My Opera is closing 3rd of March

Never give up!Never say die!

You are what you think!

ĐẠO PHẬT

Thế kỷ thứ 6 trước công nguyên,

Thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, ở Ca-ti-na thuộc biên giới phía nam vùng Ne-pan (Nepal) ngày nay - hoàng hậu nước này nằm mơ thấy một con voi trắng, dùng vòi dâng lên bà một bông hoa sen trắng, đặt hẳn vào lòng bà. Sau đó bà sinh hạ một hoàng tử. Kỳ lạ thay hoàng tử vừa mới sinh đã đi được 7 bước, mỗi bước đều nở hoa sen. Đó là Cau-ta- ma Xi-đa-ta (Gautama Seddhartha: Tất Đạt Đa), sau này trở thành người sáng lập ra đạo Phật và được gọi là vị thánh của dân tộc Sư ka (Thích ca mầu ni).

Xi-đa-ta thông minh hiếu học, tri thức uyên thâm, rất giỏi cưỡi ngựa bắn cung. Hoàng tử là người có lòng từ thiện, và giàu thương cảm. Một hôm đi xe ngựa ra ngoài thành chơi, hoàng tử trông thấy một ông già gù, quần áo lam lũ, chống gậy, đi lại một cách khó khăn, lúc nào cũng chỉ chực ngã xuống. Lát sau hoàng tử lại gặp một người bệnh, gầy như que củi, đang ngồi rên trên một tảng đá. Tiếp đó, hoàng tử lại gặp một xác người nằm bên vệ đường. Xi-đa-ta thương tâm lấy hai tay ôm mặt, bảo người xà ích: ''Về ngay thôi, nhanh lên!''.

Người xà ích vội cho xe quay về, buồn rầu than: ''Hoàng tử không biết sao, đây chính là con đường của một kiếp người?''.

Câu nói khiến hoàng tử trầm tư, suy nghĩ. Sinh, lão, bệnh, tử là con đường của một đời người phải trải qua ư! Không kể người sang hay kẻ hèn, chẳng ai thoát khỏi con đường này ư? Làm cách nào để con người được “giải thoát”, khỏi con đường đau khổ đó? Hoàng tử đã đọc biết bao kinh Vê-đa, mới biết bao giáo sĩ thuộc đạo Bà-la-môn giảng cho, nhưng không tìm được câu trả lời. Bởi vậy chàng nảy ra ý định xuất gia tu hành, hy vọng tự mình tìm ra lời giải.

Nghe nói hoàng tử muốn đi tu, nhà vua giật mình, vội cưới cho hoàng tử một công chúa xinh đẹp của vương quốc láng giềng, hy vọng lung lay ý định tu hành của hoàng tử. Năm Xi-đa-ta 29 tuổi, công chúa sinh được một con trai là Rô-hao-rô, Xi-đa-ta nghĩ thế là đức vua cha đã có người nối dõi mình có thể yên tâm lên đường. Đúng lúc vua Tịnh Phạn vui mừng mở tiệc chúc mừng đứa cháu nội ra đời, Xi-đa-ta lặng lẽ từ giã vợ con rời khỏi hoàng cung, trở thành một hành khất trong tay không một đồng xu.

Sáu năm trời, ông đi khắp nơi tìm đến các thầy giỏi, các bậc thánh thần cùng họ đàm đạo, tìm hiểu về cội nguồn của lẽ sống, nhưng vẫn không thu được gì hơn. Vào lúc ông cảm thấy thất vọng, ông đặt chân đến U-ru-vi-rô, một nơi có rừng cây rậm rạp, sông nước sạch trong, có thể là nơi tu hành. Ông quyết định ở lại để tìm con đường giải thoát, nhưng thân suy lực kiệt mà vẫn không thu được gì.

Ông xuống sông tắm rửa sạch sẽ, uống sữa bò do các cô gái chăn bò cho, ngồi dưới gốc cây bồ đề, mặt quay về hướng đông xếp chân bàn tròn. Sau 7 lần 7, 49 ngày, cuối cùng trong một đêm sao thưa trăng sáng, ông bỗng thấu hiểu mọi lẽ của cuộc sống, ngộ đạo thành Phật. Phật có nghĩa là giác ngộ, lĩnh hội được chân lí. Sau này các đệ tử tôn ông là Phật đà Bút-đa (Buddha) tức là ''người ngộ đạo'', hay Thích ca mầu ni, nghĩa là ''thánh nhân của dân tộc Sư ca''. Từ đó, ông bắt đầu truyền đạo. Tôn giáo của ông được gọi là Phật giáo.

Đầu tiên ông truyền đạo ở Xác-na (Sarnath). Từ đây Phật giáo đã có tam bảo: Phật bảo là Thích ca mầu ni, kinh điển Phật giáo và môn đồ Phật giáo là Pháp bảo là Tăng bảo.

Thích ca mầu ni phản đối Bà-la-môn giáo, phản đối chế độ đẳng cấp, đề ra khẩu hiệu ''Chúng sinh bình đẳng''. Ông truyền giảng: ''sông Hằng, sông ấn Độ v.v...đều có tên riêng, nhưng chảy vào biển cả lại hòa làm một'', để biểu thị Phật giáo không phân biệt đẳng cấp. Chủ trương của ông thể hiện tâm tư của những người cùng khổ chống lại chế độ đẳng cấp, đòi hỏi sự bình đẳng không phân biệt sang hèn. Cách truyền đạo rất phổ thông dễ hiểu của ông khiến mọi người tiếp thu một cách đễ dàng. Sau đó ông tiếp nhận 60 đệ tử ở thành Bô-rô-na, lấy đó làm hạt nhân, đi các nước để giảng đạo. Từ đó, tín đồ Phật giáo ngày càng đông, ảnh hưởng của Phật giáo ngày càng sâu rộng.

Có chuyện kể phú thương Ka-ran-tô ở thành Vương Xá, thủ đô của nước Mô-chê-tô (Nam Pat-na (Patnar) thuộc bang Bi-ha (Bihar) của Ấn Độ ngày nay đã dâng cúng Phật Đà một khu vườn, làm chỗ cho thầy trò ông nghỉ ngơi và truyền giảng. Vua nước Mô-chê-tô đã đến đây để lắng nghe Phật Đà thuyết pháp. Quốc vương rất kính phục ông, mời ông vào cung dự tiệc. Điều này cho thấy đẳng cấp thứ hai Xa-ti-ri đã bắt đầu tín phục Phật giáo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền đạo.

Một nhà buôn giầu có của nước Ki-ô-xa-rô Ki-ku-tu cũng đến thành Vượng Xá nghe giảng, vô cùng sùng kính giáo lý của Đạo Phật. Nhà buôn này đã qui đạo Phật và mời Phật Đà đến giảng đạo ở thành Xá Vệ, thủ đô nước Ki-ô-xa-rô. Ki-ku-tu mua lại một khu vườn của thái tử nước này cúng cho Phật Đà, nơi này về sau trở thành một trong những Thánh địa Phật giáo với cái tên là ''Kỳ viên tịnh xá''. Phật Đà cũng thường đến giảng ở chùa Na-ra-tô. Chùa này về sau trở thành một trung tâm của Phật học, cùng với Lum-bi-ni, Sác-na, Trúc lâm Tinh xá, Kỳ viên tinh xá trở thành thánh địa nổi tiếng của Phật giáo.

Phật Đà đi truyền đạo ở mọi nơi, dấu tích in khắp hai bờ sông Hằng. Những năm cuối đời, ông chủ yếu đi lại trong vùng giữa thành Vương Xá và thành Xá Vệ. Ông đưa ra mục tiêu hạnh phúc nhất của con người là thoát khỏi mọi dục vọng, khi đó con người sẽ đạt được sự viên mãn về tinh thần và linh hồn. Học thuyết của ông có ảnh hưởng quan trọng đến mọi tầng lớp xã hội, ông được toàn Ấn Độ kính trọng.

Cùng với sự phát triển của đạo Phật, tín đồ và các nhà sư ngày càng đông. Mâu thuẫn trong nội bộ đạo Phật xuất hiện. Do đó Phật Đà lại ban bố hàng loạt các điều giới luật (cấm kỵ).

Để phổ độ chúng sinh, Phật Đà đã không mệt mỏi đi khắp nơi, truyền đạo 45 năm trời. Ngày 15-2-485 trước Công nguyên, ông cùng các đệ tử đến Cô-xư-na-rô. Lúc này ông đã 80 tuổi, không còn đi nổi nữa. Ông nằm nghiêng dưới gốc hai cây Bô-rô, lấy tay phải gối đầu, đầu ở hướng Bắc, chân ở hướng Nam, lưng hướng Đông, mặt hướng Tây, lặng lẽ rời khỏi thế gian.

Dân chúng đổ về đây tưởng niệm ông, phủ lên mình ông những đóa hoa tươi và các loại hương liệu. Họ cúng ông 12 con vật: chuột, trâu, hổ, mèo, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, lợn. Bảy ngày sau thi thể của ông được hoả táng. Quốc vương của 8 nước yêu cầu được chia xá lị (tro cốt). Về sau xá lị được chia ra làm 9 phần, và người ta xây tháp để cúng.

Thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, ở Ấn Độ dưới triều vua A-uy, nhà vua lấy đạo Phật làm quốc giáo. Nhờ đó đạo Phật được truyền bá rộng khắp và bắt đầu truyền sang các nước Đông Nam Á, Trung Á, vào Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, trở thành một trong ba tôn giáo lớn của thế giới.
Theo Bách Khoa Tri Thức

MLTRKHỐI NATO

March 2014
M T W T F S S
February 2014April 2014
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31