WELCOME TO YOU

Sometime a person is allowed to tell an untruth , even to a loved one , if the cause is good - if there is a good reason.

Subscribe to RSS feed

VỤ TẾT MẬU THÂN (1968) , BÓNG TỐI LỊCH SỬ ÐÃ SÁNG DẦN ? (3)



Nguyễn Ðức Cung



4 . - Tổng công kích – tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân , các quan điểm nhận định về thành bại.


4.1. Nhận định của các viên chức trong chính quyền Hoa-Kỳ.

Ðối với các giới chức hành chánh và quân sự Hoa Kỳ lúc đó như Tổng Thống Johnson , Cố vấn An ninh Quốc gia Walt Whitman Rostow, Ðại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng Hoà là Bunker , Thống Tướng Westmoreland chẳng hạn, các vị này đều cho rằng qua biên cố Tết Mậu Thân , Cộng Sản đã thất bại trong việc đạt tới sự bất ngờ mang tính chiến lược trong dịp Tết ( strategic surprise ) bởi vì một cuộc tấn công lớn của Cộng Sản đã được dự đoán là có khả năng xảy ra vào dịp nghỉ Tết nên Hoa Kỳ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã dự phòng phần nào . Tuy nhiên họ cũng cho rằng cuộc tấn công của Tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã đạt được sự bất ngờ mang tính chiến thuật (tactical surprise). Ðối với Tướng Westmoreland, thắng lợi của Quân đội Hoa Kỳ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa là một sự kiện hiển nhiên .

Ngoài ra chiến thuật dương đông kích tây của Võ Nguyên Giáp đã không thành công tại Khe Sanh, nghĩa là không dụ được Hoa Kỳ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà dồn về các mặt trận cao nguyên, biên giới hay ở giới tuyến mà bỏ trống các đô thị.

Việc Võ Nguyên Giáp bất thần hoãn cuộc tấn công lại 24 tiếng đồng hồ đã làm mất tính bất ngờ, vì có một số tỉnh từ Quảng Nam trở vào và cao nguyên đã bị tấn công đêm giao thừa Tết Mậu Thân nên các tỉnh khác đã kịp chuẩn bị kháng cự .

Thất bại quan trọng nhất mà Cộng Sản Bắc Việt gặp phải đó là sự thờ ơ nếu không nói là kinh hãi của nhân dân Miền Nam đối với chế độ Cộng Sản qua biến cố Tết Mậu Thân . Ðiều này là lẽ đương nhiên bởi vì chính nhân dân miền Nam , nhất là tại thủ đô Sài Gòn làm sao có thể nghe theo lời Cộng Sản nổi dậy đi biểu tình chống lại chính quyền Việt Nam Cộng Hoà được ? . Rất nhiều nơi dân chúng đã bỏ nhà cửa , tài sản chạy đi khi Cộng quân kéo đến. Nhiều người dân tình nguyện chỉ nơi ẩn trốn hoặc nơi có Việt Cộng để quân đội Việt Nam Cộng Hoà hành quân tiêu diệt. Rõ ràng Nghị quyết 14 của Cộng Sản Việt Nam chỉ là bản văn lừa bịp và thực tế đã vạch trần bản chất bịp bợm đó .

Trong sách The genius of Vietnam’s Gen. Vo Nguyen Giap , sử gia Cecil B. Currey cho rằng : “ Thất bại lớn nhất của cuộc tổng tấn công Tết không phải là của Giáp mà rõ hơn là của Ðại tướng Nguyễn Chí Thanh . Giáp đã chống đối dự án ngay từ khởi đầu nhưng các luận cứ của Thanh và Lê Duẩn đã thuyết phục được Hồ Chí Minh rằng cuộc tiến công phải được thực hiện . Sự việc cho biết Cộng quân đã phải chịu nhiều tổn thất lớn lao. Dân chúng miền Bắc đã quá mệt mõi vì các trận mưa bom của Mỹ. Hoa Kỳ có thể sẽ phải quyết định xâm lược miền Bắc. Một trận đánh mang đầy kịch tính ở miền Nam bộc lộ khả năng yếu kém của chính quyền ở đây và bó buộc Hoa Kỳ phải rút lui. Giáp đã phải miễn cưỡng tuân theo mọi quyết định . Kết quả đó đã không làm cho ông ta ngạc nhiên khi lực lượng quân sự Hoa Kỳ đã chứng tỏ rất đỗi thích hợp và có khả năng ứng biến hơn là Thanh và Lê Duẩn tiên đoán ” (55) .

Trong cuốn hồi ký Cuộc Chiến Dang Dở , trang 260 , dòng 26 , Tướng Trần Văn Nhật cho biết : “ Tướng Westmoreland vào cuối năm 1995 , trong buổi tiếp tân và phỏng vấn tại nhà tôi ông nói “ ông đã biết trước các âm mưu của Cộng Sản Bắc Việt sẽ tấn công Việt Nam Cộng Hoà vào dịp Tết Mậu Thân 1968 , nhưng ông không thể “ bật mí ” vì có ý định nhử Cộng quân tập trung vào các thành phố để tiêu diệt dễ hơn là tìm đánh chúng trong rừng núi ” . Theo ông nhờ chiến thuật này nên sau Tết Mậu Thân, toàn bộ các đơn vị của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đều bị loại khỏi vòng chiến ”(56) .


4.2. Quan điểm của các nhân vật lãnh đạo Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam .

Trước hết , Tướng Trần Văn Trà đã thú nhận: “ Các mục tiêu quân sự trong dịp Tết vượt qua sức mạnh của chúng ta. Tất cả đều nằm trong ước muốn chủ quan của những người vạch ra kế hoạch. Vì vậy sự tổn thất của chúng ta đã rất lớn lao về vũ khí cũng như nhân sự. Và chúng ta không thể lấy lại được những gì chúng ta đã tạo ra. Vì vậy, chúng ta đã phải vượt qua biết bao nhiêu khó khăn trở ngại trong các năm 1969 , 1970 ” (57) .

Theo nữ bác sĩ Dương Quỳnh Hoa , một thành viên lãnh đạo của Mặt Trân Giải Phóng Dân Tộc Miền Nam , “ Hà Nội đã có tội khi đưa ra những tính toán sai lầm làm tiêu phí hết sức mạnh của miền Nam ” (58) .

Sau đây là ý kiến của Trần Ðộ , một vị tướng chỉ huy mặt trận Sài Gòn bên cạnh Trần Văn Trà :“ Thành thật mà nói chúng ta đã không hoàn thành được mục tiêu chính của chúng ta . Việc gây nên một ảnh hưởng lớn đối với Hoa Kỳ thật ra không phải là ý định của chúng ta nhưng điều đó đã trở nên một kết quả do may mắn mà tới ” (59) .

Trong cuốn hồi ký Ở chiến trường Long An , ông Huỳnh Công Thân tức Tư Thân , Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Long An năm 1968 , được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1980 khi đang làm Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Long An . Năm 1998 ông Huỳnh Công Thân được trao tặng danh hiệu “ Anh hùng các lực lượng vũ trang ”.

Trong hồi ký có đoạn ông viết : “ Tình hình quần chúng ở Sài Gòn và sinh viên , học sinh như thế nào mà lúc đó lại có nhận định : hàng triệu quần chúng đang sục sôi khí thế cách mạng sẵn sàng hy sinh tất cả vì độc lập tự do! Khi chúng tôi vào Sài Gòn, thực tế tình hình không phải như thế . Quần chúng chán ghét chế độ Mỹ – ngụy bóp nghẹt dân sinh, dân chủ nhưng chưa đến mức “ sục sôi ” và chưa “ sẵn sàng hy sinh tất cả ” để có thể xuống đường đối đầu với súng đạn địch để lật đổ ngụy quyền trung ương Sài Gòn , thiết lập chính quyền cách mạng ” (60) . Nhận định của tác giả này chứng minh sự thất bại trong cái gọi là “ tổng khởi nghĩa ” qua biến cố Tết Mậu Thân. Một bộ trưởng của Mặt Trận Giải Phóng nói cuộc Tổng công kích đã mang lại nhiều hậu quả tai hại không ngờ cho Mặt Trận và Cộng Sản Bắc Việt . Hoàng Văn Hoan , cựu bộ trưởng công an Bắc Việt trốn sang Tầu năm 1979 nói CS đã bị tổn thất nặng nề trong Tết Mậu Thân . Sir R. Thompson, một chuyên viên về du kích chiến cho rằng Hà Nội muốn “ nướng ” hết lực lượng của mặt Trận Giải Phóng để Bắc Việt có cớ đưa quân vào . Tướng Weyand phân tích cuộc Tổng công kích nói: “ Việt Cộng dẫn đầu cuộc tấn công và bị tiêu diệt để bảo đảm thống nhất do Bắc Việt thống trị ” , ngoài ra một Thượng tá Việt Cộng cũng có nói : “ Nó cho nướng sạch Việt Cộng để sau này Bắc Kỳ vào thay thế hết ” (61) .

Trong cuộc phỏng vấn dành cho phóng viên Nguyễn Hùng của đài BBC ngày 15.1.2008 , nhà báo Bùi Tín hiện sống ở Paris đã trả lời một số câu hỏi xin trích vài đoạn như sau :


Hỏi : - Tết Mậu Thân , ý định chiến lược của cuộc tiến công là gì ?

Trả lời : - Các cuộc tiến công đồng loạt, bất ngờ vào các thành phố , thị trấn , căn cứ , sở chỉ huy Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa nhằm tiêu diệt sinh lực đối phương , với mục đích cuối cùng là sự nổi dậy rộng khắp của dân chúng , là cuộc Tổng khởi nghĩa toàn miền Nam kết thúc cuộc chiến .

Hỏi : - Mục đích ấy có đạt không thưa ông ?

Trả lời : - Rõ ràng là không . Hoàn toàn không có nổi dậy , không có khởi nghĩa . Ðó chỉ là ảo tưởng chủ quan . (62)


4.3. Luận điểm của truyền thông và giới sử học Hoa Kỳ .

Ðối với biến cố Tết Mậu Thân, một số báo chí Hoa Kỳ và cơ quan truyền thông đã có luận điểm ngược lại khi cho rằng đó là sự thất bại của Hoa Kỳ và Ðồng Minh mà đại diện cho khuynh hướng phê phán này là Walter Conkrite . Ông này cho rằng mấy tháng trước đây chính quyền Hoa Kỳ đã nhiều lần cho dân chúng biết là Hoa Kỳ đang trên đà thắng lợi tại VN nhưng đột nhiên lại có biến cố Tết Mậu Thân với sự xuất hiện của VC trên khắp nhiều thành phố tại Miền Nam, đặc biệt là Việt Cộng đã lẻn vào được Tòa đại sứ Hoa Kỳ ở thủ đô Sài Gòn , như vậy là rõ ràng Hoa Kỳ đang thất bại . (63) . Dư luận Hoa Kỳ sôi nổi khiến cho Tổng Thống Johnson đã nhanh chóng hủy bỏ ý định ra tranh cử Tổng Thống , chịu mở ngay hội đàm Paris , từ chối tăng quân cho tướng Westmoreland , rồi Nixon sau đó quyết định rút hết quân , Việt Nam hóa chiến tranh ... Nhà báo Bùi Tín cũng cho rằng “ không ngờ báo chí , truyền hình Mỹ nhìn chung ngây thơ đến vậy , nhất là không ngờ Quốc hội Mỹ “ quyết tâm ” bỏ cuộc sớm đến thế ” (64) .

Thêm vào đó , Gareth Porter trong bài “ The 1968 Hue massacre ” đăng trên “ Indochina Chronicle ” , số 33 ngày 24 tháng 6 năm 1974 đã dựa trên tài liệu của đảng Cộng sản Việt Nam để bác bỏ các con số sự thật về nạn nhân bị Việt Cộng giết và dùng lời tường thuật của Alje Vennema , bác sĩ giám đốc bệnh viện trị lao phổi của Canada ở Quảng Ngãi cho đến tháng 8 năm 1968 để bênh vực cho luận điểm của mình . Porter cũng cho rằng việc phát hiện các mồ chôn tập thể đều là thành tích của sĩ quan chiến tranh tâm lý nghĩa là bịa đặt, hay thổi phồng ! Ðây là tiếng nói lạc điệu giữa rất nhiều tác giả , nhà báo công tâm khác viết về cuộc thảm sát Tết Mậu Thân như Stewart Harris của tờ Times London ( bài đăng ở trang 4 , New York Times , 28.3.1968 ), Stanley Karnow ( Vietnam: A History, trang 530-531 ) , Don Oberdoefer ( “ Executions, Extrajudicial ” ) hay Jack Shulimson ( US Marines in Vietnam : 1968 , The Defining Year ) ... (65)

Dĩ nhiên cũng phải có người thấy rõ được thái độ xuyên tạc sự thật của Gareth Porter và đã công khai điểm lại sách của Porter , đó là Stephen J. Morris, một chuyên viên nghiên cứu tại Viện Chính sách Ngoại giao tại Trường Nghiên cứu Quốc tế , Ðại học John Hopkins ; ông này viết như sau :

" Một trong những khuyết điểm cơ bản của những khảo cứu của Porter là dùng những tài liệu lịch sử của Ðảng Cộng Sản Việt Nam làm bằng chứng đáng tin để lý giải về dự tính , động cơ và hành động thực sự của ban lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam . Porter không hiểu rằng họ viết những nguồn tài liệu đó chỉ để biện minh cho sự kiện đã xẩy ra chứ không phải là những phân tích nhận định lương thiện . Lối viết này của Porter mang dấu ấn bắt đầu từ hơn 30 năm trước, và đính chặt với khuynh hướng cùng đồng cảm chính trị của ông " ( với Ðảng Cộng Sản Việt Nam – TGT ) (66) .

Tuy nhiên , chín năm sau Tết Mậu Thân , một tác phẩm có tên The Big Story : How the American Press and Television Reported and Interpreted the Crisis of Tết in Vietnam and Washington, được xuất bản năm 1977 , do tác giả là Peter Braestrup ( 1929-1997 ) , phóng viên tại Sài Gòn và sau này là Giám đốc Truyền thông của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ . Sách này được tái bản năm 1983 , 1986 và ấn bản sau cùng, 632 trang, do Presidio Press phát hành năm 1994 được đánh giá là “ góp phần không nhỏ làm sáng tỏ trang lịch sử Mậu Thân lấy dữ kiện thay cho ấn tượng , thay lời phỏng đoán bằng những phân tích không thiên vị . Cuốn sách là một nghiên cứu đồ sộ về vai trò của giới truyền thông trong sự kiện quân sử quan trọng của Việt ” (67) . Trong cuộc phỏng vấn dành cho Ted Gittinger , tác giả The Big Story nói về kinh nghiệm của ông khi là phóng viên chiến trường của tờ Washington Post tại Việt Nam. Trước khi sang Việt Nam, Braestrup nhận chỉ thị từ chủ nhiệm Benjamin Bradlee rằng : “ Tôi chỉ muốn một phóng viên viết thẳng và anh viết những gì anh thấy ” Theo Peter Braestrup , “ một trong những “vấn đề” của giới truyền thông Mỹ tại Việt Nam khi cộng sản mở cuộc tấn công Mậu Thân là nhân sự . Số ký giả tại chiến trường quá ít , nhân sự không được như cuộc tấn công mùa hè 1972 , do đó thông tin , phân tích , nhận định không phong phú như tin tức chiến trường hè 1972 . Về biến cố Mậu Thân , tạp chí Time là cơ sở truyền thông có cố gắng lớn nhất , thực hiện những phân tích dựa theo thông tin từ chiến trường khắp miền Nam Việt Nam . Cả tháng trời sau ngày Việt Cộng mở cuộc tổng tấn công, ký giả Hoa Kỳ vẫn không có đủ dữ liệu về kết quả thực sự của chiến trường để xác định “ Tổng tiến công , tổng nổi dậy ” là thất bại lớn của quân cộng sản Việt Nam về mặt quân sự . Trong thời gian đó , người duy nhất cho rằng Việt Cộng đã thất bại quân sự là Ðại sứ Bunker ; ngay cả Tướng Westmoreland cũng chỉ xác định quân cộng sản thua lớn ( như Ðức thua ở trận Ardennes, năm 1944 ) trong một cuộc trả lời phỏng vấn với AP vào 22 tháng 2, 1968. Cùng lúc, đa số ký giả Mỹ, dù không đủ thông tin , đã đưa tin và nhận định về tình hình chiến sự Mậu Thân rất bi quan và bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa ( VNCH ) và đồng minh ” .

Một “ vấn đề ” khác của truyền thông Mỹ tại Sài Gòn , theo Braestrup, là giới truyền hình . Braestrup cho rằng trong nhóm truyền hình Mỹ tại Việt Nam chỉ có vài người đáng được gọi là ký giả . Giới truyền hình Mỹ , nói chung , chỉ muốn làm “ phim chiến tranh ” với giọng thuyết minh đầy kịch tính . Cuộc chiến Việt Nam trên màn hình TV Mỹ là sản phẩm như của Holywood ; Ðồng lương to , studio mới , ngoại hình bắt mắt quan trọng hơn là sự thực ở chiến trường ”

Giới truyền thông Mỹ thất bại trong trách nhiệm thông tin về cuộc “ Tổng tiến công , Tổng nổi dậy ” vì cách sử dụng thông tin đã có , do thiếu thông tin cần phải có lúc đó , và do không có thông tin nhưng vẫn làm như đã có , v...v.... (68)


4.4. Trường hợp của Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan .

Nói đến biến cố Tết Mậu Thân mà không nhắc tới Cố Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan là một thiếu sót lớn nếu không nói là đắc tội với ông .

Vài ngày trước khi biến cố này xảy ra ở Sài Gòn vào đêm mồng 1 Tết , ông Loan đã ra lệnh cho Tổng Nha Cảnh sát và các Ty , các Chi cảnh sát đào giao thông hào, sắp bao cát chuẩn bị , như thế nghĩa là ông nắm vững tin tình báo Cộng sản sẽ tấn công vào dịp Tết .

Khi vụ Mậu Thân xảy ra ở Sài Gòn, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu về Mỹ Tho ăn Tết , nên Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ đã điều động cuộc chiến phản công tại thủ đô .

Một tên Việt Cộng mặc đồ dân sự tên Nguyễn Văn Lém ( tự Bảy Lốp ) tại mặt trận Chợ Lớn đã giết rất nhiều thường dân và cả gia đình Trung Tá Nguyễn Tuấn gồm cả mẹ già 80 tuổi . Chỉ có một bé trai 10 tuy bị thương nặng nhưng được cứu sống . Nguyễn Văn Lém bị bắt gần một hố chôn tập thể 34 thường dân bị giết . Lém khai rằng y rất tự hào là tác giả hố chôn tập thể đám người này , vì đã hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao phó . Lúc bị bắt , Lém mặc quần xà lỏn , áo sơ mi cụt cánh , hai tay bị trói trặt về phía sau mông , nhưng trong người vẫn còn đeo khẩu súng lục . Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã được báo cáo về những hành động giết người dã man của Nguyễn Văn Lém và chính ông đã hành quyết Nguyễn Văn Lém ngay tại phạm trường .

Tất cả diễn tiến vụ tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn tên đặc công Việt Cộng Nguyễn Văn Lém tức Bảy Lốp đều được ghi vào ống kính của Eddie Adams . Cũng có một người Việt Nam , ông Võ Sửu của đài NBC quay được cảnh đó , nhưng chỉ có bức hình của Adams là được các báo trên thế giới đăng tải . Admas kể lại lúc Tướng Loan bắn Bảy Lốp như sau : “ Lúc đầu, tôi tưởng Lém được dẫn đến để Tướng Loan thẩm vấn . Khi ông rút súng chĩa vào Lém, tôi cũng vẫn còn tưởng là ông chỉ dọa thôi . Hóa ra , ông bắn thật ”

Sau khi bắn Bảy Lốp , Tướng Loan nói với Eddie Adams : “ Tên Việt Cộng này đã giết nhiều người Hoa Kỳ và người của tôi ” . Tướng Loan cũng nói với các ký giả : " Những tên này đã giết vô số dân chúng và tôi nghĩ rằng Ðức Phật sẽ tha thứ cho tôi "

Nhóm phản chiến tại Hoa Kỳ đã tận lực khai thác bức ảnh để làm phương tiện đòi chấm dứt ngay tức khắc cuộc chiến tranh Việt Nam . Bức ảnh này đã đem lại cho Eddie Adams hai giải thưởng cao quý Pulitzer và World Press Photo chỉ một năm sau - 1969 . Phong trào phản chiến tiếp tục nổ ra khắp nơi khiến chính quyền Hoa Kỳ tìm mọi cách rút ra khỏi Việt Nam khiến cho Việt Nam Cộng Hoà chết tức tưởi vào ngày 30-4-1975 .

Sự kiện bi đát của Miền Nam đã làm cho Eddie Adams hối hận.

Ông thuật lại rằng : “ Tôi mặc bộ đồ dạ hội sang trọng để lãnh giải thưởng và tiền thưởng về bức hình đó tại Ðại Hội Nhiếp Ảnh ở Hòa Lan . Khi ban nhạc trổi bài quốc ca Hoa Kỳ , tôi bật khóc . Không phải tôi khóc vì sung sướng , mà khóc cho Tướng Loan . Cho tới giờ phút đó , tôi vẫn chưa ý thức được việc tôi đã làm . Khi chụp tấm hình đó , tôi đã hủy hoại đời ông Tướng , vì ông bị dân chúng ở cả nước ông lẫn Hoa Kỳ lên án về tội giết tù binh chiến tranh . Trong bất cứ cuộc chiến nào , người ta cũng vẫn thường làm như vậy , nhưng hiếm có nhiếp ảnh viên nào chụp được mà thôi ” .

Sau này , Eddie Adams thường nói : “ Tướng Loan là một vị anh hùng của chính nghĩa . Bức hình tôi chụp đã lừa dối công luận . Ông chiến đấu cho cuộc chiến của chúng ta , không phải cuộc chiến của họ . Vậy mà mọi điều nhục nhã lại đổ trên đầu con người này ” .

Ngày 5-5-1968 , Tướng Loan bị trọng thương cả hai chân trên cầu Phan Thanh Giản khi Cộng Sản mở cuộc tổng công kích lần thứ hai . Ông được đưa qua Úc chữa trị nhưng công luận Úc phản đối nên lại được đưa qua Hoa Kỳ tại bệnh viện Walter Reed Army Medical Center ở Washington D.C.

Năm 1975 , khi Miền Nam mất , Tướng Loan đến Hoa Kỳ . Nữ dân biểu New York Elizabeth Holtzman yêu cầu trục xuất ông với sự đồng ý của Sở Di Trú và Nhập Tịch Hoa Kỳ . Nhưng Tổng Thống Jimmy Carter đã lên tiếng can thiệp và cho ông định cư tại Hoa Kỳ . Ông và gia đình lập nghiệp tại thành phố Springfield , mở tiệm Pizza. Eddie Adams đã tìm tới tiệm này gặp thăm Tướng Loan và nhắc lại tấm hình oan nghiệt năm xưa nhưng Tướng Loan an ủi Eddie Adams : “ Ông làm nhiệm vụ của ông , tôi làm nhiệm vụ của tôi . Chỉ có thế thôi ” .

Tướng Nguyễn Ngọc Loan chết ngày 14-7-1998 vì bị bệnh ung thư, thọ 68 tuổi để lại vợ , bà Mai Chính , 5 người con và 9 cháu nội ngoại . Nhận được tin này , Eddie Adams đã viết bản điếu văn đầy nước mắt đăng trên tạp chí TIME số phát ngày ngày 27-7-1998 :
“ Tôi đoạt giải Pulitzer trong năm 1969 nhờ tấm ảnh chụp một người bắn vào một người khác . Trong tấm ảnh đó có đến hai người chết : " Người nhận lãnh viên đạn và Tướng Nguyễn Ngọc Loan " . Ông Tướng đã giết tên Việt Cộng , nhưng tôi giết ông Tướng bằng cái máy ảnh của tôi . Những tấm ảnh vốn là những thứ vũ khí kinh khủng trên thế giới . Người ta tin tưởng vào chúng , nhưng những tấm ảnh đó cũng có thể nói láo , thậm chí không cần phải ngụy tạo . Chúng chỉ nói lên được có phân nửa của sự thật . Những gì mà tấm ảnh này chưa nói lên được là “ Người ta sẽ hành động ra sao nếu họ ở vào vị trí của ông Tướng, vào cái thời điểm và nơi chốn của một ngày nóng bức , khi người ta vừa bắt được một tên gọi là ác ôn mà trước đó hắn đã bắn chết một , hai hay ba người lính Mỹ ? ” .

Tướng Loan là một mẫu người có thể được gọi là chiến binh đúng nghĩa và được thuộc cấp kính trọng . Tôi không nói rằng những gì ông Tướng đã làm là đúng , nhưng người ta phải tự đặt mình vào vị trí của ông . Tấm ảnh không hề diễn tả được rằng ông Tướng đã tận tụy dành nhiều thì giờ đến các bệnh viện để thăm hỏi những nạn nhân chiến cuộc . Tấm ảnh này đã thực sự làm đảo loạn cuộc đời ông . Ông chẳng hề phiền trách gì tôi . Ông nói với tôi rằng : " Nếu tôi không chụp tấm ảnh , thì sẽ có người khác làm việc đó, nhưng tôi vẫn cảm thấy bứt rứt xốn xang về ông và gia đình ông trong một thời gian dài . Tôi vẫn thường liên lạc với ông , lần cuối cùng mà chúng tôi nói chuyện với nhau đã xảy ra hồi sáu tháng trước, vào lúc ông đã bị bệnh rất nặng " .

Trong một đoạn khác, Eddie Adams tỏ ra rất ân hận về bức ảnh :
“ Trong đời tôi, bức hình này đã gây ra bao nhiêu lời chỉ trích. Bức hình đã làm tôi đau đớn . Tôi đã bắt đầu nghe được điều này ngay khi bức hình được tung ra . Như quý vị đã biết: Nó đã gây nên những cuộc biểu tình vào năm 1968 và đã tạo ra sự giận dữ và phẫn nộ tại Hoa Kỳ ” (69) .

Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan sinh ngày 11-2-1930 tại Huế, tốt nghiệp Khóa 1 Trường Võ Khoa Thủ Ðức , thụ huấn phi công tại Hoa Kỳ năm 1953. Năm 1964 ông vinh thăng Ðại Tá, giữ chức Tư Lệnh Phó Không Quân Việt Nam Cộng Hoà . Trong chiến dịch Mũi tên Lửa ( Flamming Dart ) , ngày 11-2-1965 , ông dẫn đầu những phi đoàn Bắc phạt A 1 Skyraider vượt qua vĩ tuyến 17 bắn phá miền Bắc Việt Nam . Sau đó ông làm Tổng Giám Ðốc Cảnh sát Quốc Gia kiêm Giám Ðốc Nha An Ninh Quân Ðội , phụ trách Ðặc Ủy Trung Ương Tình Báo . Ông có biệt danh Sáu Lèo. Lực lượng Cảnh sát Quốc Gia dưới thời ông có những thay đổi mới về khả năng và tinh thần phục vụ.

Một bài viết mới đây của Liên Thành có tên “ Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan ” 70 dựa trên bài viết của Tiến sĩ Trần An Bài để minh xác lại việc làm của Tướng Loan trong việc xử tử tên Việt Cộng Nguyễn Văn Lém tức Bảy Lốp và cung cấp cho độc giả nhiều mẩu chuyện anh hùng , ái quốc qua con người ông Loan . Trong tác phẩm Biến Ðộng Miền Trung , Những bí mật chưa tiết lộ giai đoạn 1966-1968-1972 , sách dày 463 trang , xuất bản năm 2008 , tác giả Liên Thành đã dành trên 100 trang sách để nói về biến cố Tết Mậu Thân cùng các sự kiện lịch sử khác ở Thừa Thiên – Huế . Thiết tưởng bạn đọc nên tìm đọc cuốn sách này để biết sự kiện nóng hổi từ một chứng nhân lịch sử .





Phần kết.



Tại cuộc Hội thảo Thế giới tổ chức ở Hà Nội từ 18 tháng 6 đến 27 tháng 7 năm 2007 do Viện đại học Princeton tổ chức, khi bị sinh viên Zachary Ruchman chất vấn về việc Việt Cộng giết đồng bào tại Huế Tết Mậu Thân , Tiến Sĩ Nguyễn Ðình Lê đã chối quanh và nói rằng “ Cuộc thảm sát này do Mỹ ngụy tạo rồi đổ lỗi cho Việt Cộng đã giết người... ” (71) .

Năm ngoái, trong bài báo đăng trên tờ báo Tết Thanh Niên Xuân Mậu Tý , Phan Duy Nhân ( tức Phan Chánh Dinh , bí danh Nguyễn Chính , học sinh cùng lớp Ðệ Tam C Trường Trung học Phan Chu Trinh , Ðà Nẵng năm 1959 với tôi và Trần Vinh Anh , Lam Hồ, Luân Hoán ) , cán bộ Cộng sản nằm vùng hoạt động qua các phong trào biến động miền Trung 1964 , 1966 , bị tù Côn đảo , nguyên quyền Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ , nghỉ hưu tại Sài Gòn , người Huế, đã trơ tráo khi cho rằng : “ Từ sự kiện Mậu Thân , chúng ta đã thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc thành công nhất , ngoạn mục nhất ” (72) .

Vụ thảm sát Tết Mậu Thân trong đó già có , trẻ có , dân thường có , quân cán chính có , linh mục có , tu sĩ có , kể cả các giáo sư đại học người ngoại quốc phải chăng là phản ảnh chính sách đại đoàn kết dân tộc của cộng sản ? . Sự kiện Mậu Thân thành công nhất phải chăng là chính sách lừa bịp của Cộng Sản được thực hiện rất nhiều lần đối với các nạn nhân của chúng : " dân Huế được kêu tới phường , khóm kê khai tên tuổi rồi cho về , ít ngày sau kêu lại và giữ luôn đưa đi thủ tiêu " ; trước khi đưa dân vô tội đi giết ,cán bộ cộng sản còn đánh lừa một lần chót : “ chúng ta sắp đến trại học tập rồi. Vậy trong anh em ai có một là vàng , hai là tiền , ba là đồng hồ , bốn là bật lửa thì nộp lại để Cách mạng giữ cho , học xong ba ngày sẽ trả. Kẻo vào trại, ăn cắp lẫn nhau rồi lại đổ lỗi cho Cách mạng, nói xấu cán bộ ” (73) . Sự kiện Mậu Thân được kể là ngoạn mục nhất , theo Phan Duy Nhân , phải chăng chính là hình ảnh hàng loạt người dân Huế đói khát , bơ phờ bị trói giật hai cánh tay đàng sau , xâu lại từng xâu bằng dây kẽm gai , rướn mình đi dưới mưa bụi và tiếng hò hét của cán binh cộng sản về một bìa rừng , con suối ở Khe Ðá Mài hay trên động cát ở Vinh Thái , trước những chiếc hố dài do họ tự đào lấy được phĩnh là để làm chỗ núp bom đạn và dẫn nước cho dân cày cấy để rồi nhận lấy những cán cuốc bổ vào đầu, bị đâm chém bằng dao búa, hoặc bị chôn sống âm thầm mà tức tưởi khôn nguôi ?

Nhân nói về vụ Mậu Thân ( 1968 ) thiết tưởng cũng cần ghi lại ở đây những việc đồng bào Huế nhất là các chiến sĩ Xây dựng Nông thôn Thừa Thiên đã làm trong công tác truy tầm , khai quật , cải táng hàng nghìn bộ hài cốt nạn nhân Tết Mậu Thân để nói lên lòng biết ơn của chúng ta , một sự việc ít thấy ai nhắc nhở đến .


Nước sông Hương chứng tích hờn căm ,
Gạch thành Huế dấu xưa phẫn nộ.



Trên đây là hai câu thơ mà anh Nguyễn Ðức Viên (1920-2005), Bí thư Thành Ủy Việt Nam Quốc Dân đảng Huế một cán bộ lãnh đạo cao cấp của Việt Nam Quốc Dân Ðảng ( người đã từng bị Việt Minh bắt giam tại Trại Ðưng , Hà Tĩnh, 1947-1754, bị chế độ Ngô Ðình Diệm cầm tù từ 1957-1963 và sau 30-4-1975 bị Cộng Sản tập trung cải tạo từ 1975 - 1988 ) , người anh em kết nghĩa với tôi, đã đọc cho tôi nghe trong trại tù Nam Hà ( Hà Nam Ninh ) cùng kể lại những lần anh tổ chức tưởng niệm nạn nhân vụ Tết Mậu Thân tại Huế trước năm 1975 với niềm cảm xúc lắng đọng. Ðây là hai câu thơ được viết bằng chữ thật lớn sơn đen trên nền trắng dọc theo kỳ đài trước cửa Ngọ Môn nói về tội ác của Cộng Sản Bắc Việt trong biến cố bạo tàn này .

Trong Tết Mậu Thân , cán bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng bị Cộng Sản giết có Giáo sư Phạm Ðức Phác , ông Lê Ngọc Kỳ , và tài liệu Việt Cộng có ghi bắt được 50 đảng viên VQ , nhưng riêng Ðại Việt Cách Mạng Ðảng đã chịu nhiều thiệt hại về nhân sự ( khoảng 300 đảng viên ) như việc ông Từ Tôn Kháng , Tỉnh Ðoàn Trưởng Xây Dựng Nông Thôn Thừa Thiên bị Việt Cộng sát hại chung với nhiều đồng bào trong các hố chôn tập thể, và các ông Trần Ngọc Lộ, cũng là một cán bộ của Đại Việt Cách Mạng ( ÐVCM ) cùng vợ con bị Việt Cộng thẳng tay giết chết tại xã Phú Lưu, hoặc Nguyễn Thiết bị đánh bằng bọng cuốc, hoặc như sinh viên Trần Mậu Tý Đại Việt Cách Mạng ( ÐVCM ) bị nhóm Nguyễn Ðắc Xuân trả thù hành hạ cho đến chết. Ngoài ra còn có các ông Hồ Ðắc Cam, nhân viên nhà đèn, Kim Phát, anh Liên, sĩ quan cảnh sát, Võ Văn Tửu, Phó thẩm sát viên cảnh sát, cụ Trần Ðiền, cựu tỉnh trưởng Quảng Trị, Thượng nghị sĩ Việt Nam Cộng Hoà , thân hữu của nhiều cán bộ cao cấp Ðại Việt... cũng bị Việt Cộng giết .

Việc ông Từ Tôn Kháng bị Việt Cộng giết có nhiều tư liệu nói khác nhau như chúng tôi có đề cập ở phần trên. Sau khi ông Từ Tôn Kháng bị bắt có dư luận cho rằng Việt Cộng đã thiết lập một tòa án để xử ông vì không chịu ra trình diện, sau 5 , 6 ngày trốn trên gác thượng ( mà dân Miền Trung thường gọi là “ cái tra ” ), nhưng dân chúng tham dự phiên tòa đều nhất loạt xin tha cho ông . Dĩ nhiên bọn Việt Cộng đời nào chịu . Theo lời bà Nguyện , vợ của ông Kháng kể lại thì trước đó ngày nào bọn du kích nằm vùng cũng tới lục soát trong nhà để tìm ông nhưng không tìm được . Có lúc bọn đó dọa bắt mấy đứa con gái của ông hãy còn nhỏ , lúc khác bọn chúng lại dọa đốt nhà , vì nhà của ông bà Từ Tôn Kháng là một cơ ngơi rộng rãi gồm ba , bốn nhà ngói ở chung trong một khu vườn lớn của tổ tiên để lại . Bị đe dọa riết cuối cùng bà Nguyện phải chỉ nơi ông Kháng trốn nên Việt Cộng bắt ông dẫn đi , đi đâu thì chính bà Nguyện cũng không biết . Sau này, anh em cán bộ Xây Dựng Nông Thôn ( XDNT ) tìm được chỗ Việt Cộng giết ông Kháng là một cái hố nông . Ông Kháng là người to con , bị trói tay chân ngồi sụp xuống hố và Việt Cộng chôn sống ông có lẽ cũng không sâu lắm . Trong người ông còn để lại giấy tờ tùy thân như thẻ căn cước bọc nhựa , Chứng minh thư Tỉnh Ðoàn Trưởng Xây Dựng Nông Thôn , bằng lái xe v...v....

Sau khi ông Từ Tôn Kháng chết , ông Nguyễn Ngọc Cứ ( cán bộ ÐVCM ) vốn là Trưởng Phòng 3 Tỉnh Ðoàn được đưa lên làm Tỉnh Ðoàn Trưởng , cùng một số nhân viên như Mai Ðức Th. , Lê Hữu B. , Phạm Văn Nghi , Lê Quang T. , Lê Châu Nghĩa , Nguyễn Ngọc Di , Hoàng Xuân Khiết , Hồ Ðức Hiệt , Phan V. , Phan Xuân Hiếu v.v... là những người từng đóng góp nhiều công sức , cùng với các tổ chức khác , trong việc truy tầm các mồ chôn tập thể và tổ chức cải táng các nạn nhân trong vụ Tết Mậu Thân . Nhiệm vụ của cán bộ Xây Dựng Nông Thôn lúc bấy giờ ngoài việc hỗ trợ cho Quân đội Việt Nam Cộng Hoà và Ðồng Minh tái chiếm lại Thành phố Huế còn là việc giúp dân chúng ổn định cuộc sống , làm các công tác dân vận như an ninh thôn ấp, sửa trường học, đào giếng, giúp dân sửa nhà cửa, thăm hỏi các gia đình nạn nhân Cộng Sản , thống kê lại danh sách dân chúng trong thôn ấp, phường khóm xem ai còn , ai mất .

Ngày 9 tháng 4 năm 1968, quân đội và cán bộ Xây dựng Nông thôn Thừa Thiên đã khám phá ra nhiều mồ chôn tập thể tại Lang Xá Cồn , cách An Cựu chừng 5 cây số thuộc quận Hương Thủy . Một người con nuôi trong gia đình nghị sĩ Trần Ðiền đã đi theo đoàn người đi tìm thân nhân , đến tại Lang Xá Cồn và nhận ra xác của nghị sĩ trong một mồ chôn tập thể . Ông bị chôn chung với một số người khác , áo quần còn nguyên vẹn , mặt ông nằm úp xuống, dính với lớp đất sét ướt . Vì là mùa đông , mưa lạnh , nên xác của nạn nhân vẫn còng nguyên vẹn , chưa bị thối rữa . (74)

Vào khoảng tháng 3 năm 1969 , ông Phan Xuân Hiếu , Trung đội trưởng Nghĩa quân TTH/100 ( sau làm Xã Trưởng xã Phú Xuân cho đến ngày mất nước ) trong một cuộc hành quân phối hợp với quân đội Hoa Kỳ , khi qua vùng Núi Cát đã phát hiện một chiếc nạng gỗ lòi ra trên mặt đất nên toàn trung đội đã dừng lại và cùng với lực lượng Ðồng Minh đào bới chỗ đó vốn thuộc phạm vi làng Ðông Sơn , xã Phú Xuân , quận Phú Thứ , phát hiện được bảy hầm , mỗi hầm có khoảng 7 , 8 xác người bị chôn sống , đầu bị đấp vỡ sọ , tay chân bị trói , và hai giao thông hào gồm khoảng 50 xác chết cũng với tình trạng như trên . Ðến đây tưởng cũng nên nhắc lại là trong vụ Tết Mậu Thân , Việt Cộng chiếm xã Phú Xuân , tập trung dân chúng trong xã lại tại nhà ông Phan Xuân Hiếu vì đây là một căn nhà ngói ở vùng quê có vườn rộng rãi . Trong số dân xã bị bắt có ông Lê Chinh ( làng An Hạ, xã Phú Xuân ) là Ấp trưởng, ông Phan Duy ( làng An Hạ ) và Lê Khâm ( làng Xuân Hổ ) là hai ấp phó an ninh , một người nữa là Phan Huề , thường dân . Cũng may là ông Hiếu lúc bấy giờ đang dẫn đầu trung đội hành quân tại một địa điểm khác nên không bị Việt Cộng bắt .

Sau mấy ngày giam giữ dân làng trong khu nhà đó , Việt Cộng nói là đưa lên “ xanh ” ( tức là vào trong núi ) để đi học tập vài ngày rồi sẽ cho về lại yên tâm làm ăn . Trước khi dẫn đi , Việt Cộng cho trói tất cả dân làng lại với nhau cứ chục người một toán bằng dây kẽm gai hoặc dây điện thoại , và cho tịch thu tất cả mọi giấy tờ tùy thân của những người bị bắt nói là chuẩn bị để lội qua sông sợ giấy tờ của đồng bào bị ướt . Ai cũng nghĩ rằng Việt Cộng đang tính quỷ kế gì đây vì dân làng ở đây đã lâu năm đều biết rõ xung quanh đây làm gì có sông ! . Chỉ toàn là bãi cát, đồi đất mà thôi ! Khi bị giải đi , các ông Lê Chinh , Phan Duy , Lê Khâm , Phan Huề đã tìm cách cởi trói và thoát được vì biết đường đi tại địa phương . Số còn lại không dám mạo hiểm nên phải lãnh những cái chết rất thương tâm .

Sau khi Trung đội trưởng Phan Xuân Hiếu báo tin tìm được hầm chôn người , các ông Chinh , Duy , Khâm , Huề đã là những người chỉ đường để lực lượng Xây Dựng Nông Thôn , Nhân Dân Tự Vệ trong xã Phú Xuân tiếp tục tìm được thêm các hầm khác cách xa xã Phú Xuân hơn một cây số . Ông Phân Xuân Hiếu liền báo cáo cho Chi khu Phú Thứ và Chi khu báo về Tiểu Khu . Ông Nguyễn Ngọc Cứ lập tức điều động anh em về Phú Thứ lo đào bới các vùng nghi ngờ có dấu chôn người, các toán khác lo nhận dạng hoặc liên lạc với thân nhân để thông báo tin tức . Ông Mai Ðức Th., Trưởng Phòng 5 Tỉnh Ðoàn tiếp nhận tin tức, viết bài tường thuật đưa lên Ðài phát thanh, Truyền hình Huế đề dân chúng theo dõi biết tin tức thân nhân bị bắt và thảm sát trong vụ Tết Mậu Thân . Cả một thành phố đau thương, tức tưởi với hàng chục ngàn người chạy đôn chạy đáo từ chỗ nọ sang chỗ kia dò hỏi tin tức . Sau đó các thi hài nạn nhân được đưa về tập trung tại trường trung học La San Phú Thứ , số được thân nhân nhận diện sẽ theo họ về cải táng tại quê nhà , những ai được ghi nhận là Phật giáo hay Công giáo được để riêng ra hai bên . Sau đó anh em cán bộ Xây Dựng Nông Thôn đã đặt riêng từng thi hài cuộn lại trong vải nylon màu đen để trên từng chiếc võng và cứ hai người khiêng một võng đi bộ hàng chục cây số cùng với thân nhân và chính quyền, đoàn thể, đảng phái, tôn giáo tỉnh Thừa Thiên lên chôn ở núi Ba Tầng, Ba Ðồn phía sau núi Ngự Bình. Tang tóc thực sự một lần nữa phủ lên thành phố Huế trước những hình ảnh đau thương đó.

Các địa điểm khai quật khác như Khe Ðá Mài thuộc quận Nam Hòa, Vinh thái, Phú Lương, Ðông Di, Bãi Dâu, Gia Hội, Chợ Thông, chùa Tường Vân v.v... cũng là những chỗ ghi dấu hình ảnh người cán bộ Xây Dựng Nông Thôn tận tụy trong công tác tìm kiếm lại di hài các nạn nhận xấu số bị Việt Cộng sát hại dã man trong biến cố Tết Mậu Thân. Sau ngày chiếm Huế, Việt Cộng đã san bằng hai địa điểm Ba Tần và Ba Ðồn này để cố tẩy xóa dấu vết tội lỗi của chúng.

Xin tâm thành ghi ơn các anh em cán bộ Xây Dựng Nông Thôn , Nhân Dân Tự Vệ , bà con trong khắp thôn ấp , khóm phường Thừa Thiên – Huế đã hy sinh, chịu đựng hôi hám, không chỉ một vài giờ mà hàng tuần, hàng tháng, vất vả trong công tác từ thiện cải táng hàng ngàn đồng bào bị thảm sát dưới tay bọn Việt Cộng đã mất hết nhân tính . Một đảng viên Ðại Việt Cách Mạng tên Trọng , khi ở trại tù Bình Ðiền thuộc tỉnh Thừa Thiên, bất ngờ đã gặp một tên cán bộ Cộng Sản gốc người Nghệ An bị giam vì tội tham nhũng . Khi đã quen thân với ông Trọng , tên Việt Cộng này thú nhận rằng chính hắn là kẻ đã từng nhúng tay vào máu nạn nhân vụ Tết Mậu Thân tại Huế . Ông Trọng hỏi tên này : “ Thật sự anh đã giết bao nhiêu người ? ” . Tên kia đáp : “ Trên một trăm người , toàn dùng cuốc và báng súng thôi ” . Ông Trọng hỏi : “ Sao anh ác dữ vậy ? ” . Hắn thản nhiên nói : “ Ðó là lệnh trên , vì để an toàn bí mật quân sự và cũng để tiết kiệm đạn ” .

Trong bài Huế hôm nay viết sau Tết Mậu Thân 1968 , nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã có nhận xét về người xứ Huế lúc bấy giờ : “ Nhìn vào Huế tháng Hai , tôi thấy một bộ mặt sụp đổ của thành phố cổ kính . Tôi nghe giọng buồn nhất ở khắp nơi trong địa ngục kéo dài suốt tháng này . Họ là những người còn sống sót trong những cuộc chém giết , dường như họ chỉ còn xác mà không hồn . Nỗi buồn trốn mất khi nỗi đau khổ quá lớn . Tất cả dân Huế cùng với nhau suốt khoảng thời gian nguy hiểm nhất , đều đã thở bầu không khí bẩn thỉu nhất của trại tị nạn. Tất cả đều đã biết được sự tận cùng của đau khổ... Máu đã chảy và thấm xuống đất thành phố... Những ngôi mộ ở chùa Áo Vàng , tại Bãi Dâu , tại Kim Long , tại Long Thọ là những dấu vết của một bạo lực hung ác không thể quên được trong tâm hồn những người còn sống ” (75) . Xin để lịch sử phán xét người nhạc sĩ tài hoa nhưng khá ngây thơ này của xứ Huế, đã một đời “ nối giáo cho giặc ” tuy nhiên cũng xin dùng những lời trên đây làm kết từ cho bài viết này . Chính sách của Cộng Sản Việt Nam là gian trá kết hợp nhuần nhuyễn với bạo lực. Buồn thay, người nhạc sĩ tuy thấy được bộ mặt của bạo lực nhưng vẫn nhắm mắt đi theo gian trá để lại bao tiếc rẻ cho nhiều người . *




Nguyễn Ðức Cung
New Jersey 20.03.2008 - 17.01.2009


--------------------------------------------------------------------------------

CHÚ THÍCH:

55. - Cecil B. Currey, Sđd, tr. 268.
56. - Trọng Ðạt, Bài đã dẫn, tr. 61.
57. - Peter Macdonald, Giap, The victor in Vietnam , W.W. Norton & Company, New York , London, 1993, tr. 268.
58. - Peter Macdonald, Sđd, tr. 268.
59. - Peter Macdonald, Sđd, tr. 260.
60. - Thế Kỷ 21, số 227, bài “ Lần đầu tiên một viên tướng Cộng Sản thú nhận , “Cuộc Tổng tấn công vànổi dậy Xuân Mậu Thân” là một thảm bại ”, (quan điểm của Huỳnh Công Thân, trong hồi ký “Ở chiến trường Long An”, Nxb. Quân đội Nhân dân ấn hành 1994.).
61. - Trọng Ðạt, Bài đã dẫn, tr. 61.
62. - Thế kỷ 21, số 227, bài 40 năm Tết Mậu Thân BBC phỏng vấn nhà báo Bùi Tín, tr. 67.
63. - Philip B. Davidson, Sđd, tr. 486.
54. - Bùi Tín, Bài đã dẫn, tr. 67.
65. - Trần Giao Thủy, Tết Mậu Thân – 40 năm sau ( 1968-2008 ), Báo điện tử Ðàn Chim Việt, ngày 16-03-2008.
66. - Trần Giao Thủy, Bài đã dẫn, ngày 16.03.2008.
67. - Trần Giao Thủy, Tết Mậu Thân – 40 năm sau ( 1968-2008 ), Báo điện tử Ðàn Chim Việt, ngày 15-03-2008.
68. - Trần Giao Thủy , Bài đã dẫn.
69. - Những trích đoạn nói về Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan được dẫn từ bài viết của Tiến sĩ Trần An Bài, Tướng Nguyễn Ngọc Loan trong biến cố Tết Mậu Thân, Báo điện tử Vietcatholic, ngày 07-02-2008.
70. - Báo điện tử Ðàn Chim Việt, ngày 11.01.2009.
71. - Trà Mi, Cuộc thảm sát ( của Mỹ ) ở Huế, 04/1968, Báo điện tử Ðàn Chim Việt, ngày 03-03-2008.
72. - Báo Thanh Niên Xuân Mậu Tý, 2008, Hoàng Hải Vân, bài Chiến thắng Mậu Thân vẫn là thời sự, tr. 4.
73. - Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải và Phan Văn Lợi, Bài đã dẫn, tr. 73.
74. - Phong trào Giáo dân Việt nam Hải ngoại, Sđd, bài Vài nét về cuộc đời cố nghị sĩ Trần Ðiền của Nguyễn Lý Tưởng, trang 163.
75. - Trịnh Công Sơn, Huế hôm nay, Báo điện tử Talawas, ngày 22-9-2004 .


* Ðây là bài nói chuyện đã được người viết trình bày trong cuộc lễ tưởng niệm 40 năm Tết Mậu Thân, do Nhóm thân hữu tại Cộng Ðồng Việt Nam Philadelphia và Phụ Cận tổ chức khoảng đầu tháng 4. 2008 tại Philadelphia, đã được bổ sung thêm nhiều tư liệu và cập nhật hóa nội dung .




VỤ TẾT MẬU THÂN (1968) , BÓNG TỐI LỊCH SỬ ÐÃ SÁNG DẦN ? (2)



Nguyễn Ðức Cung




3 . - Tết Mậu Thân, vấn đề tình báo, tương quan tổn thất và các mặt trận chính .



Cuộc TCK - TKN của Cộng sản Bắc Việt diễn ra từ khi khai hỏa đến lúc kết thúc khoảng 25 ngày tại Huế và trong khoảng thời gian ngắn, vài ngày hoặc vài giờ tại một số trên 40 tỉnh và thị xã toàn Miền Nam . Hai địa điểm mà Cộng Sản lựa chọn để tiến hành cuộc TCK - TKN tức là tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng là đô thành Sài Gòn và thành phố Huế , cho nên ở đây chúng tôi sẽ nói rõ hơn về hai mặt trận Sài Gòn và Huế mà đề cập rất khái quát các nơi khác .


3.1. Vấn đề tin tức tình báo trong biến cố Tết Mậu Thân .

Theo giáo sư Lê Xuân Khoa, tình báo quân sự Mỹ được tin tức về những vụ chuyển quân của cộng sản và dự đoán sẽ có những cuộc tấn công trước hay sau Tết nhưng không lượng định được rằng đây là trận đánh quyết định ở mức toàn diện (33) . Như vậy , người Mỹ không có đủ dữ kiện để khẳng định rằng các cuộc chuyển quân đó là để tấn công vào đêm giao thừa Tết Mậu Thân .

Trong một cuốn sách viết về Võ Nguyên Giáp có tên Victory at any cost , The genius of Vietnam’s Gen. Vo Nguyen Giap , tác giả Cecil B. Currey cho rằng cơ quan MACV đã ước tính sai lầm khi dự đoán rằng cuộc hưu chiến Tết Mậu Thân là dịp để Cộng quân chuyển vận các vật dụng hậu cần vào miền Nam hơn là tung ra các cuộc tấn công. (34)

Trong bài báo trên Tạp chí Thế Kỷ 21 có tên Tóm lược về Tết Mậu Thân 1968 , tác giả Trọng Ðạt cho biết : “ Thiếu tá Cảnh sát Liên Thành, cựu Phó ty cảnh sát Thừa Thiên 1968, cho biết trước Tết ta đã nhận được nhiều dấu hiệu cho thấy VC sẽ tấn công, tiểu đoàn đặc công K1 của Việt Cộng đã đột nhập Huế , ông bèn trình lên Tỉnh trưởng rồi cả ông và Tỉnh trưởng cùng đến Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 1 trình bày Tướng Trưởng nhưng tin tức không được chú ý . Tại Quân khu 1, sáng mồng 1 Tết (30-1) Ðại tá Nguyễn Duy Hinh, Xử lý thường vụ Tham mưu trưởng Quân đoàn 1 đã nhấc điện thoại báo cáo Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm , Tư Lệnh Vùng I khi Việt Cộng pháo kích gần tư thất ông nhưng Tướng Lãm không tin cắt ngang cuộc điện đàm . Ngoài ra Trung Tướng Stone Tư lệnh Sư đoàn 4 Bộ Binh Mỹ ở Cao Nguyên thu được tài liệu của Việt Cộng nói về kế hoạch tấn công Pleiku, ông vội thông báo cho Trung Tướng Vĩnh Lộc , Tư lệnh Vùng II nhưng ông này không tin và bỏ về Sài Gòn ăn Tết ”(35)

Trong tác phẩm Vietnam at war, the history 1946-1975, sử gia Philip B. Davidson cho biết rằng : “ Trong một luận văn viết năm 1978, một đại tá của miền Nam, ông Hoàng Ngọc Lung từng phục vụ nhiều năm ở cơ quan J-2 JGS đã nói rằng: ' Một tuần lễ trước khi xảy ra cuộc tổng tiến công , quân lực Việt Nam Cộng Hoà bất ngờ đã có được một tài liệu tình báo từ trước đến nay chưa hề có trong người một tù nhân cấp cao . Ông ta tên Nam Ðông , chính ủy của đơn vị MR-6 ( MR-6 là Chủ Lực Miền 6 gồm cả Sài Gòn và vùng phụ cận ) bị bắt trong một cuộc phục kích khi ông ta trên đường trở về sau một cuộc họp của Trung ương Cục miền Nam ' . Sau một cuộc thẩm vấn căng thẳng kéo dài trong vài tuần lễ, Nam Ðông đã tiết lộ rằng Bắc Việt đã nhanh chóng chuyển chiến lược của họ từ cuộc chiến tranh trường kỳ sang tổng tiến công – tổng nổi dậy... ”(36)

Tiết lộ của Hoàng Ngọc Lung cũng có đôi chỗ làm cho sử gia Philip B. Davidson băn khoăn khi ông muốn hỏi rằng Nam Ðông nói cho những kẻ bắt ông về kế hoạch tiến công vào dịp Tết trước hay sau khi xảy ra các trận đánh . Chúng ta cũng thấy rằng Nam Ðông bị bắt một tuần lễ trước Tết và nếu cuộc thẩm vấn kéo dài đến vài tuần lễ thì khi ông này tiết lộ thì sự việc tấn công đã xảy ra cả tuần lễ rồi .

Một số những điều Philip B. Davidson nhắc đến ở trên là do Hoàng Ngọc Lung, cựu Trưởng Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu viết trong luận văn Tổng tấn công 1968-69; ông cũng xác định tình báo quân đội Việt Nam Cộng Hoà có bản “ nghị quyết 13 của bộ chính trị cộng sản Việt Nam ” và ngày 25/10 1967 có thêm một tài liệu khác ( “ Tài liệu hướng dẫn để hiểu rõ tình hình mới và công tác mới của ta ” ) thu được ở Tây Ninh . Phe đồng minh ngày 03.11.1967 thu được tại Dakto tài liệu của chiến trường B-3 nhằm tấn công vào cao nguyên, ngày 04.01.1968, quân báo Mỹ lại bắt được tài liệu “ Lệnh hành quân số 1 ” : Tấn công Pleiku trước Tết . Giữa tháng Giêng 1968 , một tài liệu khác của Trung đoàn 273 , Sư doằn 9 cộng sản thu được ở vùng III chiến thuật : Kế hoạch tấn công Phú Cường, Bình Dương v..v... ( Trần Giao Thủy, Web Ðàn Chim Việt, ngày 16.03.2008 ).

Một tác giả Hoa Kỳ, James J. Wirtz , đã viết cuốn The Tet offensive , Intelligence failure in war gần 300 trang để chứng minh rằng các cơ quan tình báo Việt Mỹ đã thất bại trong việc tiên đoán khả năng tấn công của Việt Cộng trong Tết Mậu Thân. Ở đầu chương 6 ( Reacting to the Tet Offensive ) , ông này viết rằng : “ Mặc dù nhiều người Mỹ tính trước chuyện Cộng Sản tấn công vào đêm 30-31 tháng Giêng , nhưng rõ ràng họ đã không nhìn thấy trước cường độ , khuôn khổ và bản chất của cuộc tiến công ”(37)

Trong một đoạn khác , tác giả Wirtz cũng khẳng định rằng: “ Lịch sử cũng chứng tỏ rằng các tổ chức tình báo Hoa Kỳ đã thất bại trong việc ước đoán một cách chính xác và đúng lúc ý đồ và khả năng của kẻ thù trước khi xảy ra cuộc chiến ”(38)

Trong cuốn hồi ký Công và tội, tác giả Nguyễn Trân cho biết: “ Tháng 11 năm 1967 , Tướng Abrams báo cáo bắt được tài liệu gần Dak-Tô nói đến một nỗ lực tấn công phối hợp trên toàn cõi miền Nam , trong lúc Sư đoàn Dù 101 bắt được một tài liệu nói về một tấn công quy mô giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến... ”(39) .

Cũng ở đoạn dưới ông Nguyễn Trân ghi thêm : “ Ngày 28 tháng 1 , An ninh Quân đội lục soát một nhà gần Qui Nhơn bắt được 11 Việt Cộng với máy ghi âm . Chúng thú nhận sẽ đánh Qui Nhơn và các thị trấn khác trong ngày Tết . Các băng ghi âm thúc giục dân chúng nổi dậy và kêu gọi quân đội theo “ lực lượng nhân dân chiến đấu cho hòa bình và chủ quyền quốc gia để hạ phát-xít Thiệu Kỳ ”(40) .

Trong cuốn sách Gọng kìm lịch sử , ông Bùi Diễm, cựu Ðại sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Hoa Kỳ đã cho biết: “ Cũng vào thời gian ấy , tin tức tình báo cho biết rằng Bắc Việt đang chuyển quân trên đường mòn Hồ Chí Minh . Phối kiểm những tin đó với những trận đánh ở Lộc Ninh và Dakto , các chuyên viên phân tích tình hình quân sự ở Sài Gòn và Hoa Thịnh Ðốn tiên đoán rằng Bắc Việt đang sửa soạn một cuộc tấn công đị quy mô và đưa ra nhiều dự đoán về kế hoạch của địch . Tướng Westmoreland thì cho rằng địch sẽ tấn công với số quân tập trung ở miền phi quân sự ngay trên vĩ tuyến 17 và xâm nhập trên đường mòn Hồ Chí Minh và thung lũng Khe Sanh , địch quân sẽ tấn công miền Trung . Ðể đề phòng , ông cho tăng cường lực lượng Hoa Kỳ đặc biệt ở Khe Sanh bằng những đơn vị thiện chiến của thủy quân lục chiến. Song cấp hữu trách quân sự Hoa Kỳ và Việt Nam hầu như không để ý gì đến một số tài liệu tịch thu được sau một cuộc hành quân ở miền Trung . Những tài liệu này cho thấy địch quân sửa soạn một cuộc tấn công hoàn toàn khác hẳn những tiên liệu của phía Việt Mỹ , một cuộc tấn công đại quy mô vào tất cả những đô thị trên khắp lãnh thổ miền Nam , phối hợp với một cuộc tổng khởi nghĩa của dân chúng miền Nam . Chiến lược đó đã được trù hoạch táo bạo và liều lĩnh đến mức độ khó tin . Nhưng mãi đến tết Mậu Thân , các nhà chức trách quân sự Việt Mỹ mới nhận là địch quân đã hành động đúng như các tài liệu bắt được cho thấy rõ ”(41) .


3.2. Tương quan tổn thất tổng quát và mặt trận Sài Gòn .

Trong cuộc TCK - TKN , Hà Nội điều động khoảng 100 tiểu đoàn chia ra như sau : 35 tiểu đoàn và 18 đại đội tại Vùng I , 28 tiểu đoàn tại Vùng II , 15 tiểu đoàn tại Vùng III , 19 tiểu đoàn tại Vùng IV , tổng cộng 84,000 người hầu hết thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam .

Cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân xảy ra trên phạm vi 44 tỉnh và thành phố Miền Nam , ở đâu cũng có sự tổn thất của địch và của ta với sự ghi nhận tổng quát của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà . Trong tháng 2-1968 :

+ Việt Cộng bị giết 41.180 người, tháng 3 - 68 bị bắn hạ 17.192 người tổng cộng 58.372 người , bị bắt làm tù binh toàn bộ 9.461 người . Trong số 84.000 cán binh được đưa vào trận Tổng công kích chỉ còn 16.168 tên chạy thoát , chưa tới 20% vũ khí bị ta và Ðồng minh tịch thu là 17.439 khẩu súng đủ các loại .

+ Phía Việt Nam Cộng Hoà có 4.950 người tử trận , 926 người bị mất tích , 15.097 người bị thương . Phía Ðồng minh có 4.120 người tử trận , 19.265 người bị thương , 600 người mất tích , về vũ khí ta mất hơn 2.000 khẩu súng , 63 máy bay bị tiêu hủy , 154 cái bị hư hại nặng , 99 chiếc bị hư hại nhẹ .

+ Ðồng minh có 60 máy bay bị tiêu hủy , 60 cái bị hư hại nặng , 116 cái hư hại nhẹ .

+ Thường dân chết trên toàn quốc có tới 14.300 người , bị thương 24.000 , tị nạn 627 ngàn người (42) .

Tại Sài Gòn, mặt trận nổ ra từ 2 giờ sáng ngày mồng 2 Tết tức 31-1-1968 và chấm dứt đầu tháng 2 Âm lịch 28-2-1968 gồm hai giai đoạn :


- Giai đoạn một : Từ mồng 2 Tết đến 9 Tết ( 31-1 đến 7-2 ) đặc công đánh dinh Ðộc Lập , Tòa Ðại sứ Mỹ , Ðài phát thanh , Bộ Tổng Tham Mưu , Phi trường Tân Sơn Nhất , các lực lượng chủ lực không kết hợp được với đặc công .

- Giai đoạn hai : từ 7-2 đến 28-2 Việt Cộng đưa các đơn vị chủ lực vào trận chiến , nhưng lúc này ta đã chuẩn bị kỹ càng đánh trả ác liệt .


Lực lượng Việt Cộng chỉ độ một nửa so với Việt Nam Cộng Hoà và Ðồng minh , hỏa lực thua kém , chúng không có vũ khí nặng như xe tăng đại bác , tuy nhiên Việt Cộng được trang bị vũ khí cá nhân tối tân như AK, B-40 . Ðịch có ưu thế chủ động tấn công , mặt trận Sài Gòn là trọng điểm . Phạm Hùng bí thư Trung Ương Cục miền Nam chỉ định Nguyễn Văn Linh tức Mười Cúc làm bí thư toàn vùng . Võ Văn Kiệt phó bí thư . Các đơn vị Cộng Sản tham gia gồm Công trường 9 có 3 Trung đoàn , Công trường 7 , 3 Trung đoàn , Công trường 5 có 2 Trung đoàn .

- Tại Tòa Ðại sứ Hoa Kỳ , 19 tên đặc công bắn thủng tường tràn vào , bị các quân cảnh Mỹ phản công hạ sát hết .

- Tại dinh Ðộc lập, 18 tên đặc công dùng B-40 đánh sập cổng tràn vào sân bị Cảnh sát , an ninh bắn hạ .- Tại Bộ Tư Lệng Hải quân, 16 đặc công tiến sát vào hàng rào nhưng bị binh sĩ hải quân tràn ra bắn hạ 10 tên , bắt sống 2 tên , 4 tên chạy thoát.

- Tại Bộ Tổng Tham Mưu , 27 đặc công tấn công bị đẩy lui, chúng lẩn vào chùa Long hoa và bị tiêu diệt hết . Một tiểu đoàn Việt Cộng tấn công Bộ Tổng Tham mưu , chiếm trường Sinh ngữ Quân đội , bị Dù đánh bật ra khỏi trận địa . Hai tiểu đoàn địch tấn công Trung tâm Huấn luyện Quang Trung nhưng bị quân phòng vệ nay lui , giết 40 tên bỏ xác tại trận .

- Tại Gò Vấp , Trung đoàn Quyết thắng Cộng sản tấn công trại Phù Ðổng ( thiết giáp ) , trại Cổ Loa ( pháo binh ) , quân ta chỉ có 40 người bị chiếm dễ dàng .

- Tại mặt trận phía Ðông , Việt Cộng tấn công Trường Bộ binh Thủ Ðức , Hàng Xanh .

- Tại mặt trận phía tây , phi trường Tân Sơn Nhất , hai tiểu đoàn Việt Cộng tới bà Quẹo đặt bộ chỉ huy tại hãng dệt Vinatexco tràn qua bãi đất trống đầu phi đạo nhưng bị một đại đội Dù , một số sĩ quan Không quân dùng hai chiến xa M-48 chận địch lại .

- Tại phía Nam, hai tiểu đoàn Việt Cộng tiến vào ngoại vi quận 7 , quận 8 , dân chúng bỏ chạy lánh nạn ồ ạt . (43)

Sau đây là nhận định của Giáo sư Lê Xuân Khoa : “ Trận công kích Sài Gòn bị thất bại mau chóng vì giới lãnh đạo Bắc Việt quá chủ quan , tin tưởng quân giải phóng sẽ chiếm giữ hay phá hủy được những cơ sở trọng yếu về hành chánh và quân sự của Việt Nam Cộng hoà và Hoa Kỳ , nhất là chiếm được Dinh Ðộc Lập và tòa Ðại sứ Mỹ để gây tiếng vang quốc tế , trong khi dân chúng thủ đô sẽ ồ ạt xuống đường biểu tình ủng hộ cuộc cách mạng giải phóng chống ngụy quyền và đế quốc Mỹ. Tất cả những mục tiêu của cuộc tấn công đều không đạt được , trừ việc đốt phá một phần kho đạn ở Long Bình , cách Sài Gòn khoảng 20 dặm . Quân giải phóng không lọt được vào Dinh Ðộc Lập , toán tấn công Tòa Ðại sứ quán Mỹ thì bị tiêu diệt khi mới lọt vào sân trước . Trung đoàn 101 chiếm được kho dự trữ Gò Vấp , nhưng các chiến xa ở đây đã được chuyển đi nới khác . Mười hai cỗ súng đại bác 105 ly để lại không sử dụng được vì bộ phận khai hỏa đã bị quân Việt Nam Cộng Hoà tháo ra đem đi mất . Những toán quân đã lọt vào thành phố không liên lạc được với nhau và bị tiêu diệt hay phải rút lui vào Chợ Lớn . Một trung đội C-10 chiếm được Ðài phát thanh có chuyên viên đem theo cuộn băng thâu sẵn của Bộ chỉ huy chiến dịch TCK - TKN nhưng không phát thanh được vì tuyến truyền thanh đã bị chuyên viên kỹ thuật của đài vô hiệu hóa bằng tín hiệu từ xa . Tại Chợ Lớn, quân giải phóng chiếm được trường đưa ngựa Phú Thọ làm trung tâm chỉ huy các cuộc chiến đấu với các lực lượng phòng vệ thủ đô , nhưng đến ngày 7 tháng Ba cũng phải bỏ chạy ”(44) .


3.3. Mặt trận Huế và các cuộc thảm sát .

Chỉ đạo mặt trận Huế là Khu Ủy Trị Thiên với hai trung đoàn chủ lực E6 và E9, 4 tiểu đoàn bộ binh của hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, 4 tiểu đoàn đặc công và các lực lượng pháo binh , công binh . Lực lượng này còn quá yếu nên Trung đoàn 9 được tăng cường . Gần ngày Tết, Trung Ương lại tăng cường thêm Trung đoàn 2 của Sư đoàn 324 , Trung đoàn 8 của Sư đoàn 325, rồi thêm Trung đoàn 3/325 và Trung đoàn 1/325 . Sau khi chiếm được Huế, Bộ cho tăng cường thêm Trung đoàn 141. Như vậy Trung Ương đã tăng cường cho Huế 5 Trung đoàn với quân số khoảng 7.500 quân (45) .

Tư lệnh Quân Khu Trị Thiên-Huế là Thiếu Tướng Trần Văn Quang , Phụ tá kiêm Trưởng ban An ninh là Ðại Tá Lê Minh , Phó Bí thư Khu Ủy trị Thiên Huế được cử làm Chính Ủy là Lê Chưởng .


3.3.1. Diễn tiến mặt trận sơ khởi và các tổ chức chính trị – hành chính – an ninh .

- Mặt trận Bắc Huế : Ðặc công phá cửa Chiùnh tây cho một tiểu đoàn chính qui Cộng Sản vào thành nội đêm mồng một Tết . Cộng quân tấn công vào đồn Mang Cá nơi đóng bản doanh Bộ Tư lệnh Sư Ðoàn I , sân bay Tây Lộc , khu cột cờ Ðại Nội, khu Gia Hội , khu chợ Ðông Ba . Việt Cộng gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của lực lượng trú phòng Ðồn Mang Cá nên không làm gì được .

- Mặt trận Thành Nội do Ðại Tá Lê Trọng Ðấu chỉ huy .

- Mặt trận Quận Nhì ( tả ngạn sông Hương ) do Chính Ủy Hoàng Lanh chỉ huy .

- Mặt trận Nam Huế : Do Tướng Thân Trọng Một chỉ huy thuộc hữu ngạn sông Hương , Nguyễn Vạn làm chính ủy . Ðơn vị này tiến chậm vì bị phi cơ thám thính Mỹ phát hiện và bị pháo kích .

Trong thời gian đầu bị tấn công bất ngờ , Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà vẫn giữ được Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn I , cơ sở MACV , Tiểu Khu Thừa Thiên , Ðài phát thanh Huế , Trường Kiểu Mẫu và cầu tàu Hải quân.

* Về tổ chức chính trị , ngày mồng 3 Tết ( tức 1-2-1968 ) Hà Nội cho công bố thành lập Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình tại Huế do Tiến sĩ Lê Văn Hảo làm Chủ Tịch với Phó chủ tịch là bà Tuần Chi ( tên thật là Ðào Thị Xuân Yến , chị vợ của Nguyễn Cao Thăng ) , Hiệu trưởng trường Nữ Trung Học Ðồng Khánh và Hòa Thượng Thích Ðôn Hậu, đương kim Chánh đại diện Phật Giáo miền Vạn Hạnh. Tổng thư ký của Liên Minh là Hoàng Phủ Ngọc Tường . Thành phần cốt cán trong đó gồm có: Nguyễn Ðóa ( cựu giám thị Trường Quốc Học ) , Hoàng Phủ Ngọc Phan , Nguyễn Ðắc Xuân , Phan Duy Nhân , Phạm Thị Xuân Quế , Tôn Thất Dương Tiềm , Tôn Thất Dương Kỵ , Tôn Thất Dương Hanh...

Liên Minh của Lê Văn Hảo là một bộ phần nằm trong Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hòa Bình của Trịnh Ðình Thảo .

* Về guồng máy hành chính , Khu Ủy Trị Thiên – Huế cho thành lập Ủy Ban Nhân Dân Cách mạng và giao cho Lê Văn Hảo làm Chủ Tịch , bà Tuần Chi ( tức Ðào Thị Xuân Yến ) và Hoàng Phương Thảo , Thường vụ Thành ủy , làm Phó Chủ tịch . Mọi quyền hành ở trong tay Hoàng Phương Thảo , còn các người kia chỉ là bù nhìn .

Ủy ban Nhân dân trong Thành Nội gồm hai quận : Quận I do Nguyễn Hữu Vấn ( giáo sư âm nhạc ) làm Chủ tịch , quận 2 do Nguyễn Thiết ( sinh viên đại học luật khoa ) làm Chủ tịch .
Tại phía hữu ngạn , Việt Cộng chỉ lo lùng bắt giết các cán bộ , công chức của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà nên chưa kịp tổ chức Ủy Ban Nhân dân .

* Về hệ thống an ninh , gồm các đại đội đặc công , võ trang tuyên truyền và các toán an ninh dưới sự điều động của Ðại Tá Lê Minh , Phụ tá Bộ Tư Lệnh Quân Khu kiêm Trưởng Ban An Ninh Quân Khu .

Chỉ huy các toán an ninh là Tống Hoàng Nguyên và Nguyễn Ðình Bảy ( tức là Bảy Khiêm ) mà địa bàn tổng quát được chia ra 4 Khu :


Khu I tức Thành Nội ( quận I ) ;

Khu 2 là quận 2 thuộc tả ngạn sông Hương (từ cầu Gia Hội kéo lên hướng tây, qua cầu Bạch Hổ, xuống An Vân ;

Khu 3 tức quận 3 thuộc hữu ngạn sông Hương gồm luôn giáo xứ Phủ Cam thuộc quận hương Thủy ;

Khu 4 từ cầu Gia Hội đến Cồn Hến .


Tống Hoàng Nguyên phụ trách Khu I và Khu 2 , Nguyễn Ðình Bảy phụ trách Khu 3 và Nguyễn Ðắc Xuân phụ trách Khu 4 .

***

Sau đây là một số nét tổng quát về nỗ lực phản công của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và Ðồng Minh .

Ngày mồng 3 Tết , đã bắt đầu diễn ra cuộc phản công của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và Ðồng Minh . Ngày mồng 5 Tết , binh chủng Nhảy Dù tái chiếm cửa An Hòa , Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ Bến tàu Hải quân . Việt Cộng sợ cánh quân Hoa Kỳ kéo từ hữu ngạn sang tả ngạn nên ngày mồng 9 Tết đã đánh sập cầu Trường Tiền . Quân đội Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ phản công mãnh liệt . Ngày 14-2 tình hình hữu ngạn được ổn định , bộ chỉ huy của Thân Trọng Một lẩn tránh tại vùng lăng Tự Ðức cho đến ngày 25-2 . Ngày 12-2 lực lượng Việt Mỹ đổ bộ lên bến Bao Vinh , trên bờ sông đào dọc đường Huỳnh Thúc Kháng gần đồn Mang Cá , mở chiến dịch Sóng Thần . Ngày 18-2 , Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ chiếm được cửa Ðông Ba . Ngày 8 Tết , cộng quân thấy rõ thất bại nên tính chuyện rút lui. Ngày mồng 8 Tết (6-2), cộng sản bắt đầu di chuyển thương binh, chiến lợi phẩm ra khỏi Huế . Ngày 15-2 , Hà Nội gửi công điện cho Cộng Sản tại Thừa Thiên nội dung “ Phải giữ Thành Nội , không được rút ra ngoài để phục vụ nhiệm vụ chính trị chung cả nước ”(46) .

Ngày 22-2 , hai tiểu đoàn Biệt Động Quân của Quân Lực việt Nam Cộng Hoà giải tỏa khá trễ khu vực Gia Hội nên Cộng Sản có cơ hội tàn sát đồng bào nhiều nhất tại nơi đây .


3.3.2. Các cuộc thảm sát và số nạn nhân tại Huế .

Trong cuốn Công và tội ông Nguyễn Trân cho biết: “ Về phía dân chúng , có 5.800 người chết, trong đó có 2.800 người bị Việt Cộng giết và chôn tập thể : 790 hội viên các Hôi đồng tỉnh , thị xã và xã bị gán tội “ cường hào ác bá ” , 1892 nhân viên hành chánh , 38 cảnh sát , hàng trăm thanh niên tuổi quân dịch , một linh mục Việt (Bửu Ðồng) , hai linh mục Pháp , một bác sĩ Ðức và vợ , và một số người Phi Luật Tân ”(47) .

Trong Encyclopedia of the Vietnam War, David Zabecki cho biết số nạn nhân tìm được trong các hố chôn tập thể là 2.810 người và hàng ngàn người bị mất tích .

Trong cuốn The Vietcong Massacre at Hue ( Vintage, New York, 1976 ), một nhân chứng có mặt tại Huế trong biến cố Tết Mậu Thân , Bác sĩ Elje Vannema cho biết tài liệu kiểm kê được qua 22 mồ chôn tập thể , số nạn nhân bị Cộng quân giết là 2.326 người, chia ra như sau :

- Trường Gia Hội : 203 người ;
- Chùa Theravada [Gia Hội] : 43 người;
- Bãi Dâu [Gia Hội] : 26 người ;
- Cồn Hến (Gia Hội) : 101 người ;
- Tiểu Chủng Viện : 6 người ;
- Quận Tả Ngạn : 21 người ;
- Phía đông Huế : 25 người ;
- Lăng Tự Ðức và Ðồng Khánh : 203 người ;
- Cầu An Ninh : 20 người;
- Lăng Gia Long : 200 người ;
- Chùa Từ Quang : 4 người ;
- Ðồng Di : 110 người ;
- Vinh Thái : 135 người ;
- Phù Lương : 22 người ;
- Phú Xuân : 587 người ;
- Thượng Hòa : 11 người ;
- Thủy Thanh – Vinh Hưng : 70 người ;
- Khe Ðá Mài : 428 người ;


Trong cuốn Vietcong Strategy of Terror, Giáo sư Douglas Pike cho biết qua vụ Tết Mậu Thân ở Huế , có khoảng 7.600 nạn nhân của Cộng Sản , trong đó 1.946 người bị mất tích .

Tạp chí Time ngày 31-10-1969 trong số nạn nhân bị giết tại Khe Ðá Mài có 390 người là giáo dân Phủ Cam .

Tư liệu của hai linh mục Nguyễn Hữu Giải và Phan Văn Lợi cho thấy hành vi bạo tàn , độc ác của Việt Cộng đối với người dân vô tội lọt vào tay chúng cũng không thua gì bọn Phát xít Ðức đối với người Do-Thái trong Thế chiến II . Khi kiểm soát được Huế , Cộng quân đã áp dụng nhiều hình thức để giết người , trước hết đó là trả thù cá nhân vì những chuyện ân oán ngày trước và muốn giết là giết liền không cần chứng cớ hoặc tòa án . Ða số các nạn nhân bị đánh bằng cán cuốc, bị đâm bằng lưỡi lê, nhất là bị chôn sống , rất ít người hưởng ân huệ được bắn vì theo lời tên Hồ Ty tức Sơn Lâm bị ta bắt đã nói rằng : “ Các anh phải biết rằng , chúng tôi không có đạn , đạn phải để dành để đánh nhau với các anh chứ đạn đâu mà bắn tù, lệnh trên bảo dùng phương tiện cuốc sẻng , dao búa để thanh toán ”(48) .

Có trường hợp nạn nhân bị tùng xẻo như Thiếu Tá Từ Tôn Kháng , Tỉnh Ðoàn Trưởng Tỉnh Ðoàn Xây Dựng Nông Thôn Thừa Thiên , đảng viên Ðại Việt Cách Mạng trốn trên mái nhà nên vợ con ông bị đe dọa nếu ông không ra trình diện thì vợ con sẽ bị bắn ngay . Thiếu Tá Kháng bèn ra hàng . Ông bị cột vào một chiếc cọc đóng giữa sân nhà và bị Cộng Sản dùng dao cắt tai , xẽo mũi cho đến khi nạn nhân chết . (49)

Trường hợp khác là ông Trần Ngọc Lộ , Bí thư Ðại Việt Cách Mạng quận bộ Phú Thứ , võ sư Thất Sơn Thần Quyền bị bắt và bị giết cùng toàn gia đình vợ con tại một xã ở quận này . Có khoảng 300 đảng viên Ðại Việt Cách Mạng bị bắt giết tại Huế cùng với vài chục đảng viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng .

Cũng có trường hợp một vài cá nhân được ra trước cái gọi là tòa án nhân dân nhưng cũng chỉ là hình thức trước khi nhận bản án tử hình cũng là một cách gọi là có ra trước tòa án . Tất cả các nạn nhân trước khi bị giết đã bị Cộng Sản lừa một lần nữa bằng cách tự lột tất cả tư trang của họ như vàng bạc , đồng hồ, nhẫn cưới , dây chuyền “ gởi cho Cách Mạng giữ dùm ” theo tư liệu của hai linh mục Nguyễn Hữu Giải và Phan Văn Lợi ghi lại theo lời kể của một nhân chứng đã thoát chết .Những tên nằm vùng Cộng Sản như Hoàng Phủ Ngọc Tường , Hoàng Phủ Ngọc Phan , Nguyễn Ðắc Xuân , v..v... vốn là những cán bộ Cộng Sản núp trong hàng ngũ Phật Giáo trong cuộc biến động miền Trung năm 1964 và 1966 . Sau khi bị chính quyền Việt Nam Cộng Hoà lùng bắt năm 1966 , bọn chúng bỏ trốn lên núi theo Việt Cộng và nay chúng bám chân bọn cán binh Bắc Việt trở lại thành phố Huế nên đã có trong tay một số danh sách những người chúng biết là nhân vật trong chính quyền , đảng phái quốc gia hay cán bộ Xây Dựng Nông Thôn .

Bên cạnh đó còn có những tên Cộng Sản nằm vùng làm đủ mọi thứ nghề nghiệp nhưng đa số là nghề lao động tay chân đã có thì giờ mai phục , len lỏi khắp các phường khóm trong thành phố như trường hợp tên Bé vô học có nghề thợ nề được đưa lên làm chủ tịch khu phố Gia Hội , hay tên Linh, người Quảng Ngãi làm nghề thầy bói .

Thực hiện chính sách thà giết lầm hơn bỏ sót mà tên Việt Cộng Hồ Ty đã nói thẳng với Phó Ty Cảnh Sát Liên Thành ở Huế , Cộng quân bắt giết ba linh mục Việt Nam là cha Nguyễn Phúc Bửu Ðồng , cha Hoàng Ngọc Bang , cha Lê Văn Hộ , ba linh mục người Pháp là Guy , Cressonnier , Valour , giết sư huynh Dòng Thánh Tâm Huế , Mai Thịnh ( Martin, thầy dạy của tác giả bài này khi còn ở Ðồng Hới , Quảng Bình năm 1953 đến khi vào Huế năm 1954 ) , tu sĩ Héc-man , và Bá Long thuộc Dòng Thánh Tâm ( Sacré Coeur ) tu viện Phường Ðức , và một số thầy đại chủng sinh như Nguyễn Văn Thứ ( bạn tu cùng lớp Tiểu Chủng Viện Huế năm 1955 với người viết bài này ) , Phạm Văn Vụ và Nguyễn Lương , hai sư huynh dòng Lasan là Agribert và Sylvestre .

Ngoài ra Việt Cộng còn giết một số các giáo sư đại học người Ðức mà chúng nghi là CIA như Bác sĩ và bà Hort Gunther Krainick , Bác sĩ Raimund Discher, và Bác sĩ Alois Alterkoster .

Trong tác phẩm Tet , the turning point in the Vietnam War , Don Oberdorfer đã ghi lại câu trả lời của Tướng Võ Nguyên Giáp lúc còn là bộ trưởng quốc phòng năm 1969 , khi được hỏi về biến cố Tết Mậu Thân : “ Chúng tôi không dính gì tới chuyện đó . Chuyện đó do Mặt Trận [ Dân Tộc Giải Phóng ] thực hiện ”( We had nothing to do with it . The [ National Liberation ] put it on ). (50) .

Giải thích về hành động giết người tập thể của Việt Cộng tại Huế, nhà báo Bùi Tín , nguyên Ðại tá quân đội cộng sản Bắc Việt , nguyên Phó tổng biên tập báo Nhân Dân Chủ Nhật trước năm 1990 , đã viết rằng : “ Cho nên những vụ tàn sát có tính chất tập thể có thể đã xảy ra ở các tiểu đoàn đang hành quân rút lui . Giữa cảnh hỗn loạn khi có lệnh rút lui... Một số đơn vị nảy ra hành động thủ tiêu tù binh để bảo đảm không lộ bí mật , không bị nguy hiểm , “ nhẹ gánh ” , “ khỏi vướng chân ” , “ sẽ chết cả nút ”... Cuối cùng cũng còn một số ít tù binh giải về căn cứ , được dùng để đào ham hố , khuân vác... một số về sau được thả về ”(51)

Nói như vậy thì nhà báo Bùi Tín giải thích như thế nào về các hố chôn tập thể xảy ra khắp trong thành phố Huế ( tại Gia Hội ) và phía nam Nam Giao khi chưa có lệnh rút lui ?

Trong cuộc phỏng vấn dành cho bà Thụy Khê, Hoàng Phủ Ngọc Tường “ lên án ” vụ thảm sát Mậu Thân tại Huế: “ Ðó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng. Nhưng tôi tin rằng đây là một sai lầm có tính cục bộ từ phía những người lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế, chứ không phải chính sách toàn cục của cách mạng. Bởi vì tình trạng giết chóc bừa bãi như vậy, đã không xảy ra ở địa phương khác trong Mậu Thân, ngay cả trên một địa bàn rộng lớn với tình trạng xen kẽ giữa những lực lượng đối địch rất phức tạp như ở Sài Gòn thời ấy ”(52) .

Xin lấy một vài ý kiến của ông Trần Gia Phụng để vạch trần luận điệu giải thích chạy tội của Hoàng Phủ Ngọc Tường :


Một là : cuộc chiến tranh do cộng sản gây ra không phải là “ chiến tranh cách mạng ” nhưng là cuộc chiến ý thức hệ do tham vọng quyền lực và bành trướng của cộng sản Bắc Việt .

Hai là : cách đổ lỗi cho cấp dưới để chạy tội cho cấp trên là thói thường trong xã hội cộng sản không thể chấp nhận được .

Ba là : không nơi nào cộng sản chiếm lâu như Huế để có thể xảy ra như Huế . Cộng sản đã giết biết bao tín hữu Cao Ðài ở Quảng Ngãi , chôn sống nhóm Ðệ tứ Quốc tế ở vùng Lòng Sông tỉnh Bình Thuận, giết Cao Ðài, Hòa Hảo ở trong Nam, giết người vô tội mà có tài để trừ hậu hoạn ( mà Cộng Sản gọi là “ giết tiềm lực ” ). (53)


Trong một bài viết có tên Bi kịch Hoàng Phủ Ngọc Tường của Ngô Minh biện hộ cho Hoàng Phủ Ngọc Tường cho rằng ông bị họa vì ông quá nổi tiếng nên bị ghét từ nhiều phía nhất là dư luận cộng đồng người Việt hải ngoại . Ngô Minh viết rằng: ” Từ gần 20 năm nay, một số cây bút ở hải ngoại không biết do thù oán, hay do ganh tỵ tiếng tăm với Hoàng Phủ khi anh đã nổi tiếng ở trong nước, đã viết bài đổ tội cho Hoàng Phủ Ngọc Tường , Hoàng Phủ Ngọc Phan , Lê Văn Hảo , Nguyễn Ðắc Xuân với những lời lẽ vô cùng đao búa như gọi là " đồ tể giết 2000 người Huế trong dịp Tết Mậu Thân " , “ thủ phạm chính của cuộc tàn sát ” , “ các hung thần can dự tới bữa tiệc máu ”(54) .

Năm 1968 , ông Ngô Minh tuổi tác bao nhiêu chúng tôi không biết nhưng có một điều chắc chắn chúng tôi biết là ở hải ngoại chẳng có ai dư thì giờ để “ ganh tỵ tiếng tăm ” với Hoàng Phủ Ngọc Tường . Trình độ của Tường thì cũng “ thường thường bậc trung ” , viết lách cũng “ tàm tạm ” nếu không nói là rất thiên lệch trong chiều hướng “ tán cộng ”. Rất nhiều ông thầy dạy Tường còn sống tại Âu châu, Mỹ và chắc chắn họ không phải là những kẻ ganh tỵ với Tường . Nhân chứng vụ Mậu Thân còn sống rất nhiều ở trong nước , tại Huế và hải ngoại, đã chứng kiến tận mắt việc làm của những người mà ông Ngô Minh muốn làm thầy cãi dùm .

Bí thư Thừa Thiên – Huế , Lê Minh đã thú nhận việc giết tù binh và tàn sát thường dân ở Huế là có thật và ông tuyên bố nhận trách nhiệm nhưng chống chế rằng cộng quân “ đã ở trong một hoàn cảnh quá khó khăn, đến không thể nào kiểm soát nổi những hành động thô bạo ” . Chẳng cần phải có hoàn cảnh thô bạo thì công sản mới hành động thô bạo . Bản chất sản sinh, hoàn cảnh nuôi dưỡng, chính sách hướng dẫn cộng sản đều mang tính chất thô bạo nên cộng sản luôn luôn hành động thô bạo.

Theo Trần Gia Phụng , năm 1988 Lê Minh có xuất bản cuốn hồi ký nói nhiều về Mậu Thân , sách bị thu hồi , bản thân ông bị thất sủng , cô lập .

--------------------------------------------------------------------------------


CHÚ THÍCH:

33. - Lê Xuân Khoa, Sđd, tr. 295.
34. - Cecil B. Currey, Victory at any cost, The genius of Vietnam’s Gen. Vo Nguyen Giap, Brassey’s, Inc., Washington, London, 1997, tr. 267.
35. - Trọng Ðạt, Tóm lược về Tết Mậu Thân 1968, Thế Kỷ 21, số 227, tháng Ba, năm 2008, trang 50.
36. - Phillip B. Davidson, Vietnam at war, The history 1946-1975, Oxford University Press, New York, Oxford, 1988, tr. 480.
37. - James J. Wirtz, Sđd, tr. 224.
38. - James J. Wirtz, Sđd, tr. 252.
39. - Nguyễn Trân, Công Và Tội, Hồi ký lịch sử chính trị Miền Nam Việt Nam, 1945-1975, Nxb. Xuân Thu, 1992, tr. 638.
40. - Nguyễn Trân, Sđd, tr. 639.
41. - Bùi Diễm, Gọng Kìm Lịch Sử, Hồi ký chính trị, Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, 2000, tr. 352.
42. - Trọng Ðạt, Bài đã dẫn, tr. 60.
43. - Trọng Ðạt, Bài đã dẫn, tr. 58.
44. - Lê Xuân Khoa, Sđd, tr. 295.
45. - Tú Gàn, Về quyết định thảm sát, Webmail.aol, ngày 5-2-2008.
46. - Chính Ðạo, Mậu Thân , 68: thắng hay bại?, Nxb. Văn Hóa, Houston, 1998, bản in lần hai, tr. 146; dẫn lại theo Trần Gia Phụng , Tàn sát Mậu Thân tại Huế 1968, Báo điện tử Ðàn Chim Việt , 05-03-2008.
47. - Nguyễn Trân, Sđd, tr. 642.
48. - Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải và Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Hướng về lễ kỷ niệm 40 năm Mậu Thân: Cuộc Thảm Sát tại Khe Ðá Mài và Bài đã dẫn của Trọng Ðạt , Thế Kỷ 21, số 227, tháng Ba năm 2008 , trang 69-75 và tr. 55.
49. - Phong trào Giáo dân Việt nam Hải ngoại sưu tập , Thảm Sát Mậu Thân ở Huế , The 1968 Massacre at Hue, bài Mậu Thân ở Huế của Nguyễn Lý Tưởng, bản in lần thứ ba tại Hoa Kỳ, 2008, trang 86.
50. - Don Oberdorfer , Sđd , tr. 45.
51. - Bùi Tín, dẫn theo Trần Gia Phụng, Tàn sát Tết Mậu Thân, Báo điện tử Ðàn Chim Việt, ngày 07-03-2008.
52. - Trần Gia Phụng , Bài đã dẫn.
53. - Trần Gia Phụng , Bài đã dẫn.
54. - Ngô Minh, Báo điện tử Talawas, ngày 2-3-2008.





VỤ TẾT MẬU THÂN (1968) , BÓNG TỐI LỊCH SỬ ÐÃ SÁNG DẦN ? (1)


Nguyễn Ðức Cung




Năm ngoái, tại buổi lễ tổ chức kỷ niệm 40 năm “Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968” tại Dinh Ðộc Lập cũ ngày 01-02-2008 , có sự tham dự của Nông Ðức Mạnh , Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam và nhiều quan chức Cộng Sản cao cấp khác , Lê Thanh Hải , Ủy viên Bộ Chính Trị và là Bí thư Thành ủy Sài Gòn đã vẫn theo một luận điệu huênh hoang cũ rích khi cho rằng : “ Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã chuyển cuộc kháng chiến chống Mỹ lên một bước mới, tạo ra bước ngoặt lớn , làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ , làm rung động nước Mỹ và vang xa ra cả thế giới... Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân là một biểu tượng sáng ngời về ý chí cách mạng quật cường của quân và dân, biểu thị tinh thần độc lập, sáng tạo, tài trí , mưu lược trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Ðảng . Xuân Mậu Thân đã để lại cho các thế hệ mai sau nhiều bài học có ý nghĩa sâu sắc mang giá trị vĩnh cửu... ” (1) .

Trong chiến tranh Việt Nam ( The Vietnam War ), biến cố Tết Mậu Thân ( 1968 ) mà sử sách của chế độ cộng sản Hà Nội gọi là Tổng Công Kích – Tổng Khởi Nghĩa ( TCK-TKN ) đã được các sử gia ngoại quốc xem là một bước ngoặc lớn trong chiến tranh Ðông Dương lần thứ hai . Biến cố Mậu Thân đã để lại nhiều ấn tượng xen lẫn kỷ niệm tang thương, đau lòng trong rất nhiều đồng bào Việt Nam tại Huế – Thừa Thiên cũng như đồng bào Miền Nam vì cái chết của biết bao người thân trong gia đình, bạn hữu, quân dân chính các cấp, các tu sĩ tôn giáo , các giáo sư đại học ngoại quốc và dân lành vô tội .

Hơn bốn thập niên trôi qua , nhiều bí ẩn do biến cố Mậu Thân vẫn còn tồn đọng khiến cho giới nghiên cứu sử học cũng phần nào băn khoăn đúng như có người đã cho rằng: “Tết Mậu Thân vẫn là chủ đề gây nhiều tranh cãi . Từ một mức độ nào đó , có người sẽ nghĩ họ đã có cái nhìn toàn diện về Tết Mậu Thân , nhưng ở một góc độ khác , nhiều người sẽ vẫn không thể hiểu và giải thích sự kiện này ” (2) .

Tuy vậy , ngày nay với sự lên tiếng của rất nhiều giới có liên quan tới biến cố Tết Mậu Thân , ngay những người sống trong hàng ngũ Cộng Sản cho đến các thân nhân các nạn nhân còn sống ở hải ngoại , sự thật lịch sử đã được phơi bày ra ánh sáng và mặc dù chính quyền Cộng Sản trong nước cố kéo níu cán cân lịch sử về phía mình, tập trung nỗ lực khai thác cái gọi là chiến thắng Mậu-Thân của họ , sự thật vẫn là sự thật và dĩ nhiên tội ác lịch sử do chính họ gây ra đối với đồng bào Huế nói riêng và nhân dân Miền Nam nói chung trong vụ thảm sát Tết Mậu Thân cũng vẫn còn nằm trong bản cáo trạng nặng nề không thể nào xóa sạch vết nhơ được .



1.- Tết Mậu Thân, điểm mốc nhìn về quá trình nỗ lực xây dựng Miền Nam và cuộc tranh chấp quyền bính trong đảng Cộng Sản Miền Bắc.


1.1. Nỗ lực xây dựng một Miền Nam trù phú và tự do.

Theo hiệp định Genève ký ngày 20.7.1954 , nước Việt Nam phải chia làm hai tại vĩ tuyến 17 mà miền bắc thuộc về chế độ Cộng Sản và miền nam thuộc về chế độ quốc gia. Người Cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ cho rằng đáng lẽ ra họ phải được chia từ vĩ tuyến 11 hay 13 tức tại Nha Trang nhưng vì áp lực của phái đoàn Trung Quốc do Chu Ân Lai cầm đầu nên phải tạm thời chấp nhận đường ranh của sông Bến Hải tại Quảng Trị . Dĩ nhiên Việt Minh không thể dễ dàng chấp nhận phần thua thiệt cho mình. Họ đã gài cán bộ lại Miền Nam, chôn cất vũ khí, một số cán bộ Cộng Sản được lệnh lập gia đình để lại vợ con với mục tiêu tính chuyện đáo hồi Miền Nam . Tám mươi ngàn cán binh Cộng Sản tập kết ra Bắc năm 1954 , sau hiệp định Genève được hứa hẹn tạm thời ổn định cuộc sống tại Miền Bắc , cũng sẵn sàng để trở lại địa bàn hoạt động cũ .

Cũng theo hiệp định Genève , sau hai năm sẽ có hiệp thương tổng tuyển cử giữa hai miền nam bắc để thống nhất đất nước nhưng Tổng thống Ngô Ðình Diệm đã bác bỏ đề nghị tổng tuyển cử của Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng khi ông cho rằng Việt Nam Cộng Hòa không ký vào bản hiệp định Genève nên không bị ràng buộc bởi văn kiện này . Ðây là lý do để Miền Bắc nhất quyết nuôi tham vọng thống nhất đất nước bằng con đường vũ lực .

Trong cuộc chiến giữa hai miền nam và bắc Việt Nam , vai trò hệ tư tưởng là một khâu quan trọng và trong khi Miền Bắc sống trong ý thức hệ Cộng Sản thì tại Miền Nam, các nhà lãnh đạo thời Ðệ I Cộng Hòa đã đưa ra chủ thuyết Nhân Vị ( Personalism ) làm đòn bẩy cho các hoạt động xây dựng các cơ chế dân chủ , xã hội của mình , ngoài những thành công trong nỗ lực xóa bỏ tàn tích của chế độ thực dân , định cư cho gần một triệu đồng bào từ Bắc vào .

Một sử gia ngoại quốc, Robert Scigliano , thuộc Viện Ðại Học Michigan đã nhận xét: “ Chủ nghĩa Nhân Vị nhấn mạnh đến sự điều hòa những ước vọng vật chất cũng như tinh thần của cá nhân với các nhu cầu xã hội của cộng đồng và các nhu cầu chính trị của quốc gia . Nó nhằm tìm kiếm một con đường trung dung giữa chủ nghĩa cá nhân tư bản và chủ nghĩa tập thể mác xít ” (3) .

Về phương diện tổ chức đời sống xã hội, nhất là ở nông thôn , Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã cho xây dựng hàng chục ngàn khu trù mật và ấp chiến lược, mà như Tiến sĩ Lâm Thanh Liêm đã mô tả “ Khu Trù Mật là một cộng đồng nông nghiệp được chính quyền thành lập và gom thôn dân vào đấy sinh sống trong những thôn xóm hẻo lánh , xa cách các trục giao thông , do đó , chính phủ không thể kiểm soát được . Trước sự đe dọa của chiến tranh xâm lược Miền Bắc , Tổng thống Diệm quyết định tập trung thôn dân sinh sống rải rác vào Khu Trù Mật, để tiện bề kiểm soát họ , đồng thời cô lập họ với “ Việt Cộng ” , giống như cá thiếu nước không thể sống tồn tại được ” (4) .

Sử gia Robert Scigliano cho biết Cộng Sản Hà Hội ầm ĩ phản đối chính sách Khu Trù Mật vì ngoài việc ngăn chặn Cộng Sản xâm nhập vào nông thôn , các Khu Trù Mật được xây dựng tại những địa điểm chiến lược chẳng hạn dọc theo một trục giao thông chính hay một trục thủy lộ gây trở ngại rất nhiều cho việc chuyển quân của Cộng Sản .

Về quốc sách Ấp chiến lược , nữ ký giả Suzanne Labin đã ghi nhận : “ Nông dân sống rải rác dọc theo các con kênh, được yêu cầu dời chuyển để qui tụ lại thành nhiều làng, tập trung theo kiểu Âu châu... Mỗi làng được rào vững chắc bằng hàng rào kẽm gai hoặc hàng rào tre vót nhọn đằng sau có tăng cường hệ thống hào rộng gài mìn để chận đúng Việt Cộng mò vào ban đêm ” (5).

Chính sách Ấp chiến lược được thực hiện từ năm 1961 với sự cố vấn của Sir Robert Thompson, chuyên viên về chiến thuật phản nổi dậy người Anh cùng với hai người bạn là Desmond Palmer và Dennis Duncanson .

Nhận dịnh tổng quát về chính sách Ấp chiến lược , tác giả Nguyễn Văn Châu khẳng định : “ Quốc sách Ấp chiến lược sau hai năm đã thành công trong việc ngăn chặn làm cho Việt Cộng không còn sống bám rút bòn nhân dân. Vấn đề an ninh làng ấp được vững vàng hơn , quân đội chính quy quốc gia trở thành lực lượng hành quân chủ lực gây cho du kích cộng sản nhiều thất bại đáng kể , khiến cho các lực lượng du kích rơi vào thế bị động và mất thăng bằng sau khi đã mất hạ tằng cơ sở . Tinh thần quân đội quốc gia lên cao, dân chúng được bảo vệ an ninh và du kích Việt Cộng càng ngày càng hồi chánh về đầu thú với chính quyền Việt Nam cộng Hòa ”(6) .

Bà Suzanne Labin nhắc lại câu nói mang tính cách cô đọng về chính sách phản du kích của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm rằng : “...để nghiền nát quân thù giữa CÁI BÚA của sức mạnh cơ động và HÒN ÐE của các ấp chiến lược ” (7) .

Ngoài ra cũng phải kể đến nền kinh tế Miền Nam lên rất cao, dân chúng có cuộc sống sung túc , xã hội ổn cố , đạo đức được cổ xúy , đề cao , tệ nạn xã hội biến mất dần .

Thêm vào đó, cán bộ hoạt động trong ngành an ninh tình báo của quốc gia có lý tưởng, nhiệt tâm và kế hoạch nhờ đó tiêu diệt được hầu hết hạ tầng cơ sở của Việt Cộng . Các đợt tố cộng , đặt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật với sắc luật10/59 đã khiến Cộng sản miền bắc ầm ĩ phản đối .

Nhưng chỉ vài ngày sau cuộc đảo chính 1-11-1963 , giết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và bào đệ Ngô Ðình Nhu , Dương Văn Minh và nhóm tướng lãnh cầm quyền , những kẻ mà chính Tổng thống Hoa Kỳ Johnson đã gọi một cách khinh bỉ là “ lũ côn đồ ác ôn đáng nguyền rủa ( a goddamn bunch of thugs ) ” , đã cho lệnh phá bỏ 16.000 ấp chiến lược , thả các cán bộ tình báo của Cộng sản , buông lỏng nông thôn cho Việt Cộng mặc sức hoành hành , bỏ tổ chức nghĩa quân , dân vệ . Khi được tin ông Diệm bị lật đổ và bị giết , Hồ Chí Minh đã nói với ký giả thân Cộng Wilfred G. Burchett: “ Tôi không ngờ tụi Mỹ ngu đến thế ” (8) .

Sử gia Ellen J. cho biết : “ Ðài phát thanh Hà Nội đã trích dẫn báo Nhân Dân nói rằng do sự lật đổ Ngô Ðình Diệm và em ông là Ngô Ðình Nhu , tụi đế quốc Mỹ đã tự mình hủy diệt những cơ sở chính trị mà họ đã mất biết bao năm để xây dựng ” (9) .


1.2. Tranh chấp quyền bính ở Miền Bắc trong xã hội chuyên chính vô sản .

Năm 1956 , tại Miền Bắc , quyền lực lẽ ra phải lọt vào tay Võ Nguyên Giáp thì lại chuyển về tay Lê Duẩn vốn là khuôn mặt rất bình thường , sau khi Trường Chinh vì thất bại trong Cải cách Ruộng đất đã mất chức Tổng Bí Thư . Cả Hồ Chí Minh cũng như một số nhân vật lãnh đạo cao cấp chung quanh ông có thể rất ngại phải trao quyền lực cho Võ Nguyên Giáp vì với hào quang sáng chói của Ðiện Biên Phủ , Giáp sẽ trở thành người khó sai khiến . Từ năm 1956 đến 1960 , Hồ Chí Minh là Chủ Tịch Ðảng kiêm Tổng Bí Thư . Ðại Hội III vào tháng chín năm 1960 đã bầu Lê Duẩn vào thay chỗ Trường Chinh . Lê Ðức Thọ với chức Trưởng ban Tổ chức Ðảng là người trợ giúp đắc lực cho Lê Duẩn trong việc thâu tóm quyền lực .

Với chủ trương “ trí phú địa hào, đào tận gốc, tróc tận rễ ” , Ðảng Lao Ðộng Việt Nam đã thành công trong việc loại hết các chướng ngại vật trong việc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc qua năm đợt cải cách ruộng đất , giết hại khoảng 172.008 người mà trong đó có 123.266 người bị chết oan ( nghĩa là khoảng 71, 66% ) . Một số văn nghệ sĩ trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm như Hoàng Cầm , Trần Dần , Phùng Quán , Lê Ðạt , Văn Cao , Nguyễn Mạnh Tường v...v.... chủ trương đòi tự do sáng tác cho văn nghệ đã bị thẳng tay đàn áp , đưa đi cải tại ở nông thôn . Tôn giáo cũng bị cấm cản triệt để với việc tịch thu đất đai , các bất động sản , nơi thờ phượng của các tôn giáo .

Theo Tiến sĩ Liên Hằng T. Nguyễn, giáo sư khoa Sử trường đại học Kentucky : “ Khi cuộc chiến thứ hai ở Ðông Dương vừa bắt đầu , trong nội bộ Ðảng nổi lên những phe chống đối nhau , có thể tạm chia thành hai phe đối lập nhưng không đồng nhất như sau : Phe thứ nhất gồm những người muốn tập trung xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và phe thứ hai gồm những người muốn tiến hành chiến tranh cách mạng ở miền Nam ” (10) .

Với việc xuất hiện của Lê Duẩn trong vai trò Tổng Bí Thư , các nỗ lực của phe chủ chiến nhằm vào việc thanh lý nội bộ, loại trừ các nhóm thuộc khuynh hướng chủ hòa . Một số các nhân vật miền Nam như Bùi Công Trừng , Ung Văn Khiêm hoặc bị coi là có tư tưởng thân Liên Xô như Hoàng Minh Chính , Vũ Ðình Huỳnh , Trần Minh Việt , Ðặng Kim Giang , Vũ Thư Hiên , Nguyễn Văn Doãn , Nguyễn Văn Vịnh v...v.... đã bị bắt hoặc bỏ trốn sang Liên Xô .

Một chuyên gia nước ngoài như giáo sư Douglas Pike đãï ghi nhận sự cạnh tranh và khác biệt trong tư tưởng quân sự giữa hai tướng Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Vịnh tức Nguyễn Chí Thanh . Trong một bài viết năm 1966 Võ Nguyên Giáp cho rằng cuộc xung đột ở Miền Nam là một cuộc chiến kéo dài và rằng chiến lược quân sự có thể mất nhiều năm để đạt thắng lợi . Tướng Giáp nói rằng ông không tin vào các trận đánh sử dụng đơn vị chính quy lớn vì điều này có lợi cho chiến lược của kẻ thù . Tướng Nguyễn Chí Thanh đã có phản ứng ngay lập tức . Trong một bài viết đăng trên tạp chí Học Tập , tướng Thanh cho rằng chiến lược tấn công ở miền Nam là con đường đúng dẫn đến thắng lợi và nói thêm rằng lập luận của những người chỉ trích là không lô-gic . Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh đã trở thành đồng minh gần gũi nhau là vì ngay từ đầu hai người cùng có quan điểm rằng con đường dẫn đến thắng lợi ở miền Nam phụ thuộc vào quân sự (11) .

Nguyễn Chí Thanh được cử giữ chức vụ Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị và được điều vào miền Nam làm Chỉ Huy Trung Ương Cục Miền Nam . Theo lời của giáo sư Pierre Asselin của một đại học ở Honolulu “ bằng cách đề bạt và tạo điều kiện cho sự nghiệp của tướng Nguyễn Chí Thanh , ông Lê Duẩn thành công trong việc tạo nên một thần tượng mới trong quân đội ” (12)

Ngoài ra có một điểm quan trọng mà tác giả Liên Hằng T . Nguyễn không quên nhắc tới đó là : “ Ðến năm 1963 , nhờ vào tình hình biến động ở Sài Gòn và Bắc Kinh, phe chủ chiến có cơ hội đẩy mạnh chiến tranh. Với mối rạn nứt ngày càng lớn trong thế giới cộng sản, phe chủ chiến nhân cơ hội đó tăng cường chiến tranh tại miền Nam đang ngày một nóng bỏng ” (13) .



2.- Các yếu tố tạo nên bước ngoặc trong vụ Tết Mậu Thân, các chiến thuật sử dụng trong chiến tranh.


Ðưa một người có kinh nghiệm nhiều năm với Nam bộ và tương đối có thành tích ở tù lâu như Lê Duẩn lên làm Tổng Bí Thư và Lê Duẩn đã tìm được một đồng minh mới trong quân đội là Nguyễn Chí Thanh , rõ ràng con đường đảng Lao Ðộng Việt Nam lựa chọn chính là biện pháp lật đổ Miền Nam bằng quân sự .


2.1. Một phương án đã chọn và viện trợ quân sự của phe Cộng Sản .

Giai đoạn những năm cuối cùng của chế độ Ðệ Nhất Cộng Hòa, Miền Nam với sự hữu hiệu của hệ thống Ấp Chiến Lược và các Khu Trù Mật , an ninh nông thôn đã được bảo đảm , cuộc sống người dân no ấm, có tương lai rõ ràng cho nên các lực lượng Cộng Sản không hoạt động kiến hiệu nhất là các lực lượng du kích địa phương . An ninh của nông thôn Miền Nam chính là trở lực cản đường tiến Cộng quân và dĩ nhiên muốn tiến Cộng Sản phải tìm cách vượt chướng ngại vật nghĩa là rẽ theo một hướng khác. May mắn cho Hà Nội khi chính Hoa Kỳ ra tay tháo gỡ khó khăn do chế độ của Cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm gây ra. Tháng 11 năm 1963 , sau cái chết của hai anh em ông Diệm và John F, Kennedy , Hà Nội có trước mắt hai giải pháp phải chọn lựa đó là thương thuyết với chính quyền mới ở miền Nam và củng cố những thắng lợi vũ trang của quân nổi dậy ở nông thôn hoặc dốc toàn lực quân sự để giành chiến thắng cấp tốc trước khi Hoa Kỳ có thể can thiệp. Giáo sư Liên Hằng T. Nguyễn cho biết : “ Trong phiên họp toàn thể lần thứ 9 của Ủy Ban trung Ương bắt đầu ngày 22 tháng 11 năm 1963, Hà Nội chọn phương án gia tăng chiến tranh. Nói cách khác, phe chủ chiến đạt được ủng hộ tuyệt đối năm 1963 , điều mà họ từng mong muốn trong năm 1959 : huy động cả miền Bắc tập trung vào cuộc chiến, gia tăng số lượng gửi quân và khí giới về hướng Nam của vĩ tuyến 17. Cũng trong phiên họp này đã xuất hiện những ý kiến chiến lược được coi là phôi thai cho cuộc tấn công Tết Mậu Thân sau này . Áp dụng một số điểm trong học thuyết quân sự của Mao với những thay đổi cho phù hợp với nhu cầu của Việt Nam. Hà Nội tuyên bố rằng cuộc chiến ở miền Nam đòi hỏi một “ Cuộc tổng tiến công và nổi dậy ” mà không nhất thiết phải theo đúng ba bước mà chiến lược của Mao đề ra ” (14) .

Don Oberdorfer trong tác phẩm Têt , the turning point in the Vietnam War cho biết chiến lược của Mao là : “ Trong giai đoạn đầu , lực lượng cách mạng còn yếu nên phải rút về nông thôn để phát triển mạnh lên . Kẻ thù buộc phải phân tán mỏng lực lượng để truy kích thì cách mạng bắt đầu dùng du kích tiêu diệt để làm suy yếu địch. Cuối cùng là giai đoạn Tổng Công kích cũng gọi là Tổng Phản công mà theo lý thuyết của Mao , giai đoạn này là một diễn tiến dài ” (15)

Trong tác phẩm Việt Nam 1945-1995 , chiến tranh , tị nạn , bài học lịch sử ( tập I ) , Giáo sư Lê Xuân Khoa viết rằng : " Từ năm 1965 đến cuối 1967 , Quân Ðội Giải Phóng Miền Nam (QÐGPMN) gồm cả bộ đội chủ lực từ miền Bắc đã không thể đương đầu với hỏa lực và tính di động của quân đội Mỹ và có nguy cơ thất bại nếu kéo dài tình trạng cầm cự bằng chiến tranh tiêu hao . Vì vậy Bộ Chính Trị ở Hà Nội thấy cần phải sớm chấm dứt cuộc chiến bằng một trận đánh quyết định như trận Ðiện Biên Phủ năm 1954 " .
Theo cựu đại tá Bùi Tín : " đến cuối năm 1967,quân đội Sài Gòn và quân đội Mỹ hoạt động mạnh , mở nhiều chiến dịch tiến công , quân Bắc Việt thường ở thế đối phó , giữ lực lượng , rút ra xa và mất nhiều khu vực đông dân . Vì thế, năm 1968 họ cần một đợt hoạt động mạnh để giành lại thế chủ động , cải tiến thế trận " (16)

Yếu tố thứ hai tạo nên chướng ngại vật lần này không phải là cơ cấu tổ chức của nông thôn Miền Nam nhưng là sức mạnh chiến tranh của Hoa Kỳ . Trong bài Từ Xuân Kỷ Sửu 2009 nhìn về: Những điều chưa giải mã trong trận Mậu Thân 1968 ( Web Thông Luận, ngày 13.01.2009 ) , bình luận gia Trần Bình Nam có nhắc đến việc cuối năm 1965 khi tướng Giáp đưa các sư đoàn thiện chiến của Bắc Việt thử lửa với sư đoàn kỵ binh không vận của Hoa Kỳ ( một sư đoàn di chuyển hoàn toàn bằng trực thăng ) và cuối cùng đánh không lại phải chạy thoát thân qua bên kia biên giới Căm Bốt , ông biết quân đội Bắc Việt không thể đánh trực diện với quân đội Hoa Kỳ . Theo ông Giáp cuộc chiến đấu để chiếm miền Nam chỉ có thể thực hiện bằng chiến tranh hao mòn cho đến khi Hoa Kỳ mệt mỏi . Nhưng bộ ba Lê Duẩn , Trường Chinh và Nguyễn Chí Thanh ( đại tướng ngang cấp với Võ Nguyên Giáp ) cho rằng cần đánh mạnh đánh mau và đánh một cách liều lĩnh mới hy vọng chuyển đổi thế cờ .

Tháng giêng năm 1967 , Tướng Nguyễn Chí Thanh đề xuất chiến dịch Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa để thay thế chiến tranh tiêu hao của Bộ trưởng Quốc Phòng Võ Nguyên Giáp và đề xuất này đã được Bộ Chính Trị chấp thuận .

Nhân dịp kỷ niệm Cách Mạng Tháng 10 Liên Xô, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Duy Trinh đã lên đường qua Moscow vào cuối tháng 10 năm 1967 để dự lễ . Phái đoàn này trên đường đi đã ghé qua Bắc Kinh để xin quân viện . Bắc Kinh đã hứa gửi 300.000 lính phòng không và công binh , cung cấp hỏa tiễn 107 và 240 ly , các thứ quân dụng , lương khô, thuốc men . (17)

Tại Liên Xô, phái đoàn được hứa cấp thêm đại bác 130 ly , chiến xa , T , phản lực cơ Mig 21 và các loại vũ khí nặng khác .

Việc xây dựng đường Trường Sơn do Binh đoàn Trường Sơn 559 cũng gọi là đường mòn Hồ Chí Minh nằm trong nỗ lực tăng viện người và vũ khí cho các chiến trường Miền Nam . Theo John Prados trong tác phẩm The Blood Road , The Ho Chi Minh Trail and the Vietnam War , ngay từ năm 1964 , Tướng Nguyễn Chí Thanh cũng đã vào miền Nam qua con đường này .(18)

Một biến cố quan trọng xảy ra có liên quan rất mật thiết với cuộc TCK - TKN đó là cái chết đột ngột của Tướng Nguyễn Chí Thanh .

Trong tác phẩm Tet , the turning point in the Vietnam War , Don Oberdorfer đưa ra thuyết thứ nhất dẫn nhiều nguồn tin của các giới chức quân sự Hoa Kỳ cho rằng Nguyễn Chí Thanh bị thương nặng tại miền Nam , được chuyển qua Căm-pu-chia và đưa về Bắc bằng máy bay , điều trị tại bệnh viện 108 và chết . Thuyết thứ hai của Judy Stowe thuộc đài phát thanh BBC cho biết tướng Nguyễn Chí Thanh dự cuộc họp của Bộ Chính Trị tại Hà Nội , và ngày 6-7-1967, trong buổi tiệc sau đó , Tướng Thanh bị ngộ độc chết ( có nguồn tin nói ông bị hãm hại ). Tướng Thanh chết lúc 53 tuổi .

Trong tác phẩm The Tet offensive, Intelligence failure in war, James J. Wirtz cho rằng mặc dù có nhiều ý kiến bất đồng về nguyên nhân và thời điểm liên hệ đến cái chết của Tướng Nguyễn Chí Thanh, nhưng rõ ràng là ông chết vào nửa đầu năm 1967 . Trong chú thích số 1 , trang 51 , sách đó , James J. Wirtz cho biết “ trong chiến tranh , các viên chức cộng sản cho rằng Tướng Thanh chết vì bệnh tim . Tướng Westmoreland nói rằng Tướng Thanh chết sau khi được chuyển ra Hà Nội vì các vết thương ở ngực do một trận oanh kích của B-52 trên đất Căm-pu-chia vào tháng Bảy 1967 . Dave Richard Palmes đồng ý với Westmoreland về thời điểm và nguyên nhân cái chết của Tướng Thanh . Robert Shaplen viết rằng Thanh chết thời gian đầu năm 1967 do bị thương vì B-52 tại tỉnh Tây Ninh ( có lẽ Shaplen không biết những trận oanh kích B-52 trên Căm-pu-chia khi ông viết sách của ông ) . Trái lại, Stanley Karnow cho rằng Thanh chết vì ung thư tại một bệnh viện ở Hà Nội trong mùa hè 1967 ”


2.2. Một nghị quyết chính trị mang đầy tính lừa đảo .

Tháng 1 năm 1968 , Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa ra một nghị quyết gọi là Nghị Quyết 14 nhằm vẽ ra trước mắt dân và quân miền Bắc một viễn tượng chiến thắng hết sức lạc quan như sau mà thực chất chỉ là một xảo thuật nhằm đánh lừa nhân dân miền Bắc . Nhà báo Phạm Trần đã vạch rõ tính lừa đảo trong bản nghị quyết đó và cho rằng đây là bằng chứng hùng hồn nhất của sự đánh lừa dân và quân miền Bắc .

Về mặt chính trị , Nghị quyết đã chủ quan khi viết rằng :
“ Quần chúng nhân dân ở các thành thị và những vùng còn tạm bị địch chiếm ở miền Nam đã nhiều lần nổi dậy khởi nghĩa với những hình thức khác nhau. Hàng triệu quần chúng đang sục sôi cách mạng và sẵn sàng vùng lên , sẵn sàng hy sinh tất cả để giành cho được độc lập , tự do, hòa bình , cơm áo , ruộng đất . Nhân dân lao động miền Nam , nhất là công nhân ở Sài Gòn – Chợ Lớn, đang vùng dậy mạnh mẽ , mở ra mợt khí thế mới đấu tranh quyết liệt chống Mỹ và tay sai trong các thành thị ”

“ ... Cuộc tiến công của các lực lượng vũ trang trên các chiến trường chính và sự nổi dậy của nhân dân ở các thành thị lớn là hai mũi tiến công chính kết hợp chặt chẽ với nhau , trợ lực lẫn nhau và thúc nay toàn bộ cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa khắp cả ba vùng thành thị , nông thôn đồng bằng và rừng núi . Ðặc biệt, cuộc tiến công của các lực lượng vũ trang và sự nổi dậy của quần chúng nhân dân ở các thành thị lớn là mũi nhọn thọc vào yết hầu của địch , có tầm quan trọng quyết định đối với toàn bộ chiến trường và toàn cuộc chiến tranh... Vì vậy, tất cả những cuộc công kích và khởi nghĩa ở các vùng khác trên chiến trường miền Nam đều có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với các thành thị và trợ lực đầy đủ cho các cuộc công kích và khởi nghĩa ở các thành thị lớn ”


Nhận định về mặt quân sự , Nghị quyết đã láo khoét cho rằng :
“ Về mặt quân sự , địch còn trên một triệu quân và một tiềm lực chiến tranh lớn , nhưng đội quân đó đã liên tiếp thất bại về chiến lược và chiến thuật , quân số tuy đông nhưng tinh thần bạc nhược và bắt đầu suy sụp ; về mặt chính trị , địch đang lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện và nghiêm trọng , chúng tỏ ra không thể thống trị nhân dân miền Nam được nữa và nhân dân miền Nam cũng không chịu sống dưới ách thống trị của chúng nữa ”

Bản nghị quyết của Ủy Ban trung Ương còn nói tiếp :
“ Trong những điều kiện như vậy , về phương pháp , ta chủ trương không chỉ phát động tổng công kích , mà còn đồng thời phát động tổng khởi nghĩa , tức là dùng lực lượng vũ trang mạnh của ta đánh vào các binh đoàn chủ lực của địch , đánh mạnh vào “ đô thành ” và các thành phố khác , tạo điều kiện cho hàng triệu quần chúng ở thành thị và các vùng nông thôn còn tạm bị chiếm nổi dậy khởi nghĩa, phối hợp với lực lượng vũ trang của ta để tiêu diệt và làm tan rã quân địch , đánh đổ các cơ quan đầu não của ngụy quyền , làm rối loạn và tê liệt đên tận gốc bộ máy chiến tranh của Mỹ và ngụy , biến hậu phương và dự trữ chiến lược của địch thành hậu phương và dự trữ chiến lược của ta , vừa liên tục tiến công tiêu diệt địch , vừa không ngừng phát triển lực lượng ta về chính trị và quân sự , làm thay đổi mau chóng lực lượng so sánh một cách có lợi cho ta , không có lợi cho địch và giành thắng lợi quyết định về ta ” (20)


2.3. Chính sách của Hoa Kỳ và Chiến thuật “đánh lạc hướng” của Việt Cộng thời gian trước Tết Mậu Thân.

Trong bài Những điều chưa giải mã trong trận Mậu Thân, tác giả Trần Bình Nam đã viết rằng : " Theo Henry Kissinger ( Diplomacy : ch. 26: “ Vietnam on the Road to Despair ” , Easton Press , 1994, trang 660 ) trên nguyên tắc có hai chiến lược để thắng một cuộc chiến tranh du kích: Thứ nhất, bảo đảm an ninh cho dân chúng , không cho địch tổ chức nhân dân bằng tuyên truyền và khủng bố để thành lập một chính quyền . Thứ hai , là tấn công vào hậu phương và đường tiếp vận của địch , trong trường hợp Việt Nam có nghĩa là mở rộng chiến tranh qua Lào, Cam Bốt và nếu cần đánh ra Bắc Việt " (21)

Nhận định của Henry Kissinger chắc chắn học lại những bài học lịch sử mà các nhà lãnh đạo Ðệ Nhất Cộng Hòa đã giảng dạy qua quốc sách Ấp Chiến Lược và quan điểm chiến lược của Cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và Cố Vấn Ngô Ðình Nhu trong vấn đề trung lập hóa Lào , vấn đề đã gây tranh cãi dữ dội giữa Cố vấn Ngô Ðình Nhu và Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Averell Harriman đến đỗi trở thành mối cừu hận khiến nhà ngoại giao Hoa Kỳ này phải ra tay thanh toán hai đối thủ chính trị và khiến cả một chế độ của Miền Nam Việt Nam phải sụp đổ .

Nguyên tắc thứ nhất mà Kissinger đã đưa ra trong tác phẩm nói trên đã được chiến lược gia Ngô Ðình Nhu đưa ra hơn ba mươi năm về trước , được thực hiện hữu hiệu với hệ thống 8000 Ấp Chiến Lược đã thành hình cộng thêm 4000 Ấp nữa sẽ được thực hiện trong toàn quốc cần thiết để bảo vệ cả nước . Chính Suzanne Labin , trong tác phẩm Vietnam , an eye-witness account đã cụ thể hóa phần vụ của các thành phần cư dân trong cơ cấu tổ chức này : “ Người dân làng được đoàn ngũ hóa theo tuổi tác , giới tính, và tùy theo khả năng mà được giao cho một phần vụ đặc biệt . Lực lượng tự vệ và thanh niên cộng hòa là những đơn vị chiến đấu; những dân làng khỏe mạnh khác thì tham gia công tác phòng vệ , thanh thiếu niên thì vót chông . Người có nhiệm vụ chiến đấu được cấp vũ khí cá nhân luôn mang bên mình ngay cả khi ở nhà . Nhiều làng mạc được trang bị thêm xe thiết giáp hoặc súng liên thanh . Máy truyền tin được cung cấp giúp cho các người bảo vệ ấp chiến lược có thể gọi ngay lực lượng chính quy đến một khi bị tấn công. Nhiệm vụ chính của làng là cầm chân kẻ thù , vô hiệu hóa chúng ngoài vành đai của ấp , cố ngăn chúng không lủi mất vào rừng trong khi lực lượng chính quy kéo tới . Bấy giờ , Việt Cộng thấy quá khó khăn khi xâm nhập một vùng dân cư có phòng thủ và ngay cả rút lui cũng thấy nhiều trở ngại ” (22) .

Chế độ Cộng Sản Bắc Việt đã phải lồng lộn , hầm hét, kêu gào đến tuyệt vọng trước sự hữu hiệu của hệ thống Ấp chiến lược . Trong bài báo nhan đề " 40 năm ngày đảo chính chế độ Ngô Ðình Diệm : Cái nhìn từ Hà Nội " - tác giả Bùi Tín , cựu Ðại tá Quân đội Nhân Dân Việt Nam, Phó chủ nhiệm tờ Nhân Dân Chủ Nhật của chế độ Cộng Sản đã phải xác nhận ưu thế của quốc sách Ấp Chiến Lược từng gây cho lực lượng xâm lăng của Cộng Sản nhiều khó khăn và thất bại trước đây , đã thẳng thắn bày tỏ rằng : “ Cùng với thời gian và sự tìm hiểu những tư liệu lịch sử , tôi thấy cần phải trả lại lẽ công bằng cho nhân vật lịch sử này... Tôi cho rằng ông Diệm là một nhân vật chính trị đặc sắc , có lòng yêu nước sâu sắc , có tính cương trực thanh liêm , nếp sống đạm bạc giản dị ” (23) .

Nguyên tắc thứ hai là ý kiến của Kissinger là mở rộng chiến tranh qua Lào , Căm Bốt và nếu cần đánh ra Bắc Việt chính là điều làm bùng nổ bất bình giữa Averell Harriman và ông Ngô Ðình Nhu . Chính Tổng Thống Ngô Ðình Diệm , cố vấn Ngô Ðình Nhu và Tổng Thống Hoa Kỳ Eisenhower đã thấy rõ sự quan trọng của Lào nên đã chống lại việc trung lập hóa Lào . Chính cựu Tổng Thống Eisenhower trước khi rời Bạch Cung đã khuyến cáo ông tổng thống trẻ tuổi Kennedy là mở rộng cuộc chiến tranh tại Lào để ngăn chận sự xâm nhập của Cộng Sản Bắc Việt nhưng Kennedy vì mới thất bại trong vụ Vịnh Con Heo ( Cuba ) đã không dám tiến hành một bước liều lĩnh khác . (24)

Trong tác phẩm mới xuất bản có tên Ngô Ðình Diệm và chính nghĩa dân tộc , tác giả Minh Võ đã viết : “ Harriman là người thù ông Diệm vì vụ trung lập hóa Ai Lao . Ông Diệm , cũng như cựu Tổng Thống Dwight Eisenhower , đều coi Ai Lao như cửa ngõ để Cộng sản Bắc Việt xâm nhập miền Nam Việt Nam . Ông cực lực chống việc trung lập hóa Ai Lao vì biết chắc chắn Bắc Việt sẽ không bao giờ tôn trọng hiệp ước đã ký . Chúng sẽ để quân lại , đem thêm quân vào như chúng đã vi phạm thỏa ước Genève 1954 . Còn các nước Tây phương thì vì lương tâm , vì tính lương thiện sẽ không dám vi phạm , không dám đem quân vào đuổi Cộng quân Bắc Việt đi . Như vậy coi như thế giới tự do mất Ai Lao cho Cộng Sản ” (25) .

Cứ tưởng tượng Lào quốc như là nút chận cổ một cái phễu , chận ở đó hay gây trở ngại ở đó thì chất lỏng không chảy xuống được . Sử dụng các lực lượng quốc gia ở Lào để tấn công phe cánh tả ( đa số là quân Cộng Sản Bắc Việt trá hình ) chính là làm nút chận ở một cái phễu không cho ngọn trào xâm lược của Cộng Sản đổ xuống . Vị tổng thống sắp mãn nhiệm kỳ của Mỹ, Eisenhower đã khẳng định rằng Lào chính là chìa khóa của toàn vùng ( the key to the entire area ) bởi vì các nhà chiến lược quân sự Hoa Kỳ đã khẳng quyết rằng Bắc Việt hay Trung Quốc hoặc cả hai nếu tung ra một cuộc tấn công , họ sẽ chuyển quân từ Lào xuống theo thung lũng sông Mêkong , vào Thái Lan và có thể cả Miến Ðiện từ đó Nam Việt Nam sẽ là đấu trường thứ hai để các sư đoàn Bắc Việt thọc dao vào cổ họng Sài Gòn (26) .

Tuy nhiên , nếu ông Tổng thống Kennedy của đảng Dân Chủ đã vụng về nghe theo Thứ Trưởng Ngoại Giao Averell Harriman trung lập hóa Ai Lao vì cứ tin vào sự hứa hẹn can thiệp của Liên Xô đối với Bắc Việt , thì sau khi chế độ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị lật đổ và Cộng Sản mặc sức bành trướng ở nông thôn Miền Nam , cũng lại một vị tổng thống của đảng Dân Chủ , Johnson đã có những tuyên bố làm an lòng các nhà lãnh đạo Bắc Việt . Tổng thống Johnson trong diễn văn đọc trước American Alumni Council ngày 12-7-1966 đã đoan hứa rằng : “ Chúng ta không có ý tiêu diệt Bắc Việt . Chúng ta không có ý thay đổi chính quyền tại đó. Chúng ta không có định thiết lập căn cứ quân sự vĩnh viễn tại miền Nam. Chúng ta đưa quân đến Nam Việt Nam cốt để thuyết phục Bắc Việt nên chấm dứt xâm lăng các nước lân bang , và chứng tỏ cho Hà Nội biết rằng chiến tranh du kích là do nước này gây ra chống nước kia sẽ không thể có kết quả . Chúng ta cần Bắc Việt biết giá xâm lăng của họ sẽ rất cao để họ chọn lựa giữa thương thuyết hay đơn phương chấm dứt cuộc xâm lăng ” (27) .

Năm 1966 , chiến cuộc Việt Nam leo thang với sự hiện diện quân Ðồng Minh lên 280.000 người và quân đội miền Nam tăng lên 750.000 kể luôn địa phương quân và cảnh sát . Trong khi bộ đội cộng sản tại Miền Nam cuối năm 1966 gồm 270.000 gồm 45.000 quân chính quy Bắc Việt ( điều trần của McNamara trước Thượng nghị viện ngày 23/1/67 ) . An ninh của nông thôn Miền Nam trở lại sáng sủa hơn cùng với ổn định chính trị được tái lập kể từ năm 1963 . Nói chung tình hình dân chúng Hoa Kỳ ( khoảng 61% ) vẫn còn muốn chiến đấu mặc dù đã manh nha nhiều hoạt động của các nhóm phản chiến .

Ðể đánh lừa Hoa Kỳ , Bộ Chính Trị Cộng sản cho tổ chức các trận đánh ở biên giới từ giữa đến cuối năm 1967 tại Khe Sanh , Cồn Tiên , Lộc Ninh và Dak To làm như đó là các mặt trận gọi là điểm mục đích để dụ quân Ðồng Minh và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà rút bớt quân phòng thủ các đô thị đông dân ra các vùng gần biên giới và khu giới tuyến quân sự . Ngày 20 tháng giêng năm 1968 , Võ Nguyên Giáp đem các sư đoàn 325C , 304 và 308 vào mặt trận Khe Sanh , tăng quân số Bắc Việt nơi này lên từ 20.000 đến 30.000 quân . Khe Sanh là một vị trí chiến lược nằm cách giới tuyến sông Bến Hải 24 km , cách biên giới Lào 10 km đuợc thành lập từ năm 1962 do Lực lương Ðặc biệt Mỹ trú đóng . Quân số Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đến thay thế quân số đồn trú lên đến 6.000 người gồm hai Trung đoàn Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ và một Tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân Việt Nam . Không lực Hoa Kỳ đã dội bom vào các vị trí đóng quân của Cộng Sản Bắc Việt trên 5000 lần với hơn 100.000 tấn bom trút xuống trong khoảng chưa đầy 5 dặm vuông . Chiến lược của Hà Nội là muốn đánh lừa đề Hoa Kỳ tưởng rằng Khe Sanh có thể trở thành một Ðiện Biên Phủ thứ hai , để họ dồn tất cả binh lực vào đó mà để trống các thành phố , các thị xã ven biển của các tỉnh miền Trung .

Trước hết về kế hoạch “ đánh lạc hướng ” hay “ điệu hổ ly sơn ” nghĩa là dụ cho Hoa Kỳ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà dồn tất cả lực lượng về phía các mặt trận biên giới và giới tuyến để Cộng Sản có thể dễ dàng đưa quân vào chiếm các thành phố , thị xã, nhưng Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam đã không thành công với kế hoạch này vì lực lượng cơ động của Hoa Kỳ đã đi chuyển linh hoạt và mau chóng với phương tiện vận chuyển rất dồi dào . Tại mặt trận Khe Sanh , Cộng quân đã gánh chịu những tổn thất nặng nề với lực lượng phi pháo của Hoa Kỳ , và đã thất bại trong cố gắng biến Khe Sanh thành mợt Ðiện Biên Phủ thứ hai .

Ngoài ra khoảng tháng 7 năm 1967 , Hà Nội tung hỏa mù trong giới ngoại giao bằng cách triệu tập tất cả các đại sứ của họ về nước , ra lệnh sau khi đáo nhiệm sở trở lại họ phải thông báo cho các nước sở tại biết Hà Nội đang muốn thương thuyết với Hoa Kỳ để chấm dứt chiến tranh . Ðiều kiện thương thuyết là Hoa Kỳ phải ngưng dội bom Bắc Việt . Hà Nội dùng ông Raymond Aubrac , một người Pháp đã từng giúp Hồ Chí Minh nhiều từ năm 1946 , lúc này đang tiếp xúc với Kissinger để chuyển giao thông điệp của Hà Nội . Hồ Chí Minh , qua Raymond Aubrac , nhắn rằng Hà Nội sẵn sàng thương thuyết nếu Hoa Kỳ ngưng dội bom Bắc Việt, và Hoa Kỳ có thể tiếp xúc với Mai Văn Bộ , đại diện ngoại giao của Hà Nội tại Paris . Mắc mưu Hồ Chí Minh, ngày 29-9 Tổng thống Johnson tuyên bố tại Houston , Texas rằng không quân Hoa Kỳ sẽ ngưng dội bom Bắc Việt nếu việc này dẫn tới một cuộc thương thuyết hữu ích . (28)

Tài liệu của giáo sư Lê Xuân Khoa cho biết : “ Tình báo quân sự Mỹ được tin tức về những vụ chuyển quân của cộng sản và dự đoán sẽ có những cuộc tấn công trước hay sau Tết nhưng không lượng định được rằng đây là trận đánh quyết định ở mức độ toàn diện . Ngày 10 tháng Giêng, Tướng Frederick C. Weyand , Tư lệnh Lực lượng Chiến trường vùng II , được sự chấp thuận của Tổng tư lệnh Westmoreland , bắt đầu chuyển quân chiến đấu về vòng đai Sài Gòn , tăng cường lực lượng bảo vệ thủ đô từ 14 lên 27 tiểu đoàn . Theo đề nghị của Tướng Westmoreland , Tổng thống Thiệu và Ðại tướng Cao Văn Viên giảm thời gian hưu chiến ngày Tết từ 48 tiếng xuống 36 tiếng và duy trì 50 phần trăm quân đội trong tình trạng báo động ” (29) .


2.4. Từ việc đổi lịch đến quyết định dời ngày tấn công Tết Mậu Thân và bài thơ giết người .

Trong cuốn sách Án tích Cộng Sản Việt Nam , Trần Gia Phụng đã dựa trên ý kiến của Don Oberdorfer mà nhắc đến việc thay đổi âm lịch ở Bắc Việt theo quyết định số 121/CP ngày 8-8-1967 của Hội đồng Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ( VNDCCH ) , và ông cho rằng có liên hệ đến cuộc TCK - TKN vào dịp Tết Mậu Thân 1968 .

Căn cứ trên Lời giới thiệu của Nha Khí tượng trong cuốn Lịch thế kỷ XX (1901-2000), Trần Gia Phụng cho biết “ theo âm lịch mới của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ( Bắc Việt ) , năm Ðinh Mão không có ngày 30 tháng Chạp , mà chỉ đến 29 tháng Chạp , nghĩa là tháng Chạp thiếu . So sánh với dương lịch , năm Ðinh Mão của Bắc Việt từ ngày thứ Năm 9-2-2967 đến ngày Chủ nhật 28-1-1968 . Trong khi đó theo âm lịch cũ , cũng là lịch Việt Nam Cộng Hòa ( VNCH, Nam Việt ) đang sử dụng , trong năm Ðinh Mão , tháng Chạp đủ 30 ngày . So sánh với dương lịch , năm Ðinh Mão của Nam Việt từ ngày thứ Năm 9-2-1967 đến ngày thứ Hai 29-1-1968 . Như thế, theo âm lịch mới của Bắc Việt , ngày mồng một Tết Mậu Thân là ngày thứ Hai 29-1-1968 , còn ở Nam Việt là ngay thứ Ba 30-1-1968 . Ðiều này có nghĩa là Bắc Việt ăn Tết trước Nam Việt một ngày ” (30)

Tác giả Trần Gia Phụng cho rằng : “ Giờ tấn công định vào giờ Giao thừa ở trong Nam . Nếu đã định vào giờ Giao thừa, mà đọc thơ chúc Tết sáng 30 tháng chạp thì sẽ bị chú ý ngay, vì đây là một hiện tượng bất thường chưa hề xảy ra về trước . Phải đọc thơ chúc Tết đúng đêm giao thừa và được lập lại nhiều lần sáng mồng Một ở Hà Nội bình thường như mọi năm , mới tránh được sự nghi ngờ mọi phía . Vậy chỉ có biện pháp duy nhất là sửa lịch thế nào cho miền Bắc là mồng Một mà miền Nam vẫn là Ba mươi , tức là miền Bắc trước miền Nam 24 giờ . Như thế ông Hồ đọc thơ chúc Tết đêm Giao thừa và lập lại sáng mồng Một ở Bắc Việt ( trước Giao thừa Nam Việt 24 giờ ) cũng là truyền lệnh tấn công theo đúng ý đồ đã định của cộng sản , hầu có thể khởi sự tổng công kích vào đêm Giao thừa tức đêm Ba mươi ở Nam Việt ( sau đêm Giao thừa Bắc Việt 24 giờ ) (31) .

Thật ra việc sửa lịch để áp dụng cho một mục tiêu quân sự cũng không phải là điều khó hiểu hay chưa từng được nước nào thực hiện ( tôi nghĩ rằng đã có trường hợp như vậy, tuy nhiên tôi vẫn chưa có cứ liệu riêng để chứng minh ) . Nhưng, như trong trường hợp quân Tây Sơn trong việc kéo ra Bắc đánh quân Thanh năm 1789, đã được lệnh chủ tướng Quang Trung ăn Tết Kỷ Dậu trước 5 ngày cũng nằm trong kế hoạch quân sự . Nhưng nếu lập luận như tác giả Trần Gia Phụng nêu ra ở trên thì phải nghĩ làm sao khi chính Võ Nguyên Giáp đã đưa ra sáng kiến hoãn lại một ngày lệnh tấn công Tết Mậu Thân để trong khi có năm tỉnh ở Miền Trung tấn công trước tức vào đêm ba mươi Tết thì các tỉnh khác lại khai hỏa vào tối mồng Một Tết , và sự kiện này đã phá mất tính bất ngờ toàn bộ của TCK - TKN . Nếu Tướng Võ Nguyên Giáp đã có thể dễ dàng thay đổi thời điểm tấn công như vậy thì việc sửa lịch rõ ràng đâu cần thiết và đâu có nằm trong kế hoạch tấn công bất ngờ của Bộ Chính trị Ðảng Cộng sản Việt Nam qua biến cố Tết Mậu Thân ?

Sau đây là bài thơ chúc Tết của Hồ Chí Minh đọc trên đài phát thanh Hà Nội trong Tết Mậu Thân 1968 như sau :


Mừng xuân 1968

" Xuân nay hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp mọi nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên ! Toàn thắng ắt về ta "
(32)

--------------------------------------------------------------------------------


CHÚ THÍCH:

1. - Tạp chí Thế Kỷ 21 , số 227 tháng Ba năm 2008 , trang 88 .
2. - Trích quan điểm của nhà nghiên cứu sử học Hồ Khang , Liên-Hằng T.Nguyễn , Bộ Chính trị chiến tranh: Ðường lối chính trị và ngoại giao của Bắc Việt trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 , bản Anh ngữ do Vy Huyền dịch, Talawas ngày 22.2.2007.
3. - Robert Scigliano, South Vietnam, Nation under Stress, under the editorship of Dayton D. McKean , University of Colorado , Houghton Mifflin Company, Boston , tr. 76.
4. - Lâm Thanh Liêm , Chính sách cải cách ruộng đất Việt Nam ( 1954-1994 ) , Nxb Nam Á , Paris , 1995 , tr. 55.
5. - Suzanne Labin, Révélation d’un témoin ( bản tiếng Pháp ), An Eye-Witness Account (bản tiếng Anh), Crestwood Book, Virginia, 1964, tr. 55.
6. - Nguyễn Văn Châu, Ngo Dinh Diem, en 1963: Une autre paix manquée , bản tiếng Việt Ngô Ðình Diệm và Nỗ lực hòa bình dang dở , Nguyễn Vy Khanh dịch, Nxb. Xuân Thu , 1989, tr. 155.
7. - Suzanne Labin, Sđd, tr. 57.
8. - Ellen J. Hammer, A death in November, Ameriaca in Vietnam, 1963, Oxford University Press, New York, Oxford, 1987, tr. 310.
9. - Ellen J. Hammer , Sđd, tr. 310.
10. - Liên-Hằng T. Nguyễn, Bài đã dẫn.
11. - Bản tin Việt ngữ đài BBC ngày 19 tháng 5 năm 2006.
12. - Bản tin BBC đã dẫn.
13. - Liên-Hằng T. Nguyễn, Bđd.
14. - Liên-Hằng T. Nguyễn, Bđd.
15. - Don Oberdorfer, Tet, The turning point of the Vietnam War, A Da Capo Paperback, 1971, tr. 47. 16. - Lê Xuân Khoa, Việt-Nam 1945-1995, Chiến tranh, Tị nạn, Bài học lịch sử, Tập I, Tiên Rồng 2004, tr. 293.
17. - Hoàng Lạc, Hà Mai Việt, Nam Việt-Nam, 1954-1975, những sự thật chưa hề nhắc tới, Texas, 1990, tr.77. (dẫn lại theo Trần Gia Phụng , Án tich Cộng sản Việt nam , bản in lần hai , Nxb. Non Nước, Toronto, Canada, 2001, tr. 327.)
18. - John Prados, The Blood Road, The Ho Chi Minh Trail and the Vietnam War, John Wiley & Sons, Inc. 1999, tr. 86.
19. - James J. Wirtz, The Tet Offensive, Intelligence failure in war, Cornell University Press, Ithaca and London, 1991, tr. 51.
20. - Phạm Trần, Hà Nội làm to chuyện Mậu Thân để làm gì ? Web Thông Luận, ngày 11-01-2008.
21. - Trần Bình Nam, Từ Xuân Kỷ Sửu 2009 nhìn về: Những điều chưa giải mã trong trận Mậu Thân 1968, ( Báo điện tử Thông Luận ngày 13.01.2009 ).
22. - Suzanne Labin, Vietnam, Révélation d’un témoin ( bản tiếng Pháp ), Vietnam, An eye-witness account (bản tiếng Anh) Crestwood Book, Virginia, 1964, tr. 55.
23. - Bùi Tín, 40 Năm ngày đảo chính chế độ Ngô Ðình Diệm : cái nhìn từ Hà Nội , Tạp chí Thông Luận số 174, tháng 10-2003.
24. - Ellen Hammer, A death in November, America in Vietnam 1963 , Oxford University Press , New York , Oxford , 1987, trang 28.
25. - Minh Võ , Ngô Ðình Diệm và chính nghĩa dân tộc , Nxb. Hồng Ðức 2008 , trang 88.
26. - Ellen Hammer, Sđd, trang 28.
27. - Trần Bình Nam, Bài đã dẫn.
28. - Johnson papers, 1968, Vol II, trang 879; Trần Bình Nam, Từ Xuân Kỷ Sửu 2009 nhìn về: Những điều chưa giải mã trong trận Mậu Thân 1968, Báo điện tử Thông Luận ngày 13.01.2009.
Trong bài Tàn sát Mậu Thân tại Huế, đăng trên Báo điện tử Ðàn Chim Việt ngày 04.03.2008, tác giả Trần Gia Phụng có cho biết: “ Ðể làm lạc hướng dư luận và sự tính toán của giới lãnh đạo Hoa Kỳ cũng như VNCH , cộng sản dịu giọng vào đầu năm 1968. Vào dịp Tết dương lịch 1968, bộ trưởng NGọai giao Bắc Việt là Nguyễn Duy Trinh tuyên bố muốn mở các cuộc hòa đàm và tiếp xúc mật với Hoa Kỳ. Thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Ðồng (1906-2000) cũng ngỏ ý sẵn sàng hòa đàm nếu Mỹ ngưng ném bom, và ông Ðồng còn nhờ một viên đại diện Romania làm trung gian dàn xếp giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt ” ( Hoàng Lạc, Hà Mai Việt, Nam Việt-Nam, 1954-1975, những sự thật chưa hề nhắc tới ), Texas, 1990, tr. 77-78.
29. - Lê Xuân Khoa, Sđd, tr. 295.
30. - Trần Gia Phụng, Sđd, tr. 271.
31. - Trần Gia Phụng, Sđd, tr. 278.
32. - Bài thơ theo nhiều nguồn tư liệu có đôi chỗ khác nhau, thí dụ câu hai “ Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà ”.





Nhìn lại vấn đề kỳ thị Nam-Bắc (Kết)

Nguyễn Văn Lục





Người viết đã có dịp phỏng vấn nhiều người “trong cuộc” về cái được gọi là kỳ thị Nam-Bắc và sau đây là những ý kiến khác nhau của các quý vị ấy :



Nghị sĩ Lê Châu Lộc


Theo cựu nghị sĩ Lê Châu Lộc , cái tên Liên Trường hay Phục hưng miền Nam chỉ là tên gọi khác nhau của cùng một sự việc . Những người chủ xướng nhóm Liên trường đã cố ý tạo ra một ấn tượng rằng họ là một lực lượng , một tổ chức . Nhưng thực chất thì nó chẳng có một văn bản gì , cũng không có lấy một tổ chức chặt chẽ cũng như đường hướng chủ trương .

Ông Trần Văn Hương , có thể là một người nắm vai trò “ đầu tầu ” của nhóm Liên Trường cùng với ông Phan Khắc Sửu . Cả hai rất có thể muốn tìm một thế lực chính trị, một chỗ đứng cho việc dấn thân vào chính trị của họ .

Phần nhóm Liên Trường cũng muốn dựa vàp tên tuổi của hai người trên nên đã đứng đằng sau ông Hương để tạo mốt thế đứng chính trị cho chinh họ . Tất cả chỉ là vấn đề quyền lợi mang tính phe phái và nhờ vào đó , họ có thể chiếm những vị trí quan trọng trong một chính phủ tương lai .

Giả dụ nếu không nhờ vào “ tinh thần nhóm Liên trường ” cái tính “ địa phương miền Nam ” thì thử hỏi các ông Nguyễn Văn Trường , Nguyễn Thanh Liêm , Võ Long Triều , Nguyễn Lưu Viên , Trương Văn Thuấn có vị trí trong chính phủ không ?

Tôi tạm dùng chữ “ địa phương tính ” và nhìn nhận rằng yếu tố địa phương là có thực trong các cuộc giàn xếp , mặc cả chính trị .

Yếu tố địa phương tuy thế là nhân tố cho người ta kết hợp để xây dựng , để làm một cái gì cho xã hội , cho đất nước . Nhưng tiếc thay nó cũng là nhân tố cho sự đố kỵ và chia rẽ . Chẳng hạn cuộc khủng hoảng Phật giáo cho thấy sự chia rẽ trong nội bộ Phật giáo ngoài các yếu tố thiếu tổ chức , thiếu truyền thống còn có sự phân chia Trung-Nam-Bắc .

Cơ may của Phật giáo đã để lọt tay vì những tranh chấp không đáng tranh chấp ấy .

Phần ông Nguyễn Văn Thiệu đã biết nắm lấy thời cơ để “ yếm ” ông Nguyễn Cao Kỳ bằng cách bắt tay với ông Hương . Sau đó lá bài Trần Văn Hương bị đốt cháy , ông Thiệu đã loại bỏ ông Hương để liên minh trong cái “ liên danh ” Thiệu - Khiêm mà đằng sau có sự hỗ trợ của CIA .

Sau khi bị ông Nguyễn Văn Thiệu bỏ rơi , ông Trần Văn Hương bất đắc dĩ trôi về phía luật sư Nguyễn Văn Huyền như tìm một chỗ đậu thuyền . Và ông Hương đã thề không nói chuyện với Nguyễn Văn Thiệu nữa .


Bắc Trung Nam
Nguồn: photo.zing.vn



Thật ra mà nói , tiếng nói của ông Trần Văn Hương cuối cùng chỉ có tác dụng gây chia rẽ trong hàng ngũ Quốc gia , và sau này chia rẽ ngay cả trong nhóm Liên Trường .

Khi ông Trần Văn Hương nhận ra đứng làm phó cho ông Thiệu, ông đã không hề bàn thảo hoặc thông báo cho nhóm Liên Trường. Ông đã gõ cửa nhóm Bông Huệ , xin chữ ký của liên danh Bông Huệ và ông đã nhận được sự ủng hộ của 17 nghị sĩ ( trong 2 nhóm thuộc liên danh Bông Huệ ) . Có nghĩa là ông Hương được 17 phiếu trên tổng số 60 nghị sĩ .

Mặc dầu ở trong liên danh Bông Huệ , nhưng ông Hương ít khi nào đến dự các phiên họp của liên danh Bông Huệ lấy cớ già yếu , bệnh tật . Khi Thượng nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền hỏi ai đồng ý ủng hộ ông Hương . Nhiều nghị sĩ ở thế kẹt, nể mà ủng hộ .

Riêng phần tôi ( Lê Châu Lộc ) , khi được hỏi , tôi đã thẳng thắn trả lời không .

Mặc dầu cá nhân tôi ( Nghị sĩ Lê Châu Lộc ) có liên hệ thân tình làng xóm với ông Trần Văn Hương . Chúng tôi cùng ở xóm Bến Đò , sông Long Hồ , tỉnh Vĩnh Long . Ba của ông Hương , ông Tư Lân ở ngay trong căn nhà của ba tôi nên tôi biết ông Tư nhiều hơn ông Hương .

Xét về con người ông Hương thì có lẽ giai đoạn ông làm Đô Trưởng Sài Gòn , ngày ngày đạp xe đạp là gây được một hình ảnh tốt về ông . Nhưng chắc vì sợ Bình Xuyên ám hại nên ông đã xin từ chức .

Phần ông Phan Khắc Sửu có cơ hội tham gia nội các của ông Ngô Đình Diệm ngay từ đầu trong vai trò bộ trưởng canh nông. Nhưng năm lần bảy lượt sau này giữ nhiều chức vụ quan trọng như Quốc trưởng, nhưng chỉ là những chức vụ tượng trưng trong vài tháng và cuối cùng biến dạng trên chính trường .

Một người như thế liệu có thể làm được điều gì ?

Phần luật sư Nguyễn Văn Huyền, một người miền Nam chính hiệu , ông không thể nào nghiêng ngả đứng chung với Phong trào Phục hưng miền Nam . Ông chấp nhận trò chơi dân chủ với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vì sợ rằng nếu không có hình ảnh một miền Nam tự do , dân chủ thì sẽ bị Mỹ bỏ rơi .

Tôi chỉ không đồng ý với anh ( tác giả bài này ) khi anh cho rằng , hậu quả của việc quét sạch các giáo phái khiến sau này ông Diệm gặp sự chống đối .

Theo tôi đã có thời từng sống ở thôn quê, từng đi sát với Tổng Thống Ngô Đình Diệm , dân chúng đều coi Bình Xuyên là một lũ ăn cướp . Ở dưới quê , nghe nói đến tên Ba Cụt là hãi hùng . Chính má tôi rất sợ Hòa Hảo . Tên Năm Lửa ở vùng Cái Vồn đúng là hét ra lửa . Họ có súng trong tay , muốn giết , muốn bắn ai là bắn .

Cho nên việc ông Diệm dẹp giáo phái là điều nên làm và được lòng dân chúng , mặc dù có thể có thiểu số tiếc nuối , oán hận .

Còn nói về Liên Trường , tôi nghĩ đó là một số tối thiểu thành phân trí thức khoa bảng đi tìm mưu cầu một thế đứng chính trị phe phái hơn là đại diện cho dân chúng miền Nam . Vì thế , họ chẳng có chút ảnh hưởng gì đến đa số dân miền Nam cũng như chẳng ai biết đến họ và họ cũng chẳng đại diện cho ai cả .

Nếu không họ là đại diện cho chính họ . Phần tôi , không lưu tâm đến họ dù tôi là dân miền Nam chính hiệu .

Cụ thể ít lâu sau phong trào đó bị dập tắt và đi vào quên lãng.


Giáo sư Lưu Trung Khảo

Giáo sư Lưu Trung Khảo, người miền Bắc có lẽ là người đưa ra những dữ kiện cụ thể , có bằng chứng là có kỳ thị Nam - Bắc mà đặc biệt xảy ra trong ngành giáo dục .

Theo giáo sư Lưu Trung Khảo, cái tên Liên Trường là do tướng Mai Hữu Xuân đề nghị với tướng Trần Văn Đôn vì cho rằng người miền Nam bị lép vế với miền Bắc và vì thế muốn “ Phục hưng miền Nam ” .

Phục hưng miền Nam hay Liên Trường thì như thể cánh tay phải , tay trái mà việc phục hưng chỉ là đòi quyền lợi , đòi các chức vụ , đòi chia ghế .Đặc biệt việc kỳ thị này xảy ra dưới thời chính phủ Trần Văn Hương và rõ rệt trong ngành giáo dục .

Chẳng hạn, giáo sư Đàm Xuân Thiều ( gốc Bắc ) vốn là một nhà giáo gương mẫu , thanh liêm và đạo đức . Ông giữ chức vụ Giám Đốc Nha Trung Học . Ông Trần Văn Hương với tay qua ngành giáo dục , cách chức ông Đàm Xuân Thiều một cách vô cớ và còn đầy lên Ban Mê Thuật . Đó là một biện pháp trừng phạt quá đáng chưa xảy ra bao giờ trong ngành giáo dục .

Người thứ hai là ông Đặng Trần Thường , giám đốc Nha khảo thí , cũng bị cách chức đổi lên cao nguyên .

Bác sĩ Nguyễn Văn Thơ là một trong những tổng trưởng liêm chính , gốc miền Nam đã không đồng ý việc giáng chức và biện pháp hầu như trừng phạt ấy .

Hiệu trưởng các trường vốn là gốc Bắc di cư như Hồ Ngọc Cẩn, Trần Lục bị thay thế bằng các hiệu trưởng người miền Nam . Đặc biệt có trường hợp ông Lâm Phi Điểu , một người bạn khá tâm giao của ông Võ Long Triều (xem Hồi ký Võ Long Triều, trang 329). Ông Lâm Phi Điểu được điều về làm hiệu trưởng Hồ Ngọc Cẩn . Nhưng chẳng may ông bị bán thân bất toại phải ngồi xe lăn . Mặc dầu vậy, ông vẫn được giữ chức hiệu trưởng và công văn giấy tờ thì nhà trường phải cho tùy phái đến nhà để ông duyệt xét ký .

Đàng khác , muốn được đề cử làm hiệu trưởng các trung học miền Nam thì phải là người miền Nam , có nghĩa là được Liên Trường đồng ý . Các chánh chủ khảo các kỳ thi cũng từ đó do có chức vụ hiệu trưởng nên cũng thường do người miền Nam đảm nhiệm .

Tuy nhiên , theo nhận xét của giáo sư Lưu Trung Khảo, phong trào Phục hưng miền Nam không kéo dài được bao lâu, coi như tự nó chấm dứt khi các chức vụ tổng trưởng giáo dục được thay thế . Cũng theo sự nhận xét của giáo sư Lê Trung Khảo : " Sự kỳ thị này thật giới hạn chỉ là một chiêu bài của một thiểu số nhỏ trí thức miền Nam " .

Đến độ có thể nói rằng không có vấn đề kỳ thị nghiêm trọng trong các chính phủ liên tiếp ở miền Nam . Một phần do sự khác biệt xung đột văn hóa mỗi ngày một giảm và hòa tan . Một mặt việc hôn nhân giữa trai gái hai miền trở thành điều tự nhiên giúp cho sự ngăn cách hai miền mỗi ngày được rút ngắn lại .

Nói chung , giáo sư Lưu Trung Khảo có một nhận xét lạc quan tương đối về vấn đề xung đột giữa Nam và Bắc .


Giáo sư Nguyễn Văn Trường

Thật ra tôi không có trực tiếp phỏng vấn giáo sư Nguyễn Văn Trường , nhưng một cách gián tiếp qua trung gian kỹ sư Võ Long Triều .

Cá nhân tôi được biết ông Nguyễn Văn Trường là một người khiêm tốn , điềm đạm mẫu mực của một nhà giáo và chắc hẳn cũng không có tham vọng chính trị .

Nhưng thiết nghĩ rằng do thời cuộc đưa đẩy , một giáo sư như ông Nguyễn Văn Trường , có thể ngoài ý muốn đã trở thành những nhân vật của thời cuộc một cách bất đắc dĩ . Thời ấy gọi những người như ông Trường là “ kẻ đấm bóp thời cuộc ” . Ông trở thành Tổng Trưởng giáo dục và một cách minh nhiên , người ta xếp ông vào nhóm các bộ trưởng miền Nam thuộc nhóm Phục Hưng miền Nam .

Ông Nguyễn Văn Trường khi được hỏi đến về các vụ thuyên chuyển này cũng thường phủ nhận một số biện pháp do chính ông ký sự vụ lệnh thuyên chuyển . Dưới quyền ông là Lý Chánh Trung đổng lý văn phòng là người trực tiếp trong các vụ thuyên chuyển . Ông Lý Chánh Trung cũng tránh né tất cả trách nhiệm của ông trong việc này .

Nhưng theo một người bạn vốn là “ nạn nhân ” trong vu Học Đường Mới cho biết: " Lý Chánh Trung về làm đổng lý văn phòng cho ông Nguyễn Văn Trường là để lo “ dọn dẹp ” vụ Học Đường Mới mà họ cho là có lạm dụng để đưa một số giáo chức phe cánh về Sài Gòn " .

Phạm Phú Minh về Bình Tuy , Trần Đại Lộc từ Pétrus Ký sang Nguyễn Trãi , Hà Tường Cát về Biên Hòa , Phan Văn Phùng thay vì về lại Hội An thì từ Pétrus Ký sang Nguyễn Trãi .

Nhưng khi ông Nguyễn Văn Thơ lên thay ông Trường thì Phạm Phú Minh lại được thuyên chuyển về Bộ giáo dục , tiếp tục làm Thanh niên học đường .

Lý Chánh Trung về làm đổng lý cho ông Nguyễn Văn Trường là để lo ” dọn dẹp ” . Cả hai đã có trách nhiệm về sự thay đổi nhân sự cũng như hủy bỏ tất cả kế hoạch cũng như chương trình của giáo sư Trần Ngọc Ninh .

Xin bạn đọc theo dõi những ý kiến của giáo sư Trần Ngọc Ninh , nhà văn hóa , giáo sư y khoa đại học Sài Gòn , khoa trưởng y khoa và tổng trưởng giáo dục trong phần chót của bài viết này .

Ngoài những nhân vật có tiếng tăm có vai trò chính trị trong chính quyền , còn có khá nhiều thành viên trẻ hoạt động chính trị hoặc giữ các chức vụ hạng trung trong ngành giáo dục đã cách này cách khác, gián tiếp hay trực tiếp , một cách minh nhiên hay mặc nhiên là là phe cánh hay là “ người ” của Liên Trường như các giáo chức Nguyễn Hữu Hiệp , Dương Văn Ba , Bành Ngọc Quý , Hồ Ngọc Nhuận .

Một số những người trẻ này còn đóng các vai trò chính trị như làm báo hoặc làm dân biểu ở các địa phương mà nếu không có cái nhãn hiệu ấy cộng với tình thần phe phái thì thật khó có chỗ đứng cao trong ngành giáo dục như thanh tra , giám đốc , chánh sở hay hiệu trưởng trong ngành giáo dục hay dân biểu .

Hầu hết bọn họ không có gốc gác , kinh nghiệm chính trị gì và đều “ ngang xương ” trở thành chính trị gia như phần đông các dân biểu đối lập xuất thân từ giáo chức .

Cái tai hại không biết vì lý do gì , họ thường thường thuộc khối dân biểu độc lâp , hay đối lập , nhất là thiên tả mà trong số đó nhiều người đã ngã hẳn sang phía bên kia .

Đó là các dân biểu Ngô Công Đức , Dương Văn Ba , Hồ Ngọc Nhuận , Lý Quý Chung , Kiều Mông Thu .


Ông Huỳnh Văn Lang

Trong thời gian “ phát động ” của nhóm Liên Trường thì lúc đó ông Huỳnh Văn Lang đang còn phải ngồi trong tù nên ông không có dính dáng trực tiếp gì hay gián tiếp gi đến nhóm Liên Trường .

Nhưng theo sự nhận xét của ông Huỳnh Văn Lang thì ông Nguyễn Cao Kỳ dùng quá nhiều tay chân cấp trung như các quận trưởng trong Đô Thành đều là người gốc Bắc . Bọn người này cũng không có tài cán gì .

Tuy nhiên ông cũng đánh giá thấp nhóm Liên Trường và cho là họ không có vai trò gì quan trọng cả. Gần như họ chỉ toan tính những chuyện lặt vặt liên quan đến chức này chức kia . Ông nhận xét cùng lắm chỉ là những đòi hỏi thay đổi có tính cách hành chánh mà quần chúng nói chung họ chả để ý gì .

Như chuyện tranh chấp giữa ông Phan Khắc Sửu với ông Phan Huy Quát liên quan đến việc bổ nhiệm hai bộ trưởng . Sự việc đó cho thấy sự thất bại của một chính phủ dân sự . Hậu quả là tạo một cơ hội tốt cho quân đội lên nắm chính quyền trở lại như trường hợp ông Nguyễn Cao Kỳ , Nguyễn Văn Thiệu .

Thay vì nói tới việc kỳ thị Nam Bắc , ông nói rất nhiều về kỳ thị Nam Bắc dưới chế độ cộng sản sau 1975 , một phần sử liệu không nhỏ . Nhưng rất tiếc lại vượt ra ngoài mục tiêu nghiên cứu của bài viết này.


Kỹ sư Võ Long Triều

Xin ghi lại lần nói chuyện trực tiếp đầu tiên với kỹ sư Võ Long Triều trong dịp ông đến chở tôi đến đài truyền hình trong một chương hội thoại chính trị kéo dài trong hai tiếng . Tôi có nói là tôi có đọc cuốn Hồi ký của ông Võ Long Triều , cuốn một và tôi có nói rằng cuốn sách viết thiếu một điều quan trọng .

Ông Võ Long Triều dĩ nhiên hỏi tôi điều gì ? . Tôi trả lời là vấn đề Liên Trường mà ông cũng là tác nhân trong đó !

Kỹ sư Võ Long Triều cho rằng ông không phải Liên Trường và còn chống lại Liên Trường là đằng khác , chống lại ông Sửu , nhất là ông Hương . Cuộc trao đổi không được bao lâu thì đã đến nơi . Ông Võ Long Triều có thể nghĩ rằng điều ông nói chưa đủ thuyết phục tôi nên khi vào đến trong đài , lên lầu , ông lấy điện thoại cầm tay và tức khắc gọi cho ông Nguyễn Văn Trường .

Đây là câu chuyện đối đáp giữa hai người mà tôi đã thu băng , có chỗ nghe được ý của ông Nguyễn Văn Trường là nhờ ông Võ Long Triều lặp lại là :


- Này Trường , hồi đầu thằng nào đứng ra mà tổ chức cái Liên Trường đó ? Nó có cái mẹ gì đâu phải không ?

- Phải rồi , có Nguyễn Văn Lộc , Huỳnh Văn Đạo . Còn ai nữa ? Lý Quý Phát . Mấy cha già ở trong đó , moa không ở trong đó , toa cũng không ? Phải vậy không , OK , thôi biết rồi .

- Còn thằng... ( không nghe rõ tên ) , nó sạo để kiếm ghế ( Hai người cười ) . Thôi biết vậy thôi , gửi lời thăm...( không rõ tên )...

- Sau đó , có nhắc đến Kiên Giang Hà Huy Hà rồi Anh Hai Kiên Giang , chủ báo ( Người viết không hiểu rõ nội dung câu chuyện )

- Sau chót , ông Võ Long Triều quay ra nói với tôi rằng cái Liên Trường này nó giống như anh với tôi lập ra một hội ái hữu chơi . Đại khái nó không đi tới đâu .



Cảm thấy câu trả lời của ông Nguyễn Văn Trường là đủ rồi . Ông Võ Long Triều tắt máy .

Tôi thấy cần phải trao đổi thêm với kỹ sư Võ Long Triều nên tôi đã nói chuyện qua điện thoại một lần nữa . Bằng lời rào đón, tôi nói bài viết của tôi dựa trên nguyên tắc Histoire-géo-politique để có tính cách khách quan và trung thực . Tôi chưa giải thích hết , nhưng xem ra cuộc trao đổi không đi đến đâu . Có thể do hiểu lầm, ông Võ Long Triều không chấp nhận lối suy nghĩ của tôi và cắt đứt cuộc nói chuyện .

Và tôi thật rất tiếc về cuộc trao đổi qua điện thoại này .

Tôi cũng đã phỏng vấn nhà báo Uyên Thao nhiều lần , cộng chung trên 20 tiếng đồng hồ và ông cho biết rất rõ ràng lý do tại sao linh mục Nguyễn Quang Lãm , tự Thiên Hổ , chủ nhiệm báo Xây Dựng đã giới thiệu kỹ sư Võ Long Triều cho tướng Kỳ và thái độ của kỹ sư Võ Long Triều như thế nào khi được tiến cử . Nhưng tôi xin dành một cơ hội để kỹ sư Võ Long Triều nếu có dịp đọc bài này thì trong Hồi ký tập 2... ( sắp xuất bản ) , kỹ sư Võ Long Triều nên đưa ra vấn đề một lần nữa một cách đầy đủ và minh bạch hơn .

Tạm thời , tôi căn cứ vào Hồi ký tập 1 để viết về việc xảy ra giữa tướng Loan và kỹ sư Võ Long Triều .

Và đây là tóm tắt nội dung những điều kỳ sư Võ Long Triều biết trong Hồi ký của ông cộng thêm đôi nhận xét của người viết .

Trong nội các Nguyễn Cao Kỳ đã có lần luật sư Đinh Trịnh Chính đóng cửa nhiều tờ nhật báo do người miền Nam đứng tên chủ nhiệm. Việc đóng cửa này không có gì chắc chắn là do ông Đinh Trịnh Chính kỳ thị Nam Bắc . Mà do mấy tờ báo đó thân cộng sản. Nhưng sau khi có sự than phiền , tướng Kỳ cho tái bản tất cả các tờ báo bị đóng cửa . Đóng rồi không đóng như trò đùa . Nếu ông Đinh Trịnh Chính làm đúng , cứ tiếp tục giữ lệnh đóng cửa bất kể chủ nhiệm là Nam hay Bắc .

Điều này chứng tỏ nội các Nguyễn Cao Kỳ làm việc như trẻ con vậy .

Câu chuyện lần này nổ ra vì cái vụng về của ông Nguyễn Ngọc Loan . Ông xông xáo mang cảnh sát tới bắt ông bác sĩ Nguyễn Tấn Lộc Đổng lý Bộ Y tế về tội như đi bắp cướp vì tội “ chia rẽ Nam-Bắc ” . Tội như thế nào không được rõ . Sau đó , ông Loan còn đưa ra những lời đe dọa xa gần “ rất Nguyễn Ngọc Loan ” : " Đ.M tao bắn chết mẹ một vài thằng xem còn thằng nào dám đặt vấn đề Nam Bắc nữa không " .

Việc làm của ông Loan hẳn là “ vô pháp luật ” , chỉ xảy ra dưới thời tướng Kỳ . Tướng Kỳ vì lý do riêng , nhất là cái công của ông Loan “ dẹp loạn miền Trung ” mà bình thường có thể không ai làm nổi đã không có một biện pháp hành chánh đối với ông Loan .

Ông Kỳ chỉ còn mỗi một cách là “ xoa dịu ” 6 vị bộ trưởng người Nam , từng người một trong chính phủ . Đã có buổi họp tay đôi , giữa ông Loan và ông Triều xưng hô theo kiểu mày mày , tao tao chẳng ăn thua gì . Cũng có bữa “ tiệc thông cảm ” của chủ tịch Ủy ban lãnh đạo quốc gia với trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tại dinh thủ tướng ở bến Bạch Đằng . Cũng chẳng giải quyết được gì .

Sáu vị đệ đơn từ chức gồm Phó thủ tướng Nguyễn Lưu Viên , Tổng Trưởng giáo dục Nguyễn Văn Trường , Tổng trưởng Giao thông vận tải Trương Văn Thuấn, Tổng trưởng xã hội Trần Ngọc Liễng , Tổng trưởng Lao động Nguyễn Hữu Hùng và Tổng trưởng Thanh niên Thể thao Võ Long Triều .

Trước tình thế ấy , cách giải quyết của Nguyễn Cao Kỳ cũng rất “ Nguyễn Cao Kỳ ” , Việc gì mà đến nỗi phải xé to chuyện như vậy ? Bầu không khí trở nên nặng nề , tướng Kỳ bực tức ra mặt , nhưng tự kiềm chế và nhẹ nhàng bảo , Thôi được rồi , để tớ xem rồi sẽ nói chuyện với anh em sau .

Để kết thúc phần này về kỹ sư Võ Long Triều , tôi xin trích dẫn một hai đoạn ở phần chót cuốn sách của ông như sau :

" Tôi từ chức để phản đối chế độ cảnh sát trị do chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan áp đặt khi ông bắt giam bác sĩ Nguyễn Tấn Lộc với tội danh " chia rẽ Nam Bắc "... (...) Tôi muốn góp phần ngăn chặn bọn cộng sản vô thần bất lương bành trướng vào miền Nam. Nhưng nửa đường tôi lại từ chức bỏ lỡ cơ hội. Bây giờ nghĩ lại tôi thật lòng hối hận . Lẽ ra tôi phải tiếp tục ngồi trong nội các để triển khai Chương trình phát triển cộng đồng quận 8, đang tiến hành mạnh mẽ ... (...) Tôi nên ngồi đó để can thiệp, ngăn ngừa những sự lạm quyền của đám kiêu bình đầu óc quân phiệt . Nhưng sự háo thắng kiêu căng của tuổi trẻ thúc giục tôi từ quan "


Giáo sư Trần Ngọc Ninh

Giáo sư Trần Ngọc Ninh cho hay là sau khi tham dự một Hội nghị quốc tế về giáo dục do Unesco tổ chức vào năm 1966 , tại BangKok trong đó Nga Xô cũng được mời tham dự . Việc mời được Nga tham dự vào một Hội nghị Quốc tế về giáo dục của các nước Á Châu mở đường cho sự “ cởi mở ” về đường lối chính trị của một nước cộng sản trong vùng và tầm ảnh hưởng ấy kéo dài đến mãi sau này .

Trong cái tầm nhìn về giáo dục thời đó , giáo sư Trần Ngọc Ninh đề ra hướng đi là :


Thứ nhất , thiết lập một Trung Tâm khảo cứu Giáo Dục Á Châu.

Thứ hai , thiết lập một trung tâm học liệu Đông Nam á châu, trong đó có Việt Nam.

Thứ ba , thiết lập một viện khảo cứu các bệnh nhiệt đới.


Đấy là tầm nhìn xa của một nhà giáo dục hơn là một nhà chính trị .

Cụ thể trước mắt giáo sư đã thực hiện được những công việc sau đây . Nội trong ba tháng đầu sau khi nhậm chức, giáo sư Trần Ngọc Ninh đã cho giải tỏa được tất cả các lớp học buổi trưa rất nóng bức cho các trẻ em nhỏ . Ông đã cấp tốc xây thêm trường học , ngay cả nhờ quân đội , đi xin gỗ , xin gạch xây dựng các lớp học bằng vật liệu tiền chế để các em học sinh tránh được các lớp học buổi trưa .

Nhiều nơi khuyến khích các học sinh tham gia vào công việc xây dựng trường sở với khẩu hiệu “ chúng ta phải lấm tay ” . Các sinh viên kiến trúc “ sắn tay ” đến các trường cùng với các em học sinh thực hiện các công tác này . Cụ thể như trường Gia Long , các nữ sinh đã thực hiện lấy nhà để xe .

Chính những công tác này làm nảy sinh khái niệm và tổ chức có tên là “ Học Đường Mới ” CPS . Tổ chức này nhằm mục đích đưa giới trẻ vào các sinh hoạt “ ngoài phạm vi học đường ” như các công tác xã hội , chương trình cắm trại, các trại hè, chương trình xây dựng trường sở v...v.... . Cả một khối khoảng 30 giáo sư trẻ từ khắp nơi đổ về Sài gòn làm thí điểm, mà oái ăm thay phần lớn là người Bắc thực hiện những chương trình này. Tên tuổi của họ nay còn để lại dư âm như Lê Đình Điểu, Đỗ Quý Toàn , Hà Tường Cát , Phạm Phú Minh , Trần Đại Lộc .

Trong bài viết 20 năm tuổi trẻ miền Nam , người viết bài này phân ra hai loại tuổi trẻ :

Tuổi trẻ “ Xuống đường ” gồm những thành phần sinh viên viên tranh đấu , tả phái và cực tả ngả theo cộng sản mà công tác của họ là biểu tình , hoan hô, đả đảo , xuống đường chạm trán với lựu đạn cay và hàng rào kẽm gai .

Tuổi trẻ “ Lên đường ” gồm những người trẻ dấn thân vào các hoạt động xã hội như nhóm CPS , các nhóm Du ca , nhóm quận 8 .

Ông còn có chương trình như hủy bỏ hoàn toàn kỳ thì tiểu học rất vô ích chỉ làm khổ học sinh , dần hủy bỏ kỳ thi Trung học đế nhất cấp và quan trọng hơn nữa hủy kỳ thi tú tài phần thứ nhất .

Giáo sư Trần Ngọc Ninh thú nhận với người viết là tôi không ngờ bị sự chống đối dữ dội bới các giáo sư trung học dạy luyện thi tú tài , vì đó là nồi cơm của họ .

Điểm cuối cùng giáo sư Trần Ngọc Ninh nhấn mạnh với người viết là hủy bỏ các kỳ thi là trao cái quyền cho ông thầy dậy các học sinh đánh giá trực tiếp họ qua học bạ thay vì dành cái quyền tối thượng đánh giá trong vài ngày của các vị giám khảo nghiệt ngã và bất công .

Đây là một quan điểm nhìn mới về giáo dục ở thời đó . Dám nghĩ như thế và dám làm .

Nhưng khi trở về từ hội nghị tại Bangkok , giáo sư Trần Ngọc Ninh cho biết là ông Nguyễn Cao Kỳ do áp lực của nhóm Liên Trường đã buộc ông phải từ chức .

Mặc dù giáo sư Trần Ngọc Ninh không chỉ đích xác là ai , nhưng người viết bài này được biết chính kỹ sư Võ Long Triều khi vui miệng đã tiết lộ ông là người đề nghị với tướng Kỳ thay thế giáo sư Trần Ngọc Ninh .

Phần giáo sư Trần Ngọc Ninh , ông lẳng lặng rút lui .

Tôi hỏi thêm ông một câu : " Thế các dự án của giáo sư và các chương cải tiến giáo dục Việt Nam rồi kết cục ra sao ? " .

Những người thay thế đã xóa sạch toàn bộ các chương trình ấy . Chỉ sau hai tuần lễ , các giáo sư thuộc chương trình Học Đường Mới nhận được sự vụ lệnh giải tán chương trình CPS và trở về nhiệm sở cũ .


Kết luận

Đối với vấn đề kỳ thị Nam Bắc nó chỉ là một rạn nứt nhỏ khó tránh khỏi giữa hai miền . Nhiều trường hợp có thể chấp nhận được không đáng nói tới . Và đặc biệt nó không xuất hiện rõ rệt ở phía quân đội , nhất là ở nền đệ nhị Công Hòa . Trong quân đội , sự thuyên chuyển tùy thuộc phe phái , thuộc liên hệ quen biết hay bà con , thuộc nguồn gốc là sĩ quan Đà Lạt hay trường bộ binh Thủ Đức .

Dầu muốn dầu không những việc như thế cũng phải xảy ra trong bối cảnh xã hội và lịch sử ấy.

Điều hối tiếc là chương trình giáo dục của giáo sư Trần Ngọc Ninh coi như bị xóa bỏ hoàn toàn.

Cái thiệt thòi nhất vẫn là tuổi trẻ miền Nam sau những “ xáo trộn chính trị ” ấy của người lớn.

Tuổi trẻ vần phải miệt mài , có những đêm thức trắng, tuổi trẻ xanh xao vàng vọt với thi cử và khung cửa hẹp của nền giáo dục vẫn khép kín , gò bó , thiếu ý thức dấn thân vào xã hội , cộng đồng .




© DCVOnline

Sách tham khảo: Hồi ký Võ Long Triều, tập 1, trang 462-468, nhà xuất bản Người Việt 2009 .




Nhìn lại vấn đề kỳ thị Nam Bắc (II)

Nguyễn Văn Lục





2. Cuộc di cư 1954-1955 và những cú sốc văn hóa

Nhìn lại cuộc di cư từ miền Bắc vào miền Nam 1954-1955, người ta thường chỉ nhắc tới khía cạnh chính trị trong đó gần một triệu người miền Bắc , phần lớn là nông dân đã chọn lựa tự do để vào miền Nam .

Vì vậy ít ai lưu tâm tới cú sốc văn hóa giữa người dân hai miền . Người viết cũng đã viết một bài nhan đề : Cuộc di cư chữ nghĩa để nói được một phần nào những “ xung đột ” xã hội của hai miền .

Nếu người di cư mang tâm trạng lẫn lộn giữa ngỡ ngàng , lo lắng đan xen với hy vọng và vui mừng thì người dân miền Nam bản địa có thể có tâm trạng ngạc nhiên , có thể bực bội và khó chịu hơn là vui mừng .

Tất cả những tâm trạng lẫn lộn từ hai phía đều là tự nhiên và hiểu được .

Nhìn một cách chung chung thì dân số người dân miền Bắc di cư với con số một triệu người , tương đương gần một phần mười dân số miền Nam .

Chỉ nội điều này thôi , sự có mặt của một triệu người di cư này tự nó đã là một vấn đề rồi .

Có giai thoại mà ông Huỳnh Văn Lang kể cho tôi nghe bà má của ông , một bà cụ miền Nam hỏi con trai rằng :

Những người mới tới ở nước nào và họ nói thứ tiếng gì má không hiểu ? . Khi những đợt người di cư đâu tiên đến tỉnh Sađéc , bà con còn kéo nhau ra xem người Bắc là người thế nào ? . Phần đông người Bắc , theo giáo sư Lưu Trung Khảo được đồng hóa với người Huế . Từ đó trong dân gian có những nhận xét như : Bắc Kỳ rau muống , Bắc Kỳ ăn cá rô cây, Bắc Kỳ “ đểu ” .

Một cái nhìn chung cho thấy dân miền Bắc di cư , một thiểu số thuộc thành phần trí thức tiểu tư sản có phần ưu thế về văn học với những cây viết sau này làm nên sự nghiệp với những tên tuổỉ như Doãn Quốc Sỹ , Nhất Linh , Mai Thảo , Tạ Ty , Nguyên Sa , Nguyễn Văn Trung . Những tạp chí cũng như báo chí có tiếng tăm một thời như Sáng Tạo, Hiện Đại , Thế Kỷ 20 , Quê Hương cũng như các tờ báo như Chính Luận , Tự Do , Hòa Bình , Sống, Xây Dựng , Sóng Thần , Đời đều do người Bắc làm chủ .

Trong phạm vi giáo dục , nhất là ở bậc trung học , nhiều giáo sư trung học như Ngô Duy Cầu , Lê Bá Kông , Lê Bá Khanh , Bùi Hữu Sủng , Bùi Hữu Đột , Trần Bích Lan hay các giáo sư Toán , Lý , Hóa đã “ làm mưa làm gió ” một thời . Giọng Bắc trở thành “ mẫu mực chuẩn ” cho việc giảng dạy và nhất là trên các chương trình đài phát thanh cũng như truyền hình . Nhiều ca sĩ gốc Nam và Trung đã học dể có thế phát âm đúng giọng Bắc .

Các học sinh Chu Văn An và Petrus Ký là hai trường tiêu biểu giữa Nam Và Bắc cũng có những va chạm cá nhân nho nhỏ không thể nào tránh được .

Về mặt thương mại , nhiều thương gia miền Bắc cũng tỏ ra lấn lướt và có mặt phần lớn trên các cơ sở thương mại , chiếm lĩnh các đường lớn Lê Lợi , Lê Thánh Tôn , Trần Hưng Đạo và nhất là đường Tự Do . Ngay tại các trại định cư, sau một năm được trợ cấp , họ cũng dần tự mình cố gắng vươn lên bằng đôi bàn tay và bằng ý chí sắt đá , bằng sự chịu thương , chịu khó, bằng tinh thần vừa làm vừa tiết kiệm .

Họ nghèo ở đất Bắc , nhưng mau chóng giàu ở đất Nam Kỳ .

Trong lãnh vực quân sự, nhiều sĩ quan trong các binh chủng và các lực lượng đặc biệt Việt Nam Cộng Hoà thường là gốc Bắc :

“ Consider the impact on the ARVN: as of 1964, some of 48 percent of troops manning the two divisions in the Saigon region were northerners, with a larger proportion of Catholics, whereas the ARVN as a whole was largely Buddhist. Northerners also filled the ranks of the ARVN’s elite Airborne units. Among Vietnamese generals- Diem promoted roughly seventy individuals to that rank-northerners đid not predominate, but favored classes did: Fully one-third of ARVN generals were the sons of landowners, another fifth were the sons of officials, and an additional tenth were from military families-in all, startling 63.3 percent. Only three ARVN generals were the sons of peasants. Of those who ađmitted a religious affiliation, the overwhelming majority were Catholics. Just four generals were known to be Budhists. In short, Diem governed for a rather narrow base ” .

Chẳng hạn, trong Lữ Đoàn Liên Binh phòng vệ phủ Tổng thống , một số cấp chỉ huy là gốc Bắc , gốc Trung hay là người theo Thiên Chúa giáo . Tỉ dụ , trung tá Lê Ngọc Triển , tư lệnh Lữ Đoàn , y sĩ Nguyễn Tuấn Anh , trung tá Nguyễn Đức Giang , trung tá Phạm Nhuận , trung tá Nguyễn Hữu Duệ , tác giả cuốn " Nhớ lại những ngày ở cạnh Tổng thống Ngô Đình Diệm " .

Phải chăng đó là nguồn gốc những đố kỵ khó tránh khỏi ? . Nhưng trong tinh thần cạnh tranh sinh tồn để tồn tại theo quy luật xã hội lành mạnh , hố ngăn cách khác biệt giữa người miền Nam và miền Bắc dần dần được san bằng .

Tuy nhiên về mặt chính trị , việc “ dọn dẹp ” các lãnh tụ Cao Đài , Hòa Hảo , Bình Xuyên bằng thương nghị hoặc bằng quân sự để thống nhất Quốc gia về một mối là điều nên và phải làm . Dầu vậy, cái chết của Thiếu tướng Trịnh Minh Thế ngày nay vẫn còn là một ẩn số cũng như vụ án tử hình Ba Cụt để lại “ vết nhăn lịch sử ” qua nhiều dư luận và tin đồn mà một số người khó có thể quên .

Tác giả Đoàn Thêm đã viết đầy đủ từng sự việc, từng chi tiết , ngày giờ , địa điểm để thấy rằng vụ án Ba Cụt có thể không làm khác trong tình thế lúc bấy giờ .

Vì thế , trong nội các thành lập ngày 24-9-1954 của chính phủ Ngô Đình Diệm , thủ tướng Diệm đã cố gắng đến mức tối đa nhân nhượng với thành phần chính phủ gồm các giáo phái tham gia như : Ủy viên quốc phòng do Trung tướng Trần Văn Soái ( Hòa Hảo ) và Thiếu tướng Nguyễn Thành Phương ( Cao Đài ) , Bộ trưởng Kinh tế, Lương Trọng Tường ( Hòa Hảo ) , Bộ trưởng Canh nông , Nguyễn Công Hầu ( Hòa Hảo ) , Phạm Xuân Thái ( Cao Đài ) , Bộ trưởng Xã hội Nguyễn Mạnh Bảo ( Cao Đài ) , Bộ trưởng Nội vụ , Huỳnh Văn Nhiệm ( Hoà Hảo ) , Thứ trưởng Nội vụ Nguyễn Văn Cát ( Cao Đài ) .

Một chính phủ với sự kết nối nhiều thành phần chính trị cũng như tôn giáo tưởng được coi như một giải pháp chính trị tối ưu lúc bấy giờ chẳng mấy chốc tan ra như bong bóng xà bông .

Vì vậy vào giai đoạn chót của nền đệ nhất cộng hòa, những vết nhăn ấy trở thành vết thương nhức nhối và người ta kịp nhận ra rằng những vết thương nay trở thành hiện thực trong những thành phần chống đối chính quyền Ngô Đình Diệm .

Lịch sử đã không quên và từ đó nảy sinh ra sự chống đối từ nhiều phía cho đến khi nền đệ nhất cộng hòa bị xóa sổ .

Theo ông Phạm Văn Lưu trong Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam 1954 - 1963 , đó là những thách đố nghiệt ngã của chính quyền Ngô Đình Diệm .

Giáo sư Vũ Quốc Thúc lại đã đưa ra nhận xét khác về những nguyên do chính trị như sau :

“ Đừng quên rằng, trong bầu khí sôi động ở nước ta, trong hậu bán niên 1954, có nhiều người Nam Kỳ cũ, chưa biết rõ nguy cơ cộng sản. [..] Những người Nam này bắt đầu thắc mắc về thực chất của Mặt trận Việt Minh sau khi tiếp xúc với đồng bào di cư, được nghe họ thuật lại những chuyện đấu tố nhiều làng ở miền ”


Nền Đệ nhị Cộng hòa và “giấc mơ phục hưng" miền Nam

Sau năm 1963 , cái tinh thần miền Nam tạm thời là một khối thống nhất những năm trước đó nay không còn nữa . Cái thời mà giáo sư Vũ Quốc Thúc trong cuốn sách nêu trên đã gọi là : Ở miền Nam , ta có thể đánh giá đó là những năm tươi sáng nhất .

Nay thì nhiều xu hướng tôn giáo, chính trị, đảng phái và một cái tên cũ “ Nam Kỳ của người miền Nam ” lần lượt xuất đầu lộ diện .

Miền Nam sau năm 1963 rối tung lên như một nồi canh hẹ . Lý Chánh Trung gọi nó bằng cái tựa " Ba Năm xáo trộn " cho đầu đề một cuốn sách của ông .

Nguyên do nào miền Nam có thể rơi vào hoàn cảnh “ vô chính phủ ” đáng lo ngại như thế ?

Câu trả lời có thể vắn tắt nằm trong nội dung cuộc phỏng vấn của người viết bài này với trung tướng Tôn Thất Đính vào ngày 10 tháng 7 năm 2010 . Người viết đã hỏi ông hai câu hỏi : Điều gì , với tư cách một sĩ quan cao cấp của quân đội Việt Nam Cộng Hoà đã làm trung tướng hãnh diện và điều gì đã làm trung tướng cảm thấy hối tiếc ?

Câu hỏi thứ nhất xem ra quá dễ dàng và tướng Tôn Thất Đính đã trả lời thao thao bất tuyệt . Nhưng câu hỏi thứ hai xem ra quá khó đối với ông . Mới đầu , ông quyết liệt từ chối không muốn nhắc tới , muốn quên đi .


TT. Ngô Đình Diệm ( 2/11/1963 )
Nguồn: Wikipedia.org



Người viết bài này muốn trung tướng phải nói, phải lên tiếng với tư cách một nhân chứng lịch sử . Cuối cùng tướng Đính thú nhận rằng , điều mà ông hối tiếc trong vai trò một tướng lãnh miền Nam , là ông có trách nhiệm vì đã lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm và dẫn đưa đến cái chết của hai người là cố tổng thống Ngô Đình Diệm và ông cố vấn Ngô Đình Nhu .

Ông đã không tiếc lời đề cao hai con người ấy và dĩ nhiên cũng không tiếc lời mạt sát các tướng lãnh miền Nam trong vai trò tay sai Mỹ .

Câu trả lời của trung tướng Tôn Thất Đính có giá trị lịch sử như một bằng cớ không chối cãi được về cái sai lầm của những ai đã nhúng tay vào việc lật đổ nền Đệ nhất Cộng hòa đưa cả miền Nam vào một khúc quanh lịch sử với nhiều oan khiên và nghiệt ngã .

Điều đó đủ nói lên rằng kể từ ngày này , 1-11-1963 , nó đã trở thành “ vết nhơ khó tẩy ” của lịch sử miền Nam mà ngay như những kẻ có trách nhiệm như trường hợp tướng Đính cũng nhận ra sự thật là họ đã sai quấy .


Ba Triệu Bạc cuả CIA, Chương 7: Cái Chết của TT. Ngô Đình Diệm
Nguồn: Việt Nam Chính sử Nguyễn Văn Chức/blog Công Tử Hà Đông HHT đăng lại





( còn tiếp )



© DCVOnline


Sách tham khảo :

(1) Vietnam: The History of an Unwwinnable War, 1945-1975, John Prados, trang 59, University Press of Kansas , 2009 .
(2) Việc từng ngày, 1945-1965, trang 156-157, Đoàn Thêm .
(3) Thời đại của tôi cuốn 1, Vũ Quốc Thúc, trang 235-236 .


Chú thích :

1. Ba Cụt đã từng trá hàng 6 lần dưới thời Pháp thuộc và đòi hỏi những điều kiện mà chính phủ lúc bấy giờ khó có thể chấp nhận được. Xin đọc thêm " Việc từng ngày 1945-1964 " của Đoàn Thêm , từ trang 197 nhà xuất bản Xuân Thu, Hoa Kỳ để biết rõ và đầy đủ vụ án Ba Cụt đã xảy ra như thế nào .

2. Ngày 5-5-1955, tàn quân Bình Xuyên tan rã phải rút chạy về Rừng Sát. Ngày 18 tháng 6 năm 1955, tướng Nguyễn Ngác Ngộ và 5 tiểu đoàn Hòa Hảo đầu hàng . Cũng vây , tướng Trần Văn Soái cũng quy hàng sau đó . Phần tướng Nguyễn Văn Hinh chạy sang Phnom Penh và từ đó bay sang Pháp .

3. Những điều trung tướng Tôn Thất Đính phát biểu được trích dẫn trong bài này đã được người viết thâu băng.





Nhìn lại vấn đề kỳ thị Nam Bắc (I)




Nguyễn Văn Lục




André Maurois – nhà văn Pháp (1885-1967), khi viết về những kinh nghiệm chiến tranh như cuốn Les silences du Colonel Bramble - có lần đã viết: “ Đôi khi người ta cần đọc lại một quá khứ, bởi vì người ta hằng mong muốn cái quá khứ ấy nó tốt đẹp hơn nữa ” .

Trong ý hướng đó, người viết bài này mong muốn mỗi một sự việc, một câu chuyện được viết ra trong bài này - dù tích cực hay tiêu cực, dù hay hay dở - dù đó là có công hay tội với lịch sử . Nó cũng đáng để cho người đời sau đọc để mà suy nghĩ , để làm bài học cho chính mình hoặc cho con cháu mình .

Bài viết này cũng như tất cả các bài viết khác trong tập sách sắp tới của tác giả này đều nhắm một mục đích khơi dậy quá khứ để mở ra tương lai .

Vì thế , đây là những bài viết không hẳn để phê phán, để định công luận tội mà như một nhìn lại . Ở đâu cũng vậy và ở thời nào cũng vậy , sự trung thực và sự can đảm dám nói lên vẫn là tiêu chí cho một người cầm bút .


1. Chế độ thực dân Pháp với chính sách Nam Kỳ tự trị

Thật ra , sự phân chia Nam-Bắc đã manh nha từ cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn phân tranh kéo dài gần ba thế kỷ rồi .

Cuộc nội chiến ấy có thể bắt đầu từ một “ khoanh vùng ” đất đai . Rồi từ đó để sở hữu cái gia tài của mình, bảo vệ những cái mình có được nên phải đụng đến binh đao. Nhưng để tìm một thứ chính nghĩa [raison d’être] về cho mình . Cả hai phía đều vận dụng những huyền thoại như luân lý , lịch sử , chính tà để biện minh cho những tham vọng của hai phía .

Sự khác biệt ấy đi đến thế đối đầu và được định vị bằng tên gọi là : Đàng Trong , Đàng Ngoài . Đằng ngoài là những người dân bản địa cố cựu . Đàng Trong là người dân vùng đất mới .

Vì thế , ngay từ khi chúa Nguyễn Hoàng còn sinh thời thì chữ Đàng Trong , Đàng Ngoài đã được dùng rồi . Thật vậy , C. Borri đã sống ở Đàng Trong từ năm 1618-1622 và đã soạn bản Tường Trình Về Đàng Trong và đã cho phát hành bằng tiếg Ý và tiếng Pháp vào năm 1631 . Riêng Alexandre De Rhodes , sau khi truyền giáo ở Đàng Ngoài ba năm 1627 - 1630 đã viết bản Tường Trình Về Đàng Ngoài hay Lịch Sử Đàng Ngoài rồi . Chế độ thực dân Pháp khởi đầu từ một số thương buôn đầy tham vọng đến từ những năm xa xôi 1625 , ( trong đó có cố đạo Alexandre De Rhodes ) . Những thương buôn này biết lợi dụng những cơ may của tình thế xã hội chính trị , áp đặt lên chính phủ Pháp . Và để bảo vệ quyền lợi kiều dân Pháp , chính phủ Pháp đã áp đặt trên đất Việt một chế độ thực dân và một chế độ tay sai bản xứ với sự có mặt lần đầu tiên của binh đội Pháp .


Máy nước tại Sài Gòn
Nguồn: OntheNet


--------------------------------------------------------------------------------

Nhưng sự có mặt ấy phải đợi đến năm 1858 mới thực sự thành hình .

Nghĩa là 60 năm sau ngày triều đình Nhà Nguyễn trị vị trên ngôi báu .

Sáu Mươi năm - một thời gian chưa đủ dài - để cho triều đình có cơ may chuẩn bị cho cuộc đối đầu mà cuối cùng không xong . Nhưng dù sao thì cũng có ít nhất Sáu mươi Hai cuộc nổi dậy cách này cách khác chống lại người Pháp mà phần lớn đều không xuất phát từ ý chí của triều đình Huế .

Chính sách của thực dân Pháp nhằm đồng hóa bằng cách đào luyện một số tinh hoa sẵn sàng chấp nhận vốn văn hóa Pháp cũng như vai trò phụ thuộc để điều hành xứ Nam Kỳ . Nếu vào những năm 1860 - 1867 cho đến năm 1905 , thành phần trí thức tinh hoa này còn tỏ ra ít ỏi . Nhưng theo tiến sĩ Milton E.Osbome , khảo sát trí thức miền Nam cho thấy chỉ bốn thập niên sau , nghĩa là vào khoảng năm 1940 , giai tầng trí thức này trở thành những phần tử đông đảo và then chốt trong xã hội Nam Kỳ . Họ được đào tạo đến nơi đến chốn , có chức năng chuyên môn cao thuộc đủ lãnh vực từ y tế , luật học, giáo dục , và các ngành nghề khác .

Các gia đình có quyền thế này có xu hướng tìm kiếm hướng giáo dục đào tạo tại Pháp từ đó có chức vụ và tạo được sự giàu sang, phú quý .

Đó là con đường vòng vo , học để có chức vụ cao , chức vụ cao sẽ đưa đến sự giàu sang .

Một khuôn mẫu xã hội như thế với thành phần trí thức bản xứ đặt quyền lợi mẫu quốc trên tình tự và quyền lợi quốc gia , dân tộc phù hợp và đáp ứng đúng với các tham vọng của người Pháp nhằm đạt được những mục tiêu chính trị của họ .

Những thành phần trí thức tinh hoa này có khoảng 133 nhân sĩ theo học bên ngoài thuộc địa Nam Kỳ , một số học ở Hà Nội và một số học ở Pháp , 37 người trong số họ làm ở phủ Toàn quyền , 5 người tại các xứ Bảo hộ Trung Kỳ - Bắc Kỳ, 14 người dạy học, 8 người trong ngành y khoa, 4 trong dịch vụ hay Pháp lý , 6 là kỹ sư hay nông học , 7 làm chánh tổng .

Trong số ấy , nổi tiếng và tiêu biểu nhất là kỹ nghệ gia Trương Văn Bền giàu có nhất trong thời ấy . Ông được coi như một kỹ nghệ gia , khởi sự bằng việc xây cất nhà máy lúa và nhà máy chế tạo dầu , nhà máy xà bông . Ông sở hữu 18.000 mẫu ruộng vào những năm 1918 .

Trong số những người giàu có về lúa gạo , người ta thống kê trong 14 tỉnh phía Nam có 244 người được biết là có từ 500 mẫu ruộng trở lên . Không hiểu có được bao nhiêu người giàu có ở xứ Bắc Kỳ đạt được con số 500 mẫu ?

Trở thành giàu có , có chức quyền gián tiếp trở thành như cánh tay nối dài của chủ nghĩa thực dân Pháp , phục vụ cho quyền lợi người Pháp là điều khó tránh khỏi .

Đó là cái căn cước tập thể của khối tinh hoa trí thức miền Nam thời Pháp thuộc .

Nhiều người không ngần ngại bày tỏ thái độ Tây hơn cả Tây . Ấy là chưa kể cái bệnh sính tiếng Tây hơn Tây . Theo giáo sư Lưu Trung Khảo , các sĩ quan Thủ Đức các khóa 3 - 4 được các sĩ quan huấn luyện viên mời tới nhà đều dùng tiếng Pháp để trò chuyện .

Trong khi đó, ở ngoài miền Bắc , các chương trình giáo dục đều đã dùng tiếng Việt với những lớp sư phạm đầu tiên với các tên tuổi sau này như Lê Xuân Khoa , Nguyễn Quý Bổng , Vũ Ngọc Khôi , Bùi Trọng Chương , Đình Xuân Thọ và Lưu Trung Khảo .

Giới tinh hoa “ trí thức bơ sữa “ này tham gia vào hoạt động chính trị tiêu biểu thời đó là Hội Đồng thuộc địa .

Họ tượng trưng cho những Nghị gật trước đây và “ dân biểu nhất trí ” bây giờ .

Và nếu có một sự phân biệt ngay cả đố kỵ và việc kỳ thị Nam Bắc thì phần lớn cũng bắt đầu từ các thành phần trí thức tinh hoa này mà ra .

Nhưng cần sự kỳ thị Nam Bắc này bắt nguồn từ một ý thức về quyền lợi vật chất nhiều hơn sự dị biệt về tiếng nói hay sự khác biệt địa phương .Thật khó có thể nói khác được . Sự kỳ thị ấy có thực và được biểu lộ dưới nhiều hình thức trong đối xử , trong ngôn từ và trong cách thức nhìn nhận .

Vấn đề cũng phải nhìn nhận một lần nữa sự phân biệt đối xử ấy mang đậm nét cá nhân , tính phe nhóm . Tuy nhiên cường độ áp lực phân biệt Nam Bắc tương đối thoáng và chưa bao giờ trở thành một khủng hoảng đưa đến sô sát , ngay cả thanh toán , chém giết .

Những thành phần theo Tây chẳng những có óc kỳ thị Nam Bắc mà còn cộng thêm sự kỳ thị giai cấp , giai cấp giàu nghèo , giai cấp thống trị và bị trị .

Đến có thể nói theo Tây thì không còn được coi là người Nam Kỳ chính hiệu nữa . Đó là những thứ “ tây quăng ” tự coi mình là người ngoại quốc kỳ thị với người “ dân Annam ” .

Vì thế , sự kỳ thị mang tính chất giả tạo của phái “ quý tộc ” và nhất thời . Bởi vì giả dụ Tây đi rồi , Nhật đến , Mỹ đến hay Tầu đến thì cái mục đích của họ vẫn là một , không thay đổi : họ sẽ trở thành Mỹ thành Nhật và thành Tầu dễ dàng miễn là phục vụ cho túi tiền của họ .

Cho nên , khi phê phán về thái độ kỳ thị Nam Bắc của thành phần này thì không có nghĩa vơ đũa cả nắm đến đa số dân chúng sống ở miệt vườn và miệt ruộng . Dân miệt vườn còn mang đầy nét đặc thù , cá tính miền Nam của những câu chuyện kiểu Hương rừng Cà Mâu của Sơn Nam .

Đó là những nét đẹp tâm hồn của dân miệt vườn mà 100 năm thuộc địa , người Tây thực dân đã không cách nào lấy đi được .

Phải chăng đó là cái hồn dân tộc có tác dụng làm thăng hoa cả hai miền đất nước ?

Dĩ chí , người dân miền Nam còn có thể tự hào và hãnh diện về một thứ văn minh miệt vườn , tự hào là dân chúng ở thôn quê đã có thể dung hợp nhau và chưa hề bao giờ có những thảm trạng đáng trách xảy ra sau cuộc di cư 1954-1955 .

Cứ nghĩ như thế cho thấy vấn đề phân biệt Nam - Bắc có phần thực và phần giả tạo đan chen vào nhau . Nói thực cũng đúng và nói không thực cũng đúng .

Trong Histoire du V.N de 1940 à 1952, ký giả Devillers nhìn nhận rằng có một số giới “ trí thức Nam Kỳ ” thuộc loại “ bơ sữa ” tin vào sức mạnh của người Pháp và chủ trương chính sách một xứ Nam Kỳ tự trị là điều tốt đẹp nhất cho tương lai xứ sở này . Và rằng bọn kháng chiến , trong đó có Việt Minh chỉ là bọn chết nhát . Chỉ cần nổ vài phát súng thì sẽ lập lại trật tự và chẳng cần thương thuyết với bọn đó làm gì .

Có vị lại còn bạo miệng hơn chủ trương xây dựng một “ vạn lý trường thành ” ở Trung Kỳ để phân định ranh giới Nam Bắc . Chính phủ Nguyễn Văn Thinh đại diện cho những " thành phần bơ sữa ” ra đời trong cái tình huống đó .

Câu chuyện cũ lịch sử nay nhắc lại cho thấy rằng vào cái thời đó Cédille cũng như đại tướng Lerclerc chia sẻ cái niềm lạc quan hão huyền ở trên và đã không ngần ngại tuyên bố : " Một tuần là tôi bình định xong Nam Kỳ , binh đội Viễn chinh tới đâu là quân đội kháng chiến chạy trốn hết " .

Say sưa với những lời ngọt ngào ấy , Cédille mới hùng cứ dinh Thống Đốc Nam Kỳ , bỏ rơi Thủ tướng Thinh phải lấy nhà riêng của mình làm dinh Thủ tướng .

Theo Hồi ký 1925 - 1964 của Nguyễn Kỳ Nam, phải có mặt tại Sài Gòn , và nhất là có mặt tại Hội đồng Tư vấn mới rõ Cédille Cộng Hòa Ủy viên Pháp tại Nam Kỳ - đối đãi với thủ tướng Thinh ra làm sao . Nay dầu có thuật lại cách nào đi nừa cũng không thể diễn tả đúng tình trạng giao thiệp giữa Cộng Hòa Ủy viên với một chính phủ mà họ gọi là tự trị . Họ làm như Cộng Hòa Ủy viên là Thống đốc Nam Kỳ , còn Thủ tướng Thinh là một chính phủ riêng của các chủ đồn điền Pháp để ra cho có hình thức vậy thôi .

Nhưng cái bọn “ trí thức bơ sữa ” ấy phỏng được bao nhiêu ? . Có đại diện cho quyền lợi nhân dân xứ Nam Kỳ bên cạnh những khuôn mặt trí thức miền Nam có tên tuổi như Tạ Thu Thâu, Phạm Ngọc Thạch , Hồ Hữu Tường , Hồ Văn Ngà ?

Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh ( 10-1988 - 11-1946 ) sau đó trở thành con vật tế thần bị bỏ rơi bởi bọn Tây thuộc địa . Hội đồng cố vấn gồm Bazé và Béziat đã đổ tội cho thủ tướng Thinh là nguyên cớ cho sự rối loạn ở các tỉnh và yêu cầu thủ tướng phải cải tổ chính phủ vào kỳ hạn 15-11-1946 .

Cuối cùng thì thủ tướng Thinh cũng phải nói ra điều phải nói . Nhưng nói thật ra thì còn gì là danh dự của một chính phủ được gọi là tự trị ? . Đó là một chính phủ thực sự bù nhìn . Họ không có quyền gì " ráo trọi ” đến nỗi không có một công sở để làm Thủ tướng phủ .

Nghĩ lại sao nó giống cách dàn dựng ra Mặt trận giải phóng miền Nam thập niên 1960 đến thế .

Không quyền , không trụ sở , không có nhân viên thì làm sao điều hành với tư cách một thủ tướng ? . Ông đành cắn răng chịu đựng im lặng .

Và để trả lời cho cái tình thế bị phản bội này, ông lập chính phủ mới, nhưng đây là câu chuyện được ký giả Nam Đình ghi lại như sau:

" Lập chính phủ mới xong, tưởng đâu hôm nay, Hội đồng chánh phủ thảo luận Tuyên cáo và đặt để chương trình hoạt động chớ đâu ngờ "

Bác sĩ Thinh thở dài .

Không lẽ đi tìm các bộ trưởng khác nữa !

Các ông “ Bộ trưởng từ chối ” lần lần ra về giữa đêm tối. Bác sĩ Thinh lên lầu...Thủ tướng phu nhân - người Pháp - hiện ở Ba Lê . Tại tư thất không có vợ con . Bác sĩ Thinh sống với những người bạn tâm phúc .

Đêm nay bác sĩ Thinh thức khuya lắm .

Thấy vậy , người bạn thân của bác sĩ lên lầu khuyên ông :

- Đêm đã khuya quá rồi, thưa Thủ tướng . Ngày mai còn làm việc nữa .

Thủ tướng Thinh gật đầu. Và đóng cửa phòng lại .

Thường ngày , Thủ tướng dậy sớm lắm . Nay sao giờ này chưa dậy ?

Đôi ba người trong nhà ngờ vực , nhứt là mấy lời căn dặn vủa ông tòa Weil , nên hội ý mở cửa phòng Thủ tướng đặng đánh thức ông dậy .

Ai nấy đều sửng sốt : thì ra thủ tướng đã ra người thiên cổ , Ông dùng dây điện treo trên của sổ mà thắt cổ tự tử "
.

Cái chết của Thủ tướng Thinh như một bài học cảnh cáo cho những kẻ làm tay sai cho Pháp , nhưng nó cũng đồng thời chấm dứt một giấc mơ Nam Kỳ tự trị của một số Tây thuộc địa và của một số nhỏ trí thức bơ sữa .

Thủ tướng Thinh vừa nằm xuống, Béziat - chủ tịch Hội đồng tư vấn “ chỉ định ” thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân. Ông này từ chối . Cuối cùng thì ông Lê Văn Hoạch giơ tay “ xin tình nguyện ” làm Thủ tướng . Hội đồng tư vấn biểu quyết với vừa đủ số thăm nên được đắc cử Ông Lê Văn Hoạch vội vàng tuyên bố: " Tôi đủ sức chịu đựng được. Các bạn đừng lo ” .

Viết về Thủ tướng Nguyễn Văn Thinh, có thêm một tiếng nói khác của dân Nam Kỳ chính hiệu ủng hộ giải pháp Nam Kỳ tự trị được mô tả lại trong cuốn Lớn lên với đất nước của tác giả Vy Thanh như sau :

" Ngoại tôi từ Châu Đốc xuống thăm con cháu. Ngoại cắt nghĩa: tụi Việt Minh khủng bố để dân miền Nam hoang mang sau khi bác sĩ Nguyễn Văn Thinh thành lập Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam Kỳ và tuyên bố Nam Kỳ tự trị trong Liên Hiệp Pháp. Cộng sản rất sợ mất miền Nam " .

Trong khi đó, tài liệu tập truyền thống Tây Nam Bộ viết lại sự kiện lịch sử này như sau :

“ Chống lại dã tâm của thực dân Pháp định chia cắt đất nước ta, một phong trào phản đối “ Chánh phủ Nam Kỳ tự trị ” do Đảng ta lãnh đạo đã nổ ra khắp nước. Ngày 9-6-1946, hàng triệu người trong cả nước (Bắc-Trung – Nam) xuống đường hưởng ứng “Ngày Nam Bộ” với khẩu hiệu “ Nam Bộ là của Việt Nam! ” . Đả đảo chính phủ Nam Kỳ tự trị ! ” nhằm biểu dương ý chí tổ quốc rất mạnh mẽ .

Cùng ý chí quan điểm với Việt Minh, tờ Sài Gòn Mới ngày 16-12-1944 “chào mừng” Thủ tướng mới bằng một bài Văn tế như sau :

“ Cờ tự trị ngẩn ngơ trước gió ,
uổng tử thành thương hại đốc tờ Thinh
Tuồng thực dân hăm hở kéo màn ,
Nam Kỳ quốc bỗng sanh thày thuốc Hoạch Dây một sợi còn mai mỉa đó ,
có vui chăng mà chọn lấy con đường
Ghế ba chân đã vững vàng chưa ?
Không khéo nữa lại ngã theo cái ạch ”


Viết đến đây, tôi nhận thấy rằng vấn đề phân biệt Nam Bắc là một sự kiện xã hội , chính trị giả mà có thật . Và hễ có cơ hội là nó ló đầu ra như trong giai đoạn thời Thủ tướng Nguyễn Văn Thinh và Lê Văn Hoạch .

Mới đây nhất, giáo sư Vũ Quốc Thúc phê phán thái độ của thực dân Pháp theo quan điểm pháp lý như sau:

" Ở Nam Kỳ, có thể nói rằng hầu hết những Pháp kiều sinh sống nơi đây, dù họ là công chức nhà nước, là doanh nhân hay hành nghề tự do ( bác sĩ, luật sư... ) đều chịu ảnh hưởng chẳng nhiều thì ít của xu hướng kỳ thị chủng tộc, thấm nhuần môi trường thuộc địa. Họ tin rằng dân “ bản xứ ” còn lạc hậu , chưa thể xử dụng những quyền tự do - chẳng hạn tự do ngôn luận , tự do lập hội, tự do hội họp mà hiến pháp của “ mẫu quốc ” đã dành cho các công dân . Về mặt pháp lý, các luật gia Pháp đã đưa ra khái niệm “ thuộc dân Pháp ” (sujet francais) để áp dụng cho dân thuộc địa cho khỏi lẫn lộn với các “ công dân Pháp ”( citoyen francais ) ".

Sự kỳ thị Nam Bắc có nguồn gốc chính trị từ chế độ thực dân phải nhìn nhận là sự kiện hiển nhiên và có thực . Thực dân đã có dã tâm đào sâu hố chia rẽ Nam Bắc thành một sự thực hiển nhiên mà nay có nhắc lại hay tiếc nuối cũng là chuyện đã qua .

Nay nó đã thuộc về lịch sử rồi .

Có lẽ cũng cần nên nhắc thêm rằng chính sách chia để trị của Pháp còn có dã tâm hơn nữa , chẳng những phân chia ba kỳ mà còn âm mưu nhắm thiết lập các khu tự trị Thái Mèo ( Zano, Khu vực Zano gồm ba tỉnh Sơn La , Lai Châu và Mường So ) viện lý do vùng Thượng Du cũng có quyền độc lập và giao cho Đèo Văn Long trông nom .

Nhưng vì những biến cố chính trị biến chuyển quá nhanh. Pháp-Việt đã xung đột tại Hà Nội , Hải Phòng . Hà nội khởi sự tản cư . Nguy cơ chiến tranh gần kề khó tránh khỏi đã làm “ loãng ” vấn đề kỳ thị Nam Bắc .

Và kể từ đó , lá bài Nam Kỳ tự trị bị bỏ rơi vào quên lãng không còn một ai còn nhắc tới nữa .




( Còn tiếp )


© DCVOnline

--------------------------------------------------------------------------------


Sách tham khảo :

(1) The Indochinese experience of the French and the Americans. Nationalism and Communism in Cambodia, Laos, and Viet Nam. Chương 1: The arrivals of the French 1625-1893, tác giả Arthur J. Dommen, trang 1.
(2) R.B Smith, bản dịch của Ngô Bắc: Thành Phần tinh hoa Việt Nam tại Nam Kỳ thuộc Pháp, 1943.Trích trong gio-o.com/NgoBacRBSmithTinhHoa.html.
(3) Hồi ký 1925-1964, tập 2, 1945-1954, Nguyễn Kỳ Nam, trang 390.
(4) Lớn lên với đất nước, Vy Thanh, trang 94, Tủ sách Sự thật, 2006.
(5) Lớn lên với đất nước, Vy Thanh, trang 439, Tủ sách Sự thật, 2006.
(6) Sài Gòn cố sự, Bằng Giang,nhà xuất bản Văn Học, trang 193.
(7) Thời đại của tôi, cuốn 1, Nhìn lại 100 năm lịch sử, Vũ Quốc Thúc, trang 119, nhà xuất bản Người Việt, 2010.
(8) Thời đại của tôi, cuốn 1, Nhìn lại 100 năm lịch sử, Vũ Quốc Thúc, trang 216, nhà xuất bản Người Việt, 2010.




Hồ Chí Minh-Ngô Đình Diệm và cuộc chiến Quốc-Cộng (Kết)




Cũng xin thưa trước là đã có nhiều người vì bênh Tổng Thống Diệm, nên đã quả quyết rằng ông Diệm là người chống Cộng triệt để, không thể nào hiệp thương hay thỏa hiệp với Cộng Sản được. Chúng tôi chỉ xin bàn đến trường hợp của tiến Sĩ Phạm Văn Lưu.

Trong Kỷ Yếu của Hội Ái Hữu Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại tháng 10 năm 2005 tác giả Phạm Văn Lưu, tiến Sĩ sử học, ở Úc đã đưa ra một bằng chứng làm cho chúng tôi hết sức ngạc nhiên . Ông bảo ông đã tìm thấy một tài liệu của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Mỹ chỉ thị cho CIA từ tháng 8-1963 “ ngụy tạo những tài liệu liên kết Nhu với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà làm cho Nhu mất tín nhiệm với các tướng lãnh . ( tài liệu tại Thư Viện John F. Kennedy, tháng 9, năm 1963 ). Với tư cách một tác giả có học vị tiến sĩ sử học , Tiến Sỉ Lưu trưng dẫn tài liệu từ gốc, thuộc nguồn chính ( primary sources ) , có giá trị , không thể chối cãi . Nhưng chúng tôi ngạc nhiên và lấy làm nghi ngờ tự hỏi : Hội Đồng An Ninh Quốc Gia thường do chính Tổng Thống chủ toạ làm sao lại có thể chỉ thị một sự ngụy tạo ( fabrication ) có thể làm mất uy tín và danh dự như vậy , chỉ để thi hành một âm mưu chính trị đen tối ? . Uy tín, danh dự của một siêu cường để đâu ? . Tài liệu đó có mang chữ ký của Tổng Thống Kennedy , hay một thành viên nào của Hội Đồng không ?

Dầu sao thì tài liệu này đã được trưng dẫn bởi một người muốn bênh vực Tổng Thống Diệm . Tác giả không tin được rằng ông Diệm và ông Nhu đã muốn bắt tay với Cộng Sản để “ đâm sau lưng chiến sĩ và nhân dân Miền Nam! ” .


John Prados, Ph.D., chuyên gia nghiên cứu về An ninh Quốc gia tại Thư khố ANQG, George Washington University
Nguồn: daylife.com



DCVOnline :
Theo 29 tài liệu và 1 audio clip tác giả John Prados trưng dẫn trong bài “ JFK and the Diem Coup " - từ DCI Briefing, July 9 , 1963 đến Department of State, Memorandum William P. Bundy-Bill Moyers, "Discussions Concerning the Diem Regime in August-October 1963," July 30, 1966 hiện đang lưu trữ tại John F. Kennedy Library, Lyndon B. Johnson Library, John Prados, ed. The White House Tapes: Eavesdropping on the President (New York: The New Press, 2003, 331 pp. + 8 CDs, ISBN 1-56584-852-7), Gerald R. Ford Library - không có bất kỳ 1 tài liệu nào xác minh việc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Mỹ chỉ thị cho CIA từ tháng 8-1963, “ ngụy tạo những tài liệu liên kết Nhu với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà làm cho Nhu mất tín nhiệm với các tướng lãnh ” . ( Nguồn: http://www.gwu.edu/~nsarchiv/NSAEBB/...01/index.htm#5, truy cập 01/09/2010 )

John Prados hiện là Viện sĩ tại Thư khố về Anh ninh Quốc gia ( George Washington University ) và quản lý hai thư khố tài liệu về Dự án Iraq và Dự án Việt Nam . John Prados ( tốt nghiệp Ph.D. về Quan hệ Quốc tế tại Columbia University ) còn là tác giả của nhiều tác phẩm về chiến tranh Việt Nam, mới nhất là Vietnam : The History of an Unwinnable War ( 2009 ) và cuốn How the Cold War Ended sẽ phát hành cuối năm 2010 .

Chúng tôi thì không nghĩ, hiệp thương hay toan tính hiệp thương với Bắc Việt là phản bội cuộc đấu tranh chống Cộng . Theo khái niệm chiến tranh toàn bộ của cuộc chiến ý thức hệ , thì trung lập , hiệp thương hay liên hiệp đều là một vũ khí , một hình thức đấu tranh .

Hồi 1945 ông Diệm không nhận lời mời của Hồ Chí Minh nhận chức bộ trưởng nội vụ để cùng đứng trong chính phủ liên hiệp với các đảng Quốc Gia khác , vì lúc ấy phe Cộng sản của ông Hồ đã nắm hầu như toàn quyền . Dù số bộ dành cho các đảng Quốc Gia chiếm tỷ lệ cao , ( Trong chính phủ Liên Hiệp thứ nhất là gần 50%, với cụ Nguyễn Hải Thần giữ chức Phó Chủ Tịch ) nhưng thực chất cán bộ Cộng Sản đã nắm hầu hết hạ tầng cơ sở, do họ được huấn luyện kỹ về tuyên truyền, gián điệp, mật vụ, và đặc công . Tóm lại liên hiệp với Cộng Sản lúc ấy là liên hiệp trong thế yếu. Cho nên bất lợi . Thực tế cho thấy chẳng bao lâu sau các chiến sĩ Quốc Gia đã bị Việt Minh tàn sát, thủ tiêu . Đa số các nhà lãnh đạo phải bỏ trốn hay chạy sang Tầu .

Còn năm 1962-1963 ông Diệm ở vào cái thế không kém , nếu không phải hơn ông Hồ về mọi mặt . Thời ông Diệm không còn quân Pháp như thời Bảo Đại . Có Hiến Pháp , Quốc Hội và các cơ chế dân chủ của một quốc gia độc lập hoàn toàn, không còn phải ở trong Liên Hiệp Pháp . Hơn nữa về mặt kinh tế miền Nam trong thời gian vắn đã phát triển về nông nghiệp , công nghiệp , ngư nghiệp và tiểu công nghiệp rất nhanh khiến đời sống vật chất của người dân được nâng cao . Việc này ngay cả những người chê ông Diệm độc tài và lầm nghĩ ông kỳ thị Phật Giáo, như Hồ Sỹ Khuê cũng phải công nhận. Về mặt tinh thần ai cũng thấy Miền Nam là đất tự do . Chính những người chỉ trích ông Diệm lại là những người vui lòng ở Miền Nam của ông Diệm, chứ không dám bén mảng đến miền Bắc của ông Hồ . Trái lại thời ông Diệm hàng ngày vẫn có nhiều người dân miền Bắc liều chết vượt sông Bến Hải vào Nam tìm tự do. Nếu ông Diệm là bạo chúa, chế độ ông Diệm là “ độc tài khát máu ” , thì làm sao lại có hiện tượng lạ lùng đó ? .

Tất cả những yếu tố kể trên tạo nên cái thế vượt trội của ông Diệm. Nhưng quan trọng hơn hết là phía người quốc Gia thời ông Diệm đã có một lãnh thổ gồm nửa nước, cả một miền Nam trù phú, gọi là Việt Nam Cộng Hoà. Ngày nay thì không còn nữa. Cái gọi là Việt Nam Cộng Hoà đã mất . Và nó mất ngay từ khi nền đệ nhất Cộng Hoà “ sụp đổ tan tành ” .

Dầu sao thì chính quyền Kennedy đã để mấy giới chức của bộ ngoại Giao , từ thứ trưởng trở xuống và một nhân viên Hội Đồng An Ninh Quốc Gia qua mặt Tổng Thống và cấp trên để ngấm ngầm bằng phương cách lươn lẹo mờ ám điều khiển cuộc đảo chính lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm . Chi tiết vụ việc này chúng tôi đã tóm tắt trong hai tác phẩm về Ngô Đình Diệm .

Dù chủ trương là người Mỹ , nhưng nếu không có người Việt làm tay sai thì âm mưu cũng không thực hiện được . Tiếc rằng một số tướng lãnh đã nhận tiền và chỉ thị của toà đại sứ Mỹ do một nhân viên CIA là Lou Conein trao để làm đảo chính và giết hai ông Diệm Nhu , rồi đổ vấy cho là hai ông “ tự sát ” .

Hậu quả của vụ đảo chính như thế nào ta đã thấy rõ. Đúng như lời Tổng Thống Nixon đã viết ở trên . “ Toàn thể hệ thống chính trị Nam Việt Nam sụp đổ tan tành ” . ( The entire South Vietnamese political system came crashing down ) . Phe Quốc Gia thua từ ngày đó . Việt Nam Cộng Hoà chết ngày 30 tháng tư 1975 . Nhưng nó đã trải qua cơn hấp hối suốt 12 năm . Trong cơn hấp hối đó thân thể Tổ Quốc đã bị nội xuất huyết liên tục , do hàng triệu người Việt hàng ngày đổ máu trong chiến tranh .


Hãy chân thật với lịch sử


Có nên nói thẳng ra ai là những kẻ chịu trách nhiệm nặng nhất về cái chết kéo dài này không ?

Phía Hoa Kỳ nhiều yếu nhân Mỹ như Nixon, Johnson, McNamara... đã khẳng định “ chúng tôi có tội” ( we are culpable ) (5) . Như vậy phải chăng trách nhiệm nặng nhất đổ lên đầu Tổng Thống Kennedy ? . Dầu sao thì tội quy vu trưởng . Tuy nhiên thái độ của ông sau khi nhận tin ông Diệm bị giết cho thấy ông không chủ trương giết ông Diệm . Nhiều người trong đó có sử gia Arthur M. Schlesinger, phụ tá đặc biệt của Tổng Thống Kennedy cho biết “ khi nghe tin ông Diệm tự sát , Tổng Thóng Kennedy đã hốt hỏang, buồn rầu , chưa bao giờ như vậy kể từ vụ Vịnh Con Heo ” . ( Xem A Thousand Days, trang 998 ) . Nhưng nhiều ký giả và sử gia thuộc trường phái “ chính thống ” chưa hoàn toàn đồng ý . Vì vậy xin để nhân dân Mỹ , lịch sử nước Mỹ phán xét . Chúng ta chỉ nên bàn về trách nhiệm của phía Việt Nam .

Có người sẽ nói , về Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm cũng hãy để lịch sử phán xét . Nhưng lịch sử sẽ dựa vào đâu để phán xét ? . Dựa vào những sự thực của những người can đảm dám nói lên . Hay dựa vào những sự dối trá hay những thông tin sai lạc từ phía những kẻ phạm tội rồi cố tình chạy tội hay những nhà báo hay sử gia thiên vị, hay đã bị mua chuộc đê che giấu sự thực lịch sử ? .

Khi viết những tác phẩm về Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm chúng tôi đã cố gắng hết mình để trung thực , lương thiện và khách quan . Quý vị nào bảo Minh Võ chủ quan , thiên vị , xin hãy nêu bằng chứng từ mấy cuốn sách của tôi và cho biết tôi sai , hay chủ quan ở chỗ nào ? .Như vậy sẽ giúp tôi học hỏi được nhiều . Bằng không thì độc giả sẽ phải tự hỏi không rõ người viết hay người phê bình , ai chủ quan và có thiên kiến ? .

Ở đây chúng tôi chỉ xin tóm tắt rằng trong cuộc chiến quốc cộng chỉ có hai đối thủ có thể gọi là “ kỳ phùng địch thủ ” là Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm. Cả hai đều dùng một vũ khí phi quân sự đặc biệt là chiêu bài dân tộc ( HCM ) và chính nghĩa dân tộc ( NĐD ) . Hồ Chí Minh thì được các đảng phái Quốc Gia tiếp tay , cứu giúp . Còn Ngô Đình Diệm thì bị Mỹ và một số Tướng Lãnh giết với sự tiếp tay hay tán thành của những chính khách và đảng phái không ưa ông , Vì vậy mà phe quốc gia đã thua . Hậu quả là toàn quốc rơi vào tay Cộng Sản , gây nên thảm hoạ suốt trong 35 năm qua .

Ngày nay muốn thoát thảm hoạ đó, điều cần trước tiên là phe quốc gia chúng ta phải tự kiểm điểm và phân tích tình hình để cùng tìm hiểu và cùng đồng ý với nhau về nguyên nhân thất bại, đúng theo chiến pháp của các chiến lược gia Đông Tây kim cổ (6) .

Có thế thì chúng ta, hay con cháu chúng ta sau này, mới tìm ra hướng đi đúng đắn hầu có thể làm điều mà chúng ta hiện nay không có cách gì làm nổi , là cứu nước nhà khỏi hoạ diệt vong vào tay kẻ thù phương Bắc .

Chúng tôi nói chúng ta không thể nào làm nổi là căn cứ vào sự đổ vỡ tan tành nền tảng vật chất và tinh thần của phe Quốc Gia từ sau 1963 tới nay và hậu quả là sự đổ vỡ uy tín của các cấp lãnh đạo các đảng phái chỉ biết trông chờ sự giúp đỡ của ngoại nhân . Mà ngoại nhân thì chỉ đặt quyền lợi của họ trên hết . Cũng vì quyền lợi dân tộc riêng , chắc chắn họ không muốn giúp một số cá nhân hay đoàn thể tổ chức lỏng lẻo lưu vong bằng một chế độ đã đứng vững trên ba thập kỷ , có lãnh thổ, có chính quyền . Ta có thể bảo như thế là họ ích kỷ . Nhưng thuyết phục họ bỏ quyền lợi riêng để tranh đấu cho những kẻ mất nước như chúng ta là bất khả thi , dù chúng ta nhân danh nhân quyền hay lòng nhân đạo chăng nữa .

Sau khi thảm bại , nhiều cấp lãnh đạo của Việt Nam Cộng Hoà đã vào tù để có dịp suy nghĩ và rút ra những bài học quý báu cho tương lai . Một số đã chết thảm trong tù như bác sĩ Phan Huy Quát , như luật sư Trần Văn Tuyên , như lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng ( VNQDĐ ) Vũ Hồng Khanh . Chết trong hoàn cảnh đó , có lẽ lỗi lầm của các vị đó đã được xoá sạch .

Nhưng những người nhận tiền của Mỹ lật và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và một số chính khách thuộc các đảng phái chống đối hầu hết đã bỏ chạy vào giờ thứ 25 và , vì có phương tiện nên họ đã có được đời sống an nhàn trên đất Mỹ . Họ có thì giờ và tiền bạc , người quen phụ giúp để viết những cuốn gọi là hồi ký để chạy tội . Những hồi ký đó đầy rẫy những lời kết án , nguyền rủa một chế độ tốt đẹp nhất từ 1945 đến ngày nay .

Hầu như không có một nhân vật nào trong số những kẻ đó dảm can đảm lên tiếng nhận lỗi và hối hận . Mà bởi vì họ là những tướng lãnh , những nhà lãnh đạo cao cấp trong chính phủ . Chung quanh họ có rất nhiều đàn em , đệ tử . Những người này có các cơ quan truyền thông mạnh miệng bênh vực , Những người có lương tâm , biết sự thực không dám mở miệng vì sợ tai bay vạ gió .


Đó là một vài lý do khiến cho đến nay quốc sự ra nông nỗi này.

Như đã trình bày ở phần II chính các nhà cách mạng quốc gia đã dung nạp , giúp đỡ và tạo thanh thế cho ông Hồ Chí Minh . Điều này là một khuyết điểm nghiêm trọng. Nhưng xét vì các vị đó đã làm vì lòng tốt , vì chưa biết rõ về con người Hồ Chí Minh và cũng chưa rành về mưu sâu của Lênin , cho nên cũng khó trách họ . Phe Quốc Gia chúng ta , trong một chừng mực nào đó , thường có cái “ tật ” lấy lòng quân tử đo dạ kẻ tiểu nhân .


Viet Nam Quoc Dan Dang: A Contemporary History of a National Struggle: 1927-1954
Nguồn: Rosedog Pr



Trong cuốn “ Lịch sử đấu tranh cận đại ” nói trên ... Hoàng Văn Đào đã thuật lại việc lãnh tụ Đại Việt Quốc Dân Đảng Trương Tử Anh, cũng là một trong 3 lãnh tụ tối cao của liên minh Đại Việt Quốc Dân Đảng và Việt Nam Quốc Dân Đảng đã bác bỏ lời khuyên của một chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng khác là Lê Khang : Trong một hội nghị liên đảng, Lê Khang đã đề nghị: “ Phải đoạt chính quyền ngay trong ngày 18-8 để loại HCM và bè lũ ”. Sau khi đề nghị của ông bị bác bỏ, Lê Khang và một số đồng chí Việt Nam Quốc Dân Đảng đã bỏ đi lên Vĩnh Yên lập chiến khu riêng . Kết quả là chính Lê Khang đã bị Cộng Sản giết (SĐD trang 214-217....) và lãnh tụ Trương Tử Anh thì bị thủ tiêu bí mật, được ghi là mất tích (7).

Khi Hồ Chí Minh đã giành được chính quyền rồi , để củng cố quyền lực bằng chiêu bài dân tộc , ông ta lại một lần nữa cần đến sự tiếp tay của các đảng Quốc Gia . Và hai chính phủ liên hiệp tiếp nối ra đời . Các đảng Quốc Gia đã nhận 70 ghế trong “ quốc hội ” 1946 mà không được bầu .

Cái lỗi lầm này dĩ nhiên nghiêm trọng hơn lỗi lầm của các vị trưởng bối ở Hoa Nam nhiều . Nhưng dầu sao so với cái tội phá tan tành Đệ I Cộng Hoà và giết một lãnh tụ duy nhất có khả năng đối phó với Hồ Chí Minh thì còn nhẹ , chẳng đáng nhắc lại nhiều . Hơn nữa cái công của Việt Nam Quốc Dân Đảng chống Pháp dưới sự lãnh đạo của đảng trưởng Nguyễn Thái Học , không thể nào phủ nhận được và mãi mãi sẽ còn được hậu thế ghi ơn . Mặc dù cuộc khởi nghĩa ngày 10-2-1930 tai Yến Bái đã thất bại khiến Nguyễn Thái Học cùng mười hai chiến sĩ đã phải lên đoạn đầu đài , hàng ngàn chiến sĩ khác đã hy sinh tại chiến trường, hay vào tù và thậm chí bị đầy đến những nơi xa xôi trên trái đất điển hình là 325 người bị đầy tới đảo Guyane , Nam Mỹ rồi mất tại đó (8) .

Nước đã mất vào tay Cộng Sản đã 35 năm ( hơn một phần ba thế kỷ ) rồi . Trừ một số vô trách nhiệm vội vã bỏ chạy ra ngoại quốc, hầu hết tướng lãnh và viên chức cao cấp Việt Nam Cộng Hoà đều đã nếm mùi đớn đau , tủi nhục trong tù . Họ đã có dư thì giờ để nghiền ngẫm về nỗi nhục mất nứoc và chắc hẳn nhiều người đã tự tìm ra câu trả lời cho câu hỏi , tại sao lại mất nước ? .

Thế chiến III ( giữa khối Cộng và thế giới Tự Do ) cũng đã kết thúc hai chục năm rồi . Các nước Đông Âu đã sụp đổ , Liên Xô tan rã mau chóng . Nhiều người chua xót tự hỏi , sao Việt Nam vẫn chưa được giải phóng ? .

Là vì chúng ta chưa chịu tin rằng mình đã thua, hãy còn thích thú nhớ lại và nhắc lại những chiến công hiển hách trong quá khứ , hãy còn bị mê hoặc bởi giấc mộng giải phóng bằng đòi dân chủ , tự do, nhân quyền để may ra kẻ thù bố thí cho chút đỉnh như nhỏ giọt . Trong khi Việt Cộng , với chính quyền trong tay và diễn đàn quốc tế , ngày nay được nhìều nước trên thế giới ủng hộ , luôn ngụy biện và cãi chầy cãi cối rằng quan niệm về nhân quyền mỗi nước một khác , và ngoại bang không có quyền can thiệp vào nội bộ Việt Nam . Khi mà một số các tổ chức phi quốc gia như Văn Bút Thế Giới , Tổ chức Ân Xá Quốc Tế , hay hội ký giả không biên giới v...v.... mạnh mẽ lên tiếng thì bất quá Việt Cộng cũng chỉ thả sớm hay giảm án cho một vài tù nhân lương tâm, sau khi đã tàn phá thể xác và triệt hạ ý chí chiến đấu của họ . Để rồi sau đó lại bắt bớ , bỏ tù , hành hạ thêm nhiều người khác .

Cứ nhìn vào kết quả nhỏ nhoi của những cố gắng của các đoàn thể đảng phái , thì phải công nhận rằng phương cách hoạt động của chúng ta không đưa đến kết quả . Những nỗ lực nêu cao ngọn cờ vàng trên thế giới và đặc biệt là ở Mỹ , hay những thành tựu của một vài chính trị gia trẻ tuổi đã vào được một vài cơ quan lập pháp tiểu bang hay liên bang v...v.... cũng không ảnh hưởng bao nhiêu đến lập trường chung của Quốc Hội để Hoa Kỳ cương quyết hơn trong chính sách về nhân quyền .

Ngày nay phần đông các tướng lãnh và nhân vật chính trong cuộc đảo chính 1963 đều đã chết , từ Dương Văn Minh , Nguyễn Văn Thiệu đến Đỗ Mậu , Trần Văn Đôn , Mai Hữu Xuân . Tướng Kỳ thì coi như đã bỏ sang hàng ngũ đối phương . Chỉ còn lại vài tướng như Trần Thiện Khiêm , Tôn Thất Đính . Vì vậy rồi đây sẽ có nhiều người mạnh bạo lên tiếng công khai kết án hành động phá hoại một chế độ coi như nền tảng của vị thế nổi bật của phía Quốc Gia trong một thời .

Gần đây chúng tôi được biết tại hội nghị “ Việt Nam - 35 năm nhìn lại ” tổ chức ngày 9-4-2010 gồm nhiều ký giả và nhân vật chính trị cả Việt lẫn Mỹ , ông Nguyễn Ngọc Linh ( cựu Tổng Giám đốc Thông Tin , có chân trong Hội đồng Nội các ) đã mạnh dạn nói lên một sự thật mà cho đến nay hiếm có ai dám làm, tuy rằng rất nhiều người cũng nghĩ như ông. Ông Linh nói : “ Theo tôi thì cuộc đảo chính (1963) này đã đánh dấu cái chết của miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến chống lại kẻ xâm lăng miền Bắc ”.

Thiển nghĩ câu nói trên chính là lời buộc tội gắt gao những kẻ chủ xướng và thi hành cuộc chính biến 1963 . Bắt họ phải chịu trách nhiệm về việc miền Nam Việt Nam mất vào tay Cộng Sản . Có lẽ đa số thành viên hội nghị không dễ dàng đồng ý với ông Nguyễn Ngọc Linh .

Dầu sao thi ông Linh cũng đã thay mặt nhiểu người không có mặt tại hội nghị , cất lên tiếng nói can đảm của một người có trách nhiệm, biết phân biệt phải trái và có kiến thức về lịch sử , chứ không a dua theo đám đông . Hy vọng rồi đây những tiếng nói tương tự sẽ càng ngày càng nhiều hơn , để soi sáng một vùng tối trong lịch sử Việt Nam .

Lịch sử là tấm gương cho hậu thế soi , trong đó gồm những bài học của tiền nhân để lại . Nếu những nhà viết sử không có can đảm nói lên sự thực , lại còn cố tình che giấu hay xuyên tạc, bóp méo , chỉ vì nể sợ những kẻ có quyền có tiền, thì con cháu chúng ta sẽ mãi mãi mò mẫm trong tối tăm , không bao giờ tìm ra đúng hướng để đi trong công cuộc cứu nước và dựng nước , và sẽ đến lúc cái tồi tệ nhất xảy ra : Nước ta không còn lịch sử nữa .

Đến đây chắc quý vị đã thấy tại sao những vấn đề của đất nước được nêu lên ở đầu bài sẽ không thể nào giải quyết được bới những người ở lớp tuổi chúng ta - từ 65 tuổi trở lên .

Cái chế độ hiện thời không thể thay đổi, đổi mới được. Đúng như Boris Yeltsin đã nói , nó chỉ có thể bị thay thế . Nhưng ai sẽ thay thế nó ? . Đã 35 năm hơn rồi lớp già chúng ta đã thất bại và chắc chắn sẽ còn thất bại , nếu không chịu khiêm tốn nhận mình đã thua vì đã phạm những lỗi lầm không thể tha thứ về chiến lược .

Kể từ sau khi Đông Âu sụp đổ rồi Liên Xô tan rã, nhiều lần các nhà lãnh đạo cũ của phe Quốc Gia đã cố thử tập họp các cộng đồng lại để mưu cầu một cơ may nào đó. Trong thập niên 90 thể kỷ trước nhiều ngừoi đã mở đường cho cựu hoàng Bảo Đại , rồi cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đứng ra gánh vác trọng trách. Rồi những chính phủ lưu vong Nguyễn Hữu Chánh, Đào Minh Quân (?) ra đời . Đó là chưa kể nhiều đảng phái như Việt Tân, Đại Việt ( ba hệ phái ) và “ chính phủ lưu vong ” Nguyễn Bá Cẩn , Nguyễn Văn Chức , Lý Tòng Bá ( Việt Nam Cộng Hoà Foundation ? ) v...v.... đều có chương trình kế sách rầm rộ . Nhưng kết quả chưa thấy gì . Tại sao vậy ? . Vì chúng ta không thành thực với lịch sử, nên không thu dụng được nhân tài .

Hiện nay nhiều nhà tranh đấu ở hải ngoại hy vọng mình có thể thu hút, lôi kéo những trí thức muốn “ phản biện ” ở quốc nội để tạo nên một sức đề kháng có nội công ngoại ứng , hầu tạo áp lực với nhà cầm quyền bắt buộc họ phải nhượng bộ .

Nhưng hy vọng đó chỉ là ảo vọng , nếu những “ nhà trí thức phản biện ” ở trong nước không nhận rằng mình đã từng phạm lỗi lầm nghiêm trọng khi đi theo Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản , và những nhà trí thức ở hải ngoại vẫn còn nghĩ Hồ Chí Minh hơn Ngô Đình Diệm về lòng yêu nước .


Thiếu tướng CS (hưu) Nguyễn Trọng Vĩnh
Nguồn: youphim.com



Chúng tôi viết đến đây thì nghe được tiếng nói sang sảng của cựu Thiếu Tướng Cộng Sản Nguyễn Trọng Vĩnh ca tụng đại tướng Võ Nguyên Giáp trên đài BBC . Ông Vĩnh gọi ông Giáp là đại công thần , là bậc đại trí dũng , đáng kính phục... Có một điều chúng tôi thắc mắc là không biết vì lý do gì , cái đài nổi tiếng khắp thế giới này lại cho phát lại những lời của ông Vĩnh ca ngợi ông Giáp vào các buối phát thanh tối thứ bảy , 28-08-2010 , và cả hôm sau là tối chủ nhật, 29-08-2010 . Sau khi đã phát một lần vào một ngày trong tuần . Như vậy là tổng cộng ba buổi , với hai buổi vào tối thứ bảy và chủ nhật , thường có rất đông thính giả (9)

Đối với một số người lạc quan, thì ông Giáp vẫn có hy vọng tập họp được một số “ trí thức phản biện ” , để chống lại nhà cầm quyền Cộng Sản . Nhưng thiết tưởng dù ông Giáp biến đổi thế nào chăng nữa, hy vọng ông ta lãnh đạo nhóm trí thức phản tỉnh để chống Tầu Cộng chỉ là ảo vọng . Trừ phi gần tới lúc lâm chung, ông dám can đảm công khai kên tiếng nhận tội và xin lỗi quốc dân vì đã góp công cùng với ông Hồ đưa đất nước tới bờ vực thẳm bị Tầu Cộng thôn tính. Và các nhà “ trí thức phản biện ” cũng cần lên tiếng hối hận vì đã để cả tuổi trẻ phục vụ một chế độ phản dân hại nước . Có thế thì sự gọi là phản biện mới gây được tiếng vang tác động đến quần chúng nhân dân .

Cứ xét tính tình ông Giáp và tình hình quốc nội và quốc tế hiện nay , dám chắc không thể nào có chuyện đó xảy ra .

Cũng tương tự như vậy, chúng tôi không hy vọng sẽ có một hành động nhận lỗi từ phía tập thể người Việt Quốc Gia Hải Ngoại đối với tội làm mất nước vào tay Cộng sản . Chúng tôi chỉ còn hy vọng là trong tương lai, có lẽ rất xa , lớp trẻ không bị ảnh hưởng bởi những giả dối đang che lấp lịch sử, sẽ nhìn ra sự thực và sẽ có những quyết định sáng suốt hầu cứu nước nhà khỏi hoạ diệt vong . Với điều kiện là lớp già chúng ta phải mạnh bạo nói lên sự thực lịch sử đã bị che giấu trên nửa thế kỷ vừa qua . Không có điều kiện này thì hoạ diệt vong (vào tay Trung Cộng) khó tránh .

Xin bạn đọc tha lỗi cho người viết về kết luận bi quan này . Và xin quý vị trưởng thượng cũng như các chính trị gia lãnh đạo những đoàn thể tổ chức đang tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ cho nước nhà , hãy rộng lượng đối với một kẻ không có khả năng và điều kiện để dấn thân vào một cuộc đấu tranh như quý vị . Vì thế có thể là chúng tôi không có kinh nghiệm để đủ tư cách bàn về thắng thua, thành bại trong cuộc chiến ý thức hệ hãy còn đang tiếp diễn . Chúng tôi chỉ xét theo lương tri và lý luận thông thường là nếu mình thua mà không chịu nhận mình thua , và không tìm hiểu nguyên nhân tại sao mình thua , thì không thể nào đủ dữ kiện để bày binh bố trận hầu lấy lại phần thắng trong tương lai .

Trước khi kết thúc , người viết xin cám ơn bạn đọc đã dành thì giờ quý báu cho mấy ý kiến bộc trực của chúng tôi . Nhân đây cũng xin minh định vài điều để tránh hiểu lầm .

Thứ nhất , mục đích bài này không phải để làm sống lại nhân vật Ngô Đình Diệm , vì chúng tôi biết rõ , vói tình hình trong nước hiện này , và tình hình cộng đồng người Việt Hải Ngoại , đôi bên còn bị bao phủ bởi một quyền lực hữu hình hay vô hình thống trị bằng giả dối và sợ hãi , thì dù Ngô Đình Diệm có tái sinh cũng đành bó tay. Nhưng nếu sự thực lịch sử được sáng tỏ, thì trong tương lai sẽ xuất hiện hàng chục anh hùng cứu quốc có thể làm thay đổi cục diện quốc gia . Tương lai đó gần hay xa , có đến hay không là tùy ở chúng ta có dám nhận lỗi và nói lên sự thực sớm hay muộn mà thôi .

Thứ hai , với các nhà Cách Mạng tiến bối ở Hoa Nam trong thời gian trước và sau 1940 chúng tôi không dám lên án hay chê trách mà chỉ ghi nhận là các vị đó đã không am tường vè Cộng Sản và không biết rõ về HCM cho nên đã vì lòng tốt, tính quân tử tầu mà giúp đỡ, che chở, cứu Hồ Chí Minh ra khỏi tù v...v.... .Chúng tôi cũng lấy làm tiếc rằng sau Cách Mạng Tháng Tám thành công, các đảng phái quốc gia đã tham gia chinh phủ liên hiệp của Hồ Chí Minh để tạo cho ông ta cái vị trí đại diện chính thống cho nhân dân Việt Nam một cách sai trái. Ngày nay, với bài tiểu luận này cũng là tóm lược đại cương bốn cuốn sách về Ngô Đình Diệm và Hồ Chí MInh với những bằng chứng cụ thể không thể chối cãi , chúng tôi hy vọng bạn đọc thấy rõ quan điểm của chúng tôi đối vói những tướng lãnh và một số chính khách thuộc vài đảng phái quốc gia đã tham gia hay ủng hộ cuộc chính biến 1963 , phá hủy nền tảng của một chế độ có uy tín quốc tế , mở đầu cho giai đoạn hỗn loạn rối ren dẫn đến mất miền Nam vào tay Cộng Sản . Nhưng chúng tôi cũng xin nhận lỗi là đã chẳng làm được gì để cứu vãn tình thế trong những năm sau đó .

Thứ ba , dầu sao cá nhân chúng tôi cũng đã là quân nhân trong cả hai nền Cộng Hoà Việt Nam . Cấp bậc và chức vụ đều thấp . Nhưng trong sự sụp đổ của cả hai nền Cộng Hoà chúng tôi nhìn nhận mình có lỗi , không nhiều thì ít . Trước hết có lỗi với nền Đệ Nhất Cộng Hoà vì đã không làm gì hơn để bảo vệ nó . Đối với Đệ Nhị Cộng Hoà đã không góp sức làm cho nó hữu hiệu hơn , để khỏi thất trận .


Tác giả Minh Võ
Nguồn: YouTube



Hy vọng , gần mười năm trong ngục tù Cộng Sản và gần Hai mươi Năm năm sống cuộc sống ly hương đã và đang là những hình phạt quá nhẹ đối với những lỗi lầm của người viết , nhưng cũng đủ để nhắc nhở đến cái chết của trên ba triệu dồng bào trong chiến tranh khiến cho hàng triệu cô nhi , quả phụ và hàng chục vạn thương phế binh ngày nay đang phải sống cảnh lầm than cơ cực và sỉ nhục trăm chiều . Và nhất là những hình phạt nhẹ đó đủ để nhắc nhở đến hàng chục vấn đề to lớn được nhắc đến ở đầu bài này . Có bao giờ chúng ta và con cháu chúng ta quên được rằng những điều đó là hậu quả của cuộc chiến và sự thất trận của chúng ta không ? .




San Diego 29-08-2010
© DCVOnline



(5) Xin xem “ Ngô Đình Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc ” của Minh Võ , do Diễn Đàn Giáo Dân tái bản đầu năm 2009, các trang 198 và 199 . Câu nói “ We were culpable ” là của McNamara. Các Tổng Thống Johnson và Nixon không dùng chữ “ culpable ” , nhưng dùng chữ “ mistake ” .

(6) Ví dụ Karl Von Clausewitz một thứ Tôn Tử của Phưong Tây đã viết trong “ On War ” đại ý bao lâu bên thua chưa đồng ý được với nhau mà vẫn còn cãi nhau và đổ lỗi cho nhau về lý do thất trận thì chưa thể nào có thể bố trí lực lượng để phản công thắng lợi .

(7) SĐD trang 215: “ Các đồng chí ĐVQDĐ ( Trương Tử Anh, Phạm Khải Hoàn, D/C Kim, MV ) cho rằng : “ Cuộc cách mạng nào cũng chỉ đi tới mục đích là giành lại độc lập cho Tổ quốc ” . Thì dầu mặt trận Việt Minh hay đoàn thể nào cũng vậy. Việt Minh nắm được chính quyền, chúng ta sẽ tham gia hướng dẫn họ trên công cuộc phục vụ nhân dân ; nếu họ trỏ mặt , lúc đó chúng ta sẽ lấy nhân dân làm hậu thuẫn mà hạ họ xuống. Vả lại lực lượng của họ có gì đáng cho chúng ta lo ngại ? . Nếu nay chúng ta dùng võ lực để đối phó trong lúc này ắt có cuộc lưu huyết! Cộng sản chưa thấy đâu mà đã thấy ngay dân chúng bị tàn sát. Sau đây lịch sử sẽ quy tội cho chúng ta là tham cầu địa vị , gây nên cảnh nồi da xáo thịt! . Tội đó há riêng một cá nhân gánh chịu! ” .

(8) Về các liệt sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng người thường chỉ nhớ mười hai người đã cùng với lãnh tụ Nguyễn Thái Học bị hành quyết ngày 17-6-1930 tại Yên Bái . Nhưng thực ra số người bị thực dân kết án tử đã lên tới 37. Và những đồng chí bi tù chung thân, hay khổ sai chung thân, hoặc tù thường và bị lưu đầy tới Côn Đảo và Guyane Francaise tổng cộng lên tới cả ngàn . ( Xem Hoàng Văn Đào trong SĐD, trang 135-155 )

(9) Năm 1963 và 1964, tôi đã làm việc với ban Việt Ngữ Đài BBC trong gần 8 tháng, nên biết chắc chắn thời gian đó Đài BBC tuy độc lập nhưng các chương trình ngoại ngữ phải theo đường lối của Bộ Ngoại Giao Anh Quốc. Thường các bài bình luận chính trị đều do biên tập viên người Anh viết rồi trao cho người Việt dịch và xướng ngôn . Ví dụ chính tôi chứng kiến bài xã luận tối ngày 3-11-63 đã nói về những điều tốt đẹp mà chế độ Ngô Đình Diệm đã làm cho nhân dân miền Nam và kết luận “ Lịch Sử sẽ công bình hơn với ông ” . Nhưng đường lối đó đã thay đổi từ năm 2007 . từ đó tới nay chính sách đường lối của BBC đã hoàn toàn độc lập. Cho nên đây chỉ là lập trường của đài mà thôi .
Dầu sao thì đây cũng chỉ là tiếng nói của một thuộc cấp cũ của tướng Giáp phát biểu trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC . Phải đợi đến khi ông Giáp mất xem đài BBC có bình luận gì không mới biết chắc thái độ chính thức của đài này đối với một viên tướng Cộng Sản có tiếng là sát quân và sát nhân thường áp dụng chiến thuật biển người của Mao Trạch Đông và càng về cuối đời ảnh hưởng và uy tín càng sa sút.




Hồ Chí Minh-Ngô Đình Diệm và cuộc chiến Quốc-Cộng (III)




Hàng loạt biến cố xảy ra từ sau ngày Song Thất 1954 đã được ghi vào sử xanh và đã chứng tỏ ông Diệm là người tạo nên thời thế. Không chỉ Tổng Thống Mỹ Dwight D. Eisenhower ca ngợi ông là “ con người của phép lạ ” . Nhiều nhà báo tả phái cũng nhìn nhận đã có một phép màu về chính trị tại miền Nam Việt Nam .

Chỉ ba năm sau, ông Diệm đã nhận lời mời của Tổng Thống Mỹ tới thăm chính thức Hoa Kỳ, đọc diễn văn trước lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ. Thảm đỏ đã được trải ra tới chân cầu thang máy bay và chính Tổng Thống Eisenhower đã đích thân đến đó để đón ông. Đây là một vinh dự ít khi dành cho một quốc khách .


Eisenhower
Tổng Thống Dwight D. Eisenhower và Ngoại trưởng John Foster Dulles đón Tổng Thống Ngô Đình Diệm tại phi trường Washington National Airport , ngày 8 tháng 5, 1957 ( Người mặc quân phục trong hình là Tướng Trần Văn Đôn )
Nguồn: wikipedia.org



Tổng Thống Lyndon B. Johnson khi còn là phó tổng thống đã coi ông là vị cứu tinh của nhân dân Việt Nam nên đã gọi ông là “ Churchill của thập kỷ tại Á Châu ” .

Và còn nhiều lời ca ngợi nữa của yếu nhân Mỹ, như thị trưởng Nữu Ước, như đại tướng Maxwell Taylor v.v… đã được nhắc đến nơi phần III của cuốn “ Ngô Đình Diệm và Chính nghĩa Dân tộc ” .

Ở đây chúng tôi chỉ xin nhấn mạnh đến lời ví von rất đặc biệt của Tổng Thống Richard M. Nixon. Ông viết trong tác phẩm “ No More Vietnams ” ( Đừng thêm những Việt Nam khác ):

“ Tổng thống Ngô Ðình Diệm ổn định miền Nam Việt Nam, ví như TẢNG ÐÁ ÐỈNH VÒM giữ vòm nhà đứng vững. Các thế lực chính trị từ mọi phía quy vào ông mà chống, nhưng bằng cách thăng bằng các thế lực, cho cái nọ chống cái kia, ông đã đóng chốt tất cả lại. Chỉ khi nào đá đỉnh vòm được lấy đi, người ta mới thấy là nó quan trọng. Thì cũng y hệt như vậy, chỉ khi nào ông Diệm chết rồi, toàn thể hệ thống chính trị miền Nam Việt Nam sụp đổ tan tành, người ta mới nhận rõ vai trò sinh tử của ông ta ” .

“ Ðiều mà những kẻ chủ trương ủng hộ cuộc đảo chính thuộc chính quyền Kennedy lúc đó đáng lẽ đã phải biết thì nay đã hiện rõ một cách đau đớn: Sự lựa chọn ở Nam Việt Nam lúc ấy không phải là lựa chọn giữa ông Diệm và một kẻ nào đó tốt hơn, mà là giữa ông ta và một kẻ nào đó tệ hơn ” .

“ Dù ông Diệm có lỗi gì chăng nữa thì ông ấy cũng có một căn bản pháp lý đáng kể . Ông Diệm là một lãnh tụ kiên cường của một dân tộc đang vô cùng cần một nhà lãnh đạo cương quyết. Ông ta mất rồi, chính quyền ở Nam Việt Nam trở thành cái mà ai cũng chộp giật được. Những viên chức chính quyền ( Kennedy ) đã từng ngấm ngầm mưu đồ lật ông Diệm đã sớm khám phá ra rằng những cộng tác viên của mình ở Nam Việt Nam chỉ là những người lãnh đạo tồi đến vô vọng . Cái tài cần có để lật đổ một chính phủ không đắc dụng để điều hành một chính phủ. Lãnh đạo một cuộc đảo chính và lãnh đạo một nước là hai công việc hoàn toàn khác nhau. Cuộc khủng hoảng lãnh đạo đến hỗn loạn sau đó ở miền Nam Việt Nam là hậu quả trực tiếp của việc lật đổ tổng thống Ngô đình Diệm.... ”
(3) .

Nixon viết rất nhiều về ông Diệm . Cả trong những tác phẩm khác của ông . Nhưng thiết tưởng chỉ mấy hàng trên đã đủ để thấy ông đánh giá Tổng Thống Ngô Đình Diệm cao đến mức độ nào . Không cần bình luận hay chú thích thêm .

Nixon viết cuốn “ No More Vietnams ” năm 1988 nghĩa là 23 năm sau khi ông Diệm đã chết rồi . So với cụ Phan Bội Châu nói tiên tri (năm 1933) trước khi ông Diệm khôi phục quê hương và thành lập Cộng Hoà Việt Nam ( 1956 ) cũng 23 năm.

( Thế mà cho đến nay nhận định của hai vĩ nhân trên ít được nhắc đến. Người ta chỉ thích nghe những lời phê bình chỉ trích thoá mạ của những Đỗ Mậu , Nguyễn Chánh Thi , Nguyễn Cao Kỳ , v.v... hay những Neil Sheehan, David Hamberstam , Trần Chung Ngọc, v...v.... . Chúng tôi xếp ba tay này cùng vói nhau , vì cả ba đều là những kẻ vừa thoá mạ ông Diệm , vừa chỉ trích chính phủ Hoa Kỳ , và nhất là vừa ca tụng Hồ Chí Minh như nhau ) .

Cái tội lớn nhất thường được gán cho ông Diệm là kỳ thị tôn giáo, thì chẳng những Nixon mà cả Bảo Đại cũng bác bỏ hoàn toàn . Vả lại phái đoàn Liên Hiệp Quốc đã phúc trình rằng không có kỳ thị tôn giáo . Tiếc rằng phúc trình này thảo xong thì ông Diệm đã bị giết rồi. Còn vấn đề gia đình trị và độc tài hay đàn áp các đảng phái thì chúng tôi đã bàn kỹ trong hai cuốn sách về ông Diệm, với đầy đủ bằng chứng . Nhưng dầu sao chúng tôi cũng nhìn nhận , Đệ Nhất Việt Nam CỘng Hoà đã phạm phải một số khuyết điểm đáng chú ý . Chính quyền nào lại không có khuyết điểm . Trong hai cuốn sách về ông Diệm chúng tôi đã nêu lên khuyết điểm quan trọng là dùng những kẻ có tâm địa phản bội . Chúng tôi cũng đã viết rằng ngay việc thất bại và bị giết trong cuộc đảo chính cũng là một cái tội đối vói Tổ Quốc đang rất cần ông . Nhưng vin vào những khuyết điểm tương đối nhỏ để phá hủy một nền tảng kiên cố mà ông Diệm đã có công tạo nên cho phía Quốc Gia là chính đáng hay đắc tội ? . Một số ký giả hay văn nghệ sĩ bị cảnh sát hay mật vụ thời ông Diệm hành hung hay bỏ tù oan uổng có phải là lý do để phá hủy cả một nền tảng pháp lý của một chế độ đã tốn bao công sức để tạo nên chăng ? . Ngày nay ngay chính những cá nhân ấy trong cảnh tù tội của Cộng Sản hay trong cảnh lưu vong , nghĩ lại chắc cũng chẳng mấy ai còn oán trách ông Diệm nữa . Thế thì những nhà báo và sử gia không liên can có nên cứ mãi mãi nói xấu và kết tội một người có công với đất nước không ? .

Với ông Diệm, năm 1956 Việt Nam có Quốc Hội, có Hiến Pháp , và ông đã trở thành Tổng Thống đầu tiên của Việt Nam Cộng Hoà . Như vậy ông đã tạo đựoc cái thế đứng vững vàng để có thể đương đầu vói Hồ Chí Minh chủ tịch Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đang thống trị 17 triệu dân ở miền Bắc .

Điều này trước ông , không ai làm được , kể cả ông Bảo Đại . Sau ông thì chỉ có ông Nguyễn Văn Thiệu . Nhưng con người ông Thiệu và vị thế của ông ấy không thể nào so sánh với ông Diệm được . Điều này ai cũng thấy rõ . Đệ nhị Việt Nam Cộng Hoà ( của ông Thiệu ) tồn tại đựoc tám năm là nhờ có nửa triệu quân Mỹ hiện diện và khi quân Mỹ rút đi thì nó cũng chấm dứt . Nếu nó dựa vào dân và có thực lực thì đâu đến nỗi .

Tóm lại ông Ngô Đình Diệm là người yêu nước. Ông đã tranh đấu cho nền độc lập hoàn toàn, không bằng quân sự như ông Hồ, nhưng bằng đường lối ngoại giao và các phương lược chính trị . Khi chưa thành công thì ông kiên nhẫn chờ đợi . Với viến kiến chính trị ông biết trước thời cơ sẽ tới . Và khi nó tới thì ông nắm lấy để thực hiện lý tưởng dân tộc của ông . Trước hết là đuổi hết quân Pháp đang dùng hết cách để ở lỳ lại bất chấp Hiệp Định Geneva, sau đó dùng nửa nước không còn thực dân làm thế đứng nổi bật hơn hẳn thế của ông Hồ để thu phục những công dân sáng suốt và thực lòng yêu nước ở cả hai miền . Những người can đảm sẽ xa lánh ông Hồ mà theo ông Diệm , như lời ca dao

“ Một mai mưa rã tan Hồ ,
Lúa lên Ngô tốt ăn Ngô no lòng ”


mà nhà văn Cộng Sản hồi chánh Xuân Vũ đã nghe được và viết lại trong tác phẩm “ Mạng Người Lá Rụng ” . Và cứ thế cuộc đọ sức sẽ tuần tự diễn ra theo chiến lược đấu tranh ý thức hệ.

Nói đến đây không thể nào bỏ qua hai vấn đề được coi như cái nhân của sự bí ẩn khó hiểu về lập trường và phương lược đấu tranh của ông Diệm. Đó là vấn đề chủ quyền quốc gia khó dung hoà với sự quân viện của Hoa Kỳ . Vấn đề thứ hai là vấn đề hiệp thương với miền Bắc . Ngay cả một số người bênh ông Diệm cũng không đồng ý về hai vấn đề này . Nhiều người trách ông Diệm thiếu khôn ngoan, quá cứng rắn khi không chấp nhận cho Mỹ đem đại quân vào giúp đánh Cộng Sản . Họ bảo nếu không cho Mỹ vào , không thể nào đánh nổi Bắc Việt . Hoặc tại vì không đồng ý để Mỹ đưa quân vào nên Mỹ mới hạ ông .

Về vấn đề hiệp thương nhiều người không tin rằng ông Diệm chủ trương như vậy . Họ cho rằng với lập trường chống cộng kiên định của mình , ông Diệm không bao giờ toan tính hiệp thương với Cộng Sản . Chính ông đã cương quyết không lãnh nhận một ghế bộ trưởng ( Nội Vụ ) trong chính phủ Liên Hiệp của Hồ Chí Minh hay một số ghế trong “ Quốc Hội ” 1946 cho phe nhóm của ông . Có người còn trưng ra bằng chứng Hoa Kỳ đã ngụy tạo chứng cớ về sự ông Diệm bắt tay với Cộng Sản để làm cớ hạ ông và giết ông.


Vì vậy cần phải lý giải hai vấn đề này.

Trước hết là vấn đề chủ quyền và ngoại viện . Ông Diệm về nước trong tình trạng vô cùng bi đát . Cùng một lúc phải giải quyết nhiều vấn đề khó khăn. Cuộc di cư của gần một triệu đồng bào từ miền Bắc. Cuộc thống nhất các lực lượng võ trang , và chế ngự những chính kiến bất đồng của các phe phái thường rất khó thực hiện do tinh thần thập nhị sứ quân đang hoành hành trong bầu không khí chính trị chưa ổn định . Sự ngầm phá hoại của những tay sai của Pháp và nhất là của quân Pháp vẫn còn ở lại không muốn ra đi một cách êm thắm , trái lại còn ngấm ngầm giúp nhóm Bình Xuyên gây rối chống phá. Công cuộc lành mạnh hoá xã hội đòi phải giải tán các khu cờ bạc đĩ điếm từng được quốc trưởng Bảo Đại cho phép hoạt động công khai . Giải quyết vụ tướng Nguyễn Văn Hinh , Tổng Tham Mưu Trưởng có quốc tịch Pháp được Pháp đỡ đầu ngang nghiên đối đầu với chính phủ mới. Vân vân và vân vân . Tất cả những việc đó đều cần được sự giúp đỡ của nước bạn Hoa Kỳ về tài chính cũng như sự ủng hộ tinh thần . Vì ông Diệm về nước với hai bàn tay trắng. Ngân khố mà ông tiếp thu thì trống rỗng .

Nhưng ở đời kẻ chi tiền là kẻ chỉ huy. Ông Diệm biết rõ hơn ai hết quy luật đó. Cho nên ông rất thận trọng trong việc nhận viện trợ, nhất là quân viện của Mỹ. Các giới chức Mỹ , từ phó Tổng Thống đến Đại Sứ Mỹ , đến tướng lãnh Mỹ đã từng gặp ông , đề nghị cho Mỹ đem quân tác chiến vào Việt Nam giúp ông chống Cộng hữu hiệu hơn . Ông không bác bỏ hẳn đề nghị đó . Nhưng ông nói hiện chưa cần . Khi cần thì sẽ có một hiệp ước song phương đưa ra Quốc Hội duyệt y , để Mỹ được đóng quân ở vùng biên giới gần sông Bến Hải . Sở dĩ ông còn dè dặt thận trọng vì ông biết , dầu sao sự có mặt của đại quân Mỹ cũng trái với chiến lược phi quân sự của ông . Hơn nữa nó sẽ ảnh hưởng đến nếp sống của ngừoi dân khi bên cạnh họ có một số đông lính Mỹ sinh sống, hoạt động theo phong tục tập quán của Mỹ chẳng những không phù hợp mà còn trái với phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam .

Và điều mà ông sợ nhất là đối phương sẽ viện cớ có đông quân Mỹ ở miền Nam để hô hào nhân dân miền Bắc “ đánh đuổi quân xâm lược ” , và nhân dân miền Bắc sẽ hăng hái hưởng ứng lời kêu gọi đó cũng giống như trong thời ông Bảo Đại họ đã nhiệt tình theo lệnh ông Hồ quyết chiến chống thực dân Pháp , chỉ vì sự hiện diện của hàng trăm ngàn lính Pháp và Lê Dương .( 3bis )

Những đoàn quân ngoại quốc này chiến đấu ( chống Việt Minh ) dưới sự lãnh đạo của những tướng lãnh người Pháp . Không gì làm cho người dân miền Bắc tin ông Hồ chống ngoại xâm bằng sự hiện diện của những đoàn quân ngoại quốc . Và vì vậy mà chúng ta đã thua , phe quốc gia đã thua cũng là dân tộc Việt Nam đã thua, mặc dù có sự quân viện hùng hậu của quân Liên Hiệp Pháp .

Ông Diệm không muốn đi vào vết xe cũ của ông Bảo Đại . Đó là quyết định đúng đắn cả về mặt chủ quyền , chính nghĩa , lẫn về mặt chiến lược , sách lược .

Với những ai vẫn còn trách ông Diệm không để quân Mỹ vào đánh Bắc Việt giúp Việt Nam Cộng Hoà , chúng tôi xin quý vị đó hãy nhìn vào hai sự kiện lịch sử rõ như ban ngày : Một là với gần Hai Chục vạn quân Liên Hiệp Pháp giúp tận tình , chính quyền Bảo Đại đã thua . Hai là với hơn hai triệu quân Mỹ dùng đủ mọi vũ khí tối tân cũng tận lực tấn công Việt Cộng trên khắp các mặt trận , còn tấn công ra Bắc nữa , chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng đã thua .

Ai còn dám nói Mỹ không thua , chỉ giả với thua , để bỏ rơi đồng minh bé nhỏ cho đỡ ngượng , theo chúng tôi nghĩ , chỉ là ngụy biện , hoặc đã không đọc kỹ những trang trên của bài này , hoặc chẳng hỉểu gì vè chiến tranh ý thức hệ và công hiệu của thứ vũ khí “ tuyệt chiêu ” là chiêu bài dân tộc trong sách lược dân tộc chống thực dân của Lênin được Hồ Chí Minh khéo léo áp dụng một cách triệt để...

Nếu không có chiêu bài dân tộc của Hồ Chí Minh thì cựu hoàng Bảo Đại đã không phải nhờ tới quân đội Pháp . Nếu không có chiêu bài dân tộc của Hồ Chí Minh , thì chính quyền Nguyễn Văn Thiệu có thể cũng khỏi cần tới đại quân Mỹ . Vì nếu không dùng chiêu bài dân tộc giả dối thì Hồ Chí Minh sẽ hiện nguyên hình là tên Việt Gian tay sai Cộng sản Quốc Tế , mà cụ thể là Nga Cộng và Tầu Cộng .

Vì xem ra hãy còn có người chưa nhận ra cái “ tuyệt chiêu ” của Hồ Chí Minh này , cho nên xin bạn đọc cho phép chúng tôi nhắc lại và nhấn mạnh thêm :

Ngày nay thì không còn mấy người trong chúng ta còn nghĩ Hồ Chí Minh là anh hùng yêu nước . Vì những thành tích của ông ta đối với Quốc Tế Cộng sản và Liên Xô , Trung Cộng đã được phơi bày trong sử xanh, chứng tỏ ông ta là tên Việt Gian bán nước. Những tội ác tầy trời của ông ta đối với dân tộc cũng đã rõ ràng qua Cải Cách Ruộng Đất đẫm máu, qua những biến động miền Trung do Cộng Sản và tay sai gây ra trong vụ Mậu Thân làm khỏang 5.000 người bị giết và chôn sống , qua các chiến dịch hợp tác xã , các cuộc đánh phá tư sản v...v....theo đúng chính sách tiêu diệt các giai cấp của chủ nghĩa Cộng Sản .

Nhưng xin hãy nhìn lại lịch sử Việt Nam trước 1945 và mấy năm sau đó thì sẽ thấy rất nhiều người Việt Nam kể cả những trí thức như Trần Đức Thảo , Nguyễn Mạnh Tường , Phạm Huy Thông , Phan Anh , Nguyễn Khắc Viện , Dương Đức Hiền , Nguyễn Xiển , Trần Đại Nghĩa , Trương Như Tảng , Dương Quỳnh Hoa , Hoàng Văn Chí vân vân và vân vân... đều lầm Hồ Chí Minh là người yêu nước nên mới theo ông ta về nước chống Pháp để giành độc lập. Đó là chưa kể cho đến ngày nay vẫn còn có những trí thức như cụ Hoàng Xuân Hãn, và tay Lữ Phương tự cho mình đã phản tỉnh , quay lại chống đảng Cộng Sản , mà hãy còn nói đến “ công lao to lớn ” của Hồ Chí Minh đối với dân tộc .

Và giải thích làm sao đây, việc những bức tượng Hồ Chí Minh chễm chệ ngồi trong chùa Đại Nam Quốc Tự , ở Miền Nam ( Bình Dương ) trước tượng Phật, và tượng bán thân Hồ Chí Minh ngồi trước tượng đức Thánh Trần ở ngoài Bắc ( thị xã Hưng Yên ), mà chẳng có giới chức nào của Phật Giáo, dù là ông Thích Trí Quang , hay mấy sư thuộc “ giáo hội Phật giáo Quốc doanh ” hay ngay cả giáo Hội Việt Nam Thống Nhất của hoà thượng Thích Huyền Quang , rồi Hoà Thượng Thích Quảng Độ... chẳng một ai dám hó hé lên tiếng phản đối để chứng tỏ Hồ Chí Minh không phải là Bồ Tát, hay có công cứu nước như Đức Trần Hưng Đạo . Thực tế vừa quái đản , vừa mỉa mai chua xót đó có nghĩa gì ? . Xin quý vị thử trả lời xem sao . Đó là chưa kể cũng vừa mới đây thôi , trong một đám rước Công Giáo tại Giáo phận Hưng Hoá , cũng chỉ thấy cờ đỏ sao vàng , không có cờ của giáo Hội , và đặc biệt còn có tượng Hồ Chí Minh bên cạnh tượng Chúa và Đức Mẹ Maria .


Tượng Hồ Chí Minh bên cạnh tượng Chúa và Đức Mẹ Maria
Nguồn: banmeonline.org



Có phải là Hồ Chí Minh đã đi vào văn hoà và tôn giáo tại Việt Nam rồi không ? . Có phải Hồ Chí Minh tuy đã chết những bằng một cách nào đó vẫn còn “ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta ” , như Việt Cộng thường nhắc đi nhắc lại để thần thánh hoá ông ta không ? .

Không những thế , ký giả , sử gia , học giả ngoại quốc phần lớn đều thán phục , ca tụng Hồ Chí Minh là nhà giải phóng dân tộc . Xin đọc hai phần I và II cuốn Hồ Chí Minh ndth để thấy đầy rẫy bằng chứng .

Vì thế ngay từ những ngày đầu Hồ Chí Minh đã có cái thế vũng vàng để xử dụng chiêu bài dân tộc của mình một cách hữu hiệu .

Trong tình hình đó Pháp hay Mỹ đem quân vào đánh Việt Minh của Hồ Chí Minh , đèu bi dư luận trong và ngoài nước lên án là quân xâm lăng chống lại nhân dân Việt Nam “ dưới sự lãnh đạo của một nhà ái quôc ” . Một số cây bút sắc bén của Mỹ đã vô tình trở thành những sư đoàn của đoàn quân thú năm ( cinqième colonne ) nằm sẵn tại tổng hành dinh của Mỹ là quốc hội , chính phủ và dư luận Mỹ , hoặc tại các thành phố lớn của Mỹ như New York , San Francisco , Los Angeles v...v....

Nếu phe quốc gia đã phá được ngay từ đầu cái huyền thoại đó , thì tình thế đã khác . Nhưng nói gì ngày đó . Ngay cho đến nay chúng ta vẫn chưa phá vỡ được kia mà , mặc dù đã có những cố gắng đáng kể .

Xin lỗi đã làm mất thì giờ của qúy vị vì đã phải trở lại những vấn đề đã được trình bày tóm tắt ở những trang trên .

Nguyên lý chỉ đạo lập trường và thái độ chính trị của ông Diệm là tự lực cánh sinh theo châm ngôn , “ Hãy tự giúp mình, rồi Trời sẽ giúp ” ( Aide-toi, le ciel t’aidera ) . Muốn cho dân giầu nước mạnh trước hết phải làm cho người dân biết tự đứng trên chân của mình , không sống như cây tầm gửi, không ý lại vào ngoại viện , quân viện . Ông và ông Nhu đã thể hiện tinh thần này bằng khẩu hiệu “ Tam Túc ” ( tự túc về tư tưởng, tự túc về tổ chức và tự túc về kỹ thuật ) trong quốc sách Ấp Chiến Lược .

Nước nhà còn yếu , dân ta còn nghèo , ông thấy rõ cần sự viện trợ của ngoại quốc , nhất là Hoa Kỳ , để tạm đứng vững trong giai đoạn đầu , đang phải giải quyết nhiều vấn đề khó khăn. Ví dụ vấn đề lương thực, thuốc men , nhà ở , công ăn việc làm cho gần triệu đồng bào di cư . Nhưng trước hết ông kêu gọi người dân và cán bộ, hãy tiết kiệm và tự túc để càng ít lệ thuộc vào ngoại viện chừng nào hay chừng đó . Điều này không phải ai cũng thông cảm và đồng ý với ông . Vì người ta nghĩ “ dại gì không nhờ nước Mỹ giầu có nhất thế giới giúp, càng nhiều chừng nào dân càng đỡ khổ chừng nầy ” . Sự bất đồng chính kiến và thiếu thông cảm này cũng là một cái mầm bất mãn sau này .

Nguyên lý chỉ đạo chiến lược lâu dài của ông Diệm là phải giữ chủ quyền quốc gia trên hết . Vì chỉ có thế mới đối đầu được với Hồ Chí Minh đã được dư luận trong và ngoài nước coi như “ một nhà giải phóng dân tộc ” . Nhiều lần các giới chức cao cấp Mỹ từ phó tổng thống đến đại sứ.... đã cố thuyết phục ông hãy cho phép Mỹ đưa quân tác chiến vào để sớm đánh thắng Việt Cộng . Ông không bác bỏ hẳn . Ông chỉ nói chưa cần , và hứa khi cần thì sẽ trình Quốc Hội duyệt y một hiệp ước song phương cho phép quân Mỹ đóng gần Sông Bến Hải để ngăn chặn sự tấn công ồ ạt bằng quân bắc việt có đại quân trung Quốc yểm trợ công khai như trường hợp Nam Hàn đầu thập niên 50 thế kỷ trước .

Như vậy ông Diệm đã không tuyệt đối chống việc Mỹ đem quân tác chiến vào, như có người không nghiên cứu kỹ lịch sử đã chê ông “ thiếu khôn ngoan ” , làm phật lòng Đồng Minh nên mới bị hại . Những người này còn đưa sự kiện lịch sử của Nam Hàn để lý luận rằng , nếu để đại quân vào giúp thì đã nhanh chóng giải quyết hoạ xâm lăng. Nhưng hoàn cảnh Nam Hàn đầu thập niên 50 thế kỷ trước hoàn toàn khác hoàn cảnh Việt Nam đầu thập niên 60 .

Thứ nhất Nam Hàn không có huyền thoại Hồ Chí Minh anh hùng cứu quốc, vừa đánh thắng Thực Dân Đế Quốc .

Thứ hai , Nam Hàn bị Cộng Sản Bắc Hàn công khai xâm lăng , với quân viện ồ ạt của Trung Cộng . Nam Hàn vì lý do tự vệ , có quyền cầu cứu Liên Hiệp Quốc .

Thứ ba , Việc Mỹ đem quân vào Nam Hàn để chống Hàn Cộng và Trung Cộng xâm lăng đã được Liên Hiệp Quốc đồng ý , nên không bị dư luận lên án hay chỉ trích .

Thực tế lịch sử những năm đầu thập niên 70 đã chứng tỏ : Vì Mỹ đưa đại quân vào mà thiếu những yếu tố cần thiết như Nam Hàn trước đó , nên chiến tranh đã kéo dài tám năm và Mỹ đã sa lầy . Việc sa lầy này có thực . Không chỉ có ký giả Mỹ David Halberstam (đã chết vì tai nạn xe hơi năm 2007) viết cuốn “ The Making of a Quagmire ” để nói về sự sa lầy đó , mà tác giả Việt Nam Nguyễn Kỳ Phong cũng có một cuốn với nhan đề “ Vũng Lầy của Bạch Ốc ” .

Không phải là nhà nông từng có trâu bị sa lầy thì khó hình dung ra cảnh sa lầy nó điêu đứng , cùng quẫn đến thế nào . Rút chân ra được khỏi bãi lầy đã là may mắn lắm . Thiết tưởng không nên trách Tổng Thống Nixon của Hoa Kỳ đã bỏ rơi chúng ta . Như đã trình bày ở trên , chính Tổng Thống Lyndon B. Johnson và bộ trưởng Quốc Phòng McNamara đã có ý định rút quân trước Nixon rất lâu ( 1966 và 1968 ) . Vả lại khi vận động tranh cử Tổng Thống Nixon đã hứa với quốc dân Mỹ là sẽ rút quân về ( vì ông thấy trước, khi miền Nam không còn ông Diệm nữa thì không thể nào thắng Cộng Sản miền Bắc được ) cho nên ông mới thắng cử một cách vẻ vang . Như vậy cũng có thể nói, ý muốn rút quân là do toàn dân Mỹ . Vì vậy đừng bảo Nixon bỏ rơi Việt Nam vì đã ký được thông cáo chung Thuợng Hải với Trung Cộng ngày 27 tháng 2 năm 1972 . (4)

Chẳng qua ông đã bất đắc dĩ phải bỏ một tiền đồn không thể giữ nổi , vì những sai lầm chiến lược ( của chính quyền Kennedy ) , hầu áp dụng chiến lược mới : Quay mũi nhọn tấn công vào những mặt trận khác rộng lớn và quan trọng hơn là ngoại giao, thương thuyết , nghĩa là không dùng vũ khí vật chất nữa , mà chỉ dùng vũ khí vô hình để tấn công các quan thầy của Việt Cộng .

Về vấn đề này , xem ra Nixon đã áp dụng chiến lược sách lược đấu tranh phi vũ trang của Ngô Đình Diệm chín năm về trước : Dùng chính nghĩa để thắng ngụy nghĩa , dùng đòn ly gián chia rẽ hàng ngũ đối phương , bằng vũ khí phi quân sự , chứ không dùng chiến tranh nóng . Và dĩ nhiên cái vị thế một siêu cường đã giúp Nixon dễ thành công hơn Ngô Đình Diệm . Trong tác phẩm độc đáo hơn 300 trang “ 1999 Victory Without War ” , Nixon đã thâu tóm chiến lược phi vũ trang của ông vào ba từ: deterrence, competition, negotiation ( răn đe, thi đua và thương thuyết ) . Ông nhìn thấy trước chiến lược này thế nào cũng thành công, nên đã đưa ra một lời tiên đoán làm nhan đề cho cuốn sách tiên tri của mình : Năm 1999 sẽ có chiến thắng mà không cần chiến tranh . (4bis)

Ngô Đình Diệm đã không mở những trận đánh lớn , lại không muốn cho Mỹ đem quân tác chiến vào giúp đánh nhanh , đánh mạnh . Vậy chiến lược chống Việt Cộng của ông ta chủ yếu là gì ?


Dùng chính nghĩa dân tộc để chống chiêu bài dân tộc

Tiếp xúc, thương thuyết, hiệp thương , liên hiệp . Đó là những bước đi có thể xảy ra . Nhưng thực sự mới chỉ có một vài cuộc tiếp xúc gián tiếp chưa đi đến kết quả cụ thể nào thì ông Diệm bị giết .

Nửa cuối của chương 27, cũng là chương tổng kết của cuốn “ Ngô Đình Diệm - Lời khen tiếng chê ” , và toàn bộ Phần II gồm 3 chương 2 , 3 , 4 của cuốn “ Ngô Đình Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc ” đã nói kỹ đến toan tính hiệp thương và những cuộc tiếp xúc của ông Ngô Đình Nhu với một vài nhân vật môi giới, qua lời tường thuật của những tác giả khác như luật sư Mieczyslaw Maneli, trưởng đoàn Ba Lan Cộng Sản trong Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến , và của tiến Sĩ Allen Hammer , vân vân . Nhưng những cuộc tiếp xúc đó chưa đưa đến kết quả cụ thể nào, và cũng không thấy có bằng chứng trên giấy trắng mực đen nào của cả hai phía , Cộng Sản cũng như chính quyền Ngô Đình Diệm . Cho nên chúng tôi đã tự chế bằng hai từ “ toan tính hiệp thưong ” . Nhưng nhiều người đã cho rằng chính vì những toan tính đó mà ông Diệm bị nhân dân phản đối và các tướng lãnh giết .

Vì vậy chúng tôi xin trình bày quan điểm riêng về vấn đề này, dựa theo khái niệm chiến tranh ý thức hệ , là một cuộc chiến toàn bộ , toàn diện .




(Còn tiếp)


© DCVOnline

(3) SĐD trang 70 - Nguyên Văn:

“ President Diem stabilized South Vietnam as a keystone holds up a dome. Political forces converge on him from all directions, but by balancing one against another, he locked all of them into place. And just as a keystone 's importance is not apparent unless it is removed, Diem's vital role became clear only after his demise, when the entire South Vietnamese political system came crashing down ”
“ What the coup supporters in the Kennedy administration should have known all along now became painfully clear: The choice in South Vietnam had been not between Diem and somebody better but between Diem and somebody worse ” “ Whatever his faults, Diem possessed a significant measure of legitimacy. He was a strong leader of a nation that desperately needed strong leadership. With him gone, power in South Vietnam was up for grabs. The administration officials who had so eagerly hatched the plots against Diem soon discovered that their South Vietnamese collaborators were hopelessly bad leaders. Skills needed to overthrow a government are not useful for running one. Leading a coup and leading a country are two entirely different jobs. The chaotic leadership crisis that followed in South Vietnam was a direct consequence of the overthrow of president Ngo Dinh Diem ”

Chúng tôi nhấn mạnh mấy từ “ chaotic leadership crisis ” ( cuộc khủng hoảng lãnh đạo đến hỗn loạn ) ở đây . Trong hồi ký của tướng Nguyễn Cao Kỳ tác giả đã nói đến 7 lần thay đổi chính phủ trong 12 tháng. Và Giáo Sư Phạm Kim Vinh, tức ký giả Trương Tử Phịng, trong " Cái chết của Nam Việt Nam " ( trang 66 ) thì đếm 9 lần trong 18 tháng.
(3bis) theo Maurice Vaisse thì số quân Liên Hiệp Pháp hiện diện tại Việt Nam vào tháng 6 năm 1954 là 177,000)

(4) Xin đừng nhìn sự kiện lịch sử này một cách máy móc rồi lý luận rằng, vì đã thỏa thuận được với quan thầy của Việt Cộng là Trung Cộng gần một năm trước rồi (27-2-1972) cho nên (ngày 27 tháng 1 năm 1973) Mỹ mới ký hiệp định Paris trao miền Nam cho Bắc Việt. Vì thực ra chính quyền Johnson đã bắt đầu hoà đàm với Bắc Việt vào năm 1968 để ra khỏi cuộc chiến. Và ngày 25-7-1969, trong một cuộc họp báo Tổng Thống Nixon, mới tuyên thệ nhận chức được nửa năm, đã phác hoạ Chủ Thuyết Nixon mà nội dung gồm có việc “ Việt Nam hoá chiến tranh ” . Nghĩa là Hoa Kỳ sẽ dần dần trao trách nhiệm chiến tranh cho các cấp lãnh đạo người Việt Nam, Hoa kỳ chỉ còn yểm trợ bằng hỏa lực và tiếp liệu . Cho nên đáng lẽ ngay từ đó chính phủ Nguyễn Văn Thiệu đã phải chuẩn bị đễ đối phó với việc Mỹ sẽ rút quân . Nhưng vì không chuẩn bị gần, chuẩn bị xa cho sự kiện đó nên khi nước đến trôn, mới cuống cuồng “ bỏ của chạy lấy người ” , bỏ nước chạy thục mạng. Rồi ngày nay các đệ tử ruột của ông đổ tội cho “đồng minh tháo chạy”, bỏ rơi mình .
Với Thông cáo chung Thượng Hải, Hoa Kỳ đã nắm được quan thầy của Việt Cộng rồi . Nhưng vẫn còn phải có trận “ Điên Biên Phủ trên không ” dịp Giáng Sinh cuối năm 1972 và cuộc phong tỏa hải cảng Hải Phòng mới bắt buộc được Lê Dức Thọ chịu hội đàm nghiêm chỉnh để đi đến hiệp định Paris ngày 27-1-1973 . Như vậy chứng tỏ bãi lầy không phải dễ thoát ra .
Trong trường hợp đó nếu có người cứ cố níu lấy Đồng Minh, không cho rút chân ra, thì thử hỏi có câu nói nảy lửa độc ác nào ( “ Sao chúng không chết đi cho rồi, cứ níu kéo hoài! ” mà kẻ đang sa lầy chẳng thốt ra ? ) . Sa lầy phần nhỏ vì trận chiến ác liệt, nhưng phần lớn vì những nhà báo (mỗi ngòi bút là một sư đoàn) , và phong trào phản chiến mà những nhà báo này đã phát động tại những thành phố lớn nhất của Mỹ chi phối thái độ và lập trường chống chiến tranh của các nhà lập pháp ở điện Capitol. Xin hãy nhớ lại những cuộc biểu tình phản chiến của hàng chục vạn người tham dự ở New York, Los Angeles, San Francisco, Washington DC... và khoảng ba chục thành phố khác vào những ngày tháng đó .
(4bis) SĐD, NXB Simon and Schuster, NY, London, Tokyo, Sydney, 1988. Thực tế chiến thắng đã tới tám năm sớm hơn lời tiên đoán của tác giả . Trong tác phẩm này , Nixon lại một lần nữa nhắc lại “ lỗi lầm tệ hại nhất của chúng ta là đã xúi dục lật đổ tổng Thống Diệm năm 1963... ” ( trang 123 )





Hồ Chí Minh-Ngô Đình Diệm và cuộc chiến Quốc-Cộng (II)

Hai phần sau đây chúng tôi sẽ nêu ra lý do chính của sự thất trận.



II. Hồ Chí Minh với chiêu bài dân tộc


Phần đông người Việt Quốc Gia chỉ thấy Hồ Chí Minh là tên Cộng Sản gian manh xảo quyệt, tàn ác, chủ trương giết người không gớm tay. Nhiều người cho đến nay vẫn không ngừng rủa xả ông ta là tên đại Việt Gian, Việt Gian số một của thời đại, có khi bằng những lời lẽ thiếu tao nhã. Có người còn nổi giận :" Với Việt gian cần gì phải lịch sự ".

Chúng tôi đồng ý, và cũng đã chứng minh với tài liệu riêng rằng ông Hồ là tội đồ dân tộc, phải chịu trách nhiệm về tất cả các cuộc tàn sát tập thể trên quê hương ta, khiến hàng triệu người đã vong mạng . Nhưng thật là thiếu sót, nếu chỉ nhìn thấy mặt trái , mặt xấu của đối phương , mà không tìm hiểu nguyên do vì đâu mà con người xấu xa đó lại có khả năng gây nên những tội lỗi tầy trời như vậy . Và chúng ta có nên tự hỏi “ Phe Quốc Gia có lỗi lầm gì để gián tiếp tiếp tay cho kẻ ác phạm tội không? ” .

Hồ Chí Minh đã từng là đảng viên sáng lập đảng Cộng Sản Pháp, từng là ủy viên tuyên truyền thuộc trung ương Quốc Tế Cộng Sản và giữ nhiều nhịệm vụ quan trọng trong tổ chức này. Tài liệu chính thức còn cho biết ông ta đã nhận tiền và chỉ thị của Quốc Tế Cộng sản xây dựng những cơ sở đảng Cộng Sản tại nhiều nước Á châu, mở những lớp huấn luyện về tuyên truyền cho các cán bộ tại đó. Trong thời gian từ 1933 đến 1938, có người cho rằng ông ta đã chết, hay mất tích, hay bị gọi về Liên Xô để chịu sự kiểm thảo gắt gao. Nhưng trong thời gian dài đó Hồ Chí Minh cũng đã dự những lớp huấn luyện cao cấp dành cho những đảng viên ưu tú tại Học viện Lênin, và từng là huấn luyện viên của trường Lao động Đông Phương , cũng được gọi là Trường Stalin...

Tại những trường này họ Hồ đã được học không thiếu ngón nghề gì, từ tuyên truyền, tình báo gián điệp cho đến các kỹ thuật đấu tranh chính trị, kỹ thuật tác chiến, kể cả du kích chiến, để chuẩn bị trở thành một lãnh tụ Cộng Sản có tầm cỡ và một quốc trưởng tương lai .

Hai trường Stalin và Lênin thời ấy là những lò đào luyện cán bộ cách mạng hiếm hoi của thế giới. Cho nên chính nhà cách mạng Tôn Dật Tiên của Trung Hoa đã thỏa hiệp với Nga Cộng về một cuộc hợp tác để cán bộ của ông có thể thâu thái những tinh hoa về kỹ thuật cách mạng của Liên Xô .

Cũng thế, chính nhà cách mạng Phan Bội Châu đã có lúc tiếp xúc với cán bộ Nga Cộng để yêu cầu họ huấn luyện cho cán bộ của ông . Nhưng khi Nga đặt điều kiện là phải truyền bá và xây dựng chủ nghĩa Mác tại Việt Nam, thì nhà cách mạng lão thành của chúng ta đã thôi không tiếp xúc , cầu cạnh với Nga Cộng nữa .


Mikhail Markovich Borodin
Nguồn: Wikipedia.org



Nhưng Hồ Chí Minh đã nhận làm tay sai cho Cộng Sản và được huấn luyện để trở thành tay gián điệp quốc tế nổi tiếng với nhiệm vụ xích hoá chẳng những Việt Nam mà còn cả vùng Đông Nam Á Châu , cụ thể là các nước Thái Lan , Miến Điện , Nam Dương , Mã Lai . Đó là chưa kể đã giúp mở mang củng cố đảng Cộng Sản Trung Quốc , trong vai trò phụ tá cho Borodin, một cán bộ cao cấp được Quốc Tế Cộng Sản phái sang làm việc cạnh Trung Hoa Quốc Dân Đảng , với một sứ mạng bí mật là yểm trợ , mở rộng đảng Cộng Sản Trung Hoa .

Cứ xem vậy đủ biết Hồ Chí Minh đã có nhiều khả năng đa dạng về kỹ thuật đấu tranh chính trị, hay tác chiến trong chiến tranh ý thức hệ. Nhưng ở đây chúng tôi chỉ bàn đến một “ bửu bối ” của ông ta là chiêu bài dân tộc mà ông ta đã khéo léo , cẩn thận tạo được cho mình và đã sử dụng nó một các tinh vi , tài tình, khiến cho ngày nay dư luận thế giới vẫn còn ngưỡng mộ ông ta về khả năng phi phàm đó . Và đó là mối đại hoạ cho dân cho nước mà chúng ta chưa làm sao thoát ra được.

Chiêu bài dân tộc mà Hồ Chí Minh dùng để lôi cuốn quần chúng đi theo ông ta phát xuất từ “ Đề cương chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa dân tộc ” của Lênin . Đây là một sách lược đấu tranh dựa vào những kinh nghiệm của đảng Cộng Sản Nga trong giai đoạn đầu. Theo lý thuyết chủ nghĩa Mác thì sách lược đấu tranh phải dựa vào giai cấp vô sản là chính , không có chỗ đứng cho các thành phần dân tộc. Càng không có cái gọi là chủ nghĩa dân tộc . Nhưng kinh nghiệm của cách mạng ở Nga trong giai đoạn đầu với nhiều khó khăn trở ngại, nếu Lênin không dựa vào các thành phần dân tộc thì đã không thể nào thành công . Vì vậy chủ nghĩa dân tộc của Lênin chỉ là một sách lược ( tactic ) giai đoạn mà thôi chứ không phải là một chiến lược ( strategy ) dài hạn. Càng không phải là mục tiêu chiến lược cuối cùng .

Nói một cách nôm na, Lênin không chủ trưong kêu gọi lòng yêu nước thực sự để đấu tranh chống thực dân, đế quốc, nhằm mục đích giải phóng các dân tộc bị trị, vì quyền lợi tối thượng của các dân tộc đó. Mà chỉ dùng nó như một chiêu bài giả dối. Nghĩa là sau khi đã đánh đuổi thực dân, thì sẽ không còn cần tới dân tộc nữa. Vì thực ra khái niệm dân tộc không tồn tại trong chủ nghĩa Mác, vốn là chủ nghĩa vô tổ quốc. Vì mục tiêu cuối cùng của đấu tranh giai cấp của Mác là thế giới đại đồng, không còn quốc gia dân tộc nữa.


Hồ Chí Minh đã chuẩn bị để sử dụng chiêu bài dân tộc như thế nào?

Ngày 11-11-1924 Hồ Chí Minh đến Quảng Châu , miền Nam Trung Quốc trong vai trò phụ tá cho Borodin trưởng đoàn Liên Xô bên cạnh chính phủ Trung Hoa Quốc Gia . Trong vai trò này và đồng thời cũng là một vỏ bọc kiên cố cho một điệp viên cao cấp của Quốc Tế Cộng Sản , Hồ Chí Minh ( lúc ấy còn mang tên Nguyễn Ái Quốc ), lấy bí danh Lý Thụy đã có cơ hội tiếp xúc với những nhân vật Trung Cộng trong bí mật, nhưng quan trọng hơn và, đáng nói ở đây là, những giới chức thuộc Trung Hoa Quốc Dân Đảng . Thậm chí ông ta đã được phu nhân của lãnh tụ Tôn Dật Tiên tiếp kiến và giúp đỡ tận tình . Dĩ nhiên không phải với tư cách là một điệp viên của Quốc Tế Cộng Sản, mà với tư cách là một người Việt Nam “ yêu nước ” . Khi mối liên hệ giữa Trung Hoa Dân Quốc và Liên Xô tạm ngưng từ 1927, Họ Hồ theo phái bộ Borodin trở về Nga, rồi từ đó trở lại Thái Lan qua ngả Âu Châu . Tại Thái Lan ông tiếp xúc với những kiều bào yêu nước, để lập nên đảng Cộng Sản Xiêm ( tên gọi Thái Lan thời ấy ). Tuy mang tên là đảng Cộng Sản Xiêm, nhưng đảng viên hầu hết là ngừoi Việt và người Hoa . Có lúc ông đã mặc áo sư vào ẩn náu trong các chùa chiền, để dễ dàng bí mật chỉ huy. Theo Hoàng Văn Hoan , trong thời gian Hồ Chí Minh ở Thái Lan, từ 1928 đến 1930 , có một đồ đệ của cụ Phan Bội Châu là Đặng Thúc Hứa , tục gọi Cố Đi (mất năm 1931), đã hết lòng giúp đỡ các tổ chức yêu nước ở đây, kể cả các nhóm Cộng Sản , vì nghĩ họ đều là người yêu nước muốn đánh đuổi Pháp thưc dân dành độc lập cho tổ quốc .

Khi Cộng Sản còn yếu nó thường phải dựa vào uy tín , thế lực của người quốc gia phi cộng sản để che giấu bộ mặt thật đáng ghét , hay chưa có tiếng tăm . Ở đâu cũng vậy chứ không cứ gì ở Xiêm .

Cũng chính Hồ Chí Minh đã xâm nhập , thao túng, lũng đoạn các tổ chức người Việt yêu nước ở Hoa Nam như Tâm Tâm Xã của các thanh niên đồ đệ của cụ Phan Bội Châu , Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội , gọi tắt là Việt Minh, của cụ Hồ Học Lãm , một đồng chí của cụ Phan, và cả Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh hội của cụ Nguyễn Hải Thần.

Chính Nguyễn Ái Quốc đã chiêu dụ nhóm thanh niên nhiệt thành trong Tâm Tâm Xã như Hồ Tùng Mậu ( cháu cụ Hồ Học Lãm ), Lâm Đức Thụ , Phạm Hồng Thái , Lê Hồng Sơn... theo ông ta để dần dần biến tổ chức này thành Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội , là cái nhân của Đông Dương Cộng Sản Đảng vào năm 1930 .

Trong hồi ký “ Giọt Nước Trong Biển Cả ” mà chúng tôi đã phân tích tóm tắt trong cuốn “ Hồ Chí Minh - Nhận định tổng hợp ”, chương 33 (1bis), Hoàng Văn Hoan còn nói kỹ về việc Hồ Chí Minh sau khi từ Nga trở về Trung Hoa, vào năm 1940, đã hướng dẫn, chỉ thị cho nhóm Hoàng Văn Hoan ( Lý Quang Hoa ) , Phạm Văn Đồng ( Lâm Bá Kiệt ) và Võ Nguyên Giáp ( Dương Hoài Nam )... lợi dụng uy tín và lòng chân thành của cụ Hồ Học Lãm ra sao để xâm nhập rồi tiếm danh tổ chức của ông là Việt Nam Độc Lập đồng minh hội, mà chính ông Hồ Học Lãm đã đặt tên tắt là Việt Minh. Cũng chính Hồ Chí Minh đã chỉ thị đàn em phải tách ra khỏi tổ chức của đại tá Trương Bội Công, người Việt Nam Quốc Gia nhưng thuộc quân đội của Trung Hoa Quốc Dân Đảng . Hồ Chí Minh sợ một đại tá của Trung Hoa Quốc Dân Đảng ( THQDĐ ) không dễ bị đánh lừa và lợi dụng như cụ Hồ Học Lãm tính tình cởi mở chân thành ( khoảng đầu năm 1945 họ Trương bị Cộng Sản giết ).

Khi Hồ Chí Minh về nước lập ra Mặt Trận Việt Minh ngày 19-5-1941 tại Pác Bó là ông ta đã lập lờ đánh lận con đen , khiến nhân dân trong cả nước có thể hiểu lầm rằng đây là một mặt trận của các nhà cách mạng ái quốc như Hồ Học Lãm , Nguyễn Hải Thần.

Hồ Chí Minh cũng đã xâm nhập, lợi dụng Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh hội do cụ Nguyễn Hải Thần làm chủ tịch .

Theo Hoàng Văn Đào, một chiến sĩ lão thành thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng, trong cuốn “ Lịch sử Đấu tranh Hiện Đại , 1927-1954 , Việt Nam Quốc Dân Đảng ” ( ấn bản thứ 5, năm 2006, trang 185 ) , thì trong khi các nhà cách mạng thuộc các đảng phái Quốc Gia làm lơ hay còn do dự chưa biết xử trí ra sao, trước câu hỏi có nên xung phong về nước tranh đấu , khi thế chiến II sắp kết thúc không , thì ( nguyên văn “ trước hội nghị, duy chỉ có ông Hồ Chí Minh giơ tay xin xung phong ” )... “ Ông ta liền được cấp đầy đủ giấy tờ và công tác phí là Hai Mươi vạn Quốc Tệ và Hai Chục thanh niên cán bộ, do ông ta tự ý lựa chọn những phần tử dễ điều khiển, mà hầu hết là đảng viên Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội ( VNPQĐMH ) ” ( Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội, có xu hướng Quốc Tế Cộng sản trái với Việt Nam Quang Phục Hội của cụ Phan bội Châu - MV ) .

Trước khi xuất phát, ông Hồ cùng đoàn cán bộ đã tuyên thệ dưới cờ của Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội , nguyện trung thành với Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội ( Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội - MV ).

Với hành động này Hồ Chí Minh đã đi bước trước và chiếm lợi thế hoàn toàn hơn các đảng phái quốc gia khác. Đồng thời còn dựa vào uy tín và thành tích của các đảng phái đó để có thể lôi cuốn quần chúng nhân dân trong nước ủng hộ Mặt Trận Việt Minh của Cộng Sản . Ta đã biết Cộng sản rất sở trường về kỹ thuật vận động , lôi cuốn quần chúng ( 1ter ). Mà ông Hồ thì rành hơn ai hết về xảo thuật xâm nhập, thao túng rồi lợi dụng danh nghĩa các đảng quốc gia để dễ đánh lừa nhân dân chất phác, cả tin với chiêu bài dân tộc giả dối .

Đó là đối với các đảng phái Quốc Gia. Họ Hồ còn khôn khéo chinh phục được các nhân vật trọng yếu trong Trung Hoa Quốc Dân Đảng, như tướng Trương Phát Khuê cũng qua trung gian Việt Nam Quốc Dân Đảng ( VNQDĐ ). Khi ông ta từ biên giới Việt Nam vào lãnh thổ Trung Hoa bị bắt thì lại chính mấy lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng là Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ đã can thiệp với tướng Trương Phát Khuê để xin thả ông ta ra cùng với lãnh tụ Nguyễn Tường Tam của Việt Nam Quốc Dân Đảng .

Chẳng những thế, cũng với mục đích tranh thủ sự ủng hộ của Hoa Kỳ, Hồ Chí Minh tự đặt mình vào vị thế đồng minh với Liên Xô, lúc ấy hãy còn là đồng minh với Mỹ, để chỉ thị cho đàn em tìm cách cứu các phi công Mỹ bị Nhật bắn rơi ở Cao Bằng , gần biên giới Việt Trung . Rồi ông ta đích thân đi bộ nhiều ngày vượt biên giới để mang một phi công Mỹ tên là William Shaw tới Côn Minh trao tận tay cho tướng Claire Chennault tư lệnh Không Đoàn Flying Tigers ( Hổ Bay ) , cũng là tư lệnh các lực lượng Mỹ trấn đóng ở Hoa Nam. Vị tướng này đã tiếp Hố Chí Minh và tặng ông ta bức chân dung của mình với hàng chử đề tặng sẽ được ông Hồ lợi dụng để khoe với đồng bào rằng ông ta được Hoa Kỳ ủng hộ .


Archimedes Patti (1983)
Nguồn: Vietnam War: The Real Stor



Trong số những sĩ quan Hoa Kỳ tỏ ra có cảm tình hay hành động giúp đỡ Việt Minh vào thời gian đó, lịch sử còn ghi những cái tên như Paul Helliwell, đại tá, trưởng lưới tình báo Mỹ tại Trung Hoa, Charles Fen, Trung úy, trưởng toán tình báo địa phương có cái tên dễ thương là Dear Team ( nhóm con nai ) , và Archimedes Patti, đại úy OSS ( tiền thân của CIA ), tác giả cuốn “ Why Vietnam? Prelude to America’s Albatros ” , một tác phẩm khá đồ sộ, ảnh hưởng tai hại cho hàng ngũ người Việt Quốc Gia, vì phải nói thực tác giả đã bị Hồ Chí Minh mê hoặc, luôn luôn tin lời ông ta nói dối rằng mình không phải Cộng Sản. Ngày “ Quốc Khánh ” , 2-9-1945 viên đại úy này đã được Hồ Chí Minh mời tham dự trên khán đài danh dự, nhưng đã khước từ, chỉ “ xin được đứng trong đám đông để dễ quan sát mọi sự ” . Nhưng ngày hôm trước, Patti đã nhận lời dùng dạ tiệc với họ Hồ và hai phụ tá là Hoàng Minh Giám và Võ Nguyên Giáp . Tại bàn tiệc Patti ngồi bên phải Hồ Chí Minh đối diện với Võ Nguyên Giáp .

Tất cả các hoạt động của Hồ Chí Minh kể trên đều nhắm một mục tiêu là vận dụng một cách hữu hiệu chiêu bài dân tộc theo đúng sách lược của Lênin . Với sách lược này , ông ta đã đi trước các đảng phái quốc gia và đã thành công trong cuộc cướp chính quyền ngày 19-8-1945. Lịch sử đã ghi ngày đó là ngày Cách Mạng Tháng Tám . Dù ghét Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản đến đâu chúng ta cũng không thể nói họ đã cướp công của người quốc gia .

Vì theo chính tài liệu của Việt Nam Quốc Dân Đảng lãnh tụ của Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội là Nguyễn Hải Thần chỉ về đến Hà Nội sau khi mọi sự đã xong xuôi , Hồ Chí Minh đã trở thành chủ tịch nước và đã đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2-9-1945, trước hàng vạn dân thủ đô, trong đó có cả hàng giáo phẩm Công Giáo và Phật Giáo , theo lời tường thuật của đại úy Patti có mặt tại chỗ. Còn Vũ Hồng Khanh và các đồng chí của ông thì mãi đến 20 tháng 10 mới về đến Hà Nội ( xem Hoàng Văn Đào nói trên, tr. 242 ). Cho nên nếu bảo rằng trong cuộc nổi dậy chống thực dân Pháp hồi giữa năm 1945 cũng có các đơn vị của Việt Nam Quốc Dân Đảng , thì cũng đúng . Ví dụ Việt Nam Quốc Dân Đảng đã chiếm đóng ba tỉnh là Hà Giang , Vĩnh Yên và Hà Đông trong một vài ngày , và một số đồng chí gan dạ dám chống lại Việt Minh như Quảng Dưỡng , Nguyễn Thế Nghiệp , Đào Chu Khải và vợ chồng Nguyễn Ngọc Sơn đã hy sinh . Chúng tôi nhắc lại một vài chi tiết này để ghi nhớ công ơn của Việt Nam Quốc Dân Đảng và lên án sự vô ơn, bội phản và tàn ác của Việt Minh . Nhưng không thể nào không ghi đúng sự thật là vai trò lãnh đạo cuộc nổi dậy toàn quốc không do các lãnh tụ Việt Quốc hay Việt Cách, mà do Hồ Chí Minh đảm nhận .

Nếu Hồ Chí Minh không khéo áp dụng chiêu bài dân tộc theo sách lược Lênin , thì không thể nào lại có thể “ cướp chính quyền ” ( chữ của Việt Minh thường dùng ) một cách nhanh chóng và rộng rãi như vậy . Chính chiêu bài này đã làm cho “ trong các cơ quan dân sự quân sự của Nhà Nước , đâu đâu cũng chỉ thấy ủng hộ , không một mảy may chống đối Việt Minh Cộng Sản ” , như Hoàng Văn Đào đã ghi trong cuốn sử của Việt Nam Quốc Dân đảng ( SĐD trang 213 ) .

Nói tóm lại, các đảng phái Quốc Gia ngay từ những ngày đầu đã dung túng , tiếp tay cho Hồ Chí Minh , cứu Hồ Chí Minh thoát tù Trung Hoa Quốc Dân Đảng , và lại cấp tiền bạc , vũ khí và nhân lực cho Hồ Chí Minh đi tiên phong về nước làm cuộc Cách Mạng Tháng Tám thành công .

Vào lúc đó sự việc xảy ra như vậy còn có thể thông cảm phần nào , vì chưa ai biết rõ về con người gian xảo quỷ quyệt và ác độc Hồ Chí Minh , hơn nữa phần đông các lãnh tụ Quốc Gia ở Hoa Nam lúc ấy cũng không am tường về chiến lược sách lược và kỹ thuật đấu tranh của Lênin .

Nhưng sau Cách Mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh và đồng đảng đã để lộ phần nào bộ mặt thật, muốn nắm trọn quyền trị nước, các đảng Quốc Gia lại một lần nữa trúng kế của Hồ Chí Minh ngửa tay nhận Bảy Mươi ghế trong cái Quốc Hội đầu tiên và một số ghế trong chính phủ Liên Hiệp . Hơn nữa lãnh tụ Vũ Hồng Khanh lại đặt bút ký vào hiệp định sơ bộ 6-3-1946, để cho quân Pháp vào miền Bắc . Những lỗi lầm đó đã gây biết bao tổn thất cho người quốc Gia yêu nước .


Có bao giờ chúng ta công khai nhận lỗi lầm trước quốc dân không ?

Nhưng chúng ta hãy nhìn lại lịch sử cuộc chiến Việt Nam từ 1946 và tự hỏi : Tại sao phe Cộng ban đầu chỉ có khoảng từ ba tới năm ngàn đảng viên với vũ khí thô sơ mà rồi đã thắng được đại quân của Pháp và quân đội Quốc Gia ? . Tại sao Cộng quân chịu sự kỷ luật sắt của các lãnh tụ Cộng Sản đề xông ra chiến trường trong khi cầm chắc cái chết ? . Có những chiến sĩ Cộng Sản đã bị xích chân vào xe tăng để quyết tử , chứ không bỏ chạy trước hỏa lực hùng hậu của Quân Pháp. Chuyện này tưởng là dã man và hầu như không thể tin được . Nhưng nếu ta hiểu mãnh lực của chiêu bài dân tộc , thì thấy không có gì lạ .

Du kích chiến , chiến tranh nhân dân , chiến pháp lấy ít đánh nhiều , lấy yếu đánh mạnh của Mao Trạch Đông mà Cộng Sản Việt Nam tận dụng được là nhớ có chiêu bài dân tộc của Hồ Chí Minh . Cộng Sản đã nhân danh tổ quốc , nhân danh lòng ái quốc để làm ra những điều không thể tưởng tượng, dù nó dã man, phi lý đến đâu chăng nữa . Vì lúc ấy phe Quốc Gia chúng ta chưa có ai biết để vạch mặt chiêu bài ái quốc giả dối của họ Hồ .

Quả thực phe Quốc Gia chúng ta , từ thời các ông Hồ Học Lãm , Trương Bội Công , Nguyễn Hải Thần hay Vũ Hồng Khanh , Nguyễn Tương Tam , Trương Tử Anh trước 1945 , cho đến Quốc Trưởng Bảo Đại , với các thủ tướng Nguyễn Văn Xuân , Nguyễn Phan Long , Trần Văn Hữu , Nguyễn Văn Tâm, Bửu Lộc ... không có ai hiểu được mưu mô hiểm độc , xảo trá nằm trong cái chiêu bài ái quốc , chiêu bài dân tộc cũng như tác dụng ghê gớm của cái chiêu bài đó đối với nhân dân Việt Nam đã quá đau khổ tuyệt vọng trong tám chục năm bị ách thống trị của Thực Dân Pháp .

Tuy nhiên nhìn vào lịch sử một cách khách quan, thì thấy chúng ta đã có một người hiểu rõ nội dung và tác dụng của cái chiêu bài dân tộc giả dối của Hồ Chí Minh và biết sử dụng chủ nghĩa dân tộc và lòng yêu nước nồng nàn, để hoá giải cái chiêu bài ấy bằng cách không ngừng tranh đấu bằng những phương tiện ôn hoà cho nền độc lập của việt Nam là ông Ngô Đình Diệm . Ông Diệm cũng là người duy nhất trong số các nhân vật quốc gia tên tuổi đã không mắc lừa để thỏa hiệp vói ông Hồ trong các chính phủ liên hiệp.



III. Ngô Đình Diệm và chính nghĩa dân tộc


Ở phần II , khi nói về Hồ Chí Minh chúng tôi đã tóm tắt hết sức vắn gọn, chỉ chú trọng đến phần lý luận chứ không đặt nặng vấn đề nghiên cứu lịch sử , vì hai cuốn “ Ai Giết Hồ Chí Minh? ” và “ Hồ Chí Minh - Nhận định tổng hợp ” đã làm nhiệm vụ này rồi . Dưới đây ở phần III này chúng tôi cũng chỉ xin tóm tắt hết sức vắn tắt về con người Ngô Đình Diệm . Và cũng như phần II , phần III này cũng chỉ chú trọng đến cách đối phó của ông Diệm chống lại chiêu bài dân tộc của ông Hồ mà thôi . Vì chúng tôi cũng đã có hai cuốn sách gần ngàn trang nói về ông Diệm . Nếu độc giả thấy những điều trình bày trong bài này không sáng sủa hay thiếu dẫn chứng , không đủ tính thuyết phục , thì xin cảm phiền đọc lại những tác phẩm trên .

Các sử gia và chính khách thường mệnh danh ông Ngô Đình Diệm là con người bí ẩn ( an Enigma ) , hay con người “ tất cả hoặc không gì cả ” ( Tout Ou Rien, All Or Nothing )

Có mấy yếu tố cấu thành sự bí ẩn của ông Diệm. Ví dụ tư tưởng và lối sống pha lẫn ảnh hưởng của Nho Giáo và ảnh hưởng của Công giáo . Ví dụ nhận viện trợ của Mỹ nhưng lại có nhiều hành động xem ra chống Mỹ một cách cực đoan. Ví dụ chống Cộng Sản nhưng lại toan tính hiệp thương với Cộng Sản....

Quan điểm và thái độ “ tất cả, hoặc không gì cả ” thường được áp dụng cho lập trường chính trị quá cứng rắn và có vẻ cố chấp, không thỏa hiệp, không thể thương lượng . Ví dụ tranh đấu đòi độc lập hoàn toàn . Ví dụ nhất định khước từ đề nghị của lãnh tụ Liên Xô Nikita Khrutshchev cho cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam cùng vào Liên Hiệp Quốc hồi năm 1957. Ví dụ khi cựu hoàng Bảo Đại đã thu hồi Độc Lập với thông cáo chung Vịnh Hạ Long , mời ông làm thủ tướng ông đã từ chối lấy cớ nền đôc lập “ chưa hoàn toàn ” vì Việt Nam còn phải ở trong Liên Hiệp Pháp . Một năm sau, với hiệp ước Élysée ký giữa quốc trưởng Bảo Đại và Tổng Thống Pháp Vincent Aauriol, nền độc lập đã rộng rãi hơn. Nhưng ông lại một lần nữa khước từ không nhận lời làm thủ tứong, cũng với cùng một lý do: Pháp chưa trao trả độc lập “ hoàn toàn ”.( 1bis )

Thái độ ương ngạnh đó đã khiến nhiều người từng nức lòng ủng hộ ông đã không ủng hộ ông nữa và cựu hoàng cũng thất vọng về ông , để sau này ( giữa năm 1954 ) đã phải nhắc đến để khẩn khỏan mời ông ra cứu nước vào lúc nước nhà đã mất một nửa vào tay Việt Minh: “ Cứ mỗi khi tôi cần thay đổi chính phủ, tôi lại phải gọi đến ông. Ông thì lúc nào cũng từ chối....” .

Lần sau cùng này ông Diệm đã nhận lời , khi quốc trửong Bảo Đại bằng lòng trao cho ông toàn quyền dân sự và quân sự , như một điều kiện tiên quyết .

Tại sao ông đòi độc lập hoàn toàn, tại sao đòi toàn quyền dân sự và quân sự ? . Vì , tôi nghĩ , với kinh nghiệm đối với Pháp , kinh nghiệm đối vói Việt Minh Cộng Sản , và kinh nghiệm với các đảng phái quốc gia và các giáo phái ỏ miền Nam, ông đã nhìn thấy rõ : " Chỉ có đường lối cứng rắn và thái độ cương nghị của ông mới có thể đương đầu với Pháp , khuất phục và thống nhất các phe phái ở miền Nam , tạo một thế mạnh đủ hòng đối phó với chiêu bài dân tộc giả dối của Hồ Chí Minh " .

Từ lúc làm Tuần Vũ Phan Thiết năm 1929 ông Diệm đã có dịp chứng kiến cái gọi là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh với khẩu hiệu quá khích “ Trí Phú Địa Hào , đào tận gốc trốc tận rễ ” khiến hang vạn người bị giết bởi cả hai phía, Cộng sản và Pháp . Và ông đã hiểu thấu đáo chủ nghĩa Cộng Sản với đấu tranh giai cấp đã được thể hiện qua phong trào này ra sao . Đó là những năm 1930-1931 , khi đảng Cộng Sản mới được thành lập và thống nhất . Phong trào tuy gọi tắt là Xô Viết Nghệ Tĩnh, ví nó bắt đầu ở hai tỉnh này từ ngày 1-5-1930 ( chỉ 3 tháng sau khi đảng Cộng Sản được thành lập ), nhưng thực ra nó đã lan tới nhiều tỉnh khác từ Bắc chí Nam .

Năm 1933 , khi ông ( mới 32 tuổi ) từ chức Lại Bộ Thượng Thư , tương đương với chức thủ tướng , để phản đối sự ngoan cố của nhà cầm quyền thực dân , ông đã chuẩn bị ( trong tiềm thức ) một thế trận nhắm vào chiêu bài dân tộc của Hồ Chí Minh sau này . Và hành động này đã khiến nhà cách mạng lừng danh Phan Bội Châu tiên đoán một cách chính xác rằng “ Tất sau này việc phục hưng chỉ có hạng người như Ngô Đình Diệm mới làm nổi ” . Và đúng là chỉ 22 năm sau lời tiên đoán đó đã thành sự thực . Lúc ấy cụ Phan đã qua đời đựợc 15 năm rồi .

Để chứng tỏ “ vũ khí ” chủ nghĩa dân tộc của mình có khả năng phá tan “ bửu bối ” chiêu bài dân tộc của Hồ Chí Minh , ông Diệm đã đích thân cố gắng giúp cựu hoàng Bảo Đại tranh đấu với cao ủy Pháp Émile Bollaert nhiều lần để Việt Nam có một nền độc lập hoàn toàn, nhưng không thành công . Nên ông đành chờ cho đến khi Pháp thua Việt Minh và phải ký hiệp định Geneva chia đôi đất nước . Với viễn kiến hiếm có của một chính khách tài ba, ông đã tiên liệu việc này, khiến sử gia Bernard Fall của Pháp đã phải bảo đó là một lời tiên tri rõ ràng. ( that report ( of Diem ) was fully prophetic six years later. But in 1948 it was ignored ). Báo cáo đó là một lời tiên tri hoàn toàn vào 6 năm sau. Nhưng năm 1948 không ai đếm xỉa đến . ( The Two Vietnams trang 142 ). (2)




(Còn tiếp)


© DCVOnline

(1bis ) (từ trang 389-398, Tủ Sách Tiếng Quê Hương, ấn bản 2, 2006) (1ter ) Agit-Prop (có nghĩa là Khuấy Động và Tuyên Truyền, có ý nói cơ quan khuấy động hay vận động quần chúng và tuyên truyền) là một bộ phận vô cùng quan trọng trong các đảng Cộng Sản hay chính quyền Cộng Sản khắp nơi trên thế giói. Trong cuốn “ Ai Giết Hồ Chí Minh ? ” chúng tôi đã dành hai chương để bàn về Agit-Prop.

(2) Khi chúng tôi nhắc lại việc ông Diệm từ chức Thượng Thư Bộ Lại để phản đối Pháp và triều đình và đã được nhiều người ngưỡng mộ ca tụng, kể cả nhà cách mạng Phan Bội Châu, thì có người hỏi vặn lại rằng thế thì sao không từ chức “ Tuần Vũ ” hồi 1929. Vì vậy ở đây chúng tôi cũng xin phòng hờ trước có người sẽ hỏi tại sao hồi 1920 và 1929, nước nhà chưa độc lập, sao ông Diệm lại nhận chức tri phủ rồi tuần vũ của Triều Đình? Xin thưa trước hết là vì vào thời gian đó, chưa có chiêu bài dân tộc giả dối của Hồ Chí Minh cần phải hoá giải và đối phó . Hơn nữa khi nhận chức Tri Phủ ông Diệm mới 20 tuổi và khi nhận chức Tuần Vũ mới 28 tuổi . Ở tuổi đó có chịu khó nhịn nhục và cố gắng làm tròn nhiệm vụ được Triều Đình giao phó thì mới có đường tiến lên đến chức thựong thư bộ lại là chức chỉ sau nhà vua , và lúc đó từ chức mới làm thực dân Pháp bẽ mặt và tức tối và mọi người kể cả nhà vua phải sửng sốt . Còn nhà cách mạng lừng danh họ Phan mới có cớ làm bài thơ thất ngôn bát cú ca tụng ông Diệm như chúng tôi đã trưng dẫn toàn bộ nội dung trong cuốn “ NDD và chính nghĩa dân tộc ” . Cụ Phan còn bảo sẵn sàng làm kẻ đánh xe cho ông Diệm ( “ Sau ngựa Châu xin quất ngọn roi ” ) . Đúng ra phải thêm là ngoài chức Thượng Thư bộ Lại, ông Diệm còn từ chức luôn chức Chủ tịch Ủy ban Cải cách là ủy ban hỗn hợp Việt Pháp tối cao với quyền hành và nhiệm vụ tranh đấu thêm quyền cho Triều Đình và chủ quyền cho nước nhà . Nhưng vì sự ngoan cố của thực dân Pháp ông đã không đạt được mục đích nên mới từ chức.




Hồ Chí Minh-Ngô Đình Diệm và cuộc chiến Quốc-Cộng (I)




Minh Võ

Lời ngỏ:
Cuộc đời của một người cũng như sinh mệnh của một dân tộc, hiện tại là kết quả của dĩ vãng và là nguyên nhân của tương lai. Với bài này người viết không hoài niệm về một dĩ vãng đang dần dần bị đẩy vào lãng quên, mà quan trọng hơn là cố thử tìm ra một hướng cho tương lai xem ra còn mù mịt trong gian dối, lừa đảo, thành kiến, hận thù và quyền lợi hẹp hòi của phe nhóm. Xin những ai không thích đối diện với thực tại lịch sử, trước khi đọc bài này hãy tha thứ trước cho người viết về những lời không làm đẹp lòng qúy vị.



Hiện thời dư luận của đồng bào trong và ngoài nước đang chú tâm vào những vấn đề nóng bỏng sau đây :


1. Vấn đề Biển Đông: Các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, cùng với việc Trung Cộng lập Huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam ; với ý đồ chiếm cứ vùng biển này bất chấp các nước liên hệ trong vùng, và với nguy cơ biến vùng này thành bãi chiến trường trong một trận thế chiến tương lai v...v....

2. Vấn đề khai thác Bốc Xít ở Trung Nguyên không những làm hại môi trường mà còn mở đường cho hàng vạn công nhân Trung Quốc ồ ạt tới vùng lãnh thổ xung yếu chiến lược của ta.

3. Vấn đề cho người nước ngoài thuê, mua hàng chục vạn mẫu tây thuộc những khu rừng đầu nguồn vùng biên giới.

4. Vấn đề các đoàn thể , tổ chức Tôn Giáo đứng lên “cầu nguyện” cho các quyền tự do tôn giáo và bị nhà cầm quyền Cộng Sản đàn áp, đánh đập, như tại toà khâm sứ, các giáo xứ Thái Hà, Tam Toà, Đồng Chiêm, Loan Lý, Cồn Dầu v...v....

5. Vấn đề công nhân biểu tình đòi tăng lương, đòi đối xử công bình bị đàn áp.

6. Vấn đề các nhà đấu tranh cho dân chủ tự do bị đàn áp, bắt bớ, hành hạ trong ngục tù.

7. Vấn đề vô số phụ nữ, thiếu nữ, thậm chí cả những trẻ em 8, 9 tuổi bị bán như những món hàng hay xô đuổi ra nước ngoài để làm trò chơi ô nhục cho ngoại nhân.

8. Vấn đề đại hội XI của Đảng Cộng Sản vào đầu năm tới, đáng lẽ không liên quan gì đến tập thể quốc dân, nhưng Đảng lại cố lôi kéo quốc dân vào, để chứng minh và củng cố vai trò thống trị.

9. Và nhiều vấn đề tranh chấp đất đai giữa nông dân và nhà cầm quyền Cộng Sản, khiến hàng loạt nhóm dân oan ngày đêm khiếu nại chẳng những không được giải quyết, mà còn bị đàn áp dã man v...v....


Đó là những vấn đề có tính thời sự cao, nếu không nói là có liên hệ mật thiết đến vận mệnh của dân tộc, sự tồn vong của Đất Nước.

Ấy là chúng tôi đã gác ngoài những vấn đề quốc tế có liên hệ đến sự tồn vong của nhân loại, như bầu khí quyển càng ngày càng ấm lên, càng ngày càng có nhiều nước nhỏ cũng muốn có bom nguyên tử, che giấu dưới chiêu bải xây dựng các nhà máy nguyên tử xử dụng vì mục tiêu hoà bình, không kể âm mưu đe doạ nền hoà bình thế giới của những nước như Bắc Hàn hay Iran v...v....

Tại sao trong hoàn cảnh đó mà chúng tôi lại đem bàn ở đây một vấn đề cũ, hầu như đã bị quên lãng, là cuộc chiến đã qua 35 năm rồi, với những cái tên đã đi vào lịch sử như Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm ? . Mỗi lần nghe nhắc đến hai nhân vật này, một số người lại mỉa mai , “ Hãy để họ cho lịch sử phán xét. Hãy bàn các vấn đề trước mắt để tìm cách giải quyết cho quốc dân nhờ ” .

Không phải chúng tôi không tán thành các cá nhân và đoàn thể đảng phái đang nêu gần chục vấn đề trên và tìm cách tranh đấu để buộc nhà cầm quyền Cộng Sản phải giải quyết vì quyền lợi đất nước hòng tránh một cuộc thôn tính của phương Bắc.

Nhưng suy đi nghĩ lại, chúng tôi thấy những vấn đề đó chỉ là cái ngọn, là hậu quả của sự thất trận của phe Quốc Gia. Còn cái gốc, cái cốt lõi, nguyên nhân chính của mọi vấn đề nêu trên chính là vì phe quốc gia chúng ta đã thất trận, để cả nước lọt vào tay Cộng Sản từ 30 tháng tư năm 1975. Nếu Đất Nước không lọt vào tay Cộng Sản, thì có lẽ đã chẳng có những vấn đề trên.

Thế mà cho đến nay hầu như không còn mấy ai nhớ đến cái gốc, cái nguyên nhân, mà chỉ chú tâm vào cái ngọn, cái cành, cái hậu quả. Nhiều người còn cố ngụy biện rằng chúng ta không thua, vì chúng ta chiến đấu anh dũng, lập được nhiều thành tích, chiến công lẫy lừng. Chúng ta chỉ bị đồng minh phản bội, “ tháo chạy ” trước địch quân (!)

Xem lại những hình ảnh kỷ niệm xưa của các chiến sĩ thuộc mọi quân binh chủng, kể cả hình ảnh hàng ngàn nữ quân nhân mặc đồng phục hàng ngũ chỉnh tề đi diễn hành; và đọc những hồi ký hay phóng sự chiến trường nhắc lại những chiến công oanh liệt của các chiến sĩ Nhảy Dù, hay Thủy quân Lục chiến, người viết thật không còn lòng dạ nào kêu gọi mọi ngưòi hãy tìm hiểu lý do tại sao chúng ta thất trận. Chúng tôi thật lòng chỉ muốn mãi mãi ca tụng những chiến công hiển hách của quân ta, và lớn tiếng xỉ vả Cộng quân ...


Chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà
Nguồn: Time/Newsweek



Đó là về mặt tình cảm. Chúng tôi chỉ muốn tin như nhiều người rằng Mỹ đã phản bội và bỏ rơi chúng ta để cho lòng nhẹ bớt đớn đau và chua xót. Nhưng xét về mặt lý trí, và nhìn lại những cảnh máu đổ đầu rơi trong chiến tranh và cảnh mẹ trẻ bồng con thơ đội khăn tang khóc chồng vừa tử trận, có hàng chục vạn, hàng trăm vạn cảnh như vậy khắp nơi trong nước, chúng tôi không thể nào phủ nhận những sự thực lịch sử, và những luận cứ do lý trí cung cấp để tiếp tục lừa dối con cháu chúng ta về trách nhiệm của phe ta, dù rất muốn tin rằng chúng ta không hề thua....

Chúng tôi đồng ý là chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà đã chiến đấu anh dũng. Tướng lãnh và chỉ huy các cấp trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, phần nhiều đã làm tròn trách nhiệm của mình. Nhờ vậy, về mặt chiến thuật quân dân miền Nam đã thắng những trận quyết định.

Nhưng về mặt chiến lược, các nhà lãnh đạo tối cao đã có những sai lầm căn bản, vì đã không hiểu rõ tính chất của cuộc chiến, và thế chiến toàn cầu. Kể cả một số nhà lãnh đạo Đồng Minh.

Trong chương này chúng tôi sẽ lần lựợt mổ xẻ khuyết điểm quan trọng nhất về mặt chiến lược theo 3 đề mục chính: Tính chất của cuộc chiến, sự lãnh đạo cuộc chiến của phe Cộng Sản qua vai trò của ông Hồ Chí Minh, và vai trò và lợi thế của ông Ngô Đình Diệm khi sáng lập Cộng Hoà Việt Nam và lãnh đạo phe Quốc Gia.



I. Về cuộc chiến


Định danh cuộc chiến.

Trước hết không nên gọi cuộc chiến này là chiến tranh ủy nhiệm, hàm ý rằng chúng ta đánh Cộng Sản theo ủy nhiệm của Hoa Kỳ, hay của các cường quốc phương Tây, còn phe Cộng sản thì chiến đấu do ủy nhiệm của Liên Xô và Trung Cộng. Vì cuộc chiến chống Cộng Sản Quốc Tế là nhiệm vụ sống chết của mọi người mọi nước trong cộng đồng nhân loại. Riêng tại Việt Nam thì đây là cuộc chiến sinh tử của toàn dân, vì sự tồn vong của Tổ Quốc chứ làm sao lại có thể là vì sự ủy nhiệm của một đại cường nào ?


Cũng không nên gọi chiến tranh Đông Dương I, và chiến tranh Đông Dương II.

Về cái gọi là " chiến tranh Đông Dương I " , có người như ông Lê Xuân Khoa còn gọi là chiến tranh Việt Pháp, hàm ý rằng đó là cuộc chiến tranh giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp, hay giữa nước Pháp ( Cộng Hoà Pháp Quốc ) và nước Việt Nam ( Dân Chủ Cộng Hoà ). Không gì sai lầm và tai hại về mặt chiến lược cho bằng. Vì như thế mặc nhiên đã thừa nhận phe Cộng lãnh đạo toàn dân Việt Nam chống Pháp thực dân. Lẽ tất nhiên trong cuộc chiến gọi là “ chiến tranh Việt Pháp ” đó, vẫn theo hàm ý của ông Lê Xuân Khoa, phe Quốc Gia chỉ là tay sai của thực dân Pháp, chống lại nhân dân Việt Nam.

Về “ Chiến tranh Đông Dương II ”, phe Cộng đã chính thức gọi là “ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ”, như nhan đề cuốn sách của Văn Tiến Dũng. Nếu chúng ta cũng theo đó nhận cuộc chiến theo danh xưng đó, thì chúng ta cũng tự coi phe Quốc Gia chỉ là tay sai hay lính đánh thuê của Mỹ.

Cũng không nên bắt chước một số sử gia, học giả hay ký giả ngoại quốc gọi cuộc chiến giữa khối Cộng và Thế Giới Tự Do là chiến tranh lạnh. Vì thực ra có nơi có lúc nó đã chẳng lạnh chút nào ví dụ như ở Triều Tiên những năm đầu thập niên 50 hay ở Việt Nam từ 1945 đến 1954 rồi từ 1965 đến 1975, hay ở Trung Hoa từ 1927 đến 1949.


Vậy phải định danh cuộc chiến thế nào mới chính xác ?

Trước hết muốn hiểu rõ cuộc chiến Việt Nam phải đặt nó vào trong bối cảnh và khuôn khổ cuộc chiến toàn cầu, toàn diện ( bằng đủ mọi hình thức, vũ trang cũng như phi vũ trang ) do Cộng Sản Quốc Tế chủ xướng nhắm vào toàn thể nhân loại.Vấn đề này trước khi xuất hiện phong trào Quốc Tế Cộng Sản không cần đặt ra. Nhưng nay thì đã thành chí ư cần thiết.

Về cuộc chiến toàn cầu giữa khối Cộng và Thế Giới Tự Do trong thế kỷ XX, ít nhất có 7 người đã gọi nó là Thế Chiến III. Trước hết là Giáo Sư Robert Strausz-Hupé và ba đồng tác giả của tác phẩm “ Protracted Conflict ”. Sau đó là Max Eastman, người giới thiệu cuốn Protracted Conflict. Bốn người này đều bảo Thế Giới Tự Do đang thua ( năm 1959 ) vì không biết mình đang ở trong thế chiến III. Kế đến là văn hào Nga ly khai Alexander Solzenitsyn. Khi thấy CS đã chiếm toàn cõi Việt Nam nắm 1975 ông đã viết trên tờ Le Monde của Pháp ( số ngày 1-5-1975 ): “ Thế Chiến III đã kết thúc ”, ngụ ý ( một cách bi quan và sai lầm ) rằng phe thế giới tự do đã thua hẳn rồi). Và sau cùng nhưng quan trọng hơn cả là cố Tổng Thống Richard Nixon. Nixon đã bảo thế chiến III đã bắt đầu khi thế chiến II kết thúc. Dĩ nhiên không phải chỉ có bấy nhiêu người....

Tại sao lại gọi là thế chiến III ? . Có phải vì nó có tính cách toàn cầu và khởi sự liền ngay sau thế chiến II, như Tổng Thống Nixon đã viết không ?

Có thực đó là một cuộc chiến tranh diễn ra trên toàn thế giới để đáng gọi là thế chiến không? Nếu không nghiên cứu sự hình thành và phát triển của nó và mưu đồ cuồng vọng của các lãnh tụ Cộng Sản thì khó có thể đồng ý với danh xưng đó. Về vấn đề này, chúng tôi đã dành hẳn một bài dài ( Chiến tranh ý thức hệ ) để phân tích và đi đến kết luận rằng cuộc chiến tranh giữa Khối Cộng và Thế Giới Tự Do là cuộc chiến toàn cầu, toàn diện và thường trực . Một cuộc chiến tầm cỡ với 100 triệu người bị Cộng Sản giết đó không đáng mệnh danh là thế chiến sao ?. Ở đây chỉ xin nhắc lại một cách tóm tắt tối đa.

Cuộc chiến do Cộng Sản chủ xướng phát xuất từ chủ trương giai cấp đấu tranh. Giai cấp theo Cộng Sản , thì ở nước nào cũng có. Vì vậy nó có tính cách toàn cầu.

Cuộc chiến do Cộng Sản chủ xướng còn nhắm mục đích bá chủ toàn cầu, tiêu diệt các giai cấp, để cuối cùng đưa giai cấp vô sản lên nắm quyền chuyên chính. Vì vậy trên lý thuyết đó là cuộc chiến toàn cầu.

Trên thực tế, từ khi Quốc Tế Cộng Sản của Lênin ra đời ( 1919 ), các chi bộ cộng sản, rồi các đảng Cộng Sản bắt đầu xuất hiện và mau chóng tràn lan ra khắp thế giói. Đến năm 1960, tại đại hội 81 đảng Cộng Sản trên thế giới người ta đã có con số chính thức là trên toàn thế giới có 87 đảng Cộng Sản. Nếu ta nhìn vào sách lược và kỹ thuật tác chiến của Cộng Sản , thì sẽ thấy mỗi đảng trong số 87 đảng đó đều là một mặt trận, một đơn vị tác chiến, có thể là một lộ quân, một đại đoàn , quân đoàn hay sư đoàn... , tùy tầm cỡ và thành tích, tất cả đều là những mũi nhọn tấn công nhắm vào thế giới tự do.

Tại các mặt trận ấy, với các đơn vị tác chiến ấy , Cộng Sản chủ yếu đã không dùng tới vũ khí vật chất như súng ống, đạn dược, bom bay hỏa tiễn và các đơn vị bộ binh, thiết giáp, nhảy dù, không quân hải quân, như ta thường thấy trong các thế chiến I và thế chiến II. Mà hầu như luôn luôn chỉ dùng các vũ khí tinh thần, vô hình như tuyên truyền bằng mọi hình thức, báo chí... các đài phát thanh bí mật, các cuộc đình công, bãi khoá ; các cuộc xâm nhập các đoàn thể đảng phái quốc gia , để biến chúng thành cái nhân của những đảng Cộng Sản ; các cuộc tranh luận tại nghị trường nhằm loại bỏ một dân biểu quốc gia để thay vào đó một dân biểu, nghị sỹ Cộng Sản , hay thiên cộng, để cố gắng dần dần biến cái quốc hội đó thành một quốc hội Cộng Sản hay thiên Cộng . Dĩ nhiên không phải lúc nào Cộng Sản cũng thành công.

Ngoài tính toàn cầu , cuộc chiến mà Cộng Sản chủ xướng chống lại nhân loại còn mang tính toàn diện theo khái niệm toàn bộ chiến của Karl Von Clausewitz là thầy dậy Frederick Engels. Nghĩa là với người Cộng Sản cái gì cũng có thể là vũ khí. Từ một hiệp ước, đến những cuộc hoà đàm, thương thuyết, hội nghị, tranh luận, bút chiến v...v.... Lãnh vực nào cũng có thể là một mặt trận. Mặt trận ngoại giao, mặt trận văn hoá, mặt trận kinh tế, mặt trận tôn giáo, mặt trận giáo dục, v...v....

Cuộc chiến Việt Nam nằm trong khuôn khổ cuộc chiến toàn cầu toàn diện và thường trực đó. Cho nên nó không phải là một cuộc chiến giữa một nước với một nước, hay nội chiến thường mà tất cả các nước tham chiến đều đứng về một bên, hoặc là thuộc khối Cộng hoặc thuộc thế giới tự do. Với khái niệm chiến tranh đó, và trong khuôn khổ cuộc chiến đó, nếu có những đoàn quân của một đại cường hay một quốc gia láng giềng chiến đấu bên cạnh chúng ta thì phải hiểu đó là vì mục đích chống Cộng Sản Quốc Tế.

Do đó nếu đặt cuộc chiến Việt Nam vào trong bối cảnh hay khuôn khổ cuộc chiến toàn cầu, chúng ta có thể mệnh danh đó là cuộc chiến quốc-cộng, nghĩa là giữa một bên là Cộng Sản và một bên là người quốc gia ( không cộng sản ) .


Cuộc chiến Quốc Cộng ở Việt Nam bắt đầu khi nào ?

Nếu hiểu chiến tranh theo khái niệm chiến tranh ý thức hệ như được trình bày ở trên, thì cuộc chiến giữa các người quốc gia Việt Nam và đảng Cộng Sản đã bắt đầu từ khi có đảng Cộng Sản vào ngày 3-2-1930 ; hay rộng hơn nữa là ngay từ khi có cái nhân của đảng Cộng Sản là tổ chức Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội do Nguyễn Ái Quốc khai sinh. Họ Hồ đã xâm nhập, thao túng , lũng đoàn, lôi kéo những phần tử Quốc Gia đồ đệ của nhà cách mạng Phan Bội Châu trong tổ chức có cái tên là Tâm Tâm Xã, để cuối cùng biến họ thành thành viên của Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội ( TNCMĐCH ). Vũ khí mà Hồ Chí Minh dùng ở đây là xâm nhập, thao túng rồi chiếm đoạt một tổ chức của đối phương . Chiến tranh bắt đầu từ đó.

Nếu mở rộng hơn nữa, thì còn phải nói đến sự xâm nhập, thao túng lũng đoàn rồi chiếm đoạt hai tổ chức sớm hơn của các nhà cách mạng dân tộc như Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội của cụ Hồ Học Lãm ở Quế Châu, Trung Quốc, rồi sau đó “ gia nhập ” ( tức xâm nhập ) Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội của cụ Nguyễn Hải Thần ở Quảng Châu.

Nếu không nhìn ra những “ kỹ thuật tinh vi ” của chiến tranh ý thực hệ thì không thể hiểu nổi tại sao Cộng Sản trong nhiều trường hợp xem ra chẳng chiến đấu gì cả mà lại thu đoạt được những thắng lợi như đã thấy, hay sau một trận thua liểng xiểng như trận Mậu Thân mà lại bắt buộc đối phương phải xin hoà ( hoà đàm Paris 1968 ). Những sách lược và kỹ thuật đấu tranh của Cộng Sản đã được chúng tôi trình bày tóm lược trong cuốn “ Sách Lược Xâm Lăng Của Cộng Sản ”, xuất bản lần đầu năm 1963. Ở phần thứ hai chương này chúng tôi sẽ trở lại chi tiết hơn về vũ khí lợi hại nhất được Hồ Chí Minh dùng để tấn công chúng ta là chiêu bài dân tộc là thứ vũ khí quyết định đưa đến sự thất bại của phe quốc gia chúng ta.

Nhưng để đơn giản hoá vấn đề, dựa trên thực tế lịch sử chiến tranh, chúng ta tạm phân định một cách cụ thể, kể từ khi Quốc Gia Việt Nam ra đời dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại, do thông cáo chung vịnh Hạ Long ký kết giữa cao ủy Pháp Bollaert và thủ tướng Nguyễn Văn Xuân ngày 5-6-1948. Từ đó coi như đã có một Quốc Gia Việt Nam độc lập không Cộng Sản, dưới sự lãnh đạo của Quốc Trưởng Bảo Đại, để đương đầu với cái gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà của Hồ Chí Minh . (1)

Vị thế của Quốc Gia Việt Nam năm sau được tăng cường với hiệp ước Elysée mà quốc trưởng Bảo Đại đích thân ký với chính Tổng Thống Pháp Vincent Auriol ngày 8-3-1949. Nếu với hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3 ba năm trước, nước Pháp đã gián tiếp , mặc nhiên công nhận chính quyền Hồ Chí Minh, thì với hiệp ước Élysée, nước Pháp đã trực tiếp minh thị công nhận cựu hoàng Bảo Đại là quốc trưởng Việt Nam . Từ đó tại việt Nam đã chính thức bắt đầu cuộc chiến tranh nóng Quốc-Cộng.

Tiếc một điều là Quốc gia Việt Nam, tuy đã độc lập, nhưng còn yếu và còn ở trong Liên Hiệp Pháp, cho nên về Tài Chính, Ngoại Giao và Quốc Phòng còn lệ thuộc vào Pháp. Và Pháp tự coi mình có nhiệm vụ bảo vệ các nước thành viên trong Liên Hiệp Pháp đã đem đại quân tới để cùng với quân của Quốc Gia Việt Nam chiến đấu chống Việt Minh Cộng Sản. Về pháp lý không có gì sai. Về thực tế, nếu xét cuộc chiến theo nghĩa thông thường ( là một cuộc đối đầu bằng quân sự ) thì còn ích lợi và cần thiết.

Nhưng nếu nhìn cuộc chiến theo khái niệm chiến tranh ý thức hệ như đã nói ở trên, thì lại bất lợi. Vì đối phương sẽ dựa vào sự hiện diện hàng trăm ngàn quân Pháp và quân Lê Dương, một con số áp đảo so với số quân của Quốc Trưởng Bảo Đại, để có cớ tuyên truyền rằng Việt Minh Cộng Sản có chính nghĩa chống thực dân Pháp, còn Quốc Gia chỉ là tay sai hay lính đánh thuê của Pháp. Và dân chúng thường bị ảnh hưởng bởi sự thông tin một chiều của Cộng Sản , rất dễ tin theo luận điệu tuyên truyền lừa phỉnh như vậy.

Lịch sử đã chứng minh, chẳng những dân chúng phần đông tin Việt Minh mà ký giả, sử gia thế giới phần nhiều cũng tin và do đó đã cho Hồ Chí Minh cái hào quang chiến thắng. Mà điển hình là những chiến thắng trong “ Cách Mạng tháng 8 ” ( 1945 ) và chiến thắng Điện Biên ( 1954 ), đưa đến hiệp định Geneva chia đôi đất nứoc mà nửa miền Bắc đông dân hơn ( 17 triệu, so với 14 triệu ở miền Nam ) đã thuộc quyền kiểm soát của Hồ Chí Minh. Hiệp định này đã mang chữ ký của Thứ Trưởng Quốc Phòng Tạ Quang Bửu, đại diện “ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ” và đại tá Henri Delteil, đại diện Chính Phủ Pháp, vào lúc giờ thứ 25 ( nghĩa đen ) của ngày 20 tháng 7 năm 1954.

Hơn nữa trong suốt cuộc chiến 9 năm dư luận thế giới chỉ nói đến các tướng lãnh Pháp chỉ huy cuộc chiến. Nào Jean Étienne Valluy, Blaizot, Alexandri, Leon Pignon rồi anh hùng thế chiến II De Lattre De Tassigny, Marcel M. Carpentier, Raoul A.L. Salan, Henry Navarre, René Cogny, v...v.... . Không có một tướng lãnh nào của quốc Gia Việt Nam được nêu tên.

Dĩ nhiên trong đám bộ đội Việt Minh không thể nào không có quân Trung Cộng ngầm giúp. Nhưng bên ngoài chỉ nghe tên hai tướng Trần Canh và Vi Quốc Thanh bên cạnh tướng Giáp với vai trò “ cố vấn ”.

Đó là điều hết sức bất lợi cho phía người Quốc Gia, về mặt tuyên truyền ( vũ khí lợi hại nhất của chiên tranh ý thức hệ ).

Cuối cùng phe Quốc Gia đã thua. Đến đây kết thúc phần I của cuộc chiến quốc cộng ( thường được gọi là chiến tranh Đông Dương I ).

Với hiệp định Geneva Việt Nam đã được hưởng một nền hoà bình tạm thời, nghĩa là không có chiến tranh quân sự quy mô, nhưng với khái niệm chiến tranh ý thúc hệ , Cộng Sản vẫn không ngừng khủng bố, bắt cóc ám sát người quốc gia. Nhất là Việt Cộng còn quỷ quyệt tuyên truyền rằng từ đây Pháp đã ra khỏi miền Nam, nhưng thay vào đó là Mỹ. Và luận điệu thường nhắc đi nhắc lại với hai từ Mỹ Diệm đi kèm với nhau, mắc dầu sự thực lịch sử là ban đầu bên cạnh chính phủ Ngô Đình Diệm chỉ có vài trăm cố vấn, sau này dần dần mới tăng lên đến con số ngàn. Và chính quyền Ngô Đình Diệm đã phải đương đầu với tình hình đó. Dầu sao thì thời gian từ 1954 đến tháng 11 năm 1963 có thể coi là thời gian tạm hoà hoãn. Về lợi thế do ông Ngô Đình Diệm tạo được chúng tôi sẽ bàn sau ở phần III.

Chỉ một tháng sau khi được tin ông Diệm bị lật đổ và bị giết, Bắc Việt đã lấy nghị quyết lập tức đưa quân vào miền Nam để “ chớp thời cơ ”, trước khi Mỹ có thể đem đại quân vào. Cho nên tình hình miền Nam đã đang xáo trộn do cuộc đảo chính gây ra, lại càng thêm nguy ngập trước quyết tâm xâm lăng của Bắc Việt. Lúc ấy các tướng đảo chính đã hủy bỏ trong thực tế chương trình ấp chiến lược của chế độ cũ ( Mặc dù mấy tháng sau tướng Nguyễn Khánh mới ký văn kiên chính thức hủy bỏ ). Cộng quân càng dễ xâm nhập và đã có thể mở những trận đánh lớn như trận Bình Giả.

Trước mối nguy miền Nam có thể bị cộng quân thôn tính, chính phủ Johnson đã phải vội đem quân tác chiến vào, mà không màng hỏi ý hay bàn thảo với chính phủ Phan Huy Quát. Nhân vật được mệnh danh là “ kiến trúc sư của chiến tranh Việt Nam ” là bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert McNamara. Trước đó cả McNamara lẫn Lyndon B. Johnson đều chống việc hạ ông Diệm, là điều mà hai ông coi như sẽ gây ra hậu quả tồi tệ khôn lường. Lúc ấy hai ông cũng chẳng nghĩ đến việc có thể phải đem quân tác chiến vào Việt Nam, vì họ biết ông Diệm không muốn, và với ông Diệm cầm quyền, cũng không cần tới đại quân Mỹ .


TT Johnson và Bộ trưởng McNamara
Nguồn: thetruthaboutcars.com



Nay hai ông bất đắc dĩ phải giải quyết những hậu quả đó của cuộc đảo chính do chính quyền Kennedy để lại bằng chiến tranh, mà không có hy vọng thắng. Chúng tôi nói không hy vọng thắng, vì chỉ một năm sau McNamara đã chán nản, nghĩ đến việc từ chức, và ông đã đệ đơn từ chức vào cuối tháng 11 năm 1967. Sau đó ít lâu chính Tổng Thống Johnson cũng tuyên bố không ra ứng cử nữa. Như vậy cũng chẳng khác gì từ chức, bỏ cuộc.

Tại sao sau khi đã đổ vào Việt Nam hai triệu quân, trong đó có trên nửa triệu thường trực, với hải lục không quân hùng hậu, vũ khí tối tân mà hai nhân vật quan trọng nhất trong chính quyền Mỹ lại không hy vọng thắng được Cộng quân ?

Hầu hết sử gia Mỹ, kể cả Mark Moyar được coi như thuộc trường phái xét lại, cũng đã không nhìn ra nguyên nhân chính yếu. Người thì bảo tại địa hình địa vật hiểm trở ngoài sức tưởng tưởng, thời tiết, khí hậu lại khắc nghiệt. Người thì nói vì Hoa Kỳ không biết lịch sử Việt Nam đầy rẫy chiến công hiển hách trước sức tấn công của Trung Quốc; chiến sĩ Việt Nam không ngần ngại liều chết xông ra tiền tuyến diệt thù, như những con thiêu thân. Người thì cho rằng Cộng quân dùng du kích chiến mà Hoa Kỳ áp dụng vận động chiến. Kẻ khác lại đổ cho Tổng Thống và Quốc Hội Mỹ trói tay các tướng lãnh ngoài mặt trận, không cho họ có sáng kiến tấn công địch v...v....


Tất cả những lý do nêu trên đều có một phần sự thật, nhưng không phải là lý do chính.




(Còn tiếp)


© DCVOnline

(1) Chúng tôi tạm bỏ qua sự kiện Vua Bảo Đại tuyên bố Việt Nam Độc Lập ngày 11 tháng 3 năm 1945, với chính phủ Trần Trọng Kim ra đời sau đó. Vì nhiều người coi đó là một nền độc lập do Nhật ban cho, chúng ta không phải tranh đấu gì cho việc thu hồi nền độc lập đó. Vả lại nó chỉ tồn tại trong một thời gian vắn, trước khi chính phủ Trần Trọng Kim từ chức, rồi nhà vua bị Việt Minh ép phải thoái vị.