TÌM HIỂU XUẤT SỨ VỀ DÒNG HỌ ĐINH VÀ HAI CÂY THỊ CỔ TRÊN ĐẤT ĐÔ KỲ - ĐÔNG ĐÔ - HƯNG HÀ - THÁI BÌNH


Bài viết: Nguyễn Quang Tuyển - Học viện Biên phòng- HN
Quê: Duyên Trường- Tây Đô- Hưng Hà- Thái Bình

Đô Kỳ là vùng đất quê hương vợ tôi, dòng họ Đinh ở Đô Kỳ và hai cây thị cổ (dân thường gọi là 2 cây thị đôi)cũng là di tích liên quan đến dòng họ vợ tôi. Theo lịch sử xưa ghi chép lại, vùng đất Đô Kỳ ngày nay nằm trong đất Nông Kỳ ngày xưa, gồm các xã: Chi Lăng, Đông Đô của huyện Hưng Hà và xã Minh Tân, Lô Giang của huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình ngày nay.
Theo quyển Thần khê Đô Kỳ Đinh Gia thế phả, tức quyển thế phả họ Đinh và nghiên cứu một số tư liệu cổ do Lê Quí Đôn và các các sử gia biên dịch thì Đô Kỳ là một khu vực thuộc huyện Thần Khê (nay là một vùng thuộc huyện Hưng Hà và huyện Đông Hưng của tỉnh Thái Bình). Lịch sử ghi chép rằng: Thời Vua Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh có ba anh em họ Đinh Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt. Trong gia phả họ Đinh Danh ở Thái Bình nói rằng 3 anh em họ Đinh là dòng dõi của Nam Việt vương Đinh Liễn con vua Đinh Tiên Hoàng và gọi Lê Thái Tổ bằng cậu luôn đi theo Lê Lợi và đã lập được nhiều công lớn, về sau con cháu phân tán khắp nơi trong nước.
Một chi con cháu người anh hùng Đinh Liệt hiện đang sinh sống ở Nông Kỳ (nay là các xã Bình Lăng, Đông Đô của huyện hưng Hà, Minh tân và Lô Giang của huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình).
Có tư liệu chép rằng: “ Họ Đinh ở các xã Bình Lăng, Đông Đô, Minh Tân và Lô Giang ngày nay là dòng dõi Nam Việt Vương Đinh Liễn từ Thanh Hoa (Thanh Hoá ngày nay) tới đây lập nghiệp. Dưới thời Trần, trong dòng dõi Đinh Liễn ở sách Thuý Cối (sau là sách Mỹ lâm) huyện Lương Giang (sau đổi là huyện Thuỵ Nguyên (nay là huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hoá ) có một cụ già họ Đinh làm nghề nông kiêm nghề làm thuốc, cụ được nhân dân mến yêu. Một hôm, cụ gặp hai anh em người họ Hoàng đến nhà cụ ở nhờ, người anh tên là Kinh, người em tên là Côn, hai người này là thày địa lý người Trung Quốc. Trong thời gian ở nhờ hai anh em họ Hoàng được cụ giúp đỡ nhiều. Trước khi trở về quê (Trung Quốc) họ tặng cụ ngôi đất để tạ ơn và dặn cụ già họ Đinh nên chuyển hài cốt của cụ tổ vào nơi đất này thì đời sau các con cái sẽ được hiển vinh, phát khanh thế công hầu.
Theo lời dặn của hai thày địa lý, cụ già họ Đinh đã bốc hài cốt cụ tổ để vào nơi đất ấy. Sau khi để vào nơi đất ấy, dưới thời nhà Trần con cháu họ Đinh nhiều người rất hiển đạt, làm quan ở Kinh đô. Sau này do cuộc phản kháng của Hồ Quí Ly chèn ép vua Trần nên nhiều người trong họ Đinh sợ liên luỵ đã phải tránh đi xa các vùng sợ bị liên lụy. Trong đó có cụ Đinh Thỉnh văn hay chữ tốt, cáo ấn từ quan về đất Đô Kỳ (Đông Đô - Hưng Hà - Thái Bình ngày nay) làm gia sư cho gia đình họ Phạm, vừa để nương thân vừa để chờ thời rồi tính tiếp.
ở đất Đô Kỳ, khi ấy có một bà goá chồng quê ở làng Sang (nay là xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình) nhà nghèo đói, bà phải bế theo cả người con gái nhỏ vài tuổi đi làm thuê, cấy hái cho gia đình họ Phạm để nuôi con. Sau khi chồng chết, họ hàng thân thuộc của nhà chồng cũng không còn ai, dân làng Đô Kỳ cũng không biết tên bà nên gọi bà là bà Sang. Vào một ngày tháng 6, bà để con ở nhà chủ và đi sang đồng bên (ngày nay là thôn Đa Phú xã Tây Đô –huyện Hưng Hà –Thái Bình ) để cấy lúa. Hôm đó trời bỗng nổi mưa to gió lớn, bà bèn lên gò đất tại cánh đồng để tránh mưa, nhưng rồi không hiểu tại sao bà bị chết ở đó. Hôm sau chủ nhà đi tìm thấy bà đã chết và đất mối đã phủ kín người bà; ngày xưa chuyện người chết bị đất mối xông người đời thường gọi là thiên táng. Thời bấy giờ có thày địa lý nói rằng: “ Đấy là đất tường vân bảo nguyệt, địa phát nữ tôn, kiếm âm cư khôn, đại phát nữ tôn, nữ tằng vị hậu”Dịch ra, nghĩa là: Mây lành trăng báu, đất phát cháu ngoại, phương khôn có đống tròn làm ấn 9 con dấu nên cháu gái phát lớn, chắt gái được phong Hoàng hậu. Từ đó, gò đất ấy có tên là gò bà Sang. Về sau mộ bà được nhân dân xây làm hai tầng, tầng dưới có xây vòm để mọi người có thể trông thấy và sờ tay vào tới lớp đất mối xông. Lầu trên ngôi mộ có 1 bức cuốn thư đề ba chữ: 生資德 sinh tư đức (nghĩa là: Sống nhờ đức) và đôi câu đối hai bên là:
奇地鍾靈傳自古
崇薹屹立日惟新

Kỳ địa chung linh truyền tự cổ - Sùng đài ngật lập nhật duy tân
Nghĩa là: Đất là khí thiêng truyền tự cổ - Đài miếu đứng cao mới từng ngày
Tôi cũng không được chứng kiến về sự hiện diện trước đây của nó, nhưng thời tôi còn nhỏ người trong vùng cứ kháo nhau rằng cái gò ấy ngày xưa rất nhỏ và sau này nó cứ bị đất mối đùn cao nên, cho nên ở vế câu đối thứ 2 có viết là " Đài miếu đứng cao mới từng ngày" là như vậy.
Sau khi bà Sang mất, ông chủ họ Phạm đã nuôi dưỡng con gái bà, cho làm con nuôi và đặt tên là Phạm Thị Gái (mang họ gia đình ông chủ làm thuê họ Phạm). Sau 10 năm sau cô Gái lớn lên gia đình họ Phạm đã gả con gái nuôi cho ông Đinh Thỉnh (là thầy giáo chạy từ Thanh Hóa vào xin được làm thầy dạy học cho gia đình họ Phạm), ít lâu sau ông Đinh Thỉnh sinh được một con trai đặt tên là Đinh Tôn Nhân. Đến đây nói đến ông Đinh Tôn nhân thì chúng ta đã tương đối rõ ông Đinh Tôn Nhân là ai rồi, chính là cha đẻ của 3 tướng quân giỏi thời hậu Lê là: Đinh Lễ, Đinh Liệt, Đinh Bồ và là cụ ngoại 3 đời của vua Lê Thánh Tông.
Có tài liệu ghi rằng Tôn Nhân sinh được 1 gái 3 trai. Trưởng nữ là Đinh Thị Ngọc Kế, trưởng nam là Đinh Lễ và các thứ nam là Đinh Liệt, Đinh Bồ, sau đó cụ Đinh Tôn Nhân mời thầy về dạy cho ba anh em. Khi lớn lên cả ba anh em theo Lê Lợi tham gia dự hội thề Lũng Nhai (năm 1416) chống quân Minh xâm lược” do đó mới có đoạn viết: “Hai cha con ông vào Lam Sơn theo Lê Lợi; Lê Lợi thấy cha con ông là người có nghĩa khí, được Lê Lợi yêu mến, xin cha mẹ gả em gái Lê Lợi là Lê Thị Ngọc Vồi cho Đinh Tôn Nhân. Nhưng có tư liệu lại nói rằng bà Đinh Thị Ngọc Kế là con gái của Đinh Lễ, do đó sau khi Đinh Liệt bị mất trong cuộc kháng chiến chống Minh lúc đó bà Ngọc Kế còn nhỏ thì Đinh Liệt là chú ruột của Ngọc Kế, ông đã nhận bà là con nuôi và sau này lớn lên Đinh Liệt đã gả bà cho ông Ngô Từ và sinh được bà Ngô Thị Ngọc Dao là như vậy. Nhưng theo tôi thì 2 tư liệu trên đều chưa rõ và mỗi tư liệu đều có cái bất hợp lý và mâu thuẫn. Nếu ông Đinh Tôn Nhân chỉ sinh được có 3 anh em là: Đinh Lễ, Đinh Liệt và Đinh Bồ, còn Đinh Thị Ngọc Kế chỉ là cháu gái nội của ông Đinh Tôn Nhân nếu lập luận theo kiểu này thì cũng không ổn vì chúng ta đã biết bà Ngô Thị Ngọc Dao là con gái của bà Đinh Thị Ngọc Kế và ông Ngô Từ. Vậy thì làm sao trong thời gian kháng Minh đó cả 3 anh em Đinh Lễ, Đinh Liệt và Đinh Bồ lại có thể cùng thời để cứu bà Ngô Thị Ngọc Dao và đưa bà đi đẻ vì phải chạy trốn bà Nguyễn Thi Anh được (vì 3 thế hệ này cách nhau khá xa). Còn nếu lập luận theo kiểu ông Đinh Tôn Nhân sinh ra bà Đinh Thị Ngọc Kế và bà Kế còn là trưởng nữ, chị ruột của Đinh Lễ, Đinh Liệt, Đinh Bồ thì tại sao lịch sử lại ghi chép rằng ông Đinh Lễ bị mất sớm nên Đinh Liệt đã nhận bà Đinh Thị Ngọc Kế là con nuôi và sau này gả cho ông Ngô Từ ?... Do đó tôi thấy rằng với cả 2 cách lập luận trên đều không ổn lắm chắc có sự nhầm lẫn nào đó mà thôi. Thời đó Hồ Quý Ly chèn ép vua nhà Trần, để tránh khỏi bị liên luỵ, ông Đinh Thỉnh cùng con trai là Đinh Tôn Nhân trở về quê cũ ở vùng Tam Trĩ (tỉnh Thanh Hóa ngày nay), đồng thời ông cũng thấy vùng đất Lam Sơn vượng khí đế vương nên ông đã tìm đến đó. Sau này quả thật ông đã cùng con trai giúp Lê Lợi trong thời kỳ chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Minh.
Từ năm 1424- 1427, nghĩa quân Lam Sơn đã tiến đánh quân Minh giải phóng vùng đồng bằng và Tây bắc. Đại quân chuyển từ Thanh Nghệ (Thanh Hóa, Nghệ An ngày nay) tiến ra đánh Đông Quan (Hà Nội ngày nay). Bấy giờ Đinh Lễ giữ chức Tư không (tương đương phó tướng). Trong thời gian này, ông cùng các tướng của vua Lê Lợi đánh thắng nhiều trận quan trọng, thắng lớn ở Ninh Kiều, Tốt Động , Chúc Động... Riêng trận Tốt Động, chúc Động thắng lợi lớn, đã chém thượng thư Trần Hiệp và nội quan Lý Lượng cùng 5 vạn quân sĩ của nhà Minh. Nước sông Ninh Giang (sông Luộc ngày nay) bị tắc không chảy đựơc vì giặc chết nhiều, bắt sống hơn 1 vạn tên giặc, thu khí giới nhiều vô kể. Sau khi thừa thắng quân của ông tiến tới vây đánh thành Đông Quan (Hà Nội). Ngày 8 tháng 3 năm Đinh Mùi (1427) trong trận đánh ở Tây Phú Liệt (thụôc huyện Thanh Trì - Hà Nội ngày nay) theo lệnh của Lê Lợi, Đinh Lễ và Nguyễn Xí đem 500 quân thiết đột tới ứng cứu cho thái giám Lê Nguyễn, giặc Minh thua chạy, quân ta đuổi tới Mai Động (Hoàng Mai Hà Nội ngày nay), Vương Thông thấy hai ông quân ít, không có quân tiếp ứng bèn ép đánh trở lại. Voi hai ông bị sa lầy, Đinh Lễ và Nguyễn Xí bị giặc bắt đem về thành Đông Quan - Hà Nội. Nguyễn Xí bị giam sau trốn thoát được còn Đinh Lễ không chịu khuất phục nên bị giặc sát hại. Vua Lê Lợi vô cùng thương sót, phong cho em trai ông là Đinh Liệt chức Nhập nội thiếu uý, tước á hầu.
Lịch sử ghi lại rằng: Bà Ngô Thị Ngọc Dao sinh năm Canh Tý (1420) tại huyện Yên Định Phủ Thiệu Thiên nay là xã Định Hoà, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. Con gái của Ngô Từ, cháu nội Ngô Kinh; cả ông nội và bố đều là khai quốc công thần của triều Hậu Lê.
Cha mẹ ông Ngô Kinh đã nghèo lại mất sớm ông phải lo tự mình kiếm sống. Nghe có người đồn ở sách Khả Lam, huyện Lương Giang có khe nước đầy, rừng núi tốt, đất đai màu mỡ Ngô Kinh bèn tìm đến và được ông Lê Khoáng, bà Trịnh Thị Thương thương xót đem về nuôi nấng để trông coi việc cày bừa, làm ruộng. Thấy Ngô Kinh tính tình ngay thẳng siêng năng, ông bà gả con gái là Lê Thị Mợi cho ông. Tương truyền, thuở Ngô Kinh còn nghèo khổ, cày ruộng ở sách Khả Lam bỗng nhìn thấy một vệt sáng trông như một con rắn khổng lồ từ trong núi cưỡi mây vàng bay ra. Lúc ấy là ban ngày nên ông rất băn khoăn vì điềm lạ. Đêm ấy, vợ ông (bà Lê Thị Mợi) cũng nằm mơ thấy con rồng đỏ từ trong phòng mình bay ra theo con rồng vàng. Mây mưa như màu đỏ sáng rực đầy nhà; bà thấy trong người phấn chấn, tỉnh dậy thì có thai. Đến kỳ vợ sắp sinh, ông Ngô Kinh ra ruộng đi cày, bỗng nhiên thấy người mệt mỏi vô cớ, ông nằm ngả mình ở bờ ruộng, vừa thiếp đi lại thấy một người cao lớn, tự xưng là Thất Tào Tinh Quân vâng mệnh trời xuống trần để mở rộng cửa nhà ông. Tỉnh dậy ông còn chưa hết ngạc nhiên, vội vàng về nhà thì vợ đã sinh con trai. Ông bà đặt tên là Ngô Từ.
Ngô Từ giống cha, cao lớn, mặt đỏ, môi hồng, tai to, mũi lớn, tính trung hậu, siêng năng… được vua Lê Thái Tổ rất mến yêu. Từ lớn lên, chăm chỉ đắc lực nên được Lê Lợi quý trọng như anh em; lại thấy ông Đinh Lễ là chỗ thân tình có cô con gái Đinh Thị Ngọc Kế, Lê Lợi bèn hỏi cho Ngô Từ làm vợ và giao cho trông coi mọi việc. Khi Lê Lợi định dấy binh đánh đuổi giặc Minh cứu nước, hỏi ý kiến cha con Ngô Kinh và Ngô Từ thì Ngô Từ bèn để cha mình ở lại chăm lo cày cấy để quân có lương ăn, còn mình trẻ khoẻ xin theo sát chủ tướng ở nơi chiến trận. Lê Lợi thấy cha con Ngô Từ đồng tâm đồng tình lại càng quyết tâm khởi nghĩa. Ông giao cho cả hai cha con vừa lo việc hậu cần, bảo vệ căn cứ lại vừa tiếp đón khách, chọn người trung nghĩa để tiến cử cho nghĩa quân, đồng thời phát hiện ngăn chặn kẻ gian trà trộn để dò xét quân ta. Khoẻ mạnh, xông xáo thì có Ngô Từ, những việc suy xét thâm trầm thì có Ngô Kinh. Hai cha con vừa lo sản xuất, cung cấp lương thực và vũ khí cho nghĩa quân vừa tiến cử cho chủ tướng, lúc nào cũng chu đáo và đầy đủ. Có lần quân Minh đến cướp đồn Lam Sơn, Ngô Từ xướng binh ra đánh triệt, bảo toàn được căn cứ. Năm Quý Mão (1423) vua phong Ngô Từ tước Bàng khê hầu; đến năm Mậu Thân (1428) lại phong Thái Bảo, tước Khánh công, ban quốc tính họ Lê. Sau ông còn được phong đến tước vương: Diễn suy Dự vương.
Ngô Từ có hai bà vợ là Đinh Thị Ngọc Kế và Đinh Thị Ngọc Thược (đều là con gái khai quốc công thần Đinh Lễ) 11 người con trai và 8 người con gái, trong đó Ngô Thị Ngọc Thung và Ngô Thị Ngọc Dao đều lấy vua Lê Thái Tông. Bà Ngô Thị Ngọc Dao sinh được hai người con, một gái đầu mất sớm, một con trai sinh giờ Tý ngày 20 tháng 07 năm Nhâm Tuất (1442), đặt tên Lê Tư Thành, sau là vua Lê Thánh Tông. Khi mới sinh, trên trán Lê Tự Thành có dấu lõm sâu và đỏ, khi lớn lên ngấn ấy thành chữ “vương”.
Tương truyền bà Ngô Thị Ngọc Dao được vua Thái Tông rất yêu mến, song việc bà mang thai con trai 12 tháng đã bị bọn người xấu dèm pha ghép vào tội dối vua nên bị bắt trói lại để chờ hành quyết. May có Lê Khang là người tốt can gián, bà được thả ra và Nguyễn Trãi đã nhờ người tin cẩn đem bà trốn ra chùa Huy Văn ở Đông Đô (nay là phố Hàng Bột - Hà Nội). Mọi người đã vui vẻ đón tiếp và bà cũng nhanh chóng hoà mình vào cuộc sống đạm bạc nơi cửa phật. Đến kỳ sinh nở bà sinh Lê Tư Thành ở sau chùa. Khi Lê Tư Thành chưa đầy tháng tuổi thì Lê Thái Tông - Vua cha đã qua đời.
Ngô Thị Ngọc Dao đã sinh con và ở goá nuôi con từ khi con còn trứng nước. Sống xa chốn cung đình, gần gũi nhân dân, bà đã tự rèn luyện, thực hành đạo đức làm gương cho con và cho mọi người. Bà chăm lo răn dạy Lê Tư Thành mọi điều không chỉ trong thời niên thiếu mà ngay cả khi con đã làm vua. “Việc không phải vì lợi ích riêng, đề cao mình mà can thiệp vào việc triều chính”. Được dạy dỗ chu đáo, Lê Thánh Tông biết, tiếp thu mọi điều hay mẹ dạy.
Là một người học rộng, biết nhiều, nhưng rất khiêm tốn và có ý thức học hỏi. Khi đã làm vua mà còn thưa với mẹ: “Con yếu lắm, xin tuân lời mẹ dạy. Trời cho kẻ hiền tài ra giúp vương gia đều là nhờ đại đức Thánh Tông Hoàng đế tài cao đức lớn, anh dũng thông minh”. Biết nghe từng lời mẹ dạy, ngày đêm chăm lo lễ nhạc văn chương phát huy pháp luật, thuần phong mỹ tục, mỗi đổi thay hoàn hảo đều có công của Hoàng Thái Hậu".
Khi Lê Thánh Tông làm vua được bốn năm đến khoa Quý Mùi (1463) trong kỳ thi Đình, vua đọc thấy ở bài “Đạo trị nước của các bậc đế vương” của Lương Thế Vinh có đoạn viết: “Vận an hay loạn trong thiên hạ là do các quan. Từ đó suy ra việc sửa mình của các quan há chẳng liên quan đến việc yên loạn đó sao…” xem cả bài của Lương Thế Vinh, vua rất tâm đắc, liền phê “Văn học dồi dào”… Vua lấy đỗ vào bậc trang nguyên cùng Nguyễn Đức Trinh và Quách Đình Bảo ở bậc Tam Khôi. Khi vua cho mời cả ba vị vào ra mắt Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, Thái hậu vui mừng nói: “Đúng là Ngọc Hoàng - Thượng đế cho người bề tôi tốt để giúp nước”. Sau dó Hoàng Thái hậu còn nói riêng với vua, phải biết trọng đãi và tạo điều kiện để các bậc hiền tài đem hết tài năng ra giúp nước.
Trạng Nguyên Lương Thế Vinh được giao Hàn Lâm viên trạc học sĩ thi thủ chưởng viên sự. Những văn bản bang giao với nước ngoài vua đều giao cho trạng soạn. Trạng đi sứ làm được việc “cân voi” được nhà Minh thán phục. Khi Lương Thế Vinh mất, vua phong Thượng đẳng thần, tước đến Đại Vương. Ngoài việc trọng dụng nhân tài Hoàng đế Lê Thánh Tông còn lập hội Tao Đàn gồm 28 vị giỏi thơ văn cùng xướng hoa, bình xét để giúp nhau cùng nâng cao trình độ.
Cũng chính vì biết trọng dụng người tài nên Lê Thánh Tông đã đưa đất nước vào thời kỳ phát triển rực rỡ trong lịch sử thời phong kiến.
Trong thời gian trị vì đất nước, với tấm lòng nhân hậu hao la của Hoàng Thái hậu, Lê Thánh Tông đã làm một việc ý nghĩa lớn lao là minh oan cho đại thần Nguyễn Trãi. Tất nhiên việc làm không đơn giản vì trước đây cả nhà Nguyễn Trãi bị khép tội chủ mưu đầu độc vua cha Lê Thái Tông; nhà vua phải rất khoan dung, độ lượng, khuyến khích tinh thần tướng sĩ, hiền tài trong nước dám tâu lên sự thật để nhà vua chính thức minh oan cho Nguyễn Trãi. Đó là một việc rất khó khăn nhà vua đã làm được và cũng chính là điều thể hiện tài đức vẹn toàn của một ông vua nổi tiếng trong lịch sử phong kiến Việt Nam mà người có công đầu hun đúc đào tạo nên nhân cách lớn này chính là Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao. Năm Bính Thìn (1496) Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao lâm bệnh và mất vào giờ Hợi ngày 26 tháng 3 nhuận tại chính tẩm Thừa Hoa điện, hưởng thọ 76 tuổi giúp vua 37 năm. Việc khâm liệm, phạm hàm đều do vua tự làm, viết điếu văn, đặt quan tài ở điện để viếng, định tháng 10 rước về Sơn Lăng (thuộc Lam Sơn) nhưng Thánh Tông Hoàng đế cũng băng hà nên lễ an táng chưa khởi hành được.
Ngày 6 tháng 2 năm Đinh Tỵ (1497) Lê Hiến Tông lên ngôi Hoàng đế, tế cáo trời đất rồi ra lệnh tiến hành tang lễ, dâng sách truy tôn, báo ơn ông bà, tiên tổ; niên hiệu Cảnh thống năm đầu (1498) đưa về an tàng ở Lam Sơn cùng ở Hựu Lăng (lăng Lê Thái Tông), ban sắc sai Nguyễn Bảo, Nguyễn Xung Xác soạn văn bia Sơn Lăng.
Bia Sơn Lăng kích thước khá lớn 185cm x 270cm, trán bia chạm trổ long vân. Toàn văn chữ Hán khắc chân phương, gồm 69 dòng khoảng trên 6000 chữ. Bia được tạo dựng vào năm Cảnh Thông thứ nhất (1498) với tiêu đề: Chôn Nguyễn Chí Đức bị đặt ở Phú Lâm, Quảng Yên huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Nội dung văn bia khá dài, ở đây chúng tôi chỉ xin trích phần nội dung nói về phẩm hạnh, tư chất cao quý của Hoàng Thái Hậu.
“Hoàng Thái Hậu sinh ra sẵn có chất ngọc thuần hoà, tính trời cẩn thận, đôn hậu, một niềm cần kiện, không chuộng xa hoa; thuê thùa việc nữ công, tay không lúc nào rời; mắm muối nơi bếp núc, lại càng quan tâm. Ngày thường ở trong nhà cẫn nghiêm trang như đang tiếp khách, khi tiếp xúc với ai cũng tỏ vẻ hoà nhã dịu dàng. Kính trọng tông miếu, phụng thời quy thần, của ngon vật lạ bốn phương dâng lên, bao giờ cũng đem tiến cúng trước, sau mới đưa đến vua dùng. Không làm việc trái lẽ phải, không ở nơi không chính đáng, nghiêm mà không ác, giản dị mà trang nhã lịch sự, cử chỉ thường có lễ độ, ít khi ra khỏi phòng vi. Trọng cung đình, kẻ sang người hèn đều gọi là phật sống. Khi được vua cung cấp vàng lụa thì đem ban phát cho mọi người xung quanh và giúp đỡ kẻ nghèo khó, hòm tư thường trống rỗng không có của cải dành riêng. Duy có lời hay nết tốt của người thì mọi người đều tai nghe mắt thấy, ơn dày nghĩa nặng của Người thì thấm nhuần da thịt mọi người. Vì vậy cho nên lúc Người chầu trời thì trăm họ như mất cha mẹ, những người chầu hầu trong cung đình lại càng mến tiếc, bỏ trang sức, mặc đồ tang, ăn cơm rau, cài trâm gỗ, không còn phân biệt trong cung đình hay ngoài dân dã nữa. Có công lao lớn nhất đối với xã tắc là đã nuôi dạy bảo nhà vua từ bé đến lớn, lo xa tính rộng, xử trí mọi việc thích đáng, khiến cho cội gốc nước nhà vững chắc, dòng dõi tông miếu nối tiếp lâu dài … Đối với Thái Tông thì có công chăm lo giúp đỡ, đối với Thánh Tông thì có công sinh dưỡng cù lao, đối với Hiến Tông thì tận tình mến thương. Đức sánh với trời đất, công rạng rỡ Tam Thánh (Thái Tông, Thánh Tông, Hiến Tông) xứng đáng là hàng đầu các vị Hoàng Hậu nước Đại Việt. Tốt thay ! Đẹp thay!”.
Gần 600 năm đã qua, Lịch sử Việt Nam đã trải qua bao bước thăng trầm và xã hội Việt Nam cũng không ngừng phát triển xong tấm gương Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao vẫn lung linh toả sáng trong lịch sử và là tấm gương sáng cho muôn đời thế hệ mai sau.
Sinh thời lúc còn nhỏ hầu như Tư Thành sống chủ yếu ở chùa Huy Văn cho đến khi lên ngôi. Tương truyền ông có bài thơ tự thuật “Vịnh con cóc” làm khi đang tá lúc thiền môn:
“ Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi
Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi
Chép miệng dăm ba con kiến gió
Nghiến răng chuyển động bốn phương trời”.
Rõ ràng bài thơ vịnh về con cóc, nhưng thực ra là ông vịnh về chính cuộc đời ông lúc thiếu thời do hoàn cảnh xô đẩy và xã hội buông lơi.
Lịch sử ghi chép rằng rồi cũng vì sợ bà Nguyễn Thị Anh tiếp tục ám hại, Nguyễn Trãi nhiều lần can gián cho người đưa mẹ con bà trốn biệt ra trấn An Bang (Quảng Yên, nay là một phần của tỉnh Quảng Ninh).
Ngày 4 tháng 8 cùng năm trên, vua Thái Tông đi tuần hành rẽ thăm trại vải nơi Nguyễn Trãi nghỉ ngơi đọc sách. Từ việc lo sợ về thân thế của Thái tử Bang Cơ đang bị đồn thổi là không phải con vua, sợ sau này vua Thái Tông thế nào cũng biết thì nguy cơ phế bỏ Thái tử Bang Cơ sẽ dễ dàng xảy ra, hơn nữa bà Anh cũng nổi máu ghen khi thấy vua Lê Thái Tông nhiều lần tỏ ý thích vẻ đẹp kiều diễm của bà Nguyễn Thị Lộ, đây cũng là điều kiện tốt nhất cho con trai Bang Cơ của bà được ngồi lên cái ghế ngai vàng khi mà các thái tử đang chờ mong, nhân cơ hội này bà Nguyễn Thị Anh đã lập mưu đầu độc giết vua Thái Tông (chồng mình) ở vườn Lệ Chi (Trại Vải) thuộc làng Đại Lại- Gia Bình- Bắc Ninh (nay là huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương) sau rồi lấy cớ đổ tội cho Nguyễn Trãi sát hại vua Thái Tông với lý do vua thích vợ mình, đồng thời dựng con trai Bang Cơ lên ngôi vua. Với âm mưu đó mẹ con bà Anh đã thoả nguyện ý định, mấy ngày sau (ngày 12 tháng 8 năm 1442) Thái tử Bang Cơ lên ngôi,lúc đó Thái tử mới có 2 tuổi (tức vua Lê Nhân Tông). Vì vua còn nhỏ nên Nguyễn Thị Anh đã có cơ hội trở thành Thái hậu cầm quyền nhiếp chính buông rèm coi chính sự. Ngày 16 tháng 8 năm 1442, nhân việc hận thù vợ chồng Nguyễn Trãi về việc nhiều lần cứu thoát bà Ngọc Dao và đó cũng là cơ hội tốt nhất để nhổ cái gai trong mắt bà, là cách đổ tội hợp lý cho Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ tránh sự nghi ngờ đàm tiếu của xã hội đương thời. Kết cục gia đình Nguyễn Trãi đã bị triều đình do bà Anh cầm đầu vu oan khép tội giết vua và bị giết cả 3 họ (tru di tam tộc).
Đinh Liệt đang ở trận Kinh Bắc (Bắc Ninh - Bắc Giang ngày nay) được gọi về Bồ Đề (huyện Gia Lâm – Hà Nội) ở bên vua, chỉ huy đạo quân thiết đột. Khi Liễu Thăng đem 10 vạn quân tiếp viện cho Vương Thông. Mộc Thạch đem 5 vạn quân từ biên giới qua Lao Cai tiến vào nước ta. Vua Lê Lợi sai Đinh Liệt và Lê Sát đem quân thiết đột cùng tướng sĩ lên Lạng Giang (Lạng Sơn- Hà Giang ngày nay) chặn đánh. Tương truyền rằng trước ngày ra trận, ông Đinh Liệt về quê ngoại Đồ Kỳ (thuộc xã Đông Đô huyện Hưng Hà - Thái Bình ngày nay) thăm hỏi người thân, bái yết mộ tổ ngoại và tế lễ cầu đảo ở đền thờ bà Cẩm Hoa (tướng của hai bà Trưng) về sau dân lập đền thờ ông Đinh Liệt bên đền thờ bà Cẩm Hoa.
Trong đền bà Cẩm Hoa có đôi câu đối: “Nghĩa phụ trang vương vong Bắc quốc- Linh phù Đinh tướng phục Nam bang”. Nghĩa là: Phò Trưng Vương diệt vong Bắc quốc- Hiển linh giúp Đinh Tướng khôi phục Nam bang.
Ngày ông Đinh Liệt về Thăm quê ngoại Đô Kỳ, con cháu ông ở Thanh Hoá cũng về theo, rồi ở lại Đô Kỳ và Y Đốn để mở mang làng mạc và trông nom mộ Tổ. Do vậy con cháu họ Đinh đã hình thành trên Đô Kỳ và Y Đốn đến ngày nay.
Sau khi viếng thăm quê ngoại, ông Đinh Liệt kéo quân lên Ải Chi Lăng chặn đường viện binh cuả giặc Minh, ông cùng các tướng trực tiếp chỉ huy chém đầu An viễn hầu Liễu Thăng ở núi Mã Yên. Quân giặc thua to, ta thu được bằng sắc và ấn kiếm của giặc đưa về Bồ Đề. Vua sai người mang ấn kiếm của Liễu Thăng lên Lao Cai cho tướng giặc Minh là Thái phó kiêm quốc công Mộc Thạch xem, Mộc Thạch thấy được, rất hoảng sợ, 5 vạn quân phút chốc đã tan vỡ tháo chạy còn số khác bị tiêu diệt hoàn toàn. Mộc Thạch chỉ có một mình một ngựa chạy về Trung Quốc, sau đó còn Vương Thông ở Đông Quan phải mở cổng thành xin hàng.
Sau khi Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Thuận thiên năm thứ nhất (1428), ông cho luận khen thưởng các bậc khai quốc công thần. Vua ban quốc tính (họ nhà vua và phong cho ông Đinh Liệt là Vinh Lộc Đại phu, tả Kim Ngô là đại tướng quân, tước thượng trí tự; ban quốc tính, phong cho Đinh Bồ là Trung lượng đại đại vương, đại phu tả phụng thần vệ tướng quân, tước Đại trí tự, ban quốc tính và phong cho ông Đinh Lễ là Trung vũ đại phu, câu kiềm Vệ tướng quân, tước Trí tự. Sau năm Hồng Đức thứ 15 (1484) vua Lê Thánh Tông phong ông Đinh Lễ là Thái sư bân quốc công và sau tấn phong là Hiển khánh vương. Năm Quang thuận thứ nhất (1460), vua Lê Thánh Tông phong cho Đinh Liệt chức Khai phủ Nghi Đông Tam Ty. Bình chương quân công trọng sự, nhập nội Thái phó á quận hầu, sau đó tấn phong là Thái sư Lân quốc công, và khi ông mất được tấn phong là Trung mục vương.
Đinh Liệt là một trong những người có công đầu khai quốc nguyên huân, ông được ban chức Thái tử thái phó, giúp vua Lê Thái Tông cầm quyền. Khi ấy Thái Tông còn nhỏ tuổi, trong triều đình có nhiều người xích mích với nhau, ông cùng Nguyễn Trãi, Nguyễn Xí cố gắng làm tròn mọi việc. Tháng 7 năm giáp tí (1444), ông Đinh Liệt và vợ con ông bị mẹ vua Lê Nhân Tông là bà Nguyễn Thị Anh bắt giam dưới hầm sâu, vì có kẻ muốn hại ông nên đã vu cáo. Nhờ người trong hoàng tộc là Lê Khắc Phục và công chúa Ngọc Lan xin cho nên ông chỉ bị giam 4 năm trong lao tù, còn vợ con ông sau đó hai năm mới được tha ra. Ông một lòng vì nước vì dân nên không oán hận gì, vẫn tiếp tục giúp vua còn nhỏ tuổi, đồng thời ông bí mật chỉ thị cho con cháu họ Đinh ở Đô Kỳ - Y Đốn chuẩn bị lực lượng để dùng vào việc bất trắc sau này nếu xảy ra.
Sở dĩ phải xây dựng lực lượng này, vì người vợ sủng ái nhất của vua Lê Thái Tông là Nguyễn Thị Anh luôn luôn ghen ghét đố kỵ với phi của vua là Ngô Thị Ngọc Dao khi bà đang có thai. (Ngô Thị Ngọc Dao là vợ thứ 5 của vua Lê Thái Tông). Nguyễn Thị Anh nhiều lần âm mưu ám hại bà nhưng không thành, bèn nghĩ cách tước vị Tiệp dư (dưới hàng phi) của bà Ngô Thị Ngọc Dao và cho ra ở chùa Huy Văn (khu Văn chương Hà Nội ngày nay), chờ khi bà Ngọc Dao sinh, nếu là con trai thì tính sau.
Khi bà Ngọc Dao bị giam lỏng ở chùa Huy Văn, tướng quân Đinh Liệt đã đưa bà về quê ngoại ở Đô Kỳ - Y Đốn ở ẩn lánh. Tương truyền rằng Đinh Liệt đã xây dựng căn cứ ở Đô Kỳ, công khai xây thành đắp luỹ ở đó, nhưng thực tế lại chuẩn bị cơ sở đưa bà Ngô Thị Ngọc Dao về làng Đún Ngoại (tức Ngoại thôn, xã Chi Lăng huyện Hưng Hà –Thái Bình ngày nay) để sinh và lánh nạn. Khi võng cáng của bà Ngô Thị Ngọc Dao vừa tới cầu Tray nơi giáp giới hai huyện Duyên Hà và Thần Khê, đó là làng Chép thuộc xã Gia Lạp, huyện Duyên Hà và làng Sâm, xã Mậu Lâm, huyện Thần Khê (Là khu giáp danh giữa xã Văn Cẩm và xã Đông Đô huyện Hưng Hà – Thái Bình ngày nay) thì bà trở dạ đẻ. Không thể đi được nữa. quân lính đi theo hộ tống bà phải dừng lại để quây màn, nhiễu cho bà sinh. Tưởng như sinh được nhưng tới mãi gần sáng vẫn chưa sinh; mọi người lo lắng, sợ quân của triều đình do bà Nguyễn Thị Anh sai truy đuổi sát hại, Bà Ngọc Dao thắp nén hương khấn vái trời đất cho sinh đẻ, nếu không thì cho chết để khỏi liên luỵ đến mọi người. Bài khấn của bà có mấy câu mà tới nay người dân Đô Kỳ - Y Đốn vẫn còn truyền tụng:
“Có phải con mẹ, con cha
Thì sinh ở đất Duyên Hà - Thần Khê
Nhược bằng bác mẹ chẳng sinh
Thì quăng ra đất Vạn Ninh cho rồi”. (đất Vạn Ninh: Nghĩa là đất bãi tha ma)
Lời khấn vừa dứt thì bà Ngô Thị Ngọc Dao sinh được một con trai, đặt tên là Lê Tư Thành (sau này trở thành vua Lê Thánh Tông), mọi người mừng rỡ, và cử người vào làng Sâm tìm được một bà đang nuôi con nhỏ tới cho Hoàng Tử bú sau đó đưa mẹ con bà Ngọc Dao về Ngoại Thôn, xã Y Đốn nghỉ ngơi. Tại đây hai bà người họ Đinh nuôi Hoàng tử giúp bà Ngọc Dao. Phần mộ hai nhũ mẫu này ngày nay vẫn còn ở Đường Vuông thuộc xứ đồng bà Lễ (gần đầu cừ trong lăng họ Đinh) xã Bình Lăng huyện Hưng Hà, tỉnh Thái bình. Bà mẹ cho hoàng tử bú lúc mới sinh ra được thờ ở đền làng Sâm cạnh dòng sông Đô Kỳ (thôn Mậu Lâm, xã Đông Đô- Hưng Hà - Thái Bình ngày nay), nhân dân gọi đền thờ ấy là đền bà Vú Sữa. Người ta gọi là đền bà Vú sữa vì đền thờ bà vú nuôi của vua Thánh Tông, hơn nữa bên cạnh đền có cây vú sữa to đã sống được vài trăm năm tuổi, ước chừng đến mấy người ôm không xuể cũng đã được trồng từ khi lập đền thể hiện ý nghĩa chăm no nuôi nấng Thánh Tông hồi còn nhỏ và đến nay cây vú sữa vẫn còn xanh tươi và toả bóng mát.
Họ đinh xã Y Đốn nuôi Thánh Tông từ nhỏ lọt lòng và một số danh nhân của dòng họ đã kế tục được truyền thống của các thế hệ trước phò tá triều Lê. Nêu cao tấm gương trung dũng nên ở từ đường họ Đinh tới nay vẫn còn ba đôi câu đối như sau:
- Đôi câu đối thứ nhất:
國史留碑地繼瑞亭湯沐邑
神州興讓名馳美里裔遺香
Quốc sử lưu bi kế thuỵ đình thang mộc ấp
Thần Châu hưng nhựơng danh trì Mỹ lý duệ di hương
Nghĩa là:
Quốc sử lưu bia đá, ấp Thang mộc nơi đây kế tiếp với đất Thuỵ.
Huyện thần khôi phục ngôi vua danh vang làng Mỹ nay còn thơm đến cháu con.
- Đôi câu đối thứ hai:
護國庇民平北寇
除邪輔政顯丁門
Hộ quốc tí dân binh bắc quốc
Trừ tà phụ chính hiển Đinh môn
Nghĩa là:
Giữ nước giúp dân dẹp yên giặc Bắc
Trừ gian phò chính rạng rỡ họ Đinh.
- Đôi câu đối thứ ba:
翊扶中運光前史
欽嶺皇恩裕後昆
Dực phù trung vận quang tiền sử
Khâm lĩnh hoàng ân dụ hậu côn
Nghĩa là:
Giúp khôi phúc ngôi vua, ngời sáng sử trước
Vâng mệnh nhận ơn vua, rạng rỡ cháu con
Đến khi trưởng thành, Tư Thành sang Đô Kỳ ở và xây dựng doanh trại ở đó, nhờ vào nhà chùa để làm việc. Năm 1459, cổng doanh trại được trồng hai cây thị để làm cột cổng ra vào, hiện nay hai cây thị này vẫn còn và đang sống xanh tốt. Trong thời kỳ chống Pháp, 2 cây thị đứng sừng sững có thể chứa được vài cán bộ du kích ẩn náu trong gốc, đến nay 2 cây thị đã sống được gần 600 năm. Qua thời gian dài, 2 cây thị đã từng chứng kiến những biến cố thăng trầm của một giai đoạn lịch sử dân tộc cũng như một phần của dòng họ Đinh ở Đô Kỳ. Hiện nay tỉnh Thái Bình đã giao cho xã Đông Đô và gia đình cụ Đinh Văn Bồng thuộc nhóm họ Đinh Văn ở xóm 1 Đại Nghĩa thôn Đô Kỳ quản lý chăm sóc (Xem ảnh phía dưới).


Ở Thăng Long, nghe tin việc Đinh Liệt cho xây thành đắp luỹ ở Đô Kỳ bà Thái hậu Nguyễn thị Anh sai quan về thanh tra truy xét, quan quân về đến nơi chỉ thấy thành bỏ không, ở giữa là một ngôi chùa cổ kính quay hướng Tây, phía trái và phía phải chùa là cái ao và 2 ngôi đình sừng sững có tên là đình Hữu và đình Đông, quan khâm sai cũng phải thốt lên rằng “Quả là một Kỳ Đô!” cho nên điạ danh “Đô Kỳ” cũng được xuất hiện và bắt nguồn từ đấy. Từ năm 1986 đến nay ngôi chùa được khôi phục và trùng tu mở rộng thêm. Đền bà Ngô Thị Ngọc Dao cũng được dựng lại nằm sát ngay phía trước cổng chùa, còn 2 ngôi đình Đông và đình Hữu thì không còn nữa mà chỉ còn bóng dáng hiên ngang trong tiềm thức, nền đình ngày xưa nay đã trở thành khu ở của dân cư đông đúc (xem ảnh phía dưới).

Khi Tư Thành được 4 tuổi, theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, thì Tuyên Từ thái hậu (Nguyễn Thị Anh) mới ăn năn cho người đi tìm rước mẹ con bà Ngọc Dao về Kinh, phục vị cũ cho bà là Tiệp Dư, và phong cho Tư Thành làm Bình Nguyên vương, sau đổi làm Gia vương.
Năm Canh Thân (1440), bà Ngọc Giao được phong làm Tiệp dư, ở cung Khánh Phương. Trước đây, Lê Thái Tông đã có 2 bà phi là Lê Ngọc Dao (con Đại tư đồ Lê Sát) và Lê Thị Lệ (con Tư khấu Lê Ngân). Khi Lê Sát và Lê Ngân bị xử tội năm 1437, hai người bị phế. Lê Ngọc Dao xuống làm dân thường còn Lê Thị Lệ xuống làm Tu dung. Sau đó Thái Tông sủng ái bà phi Dương Thị Bí và sinh ra con trưởng là Lê Nghi Dân năm 1439. Năm 1440, Thái Tông bắt đầu sủng ái Nguyễn Thị Anh và lấy cớ Dương Thị Bí kiêu ngạo nên truất làm Minh nghi. Năm sau một người con trai thứ hai của bà Dương Thị Bí là Lê Khắc Xương ra đời, nhưng mẹ cũng không được vua yêu. Cùng năm đó Nguyễn Thị Anh sinh được Lê Bang Cơ (1441-1459), Thái Tông liền truất Lê Nghi Dân, con của Dương Thị Bí, khi ấy mới 2 tuổi, làm Lạng Sơn vương và lập Bang Cơ làm Thái tử.
Năm 1459, trong lúc ông Đinh Liệt đang xây dựng lực lượng ở Đô Kỳ thì xảy ra cuộc đảo chính lần thứ nhất người anh cả cùng cha khác mẹ của Thánh Tông là Lê Nghi Dân (là con trai cả của phi Dương Thị Bí) đã tiến hành cuộc đảo chính lần thứ nhất, dùng bọn quyền thần như: Phạm Đồn, Phan Ban và Trần Lăng tiến hành đảo chính giết hại Thái Hậu Nguyễn Thị Anh và anh trai cùng cha khác mẹ của Tư Thành là vua Lê Nhân Tông để cướp ngôi. Sau khi Lê Nhân Tông bị sát hại, Nghi Dân lên ngôi. Trong lần đảo chính lần thứ nhất Tư Thành không bị vua anh sát hại, mà còn được cải phong làm Cung Vương.
Chín tháng sau, một cuộc đảo chính thứ hai do Nguyễn Xí và Đinh Liệt cầm đầu đã giết chết Lê Nghi Dân để chọn thái tử khác lên ngôi. Ban đầu, các đại thần định mời anh thứ hai của Tư Thành là Cung vương Lê Khắc Xương lên ngôi, nhưng Khắc Xương từ chối không muốn nhận ngôi báu. Họ tiến cử Lê Tư Thành ra làm vua và ông đã chấp thuận.
Ngày 8 tháng 6 năm Canh Thìn (1460), Lê Tư Thành lên ngôi, tức là vua Lê Thánh Tông, lấy niên hiệu là Quang Thuận và Ngô Thị Ngọc Dao trở thành Quang Thục Hoàng thái hậu, năm đó ông chỉ mới 18 tuổi. Ông chỉ định Nguyễn Xí và Đinh Liệt vào các chức quan cao nhất của triều đình, nắm giữ binh quyền. Xét về công lao phò vua giúp Lê Thánh Tông lên ngôi vua thì ông Đinh Liệt và Nguyễn Xí được xếp vào hạng công đầu.
Sau khi vua Lê Thánh Tông đánh thắng Chiêm Thành đưa Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Dao về thăm mẹ đẻ là bà Đinh Thị Ngọc Kế ở Sáo Đền – An Lão (thuộc xã Song An huyện Vũ Thư, Thái Bình ngày nay) về bái yết phần mộ Tổ ngoại họ Đinh là mộ bà Sang ở gò bà Sang tại thôn Đa Phú, xã Tây Đô, huyện Hưng Hà Thái Bình. Sau khi trở về kinh đô, Hoàng thái hậu nói với vua biết ý định của bà về việc xây hai ngôi đền để thờ tổ tiên họ ngoại: Một ở Đô Kỳ, và một ở Sáo Đền. Vua ra lệnh làm ngay theo ý của Hoàng Thái Hậu. Đền Đô Kỳ thuộc xã Đông Đô ngày nay được gọi là Phúc Dụ Phúc Điện, dân ở đây gọi là đền thờ bà Quốc Mẫu, bên trong thờ các vua Lê và Hoàng Thái Hậu Ngọc Dao do Tổ họ Đinh và tổ họ Ngô phối hưởng, đền Dụ Phúc nay không còn nữa. Đền An Lão gọi là Đốc Hữu Điện, Hoàng Thái Hậu Ngọc Dao sai công cháu Bảo Thánh hàng năm phải về lo vịêc thờ cúng giỗ họ ngoại ở hai nơi này. Thái hậu sai Đinh Thế Biểu là cháu nội ông Đinh Liệt về ở Đô Kỳ, Dao cho 27 mẫu ruộng để lo việc thờ cúng tổ tiên; laị sai ông Đinh Vĩnh Thái là con ông Đinh Lễ về Sáo Đền ở giữ 100 mẫu ruộng để lo liệu hương hoả phụng thờ.
Sau này, khi về tri sĩ ông Đinh Thừa Cận (đời thứ 8) có lúc đã về ở Sáo Đền An Lão. Mộ ông để ở Hoà Trai (làng Hò xã Hoành Mỹ), con cháu có người ở đó trông nom lăng mộ của ông gọi là lăng Thuý Quận Công Đinh Phúc Diên (đời thứ 9), ở đó hình thành mọt chi phái của dòng họ Đinh Sáo Đền, An Lão. Do vậy, hiện nay từ đường họ Đinh ở Sáo Đền An Lão còn có 1 đôi câu đối:
“同胞三國公貫都奇遷翠檜別居安老莊德澤神胎今子姓
一堂義代福世將濟祭侯王表孫皇太后丁清人仰古忠賢
Đồng bào tam quốc công quán Đô Kỳ thiên Thuý Cối, biệt cư An Lão trang đức trạch thần thai kim tử tính.
Nhất đường nghĩa đại phúc thế tướng tể tế hầu vương biểu, tôn Hoàng Thái Hậu Đinh thanh nhân ngưỡng cổ trung hiền
Nghĩa là:
Anh em ruột ba quốc công, quê ở Đô Kỳ rời sang Thuý Cối, ra An Lão ân đức nòi thần truyền cho con cháu đến ngày nay.
Phúc mộ nhà đời đời có nghĩa dòng dõi tướng được phong vương hầu, cháu ngoại Hoàng Thái Hậu từ cổ xưa đã kính mến sự hiền trung của họ Đinh nhân nghĩa sàng trong.
Vào những năm 1480 - 1485 thời vua Lê Thánh Tông, ông Đinh Thế Vĩnh từ huyện Ngọc Sơn tỉnh Thanh Hoá ra Đô Kỳ ở rồi sinh được một người con trai tên là Đinh Công Khánh, sau sang ở Ngoại Thôn- Y Đốn (làng Đún Ngoại) đổi là Đinh Bá Đỉnh.
Ở Hoà Trai (làng Hò), xã Hoành Mỹ (xã Thống Nhất ngày nay), vào thời vua Lê Anh Tông và Lê Thế Tông (1557 -1599), ông Đinh Phúc Vận được phong tước Nam quận công, được hưởng lộc điền vì có nhiều công đánh giặc. Ông Đinh Phúc Vận đóng quân trên đất Hoà Trai, bảo vệ luỹ Việt Yên, đánh nhau với quân nhà Mạc. Con trai ông là Đinh Thừa Cận và cháu nội ông là Đinh Phúc Diên phò tá các vua Lê Thế Tông, Lê Minh Tông, Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tùng, Trịnh Tráng (1574- 1643), con trai và các cháu nội ông có nhiều công lao đánh giặc, diệt quân Mạc nên được phong ấp ở Sáo Đền và Y Đốn (Thái Bình) Cẩm Giàng (Hải Dương), Chúa Trịnh đã thưởng hai kim bài (thẻ vàng) cho hai ông Đinh Phúc Vận và Đinh Phúc Diên.
Vào năm 1627 ông Đinh Phúc Diên đã xây từ đường họ Đinh ở Ngoại thôn, xã Y Đốn và đặt đất làm hai khu lăng dành riêng để mai táng các vị công thần họ Đinh trên đất y Đốn (xưa hay gọi là khu cấm địa, các họ khác không được phép mai táng ở đây) Khu lăng gồm hai ô đất hình vuông gọi là Đường vuông.
Khu lăng thứ nhất ở xứ Bà Lễ, sát đầu cừ (ngòi), diện tích khoảng 15 m x 15 m gọi là lăng Đường Vuông xứ Bà Lễ , Ở đây có hai ngôi mộ của hai bà họ Đinh là nhũ mẫu của vua Lê Thánh Tông.
Khu lăng thứ hai ở sau khu ở Sau Vượt, nên có tên là đường Vuông Sau Vượt. Ngày xưa tương truyền, ở đây có mộ cụ tổ họ Đinh đầu tiên về ở làng Đún Ngoại; tại đây còn có phần mộ của các ông Đinh Phúc Liên. Đinh Thuần và một số ông khác. Có người còn nói rằng: ông Đinh Thế Khoan cũng để ở đây.
Sau khi đã định cư Y Đốn, ông Đinh Phúc Liên cùng con cháu ông Đinh Thế Khoan làm sớ tâu lên vua Lê về công tích của tổ tiên. Năm 1714 vua Lê Dụ Tông phong tặng ông Đinh Lễ một đạo sắc. Năm 1730 vua Lê Duy Phường phong tặng ông Đinh Liệt một đạo sắc. Tới năm 1783 vua Lê Hiển Tông lại phong tặng hai đạo sắc cho hai anh em ông Đinh Lễ và Đinh Liệt và ban sắc lệnh cho nhân dân Ngoại Thôn ở Y Đốn thờ hai ông làm Phúc Thần và cũng phong sắc cho hai ông làm Thành Hoàng ở địa phương này. Năm 1784 chúa Đoan Nam Vương Trịnh Khải phong chức Phó Đội trưởng cho ông Đinh Do và điều ông về làm việc ở phủ chúa.
Sau này Lê Quí Đôn đã đưa công lao thành tích của họ Đinh vào Đại Viêt thông sử, nói rõ về con cháu họ Đinh ở xã Y Đốn, tổng Y Đốn, huyện Thần Khê, phủ Tiên Hưng tỉnh Thái bình ngày nay.
Sang thời nhà Nguyễn, năm 1924 vua Khải Định phong hai ông Đinh Lễ, Đinh Liệt làm Trung Hưng Trung Đẳng Thần và ông Đinh Phúc Diên là Trung Hưng Tôn Thần, ra lệnh cho nhân dân địa phương thờ phụng các ông làm Phúc Thần của Ngoại thôn, xã Y Đốn, tỉnh Thái bình ngày nay.
Suốt thời kỳ nhà Nguyễn và thời kỳ Pháp thuộc, con cháu họ Đinh ở đây không ai thi cử hoặc cộng tác với triều Nguyễn và làm cho Pháp. Tương truyền rằng khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua (1802 - 1820), sai sử thần mang chiếu chỉ nhà vua về địa phương này mời con cháu họ Đinh ra làm quan. Không ai trong họ Đinh nhận lời, có người còn ghi vào chiếu chỉ của vua: “Tri Lê triều bất tri Nguyễn triều “Biết triều Lê không biết triều Nguyễn”. Vì thế nhà Nguyễn đã phê mấy chữ: “Đinh thị bất đắc ứng thí” nghĩa là: Họ Đinh không được ai dự thi.
Trước khi ông Đốc Nhưỡng (Đinh Khắc Nhưỡng) (còn có tên là Đinh Quang Nghĩa) nổi lên xây dựng căn cứ chống giặc Pháp ở Đô Kỳ, hàng năm đại diện cho họ Đinh ở Thanh Hoá vẫn ra thăm hỏi chi phái họ Đinh ở Đô Kỳ - Y Đốn. Nhưng từ sau sự kiện ông Đốc Nhưỡng đánh Pháp thì lệ đó cũng bị lãng quên đi. Khi giặc Pháp xâm chiếm Thái Bình, ở Đô Kỳ có cai tổng tên là Cai Đấm liên hệ làm việc với giặc Pháp tỉnh lỵ ở Thái Bình ở đất Đô Kỳ. Thực dân Pháp quyết định cho cai tổng Đấm làm tri huyện, ông Đinh Khắc Nhưỡng đã tổ chức giết chết cai tổng Đấm trong đêm hắn tổ chức khao vọng với bọn hào lý điạ phương.
Từ sau hai căn cứ của ông Thành Thà (tức Nguyễn Thà hay Nguyễn Khả Dã) được vua Hàm Nghi phong chức Thuý Uý thành Nam Định, rồi phong chức Phó Lãnh binh, nên được gọi là Thành Thà). Sau khi thành Nam Định thất thủ ông quay về làng Phươn và láng Bổng (nay là làng Bóng huyện Hưng Hà, Thái Bình).
Ở Đô Kỳ và làng Phươn bị tan vỡ do có kẻ làm phản, Lương Đức Vy người thôn Thần Khê xã Lỗ Xá huyện Thần Khê (nay là xã Minh Tân huyện Đông Hưng, Thái Bình) là tay sai Hoàng Cao Khải, chui vào tổ chức của Đốc Nhưỡng làm phản). Ông Đốc Nhưỡng chạy sang Hưng Yên phối hợp với ông Đốc Tít và ông Thương Lương (con ông Thành Thà) ở căn cứ bãi sậy, tổ chức lực lượng rải suốt từ Thái Bình, Nam Định lên đến Sơn Tây. Ông Đốc Nhưỡng bị Pháp bắt ở Sơn Tây năm 1892. Sau khi ông Đốc Nhưỡng bị bắt, một số con cháu họ Đinh ở Đô Kỳ đi theo ông Đốc Nhưỡng xây dựng lực lượng chống Pháp đã phải phân tán đi nhiều nơi, có người phải lánh sang tận Hải Dương, còn một số người ở lại đây trong đó có ông Đinh Danh Giảng thì đi theo phong trào của ông Bang Tốn, nhưng phong trào này ít lâu sau cũng bị dập tắt.
Ông Đốc Nhưỡng là một trong những người con ưu tú của họ Đinh ở Đô Kỳ - Y Đốn và cũng là một trong những nhân vật tiêu biếu của phong trào Cần Vương đánh Pháp thời bấy giờ. Ông đã kế tiếp được truyền thống cứu nước chống giặc ngoại xâm của tổ tiên tự thuở đánh giặc Minh. Từ đó dòng dõi họ Đinh ở Đô Kỳ - Y Đốn không ai chịu làm quan cho giặc. Đối với ngôi thứ trong làng cũng nhiều người từ chối không nhận, như ông: Đinh Danh Khì được dân quí mến bầu làm xã Sử cũng từ chối không làm, lấy cớ nghèo không có tiền khao vọng. Trong thời kỳ Pháp thuộc, có một số trường hợp con cháu họ Đinh ở Y Đốn làm lý trưởng, chánh tổng thì cũng nhằm bảo vệ con cháu và giữ gìn dòng họ, hoặc có người gọi là ông lý, bà cai, bà xã… thì cũng chỉ là cái danh chức mua để tránh việc phu phen của làng xã mà thôi.
Vì không chịu khuất phục triều đình nhà Nguyễn và không chịu theo Pháp, con cháu họ Đinh ở Y Đốn, Đô Kỳ nhiều người nghèo khó, phải di cư tản mát đi nhiều nơi để làm ăn sinh sống, một số người trong họ bảo nhau: “Đói ra bắc, chạy giặc vào Nam” và đã thiên cư đến một số nơi như: Hải Dương, Phả lại, Chí Linh, Đông Triều( Ngô Đồng, Thiên Ngái)… Họ tên của dòng dõi vua nhà Nguyễn có lót là “Phúc”, con cháu họ Đinh ở Y Đốn cũng đổi chữ lót là “ Phúc” để lấy chữ lót là “Danh” và họ Đinh ở Y Đốn gọi là họ “Đinh Danh” để tránh tai mắt của thế lực đương thời. Hiện nay dòng họ Đinh ở Đô Kỳ không còn giữ nguyên tên lót là “Đinh Danh” nữa mà được chia ra thành nhiều nhóm họ Đinh khác nhau, qua khảo sát cho thấy có 9 nhóm họ Đinh khác nhau, là: Đinh Văn, Đinh Trọng, Đinh Bá, Đinh Khắc, Đinh Huy, Đinh Tiến, Đinh Định, Đinh Mạnh, Đinh Thọ, đó là những nhóm họ Đinh cơ bản có gia phả dòng tộc và từ đường. Nhiều con cháu sau này đã đổi chữ lót thành chữ lót khác nhau nên từ đời thứ 10, 11 trở đi không ghi chép đầy đủ được.
Con ông Đinh Liệt là Đinh Công Đột (đời thứ bốn) vợ là bà Lê Thị Ngọc Đường, bà là Công chúa con gái vua Lê, ông bà sinh được bốn người con trai.
Đinh Công Đột làm quan dưới triều vua Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông và vua Lê Thánh Tông , chức hị Lang Bộ Binh, sau làm Thượng thư Bộ Binh ( Bộ Trưởng ) vinh phong là Tán trị cong thần kiêm Tông Nhân phủ tông Nhân Lệnh tả tông nhân, tước Văn Thắng hầu. Ông bà thiên cư từ sách Mỹ Lâm (Thọ Xuân- Thanh Hoá) ra Đống Cải, xã Thanh Nê (nay là Đông Cao, xã Trung Chính , Nông Cống, Thanh Hoá).
Con ông Đinh Liệt có trưởng nữ là bà Đinh Thị Ngọc Mai, con trai út là ông Đinh Công Hiến, ông làm quan dưới các triều vua Lê Thái Tông, nên Nhân Tông và Lê Thánh Tông, từng theo vua đi đánh dẹp Bồn Mang, Chiêm Thành, giữ chức Trân tứ xương Đô chỉ huy sứ, hàng quan thượng phẩm, Thiếu bảo, tước Triệu Xương ba.
Con ông Đinh Công Đột là ông Đinh Công Minh (đời thứ năm) Vợ là Lê Thị Ngọc Mại , ông bà sinh được hai người con trai, ông là quan dười triều vua Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, giữa các chức Tả thị Lang Bộ công, thượng thư Bộ công, phong tước Lương nghĩa hầu.
Con ông Đinh Công Minh là Đinh Công Hữu (đời thứ 6), ông bà sinh được một con trai, ông giữ chức Đô Tổng Binh Đồng tri.
Con ông Đinh Công Hữu là Đinh Phúc Vận (đời thứ 7) ông bà sinh được một con trai. Ông làm quan dười triều vua Lê Anh Tông. Lê Thế Tông và chúa Trịnh Tùng, có công đánh dẹp nhà Mạc, thu phục Kinh sư, được thưởng kim bài, được phong là Minh Nghĩa Kiệt Tiết công thần, Thái tế Nam quận công, sau trấn giữ luỹ Việt Yên (nay là Hưng Hà, Thái Bình). Khi trí sỹ, ông về xã Hoàng Mỹ (Làng Hò, xã Thống nhất, Hưng Hà).
Con ông Đinh Phúc Vận là Đinh Thừa Cận (đời thứ 8) vợ là Trịnh Thi Ngọc Phụ, được phong là Quận Phu nhân là con gái quan Thái uý Liệt quốc công Trịnh Khả, ông bà sinh được 2 người con trai. Ông làm quan dưới thời Lê Thế Tông và chúa Trịnh Tùng, theo cha di đánh giặc, tiễu trừ nhà Mạc, lạp nhiều công lớn, giữ chức Thái Tể, được tặng phong Dương Vũ uy Dũng Tán trị công thần, tước Thuý quận Công. Khi về tại làng Hò, xã Hoàng Mỹ, huyện Hưng Hà nay là xã Thống Nhất, Hưng Hà gọi là Lăn Thuý quận công, vì từ lâu không có liên hệ vì nhau, nên chưa ghi chép được con cháu họ Đinh ở làng Hò, xã Thống Nhất, Hưng Hà vào Đinh Tộc thế phả.
Con ông Đinh Thừa Cận là Đinh Phúc Diên (đời thứ 9) vợ là Quận chúa, ông bà sinh được một con trai.
Ông làm quan dưới thời Lê Minh Tông, Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tùng, chú Trịnh Tráng, lập được nhiều chiên công đánh dẹp nhà Mạc. Giữ chức Thiếu Uý, Tả Đô Đốc Đông Quân, được tặng phong tán trị công thần, Dương quận Công, tặng thưởng kim bài
Năm 1627 ông đã xây dựng Từ đường họ Đinh ở Ngoại thôn, xã Y Đốn và cắm các khu cấm địa để làm lăng mai táng các bậc công thần họ Đinh . Ông được triều Nguyễn, Khải Định thứ 9 (1924 ) sắc phong là Trung Hưng Tôn Thần, Phúc Thần Lang Y Đốn, huyện Thần Khê.
Con ông Đinh Phúc Diên là Đinh Phúc Tiến (đời thứ 10) ông bà sinh được 3 con trai, ông làm quan dưới triều vua Lê Thân Tông và Hoàng Tổ Dương Vương Trịnh Tạc, đóng ở Hàm Giang (tức Hàn Giang, Cẩm Giàng và Hải Phòng). Làm chức Chánh Đội Trưởng, tước Khuông Câu Hầu.
Con ông Đinh Phúc Tiến là Đinh Phúc Đạt (đời thứ 11) ông bà sinh được một người con trai, làm quan dười thơi Lê Hy Tông, Dụ Tông và Chúa Trịnh Căn, Trịnh Cương có công đánh nhà Mạc, làm chức Chánh Đội trưởng, tước Phan Lộc hầu.
Con thứ Đinh Phúc Liên (đời thứ 11), ông bà sinh được 3 người con trai. Ông làm quan dưới triều vua Lê Dụ Tông, chúa Trịnh Căn và chúa Trịnh Cương, có công dẹp giặc Mạc, được tước phong Trí An Hầu. Ông đã tu sửa Từ đường họ Đinh. Mộ ông để tại lăng Công thần họ Đinh ở ngoại thôn, xã Y đốn.
Trong tộc phả thế phả cũng có ghi: “ Con cháu các ông Đinh Thế Thỉnh, Đinh Điển, Đinh Nhi… Đinh Nhân Thọ, Đinh Công Quy. Đinh Công Nham...
Con ông Đinh Phúc Liên là các ông Đinh Cảnh, Đinh Sâm, Đinh Phúc Hồ (đời thứ 12).
Con ông Sâm là Đinh Phúc Tín đời thứ 13.
Con ông Đinh Phúc Tín là Đinh Nhân Hậu (đời thứ 14) ông Đinh Nhân Hậu sinh 3 người con trai , là ông Tổ chung của Phái họ Đinh ở xã Y Đốn, tổng Y Đốn huyện Thần Khê cũ.
Đời thứ 15 con ông Đinh Nhân Hậu:
Phái Trưởng: Ông Đinh Thuần, ông giữ chức Huỵện thừa huyện Nam Chân, Nam Định, ông bà sinh được 3 người con trai, con cháu hậu duệ của ông phần lớn ở xã Chi Lăng – Hưng Hà – Thái Bình.
Phái thứ hai: Ông Đinh Thời, ông sinh được bốn người con trai, ông là ông tổ phái thứ hai.hậu duệ của ông phần lớn ở xã Minh Tân, và Lô Giang, huyện Đông Hưng, Thái Bình.
Phái Thứ ba ông Đinh Nghiêm, ông sinh được bốn người con trai, ông là ông tổ phái ba con cháu hậu duệ của ông chủ yếu ở thôn Trần Phú xã Chi Lăng, Hưng Hà, Thái Bình.
Từ đời thứ nhất đến đời thứ 15 họ Đinh ở Đô Kỳ, - Y Đốn liên tục có người làm quan trong triều, đã đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước , bảo vệ Tổ quốc. Do đó có nhiều người được phong chức tước cao, (chỉ mới kể trong những người ghi chép trong Đinh tộc thế phả này) Bốn vị được phong tước đại vương, hai vi được phong tước Quốc công, Ba vị được phong tước Quận công . Hai mươi bốn vị được phong tước hầu. Hai vị được phong tước Bá.
Từ đời thứ 19 trong họ có tranh luận về câu: “Quốc công hầu dân xã tổng lý”, nghĩa là: ở triều đình làm quan đến công hầu khanh tướng, ở làng xã phải làm đến chức chánh tổng, lý trưởng”. Sau ngã ngũ là phải có ngôi thứ trong dân để bảo vệ di tích của tổ tiên và bảo vệ con cháu. Từ đời này trở đi, phái thứ nhất và phái thứ 3 đã có người ra làm chánh tổng, lý trưởng để cùng các họ khác trong làng xã giải quyết mọi việc ở đình Trung và cũng là để bảo vệ, giữ gìn con cháu và dòng họ.
Họ Đinh ở Y Đốn từ đời thứ 15 đến nay đã hình thành ba phái, mỗi phái thờ một ông Tổ là các ông Đinh Phúc Thuần(Đinh Thuần) là phái thứ nhất. Đinh Phúc Thời (Đinh Thời) là phái thứ hai và Đinh Phúc Nghiêm (Đinh Nghiêm) phái là pháp thứ 3 Ba, phái thờ ông tổ chung ở đời thứ 14 là ông Đinh Nhân Hậu, cùng thờ ông thuỷ tổ Đinh Thỉnh, các ông Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt và các ông tổ khác của dòng họ Đinh ở Y Đốn- Đô Kỳ, Thái Bình.
Từ đời thứ nhất đến đời thứ 16 họ Đinh ở Đô Kỳ- Y Đốn, liên tục có người làm quan ở trong triều, đã đóng góp tích cực vào công việc xây dựng đất nước bảo vệ tổ quốc. Do đó có nhiều người được phong tặng chức tước cao.
- Có 4 vị được phong tước Đại vương:
+ Đinh Thỉnh: Mục huệ đại vương
+ Đinh Lễ: Hiển Khánh Đại Vương thượng đẳng phúc thần, trung Hưng trung đẳng thần, phúc thần của ngoại thôn xã Y Đốn Thái Bình.
+ Đinh Bồ: Linh cảm ( Uy dũng ) Đại vương, trung Đẳng phúc thần của xã Phúc Điền, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
+ Đinh Liệt: Trung mục Đại vương , thượng đẳng phúc thần, trung Hưng , trung đẳng thần, phúc thần của Ngoại Thôn xã Y Đốn, tỉnh Thái Bình.
- Có 2 vị được phong tước Quốc công:
+ Đinh Tôn Nhân: Hùng quốc công.
+ Đinh Thế Khoan: Triệu quốc công
- Có 3 vị được phong tước quận công:
+ Đinh Phúc Vận: Nam quân công
+ Đinh Thừa Cận: Thuý quận công
+ Đinh Phúc Diên: Dương quận công, Trung hưng tôn thần, phúc thần của Ngoại Thôn, xã Y Đốn tỉnh Thái Bình.
- Có 24 vị được phong tước hầu:
+ Đinh Trung: Tước hấu
+ Đinh Huệ: Tước hầu
+ Đinh Vĩnh Thái: Trung nghĩa hầu
+ Đinh Công Đột: văn thắng hầu
+ Đinh Công Minh: Lương nghĩa hầu
+ Đinh Tiến Lộc: Triệu dương hầu
+ Đinh Khắc Thận: Mỹ lâm hầu
+ Đinh Nhân Thực: Lễ Toàn hầu
+ Đinh Thế Biểu: Dùng Thiện hầu
+ Đinh Thế Hoàn: Hoằng tuy hầu
+ Đinh Trọng An: Trinh nghi hầu
+ Đinh Tịnh: Bái Dương hầu.
+ Đinh Tấn: Tước hầu
+ Đinh Thế Vinh: Tước hầu
+ Đinh Công Kiệt: tước hầu
+ Đinh Công Xiêm: Đặng xã hầu
+ Đinh Phúc Tiến: Khuông cầu hầu
+ Đinh Phúc Tuyển: Vũ hoàn hầu
+ Đinh Phúc Đạt: Pham lộc hầu
+ Đinh Phúc Liên: Trí án hầu
+ Đinh Văn Chất: Triệu vũ hầu
+ Đinh Thời Tài: Kiên dũng hầu
+ Đinh văn Chuyên: tước hầu
+ Đinh Văn Nghi: Khôi thọ hầu.
- Hai vị đựơc phong bá tước:
+ Đinh Công Hiến: Tri

Tìm hiểu ý nghĩa của câu ca dao “Ở đời có bốn cái ngu: Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”Cách xóa hẳn một trang Blog Opera

Write a comment

New comments have been disabled for this post.

June 2012
M T W T F S S
May 2012July 2012
1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30