Monday, February 20, 2012 10:52:14 PM
Việc các doanh nghiệp tăng trưởng hàng đầuViệt Nam (được công bố trong Bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam về doanh thu – FAST500) duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong một thời gian dài là một điều rất khó. Điều này lại càng khó hơn trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang phải trải qua những biến động lớn và chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới.
Bên cạnh các doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam về doanh thu (VNR500), doanh nghiệp tăng trưởng là đòn bẩy và yếu tố sáng tạo quan trọng của nền kinh tế đang phát triển và hội nhập như Việt Nam. Có những doanh nghiệp vừa nằm trong Bảng xếp hạng VNR500 vừa nằm trong Bảng xếp hạng FAST500, nhưng thông thường thì doanh nghiệp lớn - như những con tàu lớn rất khó có thể tăng trưởng nhanh - tốc độ cao. Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh ở đây có vai trò quan trọng như yếu tố kích thích sáng tạo, gây sức ép đổi mới và cạnh tranh.
Điều cần lưu ý ở đây là tăng trưởng về doanh thu chỉ là công cụ để đạt đến một cái đích nào đó, chỉ là một thước đo chứ bản thân tăng trưởng không phải là mục tiêu cuối cùng.
Có thể có nhiều cách nhận định khác nhau về tăng trưởng của doanh nghiệp. Nhưng bất cứ chủ doanh nghiệp nào, dù là dân doanh hay hay quốc doanh, cũng đều muốn thấy đồng tiền bỏ ra kinh doanh phải sinh sôi nảy nở, không phải chỉ chợt bùng chợt tắt mà là vững vàng về dài hạn. Tóm lại, một doanh nghiệp tăng trưởng thành công phải có khả năng tăng lợi nhuận bền vững để giúp đồng vốn / cổ phiếu tăng giá trị.
Ông George Nolen, Cựu Chủ tịch của Tập đoàn công nghiệp Đức Siemens, từng đúc kết một công thức hoàn hảo cho tăng trưởng gồm 6 yếu tố chủ đạo: nền tảng chiến lược, hiểu biết thị trường, phân phối tốt, hệ thống sản phẩm đa dạng, quan hệ khách hàng và tinh thần đổi mới của chủ doanh nghiệp.
Những chiến lược tăng trưởng của doanh nghiệp hầu như đều dựa trên những lợi thế khách quan của một thị trường mới nổi như Việt Nam. Chiến lược cơ bản nhất để doanh nghiệp tăng trưởng vẫn là mở rộng sản xuất để tăng doanh thu. Qua việc thực hiện chiến lược này, doanh nghiệp tăng trưởng nhanh có những đóng góp đáng kể và cụ thể về thuế, về tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Bên cạnh việc mở rộng sản xuất, một số doanh nghiệp cũng chọn chiến lược tăng trưởng bằng cách mở rộng ngành nghề hoặc thông qua sáp nhập và mua lại (M&A).
Dù đã vạch ra được con đường tăng trưởng, cộng với những lợi thế khách quan, các chủ doanh nghiệp vẫn không hoàn toàn lạc quan. Nguyên nhân là kinh tế vĩ mô đang tác động mạnh đến mục tiêu tăng trưởng và không nhà lãnh đạo nào có thể lường hết.Việc quyết định mở rộng kinh doanh và đầu tư trong vẫn sẽ phụ thuộc nhiều vào chính sách vĩ mô như tín dụng và lãi suất ngân hàng. Để đạt mức tăng trưởng dự kiến, các doanh nghiệp sẽ phải song song thực hiện 2 động thái: bên cạnh huy động thêm vốn đầu tư, tuyển dụng thêm nhân sự, mở rộng phân phối thì phải cắt giảm và nâng cao hiệu quả chi phí, đặc biệt là chi phí tiếp thị, vận chuyển. Về mặt này, có thể nhắc đến câu nói nổi tiếng của Rod McQueen: "(Theo đuổi) doanh số chỉ là phù phiếm, (theo đuổi) lợi nhuận mới là sáng suốt".
Ở đây có thể thấy chính năng lực quản lý, chứ không phải nhu cầu của thị trường là sự giới hạn, kiềm hãm thường xuyên tốc độ tăng trưởng. Doanh nghiệp sẽ không tăng trưởng nếu thiếu năng lực điều hành chính sự tăng trưởng. Nếu xác định tăng trưởng như là một trong những mục tiêu hàng đầu, cần tập trung vào việc quyết định nơi nào và cách thức nào để mở rộng doanh nghiệp.
Đồng thời trong chiến lược tăng trưởng, cần lưu ý là không có điều gì thúc đẩy tăng trưởng nhanh chóng hơn là việc cung cấp giá trị vượt trội cho khách hàng. Để nổi bật lên trên đối thủ cạnh tranh, phải đảm bảo cung cấp giá trị cao nhất đối với tất cả các khía cạnh trong lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp. Cung cấp giá trị vượt bậc sẽ làm cho mọi thứ trở nên dễ dàng hơn. Vấn đề quan trọng là nó sẽ làm cho doanh nghiệp giữ được nhiều khách hàng hơn, nâng cao năng lực tăng trưởng của doanh nghiệp. Qua đây có thể thấy, vai trò của các doanh nghiệp tăng trưởng như là một trường học để đào luyện về năng lực quản lý, năng lực hoạch định chiến lược, năng lực quan hệ khách hàng và tinh thần đổi mới của chủ doanh nghiệp – là cái nôi để đóng góp những nhân tố tích cực cho nền kinh tế./.
Monday, November 14, 2011 8:33:46 AM
quản trị công ty
Ở Việt Nam, quản trị công ty đang trở thành vấn đề thời sự nóng hổi, thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, những nhà quản lý doanh nghiệp và đặc biệt là của nhà đầu tư và cổ đông.
Quản trị công ty được định nghĩa như một hệ thống thông qua đó công ty được định hướng, điều hành và kiểm soát nhằm đáp ứng quyền lợi của nhà đầu tư, của người lao động trong công ty và những người điều hành công ty. Governance có gốc từ tiếng Hy Lạp nghĩa là lèo lái. Người ta hình dung corporate – công ty như một con tàu cần phải được lèo lái để đến bến thành công với thuyền trưởng và thuỷ thủ đoàn là người điều hành và người lao động trong công ty. Công ty là của chủ sở hữu (nhà đầu tư , cổ đông…) nhưng để công ty tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của Hội đồng quản trị (HĐQT), sự điều hành của Giám đốc/Tổng giám đốc (CEO) và sự đóng góp của người lao động trong công ty mà những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi. Rõ ràng cần phải có một cơ chế để điều hành và kiểm soát công ty để nhà đầu tư, cổ đông có thể kiểm soát HĐQT, kiểm soát việc điều hành công ty của CEO để đem lại hiệu quả cao nhất. Trong cơ chế này, Ban kiểm soát (BKS) đóng vai trò hết sức quan trọng.
1. Khái quát về quản trị công ty và các nguyên tắc quản trị công ty
Theo Tổ chức hợp tác và phát triển (OECD), quản trị công ty là một hệ thống các nguyên tắc xác định việc phân chia các quyền và nghĩa vụ giữa cổ đông, Hội đồng quản trị, các chức danh quản lý và những người có lợi ích liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết định kinh doanh. Bằng cách này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt động, tạo ra phương tiện thực thi và giám sát việc thực hiện các mục tiêu đó. Các nguyên tắc quản trị công ty ở đây được hiểu như những nguyên lý cơ bản đảm bảo một hệ thống quản trị công ty vận hành tốt như trung thực, tin cậy, liêm khiết, mở, hướng đến hiệu quả vận hành chung, trách nhiệm rõ ràng, tôn trọng lẫn nhau và cùng cam kết.
Theo Ngân hàng thế giới, quản trị công ty là một hệ thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của các công ty. Nó cho phép công ty có thể thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt động có hiệu quả và nhờ đó tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho các cổ đông, trong khi vẫn tôn trọng quyền lợi của những người có lợi ích liên quan và của xã hội.
Ở Việt Nam, các công ty niêm yết bắt buộc phải thực hiện các quy định về quản trị công ty theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Chứng khoán năm 2006, Quyết định 12 /2007/QĐ-BTC ngày 13 tháng 3 năm 2007 về việc ban hành Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/ Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (“Quyết định 12”) và Quyết định 15/2007/QĐ-BTC ngày 19 tháng 3 năm 2007 về việc ban hành Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/ Trung tâm Giao dịch Chứng khoán. Theo chúng tôi, các doanh nghiệp Việt Nam không phải là công ty niêm yết cũng nên bắt đầu nghiên cứu áp dụng những nguyên tắc quản trị công ty để góp phần làm tăng hiệu quả hoạt động, tăng giá trị phần vốn góp và nâng cao uy tín đối với nhà đầu tư.
Theo Quyết định 12, “quản trị công ty” là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty. Như vậy ở Việt Nam, định nghĩa chính thống nhấn mạnh quản trị công ty là hệ thống quy tắc, đòi hỏi phải thiết lập các quy tắc cho tất cả các hoạt động của công ty với Bản quy tắc quản trị công ty. Trong định nghĩa cũng nhấn mạnh đến mục tiêu cân đối giữa định hướng, kiểm soát (trách nhiệm của HĐQT ) và điều hành, quản lý các hoạt động kinh doanh của công ty (trách nhiệm của Ban giám đốc) một cách hiệu quả. Sứ mệnh cao nhất của quản trị công ty được đưa ra là vì quyền lợi của cổ đông và những người có quyền lợi liên quan.
Bộ Nguyên tắc Quản trị công ty của OECD ban đầu được xây dựng nhằm đáp ứng lời kêu gọi của Hội nghị cấp Bộ trưởng OECD ngày 27-28/4/1998 phát triển một bộ tiêu chuẩn và hướng dẫn chung về quản trị công ty. Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD bao gồm: Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ quản trị công ty hiệu quả; Quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản; Đối xử bình đẳng đối với cổ đông; Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty; Công bố thông tin và tính minh bạch; Trách nhiệm của HĐQT .
Bộ Nguyên tắc này tập trung vào các công ty cổ phần đại chúng trong lĩnh vực tài chính và phi tài chính. Tuy nhiên, trong phạm vi cụ thể, Bộ Nguyên tắc cũng là công cụ hữu ích để nâng cao quản trị công ty ở các công ty không phải là công ty cổ phần như doanh nghiệp tư nhân và công ty nhà nước.
Điều 2 Quyết định 12 được xây dựng trên cơ sở Bộ Nguyên tắc Quản trị công ty của OECD, nêu các nguyên tắc quản trị công ty áp dụng đối với công ty niêm yết như sau: Đảm bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả; Đảm bảo quyền lợi của cổ đông ; Đối xử công bằng giữa các cổ đông; Đảm bảo vai trò của những người có quyền lợi liên quan đến công ty; Minh bạch trong hoạt động của công ty; HĐQT và BKS lãnh đạo và kiểm soát công ty có hiệu quả.
2. Vai trò của Ban kiểm soát trong đảm bảo các nguyên tắc quản trị công ty
Theo quy định tại Điều 123 Luật Doanh nghiệp năm 2005, BKS là cơ quan có thẩm quyền thay mặt Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) giám sát HĐQT, CEO trong quản lý và điều hành công ty. BKS hoạt động độc lập với HĐQT và CEO, chịu trách nhiệm và báo cáo trước ĐHĐCĐ trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao.
Theo quy định của pháp luật, BKS có các nhiệm vụ cụ thể sau:
Một là, kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính;
Hai là, thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính theo các định kỳ của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của HĐQT; trình báo cáo thẩm định báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo đánh giá công tác quản lý của HĐQT lên ĐHĐCĐ tại cuộc họp thường niên.
Ba là, xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của Công ty, các công việc quản lý, điều hành hoạt động của Công ty bất cứ khi nào nếu xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định của ĐHĐCĐ theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc tỷ lệ nhỏ hơn quy định tại Điều lệ Công ty. Khi có yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông, BKS thực hiện kiểm tra trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm tra, BKS phải báo cáo giải trình về những vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến HĐQT và cổ đông và nhóm cổ đông có yêu cầu.
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, thành viên BKS có các quyền như (i) quyền dự các cuộc họp của HĐQT (theo Khoản 7 Điều 112 Luật Doanh nghiệp năm 2005), (ii) quyền được cung cấp thông tin (theo quy định của Điều 124 Luật Doanh nghiệp năm 2005: “Thành viên BKS có quyền tiếp cận các hồ sơ, tài liệu của công ty lưu giữ tại trụ sở chính, chi nhánh và địa điểm khác; có quyền đến các địa điểm nơi người quản lý và nhân viên của công ty làm việc”, “HĐQT, thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người quản lý khác phải cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời thông tin, tài liệu về công tác quản lý, điều hành và hoạt động kinh doanh của công ty theo yêu cầu của Ban kiểm soát”). (iii) BKS có quyền kiến nghị HĐQT hoặc ĐHĐCĐ các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của Công ty.
Khi phát hiện có thành viên HĐQT hoặc CEO vi phạm nghĩa vụ của người quản lý công ty, BKS phải thông báo ngay bằng văn bản với HĐQT, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả.
BKS thực hiện các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật, của Điều lệ Công ty và quyết định của ĐHĐCĐ.
Theo các nghiên cứu cho thấy, vấn đề cơ bản trong quản trị công ty ở Việt Nam nằm ở sự mâu thuẫn lợi ích của người đại diện cho toàn bộ cổ đông (Chủ tịch HĐQT, các thành viên HĐQT, CEO) với chính các cổ đông trong công ty. Nhưng người này có thể hành động vì lợi ích của bản thân mình, gia đình mình hay vì lợi ích của một bộ phận cổ đông có thế lực nào đó mà phương hại đến quyền lợi của một số cổ đông hay toàn bộ cổ đông trong công ty. Để xử lý vấn đề này, theo chúng tôi, áp dụng các quy định của pháp luật là chưa đủ mà công ty cần phải chủ động đưa các nguyên tắc quản trị công ty vào Điều lệ, vào Quy chế quản trị công ty, trong đó đặc biệt chú ý tới vai trò của BKS và có thể xây dựng Quy chế hoạt động của BKS trong đó quy định cụ thể nhiệm vụ và quyền hạn của BKS và các thành viên BKS.
Vai trò của BKS trong đảm bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả: Các nguyên tắc quản trị công ty đặc biệt chú ý đến việc xây dựng cơ cấu quản trị đạt kết quả đích thực với khung quy định trách nhiệm rõ ràng, trong đó ĐHĐCĐ là cơ quan quyết định cao nhất, HĐQT là cơ quan quản lý công ty, CEO là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty, BKS thực hiện việc giám sát HĐQT và CEO trong quản lý, điều hành công ty. BKS không can thiệp vào hoạt động quản lý, điều hành; khi thực hiện việc kiểm tra theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty “không được cản trở hoạt động bình thường của HĐQT, không gây gián đoạn điều hành hoạt động kinh doanh của công ty” .
Vai trò của BKS trong đảm bảo quyền lợi của cổ đông: Bên cạnh quyền tham gia quản lý công ty thông qua ĐHĐCĐ, cổ đông có quyền cơ bản là quyền được nhận cổ tức và quyền được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty khi công ty giải thể hoặc phá sản. BKS thực hiện việc giám sát HĐQT, CEO; đảm bảo chống các giao dịch tư lợi để công ty làm ăn có lãi, tài sản công ty không bị thất thoát. Đặc biệt, BKS có thể “kiến nghị HĐQT hoặc ĐHĐCĐ các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty” .
Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có các quyền như “xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của HĐQT, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo của BKS”. Như vậy, BKS phải đảm bảo cung cấp các báo cáo cho cổ đông và nhóm cổ đông trên khi có yêu cầu. Cổ đông hoặc nhóm cổ đông này còn có quyền “Yêu cầu BKS kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết” . Việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra này cũng thể hiện vai trò của BKS trong đảm bảo quyền lợi của cổ đông.
Đảm bảo đối xử công bằng giữa các cổ đông và đảm bảo vai trò của những người có quyền lợi liên quan đến công ty chủ yếu là nhiệm vụ của CEO và HĐQT trong điều hành, quản lý công ty. BKS chỉ có vai trò giám sát việc thực hiện nhiệm vụ này.
Vai trò của BKS trong đảm bảo minh bạch trong hoạt động của công ty: Các nguyên tắc quản trị công ty cũng đặc biệt chú ý đến việc công bố thông tin đầy đủ và kịp thời vì thiếu rõ ràng, thiếu minh bạch trong quản trị công ty có thể dẫn đến những hậu quả tai hại như cổ phiếu mất giá, khủng hoảng lòng tin, nhà đầu tư rút vốn…Trong ba nhiệm vụ cụ thể của BKS theo quy định của Luật Doanh nghiệp không có nhiệm vụ đảm bảo minh bạch trong hoạt động của công ty. Công bố thông tin đầy đủ là nhiệm vụ của CEO, theo quyết định của HĐQT và HĐQT sẽ giám sát, chỉ đạo CEO trong việc thực hiện công bố thông tin. Tuy nhiên, xuất phát từ vai trò giám sát của mình, khi phát hiện HĐQT hoặc CEO vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin, BKS phải thông báo ngay bằng văn bản, yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả.
Vai trò của BKS trong đảm bảo kiểm soát công ty có hiệu quả: Vai trò này của BKS được đặt cạnh vai trò đảm bảo quản lý công ty có hiệu quả của HĐQT. HĐQT và BKS là hai cơ quan của ĐHĐCĐ với các chức năng, nhiệm vụ rõ ràng. HĐQT có nhiệm vụ giám sát, chỉ đạo CEO và người quản lý khác trong điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty và BKS sẽ giám sát HĐQT trong việc thực hiện nhiệm vụ này.
3. Đề xuất hoàn thiện các quy định về BKS trong công ty cổ phần
Các quy định về BKS trong công ty cổ phần có thể được chia thành hai nhóm: các quy định pháp luật và các quy định theo các nguyên tắc của quản trị công ty (được ghi nhận trong Điều lệ, Quy chế quản trị công ty, Quy chế hoạt động của BKS).
Nhìn vào các nhiệm vụ và quyền hạn của BKS theo quy định của pháp luật, có thể thấy khi BKS thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn này vẫn chưa đủ để thực sự đảm bảo vai trò giám sát HĐQT và CEO. Trong thực tiễn, vai trò của BKS chủ yếu là thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính theo các định kỳ của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của HĐQT một cách hình thức và trình các báo cáo này lên ĐHĐCĐ tại cuộc họp thường niên .
Thực trạng trên có những nguyên nhân chủ quan và khách quan, từ nhận thức của cổ đông, nhà đầu tư, HĐQT, CEO và chính BKS về vai trò của mình… đến sự chưa hoàn thiện của pháp luật (các quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của BKS chưa rõ ràng, đầy đủ; chưa có quy định cụ thể về thù lao, lợi ích khác, việc miễn nhiệm, bãi nhiệm đảm bảo tính độc lập của BKS; chưa có chế tài cụ thể đối với thành viên BKS không thực hiện đúng trách nhiệm của mình; chưa có chế tài cụ thể khi HĐQT, CEO không đảm bảo các quyền của BKS); việc chưa thực hiện các nguyên tắc của quản trị công ty.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của BKS trong đảm bảo các nguyên tắc quản trị công ty, bên cạnh/trong khi chờ đợi việc hoàn thiện quy định pháp luật về BKS, cổ đông của công ty có thể đưa các quy định về BKS như cơ quan hết sức quan trọng trong đảm bảo quyền lợi của mình vào Điều lệ, Quy chế quản trị công ty, Quy chế hoạt động của BKS. Các điều khoản này cần: Thứ nhất, xác định rõ các nội hàm của vai trò giám sát HĐQT và CEO trong quản lý, điều hành công ty thể hiện qua những nhiệm vụ cụ thể và những quyền hạn để BKS thực hiện nhiệm vụ đó. Trong Quy chế hoạt động của BKS có thể xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của từng thành viên BKS và chế tài cụ thể nếu thành viên BKS không thực hiện đúng trách nhiệm của mình .
Có thể ghi nhận thêm là BKS còn có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Kiểm tra: (i) sự tuân thủ của HĐQT theo pháp luật, theo các Nghị quyết và Quyết định của ĐHĐCĐ, (ii) sự tuân thủ của Ban giám đốc theo pháp luật và theo các Nghị quyết và Quyết định của ĐHĐCĐ và/hoặc của HĐQT, và (iii) hiệu quả quản lý và hiệu quả hoạt động kinh doanh của HĐQT và Ban giám đốc;
- Giám sát các khoản chi đầu tư, mua sắm hoặc rút vốn đầu tư quan trọng; xem xét các khoản chi phí và chi tiêu cho hoặc phát sinh liên quan đến HĐQT, các Thành viên HĐQT và các thành viên Ban giám đốc;
- Giám sát những xung đột quyền lợi tiềm ẩn của các Thành viên HĐQT, thành viên Ban giám đốc và các cổ đông nhóm cổ đông nắm giữ từ 10% tổng số cổ phần trở lên, kể cả việc sử dụng sai tài sản công ty hoặc lạm dụng quyền hạn trong các giao dịch với bên có liên quan;
- Giám sát tính hiệu quả của cơ chế kiểm soát nội bộ mà công ty áp dụng và kiến nghị những thay đổi cần thiết; và
- Giám sát quy trình công bố và trao đổi thông tin trong và ngoài công ty.
BKS có quyền yêu cầu HĐQT, các Thành viên HĐQT, thành viên Ban giám đốc hoặc bất kỳ nhân viên nào của công ty cung cấp đúng hạn và đầy đủ các thông tin liên quan đến HĐQT, Thành viên Ban giám đốc và hoạt động của công ty.
Thứ hai, xác định một cơ chế rõ ràng về thù lao và các lợi ích của thành viên BKS cùng cơ chế miễn nhiệm, bãi nhiệm với các tiêu chí rõ ràng khi nào thành viên BKS bị miễn nhiệm chứ không phải có thể bị miễn nhiệm bất cứ lúc nào theo quyết định của ĐHĐCĐ. Thù lao của thành viên BKS do ĐHĐCĐ ấn định. Địa vị pháp lý của thành viên BKS khá đặc biệt vì tuy làm việc cho công ty và lĩnh lương/hưởng thù lao do công ty trả nhưng họ không phải là người làm công. Nhiệm vụ của thành viên BKS đặt họ vào tư thế độc lập với công ty. Tuy thành viên BKS do ĐHĐCĐ bầu ra nhưng nhiệm vụ của họ là một nhiệm vụ pháp định. Muốn thi hành nhiệm vụ ấy một cách đúng đắn, đầy đủ, BKS phải được độc lập đối với Đại hội đồng.
Thứ ba, xác định rõ ràng chế tài cụ thể khi HĐQT, CEO không đảm bảo các quyền của BKS như quyền tham gia cuộc họp của HĐQT, Ban giám đốc; quyền được cung cấp thông tin; quyền kiến nghị và được trả lời về kiến nghị. Có thể đưa ra những chế tài có thể như quy định “Nghị quyết, Quyết định đưa ra trong cuộc họp của HĐQT, Ban giám đốc sẽ không có giá trị nếu không có sự tham gia của thành viên BKS”, “BKS có quyền kiến nghị với HĐQT và CEO các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của Công ty. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị, HĐQT, CEO phải có giải trình về các vấn đề được nêu ra trong kiến nghị của BKS”.
Để khẳng định vai trò của BKS và đảm bảo thực hiện tốt vai trò ấy, đồng thời, cần có biện pháp để nâng cao nhận thức của nhà đầu tư, cổ đông; HĐQT và CEO về BKS như công cụ quan trọng để giám sát HĐQT và CEO. Về phía HĐQT, CEO cũng phải thấy BKS là một cơ chế phản biện thiết yếu, như cái van an toàn hữu ích trong quản lý và điều hành công ty./.
Monday, November 14, 2011 8:30:11 AM
quyền con người
Chuyển sang và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống pháp luật kinh tế và môi trường kinh doanh nước ta đã từng bước được đổi mới và cải thiện, qua đó đã góp phần phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư đã được xây dựng và ban hành năm 2005 nhằm áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu trên cơ sở định hướng tiếp tục duy trì, mở rộng và phát triển quyền “tự do kinh doanh” để các nhà đầu tư và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều có quyền đầu tư và kinh doanh trong tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm; tôn trọng quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp; nhà đầu tư có quyền lựa chọn, thay đổi hình thức đầu tư thích ứng với nhu cầu kinh doanh…
Một trong những thành phần cơ bản của bất kỳ nền kinh tế thị trường thành công là sự tôn trọng các quyền con người cơ bản. Tuy nhiên, trong thực tiễn, không phải lúc nào những nội hàm của quyền con người, sự thể hiện của quyền con người trong pháp luật kinh doanh, đầu tư cũng được hiểu và áp dụng đúng. Bởi vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu nội dung của quyền con người và sự thể hiện trong pháp luật kinh doanh, đầu tư để từ đó phân tích, rút ra những kết luận để nhận thức và đóng góp hoàn thiện pháp luật đảm bảo quyền con người trong hoạt động đầu tư kinh doanh là hết sức cần thiết.
Vấn đề này càng trở nên cấp thiết hơn trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa thị trường cũng với sự đầu tư của các công ty đa quốc gia – một chủ thể mới, quan trọng trong bảo đảm quyền con người vào Việt Nam.
1. Khái niệm và phân chia các quyền con người
Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người, quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc và làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người.
Ở Việt Nam, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế .
Điều 1 của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR) được Liên hiệp quốc thông qua vào năm 1948 đề cập đến các trụ cột chính của hệ thống quyền con người, ví dụ: tự do, bình đẳng và đoàn kết. Tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo cũng như tự do quan điểm và tự do biểu đạt cũng được hệ thống quyền con người chú ý bảo vệ. Tương tự như vậy, quyền con người cũng bảo đảm sự bình đẳng, chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử trong hưởng thụ tất cả các quyền con người, bao gồm quyền bình đẳng giữa nam và nữ. Các quyền kinh tế và xã hội, như quyền được hưởng an ninh xã hội, được trả công và có một mức sống đủ, quyền về sức khỏe và tiếp cận giáo dục là một phần không thể thiếu trong khuôn khổ hệ thống quyền con người. Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) và Công ước quốc về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) cùng với UDHR hình thành nên Bộ luật quốc tế về quyền con người.
Xét về danh mục, có nhiều cách phân chia khác nhau với các quyền và tự do cá nhân dựa trên những cách tiếp cận khác nhau với nội dung của UDHR, ICCPR, ICESCR. Theo cách tiếp cận liên kết (a coherent approach to human right) có thể chia các quyền con người thành 5 nhóm bao gồm nhóm quyền dân sự, nhóm quyền chính trị, nhóm quyền kinh tế, nhóm quyền xã hội và nhóm quyền văn hóa. Cụ thể hai nhóm quyền dân sự và chính trị bao gồm các quyền và tự do sau: Quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận và bình đẳng trước pháp luật; Quyền sống, tự do và an ninh cá nhân; Quyền về xét xử công bằng; Quyền về tự do đi lại, cư trú; Quyền được bảo vệ đời tư; Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo; Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân; Quyền tự do biểu đạt; Quyền tự do lập hội; Quyền tự do hội họp một cách hòa bình; Quyền tham gia vào đời sống chính trị.
Nhóm các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội bao gồm các quyền sau: Quyền được hưởng và duy trì tiêu chuẩn sống thích đáng; Quyền làm việc và hưởng thù lao công bằng, hợp lý; Quyền được hưởng an sinh xã hội; Quyền được hỗ trợ về gia đình; Quyền được chăm sóc sức khỏe; Quyền được giáo dục; Quyền được tham gia vào đời sống văn hóa và được hưởng các thành tựu khoa học.
Cùng với tình trạng nóng lên của trái đất, quyền về môi truờng (environmental human rights) là một chủ đề ngày càng thu hút sự quan tâm của các học giả và nhà nghiên cứu về quyền con người.
Về cơ sở pháp lý, quyền này hiện chưa được nêu cụ thể trong các văn kiện quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc, tuy nhiên đã được khẳng định trong một số văn kiện khu vực, trong đó tiêu biểu là Hiến chương châu Phi về quyền con người và của các dân tộc (Điều 21); Nghị định thư San Salvador bổ sung Hiến chương châu Mỹ về quyền con người (Điều 11). Về nội hàm, nhận thức chung cho rằng quyền về môi trường đề cập đến quyền của mọi người trong thế hệ hiện tại và tương lai được sống trong môi trường trong lành, có lợi cho sức khỏe. Về tính pháp lý của quyền về môi trường, hiện có hai luồng quan điểm. Quan điểm thứ nhất coi quyền về môi trường là một quyền con người cụ thể (explicit rights), trong khi quan điểm thứ hai coi đó là một quyền hàm chứa (unenumerated rights) nằm trong nội hàm của một số quyền khác như quyền sống, quyền về sức khỏe…
Về lý thuyết, quyền về môi trường có thể xung đột với một số quyền con người khác (ví dụ, việc thực hiện các quyền tự do kinh doanh có thể dẫn đến phát triển các hoạt động sản xuất một cách tràn lan, không được kiểm soát và gây ra những thảm họa môi trường…). Về thực tế, quyền về môi trường gắn bó chặt chẽ với vấn đề trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp, đặc biệt là của các công ty/tập đoàn đa quốc gia trong việc bảo vệ môi trường .
2. Quyền tự do, bình đẳng của con người và quyền tự do kinh doanh, bình đẳng của doanh nghiệp
Quyền tự do, bình đẳng của con người có thể được hiểu theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, đây là một quyền chính trị - dân sự và nằm trong quyền tự do và an ninh cá nhân, quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng. Điều 7 UDHR quy định, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt nào. Điều 8 UDHR cụ thể hóa quy định tại Điều 7 khi nêu rằng, mọi người đều có quyền được các tòa án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ mà đã được Hiến pháp hay luật pháp quy định. Ủy ban Quyền con người (HRC) trong Bình luận chung số 18 thông qua tại phiên họp lần thứ 37 năm 1989 đã phân tích về ý nghĩa và nội hàm của quyền này một cách khá chi tiết, có thể tóm tắt những điểm quan trọng như “không phân biệt đối xử, bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng đóng vai trò là cơ sở và nguyên tắc chung trong việc bảo vệ tất cả các quyền con người”, “nghiêm cấm các quốc gia ban hành bất kỳ quy định pháp luật nào có tính chất phân biệt đối xử”(Đoạn 1)…Tuy nhiên, “quyền bình đẳng không có nghĩa là áp dụng một kiểu đối xử cho mọi đối tượng trong cùng một tình huống và không phải mọi sự khác biệt về đối xử đều tạo nên sự phân biệt đối xử. Nếu đối xử khác biệt được xác định dựa trên các điều kiện hợp lý, khách quan và nhằm mục đích để đạt được sự bình đẳng thì không bị coi là trái với UDHR và ICCPR.
Trong pháp luật quốc tế về quyền con người, quyền tự do trước tiên nằm trong tập hợp quyền sống, tự do và an ninh cá nhân – một tập hợp các bảo đảm tố tụng nhằm bảo vệ sự an toàn về tính mạng, thân thể, danh dự, nhân phẩm và tự do của con người. Ngoài ra, con người còn có các quyền tự do khác như tự do đi lại, cư trú; tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo; tự do ý kiến và biểu đạt; tự do lập hội; tự do hội họp một cách hòa bình…
Điều 57 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 sửa đổi năm 2001 quy định “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”.
Tự do kinh doanh là việc một công dân được quyền: (i) Tự do chọn ngành nghề kinh doanh; (ii) Tự do chọn địa bàn hoạt động kinh doanh; (iii) Tự do thành lập doanh nghiệp; (iv) Tự do chọn loại hình doanh nghiệp; (v) Tự do xác định loại tài sản góp vốn vào doanh nghiệp; (vi) Tự do tổ chức bộ máy hoạt động của doanh nghiệp; (vii) Tự do tuyển dụng lao động; (viii) Tự do quyết định cơ cấu và phương thức sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp; (ix) Tự do quyết định công nghệ sử dụng trong sản xuất; (x) Tự do áp dụng các biện pháp để tiếp thị sản phẩm và quảng cáo sản phẩm trên thị trường…Qua đây có thể thấy quyền tự do kinh doanh của công dân chủ yếu được thể hiện qua các quy định liên quan đến doanh nghiệp - tổ chức kinh tế do công dân thành lập để tiến hành hoạt động kinh doanh.
Tự do kinh doanh về thực chất là khả năng của chủ thể được thực hiện những hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ kinh doanh dưới những hình thức thích hợp với khả năng vốn, khả năng quản lý của mình nhằm thu lợi nhuận . Tuy nhiên, khi xem xét cả các quyền kinh tế, xã hội không thấy đề cập quyền tự do kinh doanh như quyền con người cơ bản. Trong nội hàm của quyền được hưởng và duy trì tiêu chuẩn sống thích đáng, quyền làm việc và hưởng thù lao công bằng hợp lý…không có nội dung về tự do kinh doanh. Theo chúng tôi, quyền tự do kinh doanh không phải là một quyền con người theo nghĩa hẹp, nghĩa chính thức mà là một quyền công dân .
Ở đây, cần phân biệt quyền tự do, bình đẳng của con người và quyền tự do kinh doanh, bình đẳng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không phải là đối tượng của quyền con người mà chỉ có thể là chủ thể có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người nhưng đồng thời cũng có thể là thủ phạm của những vi phạm về quyền con người.
Đồng thời, có thể nhận diện và nêu ra một số quyền không thể thiếu vắng của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường như quyền sở hữu tài sản hữu hình và tài sản trí tuệ, sở hữu tư liệu sản xuất của các cá nhân, tổ chức; quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật và nằm ở vị trí quan trọng trong phạm trù này là vấn đề quyền gia nhập thương trường và rút khỏi thương trường của các chủ thể; quyền tự do cạnh tranh một cách lành mạnh; quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong đó có thể kể đến quyền có việc làm, quyền tự do lựa chọn việc làm và nơi làm việc, quyền đình công, bãi công, quyền được hưởng an sinh xã hội; quyền của người tiêu dùng và bảo vệ quyền của người tiêu dùng, trong đó phải kể đến vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và trách nhiệm xã hội, trách nhiệm pháp lý của nhà sản xuất, cung ứng hàng hóa dịch vụ đối với người tiêu dùng, cộng đồng dân cư và xã hội; quyền được sống trong môi trường trong lành và trách nhiệm của các doanh nghiệp trong vấn đề bảo vệ môi trường và đảm bảo các hoạt động sản xuất - kinh doanh thân thiện với môi trường .
Với cách tiếp cận mở rộng như trên, quyền tự do kinh doanh của công dân hay quyền của người tiêu dùng có thể được coi là một nội hàm mở rộng của quyền con người theo nghĩa rộng.
3. Quyền con người, quyền công dân và quyền của người tiêu dùng
Quyền con người và quyền công dân là hai phạm trù rất gần gũi nhưng không hoàn toàn đồng nhất.
Quyền công dân (citizen’s rights) là một khái niệm xuất hiện cùng Cách mạng Tư sản Pháp năm 1789. Cách mạng tư sản đã đưa con người từ địa vị những thần dân trở thành những công dân (với tư cách là những thành viên bình đẳng trong một Nhà nước) và pháp điển hóa các quyền tự nhiên của con người dưới hình thức các quyền công dân trong pháp luật. Như vậy, về bản chất, các quyền công dân chính là những quyền con người được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân của mình.
Tuy nhiên, quyền công dân không phải là hình thức cuối cùng và toàn diện của quyền con người. Với ý nghĩa là một khái niệm gắn liền với Nhà nước, thể hiện mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước, được xác định thông qua một chế định pháp luật đặc biệt là chế định quốc tịch, quyền công dân là tập hợp những quyền tự nhiên được pháp luật của một nước ghi nhận và bảo đảm, nhưng chỉ cho những người có quốc tịch của nước đó. Không phải ai cũng được hưởng các quyền công dân của một quốc gia nhất định, và không phải hệ thống quyền công dân của mọi quốc gia đều giống hệt nhau, cũng như đều hoàn toàn tương thích với hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người.
Trong khi đó, quyền con người là khái niệm rộng hơn. Về tính chất, quyền con người không bị bó hẹp trong mối quan hệ giữa cá nhân với Nhà nước mà thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với tòan thể cộng đồng nhân loại. Về phạm vi áp dụng, do không bị giới hạn bởi chế định quốc tịch, chủ thể của quyền con người là tất cả các thành viên của loài người, bất kể vi thế, hoàn cảnh, quốc tịch… Nói cách khác, quyền con người được áp dụng một cách bình đẳng với tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia, tư cách cá nhân hay môi trường sống của chủ thể quyền.
Một cá nhân con người, ngoại trừ những người không quốc tịch, về hình thức đồng thời là chủ thể của cả hai loại quyền con người và quyền công dân, tuy nhiên, sự phân biệt trong thụ hưởng hai loại quyền này chỉ đuợc thể hiện trong một số hoàn cảnh đặc biệt. Ví dụ, một người nước ngoài hay người không quốc tịch sẽ không được hưởng một số quyền công dân (và cũng là những quyền con người) đặc thù, chẳng hạn như quyền bầu cử, ứng cử; quyền tự do kinh doanh…như công dân của nước mà người đó đang sinh sống hay làm việc. Khác với công dân của nước sở tại, người nước ngoài khi thực hiện việc kinh doanh sẽ phải làm những thủ tục như đăng ký đầu tư. Tuy nhiên, người đó vẫn được hưởng các quyền con người phổ biến (mà đồng thời cũng là các quyền công dân) áp dụng cho mọi thành viên của nhân loại trong mọi hoàn cảnh cụ thể như quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân…
Người tiêu dùng là “người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức” . Người tiêu dùng cũng có những quyền được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ghi nhận nhưng những nội hàm của quyền con người và quyền của người tiêu dùng không trùng khít với nhau. Quyền của người tiêu dùng không có những tính chất/đặc điểm cơ bản của quyền con người như: tính không thể tước đoạt, tính không thể phân chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau. Quyền con người là phổ biến, áp dụng cho tất cả con người nhưng chỉ khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ con người mới trở thành người tiêu dùng. Như vậy, quyền của người tiêu dùng cũng không phải là quyền con người theo nghĩa hẹp.
4. Doanh nghiệp như chủ thể đảm bảo quyền con người: Vai trò trong bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người.
Trên bình diện cơ chế bảo vệ quyền con người, quá trình toàn cầu hóa đã làm biến đổi nhanh chóng các chủ thể và đối tượng đều chỉnh của luật quốc tế về quyền con người. Các tổ chức liên chính phủ, nhà nước là chủ thể luật quốc tế nói chung và luật quyền con người nói riêng. Thực trạng của nền chính trị và kinh tế thế giới cho thấy, Liên hợp quốc và các nhà nước đang suy yếu, các công ty xuyên quốc gia, các tổ chức tài chính, tiền tệ, thương mại quốc tế đang giữ vai trò ngày càng quan trọng. Vấn đề đặt ra là làm sao để các tổ chức này phải có trách nhiệm đầy đủ trên lĩnh vực tôn trọng bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Trách nhiệm đó không chỉ là lòng tốt, mà là ý tưởng xây dựng, hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền con người trong bối cảnh toàn cầu hóa trong Thiên niên kỷ thứ III.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 60.000 công ty xuyên quốc gia, trong đó có 50 công ty lớn, với khoảng 500.000 chi nhánh ở các nước. Chỉ riêng 500 công ty lớn đã sử dụng tới 49.607.000 lao động. Hiện tại có tới 50 công ty mà doanh số của mỗi công ty đó bằng GDP của một nền kinh tế quốc gia trung bình. Điều đáng phải suy nghĩ là vai trò của các công ty này ngày càng trở nên quan trọng hơn trong đời sống kinh tế quốc tế cũng như quốc gia. Hoạt động các công ty xuyên quốc gia trên thực tế về cơ bản không phụ thuộc vào sự quản lý của các nhà nước. Những luật lệ quản lý trong sản xuất, kinh doanh nội bộ cũng như trong các quan hệ khác do họ tự đặt ra, đương nhiên có tính tới những cơ chế quốc tế đã hình thành. Tuy nhiên, số lượng những nguyên tắc đã được định hình là rất ít. Như vậy, các công ty này, trên phạm vi quốc tế chúng không phải là chủ thể cũng như không phải đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế, trong phạm vi quốc gia dường như nằm ngoài sự quản lý của các nhà nước.
Hàng loạt những vấn đề về quyền con người liên quan đến hoạt động của các công ty xuyên quốc gia; đó là: tiêu chuẩn quyền con người trên lĩnh vực lao động, như tiền lương, thời gian lao động, bảo hiểm, bảo hộ lao động; những vấn đề thuộc về các quyền chính trị xã hội như điều kiện tham gia hoạt động xã hội, tham gia các tổ chức đoàn thể; vấn đề bảo vệ môi trường như xử lý nước thải, vệ sinh môi trường… Không phủ nhận rằng, các công ty xuyên quốc gia là nhân tố cơ bản, năng động nhất trong quá trình toàn cầu hóa. Nó vừa là mạch máu, vừa là hệ thần kinh của nền kinh tế toàn cầu. Chính các công ty này là nhà đầu tư, là người cung cấp vốn cho các quốc gia, là người chuyển giao công nghệ mới thay thế cho các công nghệ đã lỗi thời. Vì lợi ích của mình, chính họ đã phát hiện các lợi thế so sánh về lao động tài nguyên cho các quốc gia: Trên cơ sở mà mở ra khả năng phát triển cho các nước nghèo và đang phát triển do đó nó đã góp phần vào sự thay đổi diện mạo hành tinh của chúng ta.
Tuy nhiên, cũng vì lợi nhuận và vì không có sự quản lý của bất cứ một tổ chức nào, không ít các công ty này mà các đại diện của nó ở các nước nghèo và đang phát triển đã phớt lờ các tiêu chuẩn quyền con người trong các họat động của mình. Có thể nói hầu hết các công ty đặt lợi nhuận lên trên con người. Các cuộc thương lượng về giá cả lao động, về sử dụng tài nguyên không có trọng tài và dĩ nhiên không thể công bằng do thế yếu của các quốc gia nghèo, do sự bức xúc về thiếu vốn, thiếu việc làm, vì thất nghiệp và cả vì nạn quan liêu, tham nhũng.
Bức tranh về các công ty xuyên quốc gia trên lĩnh vực quyền con người không phải hoàn toàn là màu tối. Ở một số quốc gia, nhiều công ty vì những lý do khác nhau người ta đã cam kết sẽ tuân thủ các tiêu chuẩn quyền con người, nhất là trên lĩnh vực lao động. Ở Châu Âu đã nảy nở những ý tưởng nhân văn trong họat động thương mại, người ta khuyến khích các sản phẩm được sản xuất từ các cơ sở mà ở đó đã thực hiện tốt các hình thức quản lý bảo đảm quyền con người, dân chủ, phân phối công bằng… bằng cách chấp nhận giá cao hơn các sản phẩm tương tự của các cơ sở sản xuất khác…
Khu vực tư nhân cũng có trách nhiệm trong việc tạo lập một môi trường kinh tế thuận lợi cho việc thúc đẩy quyền con người. Các phòng thương mại hoặc tổ chức kinh doanh khác cần phải đóng góp vào những nỗ lực để thúc đẩy hơn nữa các quyền con người – không chỉ ở nơi làm việc, mà còn trong việc vận động cho các chính sách nhằm giải quyết các vi phạm về quyền con người. Nhiều công ty đã vận động cho việc giảm lao động trẻ em thông qua thúc đẩy giáo dục tiểu học bắt buộc. Rõ ràng, các công ty cần tham gia các cuộc thảo luận và học cách làm thế nào để đảm bảo các quyền con người trong quá trình kinh doanh. Ngoài ra, cũng cần có sự khuyến khích các công ty trong lĩnh vực này, chẳng hạn như thông qua việc trao các giải thưởng quốc gia có uy tín cho những công ty có đóng góp có hiệu quả trong thực hiện trách nhiệm xã hội, đảm bảo quyền con người.
Khu vực tư nhân cũng cần hợp tác với các cơ quan công quyền trong việc kết hợp những mối quan tâm về quyền con người vào “các nguyên tắc của kiểm soát thị trường”, đặc biệt là để chống lại sự phân biệt đối xử trong thị trường việc làm , nhằm ngăn chặn tình trạng sử dụng lao động trẻ em và bảo đảm quyền tự do lập hội cũng như quyền thỏa ước tập thể .
Kết luận
Sau khi tìm hiểu những nội hàm của quyền con người theo Bộ luật quốc tế về quyền con người; tìm hiểu mối quan hệ giữa quyền tự do, bình đẳng của con người và quyền tự do, bình đẳng trong kinh doanh của doanh nghiệp; tìm hiểu mối quan hệ giữa quyền con người, quyền công dân và quyền của người tiêu dùng; xem xét vai trò của doanh nghiệp trong thúc đẩy quyền con người…có thể rút ra những kết luận và đề xuất sau về cách tiếp cận mới về quyền con người và pháp luật kinh doanh, đầu tư:
Thứ nhất, trước đây pháp luật kinh doanh, đầu tư – pháp luật chủ yếu điều chỉnh hoạt động kinh doanh, đầu tư của các doanh nghiệp tiếp cận vấn đề quyền con người dưới góc độ doanh nghiệp là chủ thể thụ hưởng quyền con người như quyền tự do kinh doanh, quyền tự do cạnh tranh. Nay cần tiếp cận thêm dưới góc độ doanh nghiệp là những chủ thể đảm bảo quyền con người.
Thứ hai, trong quá trình sửa đổi, ban hành các văn bản pháp luật kinh doanh, đầu tư mới cần chú ý cách tiếp cận như trên để đưa vào pháp luật nhưng quy phạm tương ứng, trong đó xác định trách nhiệm của doanh nghiệp trong đảm bảo các quyền như quyền được bảo vệ đời tư; quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo; quyền kết hôn, lập gia đình,quyền tự do biểu đạt; quyền tự do lập hội; quyền được hưởng và duy trì tiêu chuẩn sống thích đáng; quyền làm việc và hưởng thù lao công bằng, hợp lý; quyền được hưởng an sinh xã hội; quyền được hỗ trợ về gia đình; quyền được chăm sóc sức khỏe; quyền được giáo dục; quyền được tham gia vào đời sống văn hóa và được hưởng các thành tựu khoa học…
Thứ ba, khoa học pháp lý nghiên cứu về pháp luật kinh doanh, đầu tư và quyền con người cần tiếp tục triển khai cách tiếp cận doanh nghiệp như chủ thể đảm bảo quyền con người, đào sâu tìm hiểu về những khái niệm như quyền tự do kinh doanh, quyền tự do cạnh tranh, quyền về môi trường…để có những đề xuất hoàn thiện pháp luật tương ứng./.
Friday, November 4, 2011 1:59:37 AM
thuế thu nhập doanh nghiệp
Cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới, cùng với các bất cập nội tại nền kinh tế khiến chính sách tài khóa của Việt Nam đã bộc lộ nhiều bất cập trên nhiều mặt như thu ngân sách thiếu tính bền vững, còn phụ thuộc nhiều vào các khoản thu không tái tạo, không bền vững như khoản thu từ bán tài nguyên, đất đai...Cùng với tiến trình hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế và cam kết gia nhập WTO, hàng rào thuế quan sẽ ngày một thu hẹp, do vậy khả năng thu từ hoạt động nhập khẩu sẽ giảm sút trong những năm tới...Những sức ép về việc giảm thâm hụt ngân sách và tập trung nhiều hơn các các biện pháp kích cầu buộc Chính phủ Việt Nam nhìn nhận và quan tâm nhiều hơn đến vấn đề thu ngân sách, chủ yếu thông qua nguồn thu từ thuế, trong đó thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đóng vai trò quan trọng.
Chiến lược cải cách hệ thống thuế Việt Nam
Ngày 17 tháng 5 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 732/QĐ-TTg Phê duyệt “Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020” với mục tiêu “xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mức động viên hợp lý nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước và là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả, hiệu lực của Đảng và Nhà nước”.
Theo Chiến lược cải cách hệ thống thuế, trong giai đoạn 2011 - 2020 các sắc thuế, phí và lệ phí chủ yếu gồm: thuế giá trị gia tăng; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế xuất, nhập khẩu; thuế thu nhập doanh nghiệp; thuế thu nhập cá nhân; thuế tài nguyên; thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; thuế bảo vệ môi trường; các loại phí và lệ phí. Đồng thời, thuế môn bài sẽ được chuyển thành một khoản thu lệ phí quản lý hoạt động kinh doanh hàng năm. Bên cạnh đó, sẽ hoàn thiện các chế độ thu từ tài nguyên, khoáng sản quốc gia như: thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thu đấu giá quyền khai thác khoáng sản và thu từ dầu khí…
Bộ Tài chính cũng đã có Quyết định 2162/QĐ-BTC phê duyệt Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 và các đề án triển khai thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020. Theo đó, một trong những nội dung quan trọng trong kế hoạch cải cách hệ thống thuế là hệ thống chính sách thuế được xây dựng, hoàn thiện bảo đảm tính minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện; mở rộng cơ sở thuế để phát triển nguồn thu, bao quát các nguồn thu mới phát sinh và theo cơ cấu tăng nguồn thu nội địa (không kể dầu thô) trong tổng thu ngân sách Nhà nước.
Mục tiêu cụ thể đặt ra là hệ thống chính sách thuế được xây dựng, hoàn thiện bảo đảm bao quát các nguồn thu mới phát sinh và cơ cấu lại theo hướng tăng nguồn thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) đến năm 2015 đạt trên 70% tổng thu ngân sách nhà nước và đến năm 2020 đạt trên 80% tổng thu ngân sách nhà nước.
Về chính sách thuế đối với thuế TNDN, Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020 đề ra phương hướng:
Thứ nhất, điều chỉnh giảm mức thuế suất TNDN theo lộ trình phù hợp để thu hút đầu tư tạo điều kiện để doanh nghiệp có thêm nguồn lực tài chính, tăng tích lũy để đẩy mạnh đầu tư phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh;
Thứ hai, đơn giản hóa chính sách ưu đãi thuế theo hướng hẹp về lĩnh vực, tiếp tục khuyến khích đầu tư vào các ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, các ngành công nghiệp hỗ trợ, sử dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, dịch vụ chất lượng cao, lĩnh vực xã hội hóa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn;
Thứ ba, bổ sung quy định về các khoản chi phí được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế; bổ sung các quy định để bao quát được các hoạt động kinh tế mới phát sinh trong kinh tế thị trường hội nhập và phù hợp với thông lệ quốc tế như: hoạt động bán hàng đa cấp, thương mại điện tử, sự phát triển của các tập đoàn kinh tế, hiện tượng “vốn mỏng” khi xác định chi phí, đặc biệt là chi phí lãi vay, điều chuyển hoặc đánh giá lại tài sản khi tái cơ cấu doanh nghiệp, thỏa thuận trước về giá của các doanh nghiệp liên kết.
Chưa có kế hoạch hỗ trợ động viên doanh nghiệp lớn, nộp thuế TNDN nhiều
Chính sách thuế TNDN là công cụ điều tiết vĩ mô, yếu tố tăng tính cạnh tranh giữa các quốc gia. Theo nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách tài chính, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới, một số quốc gia đã điều chỉnh hệ thống chính sách thu ngân sách thông qua cải cách cơ cấu hệ thống thuế (nâng cao vai trò của thuế thu nhập, thuế tiêu dùng), chính sách giảm dần thuế suất, mở rộng cơ sở tính thuế (thuế thu nhập cá nhân, thuế TNDN). Điển hình là Chính phủ Nhật đã ra quyết định cắt giảm thuế TNDN từ 40% xuống 35%, áp dụng từ ngày 1/4/2011. Mục tiêu của Nhật là giảm thuế doanh nghiệp về mức 25-30%, ngang với ở các quốc gia là đối thủ cạnh tranh ngang tầm của nước này, trong thập niên tới (Thuế TNDN ở Mỹ là 35%, ở Anh hiện ở mức 28%, ở Trung Quốc là 25%). Động thái này nhằm đáp ứng lời kêu gọi của cộng đồng doanh nghiệp Nhật, trong bối cảnh nền kinh tế lớn thứ hai thế giới vật lộn với tốc độ tăng trưởng trì trệ. Với việc cắt giảm thuế nói trên, Nhật Bản hy vọng sẽ có thêm nhiều việc làm và hoạt động đầu tư sẽ được đẩy mạnh trong nền kinh tế Nhật. Nhật Bản cũng kêu gọi cộng đồng doanh nghiệp Nhật sử dụng số tiền thuế TNDN tiết kiệm được cho mục đích thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chống lại tình trạng giảm phát kéo dài.
Cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đang chờ đợi Chính phủ trình Quốc hội điều chỉnh giảm mức thuế suất TNDN nhưng có lẽ điều này sẽ không diễn ra sớm. Quyết định 21/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về gia hạn nộp thuế TNDN đã cho phép giãn thời hạn nộp thuế TNDN trong thời gian một năm đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V). Chính phủ có Nghị quyết giao Bộ Tài chính nghiên cứu đề xuất trình Quốc hội cho giảm một phần thuế TNDN phải nộp năm 2011 đối với DNN&V (đang thuộc diện được giãn) như: doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, gia công, chế biến nông, lâm, thủy hải sản, dệt may, da giày… Việc Chính phủ thực hiện giãn, và đề xuất giảm thuế cho DN sẽ khiến nguồn thu ngân sách bị ảnh hưởng. Nhưng về lâu dài, chính sách giảm thuế sẽ kích thích sản xuất và phát triển, tăng cường nguồn vốn cho DN tái đầu tư vào sản xuất kinh doanh và giúp bồi dưỡng nguồn thu.
Chính sách miễn giảm thuế TNDN đang thực hiện tập trung ưu tiên cho những DNN&V - những doanh nghiệp khó khăn nhất và cần được tiếp sức sớm nhất, đã tạo ra những tác động tích cực trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp đang nộp thuế nhiều và liên tục thì Chính phủ vẫn chưa có chính sách hỗ trợ, động viên nào. Cần khách quan mà nhìn nhận rằng, chính việc giảm thuế TNDN cho các doanh nghiệp lớn – các doanh nghiệp là đầu tàu, là quả đấm thép, các doanh nghiệp tạo nên diện mạo của nền kinh tế Việt Nam mới thực sự kích thích sản xuất và tăng trưởng.
Hiện tại, các doanh nghiệp nộp thuế nhiều mới chỉ được vinh danh trong các chương trình như Bảng xếp hạng Top 1000 DN nộp thuế thu nhập lớn nhất Việt Nam trong ba năm liên tục (V1000) do Công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) phối hợp với Báo VietNamNet công bố.
Hy vọng rằng trong khuôn khổ Chiến lược và Kế hoạch thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Chính phủ và Bộ Tài Chính sẽ sớm đưa ra lộ trình phù hợp, cụ thể để tạo điều kiện để các doanh nghiệp lớn có thêm nguồn lực tài chính, tăng tích lũy để đẩy mạnh đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực./.
Friday, November 4, 2011 1:53:54 AM
thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong bối cảnh kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng vừa ra khỏi khủng hoảng và suy thoái, các doanh nghiệp (DN) vẫn tiếp tục đương đầu với khó khăn, chính sách tiền tệ và tài khóa chưa thể nới lỏng thì cần có những biện pháp hỗ trợ trực tiếp cho nhà đầu tư và DN để kích thích sản xuất và phát triển. Bên cạnh việc cải cách các thủ tục để DN dễ dàng gia nhập thị trường, nới lỏng một số quy định để DN phát triển và mở rộng kinh doanh, một trong những biện pháp quan trọng, trực tiếp và hiệu quả nhất là miễn, giảm, hoãn các khoản thuế phải đóng.
Miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp như giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp
Tăng trưởng kinh tế trong những tháng đầu năm 2011 đã chậm lại, 6 tháng mới đạt 5,57%, thấp hơn cùng kỳ năm 2010 và kế hoạch đặt ra; DN phải đối mặt với khó khăn do lạm phát, chi phí đầu vào cao, lãi suất cao và tăng trưởng kinh tế chậm. Trong khi phải chống lạm phát, giảm tổng cầu, Chính phủ đã lựa chọn hoãn, miễn, giảm thuế có mức độ để hỗ trợ cho doanh nghiệp. Việc miễn, giảm, hoãn thu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) có ý nghĩa gián tiếp hỗ trợ nguồn vốn giúp doanh nghiệp giảm bớt phần vốn vay ngân hàng với lãi suất cao.
Từ năm 2009, khi đối mặt với nhiều khó khăn từ khủng hoảng kinh tế thế giới và lạm phát trong nước, Việt Nam cũng đã đưa ra môt gói hỗ trợ kinh tế trong đó có việc miễn giảm thuế cho các DN. Tiếp tục chính sách trên, ngày 12/02/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 12/2010/QĐ-TTg về việc gia hạn nộp thuế TNDN nhằm tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế năm 2010. Theo quyết định trên, sẽ gia hạn nộp thuế TNDN trong thời gian 3 tháng, kể từ ngày hết hạn nộp thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế đối với: số thuế TNDN phải nộp năm 2010 của doanh nghiệp nhỏ và vừa; số thuế TNDN phải nộp năm 2010 từ hoạt động sản xuất, gia công dệt, may, da, giày, dép của doanh nghiệp.
Đánh giá về việc miễn giảm thuế trên cho thấy đã có hàng chục ngàn tỷ đồng DN được thụ hưởng do miễn giảm. Hàng ngàn tỷ chậm nộp thuế được DN luân chuyển và sử dụng một cách hiệu quả... Chính sách này, cộng với các biện pháp hỗ trợ khác như giảm lãi suất đã tác động mạnh mẽ đến DN không chỉ về ý nghĩa kinh tế mà có tác động khích lệ tinh thần kinh doanh, tạo niềm tin cho DN.
Đầu tháng 4 năm 2011, Chính phủ ban hành Quyết định 21/2011/QĐ-TTg về gia hạn nộp thuế TNDN (Quyết định 21) cho phép giãn thời hạn nộp thuế TNDN trong thời gian một năm đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V). Thông tư 52/2011/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Quyết định 21 có một số điểm khác biệt so với việc gia hạn nộp thuế năm 2009 và năm 2010 với thời gian gia hạn nộp thuế TNDN năm là 1 năm, chứ không phải là 3 tháng như năm 2010 và đối tượng được gia hạn có thu hẹp hơn. Nếu như các năm trước, đối tượng được gia hạn là các DNN&V đáp ứng tiêu chí về lao động và vốn theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009, không kể ngành nghề kinh doanh, thì năm 2011, quy định đối tượng được gia hạn nộp thuế có loại trừ một số trường hợp, ví dụ như doanh nghiệp xếp loại 1 theo quy định của Thông tư liên tịch số 23 (thường là các doanh nghiệp nhà nước), DNNVVcó tên trong danh sách hạng đặc biệt, các DN tổ chức theo mô hình công ty mẹ – công ty con, nếu công ty mẹ chiếm trên 50% vốn của công ty con mà công ty mẹ không phải DNNVV…Như vây, việc hỗ trợ DN bằng chính sách giãn, giảm thuế là giải pháp toàn diện, nhưng khi thực hiện đã có trọng tâm, tập trung ưu tiên cho những DN khó khăn nhất và cần được tiếp sức sớm nhất.
Ngoài ra, để hỗ trợ DN và khuyến khích đầu tư, Chính phủ có Nghị quyết giao Bộ Tài chính nghiên cứu đề xuất trình Quốc hội cho giảm một phần thuế TNDN phải nộp năm 2011 đối với DNN&V (đang thuộc diện được giãn) như: DN sử dụng nhiều lao động hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, gia công, chế biến nông, lâm, thủy hải sản, dệt may, da giày…
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cả nước hiện có 349.300 DN, trong đó hơn 95% là các DNN&V. Khối DN này được đánh giá là khu vực phát triển năng động nhất của nền kinh tế với việc sử dụng 50,13% lao động, nộp ngân sách chiếm 17,64% và đóng góp 40% GDP. Tuy nhiên, các DNN&V Việt Nam còn hạn chế về vốn, nhân lực, công nghệ… Những khó khăn dồn dập ập đến đã tác động tiêu cực đến từng DN. Điều tra của Hiệp hội DNN&V cho thấy, 20% DN đang ở trong tình trạng hết sức khó khăn, khoảng 60% DN rơi vào tình trạng sản xuất sút kém, không đủ vốn để duy trì sản xuất và chỉ có 20% DN có cơ hội vượt qua khủng hoảng. Hiện nay có đến 96% DN thuộc đối tượng DNN&V, nếu chính sách giảm thuế sớm đến được với các DN này, chắc chắn sẽ tạo ra những tác động tích cực trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội.
Đồng thời, cũng phải thấy, mới giãn thuế TNDN thì chỉ giải quyết được một phần và tạm thời khó khăn cho DN. Những DN thuộc diện được giãn thì đến năm sau phải nộp dồn khoản thuế TNDN của cả 2 năm sẽ lại càng khó khăn hơn. Bởi vậy, có ý kiến đề xuất giảm thuế TNDN và giãn hoãn ngay đối với thuế TNCN, xem xét lại mức khởi điểm chịu thuế TNCN trong năm 2011 với hai hình thức: một là, theo tỷ lệ lạm phát, cộng vào và giảm tương ứng; hai là, theo một mức cụ thể như 20%. Giảm thuế trên cơ sở mức lạm phát là hợp lý hơn, căn cứ vào tỷ lệ lạm phát năm 2011 vì nếu đề xuất một mức giảm cố định thì không linh hoạt, phải điều chỉnh nhiều lần. Đề xuất giảm thuế TNDN này áp dụng đối với những DN đang trong diện được giãn. Chính phủ chỉ có thẩm quyền cho giãn thuế TNDN, còn nếu muốn miễn hay giảm thì phải đưa ra Quốc hội quyết định.
Theo các chuyên gia kinh tế, việc Chính phủ thực hiện giãn, và đề xuất giảm thuế cho DN sẽ khiến nguồn thu ngân sách bị ảnh hưởng. Nhưng về lâu dài, chính sách giảm thuế sẽ kích thích sản xuất và phát triển, tăng cường nguồn vốn cho DN tái đầu tư vào sản xuất kinh doanh và giúp bồi dưỡng nguồn thu.
Đồng thời, phải lưu ý đến việc đơn giản thủ tục hành chính vì nếu chính sách miễn giảm thuế TNDN đã được ban hành song nếu quy trình, thủ tục nộp, miễn giảm thuế phức tạp sẽ khiến DN bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, cơ hội được hỗ trợ.
Nộp thuế TNDN nhiều là hành động anh hùng cần được vinh danh
Trong bối cảnh Nhà nước phải sử dụng việc miễn giảm thuế TNDN để hỗ trợ DN như vậy, nhiều DN vẫn nộp thuế đầy đủ, đúng hạn và nộp thuế nhiều. Sắp tới, Bảng xếp hạng Top 1000 DN nộp thuế thu nhập lớn nhất Việt Nam trong ba năm liên tục (V1000) do Công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) phối hợp với Báo VietNamNet công bố lần thứ hai để ghi nhận và tôn vinh các doanh nghiệp có kết quả kinh doanh tốt, tuân thủ luật pháp, chính sách về thuế và đóng góp thuế thu nhập lớn nhất trong ba năm liên tiếp cho ngân sách Nhà nước. Từ phía Nhà nước đã có biện pháp kích thích sản xuất và phát triển bằng công cụ thuế thì từ phía xã hội cũng nên có biện pháp kích thích sản xuất và phát triển một phần bằng cách vinh danh các doanh nghiệp nộp thuế nhiều.
Có ý kiến cho rằng trước đây trong thời chiến những người cầm súng là anh hùng thì thời bình ai tổ chức làm ăn hiệu quả, đóng góp lớn cho ngân sách, nộp thuế nhiều là một hành động anh hùng. Dù có nói yêu nước cỡ nào mà không có hành động cụ thể, không đóng góp một đồng cắc cho đất nước cũng chỉ là nói suông. Đừng quên rằng tất cả mọi chi tiêu công cộng, ngân sách Nhà nước đều từ nguồn nộp thuế, trong đó có thuế TNDN mà ra. Muốn đất nước phát triển, hành động thiết thực nhất để đóng góp xây dựng đất nước là nộp thuế như nhiều DN và cá nhân đã thực hiện trong thời gian qua./.
Thursday, July 28, 2011 10:41:13 AM
đào tạo luật
Một trong những yêu cầu về kiến thức của Chuẩn đầu ra của Thạc sỹ Luật học là “Có năng lực thực hành tốt, có khả năng phát hiện và vận dụng được kiến thức pháp luật, lý luận và phương pháp luận để giải quyết một số vấn đề học thuật và thực tiễn thuộc chuyên ngành Luật”. Việc học viên có đáp ứng được yêu cầu này hay không được thể hiện rõ nhất thông qua luận văn Cao học Luật (Luận văn).
Luận văn là chuyên khảo sâu về một vấn đề pháp lý cụ thể, chứng tỏ học viên đã nắm vững kiến thức đã học, nắm được phương pháp nghiên cứu và có kỹ năng năng thực hành về vấn đề nghiên cứu, được bảo vệ trước Hội đồng để lấy học vị Thạc sỹ.
Mục đích chính của Luận văn là (i) học tập; (ii) phản ánh kết quả học tập; (iii) đồng thời cũng là một công trình nghiên cứu khoa học - thể hiện sự độc lập, sự tìm tòi, sáng tạo và tinh thần làm việc cùng những ý tưởng khoa học của người viết. Bởi Luận văn là một công trình khoa học nghiêm túc nên đòi hỏi phải đạt ba yêu cầu sau: thứ nhất, Luận văn phải có ý nghĩa khoa học, giá trị thực tiễn; thứ hai, số liệu và các nguồn trích dẫn phải chính xác và đáng tin cậy; văn phong phải mạch lạc, chuẩn xác; thứ ba, Luận văn phải được trình bày đúng quy định và thể hiện người viết có phương pháp nghiên cứu.
Hội đồng chấm Luận văn sẽ đánh giá ý nghĩa khoa học của Luận văn thể hiện qua việc Luận văn có làm rõ được một số vấn đề lý thuyết đang tồn tại; đưa ra những phát triển mới nhất, những bổ sung cho lý thuyết khoa học pháp lý về vấn đề nghiên cứu…hay không. Giá trị thực tiễn của Luận văn thể hiện ở chỗ Luận văn có đưa ra đề xuất khả thi để giải quyết các vấn đề, khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật về vấn đề nghiên cứu hay không.
Sau đây là một số gợi ý để giúp học viên có những định hướng cụ thể khi viết Luận văn và viết, bảo vệ Luật văn đạt kết quả tốt.
1. Về tên đề tài Luận văn
Khi học viên bảo vệ Đề cương, Hội đồng chủ yếu xem xét tính khả thi của việc thực hiện đề tài dựa trên các yếu tố như (i) đề tài có thuộc chuyên ngành đào tạo hay không; (ii) đề tài có quá rộng (không thể bao quát hết trong phạm vi luận văn) hoặc quá hẹp (chỉ có thể là đề tài của một bài báo khoa học); (iii) có đủ điều kiện (cơ sở tài liệu, thông tin..) cho việc hoàn thành đề tài…Hội đồng bảo vệ đề cương luận văn chỉ đưa ra gợi ý về tên đề tài.
Việc đặt tên đề tài một cách chuẩn xác là rất quan trọng. Nếu không xem xét lại kỹ tên đề tài, khi ra đến Hội đồng chấm luận văn, các thành viên Hội đồng vẫn có thể thắc mắc tại sao lại đặt tên đề tài như vậy, đưa ra góp ý về tên đề tài.
Tên đề tài nên chỉ rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu cái gì, còn phạm vi nghiên cứu chỉ rõ giới hạn về mặt không gian, thời gian và quy mô của vấn đề nghiên cứu. Tên đề tài phải ngắn, gọn, súc tích, ít chữ nhất nhưng chứa đựng nhiều thông tin nhất. Ngôn ngữ dùng trong tên đề tài phải rõ ràng, chuẩn xác để có thể được hiểu theo một nghĩa duy nhất, không được tạo khả năng hiểu thành nhiều nghĩa.
2. Về xây dựng Đề cương chi tiết của Luận văn
Trên cơ sở tên đề tài luận văn đã được thông qua, học viên xác định đối tượng, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu và lập đề cương nghiên cứu chi tiết. Đề cương nghiên cứu chi tiết cũng chính là bố cục của luận văn, bao gồm các chương, mục phản ánh đối tượng và phạm vi nghiên cứu từ đầu đến cuối một cách logic.
Nguyên tắc phải tuân thủ khi xây dựng đề cương chi tiết là: tên các chương phải phù hợp với tên đề tài (nhưng không được trùng với tên đề tài); tên các mục lớn trong chương phải phù hợp với tên chương; tên các mục nhỏ phải phù hợp với tên các mục lớn (nhưng không được lặp lại tên chương, mục)…
Luận văn không nhất thiết phải tuân theo một cấu trúc hay hình thức tổ chức nào thật sự "cứng". Tuy thế, để đảm bảo tính chất toàn vẹn, và chặt chẽ của các lập luận khoa học, cho tới khi kết luận được các vấn đề nghiên cứu, một cấu trúc tốt sẽ hỗ trợ rất nhiều.
Một Luận văn Cao học Luật, ngoài Phần mở đầu và Kết luận, thường gồm 3 (ba) chương.
Chương 1 thường đề cập đến những vấn đề lý luận chung, như: khái niệm, vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng, những vấn đề cơ bản của vấn đề nghiên cứu; khái quát hoá các lý thuyết, học thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu …
Lưu ý chỉ nên chọn các vấn đề lý luận thật sự có liên quan đến nội dung ở Chương 2. Phần cơ sở lý luận thường được trình bày tràn lan, không có trọng tâm, đôi khi không có liên quan đến nội dung chính của bài. Bên cạnh đó, thường các phần trình bày trong các chương không có liên hệ, bổ sung cho nhau. Về nguyên tắc, tất cả những điều trình bày trong luận văn phải có liên hệ với nhau để phục vụ mục tiêu nghiên cứu của luận văn.
Chương 2 thường dành để phân tích thực trạng pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật về vấn đề nghiên cứu, chỉ ra những vấn đề, khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật và nguyên nhân của vấn đề, khó khăn, vướng mắc này…
Chương 3 nêu lên quan điểm, phương hướng, mục tiêu hay dự báo tình hình, nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật và đề xuất các giải pháp giải quyết vấn đề.
Trong mỗi chương không nên có quá nhiều mục lớn mà nên bố cục khoảng 3 mục.
Để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp, có thể có thêm phần kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của các nước trên thế giới. Nếu không có nhiều quan điểm, phương hướng, đề xuất hay kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của các nước trên thế giới để đưa thành một chương riêng có thể gộp nội dung Chương 3 vào Chương 2.
Khái niệm cân đối của Luận văn không phải là Chương đầu dài bằng Chương giữa dài bằng Chương cuối. Độ dài của các chương, mục của Luận văn là do 2 yếu tố quyết định: (i) Tầm quan trọng của vấn đề đang xem xét; và (ii) Số lượng kết quả, kết luận thu được trong quá trình nghiên cứu.
Viết thế nào là dài, thế nào là ngắn thì được đúc kết bởi câu nói nổi tiếng của John Kennedy như sau: "Độ dài của văn viết giống như váy của phụ nữ vậy. Đủ dài để che. Nhưng đủ ngắn để thú vị".
3. Về Phần mở đầu của Luận văn:
Phần mở đầu của Luận văn là phần rất quan trọng. Trong đa số các trường hợp, người đọc chỉ cần tham khảo Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo là có thể đánh giá được Luận văn có đạt chất lượng hay không. Tất nhiên, việc đạt chất lượng ở mức nào thì phải xem xét cụ thể các chương trong Luận văn đó.
Phần mở đầu là những lời giới thiệu sơ khởi, dẫn dắt người đọc đến nội dung, tạo mối dây liên hệ giữa Luận văn và người đọc nên nó có vai trò quyết định trong việc tạo ra ấn tượng tốt hoặc không tốt đối với Luận văn.
Trong Phần mở đầu, thông thường người viết cần phải nêu các nội dung sau:
- Lý do nghiên cứu (Tính cấp thiết, tầm quan trọng của đề tài)
- Tình hình nghiên cứu
- Mục đích, đối tượng nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu
- Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Bố cục của đề tài
Lý do nghiên cứu (Tính cấp thiết, tầm quan trọng của đề tài): Cần trả lời được câu hỏi là tại sao phải thực hiện đề tài đã chọn cả về phương diện lý thuyết và thực tiễn.
Một dẫn dắt tốt sẽ giúp người đọc hiểu rõ xuất xứ vấn đề học viên nghiên cứu, loại bỏ cảm giác học viên viết Luận văn chỉ để cho có. Mặc dù việc viết Luận văn là bắt buộc để đủ điều kiện xét cấp bằng Thạc sỹ Luật học, nhưng người viết không nên đưa lý do này là lý do nghiên cứu. Thay vào đó, người viết nên tập trung chỉ ra những nguyên nhân, động cơ khoa học, tức là những nguyên nhân, động cơ phát sinh trong quá trình người viết học tập, nghiên cứu khoa học luật.
Tình hình nghiên cứu là phần quan trọng, tổng hợp các kết quả nghiên cứu (lý thuyết và ứng dụng) với đề tài đang theo đuổi; so sánh các công trình để tìm ra hướng đi phù hợp với điều kiện cụ thể của tác giả luận văn.
Việc tìm hiểu rõ tình hình nghiên cứu đề tài giúp người viết luận văn nắm được những nội dung mà các nghiên cứu trước đây đã thực hiện, đã hoàn thành để biết những nội dung nào đã được nghiên cứu, những nội dung nào còn dang dở, chưa được nghiên cứu. Thông qua việc xác định tình hình nghiên cứu, người viết có thể tiếp cận vấn đề một cách toàn diện, có hệ thống; đồng thời có thể xác định được tính mới của đề tài (bởi không có đề tài, nội dung nghiên cứu nào là “hoàn toàn mới” mà chủ yếu là nghiên cứu ở góc độ mới, làm cầu nối trong những “bờ” khoa học, điểm giao giữa các chuyên ngành hẹp, khả năng ứng dụng để giải quyết hoặc góp phần giải quyết một vấn đề mà thực tiễn đặt ra.
Mục tiêu của đề tài : Có thể lồng vào phần Tầm quan trọng của đề tài hay tách riêng. Phần này cho biết mục tiêu của đề tài là nghiên cứu vấn đề gì. Nếu cần, có thể chia ra thành mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể. Các mục tiêu cụ thể phải logic để phục vụ mục tiêu tổng quát.
Việc xác định mục đích, đối tượng nghiên cứu có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì nó định hình “hướng đi” cho đề tài. Nghiên cứu là một hoạt động có mục đích, do vậy, không thể có một kết quả tốt nếu không có mục đích, mục tiêu rõ ràng.
Phạm vi nghiên cứu: Việc xác định phạm vi nghiên cứu chính xác giúp người viết xây dựng Đề cương chuẩn xác với các yếu tố thời gian, không gian, đối tượng nghiên cứu, giới hạn nội dung nghiên cứu. Những điều này sẽ “định khung” phạm vi ranh giới để làm rõ nội dung trọng tâm. Đồng thời nó giúp loại trừ những nội dung “ngoại biên”, “lân cận” của đề tài mà giáo viên phản biện có thể đặt câu hỏi “Tại sao vấn đề này có liên quan mà không thấy đề cập trong luận văn?”.
Ở đây có thể xác định nội hàm của đề tài thông qua các khái niệm cơ bản trong tiêu đề hoặc liên quan đến nội dung đề tài.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu : Trình bày phương pháp luận và các phương pháp được sử dụng để giải quyết vấn đề đặt ra của Đề tài nhằm đạt được mục tiêu tổng quát. Phần này mô tả các công cụ nghiên cứu người viết cần đến, và sẽ sử dụng trong quá trình tìm kiếm kết quả. Nó giúp người viết đi đến đích, và giúp người thẩm định biết người viết có biết cách dùng công cụ khoa học không, hoặc có ý thức sử dụng đúng công cụ không.
Bố cục của Đề tài : Trình bày sơ lược nội dung các chương, nhưng phải thể hiện được tính logic giữa các chương. Không nên trình bày theo kiểu liệt kê mà phải thể hiện được sự liên kết giữa các chương.
4. Văn phong của luận văn
Luận văn phải được viết bằng một thứ tiếng Việt chuẩn xác, rõ ràng, mạch lạc. Văn phong của Luận văn Cao học Luật phải thể hiện sự nghiêm túc, giản dị, khoa học; tránh sử dụng ngôn ngữ báo chí. Trong Luận văn, người viết chủ yếu đưa ra, trình bày các khái niệm, quy định pháp luật, những luận cứ, luận chứng, một cách khách quan, rồi phân tích, lập luận, chứng minh để rút ra những kết luận có sức thuyết phục. Lời văn trong Luận văn khoa học chủ yếu được dùng ở thể bị động , nên tránh dùng đại từ nhân xưng mà dùng tác giả, người viết luận văn này…
Điều cần lưu ý là khi tác giả viết ra thì tác giả có thể hiểu dễ dàng. Tuy nhiên, người đọc đôi khi không hay khó hiểu. Chính vì lý do này nên người viết cần giải thích - càng ngắn gọn, súc tích càng tốt - về những điều được trình bày. Đối với những vấn đề quá đơn giản, cũng có thể không cần giải thích.
5. Về bảo vệ Luận văn
Có thể làm Tóm tắt Luận văn Thạc sỹ khoảng 15 trang để dùng trong buổi bảo vệ. Yêu cầu của Tóm tắt là ngắn gọn, cô đọng, nêu được cấu trúc của Đề tài, nêu bật được những nội dung chính của Luận văn, nhấn mạnh được những nội dung cần thiết, những kết luận rút ra sau khi nghiên cứu đề tài cùng với các giải pháp, đề xuất, kiến nghị. Trước buổi bảo vệ, học viên nên trình bày thử để đảm bảo không vượt quá 10 phút.
Học viên phải trình bày trước Hội đồng một cách rõ ràng, mạch lạc (tốt nhất không cầm giấy đọc) thể hiện mình nắm chắc vấn đề nghiên cứu, đảm bảo không vượt quá thời gian cho phép. Sau khi nghe trình bày, các thành viên Hội đồng sẽ đặt câu hỏi để kiểm tra kiến thức và cho điểm. Điểm đánh giá của các thành viên Hội đồng sẽ theo các tiêu chí: hình thức; hàm lượng kiến thức, nội dung khoa học của Luận văn; ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài (tính khả thi của các đề xuất, kiến nghị); việc sử dụng nhuần nhuyễn các phương pháp nghiên cứu; việc trình bày trước Hội đồng, trả lời câu hỏi của học viên.
Một Luận văn được đánh giá là tốt, không những phải có nội dung (có giá trị khoa học và thực tiễn) mà còn phải có bố cục hợp lý, cân đối, hình thức đẹp, trình bày và đánh máy đúng quy định cũng tức là thể hiện tác giả có biết cách nghiên cứu. Ngoài ra, đề tài mới mẻ, có tính thời sự, ít người nghiên cứu, người viết có những ý tưởng sáng tạo và độc lập … cũng được đánh giá cao./.
(Những gợi ý này được đưa ra trên cơ sở tham khảo bài viết của GS-TS. Hoàng Văn Châu, cuốn sách “Để hoàn thành tốt luận văn ngành luật” của TS. Phan Trung Hiền và một số bài viết trên Internet)
Sunday, July 17, 2011 12:48:15 PM
Doanh nghiệp và thương hiệu
Trong một thế giới phẳng, việc các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài là xu thế tất yếu, đồng thời là lựa chọn phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế nước ta hiện nay nhằm tận dụng có hiệu quả tài nguyên tại chỗ (địa bàn tiếp nhận vốn đầu tư), mở rộng thị trường, cũng như đẩy mạnh quảng bá, tiếp thị hình ảnh Việt Nam.
Các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng mà mạnh nhất là thăm dò và khai thác dầu khí, sản xuất và chế biến hàng gia dụng, sản xuất vật liệu xây dựng chiếm gần một nửa số dự án và gần 70% số vốn, tiếp theo là các lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ. Vốn đầu tư nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tập trung vào các thị trường truyền thống trong đó đứng đầu là Lào, Cambodia, Liên bang Nga. Đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ có những chuyển hướng vào các nước Mỹ La tinh, Đông Âu, châu Phi với các dự án như dự án thăm dò và khai thác dầu khí trên cơ sở hợp tác giữa Việt Nam và các nước Cuba, Vênêzuêla…
Một xu hướng định vị hình ảnh doanh nghiệp nói riêng, Việt Nam nói chung trên bản đồ kinh tế thế giới đang được thúc đẩy mạnh mẽ và có hiệu quả. Tuy nhiên việc quảng bá và xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường nước ngoài còn rất nhiều điều phải bàn.
1. Những khó khăn khi quảng bá và xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp Việt tại thị trường nước ngoài
Quảng bá được hiểu là việc giới thiệu những thương hiệu doanh nghiệp đã có tiếng ở trong nước nhưng chưa được biết đến ở nước ngoài. Xây dựng thương hiệu nhiều khi là việc tạo dựng hình ảnh của doanh nghiệp trong lòng khách hàng cả ở trong nước và ngoài nước.
Để lập và thực hiện thành công một kế hoạch quảng bá và xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường nước ngoài, trước hết cần nhận thức được những khó khăn của quá trình này. Quảng bá và xây dựng thương hiệu trong nước đã khó, thực hiện việc này tại các thị trường nước ngoài còn khó khăn hơn gấp nhiều lần, bởi các lý do sau đây:
Thứ nhất, doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, kinh doanh ở thị trường nước ngoài còn yếu về năng lực cạnh tranh.
Doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài tuy là doanh nghiệp lớn ở Việt Nam nhưng chỉ là doanh nghiệp trung bình ở thị trường nước ngoài. Trừ một số doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Điện lực Việt Nam… đa số các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài có tiềm năng khiêm tốn: vốn ít, khó tiếp cận nguồn vốn, trình độ có hạn, khả năng kinh nghiệm hoạt động trong môi trường kinh doanh quốc tế bị hạn chế, thương hiệu công ty, thương hiệu sản phẩm, dịch vụ chưa có… nên gặp khó khăn trong cạnh tranh với các nhà đầu tư đến từ các nước khác trong giành thầu, thực hiện liên doanh, liên kết với các đối tác ở nước tiếp nhận vốn đầu tư.
Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc cho thấy, yếu tố quan trọng thúc đẩy sự thành công trong hoạt động đầu tư ra nước ngoài là các quốc gia này đều đã trải qua giai đoạn tập trung tích tụ tài sản thông qua thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành, lĩnh vực hướng tới xuất khẩu để tạo dựng những doanh nghiệp mạnh, có thương hiệu tầm cỡ thế giới, nắm giữ công nghệ nguồn, từ đó mới mở rộng sản xuất và tầm ảnh hưởng ra nước ngoài.
Thứ hai, doanh nghiệp Việt Nam thiếu kinh nghiệm và chưa thực sự quan tâm đến trong quảng bá và xây dựng thương hiệu. Xây dựng và bảo vệ thương hiệu là quá trình liên tục, bền bỉ, đòi hỏi sự quan tâm thích đáng và có những chiến lược cụ thể cho từng doanh nghiệp.Theo thống kê của Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công thương, tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư có phương pháp, kỹ năng để xây dựng thương hiệu mới đạt 20%. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa xây dựng được một thương hiệu truyền tải thông điệp ấn tượng và độc đáo tới các khách hàng hiện tại cũng như các khách hàng tiềm năng tại thị trường trong và ngoài nước để thương hiệu của mình vượt trội hơn so đối thủ cạnh tranh. Các doanh nghiệp cũng chưa nâng cao nhận thức về thương hiệu trong việc quảng bá, bảo vệ; đẩy mạnh việc đăng ký bảo hộ thương hiệu không chỉ ở thị trường trong nước mà cả ở nước ngoài.
Theo số liệu của Bộ Công thương, trong số gần 500.000 doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động, mới có 10% doanh nghiệp có ý thức tự bảo vệ thương hiệu sản phẩm. Doanh nghiệp thờ ơ với việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu vì nhiều lý do khác nhau. Ở các doanh nghiệp nhà nước, do ràng buộc về cơ chế, chính sách, sự bảo hộ và ưu đãi của Nhà nước dẫn đến vấn đề thương hiệu chưa được quan tâm thỏa đáng. Đa số doanh nghiệp Việt Nam có vốn hoạt động khá nhỏ, chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay nên e ngại tốn kém chi phí khi xây dựng, bảo vệ thương hiệu, đặc biệt là ở thị trường nước ngoài.
Thứ ba, doanh nghiệp Việt Nam chưa có sự liên kết trong quảng bá và xây dựng thương hiệu ở nước ngoài. Khác với tập quán của cộng đồng doanh nghiệp Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc hay quy tắc hoạt động của các tập đoàn xuyên quốc gia trên thế giới, doanh nghiệp Việt Nam lại thường hoạt động riêng lẻ, thiếu cơ chế liên kết cũng như cập nhật thông tin tại địa bàn sẽ đầu tư do đó sẽ gặp nhiều khó khăn trong quảng bá và xây dựng thương hiệu.
Thứ tư, doanh nghiệp Việt Nam chưa nhận được sự hỗ trợ thích đáng để quảng bá và xây dựng thương hiệu ở nước ngoài. Nếu ở các quốc gia khác, sau khi cơ quan phi chính phủ, hiệp hội các doanh nghiệp nhận được danh mục các cơ hội đầu tư ở nước ngoài, họ tổ chức cho các doanh nghiệp đi tìm hiểu môi trường đầu tư ở nước ngoài, còn ở Việt Nam chỉ mới thực hiện xúc tiến để thu hút đầu tư nước ngoài vào ngành, địa phương, chứ việc xúc tiến đầu tư ra nước ngoài chưa được tổ chức vì chưa có chiến lược và chưa được quan tâm.
Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng với nền kinh tế thế giới, đòi hỏi Việc Nam phải có được những thương hiệu mang tầm toàn cầu là đầu tàu kéo doanh nghiệp, sản phẩm trong nước vươn ra biển lớn. Tuy nhiên, thực tế có rất ít doanh nghiệp Việt Nam đủ điều kiện để vươn ra thị trường toàn cầu. Việc xây dựng thương hiệu toàn cầu đòi hỏi doanh nghiệp phải có qui mô lớn, tiềm lực tài chính mạnh, có sự khác biệt… và cần có sự trợ giúp từ môi trường kinh doanh, quảng bá thương hiệu ra thị trường nước ngoài từ phía Chính phủ và cơ quan chức năng, các hiệp hội ngành hàng.
Thứ năm, đã có nhiều thương hiệu nổi tiếng toàn cầu hoặc thương hiệu bản địa đã hiện diện trên thị trường. Chúng ta chưa có nhiều những thương hiệu đủ mạnh để có thể cạnh tranh ngang ngửa với các tên tuổi nước ngoài trên thị trường. Chính vì vậy, cùng một sản phẩm không hơn kém nhau về chất lượng và có khi những sản phẩm này của doanh nghiệp Việt Nam xuất hiện trước từ rất lâu, nhưng do sự nhận biết của người tiêu dùng đối với tên tuổi của sản phẩm, của doanh nghiệp Việt Nam ít hơn nên thị phần của các sản phẩm Việt Nam nhỏ hơn. Từ đó, nhiều sản phẩm cứ phải loanh quanh ở một thị trường nhất định, phải chấp nhận bán giá rẻ hơn đối thủ… Đây là một sự yếu kém, thua thiệt không chỉ cả trong nước mà cả ở thị trường nước ngoài.
Kinh nghiệm ở các nước phát triển cho thấy, việc đăng ký bảo hộ thương hiệu phải được tiến hành đồng thời với việc quảng bá và đưa sản phẩm thâm nhập thị trường, thậm chí việc đăng ký thương hiệu phải đi trước một bước. Thực tế thời gian qua ở nước ta cho thấy, nhiều mặt hàng của Việt Nam chất lượng không thua kém hàng hóa của nước ngoài nhưng giá cả thấp hơn so với sản phẩm cùng loại của các quốc gia khác do doanh nghiệp chưa chú trọng trong công tác thương hiệu, chưa có hành động tích cực trong việc quảng bá thương hiệu.
2. Một số gợi ý về việc quảng bá và xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường nước ngoài
Xây dựng thương hiệu tại thị trường nước ngoài phải là một trong những nội dung hoạch định chiến lược của doanh nghiệp khi quyết định đầu tư ra nước ngoài, bao gồm những nội dung như cách thức quảng bá thương hiệu, các kênh tiếp cận, chi phí…
Trước hết, doanh nghiệp cần nhận thức rõ ý nghĩa của việc quảng bá và xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường nước ngoài. Cần có nhận thức đúng và đầy đủ về thương hiệu, xem thương hiệu là tài sản quí của doanh nghiệp cần phải bảo vệ, quảng bá và phát triển nó, coi việc phát triển thương hiệu là việc sống còn của doanh nghiệp, là hoạt động mang tính chiến lược trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.Đầu tư ra nước ngoài giúp các công ty phát triển vốn vô hình của mình: thương hiệu, công nghệ, bí quyết công nghệ. Ví dụ: thương hiệu cà phê Trung Nguyên, Phở 24, bệnh viện Châm cứu…
Doanh nghiệp cũng cần nâng cao năng lực cạnh tranh, đầu tư nâng cấp đổi mới công nghệ, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, giá rẻ phù hợp với thị hiếu từng phân khúc thị trường nhằm tạo ra hình ảnh đẹp về thương hiệu sản phẩm và khi đã tạo được thương hiệu thì tiến hành ngay công tác đăng ký thương hiệu ở thị trường trong nước và thị trường nước ngoài và cả ở thị trường tiềm năng mà doanh nghiệp sắp hướng tới để tránh trường hợp thương hiệu bị đánh cắp.
Doanh nghiệp cũng có thể tích cực tham gia các hội chợ thương mại trong và ngoài nước nhằm quảng bá sản phẩm của mình đến với người tiêu dùng, không ngừng mở rộng mạng lưới bán hàng, không ngừng bảo vệ và nâng cao uy tín thương hiệu.
Khi đầu tư, kinh doanh ở thị trường nước ngoài, doanh nghiệp cần phải dựa trên những nghiên cứu và phân tích vững chắc để trả lời những câu hỏi sau:
- Có cần thiết quảng bá, xây dựng thương hiệu ở thị trường nước ngoài không?
- Thị trường nước ngoài nào hấp dẫn nhất?
- Những phân khúc nào trong các thị trường đó khả thi nhất căn cứ vào những điểm mạnh hiện tại của công ty? Những phân khúc này ổn định hoặc đang trên đà phát triển?
- Khi quảng bá và xây dựng thương hiệu ở thị trường nước ngoài, doanh nghiệp có thể sẽ gặp những rủi ro gì?
- Sản phẩm của doanh nghiệp sẽ được phân phối như thế nào?
- Doanh nghiệp có thể điều chỉnh, thay đổi sản phẩm để thỏa mãn và phù hợp với thị hiếu của khách hàng địa phương như thế nào?
Mô hình bốn chữ P trong marketing hỗn hợp - Product (sản phẩm), Place (phân phối), Price (giá), và Promotion (hỗ trợ bán hàng) như các công cụ mà doanh nghiệp dùng để theo đuổi các mục tiêu của mình trong những thị trường mà họ nhắm đến sẽ phát huy tác dụng trong cả kinh doanh trong nước lẫn kinh doanh ở ngoài nước. Đối với các doanh nghiệp đang có một kế hoạch mở rộng thị trường ra nước ngoài thì việc xây dựng một chiến lược marketing toàn cầu là một trong những việc nên làm đầu tiên, sau khi đã xác định cho mình một thị trường mục tiêu ở nước ngoài. Các chuyên gia khuyến cáo rằng các doanh nghiệp nên có một thị trường và chỗ đứng vững chắc ở thị trường nội địa trước khi khảo sát và đưa ra một chiến lược marketing toàn cầu, tránh những sai lầm và đổ vỡ cấu trúc của cả một hệ thống thương hiệu.
Về phía Nhà nước, để hỗ trợ cho doanh nghiệp quảng bá và xây dựng thương hiệu ở thị trường nước ngoài cần có chiến lược cũng như biện pháp cụ thể để hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký, quản lý và bảo vệ thương hiệu ở thị trường trong nước và thị trường nước ngoài, trước hết là đối với những thương hiệu đã có vị trí trên thị trường; nới lỏng biện pháp tài chính cho doanh nghiệp bằng cách không nên khống chế giới hạn về chi phí cho quảng cáo sản phẩm ở mức 5% so với tổng chi phí như hiện nay.
Theo chúng tôi, cần thống nhất quan điểm coi mỗi nhà đầu tư là một sứ giả đại diện cho hoạt động kinh tế của Việt Nam ở nước ngoài. Với quan điểm này Nhà nước phải xây dựng cơ chế buộc các cơ quan đại diện ngoại giao, kinh tế của Việt Nam ở nước ngoài phải nắm được tình hình hoạt động của các nhà đầu tư Việt Nam ở nước mình phụ trách, kịp thời giúp đỡ giải quyết các khó khăn vướng mắc. Ngược lại Nhà nước phải có biện pháp chế tài buộc các nhà đầu tư có nghĩa vụ thông báo định kỳ tình hình triển khai dự án với đại sứ quán hoặc đại diện thương mại của Việt Nam ở nước ngoài./.
Sunday, July 17, 2011 10:41:14 AM
M&A
Sáp nhập và mua lại doanh nghiệp (Merge and Acquisition - M&A) là một lĩnh vực tương đối mới mẻ ở Việt Nam và đang thu hút sự quan tâm của các chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư và các nhà nghiên cứu.
Về lý thuyết, sáp nhập và mua lại doanh nghiệp (M&A) được xem xét dưới 2 góc độ chủ yếu là góc độ kinh tế (như một vấn đề của quản trị chiến lược công ty và tài chính doanh nghiệp) và góc độ pháp lý (như khung pháp lý để thực hiện giao dịch M&A).
Ngoài việc được dịch là “sáp nhập và mua lại”, Merge and Acquisition - M&A còn được dịch là “mua lại và sáp nhập” , “mua bán và sáp nhập” hay “thâu tóm và hợp nhất” công ty để chỉ hoạt động kinh doanh và quản trị rất phổ biến ở các nền kinh tế phát triển. Trong đề tài này, chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ “sáp nhập và mua lại” để dịch cụm từ M&A với nghĩa kinh tế - để chỉ một hiện tượng khách quan mà pháp luật phải hướng tới điều chỉnh. Đồng thời, chúng tôi lưu ý sử dụng tách riêng “sáp nhập” và “mua lại” với nghĩa pháp lý để phân biệt khi xem xét các quy định của pháp luật liên quan.
Các thuật ngữ “sáp nhập” và “mua lại” thường không có sự phân biệt rõ ràng về nội hàm và thường được sử dụng thay thế lẫn nhau. Phân biệt hai thuật ngữ này là một điều quan trọng khi nghiên cứu về M&A.
1. Khái niệm sáp nhập, mua lại
Theo Từ điển các khái niệm, thuật ngữ tài chính Investopedia, sáp nhập (Mergers) xảy ra khi hai công ty (thường là các công ty có cùng quy mô) đồng ý tiến tới thành lập một công ty mới mà không duy trì sở hữu và hoạt động của các công ty thành phần. Chứng khoán của các công ty thành phần sẽ bị xoá bỏ và công ty mới sẽ phát hành chứng khoán thay thế. Mua lại hay thâu tóm (Acquisitions) là hoạt động thông qua đó các công ty tìm kiếm lợi nhuận kinh tế nhờ quy mô, hiệu quả và khả năng chiếm lĩnh thị trường. Khác với sáp nhập, các công ty thâu tóm sẽ mua công ty mục tiêu, không có sự thay đổi về chứng khoán hoặc sự hợp nhất thành công ty mới .
Theo định nghĩa kỹ thuật do David L.Scott đưa ra trong cuốn Wall Street Words: An A to Z Guide to Investment Terms for Today’s Investor (Từ Phố Wall: Hướng dẫn từ A đến Z về các điều khoản đầu tư cho các nhà đầu tư hiện nay) thì sáp nhập là sự kết hợp của hai hay nhiều công ty, trong đó có tài sản và trách nhiệm pháp lý của (những) công ty được công ty khác tiếp nhận; mua lại là quá trình mua lại tài sản như máy móc một bộ phận hay thậm chí toàn toàn bộ công ty .
Trong quản trị công ty có hai điểm mấu chốt nhất là quyền sở hữu và người quản lý thì quyền sở hữu vẫn mang ý nghĩa quan trọng hơn cả. Mặc dù xu hướng quản trị hiện đại tách biệt quyền sở hữu và quản lý, nhưng thực chất quyền sở hữu có ý nghĩa quyết định trong việc bầu Hội đồng quản trị và qua đó lựa chọn người quản lý, đồng thời quyết định chiến lược phát triển, phương án phân chia lợi nhuận và xử lý tài sản của công ty. Các khái niệm M&A, sáp nhập/hợp nhất hay mua lại/thâu tóm đều xoay quanh mối tương quan này.
Xét về quản trị công ty, sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành ở các công ty đã cho phép cổ đông có thể thực hiện chuyển nhượng quyền sở hữu của mình đối với công ty mà không hề làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của công ty đó. Cổ phần hóa đã giúp quyền sở hữu công ty trở thành một loại hàng hóa đặc biệt. Đây chính là đối tượng của các hoạt động M&A .
Để phân biệt giữa sáp nhập và mua lại, có cách hiểu như sau: nếu như một công ty chiếm lĩnh được hoàn toàn một công ty khác và đóng vai trò người chủ sở hữu mới thì việc giành quyền kiểm soát công ty đối tác được gọi là mua lại. Trên góc độ pháp lý, công ty bị mua lại sẽ ngừng hoạt động, công ty tiến hành mua lại tiếp quản hoạt động kinh doanh của công ty kia, tuy nhiên cổ phiếu của công ty đi mua lại vẫn được tiếp tục giao dịch bình thường . Tóm lại, mua lại hay thâu tóm là khái niệm được sử dụng để chỉ một doanh nghiệp tìm cách nắm giữ quyền kiểm soát đối với một doanh nghiệp khác thông qua thâu tóm toàn bộ hoặc một tỷ lệ số lượng cổ phần hoặc tài sản của doanh nghiệp mục tiêu đủ để có thể khống chế toàn bộ các quyết định của doanh nghiệp đó .
Mua lại cũng là hoạt động xảy ra khi một doanh nghiệp mua lại một phần /toàn bộ cổ phần hay toàn bộ tài sản của một doanh nghiệp khác, coi đó như một chi nhánh của mình, doanh nghiệp đi mua lại và doanh nghiệp mục tiêu vẫn có thể tồn tại và độc lập về mặt pháp lý. Thương hiệu của doanh nghiệp bị mua lại có thể được giữ nguyên hay bị thay đổi tùy theo quyết định của doanh nghiệp tiến hành mua lại. Mục tiêu của doanh nghiệp đi mua lại doanh nghiệp khác là nhằm đạt được lợi thế quy mô, tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và tăng thị phần.
Trong hoạt động mua lại, một công ty có thể mua lại một công ty khác bằng tiền mặt, cổ phiếu hay kết hợp cả hai loại trên. Một hình thức khác phổ biến trong những thương vụ mua bán nhỏ hơn là mua tất cả tài sản của công ty bị mua. Ví dụ như Công ty X mua tất cả tài sản của công ty Y bằng tiền mặt, đồng nghĩa với việc Công ty Y chỉ còn lại tiền mặt và nợ (nếu như có nợ trước đó). Công ty Y cuối cùng sẽ thanh lý hoặc sẽ phải chuyển sang lĩnh vực kinh doanh khác.
Có thể phân biệt sáp nhập với hợp nhất là hoạt động xảy ra khi các doanh nghiệp, thường là các doanh nghiệp trong cùng một ngành, đồng ý hợp lại thành một doanh nghiệp mới có quy mô lớn hơn và có sức cạnh tranh cao hơn. Kết quả của việc sáp nhập là cho ra đời một công ty mới, khác biệt với công ty trước khi hợp nhất. Công ty mới này có thể sử dụng một tên hoàn toàn khác so với các công ty hợp nhất hoặc tên của công ty mới là sự kết hợp tên của các công ty hợp nhất. Cho dù có thay đổi hoặc không thay đổi tên doanh nghiệp sau khi hợp nhất, nhưng thương hiệu của doanh nghiệp cũ vẫn được duy trì và phát triển.
Ở nghĩa rộng và được chấp nhận phổ biến ở các nước có nền kinh tế phát triển, một thương vụ được coi là sáp nhập (merger) hay mua lại (acquisition) phụ thuộc vào việc, thương vụ đó có được diễn ra một cách thân thiện (friendly takeover) giữa hai bên hay diễn ra một cách thù địch (hostile takeover) . Giao dịch sáp nhập và mua lại thù địch là khi một doanh nghiệp thực hiện sáp nhập, mua lại mà doanh nghiệp đối tượng/mục tiêu không chấp nhận.
Về mặt bản chất khái niệm và hệ quả pháp lý, sáp nhập/ hợp nhất và mua lại/thâu tóm là khác biệt; tuy nhiên nếu xét về tác động thực tế đối với quản trị công ty thì ranh giới phân biệt giữa chúng nhiều khi lại rất mỏng manh. Chẳng hạn trong trường hợp việc thâu tóm 100% công ty mục tiêu được thực hiện thông qua phương thức hoán đổi cổ phiếu (stock swap) thì vụ sáp nhập đó không có gì khác so với một vụ hợp nhất. Công ty chủ động sáp nhập không sử dụng thặng dư vốn của mình để mua 100% cổ phần của công ty mục tiêu, mà sẽ cho phép cổ phiếu của công ty mục tiêu được hoán đổi (theo tỷ lệ hợp lý dựa trên giá thị trường) thành cổ phiếu của mình. Kết quả, cổ đông của công ty mục tiêu cũng sẽ trở thành một bộ phận cổ đông của công ty sáp nhập. Phương thức này cũng được sử dụng trong các vụ hợp nhất. Cổ đông của hai công ty cũ đều trở thành cổ đông của công ty mới với số cổ phiếu đã được hòa nhập theo một tỷ lệ nhất định tương ứng với thị giá cổ phiếu họ sở hữu trước đây .
2. Sự cần thiết điều chỉnh sáp nhập, mua lại
Sự cần thiết điều chỉnh sáp nhập, mua lại trước hết xuất phát từ chính ý nghĩa quan trọng của giao dịch này đối với việc thu hút đầu tư nước ngoài và như công cụ tài chính, công cụ chiến lược của các doanh nghiệp Việt Nam.
M&A như một loại hình đầu tư trực tiếp sẽ chỉ có thể hoạt động vận hành tốt trong bối cảnh tình hình chính trị - xã hội ổn định, trong khung khổ pháp luật về dân sự ổn định, tiên liệu trước và phù hợp với các thông lệ quốc tế, cụ thể gồm có: các nguyên tắc giao kết hợp đồng, hiệu lực thực thi hợp đồng, quyền đăng ký và được đảm bảo về pháp nhân, tài sản, tác quyền, thương hiệu, sở hữu công nghiệp. Đối với nước ta, đây là lĩnh vực tuy còn yếu, nhưng hệ thống luật pháp và các định chế bảo đảm thực thi pháp luật đang ngày càng được hoàn thiện và tuân theo các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO).
Thứ hai, sáp nhập, mua lại là hoạt động chuyển nhượng phần góp vốn và tài sản giữa các chủ sở hữu doanh nghiệp với nhau đa phần mang tính chất thuần túy dân sự, theo nguyên tắc tự nguyện và dựa vào thỏa thuận hợp đồng. Tuy nhiên, thị trường M&A vẫn cần được giám sát và điều tiết bởi các quy định pháp luật và cơ quan quản lý nhà nước.
Có ý kiến cho rằng, từ phía Nhà nước, cần tập trung điều chỉnh sáp nhập, mua lại doanh nghiệp theo hai nhóm vấn đề sau: (a) các quy định chung áp dụng cho tất cả các thương vụ M&A; (b) các quy định riêng của từng ngành áp dụng đặc thù cho M&A của doanh nghiệp trong các ngành đó. Trong nhóm vấn đề thứ nhất, hai nội dung chủ yếu cần chú ý là (i) chống hạn chế cạnh tranh và (ii) bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số và minh bạch hóa giao dịch của các bên liên quan.
Chống hạn chế cạnh tranh thông qua giao dịch sáp nhập, mua lại làm nảy sinh nhu cầu điều chỉnh sáp nhập, mua lại thông qua pháp luật cạnh tranh.
M&A lại có thể gây biến đổi một cách bất lợi đối với cấu trúc cạnh tranh của thị trường khi hai công ty có quy mô lớn trong cùng một thị trường liên quan hay một chuỗi giá trị kết hợp với nhau để tạo ra một vị thế độc quyền trong phân khúc thị trường hay chuỗi giá trị đó. Hành vi này được coi là “tập trung kinh tế”, về lý thuyết khi một công ty hoặc nhóm công ty nắm được 25% thị phần (theo Luật Cạnh tranh năm 2004 ở Việt Nam là từ 30%) là đã có thể có những hành vi mang tính độc quyền đối với toàn thị trường như đầu cơ, giảm sản lượng nhằm ép giá cao đối với nhà cung cấp hoặc nhà phân phối, hoặc bán phá giá để loại bỏ đối thủ cạnh tranh. Điều nghịch lý nằm ở chỗ việc mở rộng “lợi thế kinh tế nhờ quy mô” và tập trung vốn để tăng cường sức cạnh tranh, bành trướng thị phần lại chính là các lý do chính để doanh nghiệp đi đến quyết định thực hiện M&A. Các Mác đã nêu ra nghịch lý không thể đảo ngược là cạnh tranh làm phát sinh tập trung kinh tế, tập trung kinh tế lại tiêu diệt cạnh tranh. Một cách để hạn chế nghịch lý này là đưa vào trong chính sách bảo vệ cạnh tranh một cơ chế kiểm soát tập trung kinh tế thật hiệu quả.
Trong một nền kinh tế, việc một doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường sẽ dẫn đến hạn chế cạnh tranh và nếu tồn tại doanh nghiệp có vị trí độc quyền thì chắc chắn sẽ dẫn đến thủ tiêu cạnh tranh. Vì thế Nhà nước cần có cơ chế để kiểm soát các quá trình (đặc biệt là quá trình sáp nhập, mua lại) dẫn đến việc hình thành doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường.
Bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số và minh bạch hóa giao dịch của các bên liên quan làm nảy sinh nhu cầu điều chỉnh sáp nhập, mua lại bằng pháp luật doanh nghiệp, pháp luật chứng khoán.
Bên cạnh đó, cũng cần phân tích những điều kiện mang tính thể chế và pháp lý, cùng các định chế nhà nước và tư nhân cần được xây dựng để thúc đẩy thị trường M&A nói chung phát triển lành mạnh và có hiệu quả để thấy rõ sự cần thiết phải điều chỉnh sáp nhập, mua lại. Thị trường M&A chỉ có thể hình thành và hoạt động hiệu quả khi khung khổ pháp lý được xây dựng đồng bộ và có các cơ quan quản lý nhà nước tham gia giám sát, điều tiết các hoạt động M&A trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền.
Một lý do nữa chứng minh cho sự cần thiết phải thiết lập cơ chế kiểm soát tập trung kinh tế với các giao dịch sáp nhập, mua lại là do những lợi ích kinh tế mà tập trung kinh tế đem lại không quá đương nhiên như người ta vẫn tưởng. Khi đứng trước những dự án kinh tế mới, cần được đảm bảo rằng những dự án đó không có nguy cơ hạn chế cạnh tranh lâu dài hoặc vĩnh viễn, đồng thời phải có khả năng đem lại nhiều lợi ích, ví dụ như lợi thế trong cạnh tranh quốc tế. Ngoài ra, phải thiết lập các công cụ kiểm soát mang tính phòng ngừa đối với tập trung kinh tế là vì tập trung kinh tế có thể được sử dụng để phục vụ cho chủ nghĩa kinh tế theo Robert Thomas Malthus - chủ nghĩa kinh tế chủ trương hạn chế sản xuất.
Sunday, July 17, 2011 10:32:57 AM
M&A
Theo Báo cáo của Công ty PricewaterhouseCoopers (PwC), tổng số lượng giao dịch sáp nhập và mua lại (M&A) tại Việt Nam trong năm 2007 là 113 vụ (tăng nhanh nhất ở khu vực châu Á Thái Bình Dương), trong năm 2008 là 146 vụ (nhiều hơn 26% so với năm 2007). Theo Avalue Vietnam, trong năm 2009 tại Việt Nam ước tính có 287 giao dịch M&A, năm 1010 có 345 vụ giao dịch và số lượng các giao dịch này đang ngày càng nhiều lên . Nhiều hợp đồng sáp nhập, mua lại doanh nghiệp đã được ký kết nhưng chủ yếu là theo các mẫu hợp đồng, thông lệ của nước ngoài mà thiếu sự thấu hiểu về bản chất pháp lý và lý do lựa chọn hình thức pháp lý của giao dịch. Bài viết này đề cập một số vấn đề mà luật sư và các bên liên quan cần lưu ý khi soạn thảo, ký kết hợp đồng sáp nhập, mua lại doanh nghiệp.
Điều đầu tiên cần lưu ý ở đây là không tồn tại loại hợp đồng có tên gọi là “hợp đồng sáp nhập, mua lại doanh nghiệp” mà thuật ngữ “hợp đồng sáp nhập, mua lại doanh nghiệp” được dùng để chỉ hợp đồng chính được ký kết trong giao dịch sáp nhập, mua lại doanh nghiệp bao gồm hai dạng hợp đồng chính là hợp đồng sáp nhập doanh nghiệp và hợp đồng mua lại doanh nghiệp. Cũng cần phân biệt “hợp đồng sáp nhập, mua lại” như hợp đồng chính, là văn bản ghi nhận ý chí cuối cùng của các bên trong giao dịch với “các thỏa thuận trong giao dịch M&A” bởi trong giao dịch M&A các bên có thể ký với nhau rất nhiều hợp đồng, thỏa thuận (ví dụ như Thỏa thuận nguyên tắc, Thỏa thuận không tiết lộ và không cạnh tranh…). Đồng thời, thuật ngữ “sáp nhập” trong bài viết này có thể được hiểu theo nghĩa bao gồm cả “hợp nhất” và “sáp nhập” như hình thức tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh năm 2004 (LCT) và như hình thức tổ chức lại doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 (LDN).
1. Bản chất pháp lý của hợp đồng sáp nhập, mua lại doanh nghiệp
Nghiên cứu bản chất pháp lý của hợp đồng sáp nhập, mua lại doanh nghiệp một phần để trả lời câu hỏi: đây là hợp đồng dân sự hay hợp đồng thương mại để xác định luật điều chỉnh các điều khoản trong hợp đồng là Bộ luật Dân sự hay Luật Thương mại và để xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án hay Trọng tài thương mại khi xảy ra tranh chấp hợp đồng.
Khoản 2 Điều 152 và Khoản 2 Điều 153 LDN có nhắc tới “hợp đồng hợp nhất” và “hợp đồng sáp nhập” như yếu tố quan trọng nhất của thủ tục hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp với các nội dung chủ yếu như: thủ tục và điều kiện hợp nhất/sáp nhập; phương án sử dụng lao động; thời hạn, thủ tục và điều kiện chuyển đổi tài sản, chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu; thời hạn thực hiện; dự thảo Điều lệ công ty…
Theo chúng tôi, hợp đồng hợp nhất, hợp đồng sáp nhập có nhiều nét giống với hợp đồng góp vốn vào công ty, hợp đồng chuyển quyền sở hữu tài sản có đền bù. Góp vốn vào công ty là việc một người chuyển quyền sở hữu đối với tài sản của mình cho một công ty có tư cách pháp nhân để trở thành người có quyền sở hữu đối với một phần vốn góp hoặc cổ phần của công ty đó. Tài sản góp vào công ty có thể là tiền hoặc hiện vật (hiện vật theo nghĩa rộng nhất, tức là tài sản hữu hình hoặc vô hình mà không phải là tiền) . Nội dung quan trọng nhất của hợp đồng hợp đồng hợp nhất, hợp đồng sáp nhập là vấn đề tài sản. Mặc dù pháp luật không có quy định cụ thể, có thể thấy các bên trong hợp đồng hợp nhất và bên bị sáp nhập như người góp vốn vào công ty có những nghĩa vụ tương tự như người bán, đặc biệt là nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu của công ty đối với tài sản góp vốn và nghĩa vụ đảm bảo chất lượng của tài sản. Quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn chỉ được chuyển cho pháp nhân công ty kể từ thời điểm trước bạ sang tên tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nếu tài sản thuộc loại phải đăng ký quyền sở hữu hoặc kể từ thời điểm hoàn thành việc giao nhận tài sản có xác nhận bằng biên bản nếu tài sản không thuộc loại phải đăng ký quyền sở hữu. Điều này có nghĩa là người góp vốn vẫn phải chịu rủi ro về tài sản (dù điều lệ công ty đã thông qua, dù công ty đã đăng ký kinh doanh) cho đến khi hoàn thành xong các thủ tục kể trên.
Điểm khác biệt cơ bản của hợp đồng hợp nhất, hợp đồng sáp nhập với hợp đồng góp vốn là trong hợp đồng góp vốn, chính người góp vốn nhận được chứng nhận phần vốn góp hoặc cổ phần trong công ty; trong các bên trong hợp đồng hợp nhất, bên bị sáp nhập trong hợp đồng sáp nhập sẽ chấm dứt sự tồn tại của mình - chứng nhận phần vốn góp hoặc cổ phần trong công ty sẽ do người chủ sở hữu các bên trong hợp đồng hợp nhất hoặc bên bị sáp nhập nắm giữ.
Căn cứ Ðiều 17 LCT: “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại” và Điều 34 Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh: “Kiểm soát hoặc chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp khác quy định tại Khoản 3 Điều 17 của Luật Cạnh tranh là trường hợp một doanh nghiệp (sau đây gọi là doanh nghiệp kiểm soát) giành được quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp khác (sau đây gọi là doanh nghiệp bị kiểm soát) đủ chiếm được trên 50% quyền bỏ phiếu tại Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị hoặc ở mức mà theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp bị kiểm soát đủ để doanh nghiệp kiểm soát chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp bị kiểm soát nhằm thu được lợi ích kinh tế từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị kiểm soát”. Có thể chia hợp đồng mua lại doanh nghiệp (xếp theo thứ tự mức độ phổ biến trong thực tiễn ký kết) thành: (i) hợp đồng mua bán/chuyển nhượng cổ phần/phần vốn góp (với điều kiện cổ phần/phần vốn góp này phải đủ để chiếm được trên 50% quyền bỏ phiếu tại cơ quan quyết định cao nhất của doanh nghiệp bị mua lại), (ii) hợp đồng mua bán tài sản (với điều kiện tài sản này phải đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại); (iii) hợp đồng mua bán doanh nghiệp . Các hợp đồng kể trên đều là hợp đồng mua bán, hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu tài sản có đền bù – là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán.
Luật Thương mại năm 2005 định nghĩa: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” (Khoản 1 Điều 3) và “Hàng hóa bao gồm: a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; b) Những vật gắn liền với đất đai” (Khoản 1 Điều 3).
Theo chúng tôi, các hoạt động hợp nhất, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp đều là những hoạt động đầu tư, những hoạt động thương mại vì chúng đáp ứng được các yêu cầu về chủ thể (chủ thể của hành vi là thương nhân), về mục đích (nhằm mục đích sinh lợi – có thể nhằm mục đích sinh lợi trực tiếp thông qua việc mua rồi bán lại doanh nghiệp hoặc đây là hành vi thương mại phụ thuộc) . Như vậy, tranh chấp liên quan đến các hợp đồng hợp nhất, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp bên cạnh việc đưa ra giải quyết tại Tòa Kinh tế đều có thể được đưa ra giải quyết tại Trọng tài thương mại . Tuy nhiên, trong điều khoản phạt vi phạm hợp đồng phải căn cứ Bộ luật Dân sự năm 2005 (Khoản 2 Điều 422: “Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận”) để đưa ra mức phạt chứ không phải căn cứ Luật Thương mại (Điều 301: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm”).
2. Vấn đề lựa chọn hình thức pháp lý của hợp đồng mua lại doanh nghiệp
Trong giao dịch sáp nhập, mua lại vấn đề cần quan tâm trước tiên đó là hình thức pháp lý mà pháp luật cho phép để thực hiện giao dịch. Hình thức pháp lý ở đây được hiểu là các trình tự, điều kiện do pháp luật quy định mà các bên tham gia giao dịch phải tuân thủ. Hình thức pháp lý của giao dịch sáp nhập, mua lại sẽ quyết định các công việc cụ thể cần thực hiện cũng như quyết định chúng sẽ được thực hiện như thế nào và tại thời điểm nào.
Với giao dịch hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp, theo quy định của pháp luật chỉ có một dạng hợp đồng hợp nhất, hợp đồng sáp nhập nhưng như đã đề cập ở trên, hợp đồng mua lại doanh nghiệp có thể có nhiều dạng khác nhau. Loại trừ trường hợp hợp nhất, sáp nhập các doanh nghiệp thuộc cùng một chủ sở hữu, trong cùng một Tập đoàn /Tổng công ty, trên thực tế, doanh nghiệp thực hiện việc thâu tóm các công ty khác thường thực hiện việc mua lại, sau đó mới thực hiện (hoặc không thực hiện) việc hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp. Nói cách khác, hợp đồng mua lại doanh nghiệp thường là tiền đề, cơ sở để sau đó thực hiện việc hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp. Theo chúng tôi, trong các vấn đề của hợp đồng mua lại doanh nghiệp, vấn đề lựa chọn hình thức (hay cấu trúc - mua bán/chuyển nhượng cổ phần/phần vốn góp, mua bán tài sản hay mua bán doanh nghiệp) là cực kỳ quan trọng mà luật sư mà các bên tham gia giao dịch cần nắm vững.
Trong trường hợp bán toàn bộ doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước hay một bộ phận của doanh nghiệp nhà nước, thông thường doanh nghiệp mục tiêu sẽ bị “nuốt chửng” và được sáp nhập vào công ty đi mua lại. Nếu chỉ bán một phần công ty của mình cho một đối tác chiến lược, bên bán vừa có thêm nguồn vốn kinh doanh, vừa tiếp thu thêm được những công nghệ và kỹ năng chuyên môn của đối tác. Bên bán hoàn toàn có thể bảo vệ được lợi ích của mình trong doanh nghiệp và mối lo “bị nuốt chửng” sẽ không phải là sự bận tâm chính.
Hợp đồng mua bán/chuyển nhượng cổ phần/phần vốn góp (Share acquisiton) có ưu điểm là: bên bán rũ bỏ hoàn toàn trách nhiệm và nghĩa vụ đối với công ty mục tiêu hay hoạt động kinh doanh sau khi hoàn tất giao dịch (clean break); cơ cấu sở hữu của công ty mục tiêu thay đổi; công ty mục tiêu vẫn là chủ sở hữu tài sản, nhà xưởng …, có trách nhiệm với chủ nợ/bên thứ ba…; chuyển quyền sở hữu đơn giản; chuyển giao các hợp đồng với bên thứ ba: tự động/đơn giản (ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt); không ảnh hưởng nhiều đến vấn đề lao động (do không thay đổi người sử dụng lao động); thuế trực tiếp đánh trên bên bán. Tuy nhiên hình thức thực hiện M&A thông qua mua bán cổ phần/phần vốn góp có nhược điểm là: bên mua gián tiếp tiếp nhận các nghĩa vụ và trách nhiệm (tương ứng với số cổ phần mua); có thể phát sinh các trách nhiệm tiềm ẩn; việc thẩm định hay điều tra mất thời gian hơn để xác định các rủi ro tiềm tàng; bên mua không có quyền lựa chọn tài sản; bên mua sẽ cần nhiều bảo đảm và cam kết từ bên bán liên quan đến công ty mục tiêu (đặc biệt liên quan đến khía cạnh thuế).
Bán cổ phiếu phát hành thêm cho đối tác chiến lược là một cách huy động thêm vốn, nhưng nó có những ảnh hưởng nhất định mà bên bán cần nắm rõ trước khi thực hiện ví dụ như sau khi phát hành thêm cổ phiếu, bên bán sẽ phải chia sẻ quyền kiểm soát doanh nghiệp, cơ cấu tài chính của doanh nghiệp sẽ thay đổi.
Bên bán cần đảm bảo rằng việc bán phần vốn góp, cổ phần được các bên liên quan chấp thuận và hợp pháp. Các bên liên quan bao gồm các thành viên khác trong công ty TNHH, các cổ đông sáng lập hoặc cổ đông lớn trong công ty cổ phần tùy theo quy định trong điều lệ công ty và/hoặc thỏa thuận góp vốn. Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và một số văn bản pháp luật liên quan khác cũng có những điều khoản quy định về thời hạn nắm giữ tối thiểu đối với các cổ đông sáng lập, các giới hạn sở hữu đối với cổ đông nước ngoài...
Hình thức hợp đồng mua bán tài sản (Asset acquisition) có ưu điểm là: bên mua có quyền lựa chọn tài sản; có thể nhận diện các rủi ro và lựa chọn tiếp nhận hay không một số nghĩa vụ; không cần nhiều thời gian cho việc điều tra / thẩm định (do đối tượng mua bán chỉ là tài sản hoặc công việc kinh doanh, trong khi công ty bán vẫn tồn tại và chịu hoàn toàn trách nhiệm /nghĩa vụ với bên thứ ba, thuế …); bên mua không cần nhiều bảo đảm hay cam kết của bên bán (công ty) do không tiếp nhận các trách nhiệm của công ty mục tiêu (trừ một vài trường hợp như tiếp nhận lao động …). Tuy nhiên, hình thức M&A thông qua mua bán tài sản có nhược điểm như: bên bán (công ty) vẫn có trách nhiệm / nghĩa vụ với bên thứ ba, chủ nợ, người lao động …sau khi hoàn tất giao dịch bán tài sản (ngoại trừ có thỏa thuận khác); thủ tục chuyển quyền sở hữu và các hợp đồng với bên thứ ba phức tạp hơn (theo từng loại tài sản, cần chấp thuận của bên thứ ba …); bị đánh thuế hai lần: công ty bên bán phải chịu thuế giá trị gia tăng (VAT) và công ty thuế thu nhập doanh nghiệp trước khi phân phối cổ tức cho cổ đông/thành viên; phát sinh nhiều trách nhiệm đối với người lao động (với bên bán) do không có sự thay đổi về người sử dụng lao động.
Mua bán doanh nghiệp (Business acquisition) chính là sự kết hợp giữa mua tài sản và uy tín kinh doanh, thương hiệu, thị phần…Khác với nhiều quan hệ đầu tư và quan hệ hợp đồng, mua bán doanh nghiệp được là việc chủ sở hữu doanh nghiệp chuyển quyền sở hữu có thu tiền một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp cho người mua. Theo đó, người bán sẽ chấm dứt hoặc thu hẹp hoạt động kinh doanh (tuỳ thuộc vào đối tượng chuyển nhượng là một phần hay toàn bộ doanh nghiệp) còn người mua tiếp nhận doanh nghiệp hoặc phần doanh nghiệp đã mua để tiếp tục khai thác các giá trị của nó vào mục đích kinh doanh. Mua bán doanh nghiệp trước hết mang bản chất pháp lý của quan hệ mua bán - đó là quan hệ chuyển quyền sở hữu có thu tiền, tuy nhiên ở đây đối tượng mua bán không phải là tài sản đơn thuần mà là doanh nghiệp. Khi mua bán doanh nghiệp, bên mua và bên bán không chỉ thoả thuận việc mua bán tài sản hữu hình của doanh nghiệp như dây chuyền sản xuất, thiết bị kỹ thuật, phương tiện vận chuyển…mà còn thoả thuận cả việc mua bán, chuyển nhượng các giá trị tiềm năng của doanh nghiệp như tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, đội ngũ công nhân lành nghề, hệ thống quản lý nghiệp vụ, hệ thống khách hàng, đại lý phân phối…Chính vì vậy, việc mua bán doanh nghiệp không chỉ dẫn đến chuyển giao tài sản hữu hình mà còn dẫn đến chuyển giao quyền và nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp với người thứ ba, bao gồm cả quyền và nghĩa vụ đối với chủ nợ về quyền và nghĩa vụ đối với người lao động, chuyển giao quyền tiếp tục khai thác các giá trị tài sản của doanh nghiệp đã bán.
3. Một số lưu ý về hợp đồng sáp nhập, mua lại doanh nghiệp
Sau khi đã có kết quả thẩm định và xác định giá trị giao dịch, quá trình đàm phán sẽ dẫn đến một kết quả phản ánh tập trung nội dung của giao dịch M&A, đó chính là hợp đồng sáp nhập, mua lại được giao kết giữa các bên. Quá trình đàm phán rất quan trọng đối với giao dịch M&A vì nếu hợp đồng sáp nhập, mua lại không phản ánh đủ và chính xác tất cả các kết quả của những công việc trước đó, các mong muốn và kỳ vọng của các bên hay hạn chế tối đa các rủi ro thì những công việc đã thực hiện sẽ không có giá trị hoặc giảm giá trị đi rất nhiều cũng như mục đích sáp nhập, mua lại có thể bị ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực.
Giao kết hợp đồng là công đoạn cuối cùng của việc thỏa thuận giao dịch M&A. Đó là khi các bên đã hiểu rõ về nhau cũng như hiểu rõ về mục đích và yêu cầu của mỗi bên, hiểu rõ các lợi ích và rủi ro khi thực hiện sáp nhập, mua lại. Hợp đồng sáp nhập, mua lại là sự thể hiện và ghi nhận những cam kết của các bên đối với giao dịch. Nó không chỉ là liên quan đến khía cạnh pháp lý mà là sự phối hợp một cách hài hòa các yếu tố có liên quan đến giao dịch sáp nhập, mua lại khác như tài chính, kinh doanh… Chỉ khi kết hợp một cách hoàn chỉnh các yếu tố có liên quan thì hợp đồng sáp nhập, mua lại mới thật sự là công cụ để bảo đảm quyền lợi cho các bên tham gia giao dịch.
Không có mẫu hợp đồng chung cho tất cả các giao dịch M&A, hợp đồng sáp nhập, mua lại phải được xây dựng riêng cho từng trường hợp cụ thể; quy định đầy đủ các điều khoản cơ bản liên quan đến giao dịch M&A, đưa ra các yêu cầu, lợi ích, sự ràng buộc riêng biệt của doanh nghiệp và thậm chí quy định cả các vấn đề sau giao dịch sáp nhập, mua lại...
Trong pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về hình thức của hợp đồng sáp nhập, mua lại nhưng xuất phát từ tính phức tạp của quan hệ này, có thể thấy chắc chắn hợp đồng phải lập dưới hình thức văn bản để ghi nhận nội dung thoả thuận, làm cơ sở thực hiện hợp đồng.
Nhìn chung, hợp đồng sáp nhập, mua lại bao gồm những nội dung chủ yếu sau: tên, địa chỉ, trụ sở chính của doanh nghiệp bị sáp nhập, mua lại; thủ tục và điều kiện sáp nhập, mua lại doanh nghiệp; phương án sử dụng lao động; thủ tục, điều kiện và thời hạn chuyển giao tài sản, chuyển vốn, cổ phần, trái phiếu của công ty bị sáp nhập, mua lại; thời hạn thực hiện việc sáp nhập, mua lại; trách nhiệm của các bên. Thủ tục và điều kiện sáp nhập, mua lại doanh nghiệp bao gồm các điều khoản tài chính chủ yếu trong giao dịch M&A, cơ cấu của giao dịch M&A.Trách nhiệm của các bên bao gồm quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên, những hành động mà các bên phải thực hiện trước khi hoàn tất giao dịch M&A, các biện pháp để chống lại việc phá vỡ các ràng buộc trách nhiệm.
Để giảm thiểu khả năng xảy ra tranh chấp, hợp đồng sáp nhập, mua lại nên được xây dựng như hồ sơ toàn diện về toàn bộ thoả thuận giữa các bên về mọi khía cạnh của giao dịch. Trong hợp đồng, điều cốt yếu là cần phải xác định rõ ai sẽ mua cái gì, khi nào mua, với giá bao nhiêu và dựa trên những điều kiện nào.
Trong hợp đồng sáp nhập, mua lại có thể xác định những thay đổi lập tức cần phải làm đối với công ty mục tiêu bao gồm các vấn đề như việc từ chức và bổ nhiệm các thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Kế toán trưởng; việc trả các khoản vay ngân hàng và thay đổi cơ cấu công ty mục tiêu.
Trong hợp đồng sáp nhập, mua lại có thể những tuyên bố và cam kết của hai bên, đặc biệt là bên bị sáp nhập/ bên bán về tình trạng và lịch sử của công ty mục tiêu bao gồm tất cả các khoản nợ cùng các khoản bồi hoàn phù hợp. Bên nhận sáp nhập/bên mua cũng có thể đưa ra các tuyên bố liên quan tới tình trạng tài chính và luật pháp của công ty mình. Các tuyên bố và đảm bảo có chức năng cơ bản là phân bổ rủi ro giữa các bên, buộc bên bị sáp nhập/bên bán có trách nhiệm pháp lý với các khoản nợ trước khi hoàn tất hợp đồng sáp nhập, mua lại và buộc bên nhận sáp nhập/bên mua có trách nhiệm pháp lý với những khoản nợ phát sinh sau khi hoàn tất. Việc chia sẻ nghĩa vụ/ nợ không chỉ phụ thuộc vào thỏa thuận của hợp đồng mà còn phụ thuộc vào loại hình sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật. Ví dụ, khi nhận chuyển nhượng phần vốn góp, doanh nghiệp sẽ chịu chia sẻ nghĩa vụ/nợ theo tỉ lệ phần vốn góp; khi thực hiện sáp nhập công ty, sẽ chuyển giao toàn bộ nghĩa vụ nợ của công ty bị sáp nhập sang công ty nhận sáp nhập.
Những tuyên bố và bảo đảm chỉ tốt khi bên đưa ra chúng đáng tin cậy nên cũng cần có những biện pháp để hạn chế rủi ro khác như điều chỉnh giá, giữ lại một phần giá mua, các đảm bảo của bên thứ ba, bảo hiểm...Trong hợp đồng sáp nhập, mua lại, các bên đưa ra cam kết rằng những thông tin và dữ liệu về thực trạng một vấn đề là đúng. Bên bán cần chú ý để tránh bị ràng buộc pháp lý với các tuyên bố và bảo đảm được đưa ra trong hợp đồng và có thể đề nghị bổ sung điều khoản loại trừ các nghĩa vụ pháp lý đã tuyên bố, trừ các tuyên bố đã được đưa vào hợp đồng sáp nhập, mua lại; phân biệt tuyên bố sai vô ý và vô hại (không phải là lý do để huỷ bỏ hợp đồng) với tuyên bố sai cố ý (có thể là lý do để chấm dứt, huỷ bỏ hợp đồng).
Mục đảm bảo bồi thường trong hợp đồng sáp nhập, mua lại là cơ chế để tránh những rủi ro tài chính trong giao dịch M&A, nó định rõ các quyền của bên mua và bên bán theo đó nêu một bên vi phạm các tuyên bố, cam kết, thoả thuận hạn chế và những ràng buộc khác được ghi trong hợp đồng, bên kia sẽ nhận được bồi thường. Các bên có thể đưa ra một số hạn chế về mức tối thiểu và tối đa của các khoản bồi thường.
Sau khi ký kết hợp đồng sáp nhập, mua lại, các bên có thể tập trung quan tâm giám sát kết quả/thành công của giao dịch và các vấn đề khác liên quan tới tích hợp giao dịch, ví dụ như: đội ngũ nhân sự mới, chính sách lợi ích nhân viên và cổ đông, văn hóa doanh nghiệp, hệ thống thông tin... đồng thời cũng cần hết sức chú ý đến việc thực hiện hợp đồng - tiến trình cho các động thái như chuyển giao tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp; hoàn tất giao dịch; giải quyết các tranh chấp; thực hiện bảo đảm hoặc bồi thường (nếu có)./.
Sunday, July 17, 2011 10:27:19 AM
M&A
Trong đường lối, chủ trương và biện pháp điều hành nền kinh tế, Nhà nước đã bước đầu chú trọng tới sử dụng sáp nhập và mua lại doanh nghiệp (M&A) như công cụ thu hút đầu tư nước ngoài. M&A được đánh giá như con đường ngắn nhất để thu hút, nâng cao chất lượng đầu tư nước ngoài và mở rộng quy mô của các doanh nghiệp Việt Nam. Việc “hút” được lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhiều hay ít phụ thuộc không nhỏ vào việc thiết lập, vận hành và phát triển thị trường M&A, và ngược lại, thị trường M&A là “bà đỡ” cho FDI xâm nhập nhanh nhất vào thị trường.
Thị trường M&A Việt Nam chỉ có thể sôi động và chuyên nghiệp khi các quy định liên quan đến hoạt động M&A được xây dựng rõ ràng và đầy đủ. Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của hoạt động M&A bên cạnh những tác động tích cực cũng tiềm ẩn nhưng nguy cơ của hành vi thâu tóm thị trường, cạnh tranh không lành mạnh thông qua tập trung kinh tế cần được xác định và xử lý. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh sáp nhập, mua lại doanh nghiệp; góp ý cho việc tạo dựng một hành lang pháp lý làm cơ sở cho việc thực hiện các giao dịch M&A, kiểm soát tập trung kinh tế là hết sức cần thiết.
Từ góc độ kinh tế, sáp nhập là sự kết hợp của hai hay nhiều công ty, trong đó có tài sản và trách nhiệm pháp lý của một hay nhiều công ty được công ty khác tiếp nhận. Mua lại là quá trình mua lại tài sản như máy móc, một bộ phận hay thậm chí toàn bộ công ty . Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, hoạt động M&A ở nghĩa kinh tế được xem xét dưới nhiều góc độ: như một trong các hành vi tập trung kinh tế được điều chỉnh bởi pháp luật cạnh tranh, như một trong những hình thức tổ chức lại doanh nghiệp được điều chỉnh theo pháp luật về doanh nghiệp và như một trong những hình thức đầu tư trực tiếp được điều chỉnh theo pháp luật về đầu tư . Liên quan đến việc sáp nhập, mua lại cổ phần của công ty đại chúng, công ty đã niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, M&A còn được điều chỉnh bởi pháp luật về chứng khoán. Khái niệm M&A như hoạt động của các doanh nghiệp theo nghĩa kinh tế được phân biệt rõ ràng với các khái niệm pháp lý “sáp nhập”,“hợp nhất” “mua lại” được đưa ra trong Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh .
1. Pháp luật về sáp nhập, mua lại cần được định hướng rõ ràng bởi chính sách nhà nước về hoạt động M&A
Trước hết, pháp luật về sáp nhập, mua lại doanh nghiệp cần được xây dựng, hoàn thiện dựa trên những định hướng rõ ràng của hệ thống chính sách nhà nước về M&A.
Chính sách về sáp nhập và mua lại doanh nghiệp cần được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận với sự phân tích thấu đáo ý nghĩa của M&A như một công cụ chiến lược quan trọng (đặt trong mối tương quan với các công cụ chiến lược khác), đặc biệt đối với các doanh nghiệp Việt Nam vừa và nhỏ Việt Nam ; đồng thời nhận thức rõ đây là một trong những kênh thu hút đầu tư nước ngoài chủ yếu và nhìn nhận nguy cơ nếu hoạt động M&A không được kiểm soát sẽ dễ dẫn tới hình thành các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường gây hạn chế cạnh tranh. Từ phía nhà nước, pháp luật về sáp nhập, mua lại doanh nghiệp hướng tới khuyến khích hoạt động M&A đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo khung khổ pháp lý cho hoạt động này được dễ dàng, thuận tiện như là hoạt động tổ chức lại doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp. Song song với các biện pháp bảo vệ thị trường và doanh nghiệp trong nước, pháp luật về sáp nhập, mua lại doanh nghiệp cũng cần hướng tới khuyến khích hoạt động M&A của nhà đầu tư nước ngoài dưới góc độ Luật Đầu Tư. Đối với hoạt động M&A của các doanh nghiệp lớn, pháp luật về sáp nhập, mua lại doanh nghiệp chủ yếu tiếp cận dưới góc độ kiểm soát tập trung kinh tế bởi từ góc độ kinh tế và chính sách cạnh tranh, M&A được hiểu như hoạt động tập trung kinh tế gắn với quá trình mà số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường bị giảm đi thông qua các hành vi sáp nhập, mua lại (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất, làm thay đổi của cấu trúc thị trường cạnh tranh . Bản chất của M&A như hoạt động tập trung kinh tế là tăng thêm tư bản do hợp nhất nhiều tư bản lại hoặc một tư bản này thu hút một tư bản khác.
Theo chúng tôi, trọng tâm của quản lý nhà nước đối với M&A là bảo vệ tính cạnh tranh của thị trường. Nhà nước cần chống lại nguy cơ dẫn tới độc quyền mà một vụ M&A có thể mang lại. Về lý thuyết, một công ty hoặc nhóm công ty nắm từ 25% thị phần trở lên đã có thể có những hành vi mang tính độc quyền đối với toàn thị trường như đầu cơ, giảm sản lượng nhằm ép giá cao đối với nhà cung cấp hoặc nhà phân phối, hoặc bán phá giá để loại bỏ đối thủ cạnh tranh. Do đó, tất cả các nền kinh tế phát triển đều có luật chống độc quyền, trong đó nhiều nước hiện nay ở châu Âu và Hoa Kỳ đều quy định những giao dịch làm thay đổi sở hữu công ty từ 5% trở lên đều phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh của nước đó. Điều đó chứng tỏ, các nước đều có những cơ chế theo dõi chặt chẽ những động thái có nguy cơ làm suy giảm tính cạnh tranh của thị trường. Những hành vi có xu hướng đưa đến việc tập trung quyền lực, giảm bớt chủ thể cạnh tranh, hạn chế cơ hội kinh doanh bình đẳng, và làm suy giảm tính dân chủ trong quá trình ra quyết định trên thị trường đều được coi là dấu hiệu tiêu cực đối với cấu trúc và hiệu quả vận hành của thị trường và nền kinh tế nói chung.
2. Cần ban hành các Nghị định làm cơ sở cho khung pháp lý điều chỉnh sáp nhập, mua lại doanh nghiệp
Có ý kiến cho rằng về cơ bản, quyền mua bán doanh nghiệp thuộc tự do khế ước; thuận mua vừa bán, miễn không có những dấu hiệu làm cho việc mua bán có nguy cơ trở nên vô hiệu. Quan tâm của người làm luật tăng lên trong việc mua bán doanh nghiệp nhà nước – vì đó là bán của công cho tư nhân và mua bán cổ phiếu của các công ty cổ phần hoặc việc mua bán tạo nên sự lũng đoạn của độc quyền cản trở cạnh tranh bình thường. Thường luật pháp không mấy quan tâm đến việc mua bán công ty phải diễn ra như thế nào – không nhà nước nào có thể thông thái hơn doanh nhân, việc tính toán mua bán bằng cách nào là tự do của họ. Nhà nước chỉ quan tâm đến bảo vệ những lợi ích nhất định, ví dụ: (i) bảo vệ cạnh tranh, (ii) bảo vệ doanh nghiệp trong nước trước nguy cơ bị thôn tính bởi các tập đoàn nước ngoài, (iii) bảo vệ các cổ đông nhỏ có thể bị lừa gạt qua các cuộc mua bán, (iv) bảo vệ chủ nợ và người làm công trong công ty. Cơ quan nhà nước không nên quá bận tâm với việc hướng dẫn M&A phải nên như thế nào, qua bao nhiêu bước, với những thủ tục gì và được những ai cấp phép. Các giao dịch mua bán công ty về cơ bản là tự do khế ước, đã là khế ước thì các bên tự tìm thông tin, tự mặc cả giá thành, tự lo lấy thương vụ . Tuy nhiên, từ phía doanh nghiệp, phân tích động lực của bên mua, bên bán và các bên thực hiện hợp nhất, sáp nhập trong giao dịch M&A cho thấy rõ nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với giao dịch này, nhu cầu về một hành lang pháp lý thông thoáng để doanh nghiệp có thể dễ dàng thực hiện các giao dịch.
Giao dịch M&A được điều chỉnh bởi rất nhiều văn bản pháp luật, pháp luật về sáp nhập, mua lại chỉ bao gồm những văn bản, quy phạm đặc thù liên quan đến hành vi “hợp nhất”, “sáp nhập”, “mua lại”.
Theo quan điểm hệ thống, các quan hệ trong giao dịch M&A được điều chỉnh bởi pháp luật về kinh tế. Quan điểm về pháp luật kinh tế hiện nay trên thế giới và ở Việt nam vẫn có nhiều quan điểm nhưng nhìn chung có hai nghĩa rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng, pháp luật về kinh tế là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành và thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức và hoạt động kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau và với cơ quan nhà nước nhằm phát triển kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước.Theo nghĩa rộng, nguồn của pháp luật kinh tế gồm có Hiến pháp, bộ luật, luật, pháp lệnh, các nghị định, thông tư hướng dẫn..trong các lĩnh vực kinh tế, dân sự, hình sự…Theo nghĩa hẹp, pháp luật về kinh tế là các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp bao gồm: các chủ thể kinh doanh, các hành vi kinh doanh, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh và thủ tục phá sản. Theo nghĩa này pháp luật kinh tế còn được gọi là pháp luật thương mại, pháp luật về doanh nghiệp hay pháp luật về kinh doanh. Nguồn của lĩnh vực pháp luật này gồm có các văn bản pháp luật dân sự, doanh nghiệp, thương mại, đầu tư, cạnh tranh. Dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì pháp luật về kinh tế cũng bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước. Các quan hệ trong pháp luật kinh tế gồm có: pháp luật về sở hữu, pháp luật về tổ chức các loại hình doanh nghiệp (chủ thể kinh doanh), pháp luật về hợp đồng, pháp luật về huy động và sử dụng các nguồn lực (đất đai, lao động, tài chính, khoa học công nghệ…), pháp luật về cạnh tranh lành mạnh và chống độc quyền pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh và pháp luật phá sản, pháp luật về điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động quản lý vĩ mô của nhà nước (thuế, kế toán, kiểm toán, bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật…) . Pháp luật về sáp nhập, mua lại doanh nghiệp là một bộ phận của pháp luật về kinh tế xét từ đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh đến nguồn pháp luật.
Về đại cương, khung pháp luật và thể chế bao gồm: hệ thống quy phạm có hiệu lực bắt buộc tạo điều kiện cho thị trường xuất hiện; một quy trình ban hành, sửa đổi và thực thi pháp luật hợp lý, đơn giản, minh bạch, có sự tham gia của các chủ thể có liên quan, có thể dự đoán trước và tin cậy được và một hệ thống các thiết chế với những nhân viên có nghiệp vụ, tuân theo pháp luật, không tuỳ tiện khi thi hành công vụ . Khi nói đến pháp luật về sáp nhập, mua lại doanh nghiệp người ta thường dùng cụm từ khung pháp lý điều chỉnh sáp nhập, mua lại doanh nghiệp với ý nghĩa như trên.
Hoạt động M&A cần được quy định cụ thể, chi tiết trong một văn bản luật (dưới dạng một luật sửa nhiều luật vì hoạt động M&A liên quan đến rất nhiều luật và lĩnh vực khác nhau) hoặc Nghị định (tổng thể điều chỉnh chi tiết về việc thực hiện M&A và các Nghị định chuyên biệt điều chỉnh sáp nhập, mua lại trong các lĩnh vực cụ thể) bởi M&A là loại hình giao dịch đặc thù, yêu cầu có khung pháp lý chặt chẽ, minh bạch để bảo đảm quyền lợi của các bên tham gia giao dịch. Khung pháp lý này sẽ tạo điều kiện để xác lập giao dịch, địa vị của bên mua, bên bán, hậu quả pháp lý sau khi kết thúc giao dịch.
Chúng tôi thống nhất với quan điểm về việc không cần thiết phải xây dựng một Luật riêng cho hoạt động M&A do nhóm nguyên cứu gồm các luật sư từ 3 văn phòng luật sư uy tín trong và ngoài nước đưa trong bản báo cáo tại Hội thảo “Nghiên cứu các hạn chế của pháp luật Việt Nam về hoạt động M&A” do Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương tổ chức. Nghiên cứu kinh nghiệm các nước trên thế giới thì không thấy nước nào có Luật riêng về hoạt động M&A; nếu có một Luật riêng cho hoạt động này, Luật sẽ rất dễ bị thay đổi, mất hiệu lực từng phần khi những văn bản pháp luật chuyên ngành khác được ban hành sau. Hoạt động M&A trải dài trong nhiều lĩnh vực, bởi vậy nên có quy định pháp luật ở nhiều cấp độ nghị định và thông tư điều chỉnh từng phần của hoạt động này.
Theo đánh giá của một số nhà đầu tư nước ngoài, trở ngại đối với hoạt động M&A tại Việt Nam về mặt pháp lý là chưa có khung khổ pháp luật hoàn chỉnh về sáp nhập, mua lại doanh nghiệp; đặc biệt thiếu quy định rõ ràng tỷ lệ sở hữu trong vốn điều lệ của doanh nghiệp đối với nhà đầu tư nước ngoài . Có thể thấy rằng trước hết, cần có một nghị định về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài để tạo điều kiện để doanh nghiệp nước ngoài mua lại doanh nghiệp trong nước cũng như các doanh nghiệp trong nước mua lại cổ phần của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị định sẽ thống nhất một số quy định về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đang được quy định khác nhau tại Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán cũng như hướng dẫn rõ ràng về thủ tục thực hiện giao dịch M&A. Theo chúng tôi, Dự thảo Nghị định về M&A được Bộ Kế hoạch và Đầu tư xúc tiến soạn thảo từ năm 2008 nhưng đến nay chưa được Chính phủ ban hành một phần do chưa thống nhất được quan điểm về điều chỉnh M&A - khuyến khích hay hạn chế.
Trong số các hình thức M&A nêu trên, hình thức góp vốn vào công ty và mua vốn góp, cổ phần của công ty sẽ là những hoạt động chính và thường xuyên, phổ biến nhất vì đa số các doanh nghiệp thuộc loại hình công ty hoặc cổ phần. Các hình thức M&A khác chỉ là những hình thức được áp dụng với những hoạt động đầu tư đặc thù. Hình thức bán công ty nhà nước sẽ giảm dần vì theo lộ trình quy định, các công ty nhà nước sẽ được chuyển hết sang loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
Mỗi một hình thức M&A đều cần có những quy định riêng của pháp luật điều chỉnh. Theo chúng tôi, Nghị định về sáp nhập, mua lại doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài cần có những quy định cụ thể để trước khi thực hiện bất cứ một hoạt động M&A nào, nhà đầu tư có thể có căn cứ để xác định mục đích đầu tư có đạt được hay không và cần phải thực hiện đầu tư như thế nào để pháp luật bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của mình. Nghị định có thể đưa ra các tiêu chí giúp xác định chính xác loại giao dịch M&A doanh nghiệp dự định tiến hành là loại giao dịch nào, có thể là: (i) Sáp nhập, mua lại chủ yếu theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp; (iii) Sáp nhập, mua lại như một hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu theo quy định của pháp luật về đầu tư; (iii) Sáp nhập, mua lại như một hình thức tập trung kinh tế chủ yếu chịu sự điều chỉnh chủ yếu của pháp luật cạnh tranh; (iv) Mua cổ phần chủ yếu theo các quy định của pháp luật chứng khoán; (v) Sáp nhập, mua lại doanh nghiệp nhằm mục đích phát triển thương hiệu chủ yếu chịu sự điều chỉnh của pháp luật về sở hữu trí tuệ…Việc xác định loại giao dịch M&A sẽ giúp cho các bên xác định, nhận thức cụ thể loại giao dịch mà mình tiến hành; luật điều chỉnh chủ yếu trong giao dịch M&A; cơ chế, quy trình tiến hành giao dịch; định hướng việc thiết lập các điều khoản trong hợp đồng M&A; và xác định nghĩa vụ thông tin, thông báo đến cơ quan quản lý của các bên…
Để hệ thống hóa pháp luật về sáp nhập, mua lại, để cho thấy ở Việt Nam đã có khung khổ pháp luật tương đối hoàn chỉnh điều chỉnh hoạt động M&A, có thể sử dụng phương pháp tập hợp hóa các văn bản pháp luật liên quan.
3. Một số kiến nghị cụ thể
Khảo sát thực trạng hoạt động M&A ở Việt Nam và thực trạng áp dụng pháp luật về sáp nhập, mua lại doanh nghiệp, theo chúng tôi có thể thấy có một số vấn đề nổi cộm sau: thứ nhất, tỷ lệ sở hữu trong vốn điều lệ của doanh nghiệp đối với nhà đầu tư nước ngoài chưa được quy định rõ; thứ hai, tỷ lệ mua lại đủ để kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp cũng chưa được quy định rõ; thứ ba, vấn đề định giá khi thực hiện hoạt động M&A đối với các doanh nghiệp nhà nước cũng chưa được hướng dẫn cụ thể. Về thực tiễn thực hiện giao dịch M&A của các doanh nghiệp, có một số vướng mắc liên quan đến bản chất pháp lý của hợp đồng sáp nhập, mua lại doanh nghiệp, lựa chọn hình thức pháp lý của giao dịch.
Theo chúng tôi, pháp luật điều chỉnh sáp nhập, mua lại phải hướng sự chú ý vào việc hạn chế ảnh hưởng và động thái tinh vi của các tập đoàn kinh tế đa quốc gia khi đầu tư vào Việt Nam với chiến lược chia nhỏ thị trường. Các tập đoàn đa quốc gia này đã thành lập các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với quy mô vừa phải ở các vùng, miền. Sau khi chiếm lĩnh được thị trường ở các thị trường đó, những tập đoàn đa quốc gia mới thực hiện hành vi sáp nhập hoặc hợp nhất doanh nghiệp để trở thành doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường. Để đối phó với chiến lược chia nhỏ thị trường này, rõ ràng dùng quy định về tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài là không có hiệu quả. Với chính sách kinh tế chú trọng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, khuyến khích tập trung nguồn lực để nâng cao năng lực cạnh tranh, đầu tư nguồn lực phát triển kỹ thuật - công nghệ, Nhà nước nên có chính sách cởi mở hơn đối với hoạt động sáp nhập, mua lại của nhà đầu tư nước ngoài - đặc biệt là nới lỏng hơn quy định về tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam.
Trên thực tế, các doanh nghiệp có thể thực hiện việc tập trung kinh tế bằng con đường "thôn tính" hay "chi phối" doanh nghiệp khác thông qua hoạt động của thị trường chứng khoán, thị trường vốn. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà pháp luật doanh nghiệp hay pháp luật chứng khoán thường quan tâm vấn đề về khống chế mức tham gia góp vốn vào một doanh nghiệp hay tỷ lệ mà mỗi nhà đầu tư mua trong mỗi đợt phát hành cổ phiếu. Những hình thức đầu tư vào doanh nghiệp khác, đến một mức độ nào đó, có thể coi là một hình thức khác của tập trung kinh tế.
Về bản chất pháp lý, mua lại doanh nghiệp là hình thức tập trung kinh tế bằng biện pháp thiết lập quan hệ sở hữu giữa doanh nghiệp mua lại và doanh nghiệp bị mua lại. Quyền kiểm soát hoặc chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp khác quy định tại Khoản 3 Điều 17 của Luật Cạnh tranh là trường hợp một doanh nghiệp (sau đây gọi là doanh nghiệp kiểm soát) giành được quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp khác (sau đây gọi là doanh nghiệp bị kiểm soát) đủ chiếm được trên 50% quyền bỏ phiếu tại Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị hoặc ở mức mà theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp bị kiểm soát đủ để doanh nghiệp kiểm soát chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp bị kiểm soát nhằm thu được lợi ích kinh tế từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị kiểm soát . Khác với quy định trong pháp luật cạnh tranh, Luật Doanh nghiệp năm 2005 không sử dụng thuật ngữ quyền chi phối hoặc kiểm soát doanh nghiệp khác mà sử dụng quan hệ mẹ - con giữa các công ty để thể hiện quan hệ sở hữu được xác lập từ việc mua lại hay góp vốn. Luật Doanh nghiệp sử dụng dựa trên mức sở hữu trên 50% vốn điều lệ; quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm bộ máy quản trị, điều hành; quyền sửa đổi bổ sung điều lệ làm căn cứ xác định quan hệ mẹ - con . Như vậy, theo chúng tôi, để xác định giao dịch là mua lại doanh nghiệp chỉ cần căn cứ vào tiêu chí sở hữu trên 50% vốn điều lệ.
Định giá doanh nghiệp (hay xác định giá trị doanh nghiệp) là việc ước tính giá trị hiện hữu và tiềm năng của doanh nghiệp tại một thời điểm xác định bằng cách sử dụng các phương pháp định giá thích hợp. Chính do yếu tố xác định “tiềm năng” nên việc định giá trở nên phức tạp hơn nhiều vì nó phụ thuộc vào những điều kiện xảy ra trong tương lai. Cũng chính vì yếu tố tương lai mà mỗi chủ thể sẽ có cách nhìn nhận và đánh giá giá trị của một tài sản hay doanh nghiệp khác nhau.
Ở Việt Nam, đặc biệt trong cổ phần hóa doanh nghiệp, việc xác định giá trị doanh nghiệp được tính theo hai phương pháp chủ yếu là phương pháp tài sản và phương pháp dòng tiền chiết khấu. Trong đó phương pháp tài sản được sử dụng nhiều nhất tuy nhiên kết quả xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp này cũng chỉ có ý nghĩa là xác định giá sàn của doanh nghiệp. Công ty nhà nước thuộc danh mục cổ phần hóa, đã tiến hành các bước công việc cổ phần hóa nhưng không đủ điều kiện để cổ phần hóa được mà chuyển sang hình thức bán công ty thì giá trị công ty bán được lấy theo giá trị công ty được xác định khi thực hiện cổ phần hóa và được điều chỉnh giảm trừ giá trị tài sản mà người mua không mua vào giá trị công ty đã được xác định.
So với cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước đây, khi mà việc định giá doanh nghiệp chỉ quan tâm đến giá trị tài sản hữu hình, chưa quan tâm đến giá trị tài sản vô hình, thì trong những năm trở lại đây các quy định và hướng dẫn của nhà nước về xác định giá trị doanh nghiệp đã rất quan tâm đến việc đưa giá trị tài sản vô hình vào giá trị doanh nghiệp, mà hình thức cơ bản nhất là thông qua việc tính toán lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc tính toán này mới chỉ dừng lại theo công thức cứng đó là: Xác định theo tỷ suất lợi nhuận và lãi suất trái phiếu Chính phủ. Tại Thông tư 146/2007/TT-BTC ngày 06 tháng 12/2007 hướng dẫn Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ đã bổ dung thêm việc xác định lợi thế doanh nghiệp trên cơ sở lợi thế về vị trí phịa lý và tính thêm giá trị thương hiệu. Giá trị thương hiệu (bao gồm: nhãn hiệu, tên thương mại) được xác định trên cơ sở các chi phí thực tế cho việc sáng chế, xây dựng và bảo vệ nhãn mác, tên thương mại của doanh nghiệp trong 10 năm trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp hoặc kể từ ngày thành lập đối với các doanh nghiệp có thời gian hoạt động của doanh nghiệp ít hơn 10 năm (bao gồm cả chi phí quảng cáo, tuyên truyền trong và ngoài nước để quảng bá, giới thiệu sản phẩm, công ty ; xây dựng trang web…). Với cách tính theo công thức như vậy rõ ràng còn chưa tính đến giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp có lượng tài sản vô hình lớn và mang lại dòng thu nhập cao. Theo chúng tôi, cần có riêng văn bản hướng dẫn về việc định giá giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp dưới dạng Thông tư liên Bộ giữa Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Có thể chia hợp đồng mua lại doanh nghiệp (xếp theo thứ tự mức độ phổ biến trong thực tiễn ký kết) thành: (i) hợp đồng mua bán/chuyển nhượng cổ phần/phần vốn góp (với điều kiện cổ phần/phần vốn góp này phải đủ để chiếm được trên 50% quyền bỏ phiếu tại cơ quan quyết định cao nhất của doanh nghiệp bị mua lại), (ii) hợp đồng mua bán tài sản (với điều kiện tài sản này phải đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại); (iii) hợp đồng mua bán doanh nghiệp . Các hợp đồng kể trên đều là hợp đồng mua bán, hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu tài sản có đền bù – là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán.
Theo chúng tôi, các hoạt động hợp nhất, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp đều là những hoạt động đầu tư, những hoạt động thương mại vì chúng đáp ứng được các yêu cầu về chủ thể (chủ thể của hành vi là thương nhân), về mục đích (nhằm mục đích sinh lợi – có thể nhằm mục đích sinh lợi trực tiếp thông qua việc mua rồi bán lại doanh nghiệp hoặc đây là hành vi thương mại phụ thuộc) . Như vậy, tranh chấp liên quan đến các hợp đồng hợp nhất, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp bên cạnh việc đưa ra giải quyết tại Tòa Kinh tế đều có thể được đưa ra giải quyết tại Trọng tài thương mại . Tuy nhiên, trong điều khoản phạt vi phạm hợp đồng phải căn cứ Bộ luật Dân sự năm 2005 (Khoản 2 Điều 422: “Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận”) để đưa ra mức phạt chứ không phải căn cứ Luật Thương mại (Điều 301: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm”)./.
1 2 3 4 5 6 Next »