Skip navigation

Sign up | Lost password? | Help

WELCOME TO YOU

Sometime a person is allowed to tell an untruth , even to a loved one , if the cause is good - if there is a good reason.

Chiến Lược Domino Trung Cộng sẽ thất bại tại Việt Nam (II)




5. Ra Đi Bán Chính Thức và Chính Thức.

Cuối năm 1978 và đầu năm 1979, song song với chiến trường Việt Miên, Việt Cộng thả cho Hoa Kiều được xuất ngoại "bán chính thức" với điều kiện nộp vàng cho nhà nước và bỏ vàng ra đóng ghe, tàu. Mỗi người trung bình đóng cho cộng sản khoảng 1 cân Anh vàng (gần nửa kilô). Mai Chí Thọ đã thu được rất nhiều vàng, hàng chục tấn. Các đàn em y cũng béo bở không kém. Nhưng không mấy ai biết Mai Chí Thọ xử dụng số vàng đó ra sao? Thọ giao cho Hà nội khoảng 1 nửa để trả nợ cho Liên Xô còn bao nhiêu Thọ chia chác với lũ đàn em và bỏ túi.

Trong khoảng 6 tháng đầu năm 1979, số người Hoa tỵ nạn, có lẫn người Việt, sang tới Mã Lai và Nam Dương có tới 100 ngàn người. Sự tràn ngập người tỵ nạn khiến cho toàn thế giới báo động. Các nước triệu tập một hội nghị khẩn cấp về tỵ nạn và buộc Việt Cộng phải ngưng ngay các cuộc cho đi "bán chính thức". Việt Cộng phải lập thủ tục giấy tờ cho những người Việt nào có đủ điều kiện đoàn tụ gia đình theo chương trình Orderly Departure Program - ODP.

Trong vụ ra đi "chính thức" này, Mai Chí Thọ cũng lấy tiền, nhưng ít hơn, mỗi người khoảng 3 lạng vàng (112.5 grams). Trong danh sách những người được Mai Chí Thọ cho đi chính thức hầu hết là người Hoa trong khi danh sách của Hoa Kỳ toàn người Việt. Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ cũng "cắm sào" tại biển Nam Hải để giám sát Việt Cộng. Thật ra thì người Mỹ cũng đã răn đe Việt Cộng không cho tấn công Thái Lan. Nhưng Hoa Kỳ đã mặc nhiên mặc kệ Việt Cộng chiếm đóng Cao Miên cho tới 1990!

(Khi vào việc người ta mới thấy cái "tài" bóc lột, làm tiền, đòi hối lộ, móc ngoặc, buôn lậu, gian giảo, xoay sở, mánh mung, ăn cắp của công... của cán bộ cộng sản từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất quả là tinh vi, láu cá và lưu manh hạng nhất.)

Trong khoảng 10 năm Việt Cộng chiếm đóng Cao Miên từ 1979 đến 1989, dân Miên quả đã dễ thở và hồi sinh trở lại. Việt Cộng đã đối đãi khá nhân đạo với dân Miên và không giết người Miên như PolPot. Nhưng Việt Cộng đã không ngờ bị kẹt ở Miên lâu dài, không thể bỏ, và cũng không thể tiến xa hơn! Thế domino và sự xâm chiến Đông Nam Á đã trở thành ảo mộng! Phải đến năm 1990, 1991, vì áp lực quốc tế mạnh và sự sụp đổ đế quốc Liên xô đã làm cho Việt Cộng suy yếu và phải rút quân ra khỏi Miên. Người ta biết Việt Cộng có để lại một số lớn quân cải trang thành lính Miên của chính quyền Hun Sen nhưng không ai biết con số đích xác là bao nhiêu.

Trung Cộng cũng không mạnh miệng phản đối vụ Việt Cộng tống xuất Hoa kiều. Lẽ dễ hiểu tất cả các Hoa Kiều đã được đi tới các nước Âu châu và Mỹ, Úc châu, và đời sống của họ chắc chắn khá hơn tại Việt Nam và Trung Quốc. Các Hoa kiều sẽ tập hợp thành "bang". Các bang trưởng sẽ phải thu tiền của kiều dân để "cống" cho Bắc Kinh! Con số về tiền "triều cống" của khoảng 130 triệu Hoa Kiều hải ngoại quả khổng lồ. Có thể tới hàng chục tỷ đôla. Tại Nhật có khoảng hơn 100 ngàn Hàn kiều. Những kiều dân này đã gởi "biếu" chủ tịch Kim Nhật Thành Bắc Hàn hơn 1 tỷ đôla mỗi năm. Nhờ số tiền này, Bắc Hàn cộng sản đã đứng vững đến ngày nay. Kim Nhật Thành đã chết tháng 7, 1994.

Trong Miền Nam cũng không có gì sáng sủa hơn. Sau khi điều nghiên kỹ càng và huấn luyện hàng trăm ngàn thanh niên cán bộ trong hơn 6 tháng về cách thức kiểm kê, Mai Chí Thọ đề nghị "đánh tư sản mại bản" và được sự chấp thuận của Liên xô và Hà Nội.

Ngày 21 tháng 3, 1978, Thọ ra lệnh "đánh" những nhà giầu miền Nam, đa số là người Hoa trong Chợ Lớn. Tổng cộng đợt đầu 30,000 nhà giầu, các tiệm buôn lớn. Đợt 2 đánh 20,000 hộ thương mại, gọi là “Tư Sản Mại Bản”. Chỉ tiêu đưa ra là phải "lấy" được 10 tấn vàng nộp cho Liên xô. Kết quả, các thương gia “giấu” vàng giả và kim cương giả cho chúng lấy. Trận "đánh" này đã thất bại hoàn toàn và hơn 8 ngàn cán bộ đã đi tù vì bị cáo là ăn cắp vàng thật và tráo vàng giả! Liên Xô mang vàng ăn cướp của Việt Nam bán tại Thụy Sĩ. Người Thụy Sĩ nấu vàng lên thấy đều là đồng và chì. Mai Chí Thọ liền đề nghị cho người Hoa đi “bán chính thức” để thu số vàng cần thiết giao nộp cho Liên Xô.

Sự cho ra đi "bán chính thức" có nghĩa là người ra đi được phép công khai xuất ngoại "không giấy tờ, không sổ thông hành" xuống thuyền ra ngoài biển để đến các bờ bến nước khác như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Hồng Kông hoặc được tàu lớn vớt trên biển, và họ được nhận với tư cách tỵ nạn.

Những người đi "bán chính thức" được đăng ký với chủ tàu có công an kiểm soát với giá trả bằng vàng từ 12 lạng trở lên. Số vàng này chủ tàu chỉ lấy độ 2 lạng, công an địa phương 2 lạng, còn 8 lạng phải đóng cho Mai Chí Thọ (mỗi lạng vàng nặng 37.5 gram).

Những người vượt biên đi "chui" có nghĩa là đi lén lút, trốn tránh công an, chỉ tốn ít tiền khoảng từ 1 đến 3 lạng vàng. Nhưng rất dễ bị lừa gạt mất vàng hoặc bị công an bắt bỏ tù vừa mất vàng vừa phải có tiền chuộc ra khỏi tù. Nếu đi lọt ra ngoài biển lại sợ nạn bão tố, phong ba, hỏng máy trôi dạt trên biển chết đói chết khát, hoặc bị hải tặc Thái Lan cướp bóc, hãm hiếp và quăng xuống biển.

Trong mấy năm đầu số người ra đi dễ dàng được các nước nhận tỵ nạn và cho vào nước họ, nhiều nhất là Hoa Kỳ. Nhưng sau này, số người quá đông nên có sự thanh lọc coi người nào có đủ tiêu chuẩn mới được nhận. Nếu không thì phải sống lay lất trong các trại tạm cư, hoặc bị đuổi trả về Việt Nam.

Chính phủ Thái Lan cũng đã dung túng cho các thuyền đánh cá Thái trở thành hải tặc để làm nhụt chí người ra đi. Những thủ đoạn tàn bạo của hải tặc Thái cũng nhằm mục đích làm nản chí người Việt. Mã Lai cũng là nước đã tiêu diệt khoảng 50 ngàn thuyền nhân Việt riêng trong năm 1979 bằng cách cắt dây cho ghe thuyền trôi nổi và chết trên biển cả. Chính bộ trưởng nội vụ Mã Lai năm 1979 đã ra lệnh này. Lệnh cắt dây đuổi ghe tị nạn ra ngoài biển vẫn được Mã Lai duy trì cho đến năm 1991... ).

Khoảng những năm cuối thập niên '80s, hải tặc Thái lộng hành đến mức chúng dàn hàng mấy trăm chiếc sẵn ngoài khơi để đợi thuyền vượt biên. Mỗi khi chúng thấy có ghe vượt biên chúng ra lệnh cho 4 hay 5 chiếc săn bắt, bao vây và cướp. Chúng cướp của, hãm hiếp và giết sạch các thuyền nhân cho hết nhân chứng.

(Năm 1991, Việt Cộng cũng tổ chức "hải tặc" để cướp lại khiến cho Thái Lan phải báo động. Sau này, những dữ kiện về hải tặc phải được góp lại thành một cuốn "Bạch Thư" kể tội Thái Lan và Mã Lai. Hai nước Thái Mã phải có thái độ rõ ràng về vấn đề này nếu không muốn bị Việt Nam trừng phạt báo thù. Thái Lan cũng phải trả lại 25 ngàn dặm vuông đất đã dựa thế Nhật Bản chiếm của hai nước Miên Lào vào năm 1941! Thái Lan cũng phải cho những người Việt cư ngụ tại Bắc Thái Lan được sống bình thường như người Thái. Hiện nay, những người này bị cấm làm 44 nghề. Năm 1994, người ta được biết Trung Hoa vĩ đại đã tổ chức hải tặc ngay tại biển Đông để "làm chủ" mặt nước tại vùng đang có sự tranh chấp về dầu khí này. Một làng ở Bắc Thái thân Cộng sản đến nỗi ngày nay đã trở thành “bảo tàng viện Hồ chí Minh”.

Nước Mỹ với trách nhiệm chiến tranh ở Đông Dương đương nhiên phải đứng ra tiếp nhận những người tỵ nạn cho định cư tại Hoa Kỳ. Trung Quốc thấy người Hoa có dịp vào Hoa Kỳ cũng tỏ ý ủng hộ. Người Hoa được coi là "nạn nhân" vì họ đã bỏ lại tài sản để làm giầu cho Việt Cộng!

Người Mỹ ngẩn ngơ vì họ chỉ muốn cứu người Việt. Họ không ưa gì người Hoa Chợ Lớn vì chính nạn đầu cơ tích trữ, làm giá, tiếp tay cho cộng sản, tham nhũng do người Hoa chủ trương đã khiến cho chiến tranh chống Cộng không thể thắng. Nay lại phải "rước" cái đám người Hoa này vào Mỹ ăn hại và phá hoại kinh tế Hoa Kỳ! Thành tích của người Hoa Chợ Lớn tại Mỹ đáng kể nhất là gần 10 cái sòng bạc (casinos) tại tỉnh Commerce, bang California.

Chỉ trong khoảng 6 tháng cuối năm 1978 và 6 tháng đầu năm 1979, số người ồ ạt ra đi tới hơn 100 ngàn người hầu hết là những người Hoa giầu có và một số ít người Việt. Sự ra đi này đã làm giầu cho Mai Chí Thọ và toàn bộ đảng ủy, công an miền Nam. Ta thử làm con tính nhân mỗi đầu người trung bình 12 lạng vàng ta sẽ thấy Mai Chí Thọ hốt của nhiều như thế nào?

Mỗi kilô vàng là 26 lạng (tael, 37.5 grams). Số vàng Thọ thu được lên đến nhiều tấn vàng. Khi những người Hoa xuống tàu thì công an đã chực sẵn ngay tại đầu cầu với cân, với chuyên viên coi vàng thật hay giả, và nhiều giỏ tre lớn mà người ta gọi là giỏ "cần xế"! Mỗi người phải trình giấy tờ chứng minh mình là người Hoa, sau đó để vàng trên bàn. Số vàng được mở ra cân và xét thật giả rồi bỏ vào giỏ cần xế. Lần lượt tiếp tục những người khác cho đến khi đầy tàu khoảng từ 700 đến 1,500 người tùy theo tàu lớn nhỏ.

Người Mỹ thấy làn sóng tung người đi bán chính thức là một đòn của Việt Cộng đưa gánh nặng nuôi người Hoa cho Mỹ, vội phản công cấp tốc. Tháng 4, 1979, Đệ Thất Hạm Đội được lệnh vào sát bờ biển Việt Nam và người Mỹ cảnh cáo Việt Cộng cấm không cho tung người xuất ngoại kiểu "luật rừng" nữa, nếu không người Mỹ sẽ có biện pháp!

Việt Cộng cũng bị buộc phải đi họp hội nghị Giơ Neo tháng 7, 1979 và chúng phải thỏa thuận cho những người không thích ở với chế độ cộng sản và có thân nhân ở nước ngoài được ra đi hợp pháp và trong vòng trật tự. Chương trình ra đi trật tự này dưới danh nghĩa là Liên Hiệp Quốc bảo trợ nhưng thật ra là người Mỹ và mấy nước khác như Canada, Úc, Pháp. Chương trình này được gọi là ODP (Orderly Departure Program) bắt đầu từ năm 1980.

Năm 1980, hai bên Mỹ Việt trao đổi danh sách những người được phép ra đi chính thức. Bên phía Mỹ đưa ra một danh sách khoảng 30 ngàn người hầu hết người Việt có liên hệ gia đình với người đã ra đi năm 1975. Nhưng khi bên Việt Cộng đưa danh sách hơn 30 ngàn người ra đi "đoàn tụ" thì toàn tên người Hoa ở Chợ Lớn.

Một giới chức Hoa Kỳ đã lắc đầu nói : "Danh sách người ra đi đoàn tụ của Việt Cộng đưa ra giống cuốn niên giám điện thoại Chợ Lớn!" Vì sự mâu thuẫn giữa hai danh sách nên vấn đề cho người ra đi trong trật tự đã bị kẹt lại trong nhiều năm và sau cùng Hoa Kỳ cũng phải nhượng bộ. Do đó số người Hoa được sang Hoa Kỳ khá đông.

Cho đến những năm 1982, 1983 những người ra đi chính thức phải có giấy tờ hợp lệ và phải đưa 3 lạng vàng cho Năm Thạch, quản lý sở ngoại kiều đường Nguyễn Du là tay em của Thọ. Những người Tàu không đủ giấy tờ hợp lệ thì phải chi vàng nhiều hơn và phải hiến tất cả tài sản nhà đất cho cán bộ.

Phần lớn những người Tàu Chợ Lớn mới có tiền chi cho Thạch và họ được ra đi. Những người Việt nghèo khổ không có tiền thì không được đi mặc dù giấy tờ hợp lệ. Thật là một sự mỉa mai vì chiến tranh chết người Việt mà chỉ có người Tàu hưởng lợi. Người Tầu ra đi không lỗ, lại còn có lời. Khi họ sang đến Mỹ thì họ thường được trợ cấp xã hội khoảng 500, rồi 600 rồi gần 700 đôla (California) mỗi tháng, cùng với sự săn sóc bệnh tật (medicare) dài dài từ năm 1979, 1980 cho đến ngày nay, và cho đến khi họ chết. Trái lại, những người Việt đi chậm từ 1983 trở đi chỉ được trợ cấp 18 tháng, rồi 12 tháng, rồi cắt đứt hẳn.

Tháng 7, 1983, tờ báo Time ở Hoa Kỳ có một bài viết về tình trạng cho ra đi đoàn tụ trong trật tự (ODP - Orderly Departure Program) đã nói về vấn đề người Mỹ chỉ muốn đón người Việt, trái lại Việt Cộng chỉ muốn đẩy người Tàu ra đi để lấy tiền khoảng 4 ngàn đôla mỗi người. Số tiền này tương đương với 10 lạng vàng và cũng là bản án tử hình cho Năm Thạch. Thọ họp với các đàn em và kết luận Năm Thạch đã ăn bớt rất nhiều và nộp cho Thọ trung bình mỗi đầu người chỉ có 1 lạng vàng! Ngày 22 tháng 12 năm 1983, Năm Thạch bị giết tại nhà riêng nhưng nguồn tin chính thức nói là y tự tử!

Khác với miền Bắc sau năm 1954 chỉ có một số rất ít người vượt tuyến vào Nam vì sự canh phòng trong Miền Bắc rất chặt chẽ. Nhưng trong Nam sau 1975 thì khác hẳn. Cái viễn tượng được đi Hoa Kỳ là một xứ tự do đã cám dỗ rất nhiều người. Ở với cộng sản thì tương lai mù mịt, công ăn việc làm không có, sự túng thiếu đói khổ luôn luôn bên cạnh. Nhiều người hi vọng nếu sang được Hoa Kỳ thì con cái sẽ được học hành tử tế và có tương lai. Ở trong nhà hay ngoài đường, chỗ nào cũng có công an dòm ngó, xét hỏi. Con người lúc nào cũng nơm nớp sợ sệt đến mức tinh thần khủng hoảng. Tất cả mọi người đều có ý nghĩ ra đi. Một câu nói đùa rỡn nhưng ngụ ý sâu xa cay đắng luôn luôn ở cửa miệng mọi người: "Sống với Cộng sản thì cái cột đèn nếu nó biết đi, nó cũng đi!"

Thường thường nếu có nhiều vàng thì đi cả nhà, nếu có ít thì đi một vài người trước đã. Khi lọt qua Mỹ rồi sẽ gởi tiền về cho người trong nhà tiếp tục đi nốt. Chắc chân nhất là đã có người nhà ở sẵn bên Mỹ thì chỉ cần đi lọt là có người bảo lãnh vào đất Mỹ ngay. Người nào cũng muốn ra đi cho sớm khi còn tiền và vì chậm lại thì mỗi ngày mỗi khó khăn. Công an cộng sản cũng tinh ma tìm cách rình rập những người ra đi để bắt bớ, lột tiền và đòi tiền chuộc.

Có nhiều người đi lọt sang tới các đảo nhưng không đủ điều kiện vào đất Mỹ đã phải chấp nhận đi Canada, Úc châu, Pháp, Ý, Đan Mạch, Hòa Lan, Bỉ, Tây Đức, Na Uy, Thụy Điển. Người Việt do đó đã có mặt tại khắp nơi trên thế giới. Rồi họ bảo lãnh gia đình ra đi chính thức và làn sóng tỵ nạn sẽ kéo dài triền miên tới cả trăm năm nữa cũng chưa hết!

Chỉ khi nào chế độ cộng sản bị dẹp tan thì làn sóng tỵ nạn mới chấm dứt và khoảng nửa triệu người tỵ nạn Việt, Mên, Lào, hiện đang sống rải rác khắp các trại tỵ nạn từ Hồng Kông tới Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân cũng sẽ được hồi hương làm lại cuộc đời!

Số người ra đi thật nhiều nhưng bị chết trên biển cũng khá nhiều. Đặc biệt khoảng năm 1980 trở đi, các ngư phủ Thái Lan thấy những người vượt biên có vẻ có nhiều tiền và trên ghe có nhiều đàn bà con gái. Chúng đi đánh cá nhưng hễ thấy có ghe thuyền chở người tỵ nạn thì chúng trở mặt thành hải tặc cướp bóc, hãm hiếp, giết người với những thủ đoạn vô cùng dã man!

Số người tỵ nạn bị Việt Cộng sát hại, bị bão tố, bị người Mã Lai cho cắt dây bỏ trôi ngoài biển, bị hải tặc Thái Lan giết hại có thể lên tới trên 1 triệu (1,000,000 ) người! Riêng trong năm 1979 và đầu năm 1980, số người bị Mã Lai bắt xuống thuyền rồi cắt dây cho trôi nổi trên biển và chết, có tới 50,000 người. Bộ trưởng nội vụ Mã Lai đã ra cái lệnh tàn ác này.

Những người bị Việt Cộng bắt ngay tại bờ sông, bờ biển trong khi đang sửa soạn ra đi, bị chúng giam rồi đòi tiền chuộc cũng tới cả triệu người. Trong các trại tù thường có cảnh cả nhà bị tù với những đứa trẻ còn đang bú mẹ. Các trại tù, nhà giam ven biển thường chật ních tù vượt biên.

Đến năm 1987, sau khi Nguyễn văn Linh làm tổng bí thư và Phạm Hùng làm thủ tướng và tuyên bố mở cửa, đổi mới, người Mỹ thấy có thể nói chuyện “được” với Hà Nội. Năm 1987, Ủy viên đặc sứ của TT Reagan, tướng John Vessey đến Hà Nội để thương lượng thả tù binh Mỹ và tù binh Việt Nam Cộng Hòa. Người Mỹ hứa sẽ cho tất cả tù binh (học tập cải tạo) VNCH đi Mỹ cùng cả gia đình ngay sau khi ra khỏi trại giam, để họ không còn ở lại hoạt động chống Cộng. Bắc Kinh cũng đồng ý vì họ không muốn thấy người Việt quốc gia và cộng sản đoàn kết với nhau, khi cần thiết, để chống Tầu. Người Mỹ cũng hứa sau khi bốc hết các tù binh Mỹ và VNCH thì sẽ xúc tiến bãi bỏ cấm vận, bang giao và viện trợ, bồi thường tái thiết Việt Nam. Vấn đề thuê Vịnh Cam Ranh và liên minh quân sự để chống Trung Quốc cũng được đặt ra.

Chính vì mật đàm quá thân mật với người Mỹ mà thủ tướng Phạm Hùng đã bị Trung Cộng đầu độc chết năm 1990. Cùng thời gian này, Bắc Kinh ra mật lệnh phải đôn thiếu tướng Lê Khả Phiêu lên chức vụ Phó Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị nhưng nắm toàn quyền quân đội và Đảng. Phiêu lập tức thay thế các cán bộ chính trị tại các đơn vị bộ đội trong cuộc “rèn cán chỉnh quân” vĩ đại nhất từ khi đại thắng Cao Miên năm 1979. Phiêu lên dần dần cho đến khi nắm trọn quyền hành hay là tổng bí thư Đảng vào cuối năm 1997. Các đơn vị gián điệp Trung Quốc cũng được lệnh giám sát người Việt tối đa và phá hoại mọi kế hoạch âm mưu đi với Mỹ của phe Cộng sản người Việt. Bắc Kinh cũng cử một viên “toàn quyền” bí mật ngồi ngay tại Hà Nội để giám sát và điều khiển mọi việc, mọi hoạt động của bộ Chính Trị và Trung Ương đảng CSVN.

Năm 1981 tới 1985, Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân TP Saigon Mai Chí Thọ đã chán ngấy việc cung cấp hàng cho tàu Liên Xô vì quá tốn tiền mà y không có lợi gì cả. Thọ liền một mặt báo cáo nguồn hàng đã kiệt quệ, chỉ còn hải sản bằng các tàu quốc doanh đánh cá ngoài biển và Biển Hồ (Tonlé Sap) Cao Miên. Thọ họp với một số Hoa thương Chợ Lớn và chúng tính xuất cảng "lậu" để lấy ngoại tệ bỏ túi. Các tàu từ Singapore và Hồng Kông tới lấy hàng rồi trả bằng ngoại tệ cho Thọ tại Thụy sĩ. Trong 5 năm, từ 1980 đến 1985, Thọ bỏ túi khoảng 600 triệu đô la.

Thọ quả là một tay "giỏi" kiếm tiền và có vẻ không hại đến dân Miền Nam. Vì riêng sự cho nhập các thùng quà, thuốc tây đã cứu sống và nuôi sống nhiều gia đình trong nhiều năm. Sự liên lạc và trợ giúp của Việt kiều nước ngoài đối với thân nhân đã giúp cho nhiều người sống sót và nhiều người có thể tính chuyện ra đi. Thành phố Saigon tấp nập với hàng ngoại hóa, với xe cộ đi lại, với kẻ buôn người bán khá sầm uất vào những năm đầu thập niên '80s.

Liên Xô bực tức Thọ vô cùng nhưng đã không "bứng" nổi Thọ vì Thọ quá mạnh. Sự kiện Thọ hủ hóa, tham nhũng, buôn bán đã có lợi cho đa số cán bộ miền Nam. Bọn này hùa theo Thọ, ủng hộ Thọ và mọi người đều vui vẻ cả. Phải đến cuối năm 1985, Thọ mới chịu bỏ Saigon, ra Hà Nội để đi lên chức lớn hơn nắm công an toàn quốc và nhường chỗ cho Phan Văn Khải, một tên được Liên Xô đỡ đầu.

Nhưng Phan Văn Khải đã không thể "trị" được đám cán bộ trong Nam đã "thành tinh" với các mánh khoé do Thọ bày biểu. Chúng hùa nhau tổ chức xuất cảng và nhập cảng hàng lậu, qua mặt nhà nước. Tiền bạc của nhà nước cho các kế hoạch thì chúng mang đi buôn. Khi đi buôn thì giá vàng hạ, nhưng khi trả lại tiền thì chúng chỉ cần trả bằng một nửa hay một phần ba số vàng trước kia chúng mua vào!

Tên huyện ủy Tịnh Biên người Quảng Ngãi đã "nghĩ" ra một kế hoạch làm ăn rất hay. Y nói huyện Tịnh Biên cần có một nhà máy nước đá để ướp cá và để cho nhân dân xử dụng đá trong mùa nóng. Y được trợ cấp ngân khoản để lập nhà máy và khoảng gần một năm sau nhà máy đã được xây cất xong.

Cuối năm 1982, người ta thấy y cho chở nước đá sang Miên bán với giá thật cao khoảng 1 chỉ vàng (50 đôla) cho một cây nước đá 50 kilos. Lấy vàng xong y mua thuốc lá Samit của Thái Lan mang về bán được thêm lời lần nữa. Làm ăn không cần vốn, không phải thuế má gì, thì chẳng mấy lúc mà giầu có!

Các cơ sở kinh tài khác của Việt Cộng thường đến cuối năm là bị chúng gây hỏa hoạn cháy hết sổ sách giấy tờ cho phi tang sự ăn cắp của chúng. Mỗi năm trong tháng 12 và tháng 1 thường có rất nhiều vụ cháy kho, cháy cơ sở tại khắp nơi!


6. Việt Nam tan hoang dưới chế độ Cộng sản công an trị.

Dân số gia tăng hàng năm gần 2 triệu người cộng với trẻ nhỏ lớn lên khiến cho khắp nước Việt chỗ nào cũng đông nghẹt người. Nhưng hầu hết là thất nghiệp, vô học, thiếu ăn. Ăn mày đầy rẫy khắp nơi. Đang ăn một bát phở cũng phải coi chừng vì có khi chúng giật bát phở chạy vừa chạy vừa bỏ vô miệng. Thường chúng đưa bàn tay dơ bẩn "sờ" vào bát phở đang ăn và hỏi người ăn xong chưa? Thấy bàn tay dơ bẩn, người ăn đủ thấy ghê tởm mặc cho y lấy bát phở.

Tất cả phong hóa, đạo đức, luân thường, đạo lý, đều bị sự nghèo đói làm cho tiêu ma. Con người quá đói làm bất cứ chuyện gì để kiếm ăn. Những sự tin tưởng nhau, thành thật và tín nhiệm nhau, những tình cảm chân thật, chân thành, hầu như không còn mấy ở các thành phố lớn tại Việt Nam. Đa số thiếu nữ, phụ nữ kể cả các cô giáo, đã vì quá túng thiếu phải bán rẻ con người. Sau này, sự chấn chỉnh lại xã hội sẽ là một vấn đề khá gay go!


Bà kia tuổi sáu mươi rồi
mà sao không được phép ngồi bán khoai!
.......................................................... ....

Cô kia như giải lụa đào
mà sao bát phở vài hào cũng trao?
.......................................................... ....

( Thi sĩ Vô Danh - Thơ Vô Đề 1961)


Sự giáo dục tại các trường học là một sự suy thoái cùng cực trong thời gian cộng sản cầm quyền. Các thầy cô giáo với số lương quá ít ỏi đã không thể đủ sức khoẻ để dạy học. Hầu hết phải làm thêm ngoài giờ, có người phải đi đạp xích lô, để có đủ cơm ăn. Có giáo viên để ngay xe xích lô của mình trước lớp học. Cũng là một cử chỉ bỉ mặt nhà nước cộng sản. Trong trường học, luôn luôn có cán bộ cộng sản giám sát hành vi, cử chỉ, lời nói của các giáo viên, giáo sư. Chúng không tha thứ bất cứ một giáo viên nào có lời lẽ chống chế độ.

Chúng đặt vấn đề nhồi sọ trẻ nhỏ với cái mà chúng gọi là "chính trị", là "chủ nghĩa xã hội" là ưu tiên hàng đầu. Chúng hi vọng những trẻ nhỏ lớn lên sẽ quên giòng giống Lạc Hồng, Âu Lạc, mà chỉ nhớ mình là người cộng sản với giặc Hồ, với Xít Ta Lin, với Mác, Lê Nin là tổ tiên!

Các trẻ nhỏ hầu hết quá nghèo đói, thiếu dinh dưỡng, âu lo, buồn rầu vì gia cảnh khó khăn, có khi vì cha mẹ bị tù tội, bệnh tật, đã không đủ ý thức, sáng suốt và can đảm để học. Các thiếu niên càng chán nản việc học hơn nữa vì thấy trước là không có tương lai học lên cao học hoặc có công ăn việc làm với một đời sống bình thường. Các trẻ nhà nghèo chỉ lo kiếm ăn sống qua ngày như các con thú nhỏ kiềm mồi. Việc học hành, quần áo hoặc sinh sống như con người là điểm không bao giờ Cộng sản nghĩ tới.

Cộng sản mà nói chuyện học hành thì thật con chó con mèo Liên Xô cũng không ngửi được. "Bác Hồ" của chúng đã ra tiêu chuẩn là phải đủ "tam đại bần cố nông" mới được làm đồng chí cộng sản, chứ "bác" có bao giờ cần người có học?

Các thanh niên nam thì phải đăng ký "nghĩa vụ quân sự" và đi lính vào năm 18 tuổi. Các thiếu nữ thì được "thúc giục, khuyến khích" tình nguyện thoát ly gia đình đi thanh niên xung phong, có nghĩa là làm hộ lý không lương cho đám thanh niên thoát ly, và tương lai cũng mù mịt nữa. Đại học chỉ dành cho các thành phần "tốt" như con cái cán bộ, nhưng sự dạy dỗ cũng chẳng có bao nhiêu và sinh viên tốt nghiệp dốt vẫn hoàn dốt.

Khi muốn lợi dụng lao động của thanh niên, thanh nữ không phải trả lương, Hồ thường dùng khẩu hiệu. Khẩu hiệu thông dụng nhất là "đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên". Hồ huy động tất cả thanh niên thanh nữ phải gia nhập thanh niên xung phong, thanh niên cộng sản, du kích địa phương, công an địa phương, dân công tải đạn, lao công chiến trường, xung phong Nam tiến vượt Trường Sơn, y tá chiến trường, để lợi dụng tối đa lao động của họ cho đến khi sức cùng lực kiệt và bệnh hoạn đến chết. Nam nữ thoát ly gia đình đến các nông trường, công trường, các công trình thủy lợi, đắp đê, đắp đường, đào kênh, đào mương. Các sự chung đụng ăn chung ở lộn khiến cho thanh niên thanh nữ giải quyết sinh lý lẫn lộn. Vì quá nghèo đói rách rưới, không một thanh niên nào dám mơ ước ái tình hạnh phúc, thành lập gia đình với nhà cửa, tương lai sáng sủa. Các nền tảng gia đình, đạo đức, luân lý hoàn toàn bị phá bỏ. Sau 5 năm, 10 năm, sức lao động đã suy nhược mòn mỏi vì thiếu dinh dưỡng, thuốc men, những con người tàn tạ này mới sáng mắt ra hiểu được sự tàn độc của Hồ và cộng sản thì đã muộn.


Em là thanh niên xung phong
Đắp đường tải đạn long đong tháng ngày!
Đảng nuôi hai bữa một ngày
Cơm độn ba bát, muối đầy lòng (bàn) tay!
Áo quần hai bộ đổi thay
Một năm đi phép mười ngày có lương!
Cho nên chẳng có người thương
Xuân tình chợt gặp giữa đường với nhau!
Nói ra bảo kể khổ đau


Cấp bằng đại học cộng sản Việt Nam không được bất cứ một nước nào trên thế giới công nhận. Trình độ học vấn miền Bắc đã suy thoái ngay sau khi cộng sản vào Hà nội cuối năm 1954. Mỗi năm, Phạm Văn Đồng với tư cách thủ tướng, chỉ cần ra "chỉ tiêu" cho bao nhiêu kỹ sư, bao nhiêu y sĩ, bao nhiêu luật sư, được đậu tốt nghiệp thì khoa trưởng đại học sẽ lựa các sinh viên nào con cán bộ cao cấp cho đậu để đạt chỉ tiêu (norm). Muốn vào đại học bắt buộc phải là con cán bộ. Con cái những người thuộc "thành phần xấu" như địa chủ, sĩ quan "ngụy", cha mẹ bị tù tội hay bị giết vì đấu tố, tư sản mại bản, hoặc chỉ "không là con cái" cán bộ cũng không được chấp nhận vào đại học.


Anh là một sinh viên Hà nội
đêm trừ tịch anh ngồi đun suốt tối
Chiếc bát men vỡ hỏng thay nồi
Mắt nhấp nhiu anh ngoáy nếm liên hồi
những mẩu sắn chặt bỏ đi vì thối
vì lợn không nhá nổi, anh ơi!

(Thi sĩ Vô Danh - Thơ Vô Đề 1969)


Người ta không cần biết khả năng học vấn ra sao! Thật ra thì tốt nghiệp hay không cũng sẽ thành cán bộ. Khi thành cán bộ rồi sẽ nhờ thần thế, chạy chọt vào chỗ nào, chân nào kiếm ăn, tham nhũng được. Mộng của nhiều thanh niên là làm sao được làm thủy thủ các tàu viễn dương là có thể kiếm chác, buôn bán, kể cả buôn lậu và cả gia đình sẽ được sung sướng. Câu nói đầu miệng của người Miền Bắc là sống trong chế độ Việt Cộng đều cần phải có là: nhất thân, nhì thế!

Tất cả nước Việt năm 1991 có gần 4 triệu cán bộ mọi cấp, mọi ngành, chưa kể cán bộ công an địa phương do quỹ của xã và tỉnh đài thọ. Như vậy tổng số cán bộ toàn quốc có thể đến 8 triệu người cộng với khoảng gần 1 triệu trong quân đội. Số bộ đội giải ngũ khoảng nửa triệu người cũng được trợ cấp nhưng rất ít ỏi.

Ngoài ra còn có những người đã từng là công chức, quân đội, phế binh, của chính quyền quốc gia cũ cũng khoảng hơn một triệu người hay là hơn 1 triệu gia đình. Cả nước Việt có khoảng 14 triệu gia đình hay là 73 triệu người (1991). Ít lắm cũng có khoảng 10 triệu gia đình hay là 50 triệu người quá nghèo đói và khoảng 25 triệu trẻ nhỏ dưới 15 tuổi không được giáo dục. Ta lưu ý biết đọc biết viết không phải là được "giáo dục" với một trình độ học vấn và hiểu biết tạm đủ. Vào năm 2000, 50% dân số hay là 40 triệu người ở tuổi dưới 25! Việt Nam có số dân trẻ tuổi nhất thế giới.

Hầu hết tất cả cán bộ, công nhân viên, bộ đội, công an, bộ đội giải ngũ, phế binh và toàn thể dân chúng đều oán ghét Việt Cộng vì đời sống của họ quá cơ cực. Nhưng không thể có sự nổi dậy hay nổi loạn chống đối vì giặc Hồ đã xây dựng nên một guồng máy công an trị rất hiệu quả vì tính cách khủng bố vô cùng tàn bạo.

Tất cả mọi người thấy có gì khác lạ là phải báo cáo ngay cho công an. Không phải vì họ thích chế độ, nhưng vì nhiều lý do như sợ sệt, ham lợi, hạ người khác để cho mình được thay thế, hoặc nếu không mau lẹ báo cho công an thì có khi cũng bị tình nghi, bị vạ lây hoặc bị bắt giam. Ngoài sự sống trong tình trạng nghi ngờ lẫn nhau, không ai có thể "thành thật" với ai, mỗi người còn lo chạy ăn ngày hai bữa thì còn hơi sức đâu mà chống với đối?

Trong sự nghèo khổ tất cả mọi thứ trong xã hội đều suy thoái đến cùng cực. Năm 1991, có khoảng 2 triệu người mù chữ, nhưng số trẻ nhỏ thất học trên toàn quốc lên tới 80%! Do con số người thất học ta có thể hình dung các tệ nạn, tội ác, hỗn loạn, mức độ nghèo khổ, bệnh tật, trong xã hội lên tới mức nào hiện nay và trong 10 năm tới.

Tình trạng cướp bóc, ăn mày, đĩ điếm, buôn lậu, đầy rẫy khắp mọi nơi trong nước Việt từ Nam Quan cho đến Cà Mau. Các thương phế binh cộng sản, lính cộng sản giải ngũ và dân buôn lậu nhập với nhau thành đoàn hàng ngàn người từ Lạng Sơn, từ biên giới Việt Miên, từ các tỉnh ven biển để tải hàng lậu. Chúng đi khơi khơi và vì quá đông lại có võ trang nên hải quan và công an không dám ra mặt ngăn cản bắt bớ. Công an, cán bộ cũng nương theo sự hỗn loạn trong xã hội để kiếm ăn.


7. Những người trở về trên tầu Việt Nam Thương Tín năm 1975.

Trong thời gian cộng sản chiếm đóng miền Nam, nhiều người đã hậm hực tiếc rẻ đã không chạy thoát trước ngày 30 tháng 4, ra nước ngoài. Nhưng mọi người đã sững sờ khi nghe tin chiếc tàu Việt Nam Thương Tín trở về từ đảo Guam với khoảng 1,500 người "đòi về" với chế độ cộng sản chứ không thèm ở trên xứ tự do.

Đầu tháng 9, 1975, tàu Việt Nam Thương Tín được cập bến Nha Trang và Việt Cộng đã cho lột sạch sẽ trước khi đưa tất cả vào trại giam. Mỗi người phải trút bỏ hết quần áo và được cấp phát 2 bộ quần áo cũ hay quần áo tù. Cộng sản làm như vậy để tiện lục soát trong quần áo và tịch thu toàn bộ. Người Mỹ đã tìm đủ mọi cách để dỗ dành, chiều chuộng họ ở lại nhưng không được.

Họ nhất quyết tin tưởng nếu "thành tâm" về với cộng sản như vậy, họ sẽ được cộng sản đãi ngộ tử tế và coi như anh hùng! Viên trung tá đứng ra đảm nhiệm lái tàu Việt Nam Thương Tín đã tỏ vẻ mừng rỡ nói ra miệng là: "Công tôi mang chiếc tàu này về cho nhà nước thì chắc họ sẽ cho xe Jeep ra đón tôi!" Hình như viên trung tá này sau này đã bị vợ bỏ vì đã làm hỏng tương lai của cả gia đình.

Người nào cũng hi vọng là sự trở về của họ sẽ được cộng sản thích thú chấp nhận. Người Mỹ thì biết những người trở về sẽ vô cùng cực khổ vì thiếu thốn nên đã trang bị cho họ đủ thứ mùng mền, chăn gối, lương thực ê hề. Có người đã phải nói người Mỹ cho nhiều đồ như cho con gái về nhà chồng!

Kết quả là mỗi người được cộng sản đón bằng cái còng số 8, bất kể đàn bà trẻ con! Tất cả phải lột sạch quần áo để công an khám trong lông, trong tóc tìm cái gì có thể giấu được. Quần áo bị tịch thu để công an có thời giờ lục soát kỹ càng và lấy luôn. Trong số những người về có tới 400 sĩ quan cảnh sát, và mấy trăm sĩ quan quân đội. Có thể do cái thái độ không ưa người Mỹ xui nên, hay tại họ ngu dại và vô phước, hay tại họ còn quá nhiều nghiệp chướng phải trả, nên họ đã hăng hái quyết liệt đòi về. Đàn bà và trẻ con bị giam tối thiểu 9 tháng, những người khác từ 5 năm trở lên, tùy theo thành phần, lý lịch. Một số lớn bị tình nghi do CIA "cài" về để làm gián điệp, tình báo!

Thân nhân gia đình của những sĩ quan trở về đã thất vọng và nguyền rủa chồng họ không tiếc lời. Báo hại những người vợ nghèo nàn này còn phải lo tiền bạc đồ ăn đi thăm nuôi. Nhiều bà đã quá giận bỏ chồng khiến cho gia đình tan nát. Các "nạn nhân" chỉ còn cúi đầu sống trong sự tiếc hận, tủi hổ với lương tâm và với mọi người, và tiếc nuối một dịp may đã mất đi vĩnh viễn. Sau này, khi ra khỏi tù, họ không dám hé môi là đã "đòi về" vì nếu nói ra thì chắc chắn thế nào cũng bị chửi!

Thật khó cho những người đã biết Cộng sản và những người đời sau lại có thể tin đã có tới hơn 1,500 người đòi được vào tù cộng sản!


8. Làm thế nào để các sĩ quan VNCH và công chức Miền Nam tự mình đến đăng ký vào tù Cộng sản?

Sau khi vào Saigon, thấy sĩ quan và binh lính miền Nam còn quá đông, Cộng sản bối rối lo sợ. Những người quốc gia vẫn tin tưởng cộng sản sẽ thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc, xóa bỏ hận thù như chúng đã luôn luôn nói như vậy. Họ hi vọng Cộng sản sẽ cần đến những bàn tay của họ để xây dựng đất nước sau nhiều năm chiến tranh.

Nhưng Việt Cộng đã không nghĩ như vậy. Với trình độ quá kém cỏi, chúng sợ sẽ không thể lo công ăn việc làm cho một số đông người và chúng sợ họ sẽ nổi loạn. Sau khi buộc mọi quân nhân các cấp phải ra trình diện đăng ký, chúng thấy con số người quá đông. Số sĩ quan hơn 100 ngàn, hạ sĩ quan, binh lính hơn 600 ngàn. Chúng thấy cần phải có kế hoạch bỏ tù tất cả các sĩ quan là những người có thể lãnh đạo hay cầm quân chống lại chúng.

Trước hết chúng kêu gọi các binh sĩ đi "học" 3 ngày, hạ sĩ quan 7 ngày, khiến cho mọi người đều tưởng là hình phạt "học tập" như vậy quả là nhẹ nhàng. Binh sĩ và hạ sĩ quan mà chỉ có 3 ngày với 7 ngày thì sĩ quan và sĩ quan cao cấp nghĩ mình không phải học nhiều hơn mấy.

Tháng 6, 1975, Việt Cộng cho Huỳnh Tấn Phát lên TV nham nhở tuyên bố mập mờ các sĩ quan cấp tá và tướng đi học tập "đường lối chính sách mới" của nhà nước và mang theo lương thực 1 tháng. Mọi người đều hiểu chỉ đi học có 30 ngày nên tất cả mọi người đều sốt sắng hăng hái ra đi. Họ tính đi học có 30 ngày thì đi học cho xong rồi về nhà tính chuyện làm ăn bình thường. Ngay đêm hôm đầu, khoảng hơn 400 sĩ quan cảnh sát đã có kinh nghiệm với sự dối trá của cộng sản nên không đi và bị chúng tới tận nhà bắt còng tay mang đi.

(Mấy năm sau, Huỳnh Tấn Phát, ni sư “quỷ cái quốc doanh” Huỳnh Liên, quỷ tăng Thích Thiện Minh... đã bị Cộng sản thủ tiêu vì bệnh “công thần”. Chỉ có Trương Như Tảng trốn thoát. Nguyễn Công Hoan, tên dân biểu hai chế độ, cũng vượt biên năm 1978 để làm đại sứ không chính thức cho Cộng sản miền Nam, nhưng không làm nên cơm cháo gì.)

Sau khi bắt giam các sĩ quan cao cấp đâu đấy trước khi chấm dứt thời hạn 30 ngày, chúng ra lệnh cho các sĩ quan cấp úy đi học tập và mang theo 10 ngày lương thực. Mọi người đều tin là sẽ chỉ có 10 ngày vì sĩ quan cấp tá nhiều hơn những 30 ngày. Khi họ trình diện học tập xong thì bọn Việt Cộng trở mặt ngay cho còng cứ 2 người một còng giải đi các nơi giam giữ. Cộng sản đã "thành công" khi không phải đi bắt mà hơn 100 ngàn người tự đến nộp mình.

Sau khi đánh lừa hơn 200,000 sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, công chức và cán bộ cấp xã để giam giữ trong hàng trăm trại tù rải rác khắp nước từ Bắc vào Nam, Cộng sản áp dụng sự hành hạ khủng khiếp như địa ngục suốt từ năm 1975 cho đến cuối thập niên '80s. Các sĩ quan từ cấp tá trở lên đều bị đưa đi những nơi núi rừng miền Bắc, miền Trung và Nam để "học tập cải tạo".

Họ là những người tù không được xử án, không có thời hạn giam giữ, và không hi vọng có ngày về. Chính sự không biết ngày về và tuyệt vọng đã làm cho nhiều người mau kiệt quệ tinh thần, thể xác, mau tàn tạ và chết rất nhanh. Cộng sản chỉ muốn như vậy. Chúng bóc lột lao động các tù nhân cho đến khi họ kiệt quệ và chết. Những người tù được lệnh vào rừng chặt tre, đốn cây, đẽo gỗ để xây dựng trại, để cung cấp cho nhà nước với hai bàn tay không!

Cộng sản không có gì để cung cấp cho họ. Cũng bằng hai bàn tay không các người tù phải tìm những miếng sắt vụn, những đồ phế thải chiến tranh để chế tạo ra dụng cụ. Họ phải sản xuất lương thực cho trại giam, để nuôi các quản trại, cai tù và cho Nhà nước. Họ được chia khẩu phần chết đói với những miếng sắn (khoai mì) đã lâu ngày có nhiều chất độc. Họ phải làm những bản tự khai trong nhiều tháng để kể những "tội ác" của họ trong khi chiến đấu chống Cộng. Họ luôn luôn bị kiểm thảo, chửi rủa, làm nhục. Vì số tù nhân quá đông, cộng sản không thể tra khảo, đánh đập mà chúng bắt họ làm bản tự khai. Mỗi ngày khai xong, chúng gom lại và ngày hôm sau bắt khai nữa. Khai xong, chúng so sánh với bản trước thấy sai một vài chữ là chúng bắt khai lại. Cứ khai đi khai lại hoài cho đến khi nào chúng chán thôi không bắt khai nữa.

Khi số tù đầu tiên bị giải ra Bắc, dân miền Bắc được lệnh Cộng sản ném đá vào đầu họ để cho họ biết là "nhân dân" thù ghét các sĩ quan "ngụy". "Ngụy" là danh từ chơi chữ của Cộng sản để chỉ người quốc gia. Ngụy có nghĩa là giặc, là địch, là cái gì trái với lẽ phải. Tại nhiều nơi, chúng bắt các "cải tạo viên" đi gỡ mìn tại những bãi mìn hàng rào trong thời chiến tranh. Các tù nhân đi gỡ mìn phần nhiều không chết cũng bị thương thành tàn phế.

Theo "luật" cộng sản, chúng chỉ được quyền bắt người khi có trát bắt do tòa án ký. Nhưng tại sao lại có chuyện công an bắt người, bắt bất cứ ai, bất cứ lúc nào, như cơm bữa? Mỗi tên công an thường có cả tập trát bắt người trong mình nhưng trát chưa có tên chỉ có đóng dấu và chữ ký. Chúng ít chữ nghĩa nên khi bắt ai chúng cứ việc bắt người đó rồi bắt nạn nhân tự điền tên vào một tờ giấy do chúng đưa ra. Trong sự sợ hãi, kinh hoảng, nạn nhân điền tên tuổi, địa chỉ của mình rõ ràng không dám sai lầm. Nạn nhân đã không ngờ chính mình viết trát để bắt mình!

Một kiểu bắt người khá thông minh của công an cộng sản là hỏi giấy nạn nhân xong rồi điềm nhiên bỏ vào túi áo, rồi bắt nạn nhân vì "tội" không có giấy tờ tùy thân! Ngay sau khi bị bắt giam, các nạn nhân "đương nhiên không còn" quyền công dân và cộng sản dĩ nhiên không cần phải tôn trọng nhân quyền. Sau khi được "thả", vì Cộng sản có thể "thả" chứ không "tha", nạn nhân phải tiếp tục ra đồn công an phường hay xã trình diện hàng tuần trong tư thế bị giam lỏng tại gia. Phải hơn một năm sau, nếu không phạm lỗi và trình diện đầy đủ, tù nhân sẽ được đưa ra buổi họp nhân dân phường hay xã để bình nghị theo công an đề nghị và được "trả lại" quyền công dân.

Một số khá đông các sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa là những thành phần trí thức có trình độ khoa học kỹ thuật cao, có khả năng lãnh đạo, tổ chức và chỉ huy giỏi và hầu hết đã được Hoa Kỳ đào tạo khá tốn tiền trong nhiều năm trong rất nhiều ngành nghề. Đây là một vốn liếng (chất xám) khổng lồ và là tinh hoa cần thiết của cả dân tộc, nhưng Cộng sản đã thẳng tay dẹp bỏ cho họ vào tù.

Phải đến năm 1986 trở đi, "nhờ" người Mỹ cấm vận bao vây kinh tế nên Việt Cộng phải chịu thả các sĩ quan từ từ với điều kiện người Mỹ phải mang họ sang Hoa Kỳ. Việt Cộng rất sợ những sĩ quan quốc gia biết chỉ huy rất dễ cầm đầu nổi loạn. Nhân dân thì quá thù ghét Cộng sản. Họ sẵn sàng theo bất cứ ai để nổi dậy tiêu diệt Cộng sản. Từ năm 1990 đến 1995 số sĩ quan ra khỏi tù và đi Mỹ khá đông đến mức gần hết. Người ta chuẩn bị đến năm 1996 là mọi việc sẽ xong. Đến cuối năm 1994, số sĩ quan cao cấp và cấp tướng còn sống đã đến Hoa Kỳ đủ mặt. Người Mỹ dụng ý các sĩ quan cao cấp và ở tù lâu năm, trên 10 năm, ra khỏi trại là được lo thủ tục đi Hoa Kỳ cấp tốc!


HẾT


Chiến Lược Domino Trung Cộng sẽ thất bại tại Việt Nam (I)Người lính Quân Lực VNCH hôm nay

How to use Quote function:

  1. Select some text
  2. Click on the Quote link

Write a comment

Comment
(BBcode and HTML is turned off for anonymous user comments.)

If you can't read the words, press the small reload icon.


Smilies

November 2009
M T W T F S S
October 2009December 2009
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30