở đó. Cụ thường đi cùng cha và có tâm hướng về Phật giáo từ rất sớm.
Năm 1969, cụ về trụ trì chùa Hoằng Ân (Quảng Bá, Hà Nội). Cũng trong năm này, Hội Phật giáo Thống Nhất Việt Nam mở trường Tu học Phật pháp Trung ương tại đây và ông làm Hiệu trưởng. Đây là ngôi trường có tổ chức đầu tiên sau ngày miền Bắc giải phóng. Ông trụ trì ở Quảng Bá gần 20 năm trước khi về chùa Hòe Nhai.
Tháng 11/1981 Hội nghị đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam diễn ra tại chùa Quán sứ, Hà Nội, để thành lập Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Trong Hội nghị, cụ được suy tôn ngôi vị Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo việt Nam. Khi đó cụ 84 tuổi.Từ năm 1981 cho đến khi qua đời, Hòa thượng Thích Đức Nhuận giữ ngôi vị Pháp chủ. Vào lúc 5 giờ 5 phút ngày 11 tháng 11 năm Quý Dậu (23 tháng 12 năm 1993), Đại lão Hòa thượng Pháp chủ Thích Đức Nhuận viên tịch tại chùa Hòe Nhai, thọ 96 tuổi đời, 77 tuổi đạo.
Sư cụ Thích Phúc Trí, trước đây trông coi Tổ đình Quảng Bá, Hồ Tây . Từ năm 1985 sư cụ về trụ trì tại chùa Thiên Chúc cổ tự, tọa lạc tại thôn Mễ Trì thượng, cho nên mọi người thường gọi cụ là Sư cụ Mễ Trì. ( xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Hà Nội ).
Thời gian gần đây, dư luận xôn xao chuyện sư cụ Thích Phúc Trí, đã cứu dân làng Vân Gia, Trung Hưng, Sơn Tây, Hà Nội khỏi những cái chết lạ lung, do đất đai trong làng bị đào bới làm đứt long mạch ,.Dân làng Vân Gia giờ đây lại trở về cuộc sống yên ả vốn có.
Sư cụ Thích Phúc Trí sau khi giúp dân làng Vân Gia thoát cơn đại nạn, cũng đã làm một bài thơ "cứu thế":
"Vân Gia đào đất gặp tai ương
Đứt mạch thần rồng cũng tổn thương
Bốn tám người dân đều bị chết
Năm ba vật sống cũng tùy theo
Nhân dân toàn thể lòng dao động
Tới cảnh Thiền môn thỉnh độ sinh
Cụ đã ra tay lòng cứu vớt
Toàn dân thoát khỏi nỗi đau thương".
KHỎI BỆNH MÀ KHÔNG DÙNG THUỐC
Bằng Phật pháp xưa nay hiếm có, Sư cụ Thích phúc Trí đã nhiều năm chữa bệnh cứu người. Dưới đây, chúng tôi xin trích dẫn những người đã được sư cụ Thích Phúc Trí chữa khỏi bệnh mà không phải dùng thuốc kế lại.
Câu chuyện thứ nhất
Bệnh nhân Nguyễn Tiến Dũng, xã Đại Minh, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, là người được sư cụ chữa bệnh, kể : Cách đây khoảng năm năm, tôi bị đau bụng dữ dội, đi khám thì phát hiện có sỏi thận 0,6mm. Vì sỏi nhỏ nên điều trị bằng thuốc nam, nếu không khỏi mới phải mổ. Sau một năm điều trị bằng thuốc nam, tôi đi siêu âm lại, kết quả viên sỏi vẫn như cũ. Vì tôi có chị gái hay đi lễ chùa Thiên Trúc, chứng kiến sư cụ Thích Phúc Trí đã chữa cho rất nhiều người khỏi bệnh bằng tâm linh nên đưa tôi vào gặp cụ. Cụ bảo ngồi trước mặt, rồi cụ giơ tay về phía tôi, ôn tồn như nói với một người vô hình nào đó:
-Tan ra, tan ra nào.
Chỉ thế rồi tôi ra về. Cũng không dám hy vọng là mình khỏi bệnh. Nhưng chị gái tôi khẳng định là khỏi. Để củng cố niềm tin cho tôi, chị ấy bắt tôi đi kiểm tra lại ở bệnh viện. Thật kỳ lạ là viên sỏi đã biến mất. Cho đến tận bây giờ cũng không bị đau lại nữa.
Câu chuyện thứ hai
-Em Đàm Thanh Hằng, 14 tuổi, ở ngõ 117, đường Chiến Thắng Sông Lô, tổ 1, phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang.Vào tháng 5 năm 2010, trước kỳ thi cuối năm học lớp 7, thấy mệt mỏi, lúc nào cũng như kiệt sức. Mẹ em đưa đi khám ở bệnh viện A tỉnh Tuyên Quang , bác sỹ kết luận bị hở van tim. Bác sỹ nói rằng có thể đó chỉ là hở van tim sinh lý ở tuổi dậy thì. Nhưng sau một thời gian uống thuốc bệnh vẫn không thuyên giảm. Bố mẹ đưa đi khám ở Hà Nội, Các bác sỹ kết luận người bệnh bị hở van động mạch phổi và hở van ba lá. Sau 24 giờ theo dõi , kết quả cho thấy tim có nhịp cơ sở là nhịp xoang, một số thời điểm có nhịp nhanh xoang, nhịp nhanh nhất là 152 nhịp nhưng vào ban đêm chỉ có 52 nhịp, rất nguy hiểm cho tính mang, nhất là trong lúc ngủ . Ngoài ra tim còn có khoảng 9300 ngoại tâm thu trong một ngày, xuất hiện thường xuyên và chủ yếu về ban đêm.
Sau một tháng điều trị thuốc do các bác sỹ ở đây kê đơn, bệnh tình đã giảm nhiều. Tiếp tục điều trị cho đến tháng 1 năm 2011 đi kiểm tra lại. Tuy nhiên bệnh lại trở lại như cũ. Nhưng lần khám này bác sỹ nói rằng tim xuất hiện ngoại tâm thu, phải đốt bằng sóng siêu âm để tránh bệnh tình trở nên nghiêm trọng. Tháng 4/2011 chuyển vào điều trị tại bệnh viện nhi Trung Ương , phải điều trị một tháng trước khi đốt ngoại tâm thu.Trong suốt thời gian đó gia đình phải đưa em từ Tuyên Quang xuống Hà Nội nhiều lần, rất vất vả và tốn kém. Trước khi vào viện khám lại một ngày, dì em đưa vào chùa Thiên Chúc gặp sư cụ Thích Phúc Trí, xin sư cụ độ cho sức khỏe . Cụ đồng ý. Sư cụ giơ tay và hỏi: -Con có thấy nóng trong ngực không ?
-Dạ, có ạ.
Cụ nói , cụ đang đưa nó lên, sau đó cụ lại hỏi:
-Con có thấy buồn buồn trong ngực và có cảm giác có gì đó đang đi lên không?
-Có ạ
Cụ bảo, cụ đang chập nó vào. Một lát sau cụ hạ tay xuống. Thật kỳ lạ, môi của em đỏ dần lên, da dần trở nên hồng hào hơn hẳn lúc mới tới và nhịp tim đập chậm hẳn lại. thấy đã dễ thở hơn nhiều. Hôm sau bệnh nhân vào viện khám, mọi kết quả kiểm tra cho thấy tim mạch tốt hơn bao giờ hết. Và đáng mừng nhất là các bác sỹ nói nếu tình hình cứ như thế này thì đây là lần khám cuối cùng. em đã khỏi bệnh!
Khi trở về Tuyên Quang, em nhận thấy một điều kỳ diệu nữa: Từ trước đến nay luôn khốn khổ vì say xe ô tô thì lần trở về này khỏi hẳn say xe và cảm thấy khỏe mạnh hơn bao giờ hết! Cụ đúng là người đã tái sinh cho em .
Câu chuyện thứ ba
Bà Nguyễn Thị Bảy, hiện ở Tổ 7, thị Trấn Yên Bình, tỉnh Yên Bái kể lại :
Vào khoảng năm 1995, tôi đi khám bệnh ở bệnh viện 103, các bác sỹ kết luận tôi bị sa dạ dày. Tình cờ tôi vào chùa Thiên Trúc (Mễ Trì –Hà Nội), gặp sư cụ. Cụ bảo tôi ngồi trước mặt rồi đưa tay ra phía trước, bảo cụ đang kéo dạ dày tôi trỏ về vị trí cũ. Thấy lạ, nhưng tôi cũng bán tin bán nghi. Vài năm sau, tôi đi kiểm tra lại, thật lạ lùng, bác sỹ kết luận dạ dày tôi không sao. Cách đây hơn hai năm (khoảng tháng 10 năm 2009) , tôi bỗng nhiên lên cơn đau bụng dữ dội. Đi kiểm tra ở bệnh viện tỉnh thì bác sỹ chuẩn đoán có u ở tụy. Bệnh viện giới thiệu về bệnh viện Việt Đức để kiểm tra lại. Tôi phải đón xe về Hà nội ngay chiều muộn hôm đó để sáng mai kịp vào viện. Đêm đó nghỉ ở Hà Nội, tôi bị cơn đau hành hạ, không đứng thẳng được, lúc nằm không nằm nghiêng, cũng không nằm ngửa được mà phải co chân lên , tay lúc nào cũng ôm bụng, suốt đêm không ngủ được vì đau. Tôi được người nhà khuyên nên đến gặp sư cụ trước khi đến bệnh viện. Sư cụ cũng bảo ngồi trước mặt, rồi đưa tay ra trước như muốn truyền vào người tôi một luồng khí vô hình. Vài phút sau cụ bảo đây là cái u ác, cụ đã làm loãng nó ra rồi .Và cụ dặn:
-Cái u này đã có chân ăn sâu vào cơ thể rồi, cháu không được mổ, nếu mổ sẽ bị đứt mất chân không nhổ ra được, lúc đó không ai cứu được cháu nữa đâu. Sau khi ra về , cơn đau tự nhiên dịu đi , tôi đi lại được bình thường.
Sau đó tôi đến bệnh viện Việt Đức làm thủ tục để kiểm tra. Bệnh viện hẹn hôm sau mới đến lượt.Trong lúc chờ đợi, sư cụ lại gọi tôi vào chùa để cụ độ cho một lần nữa. Cụ vẫn làm những thao tác như hôm qua nhưng với thời gian lâu hơn một chút (Nhưng cũng chỉ chưa đến 10 phút). Cụ nói là đang nhổ hết những cái chân của cái u để nó không còn nguy hiểm nũa, và lại cẩn thận dặn không được mổ. Rồi cụ gọi một bà vãi bốc cho tôi mấy thang thuốc, dặn cách uống. Tôi ngỏ ý muốn trả tiền thuốc và cúng giàng nhưng cụ cười đôn hậu và dứt khoát từ chối.
Lần này cơn đau đã gần như khỏi, tôi thấy sảng khoái, ăn được. Hôm sau đến viện siêu âm, các bác sỹ đã siêu âm rất kỹ nhưng không phát hiện được gì. Bác sỹ để tôi đó đi ra ngoài, một lát sau quay lại cùng với hai người nữa.. Lại siêu âm lại. Cuối cùng tôi được chuyển sang chụp cắt lớp. Các bác sỹ kết luận tôi không phải mổ, về theo dõi tiếp, nếu còn đau thì quay lại . Cho đến bây giờ tôi vẫn hoàn toàn khỏe mạnh, cơn đau không tái phát thêm một lần nào nữa.
Nếu có dịp về Hà Nội, tôi thường đến chùa Thiên Trúc để thắp hương lễ Phật và thăm sư cụ Thích Phúc Trí , tôi đã chứng kiến rất nhiều trường hợp được sư cụ chữa cho khỏi bệnh. Tuy nhiên, cũng có trường hợp sư cụ nói rằng không thể chữa được. Khỏi bệnh hay không còn do cái phúc của từng người. Nhưng dù có được toại nguyện hay không, mỗi khi đến chùa, được nghe sư cụ nói chuyện, ra về ai cũng cảm thấy lòng thanh thản lạ lùng. Đó là điều kỳ diệu nhất mà tôi cảm thấy.
Hỏi cụ về việc trấn yểm ở làng Vân Gia gần đây, cụ nói rằng: cụ chỉ vào Tòa Tam Thế đứng trước bàn thờ nói vài câu, vào nhà Tổ nói vài câu, rồi ra chỗ long mạch đứt nói vài câu. Cũng không cần phải lễ vật gì cho tốn kém. Thực ra cụ có thể trấn yểm từ xa, không cần phải đến tận nơi như vậy.Nhưng vì thấy dân làng Vân Gia quá hoang mang lo lắng nên cụ phải đến tận nơi để bà con yên lòng.
Nhiều năm nay, sư cụ Thích Phúc Trí đã giúp đỡ rất nhiều người chữa bệnh. Ngoài ra , khi nghe tin ở đâu người dân gặp tai họa do động long mạch, cụ đều thầm lặng giúp đỡ băng cách hàn long mạch, trấn yểm đem lại bình yên cho mọi người. Những việc làm của cụ không phải ai cũng biết.Gặp vị cao tăng đã hơn 95 tuổi, phong thái giản dị, khoan thai, lời nói đôn hậu, ai cũng thấy kính trọng. Nhiều người tôn kính gọi cụ là vị Phật sống.
Hiện nay, cụ đã ẩn tu ở chùa La Dương (Hà Đông) nhưng đối với nhiều người, cụ như người cha tinh thần của họ. Mọi người vẫn luôn cầu mong cho cụ sức khỏe. Vì những vị cao tăng đắc đạo như cụ không nhiều.
Câu chuyện thứ tư
Chị Nguyễn Thị Bốn, sinh năm 1960. ở thôn Cầu 17, xã Đại Minh, Yên Bình, Yên Bái, kể : Tôi bị vôi thoái hóa đốt sống cổ, rối loạn tiền đình đã nhiều năm. Bác sỹ cho biết, bệnh này không thể chữa khỏi, dùng thuốc điều trị cũng chỉ được một thời gian. Tôi sẽ phải sống chung với bệnh suốt đời. Tôi vô cùng khổ sở vì những cơn đau đầu kèm theo nôn ọe. Tôi vô cùng tuyệt vọng. Căn bệnh ngày càng trầm trọng, cứ trên dưới 10 ngày tôi lại phải chịu một cơn đau đầu và nôn ọe dữ dội … Giữa lúc tuyệt vọng nhất, tôi đã được gặp Sư cụ Thích Phúc Trí tại chùa Thiên Chúc , Mễ Trì Thượng – Từ Liêm – Hà Nội. Tôi kể cho Sư cụ nghe về hoàn cảnh và bệnh tật của mình. Như một người cha hiền từ nhân hậu, Sư cụ đã chữa bệnh cho tôi mà không cần bắt mạch, không cần thuốc mà Sư cụ chỉ nhìn tôi và bằng một giọng nói nhỏ nhẹ như chỉ bảo cho ai đó đang ẩn náu trong chính con người tôi. Chỉ có thế thôi mà kỳ lạ thay, tôi đã khỏi bệnh – căn bệnh mà tôi đã cầm chắc là sẽ phải chịu đựng suốt đời. Từ khi được gặp Sư cụ, dù thời gian của mỗi lần gặp không được nhiều, rất ngắn ngủi thôi, vì Sư cụ rất bận, nhưng tôi đã cảm nhận được rất nhiều bổ ích. Trước đây tôi là một người rất đa nghi, tôi không dễ dàng tin vào một điều gì đó nếu đó không đủ sức thuyết phục. Giờ đây, tôi đã tin và hoàn toàn tin tưởng rằng ở đời này vẫn luôn toàn tại một sự kỳ diệu mà tôi chỉ có thể tin chứ không thể giải thích được.
Hàng năm mỗi khi xuân về , anh em chúng tôi lại về chùa thăm sư cụ. Năm nay, mùa xuân Nhâm Thìn này, anh em chúng tôi lại như những người con tìm về thăm người cha kính yêu của mình.
( nguồn Blog.yume.vn )
Sư cụ Thích Phúc Trí thường khuyên nhủ mọi người : Sống cho lương thiện, lành mạnh, ăn uống , ngủ nghỉ, làm việc cho có điều độ.có chừng mực thì sẽ khỏi bệnh. Phóng túng vô độ thì không ai chữa được bệnh cho mình đâu. Gây nên bệnh cũng do mình mà làm lành bệnh cũng do mình cả thôi .
Thursday, April 5, 2012 5:14:08 AM
Văn hóa - Xã hội
Chùa Mễ Trì đã gần ngàn tuổi, được kiến lập từ đời vua Lý Nhân Tông. Kiến trúc ngày nay tuy đã sửa chữa nhiều lần nhưng vẫn còn giữ được nhiều nét cổ kính, rêu phong, chứng tích của một chốn Tổ đình lớn.
Kết duyên lành
Cách đây chừng 20 năm, thời còn là sinh viên, đôi khi được tiếp xúc với ai đó, đọc một tài liệu nào đó liên quan đến lịch sử hay giai thoại Phật giáo, tôi thi thoảng được biết đến Tổ Quạ - một vị tu hành chuyên trông coi trẻ em, có công hạnh giáo hoá một bầy chim quạ bỏ tà quy chính, tu tập theo Phật đạo. Vậy nhưng, vị đó tu ở đâu và ở giai đoạn nào thì tôi chưa xác quyết được.
Sau này, tôi cũng thường nhắc đến Tổ Quạ trong các bài giảng khi nói về công hạnh tu tập của chư Tổ, bên cạnh các Tổ như Tào Khê, Tuyết Phong, Quy Sơn, Kính Sơn, Bách Trượng, v.v. Lòng vẫn tự nhủ, khi nào có đủ nhân duyên thì mình sẽ tìm hiểu cho rõ về hành trạng vị Tổ huyền thoại này.Sau nhiều năm xa Hà Nội với nỗi nhớ khắc khoải, dịp này về Thủ đô, trong một buổi nhàn đàm, thưởng thức tách trà sen trong thư phòng của cố nhân bên mặt nước Tây Hồ chiều hạ muộn, tôi bất chợt nghe thấy nói về Tổ Quạ. Gạn hỏi thì biết, Tổ đâu có xa, muốn tìm hiểu thì sẽ có người đưa đến tận nơi, dễ thôi.
Trước kỷ niệm ngày Thành Đạo của Đức Quán Thế Âm, một anh bạn đã sốt sắng đưa tôi đến ngôi chùa, nơi Tổ Quạ đã tu và đã chứng từ 1.000 năm trước. Đó là chùa Mễ Trì tên chữ là Thiên Chúc Cổ tự, toạ lạc tại thôn Mễ Trì Thượng, xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm - Hà nội, ngay gần Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, cách Tây Hồ chừng non mười cây số.Đến nơi đã gần 10 giờ sáng. Nắng rát và oi nồng. Cổng chùa đơn giản, bình dị. Được biết, đương kim trụ trì chùa Mễ Trì là sư Cụ Thích Phúc Trí, năm nay đã 92 tuổi. Đệ tử của Cụ là sư thầy Thích Thanh Tĩnh, đang an cư tại trường Hạ Bà Đá.
Dấu xưa phảng phất
Chùa Mễ Trì đã gần ngàn tuổi, được kiến lập từ đời vua Lý Nhân Tông. Kiến trúc ngày nay tuy đã sửa chữa nhiều lần nhưng vẫn còn giữ được nhiều nét cổ kính, rêu phong, chứng tích của một chốn Tổ đình lớn.Trong Đại điện, hai đầu hồi có hai bức phù điêu đắp nổi rất lớn, mỗi bức chừng 15m2, tinh xảo và cổ kính, miêu tả về các cõi Trời, Bồ tát và Phật. Tôi chưa từng thấy ở đâu có công trình phù điêu được như vậy.Hệ thống tượng thờ ở Thượng điện và nhà Tổ chùa Mễ Trì hoàn hảo, cổ kính và có hồn riêng; sinh động, tinh xảo mà rất trang nghiêm, thanh tịnh, bình dị, gần gũi.Tam quan trước chùa là một ngôi nhà cổ kính chồng diêm tám mái, các đầu đao vuốt cao, thanh thoát, ấn tượng và đặc sắc. Trong nhà thấy có bàn ghế và bảng đen như một lớp học. Hỏi ra thì được biết, đây là nơi sư Cụ mở lớp, dạy Hán cổ cho các chú tiểu và một số cư sĩ Phật tử. Lớp này duy trì đã hơn chục năm nay. Đôi bên Tam quan là hai ngôi tháp Tổ uy nghi mà bình dị như cuộc đời của các bậc chân tu đã khuất bóng.
Có lẽ không có một ai đến chùa Mễ Trì mà lại không ấn tượng về cây thị cổ thụ phía trái sân chùa. Hỏi ra được biết cây thị này đã hơn 300 tuổi, đang ở thời kỳ sung sức. Cây vươn lên trời xanh, cao lớn sum xuê, rợp cả một không gian rộng lớn hàng trăm m2, như chiếc lọng xanh khổng lồ che mát tam quan, đại điện, tháp tổ, khu bếp và sân chùa. Chùa Cót cách đó vài cây số cũng có một cây thị cổ thụ to lớn trước nhà Tổ, nhưng so với cây này thì cây ở chùa Cót chỉ được non nửa.
Thị là một loài cây “thiêng” của đất Bắc. Quả thị thơm trong cổ tích Tấm Cám mà bà hay kể thời thơ ấu gắn liền với quyền năng từ bi của Bụt. Mùa mít gần qua thì tới mùa thị chín. Quả thị thơm quyến rũ nồng nàn mà tinh khiết. Cỡ quả thị chín rất đa dạng. Có quả chín căng tròn, vàng ruộm, to cỡ chiếc bát ăn cơm; có quả lại nhỏ dẹt chỉ bằng đồng 5 xu cũ, đường kính chừng 3 cm, các bé gái thường bỏ vào túi áo hay trong một chiếc túi khâu nhỏ, rồi lâu lâu lại đưa lên mũi ngửi hít hít, thân thương lắm. Quả thị chín có cùi mềm như hồng trứng và ngọt thanh, còn hạt thì rất cứng. Gỗ thị có tính mền, dai, mịn, chắc, không cong vênh, dễ đẽo gọt, đặc biệt thích hợp cho việc khắc chữ làm ván in. Trong các Tổ đình lớn như Bổ Đà ở Bắc Giang, Viên Minh ở Hà Tây, v.v, đều còn lưu giữ các ván in kinh sách bằng gỗ thị từ thời cổ, có giá trị rất lớn về nhiều phương diện.
Ngàn năm trước...
Chùa Mễ Trì từ thời khai lập gắn với Tổ Quạ. Nói về hành trạng của Tổ đầy đủ nhất, có lẽ không có tài liệu nào bằng bài kệ được viết bởi sư Cụ Thích Phúc Trí – Cụ Mễ Trì, 92 tuổi, đã trụ trì ở đây hơn 20 năm.Theo truyền thống Phật giáo ở miền Bắc Việt Nam, và cả ở Trung Hoa, chữ Tổ chí ít được dùng theo 3 nghĩa:
-Thứ nhất, Tổ là vị sư đại chứng ngộ, khai mở hay kế thế truyền thừa một tông phái Phật giáo nào đó, như Tổ Đạt Ma, Tổ Trúc Lâm, v.v.
-Thứ hai, Tổ là vị sư trụ trì một một ngôi chùa nào đó có nhiều ân đức, được tứ chúng Phật tử kính ngưỡng, suy tôn, đã viên tịch, như Tổ chùa Cót, chùa Na, v,v.
-Thứ ba, Tổ là vị trưỏng lão đạo cao, đức trọng, có nhiều công đức trong tu tập, hiện đang hành đạo, như Tổ Ráng, Tổ Hội, v.v. Có lẽ tương tự như từ Ôn (già lam) trong truyền thống Phật giáo miền Trung (?)
Trong các trường hợp cụ thể, có khi từ Tổ được dùng với 1 nghĩa, có khi được sử dụng lồng ghép 2 hay 3 nghĩa.
Nguyên văn Bài kệ ca tụng công đức Tổ Quạ được niêm yết tại Thiên Chúc Cổ tự như sau:
“Thời vua nhà Lý Nhân Tông
Trị vì Thiên tử dân an thái bình
Mễ Trì có Tổ chứng minh
Dựng chùa Thiên Chúc dân tình vẻ vang
Nam nữ thọ tràng vinh quang
Giàu sang đức độ hiếu trung đôi đường
Những khi con bé bận vương
Buôn bán ngoài đường cày cấy quanh năm
Đem con gửi Tổ trông thăm
Tổ vẽ một vòng mỗi cháu một ô
Chẳng khóc, chẳng bậy, chẳng xô
Tới giờ Tổ gọi môn đồ cho ăn
Cơm ăn chẳng phải hô đồ
Tổ cho các cháu, quạ xô rất nhiều
Tổ thường bố thí cho đều
Hàng ngày quạ đến càng nhiều càng đông
Tổ đặt tên quạ rất công
Con nào con nấy một lòng tuân theo
Khi ăn Tổ gọi một lèo
Xếp hàng răm rắp tuân theo lời Ngài
Tổ đem ghi chép một loài
Chia ra từng tổ không sai tý nào.
Mật thám dạo cảnh đi vào
Hiên ngang cậy chức quyền cao đó là
Hạch Tổ: tại cớ làm sao
Các danh sách đó ghi vào ở đây?
Tổ rằng: thực tế nói hay
Bọn lũ quạ này có nghĩa có trung
Vì vậy tôi chẳng phụ lòng
Ghi tên để dạy theo dòng từ bi.
Mật thám tức giận bỏ đi
Đem về báo cáo vua thì nghe theo
Nghe lời xảo trá nói điêu
Bảo Tổ lập điều phản trắc nhà vua
Sau về bắt Tổ ra toà
Quạ lớn, quạ bé biết là bao nhiêu
Kêu la ầm ĩ rất nhiều
Nhà vua thấy thế, khác điều lạ thay
Hỏi Tổ, Tổ lại trình bày
Nhà vua thấy thế tha ngay Tổ về
Tổ rằng: mọi việc đề huề
Ai bắt tôi về nói lại tôi hay!
Khi người nói lại trình bày
Tổ về quạ hết chẳng hay con nào.
Thực là công đức biết bao
Ân sâu đức trọng kể sao cho bằng
Vì vậy tên Tổ tiếng tăm
Tên là Tổ Quạ nghìn năm vẫn còn
Bút tích ghi rõ màu son.....”
Tu sĩ và Thầy lang
Cụ Mễ Trì trụ trì chùa đây từ năm 1985. Trước đó Cụ trông coi Tổ đình Quảng Bá - Tây Hồ. Cụ là đệ tử của Đức Đệ nhất Pháp chủ GHPGVN Thích Đức Nhuận. Mấy chục năm nay, Cụ có hạnh nguyện chữa bệnh cứu người bằng thuốc Nam và bằng năng lượng do tu mà có. Ở Hà Nội, nhiều người biết đến Cụ là Thầy lang nhiều hơn là một Hoà thượng. Không biết đã có bao nhiêu người được Cụ chữa khỏi cho khi bị gãy xương, bị suy nhược cơ thể hay bị điên loạn tinh thần.
Sáng nay khi chúng tôi đến chùa, lên nhà Tổ thấy Cụ đang thăm khám cho một bệnh nhân nam chừng 45 tuổi, trông nhợt nhạt, xanh xám, thất thần, hoảng hốt. Ngồi nghe, được biết anh ta không thể ăn được gì, bị nghẹn không nuốt được.... Cụ ngồi đối diện, uy nghi như quan toà đang xét xử đại hình, nói nhỏ nhưng rất nghiêm, lúc thì mắng mỏ, lúc thì dỗ dành an ủi, với một đối tượng vô hình nào đó những câu mơ hồ, khó hiểu. Một lát Cụ hỏi bệnh nhân: thấy đỡ đau đớn chưa? có thấy ở ngực nóng không? – Bệnh nhân nhoẻn cười bảo có. Cụ bóc một quả quýt, đưa cho bệnh nhân rồi bảo: ăn hết đi! – Bệnh nhân bảo: Con bị nghẹn lắm, không thể nuốt được. – Cụ bảo: ăn đi xem nào, ăn đi, được mà! Anh ta ăn một múi, nuốt ngon lành rồi reo lên: được rồi!
Cụ bảo: ăn nốt đi, rồi xuống nhà lấy 3 thang thuốc, đem về sắc lên mà uống theo đúng hướng dẫn. Sống cho lương thiện, lành mạnh; ăn uống, ngủ nghỉ, làm việc, cho có điều độ, có chừng mực thì sẽ khỏi bệnh. Phóng túng vô độ thì không ai chữa được bệnh cho mình đâu. Gây nên bệnh cũng do mình mà làm lành bệnh cũng do mình cả thôi. Nói rồi, Cụ thong thả đứng dậy, khoan thai đi về phương trượng.
Qua 11 giờ trưa.
Trời đang đổ lửa tháng Sáu.
Lưng trời không một bóng chim.
Dưới tán của cây thị già, những giọt nắng lọt qua kẽ lá đang lung linh nhảy múa. Nhìn từ xa, tưởng như một bầy chim, bầy quạ đang tíu tít tranh ăn trước sân chùa.
Hoa mắt chăng? Đúng vậy. Từ chỗ tối đi ra trời nắng, hoa mắt là thường
Nhưng kìa, trong tâm ta, quá khứ ngàn năm đang trỗi dậy dưới một hình tướng mới.
Đàn quạ đã đi rồi nhưng hẳn đã đi thật chưa?
Tổ Quạ đã tịch rồi nhưng hẳn đã tịch chưa?
Lũ trẻ và đàn quạ của ngàn năm trước với những người bệnh ngày nay có khác nhau chăng? Tổ Quạ thời Lý và Sư Cụ hôm nay có khác nhau chăng?
Nắng đang đổ như cháy trời mà cây thị già trước sân chùa thì xanh mát quá!
Giang Nam - nguồn Phật giáo Việt Nam
Hiện nay ( 2012 ) ngôi chùa Mễ Trì đang trong giai đoạn trùng tu, sư cụ Thích Phúc Trí dời đến chùa Thiên Vũ, làng La Dương .
Wednesday, April 4, 2012 3:12:44 AM
Thăng Long - Hà Nội
Hôm nay ngày 14 tháng 3 ( âm lịch ) năm Nhâm Thìn 2012, là ngày hội làng Đại Yên, Hà Nội.
Làng Đại Yên là một làng - trại, thuộc Tổng Nội của kinh thành Thăng Long xưa . Trước đây làng gọi là Trại Đại Bi, đến khoảng cuối thời hậu Lê thì đổi tên là trại Đại Yên. Làng Đại Yên ngày nay thuộc địa phận phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Làng Đại Yên là một làng cổ với những địa danh núi Voi, núi Cung …có từ thời nhà Lý. Đình làng Đại Yên nằm ở giữa làng nhìn sang núi Cung và núi Cột cờ, thờ Ngọc Hoa công chúa . Đó cũng là vị thành hoàng của làng.
Theo Ngọc phả để lại, Ngọc Hoa công chúa húy Trần Ngọc Tường sinh ngày 14 tháng 3 năm 1095 ( Ất Hợi ). Cha là Trần Huấn, một thầy đồ dạy học ở Cửu Chân, Thanh Hóa, tòng quân đánh giặc ngoại xâm vào thời Lý, dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt. Mẹ là bà Đồ Trần, người trại Đại Bi ( nay là làng Đại Yên, Hà Nội ), làm nghề bán thuốc nam, hiền lành, trung hậu.
Khi bà dẫn con gái tiễn chồng đi đánh giặc, thì Ngọc Tường nắm chặt áo cha đòi theo đi đánh giặc. Tới miền đất giặc đang xâm lấn, Ngọc Tường cải trang làm em bé đi bán trầu cau vào trại địch nắm tình hình rồi về báo cho quân ta. Nhờ đó quân ta đại thắng , quân giặc phải bỏ chạy. Đất nước sạch bóng quân thù, Vua Lý phong cô là Ngọc Hoa công chúa. Ngọc Hoa xin về quê ở trại Đại Bi và mất vào đêm 15 tháng chạp năm Giáp Thân ( 1104 ). Lăng mộ công chúa hiện ở ngay sau đình làng Đại Yên , xung quanh có nhiều bóng cây xanh mát.
Hội làng Đại Yên diễn ra trong hai ngày 13 và 14 tháng 3 hàng năm. Đến dự lễ có nhiều dòng họ trong làng, các làng trại trong vùng Tổng Nội và đông đảo khách thập phương .Hội làng Đai Yên là một nét văn hóa trong cộng đồng của người dân đất Việt, thể hiện lòng biết ơn của dân ta với vị Thánh đã có công với đất nước từ ngàn xưa.
Hội làng Đại Yên
Tình làng nghĩa xóm
Monday, April 2, 2012 2:59:53 PM
Văn hóa - Xã hội
Chiều ngày 11 tháng 3 âm lich năm Nhâm Thìn 2012, tôi được một người bạn là một phật tử dẫn đến thăm sư cụ Thích Phúc Trí hiện đang ở tại chùa Thiên Vũ , làng La Dương, Hà Nội. Chúng tôi xin ghi lại một bài giới thiệu về làng La Dương trong phòng khách của ngôi chùa Thiên Vũ .
Làng La Dương – Miền đất lịch sử
Làng La Dương thuộc xã Dương Nội ( Hoài Đức ), thời Hùng Vương có tên gọi là La Nhuế, là một miền đất cổ, được khai phá từ rất lâu đời. Năm 1988, đã phát hiện ngôi mộ cổ trên xứ đồng ĐốngThưỡi. rộng 4m, cao 2,2m được xây cuốn toàn bằng gạch múi bưởi cỡ 22cm x 15cm. Các nhà khảo cổ khẳng định mộ này được xây cách đây hai nghìn năm.
Bản thần tích của của làng cho hay rằng: Vào đời Hùng Vương thứ 17, có ông bà ở huyện Kim Bảng ( Nam Hà ) làm nghề đánh cá trên sông, khi ấy tuổi đã cao mà chưa có con. Biết La Dương có chùa nổi tiếng linh ứng, đã tìm đến cầu tự, khi về bà có mang và đến kỳ sinh được ba người con trai đều có thiên tư đĩnh ngộ tướng mạo khôi ngô. Ông bà đặt tên là Minh Tuất tam long. Lớn lên cả ba chàng đều chăm chỉ học hành, tinh thông binh thư, binh pháp. Năm 24 tuổi , cha mẹ đều mất, ba anh em ăn ở với nhau rất hòa thuận.
Bấy giờ ở phía bắc có giặc quấy nhiễu, vua Hùng mở khoa thi tìm người tài giỏi. Ba anh em về dự thi đều trúng tuyển. Ông thứ nhất được cử làm chỉ huy sứ. Ông thứ hai, thứ ba được cử làm Tả tướng quân và Hữu tướng quân. Khi vào trận, ba ông đã chọn đất trang La Nhuế làm nơi đồn trú. Ngày thắng lợi, vua Hùng đã lấy đất La Nhuế ban cho ba anh em làm thực ấp.
Nay ở phía trước cột đình La Dương, nơi thờ ba anh em Minh Tuất làm thành hoàng, có đôi câu đối
Hùng triều thực ấp ngật vu kim
La Nhuế danh khu truyền tự cổ
Trước đây hàng năm cứ đến ngày sinh 11 tháng giêng và ngày hóa 11 tháng 10, nhân dân La Dương lại soạn lễ tam sinh gồm trâu, dê , lợn để tế thần. Đặc biệt là vào ngày giỗ tháng 10, trong lễ vật thế nào cũng có trâu trắng, bởi ngày thắng trận về La Dương khao dân làng Minh Tuất đại vương đã mua loại trâu này. Hội làng La Dương diễn ra từ ngày 11 đến 15 tháng giêng. Từ 8 giờ sáng ngày 11, cỗ kiệu bát cống rước bài vị từ đình ra quán. Các chức sắc, bô lão dự tế thần đến chiều thì phá lễ. 7 giờ tối , tế phụng nghênh. Tế xong chuyển bài vị vào kiệu và rước từ quán về đình là trời sáng. Trong hội có chèo, hát, đua thuyền. Đến ngày rằm mới làm lễ hoàn cung.
Ở La Dương, cùng với ngôi chùa làng tên chữ Diên khánh tự còn có chùa Thiên Vũ ( chùa Múa ) thờ ba vị cao tăng thời nhà Lý. Đó là Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Nguyễn Giác Hải.
Việc chùa Thiên Vũ từ lâu thờ ba vị thiền sư mà nhân dân địa phương gọi là tam vị thánh tổ, là một hiện tượng văn hóa độc đáo cần được nghiên cứu thêm. Ngày trước hội chùa Thiên Vũ diễn ra vào ngày 8 tháng 3 âm lịch , sau hội chùa Láng ( cũng thờ Từ Đạo Hạnh ) một ngày. Sân chùa Thiên Vũ là nơi tập kết 10 kiệu rước linh đình và là nơi lễ giao hiếu của ba làng Ngãi Cầu, La Phù, La Dương.
Trước cách mạng tháng tám, La Dương là nơi đặt trụ sở của Xứ ủy Bắc kỳ, làm điểm trục của an toàn khu. Năm đầu kháng chiến chống Pháp, La Dương là nơi đóng của cơ quan Bộ tổng tham mưu..Trong hiểm nguy, người La Dương đã không chịu lập tề. Để khống chế phong trào kháng chiến ở La Dương, chùa Múa đã bị địch triệt hạ hoàn toàn, chỉ còn sót lại hai cây duối cổ thụ.
Trước đó, biết nguy cơ chùa Múa có thể bị giặc phá, nhân dân La Dương đã chuyển tượng ba vị thiền sư, được đúc bằng đồng khá tinh xảo vào ngôi chùa làng. Một số sắc phong và quả chuông quý được cất vào đình làng. Thật không may, năm 1986, đình làng bị cháy. Nay đọc lại những chữ hán còn lại , chúng ta biết bài minh khắc trên chuông do Nguyễn Huệ Phù soạn, có ghi : Chùa Thiên Vũ thờ ba vị đại thiền sư. Đạo học của các Ngài thật cao xa, linh dị. Tương truyền chùa rất linh ứng. Chuông chùa được đúc vào đời Tây Sơn. Để tỏ lòng ngưỡng vọng các bậc thánh thần, nhân dân thập phương đã công đức 250 cân đồng để đúc nên quả chuông này…
Nhằm khôi phục một di tích quý, vừa qua nhân dân đã đóng góp 258 triệu đồng và 2500 công lao động để dựng lại chùa Thiên Vũ theo dáng vẻ xưa . Sắp tới , chuông đồng và tượng các vị thiền sư sẽ được rước về chùa Thiên Vũ
Hai Cương ( st )
( song Phượng, Đan Phượng )
Chùa Thiên vũ còn gọi là chùa Múa, nằm trong địa phận làng La Dương, xã Dương Nội , huyện Hoài Đức cách trung tâm thành phố Hà Nội chừng hơn 10km về phía tây nam. Chúng tôi tới thăm chùa trong một buổi chiều xuân với nắng vàng rực rỡ, trong sân chùa những cây nhãn đang nở rộ hoa, khung cảnh nơi đây thật vắng lặng yên tĩnh . Sau khi vào thượng điện lễ Phật, chúng tôi ngồi uống nước bên hiên nhà khách của ngôi chùa , ngồi tiếp chúng tôi là sư thầy Thích Đàm Định. Sư Thầy cho biết mấy hôm nay chuyển mùa nên Sư cụ có hơi bị mệt, chẳng là năm nay cụ đã bước vào tuổi 96 rồi .
Sư cụ Thích Phúc Trí là một bậc cao tăng ẩn danh, nhưng bằng cái tâm của người tu hành và với lòng thương vô hạn, cụ đã ra tay cứu độ cho dân lành,thoát bao cảnh tai ương, thực hiện tấm lòng từ bi của nhà Phật.
Thật may, sau ít phút chờ đợi , chúng tôi cũng được cụ cho gọi vào tiếp kiến.Tôi có chuẩn bị trước một số câu để hỏi chuyện cụ , nhưng tôi cũng không dám cắt ngang mạch chuyện mà cụ đang kể , giảng giải về đạo chính pháp . Thời gian ngồi bên cụ, - một bậc tu hành đạo cao đức trọng, trôi qua thật nhanh. Thật mừng là cụ đã ký tặng cho tôi tập thơ ghi lại một số việc làm cứu đời của cụ.
Mong rằng , tôi sẽ còn trở lại nơi đây để được diện kiến, để được nghe những lời dạy của sư cụ Thích Phúc Trí, một bậc hiền tài hiếm có của đất nước Việt Nam chúng ta . Xin cầu chúc cho cụ được khỏe mạnh, trường thọ để giúp dân , giúp nước và để cho con cháu được nhờ cậy.
Xuân Nhâm Thìn 2012
Saturday, March 31, 2012 4:24:12 AM
Việt Nam
Hôm ngay ngày 10 tháng 3 ( âm lịch ) là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, chúng tôi xin trích dẫn một số tư liệu lịch sử :
Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Kể năm hơn bốn nghìn năm,
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà.
Hồng Bàng là Tổ nước ta.
Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.
Thiếu niên ta rất vẻ vang
Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời,
Tuổi tuy chưa đến chín mười
Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương.
An Dương Vương thế Hùng Vương,
Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân…
Hồ Chí Minh
Sau đây xin trích dẫn Phần Ngoại kỷ, quyển I Kỷ Hồng Bàng thị ( 2879-258 tr CN) trong cuốn sử Đại Việt sử ký toàn thư :
Con Lạc Long Quân (không rõ tên húy), đóng đô ở Châu Phong ( nay là huyện Bạch Hạc).
Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là nước Văn Lang (nước ấy đông giáp Nam Hải, phía tây đến Ba Thục, phía bắc đến hồ Động Đình, phía nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam), chia nước làm 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức; các bộ đều là thần thuộc .Bộ gọi là Văn Lang là đô của vua . Đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng (chữ Lạc Tướng, sau chép sai là Hùng Tướng ). Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương. Quan coi việc gọi là Bồ Chính, đời đời cha truyền cho con , gọi là phụ đạo. Vua các đời đều gọi là Hùng Vương cả. Bấy giờ dân ở rừng núi thấy cá tôm đều tụ họp ở sông ngòi , rủ nhau bắt cá để ăn, thường bị thuồng luồng làm hại, bạch với vua. Vua nói rằng : "Giống người Man ở núi có khác với các loài thủy tộc; loài ấy ưa cùng loài mà ghét khác loài, cho nên mới có tai nạn ấy”. Vua bèn sai mọi người lấy mực vẽ hình thủy quái ở mình. Từ đấy giống thuồng luồng trông thấy không cắn hại nữa. Tục vẽ mình của người Bách Việt có lẽ bắt đầu từ đấy. Đời Hùng Vương thứ 6, ở hương Phù Đổng, bộ Vũ Ninh có ông nhà giàu, sinh một con trai, đến năm hơn ba tuổi ăn uống béo lớn nhưng không biết nói cười. Vừ gặp nước có giặc lấn, vua sai đi tìm người có thể đánh lui được giặc. Ngày hôm ấy, đứa trẻ bỗng nói được, bảo mẹ ra mời thiên sứ vào, nói: "Xin cho một thanh gươm, một con ngựa, thì vua không còn lo gì nữa". Vua sai đem cho gươm và ngựa, đứa trẻ lập tức phi ngựa vung gươm mà đi, quan quân theo sau, phá giặc ở chân núi Vũ Ninh . Quân giặc tự quay giáo đánh lẫn nhau, bị chết rất nhiều, dư chúng đều rạp lạyxuống , gọi là thiên tướng, đều đầu hàng cả. Đứa trẻ phi ngựa bay lên trời đi mất. Vua sai sửa sang chỗ vườn nhà của đứa trẻ để lập miếu thờ. Đến sau, Lý Thái Tổ phong là Xung Thiên Thần Vương. (Miếu thờ ở bên cạnh chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng).
Thời Thành Vương nhà Chu [1063-1026 TCN], nước Việt ta mới sang thăm nhà Chu (không rõ vào đời Hùng Vương thứ mấy), xưng là Việt Thường thị, dâng chim trĩ trắng. Chu Công nói: "Nước nào chính lệnh không đến thì người quân tử không bắt họ thần phục". Sai làm xe chỉ nam đưa về nước.
Cuối đời Hùng Vương, vua có con gái là Mị Nương, người xinh đẹp. Thục Vương nghe tiếng, đến cầu hôn. Vua muốn gả, nhưng Hùng hầu can rằng: "Họ muốn dòm nước ta, mượn việc hôn nhân làm cớ mà thôi". Thục Vương vì chuyện ấy để long căm giận. Vua muốn tìm người đáng gả, bảo các bề tôi rằng: "Đứa con gái này là giống tiên, người nào có đủ tài đức mới cho làm rể". Bấy giờ có hai người từ ngoài đến, lạy dưới sân để cầu hôn. Vua lấy làm lạ hỏi . Đáp rằng một người là Sơn Tinh, một người là Thủy Tinh, đều ở trong cõi , nghe nhà vua có thánh nữ, đánh bạo đến xin mệnh lệnh. Vua nói: "Ta có một con gái, có thể gả cho cả hai vị thế nào được ?". Mới hẹn đến ngày mai, vi nào đem đủ sính lễ đến trước thì gả cho . Hai người nhận lời rồi lạy tạ ra về. Hôm sau, Sơn Tinh đem châu báu vàng bạc, chim núi thú rừng đủ cá thứ đến dâng. Vua y hẹn gả con gái cho. Sơn Tinh đón vợ về ở ngọn cao núi Tản Viên. Thủy Tinh cũng đem sính lễ đến sau, hối hận không kịp, mới kéo mây làm mưa, dâng nước lên tràn ngập, đem các loài thủy tộc đuổi theo. Vua cùng Sơn Tinh lấy lưới sắt chăng ngang thượng lưu sông Từ Liêm để chắn. Thủy Tinh theo sông khác, từ Ly Nhân vào chân núi Quảng Oai,rồi theo dọc bờ lên cửa sông Hát, ra sông lớn mà rẽ vào sông Đà để đánh Tản Viên, chỗ nọ chỗ kia đào sâu xuống làm chằm làm vực, chứa nước để mưu đánh úp. Sơn Tinh có phép thần biến hóa, gọi người Man đan tre làm rào để chắn nước, lấy nỏ bắn xuống, các loài thủy tộc trúng tên đều chạy trốn cả. Rốt cuộc Thủy Tinh không thể xâm phạm được núi Tản Viên. (Tục truyền rằng Sơn Tinh và Thủy Tinh từ đấy về sau đời đời thù nhau, mỗi năm mùa nước to thường vẫn đánh nhau).
Núi Tản Viên là dãy núi cao của nước Việt ta, sự linh thiêng rất ứng nghiệm. Mị Nương đã lấy Sơn Tinh, Thục Vương tức giận, dặn lại con cháu phải kiêm tính lấy nướcVăn Lang . Đến đời cháu là Thục Phán có dũng lược, bèn đánh lấy nước ấy.
Từ đây trở lên là Hồng Bàng thị, từ Kinh Dương Vương được phong năm Nhâm Tuất, cùng thời với Đế Nghi, truyền đến cuối đời vua Hùng Vương, ngang với đời Noãn Vương nhà Chu năm thứ 57 [258 TCN] là năm Quý Mão thì hết, tất cả 2.622 năm [2879 - 258 TCN].
Chú thích :
Chữ Hùng Vương do chữ Lạc Vương lộn thành. Sách chép Lạc Vương là vua của đất Giao Chỉ, bên Lạc Vương có Lạc Hầu, ở dưới có Lạc Tướng cũng như các huyện lệnh đời sau.
Wednesday, March 28, 2012 11:50:46 AM
ghi chép
Buổi sáng hôm nay, ngày 7 tháng 3 ( âm lịch ) năm Nhâm Thìn 2012, tôi đi dự ngày Giỗ Tổ họ Nguyễn Tài, làng Vạn Phúc- Hà Nội.
Thực ra , tôi cũng chưa được tỏ tường về vị tổ họ mà hôm nay tôi đến dự ngày Giỗ. Mấy chục năm trước đây, các vị trưởng lão trong họ tôi có dày công lập lại cuốn tộc phả dòng họ Nguyễn Tài ở làng Vạn phúc , Hà Nội . Tiếc rằng làng tôi khi xưa do chiến tranh loạn lạc, do thời cuộc..cho nên bao nhiêu gia phả cùng những nhà thờ họ đều bị đốt phá trở thành tro bụi cả. Ngày nay lần lại dấu tích dòng họ xưa thấy còn có nhiều điều chưa được tường minh…
Tôi là người cũng có đôi chút tìm tòi về lịch sử vùng Tổng Nội của kinh thành Thăng Long xưa, xin ghi lại mấy dòng về làng Vạn Phúc xưa như sau : Dân làng Vạn phúc khá đông. Năm 1928 số đinh làng Vạn Phúc là 1424 người, so với làng Ngọc Hà chỉ có 739 người và Liễu Giai 334 người. Họ lớn nhất là Nguyễn Tài, là những người làng gốc. (sách đã dẫn : Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX, phần II, chương sáu trang 152, do nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Văn Uẩn biên soạn ).
Như vậy những điều mà những nhà nghiên cứu lịch sử đã viết thành sách cũng trùng hợp với những lời kể lại của những bậc cao niên trong họ Nguyễn Tài, xác nhận rằng các bậc cao tằng tổ khảo của dòng họ đều đã được sinh ra tại làng Vạn Phúc, Hà Nội, còn trước đó các vị thủy tổ phát tích từ đâu đến thì chẳng có tư liệu nào ghi chép được nguồn gốc.
Làng Vạn Phúc khi xưa có tên là Trại Vạn Bảo. Từ thời Hùng Vương , làng được gọi là chạ, đó là một từ cổ Việt – Mường, đến thời nhà Lý, chữ chạ được gọi thành trại, rồi sau đó gọi thành một từ kép Làng -Trại.
Tên trại Vạn Bảo thấy có ghi trong sử sách từ thời nhà Lý ( 1010 ) với các địa danh : thôn ( trại ) Vạn Bảo, núi Vạn Bảo, núi Trúc trại Vạn Bảo . …
Vậy dòng họ Nguyễn của nước Việt Nam có từ bao giờ ?
Theo Ngọc phả Đền Lăng Xương do ông tiến sỹ Nguyễn Hữu Công, quan Đô Đốc Thượng Thư cùng với ông Nguyễn Công Chính và Nguyễn Minh Khai lập vào ngày 15 tháng 11 năm 1011 đời LýThái Tổ, niên hiệu Thuận Thiên thứ II có chép lại rằng : Thánh Tản Viên – Sơn Tinh tên thật là Nguyễn Tuấn, con trưởng ông Nguyễn Cao Hành và bà Đinh Thị Đen (còn gọi là Bà Thái Vĩ), hai ông bà sinh sống ở Động Lăng Xương, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Sơn Tây (nay là xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ).
Trong Đại Việt sử ký toàn thư, quyển I , Kỷ Hồng Bàng thị ( 2879-258 trước công nguyên ) có ghi lại sự tích Sơn tinh lấy Mị Nương là con gái Hùng Vương, như vậy có thể nói dòng họ Nguyễn đã có ở nước Việt Nam trên 2000 năm, trước khi bị các thế lực phương bắc xâm chiếm đô hộ .
Ngày nay dòng Họ Nguyễn xếp thứ 4 trong 10 họ phổ biến nhất thế giới
Họ Nguyễn của Việt Nam vừa được xếp vị trí thứ 4 trong top 10 họ phổ biến nhất thế giới, với ước tính 36 triệu người (hơn 1/3 dân số Việt Nam) mang họ này.Thứ hạng này được tạp chí The World Geography tổng hợp trên toàn thế giới. Họ Nguyễn là họ phổ biến nhất ở Việt Nam. Theo ước tính, có tới 36 triệu người Việt Nam mang họ này. Nó đồng nghĩa với khả năng 10 người mà bạn gặp ở Việt Nam sẽ có gần 4 người mang họ Nguyễn. Đây cũng con số cao kỉ lục đối với một họ ở một quốc gia. Ngoài ra, những cộng đồng người Việt ở Úc, Pháp, Mỹ… cũng có rất nhiều người mang họ Nguyễn.(nguồn VNEXPRESS ngày 29/2/2012)
Dòng họ Nguyễn ở Việt Nam có rất nhiều chi : Nguyễn Văn, Nguyễn Tài, Nguyễn Đức, Nguyễn Đình, Nguyễn Huy, Nguyễn Đăng, Nguyễn Công, Nguyễn Hữu. Nguyễn Phúc….
Có những dòng họ lớn có lịch sử lâu đời mang họ Nguyễn. Nhiều triều vua của Việt Nam mang họ này, như nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn.
Trong lịch sử Việt Nam, đã từng có nhiều trường hợp và sự kiện mang nhiều người đến với họ Nguyễn.Năm 1232, nhà Lý suy vong, Trần Thủ Độ đã bắt con cháu của dòng họ Lý chuyển sang họ Nguyễn. Khi Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, ông ta đã giết rất nhiều con cháu của dòng họ Trần. Vì thế, sau khi nhà Hồ sụp đổ, con cháu của họ Hồ vì sợ trả thù nên tất cả đã đổi sang họ Nguyễn.
Năm 1592, nhà Mạc suy tàn, con cháu của dòng họ Mạc cũng lại đổi họ sang Nguyễn. Khi triều đại nhà Nguyễn nắm quyền năm 1802, một số con cháu của họ Trịnh cũng vì sợ trả thù nên lần lượt đổi họ sang Nguyễn, số còn lại trốn lên Bắc sang Trung Quốc. Trong luật của triều đại nhà Nguyễn, những người mang họ Nguyễn được hưởng nhiều đặc lợi, được triều đình ban thưởng, và vì thế các tội nhân cũng theo đó đổi họ sang Nguyễn nhằm tránh bị bắm mang họ này, như nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn.
Theo các nguồn tư liệu mà chúng tôi tìm được, cho thấy dòng họ Nguyễn Tài có ở nhiều nơi :
-Làng Thượng Thọ, xã Thanh Văn, Thanh Chương, Nghệ An., đã có 15 đời sinh sống tại đây. Dòng họ Nguyễn Tài ở Thanh Chương vẫn luôn tự hào về 2 vị đại khoa danh giá nhất của họ tộc mình dưới thời Trần. Đó là Nguyễn Hiền (đỗ Trạng nguyên khi mới 12 tuổi) và vị Hoàng giáp đầu tiên của Việt Nam là Nguyễn Trung Ngạn (đỗ khoa Giáp Thìn khi mới 16 tuổi). Đây là 2 vị thần đồng nổi tiếng của đất nước, là tấm gương sáng cho con cháu dòng họ . Ngày nay có GS-TS Nguyễn Tài Cẩn, một nhà ngôn ngữ học phương Đông. ( nguồn Dân Trí 17/5/2011 )
- Vân Canh, Hoài Đức, tỉnh Hà Tây ( cũ ) quê hương của Giáo sư TSKH NGuyễn Tài Thu
- Xóm Đại, Đông Hòa, Đông Sơn , tỉnh Thanh Hóa.
- Làng Vạn Phúc , quận Ba đình, thành phố Hà Nội …
Nhân ngày Giỗ Tổ họ Nguyễn Tài .Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài văn khấn trong ngày giỗ Tổ họ Nguyễn Tài :
Văn khấn Lễ Giỗ Tổ tiên ngày Giỗ
Tấu sớ kỵ nhật Cụ Tổ
Nam mô ADi Đà Phật
Kính lạy Hoàng thiên hậu thổ, chư vị tôn thần, các ngài thần linh cai quản trong xứ này
Kính lạy Tổ tiên nội ngoại
Hôm nay là ngày 7 tháng 3 (âm lịch ) năm Nhâm Thìn 2012 là ngày cát kỵ cụ Tổ bản tộc Nguyễn Tài.
Hương tử con là Nguyễn Tài Bình, tuổi 81, ở tại số nhà 25 ngõ 192 Kim Mã, xin được thay mặt bản tộc Nguyễn Tài, dâng nén tâm nhang cầu xin cụ Tổ chứng giám.
Kính nghĩ, vắng xa trần thế , không thấy âm dung, năm qua tháng lại vừa ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình khôn bề giãi tỏ.
Nhân ngày Giỗ chính, chúng con họ Nguyễn Tài nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng. Xin mời cụ Tổ giáng về linh sàng chứng giám lòng thành. thụ hưởng lễ vật. Mong cụ Tổ rủ lòng thương xót, phù hộ độ trì, che chở cho con cháu mọi sự tốt lành, gia cảnh được an khang thịnh vượng , sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm, giãi tấm lòng thành mong được che chở.
Chúng con xin kính mời các cụ Tổ tiên nội ngoại Tổ khảo, Tổ tỷ, bá thúc , cô dì, tỷ muội và toàn thể các hương linh gia tiên đồng lai lâm hưởng.
Chúng con xin kính mời các ngài thổ công, táo quân và chư vị linh thần đồng lại giám cách thượng hưởng.
Chúng con xin mời các vị vong linh tiền chư, hậu chư trong đất này cùng tới lâm hưởng
Cẩn cáo
Con người ta sống trong cõi đời thì phải có lòng biết ơn .Sống là phải biết ơn cha mẹ, ông bà, tổ tiên đã cho ta sự sống. Đạo thờ cúng tổ tiên là đạo làm người .
Cổng nhà thờ họ Nguyễn Tài, làng Vạn Phúc thời Pháp thuộc