KHỐI NATO
Sunday, July 5, 2009 11:24:46 AM
Mùa đông năm 1946
Mùa đông năm 1946, nhân dân các nước Tây Âu vừa phải gánh chịu vết thương chiến tranh, lại vấp ngay phải thiên tai chưa từng có trong nhiều năm trở lại. Nguyên liệu, nhiên liệu và vật dụng hàng ngày đều thiếu thốn nghiêm trọng, các nhà máy phải đóng cửa, công nhân thất nghiệp buộc họ phải giương cờ và biểu ngữ xuống đường đấu tranh.
Các cuộc bãi công biểu tình của công nhân đã khuấy động tình hình chính trị trong các nước tư bản Tây Âu, trong khi Đông Âu được sự giúp đỡ của Liên Xô, lần lượt xây dựng nên các nước xã hội chủ nghĩa. Điều này khiến cho tầng lớp thống trị Tây Âu rất sợ, thậm chí nước Mỹ ở bên kia Đại Tây Dương cũng hết sức lo ngại.
Trong tình hình như vậy, Mỹ đưa ra “kế hoạch Mạc-san” viện trợ nền kinh tế Tây Âu. Kế hoạch Mac-san ra đời được Anh, Pháp rất hoan nghênh. Nhưng Mỹ với ý đồ viện trợ không chỉ phục hưng kinh tế Tây Âu, mà còn hy vọng xây dựng được một lực lượng quân sự mạnh ở châu Âu, có thể làm đối trọng với Liên Xô, nhờ đó ngăn được bước phát triển của phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu.
Ngày 17 tháng 3 năm 1948, ngoại trưởng của 5 nước châu Âu là Anh, Pháp, Hà Lan, Bỉ và Luc-xăm-bua họp tại Bruc-xen, thủ đô của Bỉ, đã ký một hiệp ước liên minh quân sự gọi là “Điều ước Bruc-xen”.
Mỹ muốn trực tiếp thọc tay vào châu Âu, nên tháng 7 năm 1948 đã triệu tập một cuộc họp bí mật ở Oa-sinh-tơn giữa Mỹ, Ca-na-đa và 5 nước trên để thảo luận: Mỹ và Tây Âu chính thức xây dựng một liên minh quân sự. Cuối cùng Công ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đã được kí kết giữa 12 nước gồm có Mỹ, Anh, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Luc-xămbua, Na-uy, Bồ Đào Nha, I-ta-lia, Đan Mạch, Ai-xơ-len (Iceland) và Ca-na-da. Công ước này bắt đầu có hiệu lực từ tháng 8 năm 1949 đồng thời căn cứ vào công ước để thành lập NATO. Tháng 2 năm 1952, Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp gia nhập NATO, tháng 5 năm 1955 kết nạp thêm cộng hòa liên bang Đức, tháng 5 năm 1982 thêm Tây Ban Nha, nâng con số thành viên của NATO lên tới 16 nước. Tổng bộ đặt tại Bruc-xen.
“Công ước Bắc Đại Tây dương” quy định: Các nước tham gia công ước phải “phòng ngự tập thể”; bất kỳ nước nào bị tấn công vũ trang, các nước khác đều phải có hành động cần thiết, kể cả dùng vũ lực.
Sau khi thành lập NATO, các nước thành viên bắt đầu hoàn thiện bộ máy tổ chức của NATO, xây dựng uỷ ban thường trực, trong đó có chủ tịch, và cơ quan chỉ huy quân sự, đồng thời xây dựng một đội vũ trang mạnh dưới sự chỉ huy của NATO. Theo đề nghị của Tru-man, Tổng thống Mỹ, tướng Ai-xen-hao được cử làm tư lệnh tôi cao của liên minh quân sự châu Âu. Tiếp đó Mỹ lại cử 4 sư đoàn đến châu Âu, và giao toàn bộ quân Mỹ đóng tại châu Âu cho Tư lệnh tối cao chỉ huy. Sau này, Pháp cũng giao cả 3 sư đoàn của mình đóng tại Đức cho Ai-xen-hao chỉ huy. Các nước trong NATO cũng có biện pháp tương tự. Đến tháng 12 năm 1951, quân đội của NATO đã lên đến 35 sư đoàn gồm có hơn 3000 máy bay, 700 chiến hạm. Tháng 2 năm 1952, NATO quyết định mở rộng lực lượng quân sự, mục tiêu là xây dựng 50 sư đoàn, gồm 4000 máy bay và hải quân hùng mạnh. Sau một thời gian xây dựng lực lượng, NATO đã trở thành một lực lượng quân sự thật hùng mạnh. Quân đội của NATO đóng tại châu Âu hàng năm đều diễn tập quân sự nhiều lần để nâng cao thực lực chiến đấu của họ, tăng cường nhiệm vụ phòng vệ giữa các nước thành viên và trao đổi sự hợp tác với nhau. Do đó NATO đã vượt ra khỏi phạm vi quân sự trở thành nội dung hợp tác toàn diện trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội của các nước thành viên.
Sau khi thành lập NATO, Liên Xô đã nhiều lần thông qua con đường ngoại giao để phản đối. Sau khi NATO quyết định tái vũ trang cho cộng hòa liên bang Đức tháng năm 1955, các nước Liên Xô, Tiệp Khắc, Bun-ga-ri, cộng hòa dân chủ Đức, Ba Lan, Ru-ma-ni và An-ba-ni họp tại Vac-xô-vi, thủ đô Ba Lan, ký hiệp ước hữu nghị hợp tác hỗ trợ, gọi là ''Hiệp ước Vac-xô-vi'', đồng thời căn cứ vào hiệp ước, xây dựng ''Tổ chức của Hiệp ước Vac-xô-vi'' gọi tắt là “Tổ chức Vac-xô-vi”. Thế là ở châu Âu đã hình thành hai tập đoàn quân sự lớn đối lập nhau.
Liên minh quân sự giữa Mỹ và châu Âu là một sự kiện có sự kiện có ảnh hưởng to lớn đến tình hình thế giới vào nửa sau thế kỷ XX.
Theo bách khoa tri thức.









