Skip navigation

Lost password? | Help

WELCOME TO YOU

Sometime a person is allowed to tell an untruth , even to a loved one , if the cause is good - if there is a good reason.

Cách sử dụng FDISK để chia ổ cứng




Kinh nghiệm cho thấy nếu bạn muốn sử dụng Windows một cách ổn định và lâu dài, điều đầu tiên bạn cần làm là phải có một phân vùng ổ cứng "tốt". Tốt ở đây có nghĩa là việc phân vùng đó sẽ đáp ứng được yêu cầu của bạn khi phân chia dữ liệu trên từng phân vùng đĩa cụ thể. Ngoài ra, việc phân vùng này còn cho phép bạn áp dụng các chính sách an ninh, bảo mật riêng rẽ đối với hệ điều hành (với Windows 2k trở lên).

Mặc dù nếu không sử dụng FDISK, sau khi cài Windows bạn vẫn có thể sử dụng phần mềm Partition Magic để chia ổ cứng; tuy nhiên về một mặt nào đó, ứng dụng này không thể đáp ứng yêu cầu của bạn (chẳng hạn như không thể chia đúng dung lượng yêu cầu). Chính vì vậy, FDISK vẫn là lựa chọn dễ dàng, hiệu quả và tiện dụng nhất cho bạn.

OK, cách FDISK sẽ được tiến hành như sau: (để có thể FDISK, bạn cần phải có đĩa khởi động)

Khởi động hệ thống từ ổ A, từ dấu nhắc trong DOS, bạn gõ lệnh: fdisk, hệ thống sau đó sẽ hiển thị như sau:

"FDISK Options

Current fixed disk drive: 1
Choose o­ne of the following:
1. Create DOS partition or Logical DOS Drive
2. Set active partition
3. Delete partition or Logical DOS Drive
4. Display partition information
5. Change current fixed disk drive

Enter choice: [1]"

Dẫn giải:
- Create DOS partition or Logical DOS Drive: Tạo khu vực trên đĩa (có thể là 1 phần hoặc toàn bộ và tạo ổ đĩa Logic cho Dos sử dụng.

Trong mục này còn có các mục con sau:
Create DOS Partition or Logical DOS Drive
Current fixed disk drive: 1

Choose o­ne of the following:
1. Create Primary DOS Partition
2. Create Extended DOS Partition
3. Create Logical DOS Drive(s) in the Extended DOS Partition

* Mục 1: Ðầu tiên, bạn cần phải tạo ra một Primary DOS Partition (lựa chọn 1). Vùng này có đặc điểm là chỉ chứa 1 ổ đĩa duy nhất có dung lượng chiếm toàn bộ không gian vùng và chỉ ổ đĩa này được phép khởi động. Nếu bạn để nguyên dung lượng cho ổ đĩa này (100%) thì quá trình FDISK sẽ hoàn tất và bạn sẽ chỉ có một ổ. Tôi chắc rằng, ít có bạn nào muốn lựa chọn phương án này thế nên, việc chúng ta cần làm là cần chia nhỏ dung lượng của ổ này. Bạn có thể chọn khoảng 30-40% từ dấu nhắc.

Ví dụ: dung lượng toàn ổ cứng của bạn là 40GB và khi bạn chia 40% cho ổ Primary DOS Partition (mặc định sẽ là ổ Csmile_image, thì dung lượng ổ này sau khi chia sẽ là 16GB.

Sau khi định hình kích thước cụ thể cho vùng này xong, bạn chuyển sang tiến hành mục 2.

* Mục 2: Mục này để tạo vùng đĩa mở rộng dành cho Dos. Dung lượng là không gian còn lại của ổ đĩa vật lý hay chỉ 1 phần nếu bạn muốn dự trữ một vùng riêng ngoài tầm kiểm soát của Dos (dành cho hệ điều hành khác) gọi là vùng Non Dos. Vùng Dos mở rộng này sẽ chứa tất cả các ổ đĩa Logic mà bạn muốn tạo và bạn tiến hành tạo chúng bằng mục 3.

Ngoài ra, có một chú ý đối với mục này là nếu bạn chọn tất cả dung lượng còn lại của ổ đĩa (100%), thì sau khi chia bạn sẽ có 2 ổ tất cả (trong trường hợp này là C: và Dsmile_image. Còn nếu bạn muốn có thêm một ổ nữa (Esmile_image, bạn cần định kích thức cụ thể (50% chẳng hạn)

Khi tạo ổ đĩa Logic, bạn không nên tạo quá nhiều (tốt nhất là 2) vì dung lượng còn trống sẽ bị phân tán trên từng ổ đĩa Logic khiến cho việc cài đặt các chương trình lớn trở nên khó khăn. Ngoài ra nếu bạn có nhiều ổ đĩa vật lý, bạn cần chú ý cách gán tên ổ đĩa Logic của Dos như sau:

Dos đặt tên theo thứ tự ABC và gán cho vùng Primary (Pri) trên mỗi ổ đĩa vật lý trước (theo thứ tự ổ đĩa vật lý ) sau đó mới đến các ổ đĩa Logic trên vùng Extension của từng ổ đĩa theo thứ tự. Thí dụ: Có 2 ổ đĩa vật lý, trên ổ đĩa master (1) chia 1 Pri, 2 Logic, trên ổ đĩa Slave (2) chia như ổ 1. Chúng sẽ được gán tên như sau: ổ 1 có C (Pri), E, F (Logic), ổ 2 có D (Pri), G, H (Logic). Thứ tự gán tên rất quan trọng nếu sơ ý sẽ dẩn đến việc Format sai ổ đĩa.

Các lựa chọn còn lại trong phần FDISK Options

- Set active partition (lựa chọn 2 trong phần FDISK Options): Chỉ định ổ đĩa được phép khởi động. Theo quy định của Dos, chỉ có ổ đĩa nằm trong Pri Partition mới được phép active (ổ đĩa Csmile_image. Mục này chỉ dùng khi bạn không cho vùng Pri chiếm toàn bộ dung lượng ổ đĩa vật lý.

- Delete partition or Logical DOS Drive: Xoá bỏ những gì bạn tạo trong mục 1. Theo quy định của Dos, quá trình xóa phải ngược lại với quá trình tạo, nghĩa là cái gì tạo đầu tiên phải được xoá sau cùng và ngược lại.


Trong mục này có các mục con:

Delete DOS Partition or Logical DOS Drive
Current fixed disk drive: 3

Choose o­ne of the following:
1. Delete Primary DOS Partition
2. Delete Extended DOS Partition
3. Delete Logical DOS Drive(s) in the Extended DOS Partition
4. Delete Non-DOS Partition

Trong mục này bạn phải tiến hành ngược từ dưới lên trên tức là tiến hành theo thứ tự 4,3,2,1.

- Display partition information: Hiển thị tình trạng hiện tại của ổ đĩa cứng. Mục này bạn nên chọn đầu tiên để tránh tình trạng thao tác nhầm ổ đĩa.

- Change current fixed disk drive: Chọn ổ đĩa vật lý để thao tác.

Chú ý: Khi bạn FDISK trên ổ đĩa cứng nào (logic hay vật lý ) toàn bộ dữ liệu trên ổ đĩa đó sẽ bị xoá. FDISK chỉ dùng cho ổ đĩa cứng, bạn không thể FDISK ổ đĩa mềm. Ngoài ra, sau khi FDISK xong, bạn cũng nên format lại ổ cứng trước khi tiến hành cài Win.


http://dichvucongdong.net/Default.aspx?g=posts&t=157



Tải Những Chương Trình Phần Mềm Miễn Phí




Phát hành bởi OPSWAT

Các chương trình bảo vệ máy tính như Anti Virus hay Anti Spyware thường rất khó gỡ bỏ theo cách thông thường vì trong quá trình cài đặt, chúng thường được cài đặt sâu vào bên trong nhân của hệ thống...

Phát hành: 8/6/2009
Dung lượng: 2.82 MB
Cập nhật lúc: 17:17 01/08/2009
Yêu cầu: Windows 2000/2003/XP/Vista/Server 2008/Windows 7
Tìm thêm: bảo vệ máy tính, antivirus, anti spyware, gỡ bỏ, phần mềm, bảo mật, opswat, chương trình


FreeRapid Downloader 0.82 Build 421 - mọi Windows
ArcSoft Panorama Maker Pro 5.0 - Windows 2000/XP/Vista
Movavi Video Editor (former EnhanceMovie) 4.0 - Windows 2000/XP/Vista
Steganos Password Manager 11.1.0 - Windows XP/Vista


http://download.com.vn

http://www.vnnetsoft.com/download.php

JAVA SCRIPT
http://www.java.com/en/download/index.jsp

Chương Trình APPSERV
http://www.appservnetwork.com/


PHPBB
What is phpBB? Since its creation in 2000, phpBB™ has become the most widely used Open Source forum solution. Like its predecessors, phpBB™ 3.0 “Olympus” has an easy to use administration panel and a user friendly installation process, which allows you to have a forum set up in minutes.
With a large and highly customisable set of key features coupled with a standards compliant interface, phpBB™ will grow with, and complement your website. With millions of installations worldwide, it is no wonder phpBB™ is one of the most popular ways to create and support a community.
http://www.phpbb.com/
http://www.phpbb.com/downloads/

Đặt mật Khẩu Cho Máy Tính
http://www.thongtincongnghe.com/article/2332

Hướng dẫn phân vùng (chia) ổ đĩa bằng PartitionMagic
http://www.3c.com.vn/Story/vn/hotrokhachhang/huongdancaidat/instphanmemthongdung/2007/2/7897.html


Tội Ác Của Đảng Cộng Sản Việt Nam




Tội Ác Của Đảng Cộng Sản Việt Nam


Nhắc tới tội ác của Cộng Sản Quốc Tế (CSQT) nói chung và tội ác của Cộng Sản Việt Nam (CSVN) nói riêng, có thể nói hầu hết mọi người Việt Nam, chẳng còn ai mơ hồ về bản chất tàn bạo của chế độ này, vì không nhiều thì ít, chúng ta đều là nạn nhân của chúng.

Bản chất tàn bạo đó đã được chính ông tổ CS là Mác Lênin xác nhận là rất cần thiết để tiến hành cuộc cách mạng xây dựng nền chuyên chính vô sản. Theo Mác, muốn xây dựng nền chuyên chinh vô sản, cần phải đạp đổ tất cả những gì hiện có, mà muốn đạp đổ mọi thứ thì phải có những con người không có gì cả như tiền của, gia đình, vợ con v.v... để mất. Do đó, cần có một đội ngũ cán bộ xuất thân từ những con người vô sản trong giới bần cố nông và công nhân. Tuy nhiên, Mác cũng nhận ra rằng, trong giới vô sản cũng có những người lương thiện không thể làm điều ác để có thể đạp đổ tất cả. Cho nên muốn xây dựng chế đô. CS thành công thì phải sử dụng những thành phần bất lương, côn đồ, hung dữ trong giới vô sản, vì chỉ những thành phần này mới có thể tận dụng bạo lực để trở thành cán bộ cách mạng của giai cấp vô sản.

Ta hãy điểm qua một số thành phần lãnh đạo tiêu biểu trong ĐCSVN làm ví dụ. Từ Hồ chí Minh (HCM), lãnh tu. CSVN, với bản chất độc ác lưu manh, lường gạt (mà nhiều người đã biết) giống như tên bạo chúa Stalin, đến ông sú chột Lê Đức Anh, gốc cai thầu chuyên đánh đập công nhân cao su của Pháp. Từ anh thiến lợn Đỗ Mười với bản chất đồ tể có sẵn đến tên Trần quốc Hoàn, một gã côn đồ lưu manh chuyên nghề đánh thuê chém mướn ở Hải Phòng ta sẽ thấy rõ điểm đó. Điều quan trọng cần biết rõ về HCM khi ông ta chỉ là một tên phản quốc chứ không phải là người thương dân yêu nước như có người lầm tưởng, nên dân tộc ta phải chịu biết bao khổ đau chồng chất suốt 76 năm nay. Việc HCM là tên phản quốc đã được chính văn khố của Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên Bang Sô Viết tiết lộ năm 1991 sau khi Liên Sô sụp đổ. Theo tài liệu ghi rõ thì HCM đã được Đệ Tam CS quốc tế huấn luyện có trả lương kể từ năm 1924 để thi hành việc cộng sản hoá toàn cõi Đông Dương bao gồm cả Mã Lai và Thái Lan theo lệnh của Stalin. Ta cũng thấy rõ nét bản chất phản quốc của HCM khi ông ta xin học trừơng Pháp để mong làm tay sai cho Pháp nhưng không thành. Cũng với bản chất tay sai, đàn em là Tố Hữu chỉ khóc Stalin khi hắn chết, mà không có một giọt nước mắt cho Tổ Tiên và đồng bào của mình v.v....

Tội ác CSVN kể ra thì nhiều vô cùng tận và toàn là những tội rất nặng, đến nỗi lá rừng ghi không hết và nước đại dương rửa cũng không thể sạch. Đó là những tội ác mang đặc tính diệt chủng chống nhân loại. Những tội điển hình như vụ: Xô Viết Nghệ Tĩnh, Cải Cách Ruộng Đất, Nhân Văn Giai Phẩm, Xét Lại Chống Đảng, Tết Mậu Thân 1968, Tù Cải Tạo sau 1975, Bán Đất Dâng Biển cho ngoại bang v.v... Dĩ nhiên, chúng ta không thể viết từng chi tiết của mỗi tội cũng như không thể viết hết tội ác của chúng trong phạm vi bài này, mà chỉ có thể kể tóm tắt một số tượng trưng mà thôi.

Tội ác đầu tiên khi HCM vừa áp đặt chủ nghĩa CS trên đất VN là thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh vào những năm 1930-1931. Trong thời kỳ này, khẩu hiệu được áp dụng triệt để là: Trí, Phú, Địa, Hào phải đào tận gốc trốc tận rễ. Nghĩa là, CSVN chủ trương là phải tiêu diệt bốn thành phần này thì giới vô sản như bần cố nông và giai cấp công nhân mới lãnh đạo được phong trào CS trên đất nước. Trong một xã hội dân chủ pháp trị, ai giết vô cớ dù chỉ một người thôi cũng phải đền mạng. Nhưng với xã hội VN ở thời kỳ này, việc giết bốn thành phần trên khi gặp ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào mà không cần xét xử, không cần biết đúng sai tốt xấu, có tội hay không có tội, chỉ là "chuyện bình thường". Chính cái tưởng là chuyện bình thường nhưng vô cùng "dã man" ấy đã nhân tội ác lên đến trăm ngàn lần so với xã hội có luật pháp nghiêm minh.

Tội ác kế tiếp là Cải Cách Ruộng Đất (CCRD) từ năm 1949-1956 ở miền Bắc VN. Với dân số khoảng 16 triệu người thời bấy giờ, CCRD đã giết oan 173,008 thường dân vô tội theo thống kê trong cuốn "Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam 1945-2000", do Viện Kinh Tế VN CS mới xuất bản trong nước. Xem thế thì cứ chưa tới 100 người, có một người bị giết. Đây là một thời kỳ kinh hòang cho toàn xã hội miền bắc.

Nói đến tội ác trong CCRD, ông Nguyễn Minh Cần, cựu phó Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Thành Phố Hànội, cho biết là có bốn nét chính nổi bật nhất cần quan tâm. Đó là:


Thứ nhất: Tội tàn sát thường dân vô tội - tội ác chống nhân loại. Người nông dân VN vốn hiền hòa, chất phác, đang làm ăn sinh sống và hết lòng đóng góp cho đảng, bỗng dưng bị đảng giáng cho một đòn chí mạng. Tầng lớp năng nổ, giỏi, biết làm ăn thì bị gán cho là địa chủ, cường hào ác bá, bị triệt hạ hết đường sinh sống. Những cán bộ của đảng ở nông thôn, đã từng vì đảng mà chịu nhiều hy sinh cũng bị quy là phản động, gián điệp, Việt gian v.v... để rồi bị trừng trị, bị bắn giết man rợ.

Thứ hai: Tội phá hoại truyền thống tốt đẹp mấy ngàn năm của dân tộc. Truyền thống hiếu hòa, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, lá lành đùm lá rách đầy tình người, rất đậm đà ở nông thôn VN được dân ta xây dựng hàng ngàn năm đã bi. CSVN phá vỡ trong thời kỳ CCRD.

Thứ ba: Tội phá hoại luân thường đạo lý dân tộc. Trong lịch sử dân tộc VN, chưa bao giờ đạo lý làm người bị đảo điên cách quái đản như trong thời kỳ CCRD. Con cái phải bịa chuyện gian dối đấu tố cha mẹ (mà Trường Chinh đã đấu tố cha ruột đến chết để làm gương). Vợ chồng, anh em phải đấu tố lẫn nhau. Hàng xóm láng giềng phải tìm cách vu khống, nói xấu gây căm thù, giáng hoạ cho nhau. Kẻ bị đấu tố bị trói, bắt qùi gục mặt như một tội nhân trước đám đông bao quanh, chịu đủ loại cực hình, phải gọi người đang đấu tố mình là ông là bà và phải xưng là con dù người đó chỉ là đúa con nít hay nó chính là con mình. Người đứng ra đấu tố thì gọi nạn nhân là "mày", là "thằng nọ", "con kia" rồi mắng nhiếc đủ điều thô tục v..v.. Cuối cùng nạn nhân bị giết bằng nhiều cách như xử bắn, hay chôn toàn thân xuống đất chỉ hở cái đầu, rồi dùng trâu kéo cầy cho đứt cổ nạn nhân trước sự chứng kiến của quần chúng, kể cả thân nhân cũng buộc phải chứng kiến dể tạo khủng bố tinh thần; nhiều người nhất là trẻ em bắt phải chứng kiến đã khóc ré lên rồi ngất xiu?, nhiều trường hợp người trong gia đình nạn nhân bị điên loạn mất trí, con cái bơ vơ không nơi nương tựa v.v... Thật là một bi kịch hãi hung! cảnh địa ngục trần gian!!!

Thứ Tư: Tội phá huỷ truyền thống tâm linh và văn hóa dân tộc. Trước CCRD, các nhà thờ, nhà chùa, đình làng v.v.. đều có ruộng đất riêng để lo sửa sang tu bổ nơi thờ phượng, cúng tế hàng năm, cũng như nuôi sống tu sĩ, và nhân sự chăm lo việc chung... Nhờ thế hoạt động tôn giáo tâm linh, từ thiện được điều hòa. Với CCRD, ruộng đất bị trưng thu để chia cho nông dân, các nơi thờ tự đình làng trở nên điêu đứng, cuộc sống tâm linh hoàn toàn bị xóa bỏ. Chữ "thiện" chữ "nhân" chẳng còn ai nhắc đến.


Tóm lại trong CCRD, nhiều người vô tội đã chết oan, có người tự tử vì qúa sợ hãi, vì bị vu khống. Những tiếng thét oan khiên, máu đổ ra khắp nơi, nước mắt khô cạn vì không còn để chảy. Nhiều người lúc ấy chỉ mơ ước được làm con chó hay con mèo cho yên thân... CCRD là một tội ác phản thiên nhiên, phản vũ trụ, vì nó đã bắt con người, dù có trí khôn hơn con vật, phải giết chết cả những người thân yêu nhất của mình như cha mẹ, vợ chồng con cái. Hành động trên còn thua xa cả loài lang sói, vì lang sói không bao giờ giết chết hay ăn thịt đồng loại.

Những năm 1956-1958, một số đảng viên trí thức như Trần Dần, Nguyễn hữu Đang, Lê Đạt bị bắt giam tù đầy trên 20 năm vì "tội" lập ra tờ báo "Nhân Văn" và "Giai Phẩm". Năm 1959, CSVN thi hành chính sách cướp bóc tài sản và các tư liệu sản xuất dưới hình thức "công tư hợp doanh" ở thành thị và "hợp tác xã nông nghiệp" ở nông thôn.

Năm 1961, CSVN đánh vào các tôn giáo và khủng bố các vị tu hành, phá chùa, nhà thờ hoặc sử dụng vào các mục đích ngoài tôn giáo.

Trong cuộc chiến xâm lăng miền nam trước 1975, VC đã thủ tiêu hàng ngàn viên chức chính phu? VNCH ở vùng mất an ninh. Đã chôn sống hơn 3000 thường dân vô tội ở Huế hồi Tết Mậu Thân năm 1968. Đã bắn hỏa tiễn vào đại lộ kinh hoàng giết cả chục ngàn người dân vô tội vào Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972. Đã pháo kích vào trường Tiểu Học Cai Lậy giết hàng trăm em học sinh trên dưới 10 tuổi vào năm 1974. Có thể nói, người dân miền Nam sợ chúng như sợ thần chết, hễ chúng tới đâu là người ta tìm cách chạy trốn về phía quân đội VNCH để tìm sự che chở. Sau khi cưỡng chiếm miền Nam, VC hành hạ các quân cán chính VNCH trong các nhà tù nơi rừng thiêng nước độc nguỵ trang là trại cải tạo. Tù nhân bị lao động khổ sai, bị tra tấn, hành hạ đến suy nhược cả tinh thần lẫn thể xác, thần kinh luôn luôn bị căng thẳng, lao động qúa sức lại thiếu ăn, đau không cho thuốc men, khiến cả ngàn người đã bị chết. Mặt khác, theo kết qủa điều tra của hai giáo sư đại học Jackson và Desbarats thì có ít nhất 65,000 người bị hành quyết trong các trại tù từ 1975-1983, đó là con số khiêm nhường, thật ra nó còn ghê gớm hơn nữa. Trong khi chồng bị tù tội, thì vợ con ở nhà bị tịch thu nhà cửa và đuổi đi vùng kinh tế mới, hoặc sống lê lết bên lề đường hay dưới gầm cầu cống rãnh. Con trai của họ không được vào đại học dù là học sinh xuất sắc, mà bị bắt di lính. Đã có khoảng 60,000 người là con em của thành phần này bị chết trên chiến trường Cambốt hay biên giới Việt Trung, và khoảng hơn 100,000 người bị tàn phế. Trong khi con gái của họ rơi vào cảnh phải làm điếm để phụ giúp mẹ và các em.

Cũng sau một thời gian ngắn cưỡng chiếm miền Nam, CSVN đã biến cả nước thành nhà tù vĩ dại dưới tên "Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam"; chúng tiến hành cải tạo xã hội miền nam, mà theo cựu Đại Tá cộng sản Bùi Tín, thì đó thực chất chỉ là ăn cướp tài sản của nhân dân, xóa sạch nền kinh tế thị trường tiến bộ và phá nát hạ tầng cơ sở có sẵn của miền Nam, khiến cả nước lâm vào cảnh đói nghèo lạc hậu có ảnh hưởng cho đến ngày hôm nay. Ông Bùi Tín còn kết án chế đô. VC độc ác vô nhân, vì đã hành hạ hèn mạt quân cán chính VNCH khiến nhiều người phải chết trên rừng thiêng nước độc như trên đã nói, đã phá nát nghĩa trang quân đội và thu vàng bán bến, gỉa vờ cho phép người vượt biển ra đi để tịch thu tài sản của họ, nhưng sau đó lại cho lính bắn chìm ghe vượt biển, giết hại nhiều đồng bào vô tội.

Giữa năm 1978, VC mở chiến dịch đánh tư sản mại bản để cải tạo công thương nghiệp, chúng đã ăn cướp tài sản của hơn 40,000 gia đình của người dân miền Nam, khiến họ trở thành trắng tay và phải liều chết vượt biên vượt biển ra đi tìm tự do, tạo nên phong trào thuyền nhân bi hùng nhất trong lịch sử nhân loại; với nửa triệu người chết trên biển cả đã làm rúng động lương tâm nhân loại khi một số quốc gia đã kéo thuyền người tị nạn ra biển không cho cập bến khiến họ phải chết. May mắn thay, Liên Hiệp Quốc biết được chuyện này nên LHQ đã phải họp khẩn ở Geneve ngày 14/11/1978 gồm 71 quốc gia tham dự để tìm phương cách giải quyết. Kết qủa là LHQ đã tuyên bố vấn đề thuyền nhân VN là vấn nạn chung của thế giới và yêu cầu các quốc gia nếu có thuyền nhân cập bến thì phải tiếp nhận và giúp đỡ dưới sự bảo trợ của LHQ.

Theo một thư tố cáo chưa được công bố, viết ngày 18/4/04 tại Virginia, HK, mà nhân chứng là Ông Trần H và Ông Hoàng Qúy cho biết thì để tạo lý cớ xâm lăng CamBốt năm 1978, CSVN đã đạo diễn tấn thảm kịch cực kỳ dã man, tàn bạo và ghê tởm. Đó là, đêm 18/4/1978, VC đã tập trung mọi người vào các chùa và trường học, không phân biệt già trẻ lớn bé nam nữ và tắm máu 3,157 dân làng Ba Chúc ở biên giới Việt Miên rồi đổ tội cho Khmer Đỏ. Hành động ném đá dấu tay của bọn VC giết người nêu trên là để đánh lừa dư luận. Hành động ấy đã đến lúc cần phải được cho ra ánh sáng để công luận xét xử.

Tội ác kế tiếp là đảng CSVN đã bán đất đai và nhượng biển của tổ tiên cho Trung Cộng. Tội ác ấy đã được Thủ Tướng CSVN Phạm văn Đồng chính thức công nhận qua văn thư nhượng đảo và biển gửi cho Thủ Tướng Trung Cộng Chu ân Lai ngày 14/9/1958: "Chính Phủ VNDCCH ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc về Hoàng Sa và Trường Sa". Với bản chất bán nước của CSVN, ngày 30/12/1999, Hànội đã bí mật ký kết với Trung Cộng Hiệp Định Về Biên Giới Trên Đất Liền. Và ngày 25/12/2000 ký Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá Trong Vịnh Bắc Bộ. Qua những hiệp định này, Việt Nam đã bị mất về tay Trung Cộng 720 Km vuông biên giới phía bắc VN, và 11.000 Km vuông Vịnh Bắc Việt, mất nguồn cá và các loại hải sản quan trọng nuôi sống dân VN, và mất tìềm năng dầu khí dưới lớp thủy tra thạch trong vịnh. Tội ác bán nước được tiếp diễn khi VC bắt bỏ tù Luật Sư trẻ tuổi Lê Chí Quang khi ông kêu gọi nhà cầm quyền hiện nay trong tiểu luận nổi tiếng "Hãy Cảnh Giác Với Bắc Triều".Hiện tại, từ kế hoạch xuất cảng lao động ra nước ngoài đến nạn buôn bán phụ nữ làm cô dâu Đại Hàn & Đài Loan cũng như nạn buôn bán trẻ em dưới vị thành niên sang Cambốt để làm điếm, mà VC chủ trương để lấy tiền bỏ túi, đang là mối sỉ nhục lớn cho dân tộc VN mà những ai quan tâm đều cảm thấy đau xót. Rõ ràng là nhà nước VC không quan tâm đến dân tộc và đất nước mà chỉ quan tâm làm sao giữ được độc quyền cai trị để có đặc quyền đặc lợi.

Tổng quát, kể từ khi HCM áp đặt chủ nghĩa CS phi nhân bản phản dân tộc trên đất nước ta năm 1930 cho đến nay, Đảng CSVN đã gieo rắc biết bao tai họa cho dân tộc và đất nước mà hậu qủa hiện nay là sự suy đồi về cả vật chất lẫn tinh thần với sáu nan đề chính mà dân tộc VN phải đối diện và giải quyết. Đó là: tàn phá môi sinh, băng hoại đạo đức, phân cực giầu nghèo, thiệt hại lãnh thổ, bất công xã hội, và thất thoát tài sản quốc gia.

Điều đau xót và đáng quan tâm mà mọi người Việt Nam yêu nước phải suy nghĩ là hiện tại dân tộc và đất nước VN nghèo nàn và tụt hậu nhất so với các nước láng giềng. Chính Thủ Tướng VC Phan văn Khải trong kỳ họp Trung Ương Đảng CSVN từ 6-13/1/04 đã thú nhận trước cử tọa: "...VN cần 20 năm nữa mới theo theo kịp Thái Lan...", nên nhớ Thái Lan trước năm 1975 chả hơn gì nếu không muốn nói là thua VNCH. Tháng 9/05, cũng chính Khải tái xác nhận trước nhiều viên chức chính phủ và một số nhà kinh doanh tại Hànội là VN cần 15 năm nữa mới theo kịp Thái Lan. Ông Khải đưa ra những dữ kiện để hỗ trợ cho kết luận trên như phiá VN có lợi tức bình quân đầu người (BQĐN) là 400 dollars/năm với tỉ số phát triển là 8%, trong khi Thái Lan có lợi tức BQĐN là 1650 dollars/năm với tỉ số phát triển là 5%. Thật ra qua hai lần thú nhận trên ta thấy rõ ông Khải có ba điều sai mà ông ta không biết, Thứ nhất, chưa đầy hai năm (1/04-9/05) mà VN đã phát triển và rút ngắn khoảng cách với Thái Lan được ba năm mà không chứng minh được là không đúng. Thứ hai, khi có tiền thì sẽ đẻ ra tiền, Thái Lan giầu hơn VN, họ sẽ dùng tiền đó để phát triển nhanh hơn VN gấp nhiều lần, nghĩa là BQĐN của họ sẽ tăng chứ không phải mãi mãi là 1650 đôla /năm để chờ ta theo kịp họ sau 15 năm. Thứ ba, nếu ta lấy các dữ kiện ông Khải cung cấp để làm bài toán thì ta có kết qủa là cần hơn 50 năm chứ không phải 15 năm với điều kiện là các số đó không thay đổi, đây là điều không thể xẩy ra.

Có một điều chúng ta cần quan tâm là lãnh đạo VC xuất thân từ giới nông dân & công nhân như trên Mác đã khẳng định, họ chỉ có khả năng bắn giết chứ không có khả năng xây dựng đất nước vì kiến thức kém, nên đất nưóc bị tụt hậu như ngày nay là lẽ đương nhiên, và ông Khải có nhận thức sai cũng chỉ là điều dễ hiểu. Qua những dữ kiện trên, chúng ta thấy tội ác mà CSVN đã phạm thật vô cùng to lớn, và những tội ác ấy vẫn tiếp tục tái diễn nếu ngày nào CSVN vẫn còn thống trị dất nước. Đây là điều không một người dân VN nào có thể chấp nhận kể cả những đảng viên VC yêu nước dù dã thức tỉnh hay chưa. Điều quan trọng là phải làm sao để mọi người VN nhìn ra để không vô tình tiếp tay nuôi sống chế độ này. Khi mọi người nhìn thấy tầm mức tai hại của những tội ác này thì sẽ nỗ lực tiêp tay gỡ bỏ nó. Mặt khác, với một đất nước mà đa phần là giới trẻ trong khi cộng đồng ở hải ngoại đã bước sang thế hệ thứ ba, thì nhu cầu soi rọi sự thật lịch sử để giới trẻ thấy rõ tội ác của CSVN; và giai đoạn đen tối nhất của lịch sử đất nước trong 7 thập niên qua cần phải được chấm dứt, để đất nước có điều kiện tiến lên ngang hàng với thế giới trong thế kỷ 21 này. Đây là trách nhiệm nặng nề của tất cả con dân VN yêu nước.

Đối với thế giới, những tội ác của CSQT cũng đã gây khốn khổ cho nhân loại không ít, và những tội ác ấy cũng đã bị nhiều người kết án. Trong tài liệu "Sách Đen Về Chủ Nghĩa Cộng Sản" của sử gia Pháp là ông Stephane Courtois, giám đốc nghiên cứu thuộc Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu về Khoa Học của Pháp, ông Stephane đã vạch ra một cách chính xác về tội ác của CS. Đây là một bức tranh đen tối của lịch sử nhân loại mà theo ông, phải vạch ra để trả lại danh dự cho những người đã chết vì chủ nghĩa CS. Sau khi liệt kê những lãnh tu. CS tàn ác nổi tiếng trên thế giới như Lenine, Staline, Mao, Hồ chí Minh, Castro v.v..., ông đưa ra nhận xét: "... Vượt lên trên mức độ tội ác cá nhân hoặc tàn sát cục bộ địa phương theo hoàn cảnh, các chế dô. CS củng cố quyền hành bằng cách nâng việc tàn sát quần chúng lên hàng chính sách cai trị...".

Ngày 25/1/06 vừa qua, Hội Đồng Âu Châu(HĐÂC), một cơ chế gồm 46 nước thành viên, đã thông qua bản Nghị Quyết 1481, nhấn mạnh đến nhu cầu cả nhân loại cần lên án và phơi bầy các tội ác của những chế độ cộng sản toàn trị. Mặc dù Trung và Đông Âu không còn CS, nhưng HĐÂC vẫn có nhu cầu này vì những tội ác CS vẫn chưa được điều tra và những hung thủ chưa bị đem ra xét xử trong khi một số nước vẫn còn bị thống trị của bọn CS ác ôn này nên vẫn là mối đe dọa cho cả nhân loại. Đối với người VN, nhu cầu lên án những tội ác của chế đô. CS không những để cho dư luận toàn thế giới biết dến, mà còn cho chính người VN, nhất là những người còn mơ hồ về tội ác của CSVN giác ngộ. Một lần nữa, kẻ viết xin mọi người cùng tiếp tay phổ biến rộng rãi Nghị Quyết 1481, Qúi vị có thể vô web: queme.com để lấy tài liệu nghị quyết này.

Tháng 12/05 những nhà đấu tranh cho dân chủ của Trung Quốc mới ra mắt một cuốn sách tại Hoa Thịnh Đốn. Sách có tên là "Cửu Bình" tức là chín bài bình luận về những tội ác của chính quyền Cộng Sản Trung Quốc kể từ khi chúng thống tri. Trung Hoa, mà tác gỉa là những người có qúa khứ là cộng sản. Trong cuốn đó đã lột hết tất cả những sự lưu manh tàn ác đối với dân tộc Trung Hoa của đảng CS Trung Quốc. Sách được đưa lậu vào lục địa từ Hồng Kông và bí mật chuyển đến tay những đảng viên cộng sản. Kết qủa là chỉ trong vòng một năm rưỡi đã có sáu triệu rưỡi (6.5 triệu) đảng viên, tức khoảng 10% đảng viên trả lại thẻ đảng. Đây là một kết qủa ngoài dự trù. Việt Nam chúng ta hiện nay cũng không thiếu những nhà đấu tranh cho dân chủ mà qúa khứ cũng từng là đảng viên của CSVN như ông Hoàng Minh Chính, Phạm quế Dương, Bùi Tín v.v... mà đa số là những người đã có những bài viết giá trị. Nếu tất cả chúng ta, mỗi ngừơi một tay cùng tìm cách chuyển những bài viết của họ vào trong nước cho cán bộ đảng viên VC cùng đọc thì tôi tin cũng sẽ có những người trả lại thẻ đảng như đảng viên Trung Cộng đã làm. Hàn Phi Tử có câu: "Nước mất mà không biết là bất trí. Biết mà không lo liệu là bất trung. Lo liệu mà không liều chết là bất dũng". Qua gần 5000 năm giữ nước và dựng nước, cả ba cái bất trên, dân tộc anh hùng Việt Nam không có cái nào cả.

Từ hồi chủ nghĩa CS xuất hiện trên trái đất gần 100 năm nay, chủ nghĩa ấy đã giết hại hàng trăm triệu sinh linh trên thế giới. Riêng tại Việt Nam hàng triệu đồng bào thân yêu ruột thịt của chúng ta cũng bị chết tức tưởi bởi chủ nghĩa phi nhân tàn bạo này. Chính vì nhận thức chính xác như vậy, nên Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã gọi chủ nghĩa CS là "Con Quái Vật" (Monster). Tôi đồng ý với danh từ ấy.



HOANG VIET SUU TAM




Đọc “Hồi ký của những người trong cuộc” (Kết)




BMLS-ViQuocThanh

Vi Quốc Thanh (Wei Guoqing)
Nguồn: hcwang.cn

Trần Giao Thủy

Phần I, II




Quan hệ giữa ĐCVQS và cấp chỉ huy bộ đội Việt Minh

Ngoài những đoạn viết để biểu dương tinh thần “vừa là anh em vừa là đồng chí”, tác giả các bài viết trong tập Hồi Ký còn có những phê bình về bộ đội Việt Minh.

Vi Quốc Thanh cho rằng “quân đội nhân dân nói chung không đề bạt cán bộ trong chiến sĩ, mà là tuyển dụng học sinh thanh niên,... phân phối về bộ đội làm cán bộ trung đội, đại đội.” Một tác giả tập Hồi ký, Vu Hoá Thầm, nói những cán bộ loại này nhiều “người không biết đánh giặc, không biết chỉ huy, ra trận nhút nhát, tham sống sợ chết” và được xếp vào “thành phần khá phức tạp” trong hàng ngũ cán bộ các cấp(36).

Độc Kim Ba viết


“Tôi phát hiện chức vụ cán bộ chỉ huy càng cao, càng không hiểu rõ tình hình chiến đấu cụ thể, họ có thể chỉ huy bộ đội khi tiếp cận địch, cũng có thể chỉ huy khi hai bên bắn nhau, một khi bắt đầu xung kích thì họ không hiểu tình hình”(37).


Cho rằng cán bộ chỉ huy của Việt Minh không biết đánh giặc, nhút nhát vì thuộc “thành phần khá phức tạp”, không thuộc thành phần cơ sở, hoàn toàn không phản ảnh đúng thực tế lúc bấy giờ. Thử nhìn qua một số cán bộ lãnh đạo của bộ đội Việt Minh trong thời chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất.

‒ Tổng tham mưu trưởng kiêm Tham mưu trưởng chiến dịch Biên giới Hoàng Văn Thái, tên thật là Xiêm, con gia đình nông dân nghèo, 13 tuổi đã bỏ học đi làm thuê, cắt tóc. Đến 18 tuổi đi làm thợ mỏ ở Quảng Ninh rồi Cao Bằng(38).

‒ Chính ủy khu Tây Bắc, Bí thư Ban cán sự bộ đội tình nguyện vùng Thượng Lào, Chính ủy Đại đoàn 308, Bí thư Đại đoàn ủy Song Hào 19 tuổi đã hoạt động các mạng và cũng là nguời tổ chức hội Ái hữu thợ thêu(39).

‒ Đại đoàn trưởng kiêm Chính uỷ Đại đoàn 308, Đại tá Vương Thừa Vũ theo cha sang Vân Nam từ nhỏ và sau làm thợ hỏa xa ở đó(40).

‒ Phó Chính ủy, Chính ủy Đại đoàn 316, Bí thư Đảng ủy Đại đoàn 316 Chu Huy Mân sinh ra trong gia đình nông dân nghèo, mồ cô cha từ bé, hoạt động cách mạng sớm; 17 tuổi đã là đảng viên cộng sản(41).

‒ Chính ủy Liên khu 3, kiêm Tư lệnh liên khu, Thường vụ Khu ủy Khu 3, sau chiến dịch Biên giới là Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn chủ lực 320 Văn Tiến Dũng sinh ra trong gia đình vô sản, mồ côi mẹ từ nhỏ. 15 tuổi mất cha giúp anh làm thợ may; 17 tuổi làm công nhân xưởng dệt. Hai mươi tuổi vào đảng(42).

‒ Phó Chính uỷ, rồi Chính uỷ Đại đoàn 351, 305, Bí thư Đảng uỷ Đại đoàn Phạm Ngọc Mậu gốc nông dân, 20 là đảng viên cộng sản(43).

‒ Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn số 3 sau là Trung đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Sư đoàn pháo binh 351 Doãn Tuế, 14 tuổi đã thoát ly gia đình đi lính khố xanh phục vụ trong pháo binh Pháp trước 1945.

Nhìn chung, cấp lãnh đạo bộ đội Việt Minh trong chiến tranh chống Pháp là người làm thuê, thợ may, thợ mỏ, thợ hoả xa, nông dân, thợ thêu, thợ dệt, lính khố xanh,.. đều thuộc thành phần cơ bản (công nông, nghèo hoặc vô sản). Trong đó cũng có một số, ít hơn, là ngoại lệ thuộc “thành phần khá phức tạp”. Thí dụ, Trung đoàn trưởng 174 Đặng Văn Việt, con quan của triều đình nhà Nguyễn, Đại đoàn phó đại đoàn 308 Cao Văn Khánh tốt nghiệp cử nhân Luật và đi dạy học, hay Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng các Trung đoàn: Sơn La, Sơn Tây, quyền Khu trưởng Khu XIV, khu phó Liên khu X Lê Trọng Tấn con cụ đồ, học trò trường Bưởi, đá bóng và đi lính cho Pháp (hạ sĩ lính khố đỏ).

Tuy không nhắc đến đóng góp của ĐCVQS cũng như viện trợ của Trung Quốc trong cuộc chiến chống Pháp trong cuốn “Điện Biên Phủ” (Nxb Thế giới 1994) như Bob Seals ghi nhận, Võ Nguyên Giáp, theo lời kể của Vu Hoá Thầm, đã nói về Vi Quốc Thanh nhân dịp thăm vợ và con gái của Vi trong kỳ tham dự Á Vận hội Bắc Kinh tháng 9, năm 1990:




“...Khi đồng chí nói sắp rời Việt Nam, chúng tôi cùng nhìn lại công tác mấy năm qua, quan hệ giữa chúng tôi rất tốt. Đồng chí tặng tôi một bức hoành xinh đẹp ‘Gió đông đón khải hoàn’ vẫn treo trong phòng làm việc của tôi, người bạn tri kỷ nhất của tôi là đồng chí Vi Quốc Thanh”(44).


Khi phê bình lãnh đạo bộ đội Việt Nam các tác giả của tập Hồi Ký thường không nêu đích danh và chỉ dùng đại danh từ bất định.


“Lúc này có người lãnh đạo Việt Nam bàn tán rằng, nếu thừa thắng xốc tới đánh lấy Hà Nội thì tốt biết mấy! Có người nói đánh Hà Nội cần phải đánh sân bay Gia Lâm trước, đồng thời cắt đứt con đường của địch từ Hà Nội thông ra các cảng ven biển như Hải Phòng, v.v...”



TranCanh

Trần Canh: Võ Nguyên Giáp là người “quay quắt, không chính trực và không lương thiện lắm” (slippery, and not very upright and honest)
Nguồn: vietnam.vnanet.vn

Hay


“Phía Việt Nam có người lãnh đạo có tư tưởng kiêu căng mù quáng lại bộc lộ ra. Khẩu hiệu “tổng phản công” lại dâng cao, chủ yếu thể hiện trong việc lựa chọn hướng tác chiến tiếp theo”(45).

Tuy nhiên, trong cuốn Hồi ký Trần Canh – không được Nhóm biên tập Hồi ký chọn đăng – Trần Canh miêu tả Võ Nguyên Giáp là người “quay quắt, không chính trực và không lương thiện lắm” (slippery, and not very upright and honest)(46). Theo Trần Canh, có lần Giáp phàn nàn với Trần Canh về những phê bình của La Quý Ba về Giáp, nhưng khi La Quý Ba có mặt thì Giáp lại luôn tỏ vẻ chân tình và nồng nhiệt. Trần Canh viết,


“Khuyết điểm lớn nhất của người cộng sản Việt Nam là lo ngại người khác biết được chỗ yếu của mình. Họ không có tinh thần tự phê của người bônsêvíc.”


Theo Trần Canh, Giáp là minh chứng tiêu biểu nhất của khuyết điểm này(47).



Lời kết

Trong lịch sử ngàn năm trước hay ngay thời đương đại, quan hệ Việt–Trung lúc nào cũng là mối quan tâm của người Việt Nam, nhất là trước những đe doạ lớn đến chủ quyền và những thua mất tài nguyên đất nước trong thời gian gần đây dọc đường biên giới phía Bắc cũng như ở Vịnh Bắc Việt, cả vùng Biển Đông và trước mặt là mối cơ nguy môi sinh Tây Nguyên bị phá huỷ, và không xa lắm, dòng Cửu Long cạn nước.

Tập Hồi Ký này chỉ rõ một phần tư duy và cách ứng xử của Đảng Cộng sản Trung Quốc và ban lãnh đạo nhà nước Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc đối với đảng Lao Động Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong chiến tranh chống Pháp – hô hào tinh thần quốc tế chủ nghĩa không ngoài mục đích bảo vệ an ninh và nâng cấp quyền lợi riêng của Trung Quốc trên trường quốc tế.

Tại sao lại có sự gạn lọc “Ghi chép thực về việc tham dự của Đoàn Cố vấn quân sự Trung Quốc trong cuộc viện trợ Việt Nam Chiến đấu chống Pháp” của Nhóm biên tập về Lịch sử của Đoàn Cố vấn Quân sự Trung Quốc tại Việt Nam do nhà xuất bản Giải phóng Quân Nhân dân ấn hành năm 1990 tại Bắc Kinh thành “Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp” (Hồi ký của những người trong cuộc) do nhà xuất bản Lịch sử Ðảng Cộng Sản Trung Quốc phát hành năm 2002?

HoTran

Hồ Chí Minh cùng Trần Canh bàn kế hoạch chiến tranh biên giới
Nguồn: blog.udn.com

Chắc chắn, không ai hiểu người anh-em-đồng-chí cộng sản Trung Quốc hơn người cộng sản Việt Nam. Cuốn bạch thư Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua do nhà xuất bản Sự Thật ấn hành tháng 10, năm 1979 tại Hà Nội là bằng cớ không thể tranh cãi.

Đã thế, tại sao Đảng Cộng sản Việt Nam để mãi đến 2009 mới cho phép dịch Hồi ký sang tiếng Việt để “lưu hành nội bộ”?

Đọc ký sự do cả hai bên ghi lại chuyện xảy ra 55 năm trước giữa những người anh-em-đồng-chí có “mẫu mực sáng ngời của Chủ nghĩa Quốc tế Vô sản” không dễ. Người đọc cần phải có thái độ thận trọng dè dặt như, hay hơn cả khi đọc sách An Nam chí lược của Lê Tắc.

Âu đây cũng là một bài học lịch sử quý giá cho tất cả mọi người Việt quan tâm đến vận mệnh dân tộc.



Ngày 7 tháng 5, 2009



Nguồn: © Truyền Thông ‒ Communications, trang 3-16, No. 32-33 Hạ-Thu 2009, Montreal, Quebec, Canada.


(36) Vu Hoá Thầm, Đồng chí Vi Quốc Thanh trong viện trợ Việt nam đấu tranh chống Pháp.
(37) Độc Kim Ba, Ghi lại chặng đường tham gia Đoàn Cố vấn Quân sự sang Việt Nam.
(38) Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.
(39) Thông tấn xã Việt Nam.
(40) Bách Khoa Toàn thư mở (BKTTM).
(41) Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.
(42) Bảo tàng lịch sử quân sự, Báo tiền phong online.
(43) Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam.
(44) Vu Hoá Thầm, Đồng chí Vi Quốc Thanh trong viện trợ Việt Nam đấu tranh chống Pháp.
(45) Độc Kim Ba, Ghi lại chặng đường tham gia Đoàn Cố vấn Quân sự sang Việt Nam.
(46) Chen Geng, Chen Geng riji, (Chen Geng’s Diaries), Vol. 2, pp 21, 36 (Beijing: People’s Liberation Army Press, 1984).
(47) Qiang Zhai, trang 64. Christopher E. Goscha, trang 105.




Đọc “Hồi ký của những người trong cuộc” (II)



Trần Giao Thủy
Tiếp theo phần I





Sau đây là vài điểm nổi cộm thường được lập lại trong tập Hồi ký.

– Quyền lãnh đạo tối cao của Mao Trạch Đông trong cuộc viện trợ Việt Nam chống Pháp (“...trước hoặc sau những vấn đề quan trọng phải thỉnh thị báo cáo Mao Chủ tịch, Trung ương.” – Lưu Thiếu Kỳ dặn dò La Quý Ba.)

– Dù tác giả là La Quý Ba, Trương Quảng Hoa, hay Độc Kim Ba, bài viết trong tập Hồi ký đều viết về Mao Trạch Đông như

Một lãnh tụ nhân hoà, sòng phẳng:

“Sau khi đến Việt Nam, các đồng chí phải nói với họ, tổ tông xưa chúng tôi ức hiếp các đồng chí, chúng tôi tạ tội xin lỗi các đồng chí và một lòng một dạ giúp đỡ các đồng chí đánh bại bọn thực dân Pháp.”(15) (Mao Trạch Đông kể chuyện Mã Viện đánh Giao Chỉ trong buổi họp ra chỉ thị với đoàn cố vân quân sự vào cuối tháng 6, 1950 ở Bắc Kinh)


Một con người khiêm cung, đơn giản, chân thành:

“Tham mưu tức là đề xuất ý kiến, nghĩ ra biện pháp hỗ trợ lãnh đạo, không được bao biện làm thay, càng không thể làm thái thượng hoàng, ra mệnh lệnh.”(16) (Mao Trạch Đông ra chỉ thị với đoàn cố vân quân sự vào cuối tháng 6, 1950 ở Bắc Kinh).

“Yêu mến từng gốc cây ngọn cỏ của nhân dân Việt Nam, tôn trọng độc lập dân tộc Việt Nam và phong tục tập quán của nhân dân Việt Nam...”(17) (Mao Trạch Đông đích thân duyệt và bổ sung “Qui tắc công tác” của cố vấn Trung Quốc tại Việt Nam)


Người anh em hết lòng giúp các đồng chí Việt Nam. Mao Trạch Đông lấy Lý Đức và Henry Norman Bethune làm thí dụ xấu-tốt để chỉ đạo cán bộ cách gìn giữ Mẫu mực sáng ngời của Chủ nghĩa Quốc tế Vô sản:

“Đồng chí công tác ở Việt Nam, nhất thiết phải tránh bài học của Lý Đức ở Trung Quốc...

Phải có thái độ thật thà, thận trọng, ít nói chúng ta đã ‘qua năm cửa ải chém sáu tướng’ ...

“Bethune là người Canada, chẳng nề đường xa vạn dặm đến Trung Quốc, giúp Trung Quốc chống quân xâm lược Nhật, không tơ hào tư lợi, không tiếc hy sinh tất cả, đó chính là tinh thần quốc tế chủ nghĩa.”(18)


Tuy nhiên, thực chất và mục đích tối hậu của viện trợ Việt Nam chống Pháp có thể tóm gọn trong lời Mao Trạch Đông rao giảng khi La Quý Ba 2 lần quay về Bắc Kinh Báo cáo công tác:

“Dù là chống Mỹ viện Triều hay là viện Việt chống Pháp đều là chủ nghĩa quốc tế, chủ nghĩa yêu nước,...

“Còn Việt Nam đánh bại bọn xâm lược thực dân Pháp, đuổi chúng ra khỏi Việt Nam, biên cương phía Nam của Trung Quốc cũng giải tỏa khỏi mối đe doạ của bọn xâm lược thực dân Pháp,...”(19)


Dùng Việt Nam làm biên cương che phía Nam và Triều Tiên làm vành đai phương Bắc chống đế quốc, bảo vệ an ninh quốc gia chính là một phần của sách lược cốt lõi, là chủ nghĩa yêu nước Đại Hán.





Cọ sát

ĐCVQS và phía lãnh đạo quân đội Việt Nam cũng không tránh được những cọ sát trong những năm tháng cùng chiến đấu chống Pháp.



“Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam lúc bấy giờ có bất đồng với cán bộ lãnh đạo chủ chốt của quân đội Việt Nam trên vấn đề phương hướng phát triển chiến lược cũng có những quan điểm không giống nhau lắm trên vấn đề phát động quần chúng, trên vấn đề công tác chính trị bộ đội.”(20)



NguyenHuuAn

Nguyễn Hữu An khi là Trung tá (Mặt trận Ia Drang, 1965)
Nguồn: 60frame.gamechosun.co.kr

Trong chiến dịch Biên giới, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 251 Nguyễn Hữu An và Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88 Trần Dũng Thái đã tỏ ý không thuận với chiến thuật đánh Đông Khê trước Cao Bằng như Trần Canh đề nghị. Sau hai ngày đêm (16-18/09) bộ đội Việt Minh chiến đấu và thắng ở Đông Khê, với thiệt hại nặng.

Hơn nửa tháng sau đó, thiếu lương thực, phân nửa bộ đội của đại đoàn 308 phải đi vác gạo từ Thuỷ Khẩu về, phần còn lại chờ đợi phục kích và tấn công đoàn quân tiếp viện của Lepage ở núi Cốc Xá. Số thương vong của quân đội Việt Nam trong cuộc tấn công ngày 05/10 khá lớn(21). Cán bộ Việt Nam kêu khổ, Võ Nguyên Giáp đề nghị cho quân nghỉ ngơi, chỉnh đốn nhưng Trần Canh cho rằng “chỉ huy mà dao động thì chôn vùi thời cơ rất tốt để chiến dịch thắng lợi” và doạ bỏ về Trung Quốc(22).

Một tài liệu nhóm biên tập đã không chọn đưa vào Hồi ký là hồi ký của chính Trần Canh. Trong hồi ký(23), Trần Canh ghi lại những nhận xét khuyết điểm về tổ chức của bộ đội Việt Minh: khả năng truyền thông, kỷ luật, cán bộ chính trị chưa giỏi, tham nhũng, thiếu can đảm, và không huy động phụ nữ đúng theo học thuyết “chiến tranh nhân dân”(24).



Tranh cãi

Một chi tiết đến nay, 55 năm sau ngày chấm dứt chiến dịch Điện Biên Phủ, hai bên Trung Quốc và Việt Nam chưa đạt được đồng thuận. Ai là người đề xuất thay đổi chiến thuật “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” tại mặt trận Điện Biên Phủ?

Đúng ngày 07 tháng 05 năm 2009, kỷ niệm 55 năm kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ, ảnh chụp bài tham luận 13 trang của cựu Đại tá Hoàng Minh Phương – nguyên trợ lý Bộ chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ và cũng là người thông dịch cho Võ Nguyên Giáp và Vi Quốc Thanh – xuất hiện trên mạng Internet(25). Đây là bài tham luận đọc tại hội thảo quốc tế Kỷ niệm 50 năm chiến dịch Điện Biên Phủ và hội nghị Geneva trong hai ngày19-20 tháng 4, 2004 tại Bắc Kinh.

Trong bài tham luận này, Hoàng Minh Phương kể, suốt đêm 25/01 Giáp không ngủ. Sáng 26, đầu đắp đầy lá ngải cứu(26), gọi Phương sang để mời Vi Quốc Thanh đến bàn chiến thuật:

“Gặp đại tướng, Vi đoàn trưởng ngạc nhiên nhìn nắm ngải cứu trên đầu, ân cần hỏi thăm sức khoẻ rồi nói, lại quyết định của Võ Nguyên Giáp ngày 26 tháng 1, 1954,

‘Trận đánh sắp bắt đầu, đề nghị Võ Tổng cho biết tình hình mới nhất ra sao?’

‘Đó cũng là vấn đề tôi muốn trao đổi với đồng chí...

Ý định của tôi là ra lệnh hoãn cuộc tiến công chiều hôm nay; kéo pháo ra, thu quân về vị trí tập kết. Chuẩn bị lại theo phương châm đánh chắc tiến chắc.’”


Ngay sau đó Vi Quốc Thanh đồng ý với thay đổi chiến thuật của Võ Nguyên Giáp.

Trong tập Hồi ký của những người trong cuộc, các tác giả Trung Quốc ghi nhận sự việc khác với lời kể của Hoàng Minh Phương. Vu Hoá Thầm (bài 3), Vương Nghiên Tuyền (bài 6) Và Trương Quảng Hoa (bài 8) đều ghi lại sự thay đổi chiến thuật là phát kiến của Vi Quốc Thanh được Võ Nguyên Giáp đồng ý.

Vi Quốc Thanh tưởng tượng ra một tình huống phức tạp về cơ sở phòng ngự của địch... Vì vậy, cần thay đổi phương châm tác chiến.

Biến “đánh nhanh thắng nhanh” thành “đánh chắc thắng chắc”, từ ngoại vi vào trung tâm, tiêu diệt địch từng cứ điểm một.(27)


Các nhà nghiên cứu và biên khảo phương tây ghi nhận sự kiện này ra sao?

Ủng hộ quan điểm của Hoàng Minh Phương có Pierre Journoud với bài “Paris, Hanoi et Pékin” đăng trong tạp chí Communisme và Bản tin của l’Institut Pierre Renouvin de l’Université Paris I Panthéon-Sorbonne.(28) Pierre Journoud dẫn chứng bằng lời kể của Trần Văn Quang, Thượng tướng, nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu, đặc biệt chuyên trách chiến dịch Điện Biên Phủ, Phan Huy Lê và cựu Đại tá Hoàng Minh Phương.

Ở Bắc Mỹ, hai nhà nghiên cứu khác là Chen Jian và Qiang Zhai ghi lại sự kiện lịch sử đó với chi tiết khác.

Chen Jian trong bài China and the First Indochina War, 1950-54 đăng trên The China Quarterly, số 133, tháng 3, 1993, trang 101, viết:

Ngày 24 tháng 1, 1954 Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đánh điện chỉ thị Vi Quốc Thanh về chiến lược tấn công Điện Biên Phủ:

“Khi tấn công Điện Biên Phủ đồng chí nên tránh tấn công đồng loạt từ mọi phía; thay vào đó đồng chí cần có chiến lược tách nhỏ và bao vây lực lượng địch và từng miếng tiêu diệt chúng.”(29) (“Đánh chắc, tiến chắc” - TGT)


Cũng như Chen Jian, Qiang Zhai trong cuốn China and the Vietnam Wars, 1950-1975, Nhà xuất bản Đại học North Carolina phát hành năm 2000, trang 46-47, ghi:

Trong những điện tín gởi Vi Quốc Thanh ngày 24 và 27 tháng 1, 1950 Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ra lệnh cho Vi Quốc Thanh không được đồng loạt tấn công “từ mọi phía” nhưng phải dùng chiến lược “tách nhỏ và bao vây lực lượng địch và từng miếng tiêu diệt chúng.” “Đồng chí nên tiêu diệt địch từng tiểu đoàn một”... Thi hành theo đề nghị từ Băc Kinh, ĐCVQS và bộ đội Việt Nam đã đổi từ “giải pháp nhanh” sang “tiến chắc”(30).


Chen Jian và Qiang Zhai tham khảo và trích dẫn tài liệu gốc của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

HoChiMinhChuDoc

Hồ Chí Minh và Chu Đức (Cầu viện Bắc Kinh, 30/01/1950)
Nguồn: idcpc.org.cn



Một nhà nghiên cứu khác, Christopher Goscha, cho biết Bộ chính trị Đảng Lao Động Việt Nam đã phê chuẩn cuộc tấn công vào Điện Biên Phủ vào tháng 12, 1953, đồng điệu với ĐCVQS. Kế hoạch đã vạch là phải đánh trước khi Pháp đủ thời gian củng cố phòng thủ Điện Biên Phủ, nghĩa là phải “đánh nhanh”. Goscha viết tiếp, trong hồi ký mới nhất(31), Giáp cho biết là ông đã bí mật không đồng ý với kế hoạch này. Đến ngày 14/01, tất cả đồng ý tấn công nhanh chóng tiêu diệt toàn bộ binh đội Pháp tại Điện Biên Phủ đúng kế hoạch vào lúc 5 giờ chiều ngày 25/01/1954. Ngày 24/01 một bộ đội của đại đoàn 312 bị Pháp bắt và để lộ ngày giờ tấn công. Việt Minh dời cuộc tấn công lại 24 giờ khi biết địch đã biết kế hoạch. Mặc dù bị áp lực từ mọi phía Giáp quyết định không “đánh nhanh”, kéo pháo lui quân vào ngày 26/01, và được Vi Quốc Thanh đồng ý(32).

Thực ra chiến thuật “Đánh chắc, tiến chắc” đã được chuẩn bị dùng làm kế hoạch B nếu chiến thuật đánh biển người (“đánh nhanh”) không ăn chắc 100%. Như thế đổi từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” không nhất thiết mâu thuẫn với cố vấn của cố vấn quân sự Trung Quốc. Nhận định này cũng được Hoàng Minh Phương xác nhận trong bài “Về một cuốn sách xuất bản ở Trung Quốc viết về Điện Biên Phủ”, 14 trang, Tạp chí Xưa & Nay, số 3 (6/1994), Hội Sử học(33). Mặt khác, Hoàng Xuân Thuỷ, aide-de-camp của Tướng Giáp, trả lời phỏng vấn của Pierre Asselin ngày 19/09/1990 tại Sài Gòn đã cho biết, đa số các sĩ quan chỉ huy đơn vị ban đầu không đồng ý với “quyết định khó nhất đời” của Võ Nguyên Giáp, nhưng cuối cùng Bộ chính trị đảng Lao động Việt Nam đã tán thành(34).

Cũng cần ghi thêm, trong những ngày đầu tấn công Điện Biên Phủ, từ 13 đến 16 tháng 3, Võ Nguyên Giáp đã dùng chiến thuật biển người – một chiến thuật không có trong Binh thư Yếu lược hay Vạn Kiếp Binh thư nhà Trần hoặc Hổ trướng Xu cơ của nhà Nguyễn. Trong 4 ngày giữa tháng 3 đó, tổng số tổn thất của Việt Minh lên đến 9000 người, trong đó có 2000 bộ đội chết trận(35). Những thanh niên này, ngày nay, không thể tham gia vào cuộc tranh cãi để tuyên bố là họ đã chết vì “đánh nhanh” hay “đánh chắc”.



(Còn tiếp)


Nguồn: © Truyền Thông ‒ Communications, trang 3-16, No. 32-33 Hạ-Thu 2009, Montreal, Quebec, Canada.


(15) Trương Quảng Hoa, Quyết sách trọng đại Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp trong “Viêm Hoàng xuân thu” số 5 năm 1999.
(16) Độc Kim Ba, Ghi lại chặng đường tham gia Đoàn Cố vấn Quân sự sang Việt Nam.
(17) La Quý Ba, Mẫu mực sáng ngời của Chủ nghĩa Quốc tế Vô sản, trong “Tưởng nhớ Mao Trạch Đông”, Nhà xuất bản Văn hiến Trung ương năm 1993.
(18) (19) La Quý Ba, Mẫu mực sáng ngời
(20) Vương Nghiên Tuyền, Vấn đề phương hướng chiến lược và chiến dịch Điện Biên Phủ trong chiến tranh Việt Nam chống Pháp.
(21) Trương Quảng Hoa, Đồng chí Trần Canh trong Viện trợ Việt Nam chống Pháp đăng trên “Xuân Thu Viêm Hoàng” số 9 năm 1999, với tiêu đề “Đại tướng Trần Canh trong viện trợ Việt Nam chống Pháp”.
(22) Vu Hóa Thầm, Đồng chí Vi Quốc Thanh trong viện trợ Việt nam đấu tranh chống Pháp đăng trong “Thượng tướng phong vân lục” nhà xuất bản Đại Bách Khoa toàn thư xuất bản năm 2000.
(23) Chen Geng
(24) Qiang Zhai, trang 28
(25) Hoàng Minh Phương, Hồi ức về chiến dịch Điện Biên Phủ, đọc tại Bắc kinh ngày 19/04/2004, Diễn đàn Forum, Truy cập ngày 07/05/2009. Dương Danh Dy, người dịch và hiệu đính tập Hồi Ký cũng là người gởi bài tham luận ra hải ngoại.
(26) Lá cây ngải cứu (Folium Artemisiae) phơi khô gọi là ngải điệp. Cây ngải cứu có tên khoa học: Artemesia vulgaris L., họ Cúc (Asterraceae). Tên thông dụng: Armoise commune (Pháp) – Argy Worm wood leaf (Anh). Nguồn: Bộ Y tế VN
(27) Vu Hoá Thầm, Đồng chí Vi Quốc Thanh trong viện trợ Việt Nam đấu tranh chống Pháp.
(28) Pierre Journoud, Paris, Hanoi et Pékin, Bản tin của l’Institut Pierre Renouvin de l’Université Paris I Panthéon-Sorbonne, 20/07/2004
(29) Chinese Military Advisory Group (CMAG) in Vietnam, page 98
(30) Ban Biên tập về Lịch sử của Đoàn Cố vấn Quân sự Trung Quốc, “Những sự kiện lịch sử về vai trò của Đoàn Cố vấn Quân sự trong cuộc Viện trợ Việt Nam Đấu tranh Chống Pháp”, Bắc Kinh 1990, trang 97-98. {the Editorial Team on the History of the CMAG, ed. Zhongguo junshi guwentuan yuanYue kangFa douzheng shishi (Historical Facts about the Role of the Chinese Military Advisory Group in the Struggle of Aiding Vietnam and Resisting France) [Beijing: Jiefangjun chubanshe, 1990]}, page 97-98.
(31) Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ: Điểm hẹn lịch sử (Hà Nội: NXB Quân đội Nhân dân 2001)
(32) Christopher E. Goscha, Building force: Asian origins of twentieth-century military science in Vietnam (1905–54), Journal of Southeast Asian Studies, 34 (3), pp 556–558, October 2003. © 2003 The National University of Singapore.
(33) Christopher E. Goscha, phụ chú cuối trang 558.
(34) Pierre Asselin, (1997). New perspectives on Dien Bien Phu. Explorations: A graduate student journal of Southeast Asian Studies, 1(2), 12-21.
(35) Pierre Asselin.


Đọc “Hồi ký của những người trong cuộc” (I)



Trần Giao Thủy




Bản dịch tập Hồi ký của những người trong cuộc “Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp” (Hồi ký) do nhà xuất bản Lịch sử Ðảng Cộng Sản Trung Quốc phát hành năm 2002 tại Bắc Kinh đã lưu hành qua mạng internet từ đầu năm 2009 – 280 trang, khổ A4, dạng PDF. Người dịch là Trần Hữu Nghĩa và Dương Danh Dy.

Dương Danh Dy, người dịch và hiệu đính tập Hồi ký, một cán bộ ngoại giao lâu năm của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, từng giữ vai trò Bí thư thứ nhất tại Đại sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh, chuyên làm công tác nghiên cứu và là Tổng Lãnh Sự Việt Nam tại Quảng Châu trước khi nghỉ hưu năm 1996.



DuongDanhDi

Dương Danh Di
Nguồn: hoangsa.org

Tập Hồi ký gồm mười bài viết của sáu tác giả, với bản đại sử ký, và lời cuối sách. Ngoài La Quý Ba, Trưởng đoàn Cố vấn Chính trị sau này là Đại sứ đầu tiên của Cộng hoà Nhân Dân Trung Quốc tại Hà Nội, năm tác giả khác đều là các sĩ quan trong Đoàn Cố vấn Quân sự (ĐCVQS) do tướng Vi Quốc Khanh, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm dẫn đầu và hoạt động tại Việt Nam từ 11 tháng 8, 1950 đến trung tuần tháng 3, 1956.

Tập Hồi ký này cung cấp một số dữ kiện và quan điểm chưa được biết đến. Những thông tin đáng chú ý về hoạt động, suy nghĩ của những cán bộ cộng sản Trung Quốc trong hơn 5 năm giúp Đảng Cộng sản Việt Nam chống Pháp sẽ ít nhiều giúp những nhà quan sát, nghiên cứu, người cầm bút và bạn đọc có thêm tài liệu phân tích quan hệ giữa hai nhà nước cộng sản Việt-Trung trong lịch sử cận đại.

Sự can thiệp của Trung Quốc vào cuộc chiến chống Pháp ở Việt Nam là một đề tài có tầm quan trọng nhất định nhưng ít được nghiên cứu tường tận để hiểu giai đoạn này của lịch sử bang giao Việt–Trung. Vì sự khó khăn tiếp cận với tài liệu gốc từ Trung Quốc và Việt Nam, ngay đến những khảo cứu bằng Anh ngữ cũng khó đào sâu hoặc đã bỏ quên hay hạ giá chủ đề này(1).

Cho đến nay, riêng với những nghiên cứu cùng đề tài của Việt Nam, vì lợi ích dân tộc và để hoàn thiện “lịch sử quốc gia”, vai trò của Trung Quốc thường bị gạt bỏ ra ngoài. Đây là một khuynh hướng và lựa chọn rõ rệt của Đảng Cộng sản Việt Nam(2).

Tập “Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp” là một tài liệu mới? Không hẳn như thế. Tuy bản dịch sang tiếng Việt mới được phát tán trong thời gian gần đây nhưng bản chính bằng Hoa ngữ đã xuất bản từ năm 2002, cách đây 7 năm.



Tài liệu gốc

Từ giữa thập niên 1980 đầu thập niên 1990, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã mở ra một số nguồn tài liệu cho giới nghiên cứu tham khảo về hoạt động và sự can thiệp của Trung Quốc trong chiến tranh chống Pháp tại Việt Nam(3). Giá trị quan trọng, thích ứng với giai đoạn 1950-1955, và đáng kể nhất trong số những tài liệu này phải kể đến

‒ Mười ba tập sách “Bản thảo của Mao Trạch Đông từ khi thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc”(4) do nhà xuất bản Tài liệu Lịch sử Trung ương ấn hành từ 1987 đến 1991 tại Bắc Kinh.

‒ Kế đến là “Ghi chép thực về việc tham dự của Đoàn Cố vấn quân sự Trung Quốc trong cuộc viện trợ Việt Nam Chiến đấu chống Pháp”(5) của Nhóm biên tập về Lịch sử của Đoàn Cố vấn Quân sự Trung Quốc tại Việt Nam do nhà xuất bản Giải phóng Quân Nhân dân ấn hành năm 1990 tại Bắc Kinh (ĐCVQS).

‒ Sau đó là bài viết “Đồng chí Lưu Thiếu Kỳ gởi tôi sang Việt Nam”(6) của La Quý Ba trong cuốn “Để tưởng niệm Lưu Thiếu Kỳ” của He Jinxiu biên soạn, do nhà xuất bản Tài liệu Lịch sử Trung ương ấn hành từ 1988 tại Bắc Kinh.

“Hồi ký Trần Canh”(7) Quyển 2 do nhà xuất bản Giải phóng Quân Nhân dân ấn hành năm 1984 tại Bắc Kinh.

‒ Sau cùng là “Quân sự Vụ của Quân đội Trung Quốc đương đại”(8) của nhóm biên tập Han Huanzhi and Tan Jinjiao et al. do nhà xuất bản Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc in năm 1988.

Như thế “Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp” là một ấn bản do nhà xuất bản Lịch sử Ðảng Cộng Sản Trung Quốc lựa chọn in lại, chỉ là một phần của nguyên bản đã do nhà xuất bản Giải phóng Quân Nhân dân phát hành năm 1990, 12 năm trước đó.

Tóm lại, bản dịch một phần gạn lọc từ “Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp” sang tiếng Việt đến với người đọc sau nguyên bản Hoa ngữ 19 năm.

Trong tình hình bang giao còn rất căng thẳng, không lâu sau cuộc Chiến tranh Biên giới Việt-Trung 1979, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đưa Hồi ký của Đại tướng Trần Canh ra khỏi vùng “bí mật quốc gia”; vài năm sau đó Trung Quốc lại tiếp tục giải mật thêm một số tài liệu khác liên hệ trực tiếp đến sự kiện ĐCVQS. Tất nhiên, đây là quyết định có tính toán. Mặt khác, cho rằng những tài liệu của Việt Nam ít nhiều đều là những tuyên truyền chính thức hơn là nghiên cứu hàn lâm nên các nhà nghiên cứu phương tây thường bác bỏ những tài liệu phát xuất từ phía Việt Nam(9).

Dù biết thế nhưng một số nhà nghiên cứu tây phương đã không muốn bỏ lỡ cơ hội sử dụng những nguồn thông tin mới từ sau bức màn tre về Cuộc Chiến Đông Dương lần thứ nhất. Những người viết sử nghiêm túc cố gắng giữ để không bị khối sử liệu mới ra vùng ánh sáng ảnh hưởng đến độ nhạy bén và thái độ phê bình công chính, tối cần thiết trong công việc biên khảo. Dĩ nhiên, họ cũng chờ đợi được tiếp cận với những nguồn tài liệu có giá trị hàn lâm hơn là tính tuyên truyền từ phía Việt Nam để có thể quân bằng và nâng cao giá trị những nghiên cứu và biên khảo về sự có mặt tham dự của ĐCVQS trong cuộc chiến tranh chống Pháp tại Việt Nam(10).



Người trong cuộc

Bốn mươi năm sau Điện Biên Phủ, tướng Võ Nguyên Giáp viết,



“Tôi cảm thấy cần có một cuộc họp với các đồng chí trưởng đoàn cố vấn quân sự(11) thân mến đã có mặt (tại Điện Biên Phủ). Nói chung, mối quan hệ giữa chúng tôi và các đồng chí cố vấn quân sự Trung Quốc từ sau Chiến dịch Biên giới đã là xuất sắc. Những người bạn đó đã giúp chúng tôi bằng những kinh nghiệm của họ đã có từ cuộc chíến tranh cách mạng tại Trung Quốc và chiến tranh chống Mỹ ở Triều Tiên”(12).
MaiDongLaVi

Từ trái: Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm, La Quý Ba, Vi Quốc Thanh
Nguồn: xinhuuanet.com

Một điều đáng để ý, có lẽ nhiều người đọc sách của tướng Giáp cũng đã nhận thấy, trong cuốn sách viết về trận Điện Biên Phủ (Nxb Thế giới, 1994), Võ Nguyên Giáp không hề nhắc đến khối vũ khí, đạn dược, lương thực, nhiên liệu khổng lồ của Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam hay những cố vấn chiến thuật, hỗ trợ kế hoạch trong trận chiến quyết định sau cùng của cuộc chiến tranh chống Pháp. Ngay cả đến Vi Quốc Thanh, Tổng Cố vấn quân sự có mặt cùng với Võ Nguyên Giáp trong Đại bản doanh hỗn hợp ở Điện Biên Phủ cũng không được ông Tướng Tổng tư lệnh Mặt trận nhắc đến, khoan nói đến ghi nhận đóng góp tất nhiên của đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc từ năm 1950(13). Khi viết lại với Đại tá Hữu Mai cuốn Điện Biên Phủ, Điểm hẹn lịch sử do Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân ấn hành năm 2001, tướng Giáp có đề cập, nhưng rất ít, đến ĐCVQS và Vi Quốc Thanh(14).

Người khảo cứu phương tây đã nhận định cách viết sử của (Đảng Cộng sản) Việt Nam, “vì lợi ích dân tộc và để hoàn thiện ‘lịch sử quốc gia’, vai trò của Trung Quốc thường bị gạt bỏ”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp chứng minh điều này là đúng.



(Còn tiếp)


Nguồn: © Truyền Thông ‒ Communications, trang 3-16, No. 32-33 Hạ-Thu 2009, Montreal, Quebec, Canada.


(1) David G. Marr, Vietnam 1945, American Council of Learned Societies, University of California Press, 1997, trang 6.
(2) Qiang Zhai, China and the Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina Press, 2000, trang 1.
(3) Chen Jian, China and the First Indo-China War, 1950-54, The China Quarterly (1993), 133:85-110 Cambridge University Press, trang 85.
(4) Mao Zedong, Jianguo yilai Mao Zedong wengao (Mao Zedong Manuscript’s since the founding of the People’s Republic) Vol. 1-13 (Beijing Central Historical Document Press, 1987-1998).
(5) Nhóm biên tập, Zhongguo junshi guwentuan yuanyue kangfa douzheng shishi (Trung Quốc quân sự cố vấn đoàn viện trợ Việt Nam kháng Pháp đấu tranh ký sự) – The Editorial Group for the History of Chinese Military Advisors in Vietnam (ed.), A factual Account of the Participation of Chinese Military Advisors Group in the Struggle of Assisting Vietnam and Resisting France, gọi tắt là CMAG tại Việt Nam) (Beijing: People’s Liberation Army Press, 1990).
(6) Luo Guibo, Shaoqi tongzhi paiwo chushi yuenan (Comrade Liu Shaoqi sent me to Vietnam) in “Mianhuai Li Shaoqi” (In Commemoration of Liu Shaoqi) (Beijing Central Historical Document Press, 1988).
(7) Chen Geng, Chen Geng riji, (Chen Geng’s Diaries), Vol. 2 (Beijing: People’s Liberation Army Press, 1984).
(8) Han Huanzhi and Tan Jinjiao et al., Dangdai Zhongguo jundui de junshi guongzuo (The Military Affairs of the Contemporary Chinese Army) (Beijing: Chinese Academy of Social Sciences Press, 1988).
(9) Lien-Hang T. Nguyen, Vietnamese Historians and the First Indochina War, trong cuốn The First Vietnam War: Colonial Conflict and Cold War Crisis, do Mark Atwood Lawrence và Fredrik Logevall biên tập, Havard University Press, 2007, trang 41.
(10) Qiang Zhai, trang 9; Chen Jian, trang 86.
(11) Vi Quốc Khanh chết năm 1989.
(12) General Vo Nguyen Giap, Dien Bien Phu, (Hanoi, Vietnam, The Gioi Publishers, 1994), trang 23.
(13) Bob Seals, Chinese Support for North Vietnam during the Vietnam War: The Decisive Edge, MilitaryHistoryOnline.com, Published online: 09/23/2008.
(14) Général Vo Nguyên Giap; rédigé avec la participation de Huu Mai, Mémoires, 1946-1954; (traduit du vietnamien par Nguyên Van Su). Fontenay-sous-Bois, France: Anako Éditions, [2003-2004]. Hồi ký 1946-1954 gồm 3 tập, Chiến đấu trong vòng vây (I), Đường tới Điện Biên Phủ (II), Điện Biên Phủ, Điểm hẹn lịch sử (III).



Chính nghĩa Dân tộc


Minh Võ





Nhân kỷ niệm 55 năm hiệp ước 04/06/1954
Trở lại chủ đề Chính Nghĩa Dân Tộc



Ngày 31/05/2009, gần 300 đồng hương đã hội họp tại nhà hàng Kim Sơn ở Houston, Texas để thảo luận về đề tài Chính Nghĩa Dân Tộc. Chủ đề này lấy từ nhan đề cuốn sách mới nhất về cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm (NĐD và CNDT) của Minh Võ xuất bản tháng 11 năm 2008 và tái bản tháng 1, 2009. Sự kiện này xảy ra chỉ 4 ngày trước một biến cố lịch sử quan trọng của Việt Nam là hiệp ước ký kết giữa Hoàng Thân Bửu Lộc, thủ tướng Chính Phủ Việt Nam và thủ tướng Pháp Joseph Laniel (1890-1975) ngày 04/06/1954. Hiệp Ước này không được nhắc tới nhiều như các hiệp ước Élysée (08/03/1949) hay hiệp định Geneva (20/07/1954), vì dường như nó bị biến cố Điện Biên Phủ (07/05/1954) và sự chia cắt đất nước xảy ra liền trước và sau đó chỉ ít ngày làm cho lu mờ đi. Nhưng đó là một biến cố có ý nghĩa quan trọng vì nó là một cử chỉ dứt khoát của chính phủ Pháp, trước sức ép của tình hình bi đát Đông Dương cùng một lúc với tình hình khẩn cấp Algeria, muốn trao trả độc lập hoàn toàn cho một Việt Nam phi Cộng Sản. Nó cũng là kết quả nhiều năm tranh đấu của những người yêu nước trong đó có Ngô Đình Diệm. (1)

Thời điểm đó cũng là lúc chẳng những cựu hoàng Bảo Đại là Quốc Trưởng Việt Nam mà cả những nhà lãnh đạo đại cường Pháp Mỹ cũng đều tập trung chú ý vào việc tìm kiếm, hay trông chờ sự xuất hiện, một nhân vật của thời thế khả dĩ kham nổi tình thế tuyệt vọng của phe Quốc Gia và có thể đương đầu với Cộng Sản đang ở thế thượng phong trên chiến trường và chính trường Đông Dương.

Và đó chính là lúc xuất hiện con người “Tout Ou Rien” Ngô Đình Diệm.

Vì vậy, nhân dịp này chúng tôi xin khai triển thêm một điểm quan trọng đã được nhắc qua trong một bài quan điểm khá dài về Mối Nguy Của Dân Tộc đã đăng trên trang DCVOnline.net này vào 2 ngày mồng 2 và mồng 3 tháng 5, 2009.



“Chính Nghĩa Dân Tộc tất thắng Chiêu Bài Dân Tộc” (2)

JosephLaniel

Joseph Laniel sau khi từ chức (June, 1954)
Nguồn: LIFE/Frank Scherschel

Cho đến nay hầu như không còn ai nghĩ Hồ Chí Minh không phải là Cộng Sản nữa. Nhưng trong những năm đầu và giữa thập niên 1940 nhiều người đã tin lời ông ta chối mình không phải là Cộng Sản, mà chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc. Trong số những người tin lời nói dối của ông Hồ phải kể đến những sĩ quan cấp úy Hoa Kỳ như Archimedes Patti và Charles Fenn. Vì ngây thơ hay vì bị thuyết phục bởi những lời lẽ xảo quyệt của ông Hồ, họ tin ông ta hơn cấp trên của họ là những nhân vật có đầy đủ tài liệu bằng chứng về quá khứ và hoạt động của họ Hồ. Vì lúc ấy rất ít người hiểu thế nào là chủ nghĩa Cộng sản, một chủ nghĩa mà ngày nay ai cũng thấy là hoang tưởng, vì nó chủ trương thế giới đại đồng, phi quốc gia dân tộc.

Hơn nữa thực tế lịch sử đã chứng tỏ tất cả các nước đem áp dụng nó đều đã điêu đứng tan hoang về vật chất cũng như tinh thần. Chỉ vài nước như Trung Quốc và Việt Nam CS còn tồn tại vì đã biết sớm bỏ nó mà đi theo kinh tế thi trường.

Lúc ấy cũng rất ít người biết rõ lý lịch của Hồ Chí Minh đã từng là cán bộ cao cấp của Quốc Tế Cộng Sản. Vì vậy khi ông ta về nước lập ra mặt trận Việt Minh, rồi tuyên bố Việt Nam Độc Lập, lập chính phủ Liên Hiệp thì không chỉ thường dân ít học, mà cả các nhà trí thức, các đảng phải chống Cộng như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh... đều (vui vẻ hay miễn cưỡng) tham gia, còn nhận 70 ghế trong Quốc Hội mà Hồ Chí Minh tặng, không phải qua bầu cử!

Do đó đa số nhân dân trong nước và cả nhân dân thế giới (do một số đông ký giả thiên tả, hoặc không hiểu biết về chủ nghĩa CS, và không rõ lý lịch của Hồ Chí Minh mô tả) đều coi ông Hồ là nhà ái quốc, tức người theo chủ nghĩa dân tộc thực sự. Mà sự lầm lẫn này cho đến nay vẫn còn tồn tại trên những tác phẩm nổi tiếng thế giới. Vì lúc ban đầu ngay một số đông nhà trí thức, đại trí thức cỡ Bertrand Russel, hay Jean Paul Sartre... cũng bị lầm bởi học thuyết Mác mà họ coi như khoa học xã hội tiến bộ.

Nhưng nếu đã hiểu thấu chủ nghĩa CS của Mác và biết rõ lý lịch của Hồ Chí Minh (như chúng ta ngày nay) thì ai cũng nhận ra ngay cái gọi là lòng ái quốc hay chủ nghĩa dân tộc của HCM chỉ là chiêu bài giả dối phát xuất từ sách lược giai đoạn hay nói trắng ra là do âm mưu xảo trá bịp bợm của Lênin, tác giả đề cương về chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa dân tộc.

Ông Ngô Đình Diệm là người có viễn kiến chính trị và kiến thức sâu rộng về CS đã không lầm như những người khác. Ngay khi còn làm tuần vũ tỉnh Phan Thiết từ 1929 đến 1933 ông đã phải đương đầu với CS lúc ấy trong phong trào Xô Viết Nghệ tĩnh với khẩu hiệu sắt máu Trí Phú Địa Hào đào tận gốc, trốc tận rễ. Sau này khi ông bị Việt Minh bắt giam ở Việt Bắc, rồi Hồ Chí Minh ra lệnh đưa ông về Bắc Bộ Phủ, ngỏ lời mời ông tham gia chính phủ Liên Hiệp trong chức vụ bộ trưởng Nội Vụ, ông đã nhìn thấu tâm can đối thủ và cương quyết từ chối. Ông không mắc mưu CS như các lãnh tụ đảng phái khác.

Ngay lúc ấy ông đã thấy rõ Hồ Chí Minh là kẻ thù tối ư nguy hiểm mà ông sẽ phải đối phó trong tương lai. Ông đã thấy cái chiêu bài ái quốc, chiêu bài chủ nghĩa dân tộc của ông Hồ lúc ấy lợi hại như thế nào. Và ông nhìn ra ngay chỉ có dùng chính nghĩa dân tộc và lòng yêu nước thực sự mới có thể đánh thắng CS.

Là một nhà ái quốc, ở tuổi 32 đã lên đến chức thượng thư bộ lại, tương đưong với thủ tướng thời nay, ông đã không chút do dự “rũ áo từ quan” để phản đối thực dân Pháp và nhà vua. Ông đã không màng danh vọng, bổng lộc, coi vàng muôn lượng nhẹ tựa lông hồng, Ngôi báu xem nhường dép nửa đôi như lời thơ của nhà cách mạng Phan Bội Châu đề tặng ông và gọi ông là chí sĩ, vĩ nhân.

Ông từ chức không phải để cầu an, trốn tránh trách nhiệm, để rút lui về ở ẩn, trùm chăn, như nhiều người lầm tưởng. Nhưng ông đã lợi dụng thời gian không bận bịu với công danh, phú qúy, để tiếp tục tranh đấu, đòi cho bằng được một nền độc lập hoàn toàn cho Tổ Quốc. Vì ông biết rõ, chỉ khi nào nước nhà có được một nền độc lập hoàn toàn thực sự ông mới có chính nghĩa để lột trần mặt nạ chiêu bài yêu nước giả dối, một thứ chủ nghĩa dân tộc giả hiệu của Hồ Chí Minh.

Với thái độ cương quyết, “tout ou rien” (hay all or nothing), ông đã cố vấn cho quốc trưởng Bảo Đại ở Hương Cảng tranh đấu với Bolaert và đích thân ông cũng tranh luận gắt gao với vị cao ủy Pháp này để đạt một nền độc lập hoàn toàn hay ít nhất cũng giống như một nền độc lập mà người Anh đã trả cho Ấn Độ và Pakistan chẳng hạn. Nhưng vì thất bại trong việc này, nên khi cựu hoàng mời ông làm thủ tướng để ký với Bolaert thông cáo chung vịnh Hạ Long (ngày 05/06/1948) ông đã không nhận. Rồi sau đó, ngay cả khi Pháp đã nhượng bộ hơn và chính tổng thống Pháp Vincent Auriol ký với quốc trưởng Bảo Đại hiệp ước Élysée ngày 08/03/1949 trao trả độc lập rộng rãi hơn, ông vẫn không nhận lời mời của Bảo Đại làm thủ tướng. Vì ông nhận thấy độc lập trong Liên Hiệp Pháp vẫn chưa đủ uy tín cho ông có thể đương đầu với chiêu bài dân tộc của CS. Vì uy thế của Hồ Chí Minh đã được củng cố và tăng nhanh, sau cái gọi là Cách Mạng Tháng Tám, rồi bản tuyên ngôn Độc Lập mà HCM đọc tại quảng trường Ba đình ngày 02/09/1945 đánh dấu ngày ra đời của cái gọi là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.

Lúc ấy không chỉ đa số nhân dân trong nước, mà cả phần lớn dư luận thế giới cũng cho rằng ông Hồ và đảng CS có công lớn trong việc thu hồi độc lập. Vì những bản thông cáo chung vịnh Hạ Long và Hiệp ước Élysée, tuy là những văn kiện pháp lý được quốc tế công nhận. Nhưng đối với đa số người dân và ký giả ngoại quốc nó chỉ có ý nghĩa trên giấy tờ, trên pháp lý. Còn trên thực tế thì suốt từ 1946 đến 1954 người ta chỉ thấy quân Việt Minh của họ Hồ kháng chiến chống hàng trăm ngàn quân Pháp do các tướng lãnh nổi tiếng của Pháp chỉ huy. Rất ít thấy có những trận đánh lớn với quân của Quốc Trưởng Bảo Đại. Vì vậy người ta có cớ để coi phe Quốc Gia bên cạnh quân Pháp chỉ là phản động, Việt gian.

Ông Diệm nhìn rõ điều đó. Cho nên chỉ cho đến khi Pháp đã thua rõ ràng sau trận Điện Biên Phủ và nước nhà bị qua phân, và phía người Việt Quốc Gia lâm vào tuyệt vọng, ông mới ra tay cứu nước. May là lúc ấy cũng là lúc chính phủ Laniel cua Pháp vừa ký với chính phủ Bửu Lộc hiệp ước trao trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam.


HoChiMinh2

Hồ Chí Minh (1946)
Nguồn: truehochiminh.com

Qua lăng kính chủ nghĩa Mác không tưởng và độc hại và với nhãn quan về một cuộc chiến toàn cầu do CS phát động, ông đã nhìn rõ kẻ thù chính của dân tộc (cũng như của nhân loại) không phải người Pháp mà là Cộng Sản (3). Nhưng không dành được Độc Lập từ tay người Pháp thì sẽ không thể phá vỡ chiêu bài dân tộc của CS để chiến thắng CS. Vì vậy Pháp tuy là kẻ thù thứ yếu nhưng cần phải thanh toán trước.

Nhiều độc giả đã hỏi, tác giả có nghĩ nếu ông Diệm không bị lật và bị giết thì đã không có thảm hoạ 30 tháng Tư không? Lịch sử không có chữ nếu. Cho nên tôi chỉ yêu cầu xem kỹ hai sự kiện lịch sử đã được Nguyễn Văn Linh và Văn Tiến Dũng kể lại. Nguyễn Văn Linh, nguyên tổng Bí Thư Đảng CSVN đã thỏ lộ với Neil Sheehan là một trong 3 nhà báo trẻ chuyên chỉ trích, đã kích và thoá mạ ông Ngô Đình Diệm và đã được y ghi lại trong cuốn After The War Was Over. Còn Văn Tiến Dũng (VTD) là viên tướng tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh đánh chiếm miền Nam năm 1975 thì đã đích thân ghi lại trong cuốn Về Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước, mà chúng tôi đã dẫn chứng nơi trang 140 NĐD và CNDT, ấn bản tháng 1 năm 2009. Theo hai tác phẩm của Sheehan và VTD thì thời đệ nhất Cộng Hoà Cộng Sản đã mất từ 75 % (theo NVL) đến trên 90 % cán bộ.

Sở dĩ có được thành quả đó là nhờ miền Nam lúc ấy có chính nghĩa dân tộc. Quân Pháp đã rút hết. Dinh Norodom của Pháp đã trở thành Dinh Độc Lập. Dân chúng lại được sống trong phồn vinh, trù phú (Như đã dẫn chứng nơi trang 83-84 SĐD). Dựa vào những sự kiện thực tế rõ ràng như trên, việc thuyết phục các cán bộ CS rời bỏ hàng ngũ CS để quay về với chính nghĩa dân tộc không khó khăn lắm Và có thể quả quyết: ông Diệm đã thành công mà không cần có lực lượng võ trang hùng hậu trong việc chiến thắng CS là nhờ có chính nghĩa dân tộc và chính sách chiêu hồi sáng suốt.

Và khi ông Diệm không còn nữa và Mỹ đã tự ý đưa đại quân vào bao thầu cuộc chiến, thì cảnh quân ngoại quốc nhan nhản trên khắp nước đã lại diễn ra. Và cảnh lệ thuộc ngoại bang mà chính quyền Bảo Đại đã phải chịu, lại tái phát. Do đó chiêu bài ái quốc giả dối của HCM lại có dịp thắng thế một lần nữa cho đến khi CS chiếm trọn miền Nam.

Nam Cali 01/06/2009



© DCVOnline


(1) Sự kiện này đã được ông Diệm tiên liệu từ những năm 1947-1948 và nói trước với ông Hồ Sỹ Khuê và được ông này ghi lại trong tác phẩm Hồ Chí Minh Ngô Đình Diệm và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (trang 164) và được Minh Võ trưng dẫn nơi trang 241 cuốn Ngô Đình Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc:
“Ông Diệm bảo tôi:... Thành ra nguy cơ không phải là óc ly khai của người Nam Kỳ. Nguy cơ là Cộng Sản. Pháp là vấn đề giai đoạn. Cộng Sản mới là vấn đề tâm huyết và dài hạn. Pháp thắng hay bại trong cuộc chống Việt Minh vẫn phải đi đến chỗ công nhận Việt Nam độc lập. Điều quan trọng là buộc họ phải trả chủ quyền trong tay chúng ta (trong tay ông Diệm)”.

Những gì ông Diệm đã làm trong một năm khi mới về nước đã buộc Pháp trả độc lập hoàn toàn trong tay ông Diệm, Vì hiệp ước 4-6-1954 dầu sao cũng chỉ là trên giấy tờ. Để cụ thể hoá nó và biến nó thành hiện thực ông đã phải vượt qua vô vàn khó khăn và tranh đấu cam go mới đạt được.

(2) Đây chỉ là một phần bổ túc và quảng diễn thêm về 1 điểm của bài trước, Mối nguy của dân tộc. Vì vậy mong độc giả đặt bài này vào khuôn khổ bài trước để có một cái nhìn tổng quát và đầy đủ hơn.

(3) (Xin xem NDD và CNDT lần tái bản trang 241, cước chú 4).




Tâm tình với các chiến sĩ QĐNDVN




Nguyễn Anh


Tâm tình với các chiến sĩ QĐND Việt Nam

Lời mở
Người viết là một cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, cựu tù nhân trong các trai tù khổ sai, nhân ngày kỷ niệm của lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) 19/06 sắp tới, chạnh nhớ tới các bằng hữu năm xưa, cũng lại nhớ lại cuộc nội chiến tương tàn Nam Bắc 34 năm trước. Hiện nay đã sống yên vui ở một đất nước giầu có và hùng mạnh nhất thế giới trong khi các chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam đang hứng chịu những đe dọa từ kẻ thù truyền kiếp phương Bắc, người viết chỉ muốn chia xẻ cùng các bạn những suy nghĩ của cá nhân tôi về chuyện cũ cũng như chuyên mới đang tiếp diễn.

Cầu mong các bạn chân cứng đá mềm vượt qua tất cả mọi trở ngại, vững tay gìn giữ quê hương.

Riêng gửi bạn nguoivehuu, nguoitrongnuoc và các chiến hữu của các bạn.








Chuyện Của Tôi

Thưa các bạn,

Thư này đến tay các bạn từ một người Việt Nam vẫn còn tha thiết với quê hương Việt Nam. Tôi kể cho các bạn nghe những dữ kiện thật xẩy ra cho đất nước ta từ những ngày tháng mà tôi đã chứng kiến, dĩ nhiên dưới cái nhìn và sự nhận định của cá nhân tôi. Tôi sẽ cố gắng thật khách quan khi làm một người quan sát sự kiện, những nhận định có thể chủ quan và cũng có thể làm các bạn phật lòng, mong các bạn thông cảm, vì dù gì chăng nữa tôi vẫn là một công dân, là một quân nhân của nước VNCH xưa; tôi chưa từng giải ngũ hay bị cho xuất ngũ; tôi không còn bị ràng buộc với chính thể này đã mất năm 1975, kể từ ngày các bạn cho là đã giải phóng và thống nhất đất nước. Theo tôi, các bạn thống nhất đất nước bằng cách nào đi nữa thì cũng chẳng ai chối cãi được, nhưng giải phóng thì hẳn chẳng có mấy ai đồng thuận, các bạn nhìn vào đất nước ngày hôm nay các bạn rõ hơn tôi, Hôm nay tôi tâm tình với các bạn với tư cách là một người lính, là người Việt Nam.

Sinh ra và lớn lên tại miền Bắc thân yêu, từ thủa thơ ấu biết bao kỷ niệm thân thương, từ ngôi nhà trước cổng huyện Quỳnh Côi Thái Bình của những năm đói rét Ât Dậu, đến căn nhà trên phố Kho Bạc gần vườn hoa Bảo Đại Hải Dương, tới Phố Beaumont gần nhà hát lớn tỉnh Hải Phòng, rồi căn biệt thự ở Đại Lộ Hàm Nghi gần vườn hoa Canh Nông Hà Nội, biết bao kỷ niệm vẫn đầy ắp trong tôi. Gia đình tôi đã dứt áo mà di cư vào Nam sau ngày anh em chúng tôi ra xem đêm liên hoan ở Hồ Hoàn Kiếm ngày tiếp thu Hà Nội.


CauCat

Cầu Hạ Lý (cầu Cất) (gần Thượng Lý, Hải Phòng, 1930-1954)
Nguồn: panoramio.com

Bố mẹ tôi đã để lai tất cả tài sản nhà cửa, cửa hàng, xe cộ không một chút luyến tiếc. Nhưng thật là đau lòng, tôi đã khóc không còn nước mắt khi phải lén lút giữa đêm hôm trốn ra khỏi làng, vượt sông trở ra Hải Phòng, khi tôi và bà cô ruột rời ông nội tôi, sau khi đã trao lá thư của bố mẹ tôi về cho ông nội; lần đó chúng tôi về thăm ông nội là lần chót ở quê, và không bao giờ gặp lại ông tôi nữa; ông tôi đã nhất định không chịu ra đi cùng với bố mẹ tôi vào Nam. Ông phải ở lại để đón bác tôi, con cả của cụ đã đi kháng chiến chống Pháp từ ngày tôi chưa chào đời, ông tôi cũng không thể bỏ mồ mả tổ tiên hoang phế không người chăm sóc.

Trong Nam đời sống thật an bình không còn phải chạy loạn Tây càn, Việt Minh khủng bố, bố tôi chỉ là một công chức hạng trung, mẹ ở nhà nắm một dây họ với bạn bè, họ hàng, nhưng cũng mua được một ngôi nhà gạch 2 tầng, Những năm còn cắp sách đến trường, thời TT Ngô Đình Diệm, thật thong thả và an bình, tôi vừa đi học vừa dậy kèm ở tư gia để phụ với bố mẹ tôi, anh chị em chúng tôi rồi cũng đều đã tốt nghiệp, đa số chọn ngành giáo dục.

Thế rồi với sự chỉ huy của miền Bắc, Măt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN) đã làm cho cảnh thanh bình không còn nữa, những đợt pháo kích vào bệnh viện, trường học, chợ búa, Ở tỉnh lỵ, thành phố thì khủng bố bằng lựu đạn, chất nổ ở những nơi giải trí, đặt mìn trên quốc lộ. Các cuộc tấn công quân sự của quân nổi dậy vào nông thôn, thành thị càng ngày càng gia tăng cường độ, khi những đoàn quân từ miền Bắc xẻ dọc Trường sơn, ngày đêm lén lút xâm nhập vào miền Nam Việt Nam bằng đường mòn Hồ Chí Minh (HCM) dọc theo biên giới Lào, Campuchia. Đời sống của người dân trở nên lao đao, xáo trộn, kinh hoàng. Việt Minh trước năm 54 và Việt Cộng sau này khủng bố còn kinh hoàng hơn cả Al‒Qaeda gấp hàng trăm lần. Những năm sau đó, nền chính trị miền Nam còn rối loạn hơn khi những thành phần thiên tả và bất mãn chính quyền TT Ngô Đình Diệm (NĐD) tiếp tay với Mỹ lật đổ chính quyền dân cử, vì TT. NĐD đã cương quyết ngăn cản chính phủ Mỹ chen vào nội bộ của miền Nam.

Chính quyền Nguyễn văn Thiệu ra lệnh tổng động viên. Tôi đã bỏ học trò của tôi lên đường nhập ngũ sau ngày quân GPMN tổng công kích vào dịp hưu chiến Tết Mậu Thân năm 1968. Mặc dù được về dạy học lại, nhưng tôi đã quyết định xin lên Dakto, nơi đèo heo hút gió, với những trận chiến ác liệt, nút chặn đoàn quân từ miền Bắc theo đường mòn HCM vào từ ngả ngã 3 biên giới Việt‒Miên‒Lào. Năm 1968‒1969 băng rừng lội suối với những trận chiến khốc liệt ở Võ Định, Benhét, Eo Tử Thần, tôi đã chứng kiến những binh sĩ của miền Bắc chỉ mới 15, 16 tuổi lao đầu vào lửa đạn như những con thiêu thân.

Về Bệnh viện 2 dã chiến dưỡng thương sau trận Võ Đinh‒Dakto trong phòng dành cho sĩ quan của bệnh viện, chỉ có một mình tôi và một tù binh, đi kèm là một anh quân cảnh coi tù, anh tù binh là Trung sĩ ‒ sau này anh ta nói tôi mới biết vết thương trên mình của anh ta là do chính các đồng chí của anh ta ném lựu đạn về phía anh ta khi anh dơ tay đầu hàng, nhìn thấy quả lựu đạn, các binh sĩ VNCH la lên, anh lao xuống đất, ôm chặt lấy đầu, anh ta bị thương suốt từ chân lên tới vai.

Những ngày đầu tiên, nằm tại bệnh viện, anh nhất định không nói nửa lời, nhất là khi ông Đại úy bên An Ninh QĐ đến thẩm vấn; ròng rã cả tuần, ông Đ/U gần như chịu thua không biết một chút lý lịch nào của anh cả; tôi lân la sang bắt chuyện với anh ta, vô ích không tài nào cậy miệng được nửa câu. Một tay bị còng vào giường sắt, anh cứ giương mắt nhìn tôi mà không nói.




HaiChuyenTuyen

Hai chiến tuyến
Nguồn: DCVOnline tổng hợp

Hàng ngày cô y tá đến phòng tôi làm thuốc cho tôi và anh. Anh tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy cũng được săn sóc kỹ lưỡng như cho một sĩ quan của VNCH. Một tuần sau vết thương của anh ta hồi phục rất nhanh và mập ra thấy rõ, tướng tá cao ráo bảnh trai, da dẻ đã thấy hồng nhuận và trắng ra, khác hẳn hình dáng tôi gặp anh ta lần đầu tiên nằm trên băng ca; thường ngày phần ăn của tôi, tôi dặn cô y tá đưa hết cho anh, tôi chuồn ra phố ăn cơm tiệm. Anh ăn khỏe không thể tưởng được; phần ăn trong bệnh viện khá hơn trong quân trường, nhưng thường bệnh nhân ăn không hết, anh ta làm 2 suất, có khi 3 suất lại còn thêm một ly cối sữa đá của tôi mời. (Dĩ nhiên những phần ăn này đều do tôi nhờ mấy người lính cùng đơn vị của tôi xin ở nhà bếp bệnh viện). Thấy anh quân cảnh và tôi đối xử thân mật và săn sóc cho anh ta thiệt tình, anh ta đã bắt đầu tâm sự với tôi. Vì biết tôi chẳng dính líu gì đến việc thẩm vấn bên an ninh, anh cho biết quê anh ở Thái Nguyên, trúng tuyển vào đoàn quân giải phóng miền Nam, anh ta miên man kể cho tôi nghe những cái huy hoàng tráng lệ của miền Bắc, cuộc sống dư thừa và tuyệt đối tự do, bình đẳng, v.v…Tôi biết anh ta nói theo sự huấn luyện, mười anh nói như một. Đến khi tôi kể cho anh ta nghe về Hà Nội ngày xưa thì tôi thấy anh ta coi bộ có vẻ xấu hổ.


GiuaPhoKonTum

Giữa phố Kontum
Nguồn: photobucket.com

Tôi chỉ cho anh ta anh y tá cùng cấp bậc với anh mà có xe bình bịch đi làm. Ỏ Hà Nội có không? Tôi hỏi. Anh ta bẽn lẽn nói: “Tại vì ngụy quyền miền Nam là tay sai của Mỹ mà Mỹ lại giầu nên mới cấp xe để đi công tác, đâu có gì hay đâu!”. Tôi cho anh ta biết xe này là tiền riêng của anh y tá này mua chứ chẳng có ông Tây ông Mỹ nào cho phương tiện này cả, anh ta ngượng thật sự khi tôi kể cho anh ta về đời sống của người dân miền Nam như thế nào; và tôi cũng cho anh ta biết tôi vẫn thường theo dõi tình hình ngoài Bắc bằng những thông tin ngoại quốc và tự do ngôn luận ở miền Nam. Sau đó tôi có đề nghị với ông Đ/U cho anh ta ra phố Kontum đãi anh ta ăn cơm tiệm một lần cho biết về xã hội miền Nam, có đúng như những gì tôi nói không. Đêm hôm đó về tới bệnh viện anh ta có vẻ xỉn thấy rõ, cười nói huyên thuyên, khen lấy khen để vẻ sáng lạn, to lớn của nhà cửa, đường phố, nhà hàng, cửa tiêm sang trọng, sạch sẽ, thức ăn ngon tuyệt trần, v.v…

Không biết cái tỉnh nhỏ bé và nghèo nàn miền núi này mà anh ta khen như thế, nếu về tới Sài Gòn, anh ta dám nói là anh ta lọt vào thiên thai không chừng, Hòn Ngọc Viễn Đông mà các bạn. Sáng hôm sau anh nhờ tôi giúp anh ấy hồi chánh. Từ đó không bao giờ tôi còn gặp anh nữa, và tôi cũng quên hẳn tên anh ta luôn.

Kể cho các bạn nghe câu chuyện này để các bạn thấy chúng tôi những người lính của QLVNCH đối xử với người lính phía bên kia bằng tình của con người khi anh ta là một thương binh, chứ không phải như những điều các bạn được học lúc các bạn tiến vào miền Nam.

Cuối năm 1969, tôi được thuyên chuyển về văn phòng trực thuộc Bộ Quốc Phòng. Tôi lại xin lên Pleiku, rồi về Nha Trang cho tới ngày các bạn chiếm được toàn lãnh thổ sau khi tướng Dương văn Minh đầu hàng. Tướng Minh đầu hàng chứ chúng tôi không. Cho đến ngày hôm nay vẫn vậy. Nhất là đối với cá nhân tôi, tôi chưa từng giải ngũ, chưa ai bắt tôi ra khỏi QLVNCH, tôi cũng chưa từng là công dân của cái gọi là XHCNVN.



Những ý nghĩ riêng tư

Tôi nghĩ để công bằng tôi sẽ cho các bạn biết về những ý nghĩ của riêng tôi và cũng có lẽ ở một số bạn của tôi cũng gần giống như tôi về sự việc từ phía các bạn.

Thưa các bạn,
Khi có lệnh gọi động viên đầu năm 1968, sau ngày tổng công kích Mậu Thân, tôi từ khước trở về nhiệm sở cũ an bình ở thành phố, chỉ vì tôi là một thanh niên. Tôi không cho phép tôi hèn hạ khi có giặc (trong Nam chúng tôi gọi là giặc Cộng) đến nhà mà trốn chui trốn nhủi dưới sự che chở của bằng hữu, của những người lính còn trẻ hơn tôi đang lao vào lửa đạn.

Các bạn từ ngoài Bắc mang súng đạn của Nga Tầu vào bắn giết người anh em miền Nam và cả những anh em từ miền Bắc đã quá hiểucộng sản trốn chạy vào Nam tìm tự do, nhân quyền từ năm 1954. Chúng tôi cũng phài cầm súng để bảo vệ thân nhân và đồng bào miền Nam, hoàn toàn chỉ là tự vệ. Miền Nam không hề có chính sách tấn công ra miền Bắc để trả đũa,

Trên mặt trận tuyên truyền, các bạn, đúng hơn là những người chỉ huy ở tuốt trên cao của các bạn vẫn nói với các bạn về nghĩa vụ cao cả là giải phóng miền Nam để cứu dân miền Nam ra khỏi sự kìm kẹp của Mỹ Ngụy, đói khát, nghèo hèn thê thảm, cái gáo dừa không có để ăn, quần áo không có mà mặc. Dân miền Nam còn bị bọn xâm lăng, hành hạ hàng ngày, hiếp đáp đủ điều, tủi nhục vô vàn, những người dân này đang đỏ mắt trông chờ từng ngày từng giờ quân cách mang về giải phóng họ ra khỏi cái đại ngục trần gian này. Sự thật như thế nào, các bạn đã rõ, đáng lẽ những lời lẽ này phải để cho dân miền Nam nói với người dân miền Bắc mới đúng sự thật.

Sau khi Việt Minh và Pháp chia 2 nước Việt Nam, nếu người miền Nam thực hiện giải phóng và thống nhất đất nước mới hợp lý hơn, phải không bạn? Điều này được chứng thực bằng lời nói của một đảng viên kỳ cựu, ông bác ruột của tôi, một chánh án từ năm 1954, cho tới ngày về hưu, khi ông xin ra khỏi đảng.


Chuyện như thế này.

Sau ngày “giải phóng” và “thống nhất” cả nước, ông là một trong những người đầu tiên tiến vào Sài Gòn sau ngày 30/04/1975. Ông đến nhà tôi để tìm bố tôi sau 30 năm hai anh em chưa từng gặp nhau một lần. Sau khi đã thăm hỏi gia đình của nhau, câu đầu tiên ông nói với bố tôi khi không có người lạ ở chung quanh, “Tại sao giờ này chú và gia đình chú còn ở lại VN, tôi tưởng tôi tìm đến đây để được nhìn thấy nhà chú không một bóng người như ngày tôi tìm chú ở Hải Phòng Tết năm 1955. Chú không học được điều gì với cái chết của thầy hay sao?” (Bố và bác tôi gọi ông bà nội tôi bằng Thầy, Đẻ). Bác tôi cảnh báo trước khổ nạn mà tôi sẽ gặp. Bác bầy kế cho bố tôi thoát đi tù, nhưng tôi khó thoát, vì cả khu gia đình tôi ở từ năm 1955 đều nhìn thấy tôi mặc quân phục về nhà vào những lần tôi về phép. Sau đó tôi vào tù.

Bố mẹ tôi mời bác đến để dư đám cưới người em thứ tư của tôi lấy vợ, đúng vào ngày tôi từ trại tù về. Trong bữa tiệc gia đình, tôi có hỏi bác về cái chết của ông nội tôi năm 1956, lúc đó bác tôi là chánh án ở một tỉnh bên cạnh quê tôi. Tôi hỏi một câu thật ngớ ngẩn:



“Thưa bác, chẳng lẽ những công trạng của bác với Đảng, bác đi kháng chiến từ những ngày đầu cách mạng và gia đình nhà mình đóng góp lớn như vậy, mà không được cách mạng trả công, rồi tha tội địa chủ cho ông nội hay sao? Mà ông nội lại nổi tiếng là người hiền hậu và rất phóng khoáng hay giúp đỡ cho mọi người trong làng, tại sao ông nội bị đấu tố và bị xử bắn?”


Bác tôi trả lời bằng một câu tiếng Pháp để tránh sự tò mò của những người ngồi gần đó, đại ý,

“Mày đừng bao giờ nói đến bọn xuẩn ngốc này làm gì”.



Lúc nói với tôi câu này, tôi cảm thấy bác tôi đang cố gắng kiềm chế xúc cảm hằn lên khuôn mât quắc thước, dầy dạn phong sương của người đã trao hết cuộc đời của mình cho lý tưởng, cho cách mạng, một người đã trải qua hai trận chiến thần thánh (đánh đuổi bọn thực dân Pháp về nước và đánh cho Mỹ cút cho Ngụy nhào CSVN thường rêu rao như vậy.) Sau này bác cũng tâm sự với tôi về kết quả hàng triệu người Việt Nam đã bỏ mạng để “giải phóng” cho cả nước đang từ là con người xuống thành súc vật, và “thống nhất” mọi đảng phái chống thực dân vào đảng Cộng sản, kể cả MTGPMN sau đó vào năm 1976. Còn đất nước và nhân tâm thì tan nát ra từng mảnh vụn. Bác tôi có vẻ tiếc rẻ than với tôi: “Miền Bắc sắp sửa đầu hàng vô điều kiện thì Mỹ lại ngưng oanh tạc, thằng Mỹ thật khó hiểu! Bỏ lỡ mất cơ hội bằng vàng”.

Thực dân Pháp đã không còn một tên trên giải đất thân yêu của chúng ta từ dạo ấy, đế quốc Mỹ và bọn ngụy quân, ngụy quyền miền Nam cũng đã khuất bóng từ tháng 4, 1975, bây giờ thì người Pháp là người bạn chí thiết đứng hàng thứ hai trong chương trình viện trợ cho VN, Mỹ là người bạn quý và cũng là điểm tựa không thể thiếu trong mọi đầu tư kinh tế, chính trị, quân sự cho một đất nước 34 năm qua lúc nào cũng đang tận tâm tận lực xóa đói, giảm nghèo, nhưng vẫn chưa có dấu hiệu nào là bớt đói, và bớt nghèo cả. Đó là họ quên hẳn đến một vấn đề quốc thể là NHỤC. Tôi đọc lịch sử khá kỹ, nhưng chưa bao giờ thấy nước Việt phải mang bán hàng vạn cô gái làm nô lệ tình dục và hàng vạn thanh niên làm lao nô cho các nước trên thế giới như thờicộng sản “Giải phóng và thống nhất VN”. CT nước N. M. Triết còn ra ngoại quốc khoe, Việt Nam có nhiều gái đẹp lắm, để chiêu dụ khách du lịch.

Còn bọn ngụy quân, ngụy quyền thì bây giờ là “Khúc Ruột Ngàn Dăm” để thay thế cho lời nguyền rủa của đảng quang vinh: bọn phản quốc, bầy đĩ điếm, ôm chân đế quốc để được chút bơ thừa sữa cặn. Cái phần bơ thừa sữa cặn đó là gần một trăm tỷ Mỹ kim gửi về quê hương suốt từ năm nhà nước cởi trói, mở cửa đó các bạn. Cả nước suýt nữa khốn đốn, không chừng chết đói còn nhiều hơn năm Ất dậu, khi bọn quân phiệt Nhật lấy thóc thay than chạy xe lửa, và đồng ruộng miền Bắc chỉ trồng đay để phục vụ chiến tranh. May quá, bọn “ôm chân đế quốc” đã ngây ngô gửi hàng tỷ Mỹ Kim về cứu đói thân nhân, bằng hữu, cả nước thoát khỏi khổ nạn trong đường tơ kẽ tóc. Các bạn biết tại sao cả nước đói rồi chứ? Nhà nước mang hết tài sản cướp được ở miền Nam trả nợ cho Tầu Cộng và Liên Sô, cũng không đủ, thế là anh bạn “môi hở răng lạnh” này làm khó dễ bạn mình ngay, khi CSVN xua quân sang Campuchia diệt Polpot (đàn em của Tầu Công) trong toan tính biến 3 nước thành Liên bang Đông Dương.

Trong trại tù khổ sai, tôi không cần kể ra đây những khổ đau, đói khát, nhục nhằn vì sự trả thù hèn hạ của những người CSVN vô cảm, vô nhân tính. Các bạn rành rẽ vấn đề này hơn tôi nhiều. Kể ra, các bạn lại nghĩ chúng tôi còn thù hận những người này. Không, chúng tôi đã tha thứ cho tất cả những nhỏ nhen ty tiện này từ lâu, họ không có trình độ, chấp làm gì, phải không bạn?

Tôi chỉ muốn nhắc đến một vài quân nhân đại diện cho đa số các bạn, những người canh gác trại tù này, họ đúng nghĩa là một người lính chiến, Đ/U Huệ Tiểu Đoàn Trưởng ở trại tù Long Khánh, anh Trung Úy Quýnh, Quản giáo, anh Ba Lồ, quản giáo (hỗn danh anh em đặt cho anh Thiếu Úy/GPMN quê ở Hóc Môn), những người coi chúng tôi như bạn. “Các anh và chúng tôi cùng là sĩ quan cả mà”, các anh ấy nói như thế với chúng tôi.

Họ hiểu thấu đáo những việc của Bác và Đảng đã lừa dối như thế nào với chính bản thân họ, gia đình họ, những khổ đau và hệ lụy họ phải mang vác suốt đời. Nhất là với anh Huệ, có một đứa con trai duy nhất, với lời hứa hẹn của đảng cho tương lai sang Nga du học của con, anh xung phong vượt Trường Sơn vào Nam giải phóng, vài tháng sau con anh được chiếu cố và trúng tuyển nghĩa vụ, đứa con mới 16 đã bỏ thây trên dẫy Trường Sơn ngay ngày đầu tiên xâm nhập vào lãnh thổ miền Nam. Mãi tới khi chiếm được miền Nam và được về phép thăm nhà, anh uất nghẹn khi nhìn thấy hình con trên bàn thờ.

Trước khi về Bắc anh được đi thăm Sài Gòn, khi anh quay trở lại nơi đây, một lần nữa thong thả nhìn ngắm cảnh vật và con người, anh mới cảm nhận đươc sự dối trá trắng trợn của Đảng về chiêu bài chống Mỹ cứu nước; Đất nước miền Nam chẳng sứt mẻ một mảnh đất nào cho Mỹ, tài nguyên vẫn còn nguyên vẹn ở đó; Đất nước và dân sinh, dân trí miền Nam ngang bằng hoặc cao hơn các nước láng giềng và dĩ nhiên cao gấp nhiều miền Bắc. Ai mới là người cần giải phóng đây? Anh đã tâm sự với tôi như vậy vào một buổi tối khuya khi tôi đang đào giếng ở Long Khánh, khi anh mới trở về trại sau ngày nghỉ phép.

Bác tôi, các anh, con cháu các anh, họ hàng thân thích, bằng hữu các anh, những người đã từng ở và đang ở trong quân ngũ có chấp nhận những dối trá, lừa lọc này hay không?




DuongRaBienGioi

Đường ra biên giới Việt-Trung (1979)
Nguồn: japanfocus.org

Việt Nam chúng ta ngày hôm nay

Với áp lực từ người bạn láng giềng yêu quý với 16 chữ vàng, sau năm 1979 biết bao đau thương nhục nhằn. Trên vị thế kẻ cả, người đồng chí muôn vàn kính yêu đã dậy cho Việt Nam một, rồi hai bài học để đời, rồi lấn chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, Vịnh Bắc Việt, Ải Nam Quan, hàng vạn cây số vuông đương nhiên được người bạn quý hồn nhiên nhập vào đất nước thiên triều, với luận cứ không thể chối cãi được là bằng phương thức xả súng giết người Việt Nam một cách lạnh lùng, tàn bạo.

Những hào khí đánh cho thực dân Pháp tan nát, đánh cho Mỹ cút cho ngụy nhào năm xưa của các bạn để đâu? Các bạn từng ngẩng mặt vênh váo nói về những đại thắng mùa xuân, về đảng quang vinh dưới sự hướng dẫn của tư tưởng HCM. Nào là đoàn quân bách chiến bách thắng, không kẻ thù nào mà ta không khuất phục được; Những tự hào đó các bạn để đâu?

Riêng chỉ có ba kẻ thù của cả nhân loại là Đói, Sợ, và Dốt Nát thì hơn 60 năm qua vẫn còn trơ trơ ra đó, chưa từng bao giờ có dấu hiệu nào chịu thối lui trong suốt thờicộng sản cầm quyền tại VN. Đảng và nhà nước CSVN sẵn sàng chìa tay xiết chặt nồng nàn, ôm hôn thắm thiết với thực dân Pháp, với đế quốc xâm lăng Mỹ, những kẻ mà các bạn từng cho rằng người anh em VNCH đã bán nước cho bọn này để cầu vinh; bạn có hỏi họ, những tên thực dân và tên đế quốc gian manh đó rằng, “Các anh được bao nhiêu cây số đất và biển mà VNCH đã bán cho anh trước năm 1975?”.

Trong khi trước mắt với kẻ thù truyền kiếp phương Bắc, các bạn thấy đó, đảng CSVN dâng đất, dâng biển cho chú Chệt này từ công hàm của ông Phạm văn Đồng, ông thủ tướng ngồi trên ghế dai nhất, lâu đời nhất trên thế giới; Đảng CSVN cũng cấm tiệt thanh niên bầy tỏ lòng yêu nước yêu quê hương, yêu đồng bào khi họ biểu tình chỉ nói lên sự thật: Hoàng Sa, Trường Sa Là Của Nước Việt Nam, nhà và đất này là của ông cha chúng tôi để lại cho chúng tôi, chứ đâu phải của riêng đảng CSVN đâu mà các ông ngang nhiên chiếm đoạt, ngang nhiên bán cho bọn bá quyền? Còn nữa, đảng này lại cho phép bọn thanh niên Tầu nghênh ngang cầm cờ Tầu Cộng đầy đường ở thành phố Saigòn, mà tuyệt nhiên không thấy một bóng lá cờ của các bạn,

Nhưng với anh em ruột thịt thì đảng và nhà nước dậy cho các ban tuyệt đối phải nghi ngờ, phải tiêu diệt tận gốc, san bằng những giai cấp này không cho cơ hội được hồi sinh. Giớ phút này họ vẫn đều đặn đưa ra những nghị quyết này, quyết định nọ để phân biệt rõ ràng với những NVHN, tích cực hơn nữa họ còn cài cắm cán bộ vào các tổ chức hội đoàn ở hải ngoại, quấy phá bôi nhọ, chụp mũ với đủ mọi chữ nghĩa ngôn từ đê tiện nhất, những người vận động cho dân chủ, tự do, nhân quyền thì đảng này gọi họ là bọn khủng bố, mặt khác vẫn trâng tráo, mặt dầy kêu gọi họ (NVHN) đầu tư chất xám, tiền của để xây dựng quê hương. Kết quả các bạn đã rõ, trình độ và kinh nghiệm của họ (NVHN). CSVN làm sao bịp họ được nữa.

Xoay sang một kiểu cách khác, bao nhiêu tiền của cướp được của dân và những trò tham nhũng mà cả thế giới đều tỏ tường, khó lòng cất giữ được ở VN, con cháu bọn này trở thành sinh viên du học, lấy vợ lấy chồng “Việt Kiều” tiền bẩn trở thành tiền sạch mấy hồi, hạ cánh thật an toàn, êm ả, con cái là công dân Mỹ, Pháp, Đức,… bố mẹ theo chân các con lại thênh thang suốt kiếp. Các món nợ bọn này vay của các nước bạn sẽ do những người dân như các bạn è cổ ra mà trả, không hết thì con bạn trả, có thể cháu bạn sẽ trả tiếp, bao nhiêu tài nguyên thiên nhiên khai thác bằng kiệt quệ để trả nợ, trả ơn, nước Việt Nam chỉ còn lại bộ xương, bác Hồ của các bạn có sống dậỵ trồng tiếp vài cái trăm năm thì cái giống người này cũng chẳng có thể cứu được nước Việt Nam !!! Đó là chưa bàn đến ông bạn láng giếng đang chỗm chệ ngồi ngay trên sống lưng cao nguyên Trung phần đã tính gọn gàng dùm cho nhà nước Việt Nam ta rồi đó. Các bạn thấy rõ hơn chúng tôi, phải không các bạn?

Thưa các bạn, những chiến sĩ của QĐND, các bạn có thực là quân đội của nhân dân Việt Nam không? Các bạn có phải là hậu duệ của các vị anh hùng Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ, Lê Lợi,… không? Chả lẽ các bạn là con cháu của thiên triều như bác Hồ kính yêu của các bạn hay sao? Ông Hồ đã chủ trương gây ra những cuộc chiến không cần thiết với anh em ruột thịt suốt 60 năm qua, nhưng lại thần phục với kẻ thù phương Bắc, cúc cung tận tụy thực hiện mọi đòi hỏi của thiên triều. Hay các bạn cũng là công cụ của đảng CSVN? Nay đã rõ ra là một chi nhánh của đảng cộng sản Tầu.

Chả thế mà khi bọn bành trướng Bắc Kinh xâm lấn đảo Hoàng Sa, mặc dù HQ/VNCH có yếu hơn quân địch, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà đã chứng tỏ cho quân thù thấy được ý chí kiên cường bảo vệ quê hương, trước khi chìm theo tầu với truyền thống của HQVN, Ngụy văn Thà đã đánh chìm soái hạm của địch, “đại tá đô đốc” (?) chỉ huy chiến hạm của Tầu và toàn bộ ban tham mưu đã chôn xác dưới lòng biển Đông. Sau đó, thế cô, lực tận Hoàng Sa đã lọt vào tay kẻ thù, nhà cầm quyền Bắc Việt câm như hến không một lời phản đối, khi có kẻ xâm lăng đất nước VN.

Đến năm 1988 Tầu công mang quân xâm lấn Trường Sa, một lần nữa đảng CSVN khóa chặt miệng của chính họ lại và bắt các chiến sĩ QĐND đưa ngực ra đỡ đạn thù, không cho phép chống trả. Bao oan hồn chết tức tưởi, những chiến sĩ dũng cảm, anh hùng này đã tử nạn cho quê hương VN. Họ chưa bao giờ được tuyên dương hay nhắc nhở tới, có tủi nhục nào bằng không, thưa các bạn? Ấy là tôi không dám bàn đến lá cờ mà các bạn và các đồng chí các bạn đã vì nó mà đổ máu, đổi sinh mang ra phục vụ nó, mà các bạn cứ ngỡ đó là biểu tượng cho quốc gia VN. Không! nó là của đảng CSVN, nó giống lá cờ của Tầu Cộng, nó luôn luôn bị khuất phục dưới lá cờ 5 sao vàng.



Ước Vọng

Tôi hy vọng rằng các bạn vẫn là người Việt Nam chân chính, và tôi cũng hy vọng rằng niềm tự hào về dòng giống Âu, Lạc Việt vẫn còn tràn đầy trong huyết quản của các bạn. Các bạn hãy can đảm, bứt tung xiềng xích đốn hèn mà đảng CSVN đã cấy vào tim óc các bạn nhiều năm qua. Các bạn hãy vượt qua nỗi sợ, nghèo đói mà nhà nước và đảng chủ trương suốt mấy chục năm qua, và nhất là các bạn phải tự đứng thẳng bằng chính đôi chân của mình. Đừng bao giờ dựa vào cái cây giả tạo, xuẩn ngốc của kẻ buôn dân bán nước CSVN nữa.

Ngày chia tay với ông nội tôi. lòng đau như cắt, vào Nam vẫn còn hy vọng ngày trở về quê cũ. Ngày lên thuyền rời quê hương như cái xác không hồn, thuyền trôi về hướng đông mà trái tim lại vấn vương ở chiều tây. Không nỡ ra đi, nhưng không còn đường lựa chọn, chúng tôi không được chấp nhận ở lại quê hương của mình. Bây giờ chỉ còn trông cậy vào các bạn dù đã một thời chúng ta chĩa nòng súng oan nghiệt vào nhau. Ngày trở về quê hương thật là vô vọng, nếu các bạn ơ hờ với trách nhiệm của thất phu. Hãy can đảm quay mũi súng về phương Bắc nơi kẻ thù đích thực của dòng giống Lạc Hồng đang cố công đồng hóa dân ta bằng mọi mưu toan thâm độc. Hãy quay mũi súng vào những kẻ đang tâm đưa dân tộc Việt nam vào nghèo đói và cam tâm làm nô lệ cho kẻ thù truyền kiếp phương Bắc. Hãy quay súng thật đúng hướng để bảo vệ quê hương yêu dấu Việt Nam của chúng ta.


NguoiLinhNamXua

Người lính năm xưa
Nguồn: photobucket.com

Thôi thì, thà rằng chúng tôi thân thiện với các bạn còn hơn để cả nước cúi đầu tủi nhục dưới kẻ thù truyền kiếp. Riêng tôi, thù nhà chẳng thể so với nợ nước; Các bạn hãy vì 85 triệu đồng bào trong nước mà mạnh dạn đứng thẳng trên đôi chân của mình làm tròn bổn phận con dân nước Việt nam gìn giữ lấy quê hương mà tổ tiên chúng ta đã hy sinh xương máu để dựng lên cho chúng ta ngày nay. Phần còn lại, nếu có, xin nhớ tới những người thân thuôc, anh em viễn xứ mỏi mòn trông đợi ngày đất nước thoát ách thống trị bạo tàn của CSVN

Các bạn hãy chứng tỏ bản lãnh của các bạn trước. Chúng tôi, những người anh em cùng dòng giống của các bạn cũng sẵn sàng chia xẻ mọi khó khăn, sát cánh với các bạn vùng lên đòi đảng CSVN phải trả cho các bạn cho chúng ta được quyền yêu quê cha, đất tổ theo cách của người dân Việt chân chính và cũng để quang phục lại quê hương yêu dấu đã quá tang thương rách nát dưới sự đàn áp trấn lột của đảng CSVN bao năm qua.


Chào quyết thắng.

Người lính khác chiến tuyến của các bạn năm xưa.



© DCVOnline




Tố Hữu: "Nhà thơ hàng đầu thế kỷ 20?"




Tố Hữu đối với một số người miền Bắc là thần tượng thi ca Cộng sản Việt Nam Người ta ví ông với Mayakovski. Phần đông chẳng mấy người biết ông Mayakovski là ai? Chắc là giỏi. Nhưng với tôi, ông chỉ là một nhà thơ có vấn đề. Có vấn đề không những chỉ đối với phần đông người miền Nam trước 1975 mà có vấn đề cả với độc giả người miền Bắc. Đã có vấn đề trong quá khứ và bây giờ, nếu ai còn muốn nhắc tới ông. Nhắc tới là có vấn đề.

Người miền Nam khinh ghét ông và người miền Bắc quên ông.



1. Độc giả miền Nam:

Ở miền Nam, sự khinh ghét đó bày tỏ công khai, như câu truyện dân gian, như một câu truyện tầm phào, mang những “câu thơ vè, tuyên truyền của Tố Hữu” ra để diễu cợt. Một cái nhìn riễu cợt và không có mấy ai muốn viết hẳn hòi một bài phê bình nghiêm chỉnh đánh giá sự nghiệp văn chương của ông.

Họa chăng có ông Nguyễn Hiến Lê trong tập Hồi ký của ông, tập 2, trang 178, nhà xuất bản Văn Nghệ, ông Lê chê thơ Tố Hữu là kỳ cục khi ca tụng Stalin, thơ không đáng gọi là thơ khi gọi Nguyễn Du là anh. Vậy mà khi nhà xuất bản Văn Học Hà nội cho phép in lại cuốn Hồi ký của họ Lê, họ đã biến đổi ra như sau, trang 524: “Tố Hữu là một nhà thơ Cách Mạng, đóng góp rất lớn cho Cách mạng “. Có dịp, chúng tôi sẽ đem cả hai cuốn sách, một của Nhà Văn Nghệ xuất Bản, một của Hà nội để cho thấy sự bôi bác tráo trở của Hà nội. (trích trong nguyệt san Dân chúng, tháng 8/1993, trang 45).

Mới đây Đặng Tiến viết “Phía khác chính kiến, dĩ nhiên lắm kẻ không ưa, thậm chí còn thù oán. Họ thường cố công trích dẫn mấy câu văn vè tuyên truyền quá khích để bêu riếu”. Đó là nhận xét của Đặng Tiến gián tiếp biện hộ cho nhà thơ Tố Hữu.

Bêu riếu là một điều có thể được coi là bình thường trong trường hợp ông Tố Hữu. Nhưng viết về ông mà che chắn không khéo, rất có thể là thiên lệch, có thể tự xếp mình vào vị trí nhà thi sĩ Indésirable

Nói có sách, ta thử đọc những câu thơ sau đây tả lính “ngụy” hãm hiếp dân lành để dò tìm nhân cách Tố Hữu xem sao, đồng thời hiểu được tại sao người đọc ông đà phản ứng như thế.


Thảm lắm anh à lũ ác ôn
Giết cả trăm người trong một sáng
Máu tươi lênh láng đỏ đường thôn
Có những ông già nó khảo tra
Chẳng khai, nó chém giữa sân nhà
Có chị gần sinh không chịu nhục
Lấy vồ nó đập vọt thai ra
Có em nhỏ nghịch ra xem giặc
Nó bắt vô vườn trói gốc cau
Nó đốt, nó cười.. em nhỏ hét
Má ơi nóng quá, cứu con mau ...



Tôi không biết trong hoàn cảnh nào, ông Tố Hữu sáng tác bài thơ này có cảnh “lính ngụy” định hãm hiếp phụ nữ có thai, không được thì lấy vồ đập vọt thai nhi ra. Nhân cách nhà văn có cho phép viêt như thế không?. Tôi nhớ đến giai thoại mà nhà thơ Trần Đăng Khoa phỏng vấn Tố Hữu về chiến dịch Điện Biên Phủ, ông này cười vui vẻ cho biết: đều viết phịa cả đấy. Viết phịa về Điện Biên Phủ thì còn đuợc, bài thơ phịa trên nay dính dáng đến nhân cách nhà thơ, đến đạo lý làm người, nhất là thứ đạo lý của một nhà văn.

Vấn đề của Tố hữu không còn ở bình diện thơ văn hay dở nữa mà là nhân cách nhà văn.

Tố Hữu có đáng được gọi là nhà thơ không? Thơ có đáng gọi là thơ không theo lời nhận xét của ông Nguyễn Hiến Lê?


Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghĩ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
.......
Thơ Mao chủ tịch, thơ Sít ta lin bất diệt …


Bài Đời đời nhớ ông khó ngửi quá:

Bữa trước mẹ cho con xem ảnh
Ông Stalin bên cạnh nhi đồng
Áo ông trắng giữa mây hồng
Mắt ông hiền hậu, miệng ông mỉm cười
Trên đồng xanh mênh mông
Ông đứng với em nhỏ
Cổ em quàng khăn đỏ
Hướng tương lai
Hai ông cháu cùng nhìn
Sta -lin! Sta-lin!
Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Sta-lin!
Mồm con thơm sữa xinh xinh
Như con chim của hoà bình trăng trong
Hôm qua loa gọi ngoài đồng
Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao
Làng trên xóm dưới xôn xao
Làm sao, ông đã làm sao, mất rồi!
Ông Sta-lin ơi! Ông Sta-lin ơi!
Hỡi ôi Ông mất! Đất trời có không?
Thương cha thương mẹ thương chồng
Thương mình thương một thương Ông thương mười
Yêu con yêu nước yêu nòi
Yêu bao nhiêu lại yêu Người bấy nhiêu
Ngày xưa khô héo quạnh hiu
Có người mới có ít nhiều vui tươi
Ngày xưa đói rách tơi bời
Có người mới có được nồi cơm no
Ngày xưa cùm kẹp dày vò
Có Người mới có tự do tháng ngày
Ngày mai dân có ruộng cày
Ngày mai độc lập ơn này nhớ ai
Ơn này nhớ để hai vai
Một vai ơn Bác một vai ơn Người
Con còn bé dại con ơi
Mai sau con nhé trọn đời nhớ Ông
Thương Ông mẹ nguyện trong lòng
Yêu làng yêu nước yêu chồng yêu con
Ông dù đã khuất không còn
Chân Ông còn mãi dấu son trên đường
Trên đường quê sáng tinh sương
Hôm nay nghi ngút khói hương xóm làng
Ngàn tay trắng những băng tang
Nối liền khúc ruột nhớ thương đời đời.



Có cái đạo lý của chiến tranh nữa. Không phải cứ tuyên truyền thì muốn nói gì thì nói.

Sự khinh ghét của người miền Nam có cái lý của nó. Chả nên coi thường người đọc. Vì đọc những câu thơ ấy, người ta có cảm tưởng nhà thơ phải tự hạ thấp mình lắm mới có thể hạ bút viết.

Khi tự đánh hạ giá nhân cách mình thì giá trị thi ca còn gì?

Như tôi đã viết trong bài về Vũ hạnh, các nhà văn, nhà thơ miền Nam có thể bị kiểm duyệt, có thể được trợ cấp gián tiêp, nhưng hèn hay hạ thấp mình , xu nịnh thì kể là hiếm. Người ta không vội nói đến thơ ông hay, dở mà chỉ nói đến vấn đề đạo lý nhà văn. Hèn, xu nịnh, có thể là một nhà thơ số một ba thập niên và hơn nữa nhà thơ số một thế kỷ hay không? Câu xác định này hình như chỉ muốn “khoanh vùng văn chương”, tính từ vĩ tuyến 17 trở ra phía Bắc? Nói đến nhà thơ số một, số hai là một lối nói “chính trị tự phát, quen miệng”. Lấy gì để đo chiều cao một nhà thơ, ngoài cái thước đo chính trị? Câu trả lời là không và thời gian đã không làm phận sự “xép một chỗ ngồi nào đó” cho ông được theo như lời giới thiệu bài viết của Đặng Tiến trên Talawas. Và cũng không có thứ “Văn học lâu dài công bình hơn” như nhận xét của anh Đặng Tiến. Nói như thế, chẳng nhẽ trước đây, người ta đã hiểu sai hay bất công đối với ông Tố Hữu? Độc giả miền Nam đã dung hợp, đã trân trọng những Huy Cận, Văn Cao, Vũ Trọng Phụng và kể như toàn bộ các nhà văn tiền chiến ở lai miền Bắc, bất kể, không trừ. Trừ trường hợp Tố Hữu? Hay nói ngược lại thì chính Tố Hữu mang cái nhãn hiệu chính trị, chẳng những bất công với giới nhà văn nhà thơ miền Bắc mà còn vùi dập, truy chụp họ trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm?Thơ ông vẫn còn nằm chình ình ra đó, giấy trắng mực đen còn đó.



2. Độc giả miền Bắc.

Độc giả miền Bắc, nhiều người đã quên ông. Tác giả Ngân Xuyên trong dịp trò chuyện với Tố Hữu có kể rằng: “Tôi bước vào nhà ông sáng 30/04/1996 . Nắng rực rỡ phố phường Hà nội cái ngày lịch sử đó. Khu nhà ông rộng rải và vắng vẻ. Tự nhiên, tôi có một cảm giác là lạ . Ông bước ra tiếp chúng tôi trong bộ quần áo mặc ở nhà, trông bình dị như mọi ông lão ở trên đời”.

Nhà ông vắng vẻ, không còn khách tấp nập ra vào, vì nay ông hết làm chính tri, hết quyền hành nên vắng khách lui tới. Nhà thơ ngự trị 30 năm văn học miền Bắc do vai vế chính trị không phải do văn tài, nay ít người còn muốn nhắc tới ông Không có những gốc gác chính trị ấy, thơ ông còn lại là gì?

Trong tương lai gần, những tuyển tập thơ văn hay nhất thế kỷ 20, sẽ vắng tên ông, hay cố tình bỏ sót? Không thể hy vọng văn học lâu dài có thể công bình hơn với ông. Hy vọng của anh Đặng Tiến có thể đả không đúng chỗ, đúng người .

Còn cả tập thể những nhà văn, nhà thơ miền Nam bị xóa tẽn tuổi, tại sao không nghĩ đến số phận họ? Văn học lâu dài đã công bình chưa? Nhưng tôi vẫn xác tín rằng một nhà văn có tài thì cho dù người ta có vùi dập thì tên tuổi vẫn còn đó. Còn không hay, không tài thì có muốn tô hồng cũng vẫn bị đời bỏ quên.

Tố Hữu là một trong những trường hợp ấy . Thơ ông để lại quá nhiều những vết nhám khó bôi xóa được. Những người đồng thời với ông đã đánh giá ông như thế.

Hoài Thanh không thể không có lý khi cố tình bỏ quên tên Tố Hữu trong cuốn Thi nhân Việt nam. Cái lẽ công bình của thời gian mà Đặng Tiến hy vọng Tố Hữu được phục hoạt đã thực sự bị chôn vùi từ 1942 với Hoài Thanh rồi?

Trần Dần là một nhà thơ lớn đã nhận rõ chân tướng thơ văn Tố Hữu . Đáng nhẽ Đặng Tiến nên để cho Trần Dần có vài nhận xét sổ toẹt về Tố hữu. Theo Trần Dần, Thơ Tố Hữu không có cá tính, không có cái giọng Tố Hữu. Đọc Hoàng Cầm có cái giọng Hoàng Cầm, đọc Tản Đà có cái giọng Tản Đà . Thơ Tố Hữu mờ nhạt quá, chung chung. Trần Dần phang nặng hơn: Thơ Tố Hữu nó nhạt quá, ý lời tầm thường, nó như những công thức, bề ngoài, không đặc sắc. Trần Dần kết luận: Thơ Tố Hữu rất nhiều cái yếu quá, lười biếng quá, tầm thường quá . . Thơ không thực. Đại loại: Chúng bay chỉ một đường ra, một là tiêu diệt , hai là tù binh.

Đại khái như thế, chung chung như thế: nhạt, lảm nhảm, qua loa rơ măng, công thức bề mặt, khuôn đúc có sẵn. Đại loại như: Nhà neo việc bận vẫn đi. Làm thì thi đua , thi đua tốt thì địch chết.

Có gì là mới trong đó, có gì là sáng tạo? Viết bài bản, viết thuộc lòng, “sản xuất thơ”, “thợ thơ”. Khí thơ không còn là thơ thì nó gượng gạo, lắp ghép giả tạo:” Bóng anh nắng chiều, chòm râu mát rượi hòa bình ...Anh vệ quốc quân ơi, sao mà yêu anh thế ... bác thì ung dung trên ngựa bên đường suối reo ..như thể bác đi chơi. Viết như thế thì khen mà hóa ra hại bác quá, chinh chiến gian nan mà bác thong dong như đi chơi ..

Lần đầu tiên, tôi nghe nói đến có thứ thơ lười biếng. Thật hay. Có lẽ không có nhận xét nào hay và chính xác hơn nữa .Thơ lười là thơ tuyên truyền, thiếu sáng tạo, thơ làm cho xong. Khi tả “bác Hồ” thì “nặng công” thức cha già “lãnh tụ mênh mông” ( trích lại Trần Dần- ghi 1954-1960, td mémoire, 2001. Trích lại trên Talawas.). Tất cả đã có sẵn, chỉ việc đóng ghép, sắp xếp cho khéo mà thôi



3. Tố Hữu và Đặng Tiến

Một lần nữa ở đây, xin nhắc Đặng Tiến đừng nên gán ghép oan uổng thơ yêu nước và thơ Chính trị. Xếp Tố Hữu vào chung với Nguyễn Trãi hay bất cứ các nhà thơ yêu nước nào khác là không nên. Đặng Tiến cho rằng thơ Tố Hữu có những hạn chế mà Trần Dần đã nói đủ rồi. Tôi đồng ý là Trần Dần đã nói quá đủ, nhưng Đặng Tiến thì không nói đủ mà nói thiếu trung thực, vì nói rằng đó là những hạn chế trong thơ Tố Hữu. Không, đó không phải là những hạn chế. Thơ mà lười, thơ mà không sáng tạo, thơ mà công thức, thơ mà nhạt, thơ mà đáng nhẽ nó to, nó teo lại là thơ không phải thơ.

Thơ đó, phải gọi tên bằng gì? Thơ Teo. Có thể may ra tôi chỉ đồng ý với anh Đặng Tiến nhận xét sau nay: Giọng thơ hào sảng , hiện đại, Xuân Diệu cho là thơ mở Đường. Nhưng rồi sau khi mở, Tố Hữu đóng lại, không cho ai đi cả. Chỉ mình ông đi.

Tố Hữu là nhà thơ teo, độc tài nhất thế kỷ. Cho dù ông có mở đường thì trong suốt hơn 30 năm, ông đã chặn mói lối đi của tất cả các thi sĩ khác. Nếu người ta muốn gọi ông là nhà thơ số một của hơn ba thập kỷ, chỉ vì không có chỗ cho bất cứ nhà thơ nào khác.

Và xin trích dẫn vài ba câu thơ hay của Tố Hữu dưới mắt Đặng Tiến:


Tháng tám mùa thu xanh thẳm …
.................
Tôi lại làm thơ , như mỗi lần
Nghe ấm trời, lất phất mưa xuân
Con chim chích nhớ mùa táo chín
Rúc rích về ăn táo ngoài sân.



Chim mà về Ăn táo ngoài sân được thì chắc là thơ phải hay.

Nghĩ về Tố Hữu, tôi chỉ có thể gọi ông là thứ quan văn nghệ, một thứ Jdanôv Việt Nam. Lại có vấn đề, Jdanôv là ai nhỉ? trên cả Nguyễn Đình Thi, trên tất cả. Chẳng biết Đặng Tiến nghĩ gì?

Phần tôi làm một liên tưởng đến câu chuyện do Irina Zisman kể khi gặp nhà văn Tô Hoài. Ông Tô Hoài kể cho Irina nghe rằng, ông thường theo dõi giọng nói rất ấm áp và truyền cảm của Irina trên đài phát thanh. Ông thường nghe vào ban đêm, khi mọi người đi ngủ cả, để khỏi phiền mọi người, ông phải đeo ống nghe để nghe về ban đêm và để gần gũi người đọc.

Nghe như thế, Irina không khỏi cảm động và thích thú quá vì được Tô Hoài khen Nhưng trên xe địện ngầm đi về nhà, Irina chợt khám phá ra rằng, đài của cô chỉ có chương trình phát thanh đến 8 giờ tối. Tô Hoài thì nghe giọng nói ấm áp của cô lúc nửa đêm. Cô kết luận, đó là bài học của cô về “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Tôi hy vọng lần sau cô gặp được nhà phê bình Đặng Tiến.

Đây là những nhận xét của anh Đặng Tiến , tôi chỉ xin được trích dẫn trung thực và thẳng thắn.

Trong cuốn Thơ Miền Nam trong thời chiến của nhà văn Trần Hoài Thư, một cuốn sách sưu tầm rất công phu và khá đầy đủ với lời giới thiệu của Đặng Tiến. Tôi xin trích dẫn và so sánh với những lời nhận xét cũa của Đặng Tiến về thơ Tố Hữu để cho thấy sự trái cựa, khác biệt như nước với lửa trong cùng một người viết.

Đặng Tiến viết trong cuốn Thơ miền nam như sau:

Khi nghe đến thời chiến, người ta nghĩ ngay đến chiến tranh, chiến đấu chống cái gí . Sách sưu tập không có bài thơ nào tuyên truyền, thỉnh thoảng , có đôi chữ “quân thù” trong nghĩa đối phương, đối thủ, tự nhiên phải có trong chiến cuộc. Nội dung ý này cho thấy Đặng Tiến khen các nhà thơ miên nam, làm thơ chiến tranh mà không có ý tuyên truyền. Cái hay, cái đáng quý của các nhà thơ miền nam là ở chỗ ấy .( Thơ miền Nam trong thời chiến )

Phía khác chính kiến, (ý nói dân miền Nam), dĩ nhiên lắm kẻ không ưa, thậm chí còn thù oán . Họ thường cố công trích dẫn mấy câu văn vè tuyền quá khích để bêu riếu. Nội dung đoạn này, ông tỏ ra bênh vực Tố Hữu với các lọai thơ tuyên truyền. Lập luận của Đặng Tiến thiếu minh bạch, hàm hồ, mỗi trường hợp nói một khác, gán ghép lẫn lộn giữa chính trị- tuyên truyền và yêu nước. Ông cố tình lầm lẫn thơ chính trị, thơ tuyên truyền để biện hộ một cách khớ khạo như sau: “Tố Hữu xử dụng thơ trong mục đích chính trị, cái đó đã rõ, nhưng đồng thời vô hình trung, ông đã xử dụng thơ chính trị làm đòn bảy cho thi ca.”

Đòn bảy ở chỗ nào, anh không nói tới. Mà làm gì có đòn bảy mà nói tới được .

Trong Sưu tập thi ca, ông viết khác:

Lại công bình mà nói: Miền Nam thời đó, không phải là không có thơ tuyên truyền, nhưng vì không mấy người ưa, không mấy ai nhớ, ban sưu tập không ghi lại cũng là duy lý.

Khi anh dùng thơ để phục vụ để phục vụ hay biện minh cho cái gì đó, thì khó có được thơ hay. Khi được câu thơ hay thì không những là biệt lệ, mà cái hay không ăn nhập gì vào ý đồ của anh, thậm chí có khi còn đi ngược lại

Phần cuối lời giới thiệu tập thơ, ông còn nói rõ hơn:” Thơ về chinh chiến, xưa nay không ai theo kịp Đỗ Phủ, được người đời xưng tụng, nhưng không phải là thơ hô hào chiến đấu Việt Nam, cho dù có thật là “đỉnh cao trí tuệ của loài người” cũng không thể đặt mình làm ngoại lệ, nói khác đi, sẽ làm trò cười cho thiên hạ”.

Trong nhận xét trên Đặng Tiến gián tiếp phê bình Đặng Tiến. Đặng Tiến trong Sưu tập thi ca chửi Đặng Tiến trong thơ Tố Hữu. Và chỉ còn một điều có thể hóa giải là có thể có hai Đặng Tiến.

Không thể không trân trọng Đặng Tiến trong Sưu tập thi ca khi anh đã trích dẫn những bài thơ của những người lính VNCH, đậm tình người, tính nhân bản:


Dù chỉ một ngày ngưng bắn đó con
Cũng đem chiếc áo lành ra mặc
Cũng ăn một bữa cơm cho no
Cũng ngủ một giấc trên giường trên chiếu
Khổ đau lúc này, mẹ gói trong mơ



Tôi nghĩ rằng anh Đặng Tiến, khi nhận xét về các nhà thơ trẻ miền Nam thời chiến tranh đã viết chân thật, bằng một tấm lòng, bằng sự chia xẻ những tâm tình của những nhà thơ trong Thơ miền Nam trong thời chiến. Bởi vì một lẽ đơn giản là chúng ta cùng thân phận, cùng từ đó mà ra .. Những tâm tình của các nhà thơ chỉ là thay chúng ta để viết ra trên giấy.

Nhưng khi viết về Tố Hữu, anh đã đưa ra những nhận xét thiếu trung thực, một lối lý luận khó thuyết phục mà không phải chỗ cho ngòi bút của một người muốn viết phê bình văn học.

Nhưng vì thế, tôi không hiểu được bài viết của anh ấy viết về Tố Hữu. Nó có gì gượng ép, và không đủ thuyết phục, nhất là mâu thuẫn với những nhận xét của anh khi giới thiệu tập sưu tập: Thơ miền Nam trong thời chiến của anh Trần Hoài Thư, một công việc mà tôi chỉ biết trân trọng và quý mến.

Phần tôi, bắt buộc phải phải quên một trong hai Đặng Tiến để vẫn giữ được sự trân trọng đối với người đã đề tựa cho cuốn Sưu tập thơ của Trần Hoài Thư.

Thật cũng là khó xử cho tôi lắm.


***************

(1) Trích bài thơ Hãy nhớ lấy lời tôi(Tố Hữu) 23/10/1964


... Chúng run lên, xông trói chặt Anh hơn
Đôi mắt Anh đã khô cháy căm hờn:
Phải chiến đấu như một người cộng sản
Trái tim lớn không sợ gì súng đạn!

Lệnh: Hàng đầu quỳ xuống! Một giây thôi
Anh thét lớn: Hãy nhớ lấy lời tôi:
Đả đảo đế quốc Mỹ!
Đả đảo Nguyễn Khánh!

Hồ Chí Minh muôn năm!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Phút giây thiêng, Anh gọi Bác ba lần!



NGUYỄN VĂN LỤC





Ăn cướp : nét đặc trưng của xã hội Việt Nam?




Ngày 2-12-2005, nhật báo The Straits Times (Singapore) cho biết cảnh sát Tân Gia Ba vừa bắt giam một băng đảng gồm 10 người Việt chuyên môn đi móc túi khách và ăn cắp hàng tại các siêu thị. Tin này đã làm cộng đồng người Việt Nam tại hải ngoại hổ thẹn. Nhiều người cảm thấy nhục nhã và bị xúc phạm khi hay biết vụ việc này: người thì nguyền rủa kẻ cắp làm xấu mặt cộng đồng người Việt Nam, người thì sỉ vả chính quyền Singapore bêu xấu người Việt.

Nhưng đây chỉ là một sự kiện nhỏ trong muôn vàn vụ trộm cắp của những thành phần Việt Nam được xuất khẩu ra nước ngoài lao động trong những năm gần đây. Sự hiện diện của những người Việt này tại Anh, Bỉ, Đức, các cộng hòa Nga, Ukraine, Ba Lan, Tiệp Khắc và nhiều nước khác, càng ngày càng làm cho các quốc gia tiếp nhận sợ hãi vì, do tham nhũng hay không kiểm soát soát nổi, một số tội phạm hình sự đã lọt ra nước ngoài và sinh sống bằng những nghề trộm cắp và buôn lậu.

Người ta sẽ càng ngạc nhiên khi biết rằng cướp bóc là một trong những chính sách của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Thật vậy, ngay từ lúc thành lập, đảng cộng sản đã hành động trên căn bản của cướp bóc (họ gọi "cướp chính quyền" thay vì giành chính quyền), và sau hơn nửa thế kỷ cầm quyền, tập quán này đã xâm nhập vào xã hội Việt Nam và thể hiện qua cách hành xử của từng con người.

Một ví dụ : để nâng cao hiệu quả "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", chính quyền cộng sản đã ồ ạt xuất cảng lao động ra khắp thế giới, một mặt để giải quyết nạn thất nghiệp trong nước, một mặt thu ngoại tệ về cho nhà nước. Mặt nào chính quyền cộng sản cũng đều có lợi, thứ nhất là tránh được việc tạo dựng công ăn việc làm cho nhân dân trong nước, thứ hai là có thêm nguồn thu nhập khi khuyến khích người xin đi lao động vay tiền để làm thủ tục xuất ngoại, thứ ba là nuôi dưỡng các sứ quán khi những người lao động này xin về thăm nhà qua các lệ phí hộ chiếu, thứ tư là có thêm ngoại tệ qua các lệ phí khai thác dịch vụ từ những người lao động xuất khẩu này mang về. Nói chung người lao động bị trấn lột từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong. Để tìm kế mưu sinh và trả nợ, một số người đã tổ chức thành băng đảng để ăn cắp, buôn lậu, buôn người.

Tình trạng "bần cùng sinh đạo tặc" không phải ngẫu nhiên mà có. Chính tổ chức xã hội theo khuôn mẫu cộng sản hay định hướng xã hội chủ nghĩa đã đẩy người dân đến chốn bần cùng, trộm cướp đã trở thành một sinh hoạt bình thường và đang được xuất khẩu ra ngoài biên giới.



Tệ nạn trộm cướp trên thế giới

Trộm cướp nơi đâu cũng có. Nó là sự chiếm đoạt tài sản của người khác để làm của riêng cho mình và là phương cách sở hữu tài sản một cách mau chóng mà không phải bỏ công bỏ của. Tuy nhiên tại các quốc gia dân chủ, việc thu hồi tài sản cướp đoạt có thể thực hiện được vì có luật pháp công minh và công pháp quốc tế giám sát.

Trước kia một số ngân hàng của Thụy Sĩ đã cố ý chiếm đoạt tài sản của người Do Thái, nạn nhân của Hitler trong Thế chiến II, nhưng nhờ lòng lương thiện của một nhân viên ngân hàng, việc tiêu hủy tài liệu chủ quyền của người Do Thái đã bị phát giác và khựng lại. Vừa rồi các ngân hàng Thụy Sĩ buộc phải bồi thường hơn 1,25 tỷ USD cho hậu duệ của những nạn nhân này (1).

Năm 1995, chính quyền Pháp nhìn nhận có nhúng tay vào việc tịch biên gia sản của người Do Thái bị đày hoặc bị bỏ tù trong Thế chiến II. Ngày 5-2-1997, "Ủy Ban nghiên cứu về việc tịch biên tải sản của người Do Thái" (Mission d’étude sur la spoliation des Juifs de France), còn gọi là "Ủy ban Matteoli" đã được thành lập để hoàn trả tài sản cho người Do Thái.

Đảng Cộng Sản Quốc Tế, trong đó Đảng Cộng Sản Việt Nam là một chi nhánh, cũng đã nhân danh "chuyên chính vô sản", "đấu tranh giai cấp" thủ tiêu hàng triệu người thuộc giai cấp "tư sản, mại bản" và tịch biên tài sản của họ. "Tịch biên tài sản" là một cụm từ hoa mỹ để chiếm đoạt, ăn cướp tài sản công dân một cách công khai, còn gọi là "cướp ngày", vào tay của những chuyên viên cướp chính quyền của các đảng cộng sản.



Cướp đoạt lịch sử Việt Nam

Mặc dù ăn cướp không do Đảng Cộng Sản Việt Nam sáng chế ra nhưng đã được biến thành nghệ thuật siêu đẳng, đến nỗi đã trở thành một sinh hoạt bình thường trong xã hội Việt Nam hiện nay.

Trong thời chống Pháp, núp bóng dưới danh nghĩa của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (còn gọi là Việt Minh), những người cộng sản đã thẳng tay tiêu diệt những đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng và nhiều tổ chức cách mạng yêu nước chân chính khác. Người cộng sản đã cướp công lao và xương máu của những người mà họ vừa tiêu diệt để xuất hiện như lực lượng duy nhất đem lại độc lập cho Việt Nam. Để che giấu sự thật với các thế hệ sau này, phe cộng sản cầm quyền đã sửa đổi và xóa bỏ những chi tiết lịch sử không thuận lợi cho sự chiếm đoạt đó và ngăn chặn mọi phổ biến tài liệu vạch trần bản chất cướp bóc của họ. Không những thế họ còn ngang nhiên áp đặt : "Yêu chủ nghĩa xã hội là yêu nước". Tổ quốc đã bị đồng hóa với chủ nghĩa xã hội và ép buộc nhân dân phải tôn thờ.



Cướp bóc tài sản nhân dân Việt Nam

Bắt đầu từ 1953 đến 1956, chính sách "cải cách ruộng đất" ở miền Bắc, được chính quyền cộng sản cho là "chí nhân, chí nghĩa, hợp tình hợp lý" (2), trong thực tế đã là một cuộc tàn sát dã man những người dân lương thiện có vài mẫu ruộng. Đây là một sự cướp đoạt đẫm máu tài sản công dân theo kiểu Trung Quốc. Năm 1977, chính quyền cộng sản tiếp tục chính sách cướp bóc tài sản công dân qua công an chiến dịch đổi tiền, đánh tư sản mại bản : cướp giật công khai nhà cửa, ruộng vườn, trương mục trong ngân hàng, phương tiện kinh doanh và còn bắt giam những người giàu có để buộc phải chuộc tiền ra tù. Sau đó trong những năm 1978 và 1979, chính quyền cộng sản còn tổ chức bán tàu, bán bãi để đuổi người Việt gốc Hoa ra khỏi nước và chiếm đoạt tài sản của họ.

Sau 1975, thiên hạ bàn tán nhiều về tin đồn ông Nguyễn Văn Thiệu đã mang theo 16 tấn vàng trị giá 300 triệu Mỹ kim, nay trong một tài liệu phổ biến gần đây của Cục Văn khố quốc gia Anh cho biết ông Thiệu không hề nắm giữ số vàng này. Điều này chứng tỏ đảng cộng sản đã chiếm lĩnh toàn bộ số vàng này và đổ tội cho ông Thiệu.

Trong suốt hơn 50 năm cầm quyền, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chỉ lo tịch biên tài sản của nhân dân để rồi trong một lúc hoảng hốt nhận định rằng phải đổi mới nếu không thì chết, vì chẳng còn gì để tịch thu nữa. Năm 1986 họ buộc phải mở cửa và cho phép kinh doanh. Giữa thập niên 1990 họ đẻ ra mô hình "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Trong các báo cáo chính trị, đảng cộng sản nhìn nhận là có sai lầm nhưng không hề có một chương trình hoặc cơ chế nào để sửa chữa hay đền bù cho những nạn nhân của những cuộc cướp bóc công khai trước.



Cướp bóc căn cước người Việt

Hiện nay có gần ba triệu người Việt Nam sinh sống trên khắp thế giới, phần lớn đã trở thành Việt kiều, một danh xưng mà đảng cộng sản dùng để phân biệt người Việt ở nước ngoài với người Việt ở trong nước. Một khi đã định cư tại nước ngoài, người đó không còn là công dân Việt Nam, nghĩa là mất hẳn căn cước Việt Nam, không còn quyền sinh hoạt trong xã hội Việt Nam, kể cả sinh hoạt chính trị. Từ đó người Việt kiều trở thành con bò sữa để chính quyền cộng sản tha hồ vắt, cho đến khi cạn kiệt mới thôi. Nghị quyết 36/CP là một bằng chứng.

Trong các cuộc bầu cử lớn của các quốc gia dân chủ, các công dân ở nước ngoài đều được mời tham dự, chỉ chính quyền cộng sản Việt Nam mới không những không kêu gọi công dân Việt Nam ở nước ngoài tham gia đầu phiếu mà còn ngăn cấm những ai có thiện chí muốn đóng góp xây dựng đất nước trở về thăm quê hương. Qua những hành động này, chính quyền cộng sản đã để lộ sự gian trá : ai ngoan ngoãn, chịu làm thinh thì được cho về thăm nhà, ai chống đối thì không được về. Căn cước của Việt kiều đã bị cướp đoạt một cách trắng trợn. Chính quyền cộng sản nghĩ rằng với thời gian những thành phần chống đối sẽ quy hàng, chịu khuất phục, hay ít ra sẽ nản chí và thờ ơ với đất nước. Có lẽ đảng cộng sản muốn người Việt Nam đừng quan tâm đến đất nước để họ muốn làm gì thì làm. Đối với họ, một công dân gương mẫu là một người ngoan ngoãn, biết im lặng trước bất công mà Việt kiều không chịu.



Cướp đoạt trí tuệ Việt Nam

Song song với việc cướp đoạt căn cước, chính quyền cộng sản còn muốn cướp đoạt luôn trí tuệ của người Việt Nam. Điều lệ về Sở Hữu Trí Tuệ ghi rõ :




"Các tác phẩm không được bảo hộ quyền tác giả :


- Chống lại Nhà nước Việt Nam, phá hoại khối đoàn kết toàn dân ;

- Tuyên truyền bạo lực, chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước ; truyền bá tư tưởng, văn hóa phản động, lối sống dâm ô đồi trụy, các hành vi tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục ;

- Tiết lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại, bí mật đời tư của cá nhân và các bí mật khác do pháp luật quy định ; xuyên tạc lịch sử ; phủ nhận thành tựu cách mạng, xúc phạm vĩ nhân, anh hùng dân tộc ; vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân...".



Đây là bằng chứng cho thấy đảng cộng sản luôn luôn ngăn chặn bưng bít và cướp luôn quyền tác giả để không một ai có thể phát biểu và thông tin một cách tự do.

Thế nào là tư tưởng và văn hóa phản động, thế nào là bí mật của Đảng ? Tất cả đều do đảng cộng sản đánh giá và thẩm định. Mọi thông tin, tin tức đều bị kiểm duyệt. Người dân bị chính quyền cộng sản cướp quyền suy nghĩ và trí tuệ. Chính quyền cộng sản có quyền phán xét đâu là đúng đâu là sai, đúng là những cai ngục trí tuệ.

Trong học đường chính quyền cộng sản tiếp tục đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, mặc dù trong thực tế ông này chẳng có tư tưởng nào.



Cướp đoạt sức lao động của nhân dân

Nạn buôn người chỉ xảy ra tại các nước nghèo. Khi người dân đủ ăn đủ mặc tại quê nhà thì không bao giờ rời bỏ quê hương. Chính quyền cộng sản thường lớn tiếng là Việt Nam có phát triển nhưng trong thực tế đã không tạo ra phúc lợi cho nhân dân, nhất là ở nông thôn. Chính vì không tìm được công ăn việc làm trong nước nên người lao động mới phải tìm đường ra nước ngoài vì nghĩ rằng sẽ dễ có cơ hội kiếm tiền hơn.

Lợi dụng nhu cầu tìm kế sinh nhai của dân nghèo, nhiều tổ chức và kẻ gian đã tán tận lương tâm lợi dụng thân xác của người lao động để buôn bán. Rất nhiều thiếu nữ đã bị bán cho các thuơng gia và tư nhân về làm "vợ-đầy tớ" như tại Hồng Kông và Đài Loan, cho các ổ mãi dâm tại các nước láng giềng và các nước Tây Âu. Đường dây đưa người trái phép vào châu Âu, được sự tiếp tay của các sứ quán địa phương, tiếp tục phát triển. Cứ vài tháng lại có các loại tin như Sở thanh tra tội phạm Berlin (LKA) và Cảnh sát Liên bang Đức vừa phá một băng nhóm đưa lậu Việt Nam qua biên giới, nhiều người đã bị bắt. Theo sở cảnh sát Berlin thì các thành viên của tổ chức này đã đưa hơn 500 người Việt và người Trung Quốc nhập vào Đức năm 2004. Theo kế hoạch số người nhập cảnh lậu này sẽ được đưa tiếp tới Anh, Na Uy và Italy (3)



Nạn ăn cắp trí tuệ và tham nhũng


Xã viên ăn cắp củ khoai
Đội viên ăn cắp một vài ký phân
Huyện ủy ăn cắp cái cân
Tỉnh ủy trộm gỗ thủy lâm xây nhà
Bộ đội ăn cắp quân xa
Công an ăn cắp thịt da tội tù
Pháp đình cưỡng lý đoạt từ
Hiến Pháp đánh cắp tự do nhân quyền
Nhà băng ăn cắp bạc tiền
Nhà trường ăn cắp niềm tin nhi đồng
Tướng lãnh ăn cắp chiến công
Nhà thương ăn cắp tấm lòng lương y
Bác Hồ chính kẻ đạo thi
Triệu thằng ăn cắp còn chi giống nòi ?



Đây là bài thơ của Hà Huyền Chi (trong tập thơ Mậu Binh) tóm gọn hết nét văn hóa ăn cắp của chế độ cộng sản Việt Nam. "Chế độ này đặt trên nên tảng cào bằng, lấy của thằng giàu đem chia cho thằng nghèo, nhưng khi thằng giàu hết của, quay ra cướp của lẫn nhau, cướp của lẫn nhau chưa đủ, phải chạy ra nước ngoài cướp của thiên hạ. Khốn thay thiên hạ chẳng ngu, nên kẻ cướp phải bị bắt và bị tù tội. Đây là hậu quả tất yếu của nền văn hóa ăn cắp".

Kinh doanh trong nước cũng không khá hơn vì nạn ăn cắp. "Một trong những vấn đề lớn của Việt Nam là tình trạng vi phạm và ăn cắp thương hiệu tràn lan. Nạn ăn cắp thương hiệu và hàng giả đã tạo ra một ấn tượng chung là Việt Nam không quan tâm bảo hộ quyền Sở HữuTrí Tuệ, dẫn đến Việt Nam kém thu hút đầu tư nước ngoài. Nhiều nước trong khu vực đang cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài và các tập đoàn lớn sẽ đầu tư vào những nước mà họ tin là quyền SHTT được bảo vệ". Đây là lời của Ông Paul A. Norris, luật sư quốc tế, hãng luật Baker & McKenzie trong một cuộc phỏng vấn dành cho Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam, gọi tắt là VCCI-Vietnamese Chamber of Commerce and Industry (5).

Chính quyền cộng sản đã ban hành biết bao nhiêu luật chống tham nhũng và những ủy ban điều tra tham nhũng. Nhưng tinh trạng tham nhũng vẫn lan tràn, vì sao ? Tại vì tất cả đều tham nhũng, từ trên xuống dưới. Ngay cả Đỗ Mười cũng nhận hối lộ từ công ty Đại Hàn. Tham những là phương pháp làm giàu bất lương của kẻ có chức vị.

Chính vì bản chất là kẻ cướp, Đảng Cộng Sản Việt Nam không thể xây dựng cho đất nước Việt Nam tốt đẹp hơn. Tất cả những luật lệ chỉ có hiệu lực với dân chúng, còn đối với đảng cộng sản đó là một mớ giấy lộn. Có ủy viên trung ương nào thật thà khai bao lợi tức thu vào không hay số tiền nằm trong các ngân hàng từ đâu mà có không ?

Tại các nước dân chủ, ai cũng có thể biết tiền lương của các vị lãnh đạo quốc gia, nhưng ở Việt Nam đó là bí mật quốc gia. Ai tiết lộ sẽ bị kết tội là "gián điệp".

Trong chuyến đi tháng 6-2005 vừa qua tại Hoa kỳ, ông Phan Văn Khải, thủ tướng Việt Nam, đã phải cam kết chống nạn ăn cắp nhu liệu. Nhưng theo thống kê của Liên Minh Nhu Liệu Thương Mại, một tổ chức có trụ sở ở Washington, tỷ lệ nhu liệu bị ăn cắp ở Việt Nam lên tới 92% trong năm 2004, cao nhất trên thế giới. Hiện tượng này đã làm kiệt quệ trí tuệ của Việt Nam. Không gì bất lương bằng chiếm đoạt quyền sở hữu trí tuệ của người khác, biến của người thành của ta mà không biết hổ thẹn.

Năm 2003, Báo Lao động, Công ty FPT và Đài Truyền hình Việt Nam đã đứng ra tổ chức cuộc thi Trí Tuệ Việt Nam và trao giải thuởng cho nhóm iCMS. Nhưng không bao lâu tuyên bố thu hồi danh hiệu và cúp vàng Trí tuệ Việt Nam của nhóm iCMS vì : " Nhóm iCMS đã vi phạm bản quyền của tác giả Stephen R.G. Fraser và Nhà xuất bản Apress vì đã không xin phép tác giả và cũng không dẫn chứng/ghi chú tác giả trong bản thuyết trình sản phẩm khi sử dụng mã nguồn CMS.NET." "Nhóm iCMS đã không cung cấp đầy đủ thông tin về tài liệu tham khảo và mã nguồn mở đã sử dụng trong hồ sơ dự thi TTVN2003. » (6) Đây cũng là cũng là hiện tượng kiệt quệ trị tuệ của Việt Nam, một sản phẩm của chế độ chuyến chính XHCN với bản chất là nhận nhầm sở hữu của thiên hạ



Nước Việt Nam đi về đâu ?

Chương trìng HO và ODP (Humanitarian Operation and Orderly Departure Program) thể hiện rõ lòng nhân đạo của chính phủ Hoa Kỳ đối với những ai đã từng cộng tác với họ trước đây tại Việt Nam. Nhưng chính quyền cộng sản Việt Nam đã để lộ dã tâm của họ trong việc này : tống khứ đi những thành phần mà họ cho là "không thể cải tạo", "cực kỳ phản động". Đảng cộng sản đã không cho con cái những người này một tương lai nào, họ chỉ có một con đường duy nhất còn lại là phải ra đi. Không có một quốc gia thời bình nào lại tống xuất con dân mình sang một nước khác một cách công khai lộ liễu như vậy. Không một quốc gia nào trừ nước Việt Nam, mọi công dân đều cảm thấy sung sướng bỏ nước ra đi. Đây cũng dã tâm của đảng cộng sản biến con dân Việt Nam thành kẻ lưu đày, vừa nhổ được gai trước mắt, vừa thu được tiền.

Vốn liếng tình cảm quốc tế dành cho Việt Nam trước đây đang từ từ tan thành mây khói. Huyền thoại "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào" đang từ từ được phơi ra ánh sáng. Tất cả chẳng qua là một hiểu lầm của người Việt, đó là một cuộc cướp bóc có kế hoạch do đảng cộng sản tạo ra, nhân danh tự do và độc lập để đánh lừa dư luận quốc tế và nhân dân Việt Nam nhằm cướp đoạt công lao và mạng sống của nhân dân Việt Nam. Ngày nay bản chất của chế độ cộng sản dần dần bị lộ ra là bạo lực và dối trá.

Văn hóa bạo lực và dối trá này đã giúp cho đảng cộng sản thành công trong hơn 50 năm qua và ngày nay đang thấm nhập vào xã hội Việt Nam để trở thành văn hóa của kẻ cướp. Những tin tức liên quan đến buôn lậu, trộm cắp của người lao động Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài sẽ còn gia tăng và càng được dư luận quốc tế biết tới.

Nếu không sớm dứt bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa của tập đoàn lãnh đạo cộng sản hiện nay người Việt sẽ còn mang tiếng là một dân tộc chỉ biết ăn cắp, không biết đến danh dự. Tiếng xấu này sẽ còn đeo đuổi người Việt Nam trong nhiều thế hệ kế tiếp. Dân tộc Việt Nam có được kính nể hay không còn tùy thuộc vào hình ảnh của một nước Việt Nam tương lai. Không thể khác hơn. Chế độ xã hội chủ nghĩa hiện nay không có khả năng và mãi mãi không có khả năng làm người Việt Nam hãnh diện mình là người Việt Nam.



Nguyễn Gia Thưởng
(Bruxelles)




January 2010
M T W T F S S
December 2009February 2010
1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31