THIÊN QUỐC THÁI BÌNH

Có thể cùng nhau vượt qua gian khổ , Sao khó cùng nhau chia ngọt sẻ bùi . Có thể cùng nhau vào sinh ra tử , Sao khó cùng nhau trong lúc thái bình .

Subscribe to RSS feed

Chuyện chưa kể về 3 nữ diễn viên vào vai Ô sin




(GDVN) - Cùng gặp lại ba nữ diễn viên từng thể hiện thành công vai diễn Oshin qua giai đoạn cuộc đời của nhân vật nay để xem cuộc sống , sự nghiệp của họ hiện giờ ra sao ? .



KOBAYASHI ATAKO - Ô SIN THỜI BÉ

Nữ diễn viên Kobayashi Ayako thể hiện vai Oshin nhỏ (từ 6 - 10 tuổi) với tên gọi Shin Tanimura , một cô bé sinh ra trong một gia đình nhà nông nghèo khó ở tỉnh Yamagata . Shin xinh xắn , chăm chỉ và hiền lành .




Kobayashi Ayako trong vai Oshin nhỏ




Năm 1983 , cô bé Ayako Kobayashi 11 tuổi ( sinh ngày 11/8/1972 ) lần đầu bước chân vào làng điện ảnh với vai diễn để đời trong bộ phim Oshin với vai Oshin bé đã làm nên thương hiệu của Ayako Kobayashi khi đó và mãi sau này .

Sau thành công vang dội của bộ phim Oshin tại Nhật Bản cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới , Ayoko đã từng mong trước lớn lên sẽ làm tiếp viên hàng không hoặc giáo viên dạy tiếng Anh để được đi nhiều nơi và gặp gỡ mọi người trên thế giới .




Kobayashi Ayako ngoài đời




Sau khi tốt nghiệp cấp 3, Ayoko đã thi đậu vào khoa ngữ văn anh và khoa tiếng Nhật của trường Đại học Ritsumeikan . Sau vai diễn Oshin , Ayoko còn thành công với nhân vật Helen Keller ( một nữ nhà văn tật nguyền ) vốn được nhiều nữ diễn viên đi trước thể hiện , nhưng vai diễn của Ayoko để lại nhiều ấn tượng cũng như khen ngợi của khán giả . Vai diễn này được cô thể hiện một cách hài hước , không bi lụy , âu sầu như người ta từng nghĩ về một nhà văn tật khuyết tật .

Năm 1993 , để nâng cao vốn tiếng Anh , Ayoko đã gác lại tình yêu điện ảnh để đi tu nghiệp vốn tiếng Anh của mình tại nước ngoài . Năm 1998 , Ayoko khi đó 26 tuổi đã gặp được người bạn đời của mình , một kiến trúc sư tuy không có liên quan gì đến nghệ thuật nhưng anh rất ủng hộ cũng như quan tâm đến sự nghiệp diễn xuất của vợ .

Đặc biệt vào năm 2001 , Ayoko đã có cơ hội hợp tác chung với nữ diễn viên Tanaka Yūko , người từng thể hiện vai Oshin trưởng thành trong bộ phim “ Đom Đóm ” . Đây là lần thứ hai kể từ sau khi hai người đóng chung phim Oshin hai người lại có cơ hội diễn chung trong một tác phẩm điện ảnh . Ngoài diễn xuất , Ayoko còn là người dẫn chương trình truyền hình ở Nhật Bản .

Đến nay Ayoko Kobayashi đã tham gia hơn 30 bộ phim và được người hâm mộ nhớ đến nhất vẫn là vai diễn Oshin .


YUKO TANAKA - Ô SIN TRƯỞNG THÀNH




Yūko Tanaka và vai Oshin lúc trưởng thành




Diễn viên Yūko Tanaka vào vai Oshin khi trưởng thành ( 16 – 46 tuổi ) , một phụ nữ biết phấn đấu vươn lên trở thành thợ làm đầu giỏi , phải vượt qua nhiều khó khăn do tình hình kinh tế của đất nước và chiến tranh .

Yuno Tanaka sinh ngày 29/4/1955 , là một nữ diễn viên khá tên tuổi của Nhật Bản . Bà từng học một trường cao đẳng nữ sinh nhưng đã bỏ học giữa chừng và chuyển sang học khoa diễn xuất tại Đại học Meiji .




Yūko Tanaka ngoài đời hiện tại




Bắt đầu tham gia diễn xuất từ năm 1975 , và đến bộ phim Eijanaika , sản xuất năm 1981 thì Yuno Tanaka đã giành được nhiều giải thưởng điện ảnh lớn , trong đó có giải Nữ diễn viên triển vọng tại LHP Yokohama năm 1983 . Tanaka nổi danh khi bà tham gia bộ phim truyền hình dài tập Oshin ( 1983–1984 ) do Đài NHK sản xuất . Lần thứ hai tại LHP Yokohoma 2006 , Yuno Tanaka đoạt giải Nữ diễn viên xuất sắc nhất với vai diễn để đời đại diện cho tiếng nói Nhật Bản , quý bà Eboshi trong bộ phim Công chúa Mononoke ( 1997 ) . Trong bộ phim The Milkwoman với vai diễn Hibi , Yuno được vinh danh là nữ diễn viên xuất sắc nhất tại LHP Hochi lần thứ 30 .

Năm 1982 , Yuno Tanaka đóng chung phim “ Nỗi khổ đàn ông - gia sư tình ái ” ( Tora-san , the Expert )cùng với nhạc công , ca sĩ nổi tiếng của Nhật Kenji Sawada . Tình cảm giữa hai người ngày một sâu đậm trong khi đó Sawada đã có gia đình với nữ ca sĩ Hideyo Ito , truyền thông cũng xôn xao với chuyện tình cảm của hai người từ phim trường đến ngoài đời . Tháng 1/1987 , Sawada quyết định ly hôn với vợ cũ Hideyo và hai năm sau thì Kenji Sawada và Yuno Tanaka chính thức đến với nhau sau bao năm tháng yêu nhau và chờ đợi .




Yūko Tanaka trong vai Từ Hy Thái Hậu với bộ phim The Firmament of the Pleiades sản xuất hợp tác giữa Nhật Bản và Trung Quốc




Năm 2009 , Yuno Tanaka vào vai Từ Hy Thái Hậu trong bộ phim The Firmament of the Pleiades dài 25 tập hợp tác sản xuất giữa Đài NHK của Nhật và Đài HBN của Trung Quốc . Sau đó bộ phim đã được công chiếu rộng rãi ở hai nước với sự chào đón và khen ngợi tích cực từ phía khán giả Trung Quốc cho vai diễn là một nhân vật lịch sử quyền uy nhất trong lịch sử phong kiến thoái trào Trung Quốc là Từ Hy Thái Hậu cuối đời nhà Thanh . Trong phim , Yuno Tanaka đã thể hiện được phong thái , đạo mạo của vị nữ hoàng tai tiếng của Trung Hoa .


OTOWA NOBUKO - Ô SIN VỀ GIÀ




Nữ diễn viên Nobuko Otawa ( trái ) với Oshin lúc về già ( phải )




Vai Oshin về già ( 50 – 84 tuổi ) với tên gọi Tanokura Shin do nữ diễn viên Otowa Nobuko đóng , một Oshin nhân từ , phúc hậu , đầy nghị lực và quyết đoán trong lĩnh vực kinh doanh đầy mới mẻ .

Nữ diễn viên Nobuko Otawa ( sinh ngày 1/10/1924 và đã qua đời vào ngày 22/12/1994 ) . Bà là một nữ diễn viên gạo cội và được công chúng Nhật Bản biết đến qua các vai nữ chính trong nhiều bộ phim điện ảnh cũng như truyền hình . Từ năm 1950 – 1994 , Nobuko Otawa đã tham gia 134 bộ phim . Bà yêu và kết hôn với đạo diễn lừng danh Kaneto Shindō sau khi vợ ông qua đời . Nobuto từng đạt được nhiều giải thưởng điện ảnh danh giá , có thể kể đến như giải Nữ diễn viên triển vọng nhất tại LHP Nhật Bản lần thứ 19 cho bộ phim A Last Note . Bà qua đời vì căn bệnh ung thư phổi quái ác vào năm 1994 khi bộ phim Oshin đang được công chiếu ở Việt Nam , khi đó ít người hay biết rằng nữ diễn viên thể hiện vai Oshin về già đã qua đời trong bệnh tật .




Kiến trúc bí ẩn của Khám Chí Hoà




Có một truyền thuyết khá ly kỳ về khám Chí Hòa được truyền miệng ra ngoài là hầu như năm nào trong khuôn viên của trại đều bị sét đánh và sau khi trại bị sét đánh thì bao giờ cũng có 1 hay nhiều hơn một cán bộ Cộng Sản chết vì rất nhiều lý do . Đặc biệt có năm sửa nhà thờ nằm trong khuôn viên trại thì chỉ trong vài tháng , 5-6 cán bộ đang công tác trong trại đã bị chết vì những lý do hết sức bất ngờ…

Tôi cho rằng đó chỉ là truyền thuyết trong muôn ngàn những truyền thuyết được tôi đã được nghe . Nhưng khi tiếp xúc với các cán bộ công tác trong trại thì mọi người cũng đều xác nhận , chuyện khám Chí Hòa hay bị sét đánh hay chuyện cán bộ Cộng Sản chết bí ẩn là có thật . Tôi tìm gặp Thượng tá Nguyễn Văn Cao – người có 16 năm làm việc trong trại để tìm hiểu bí mật này.


BÁT TRẬN ĐỒ TRONG LÒNG THÀNH PHỐ

Nơi bị sét đánh nhiều nhất lại là tòa nhà quan trọng nhất, tòa nhà hình bát giác nơi giam giữ hàng ngàn phạm nhân . Toàn bộ khu nhà giam này rộng bảy hécta . Trại giam Chí Hòa ( tên thường gọi là khám Chí Hòa ) được Pháp xây từ năm 1943 , Kiến trúc của Chí Hòa rất đặc biệt , do một kiến trúc sư người Nhật thiết kế và xây dựng theo ngũ hành bát quái . Nó cao ba tầng lầu có hình bát giác với 8 cạnh đều , 8 góc A , B , C , D , E , F, G , H . Tượng trưng cho 8 quẻ trong Kinh dịch ( cũng có người thì cho là kiến trúc này dự trên Bát trận đồ của Khổng Minh ) .

Do vậy nó có lối kiến trúc độc đáo: vừa mang những đặc trưng cơ bản của kiến trúc Pháp: kiên cố, kín đáo, mát mẻ vừa mang nét huyền bí: âm – dương, ngũ hành của phương Đông .

Mỗi cạnh của bát quái trận đồ là một khu , lưng xây bịt kín ở phía ngoài còn phía trong toàn song sắt . Chí Hòa chỉ có 1 cửa vào người ta nói đó là cửa Tử , qua cửa đó là hệ thống đường hầm , đường đi bên trong đều thiết kế theo cung vị nếu không có người hướng dẫn thì một người đi vào đó sẽ mất hết phương hướng giống như lọt vào một mê cung đồ không thấy đường ra .

Chính giữa hình bát quái đồ là một sân rộng cũng hình bát giác chia thành 8 khu hình tam giác nhỏ , với rất nhiều cây cối , bãi cỏ sạch sẽ và thoáng mát . Ngay tâm của hình bát quái có một đài bơm nước , với một đoạn là bể nước phình to nhìn từ trên cao có hình một cây kiếm cắm thẳng xuống đất , nghe đâu thanh kiếm này có tên là “ Tru Tiên Kiếm ” . Đây là thanh kiếm trấn , những tên tội phạm dù có xảo quyệt đến đâu thì khi ở đây mọi thủ đoạn của chúng cũng bị thanh kiếm “ linh ” này hóa giải hết . Thanh kiếm này chính là “ trái tim ” của của tòa nhà , nếu thanh kiếm này bị nhổ lên thì toàn bộ “ trận đồ ” không cần phá mà sẽ tự vỡ .

Chính lối kiến trúc “ bát trận đồ ” kỳ diệu đó mà hầu hết các phạm nhân bị kết án nặng khi đã bước qua cửa Tử thì có thể coi như là không có đường ra , và không thể nhận biết được đường ra chờ khi hết án tù , hoặc được phóng thích .

Lịch sử khám Chí Hòa cho đến ngày hôm nay chỉ ghi nhận có hai trường hợp vượt trại thành công . Lần thứ nhất là vào năm 1945 , của những người tù cách mạng và lần thứ hai , sau đó 50 năm của một tử tội hình sự khét tiếng là Phước “ Tám Ngón ” .

Có cả triệu người đã bị nhốt vào đây mà hầu như không thấy có người nào thoát ra được cả . Theo nhiều nhà nghiên cứu tâm linh thì những người chết linh hồn vẫn bị “ bát quái ” giam giữ không thể siêu thoát cứ lởn vởn bên trong nên ở đây âm khí rất nặng nề ( quả thực khi tôi đứng đây cảm giác rờn rợn , u uất lạnh toát cả cột sống ) . Người ta đồn rằng oán khí bay lên thấu trời cao , do thế ông Trời thường xuyên làm sấm sét đánh bể một góc để khai một cửa Sanh , cho oán khí được thoát ra , người chết được siêu thoát . Tất nhiên , tất cả những đồn đại này chỉ là truyền nhau , không ai dám chắc điều đó là sự thật .

Chẳng biết truyền thuyết và đồn đại này thật giả bao nhiêu phần trăm , nhưng chính Tổng thống Ngô Đình Diệm ông cũng tin chuyện này là có thật . Ông cho mời một thầy địa lý rất cao tay nhằm hóa giải một phần “ trận đồ ” này . Và sau đó một trong 8 nóc nhà của hình bát giác đã được san bằng , phá vỡ tính hoàn hảo của “ bát quái ” , thuận theo ý Trời mở 1 cửa Sanh cho các linh hồn được bay đi .


NHÀ THỜ HÌNH CHÚA GIÊSU TRÊN CÂY THẬP GIÁ

Cũng theo lời Thượng tá Cao kể , thì trong khuôn viên trại còn có một nhà thờ ( ngày nay được sử dụng làm Hội trường của trại ) , thực dân Pháp cho xây dựng nhà thờ này để “ rửa tội ” cho những tên cộng sản mà chúng sẽ xử tử . Nếu theo quan niệm của phương Tây thì khi sống con người ta dù phạm rất nhiều tội lỗi , nhưng trước khi chết nếu người đó được rửa tội thì mọi tội lỗi sẽ được tha thứ và linh hồn người đó sẽ được lên thiên đàng . Nhưng nhà thờ này có kiến trúc khác đặc biệt và quanh nó cũng rất nhiều chuyện ly kỳ được truyền miệng cho đến nay .

Về kiến trúc nhà thờ được xây hình Chúa Giêsu trên cây thập giá: cửa vào chính là chân , hai nhà nguyện là hai cánh tay bị đóng đinh đang dang rộng , bàn thờ nơi Cung Thánh chính là phần đầu của Chúa.

Người ta đồn rằng đây là nơi rửa tội cho những tên cộng sản trước khi bị thực dân Pháp bắn . Chiến tranh đã đi qua rất lâu nhưng nhà thờ vẫn nằm sừng sững trong khuôn viên trại , vì không ai dám dỡ bỏ nó .

Thế nhưng có một biến cố xảy ra vào những năm 90 của thế kỷ trước , vị phó giám đốc mới được cử về công tác trong trại – một người không tin vào những lời đồn thổi “ nhảm nhí ” , đã cho sửa nhà thờ thành hội trường nơi diễn ra hội họp, hội nghị của trại . Nơi được người ta sửa chữa đầu tiên là cửa vào ( vị trí chân Chúa ) . Người ta phá đi cửa cũ , mở một cái cửa đại hội vào hội trường . Nhưng việc sửa chữa chỉ mới được bắt đầu thì một sự cố lớn đã xảy ra , chỉ trong một thời gian ngắn liên tiếp 5-6 cán bộ Cộng Sản công tác trong trại bị thiệt mạng vì những lý do bất ngờ : tai nạn , súng cướp cò , đột tử…

Tất nhiên , rất có thể những tai nạn này xảy ra là ngẫu nhiên , trùng hợp với thời gian sửa chữa nhà thờ . Song lúc đó sự hoang mang bao trùm toàn trại , vị tân phó giám đốc thật sự dao động và cuối cùng ông quyết định sửa lại ngôi nhà như thiết kế ban đầu , thuê thầy về cúng giải hạn . Và điều kỳ diệu đã xảy ra, dường như “ báo ứng ” đã được hóa giải , những vụ chết bất đắc kỳ tử đã dừng lại hầu như ngay lập tức . Cán bộ Cộng Sản toàn trại thở phào .

Nếu bạn nghĩ chuyện âm khí , oán khí chỉ là sản phầm tưởng tượng cũng những người có đầu óc mê tín dị đoan lý giải chuyện sét đánh , chuyện những cái chết bất thường . Tuy nhiên , sau những sự cố trên, một nhóm những nhà khoa học và nhà nghiên cứu đã âm thầm nghiên cứu và lý giải mọi chuyện dưới góc độ khoa học . Một số nhà khoa học cho rằng bên dưới của tòa nhà có một mỏ quặng đó mới chính là nguyên nhân tại sao “ ông Trời ” hay “ nhắm ” vào tòa nhà đó và những cái chết chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên .

Riêng tôi khi bước qua cửa Tử vào một mê cung đồ mà ở đó mất hết mọi khái niệm phương hướng – không gian, ngày đêm – thời gian , khi nhìn trên mô hình hình bát giác “ hoàn hảo ” bị khuyết với khu GF mái ngói bị san bằng , bước chân vào nhà thờ nơi chúa đang chịu đau đớn vì nhục hình tôi tin nơi đây còn nhiều điều bí ẩn chưa lời giải . Ngày nay khoa học đã rất phát triển nhưng tự nhiên , vũ trụ vẫn còn đầy rẫy những bí ẩn mà chúng ta chưa thể lý giải đang chờ chúng ta khám phá .





Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Cái Tên Sài Gòn




Trong " Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị " của ông Huỳnh Tịnh Của thì Sài tức là củi thổi , Gòn : tên loại cây cỏ bông nhẹ xốp , nhẹ hơn bông thường , trong Nam hay dùng để dồn gối , dồn nệm . Về địa danh Sàigòn thì Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị ghi : tên riêng của đất Chợ Lớn , bây giờ lại hiểu là đất Bến Nghé .





Ðịnh nghĩa Sàigòn của quyển Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị cho ta thấy rằng tên Sàigòn trước đây dùng để chỉ vùng Chợ Lớn hiện nay , còn vùng mà ta gọi là Sàigòn hiện nay thì trước đây lại gọi là Bến Nghé . Ðiều này được xác nhận nhờ hai người Anh là Crawford và Finlayson đã đến vùng này năm 1922 . Cứ theo lời những người này thuật lại thì Sàigòn và Bến Nghé ( mà các tác giả trên đây viết là Bingeh hay Pingeh ) là hai thành phố phân biệt nhau và cách xa nhau độ 1 hay 2 dặm , Bến Nghé là nơi đồn binh và đạt cơ quan chánh phủ , còn Sàigòn là trung tâm thương mãi và là nơi cư ngụ của người Hoa kiều và các thương gia ( tài liệu của Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises tức là Tập san của Hội Cổ Học Ấn Hoa , năm 1942 , tập số 2 ) .

Vậy , Sàigòn và Bến Nghé là hai thành phố phân biệt nhau và có hai tên khác nhau đàng hoàng , nhưng đến khi người Pháp chinh phục ba tỉnh phía đông Nam Kỳ năm 1861 , họ dùng tên Sàigòn để chỉ đất Bến Nghé cũ , mà họ dùng làm trung tâm hành chánh , vì Bến Nghé là một tiếng khó cho người ngoại quốc phát âm hơn Sàigòn . Người Việt Nam bắt buộc phải theo họ mà gọi Bến Nghé là Sàigòn , còn vùng trước đó gọi là Sàigòn thì được gọi là Chợ Lớn theo một cái tên mà sử gia Phan Khoang trong bộ Việt Sử , Xứ Ðằng Trong , cho là dường như đã có từ đời vua Gia Long .





Cũng theo quyển Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị của ông Huỳnh Tịnh Của thì tên Sàigòn có nghĩa là " củi gòn " . Nhà học giả Trương Vĩnh Ký đã theo thuyết này mà ông cho biết là dựa vào bộ Gia Ðịnh Thông Chí của ông Trịnh Hoài Ðức . Trong tập Souvenirs historiques , ông Trương Vĩnh Ký lại kể lại rằng người Khmer xưa có trồng cây gòn chung quanh đồn Cây Mai và chính ông còn thấy vài gốc cổ thụ này tại vùng ấy năm 1885 .





Sau ông Trương Vĩnh Ký , còn có ông đốc phủ Lê Văn Phát đi xa hơn trong thuyết kể trên đây . Theo ông Lê Văn Phát thì trước đây , vùng Sàigòn Chợ Lớn hãy còn bị rừng bao phủ và tên Sàigòn có lẽ phát xuất từ tên Khmer Prei Kor tức là Rừng Gòn ( Forêt des Kapokiers ) . Prei Kor là tên mà người Khmer dùng để gọi một địa phương mà trọng tâm là Chùa Cây Mai ở Phú Lâm ngày nay . Mặt khác , ông Lê Văn Phát cũng cho biết rằng người Lào ( mà ngôn ngữ gần như ngôn ngữ Thái ) đã gọi vùng này là Cai Ngon , mà Cai Ngon theo tiếng Thái cũng có nghĩa là Rừng Chỗi Cây Gòn ( Brousse des kapokiers ).





Thuyết về nguồn gốc tên Sàigòn của các học giả Việt Nam trên đây sau này đã bị một số học giả khác bác bỏ . ông Vương Hồng Sến trong bộ Sàigòn Năm Xưa cho biết rằng theo tiếng Khmer thì Kor có nghĩa là gòn mà cũng có thể có nghĩa là con bò , và Prei Kor có thể là Rừng Bò chứ chưa ắt hẳn là Rừng Gòn .

Mặt khác , các nhà học giả Pháp nghiên cứu về nước CamBuChia đã tìm được trong bộ sử chép tay của nước ấy một dữ kiện quan trọng về vùng này . Theo bộ sử ấy , năm 1623 , một sứ bộ của chúa Nguyễn đã đến CamBuChia xin vua CamBuChia cho đặt một số sở thuế ở vùng Prei Nokor va` Kas Krobey . Vua CamBuChia lúc ấy có một hoàng hậu la` con gái chúa Sãi ( Nguyễn Phúc Nguyên ) . Bởi đó , ông đã chấp nhận lời yêu cầu của chúa Nguyễn .





Theo ông Etienne Aymonier thì Nokor là xứ, quốc gia và Prei Nokor là rừng của vua ( forf royale ) . Nhưng linh mục Tandart lại bảo rằng tiếng Nokor do tiếng nam phạn Nagaram mà ra , và có nghĩa là Thành phố của rừng hay thành phố ở giữa rừng ( ville de la forêt ) . Bởi vậy theo ông , Prei Nokor có nghĩa là thành phố .





Nhà học giả Pháp Louis Malleret khi nêu ra tài liệu về Prei Nokor đã dựa vào ý nghĩa của tiếng Khmer này theo linh mục Tandart để bác bỏ thuyết của các học giả Việt Nam trước đó cho rằng Sàigòn có nghĩa là Củi Gòn . Ông đã theo ý kiến của một người Pháp khác là Maurice Verdeille theo đó tiếng Sàigòn có lẽ phát xuất từ tiếng Tây ngòn có nghĩa là cống phẩm của phía tây ( tribut de l'ouest ) . Tiếng Hán Việt có nghĩa là cống phẩm của phía tây nếu đọc theo Việt Nam là Tây Cống và Tây Ngòn hẳn là Tây Cống , nhưng phát âm theo giọng Trung Hoa . Sở dĩ ông Malleret theo thuyết này là vì ông đã dựa vào một dữ kiện lịch sử do ông Trịnh Hoài Ðức chép lại , là khi CamBuChia bị phân ra cho hai vua thì cả hai vua nầy đều nạp cống phẩm cho chúa Nguyễn ở Prei Nokor , vốn là thủ đô của vua thứ nhì từ năm 1674 ( trong khi vua thứ nhứt đóng đô ở Oudong ở phía bắc Nam Vang ) .





Một tác giả khác , ông Vương Hồng Sển , nhắc lại trong quyển Sàigòn Năm Xưa rằng người Hoa Kiều đã tập trung vào vùng Chợ Lớn ngày nay để mua bán năm 1778 sau khi Cù Lao Phố ( gần tỉnh lị Biên Hòa ngày nay ) là nơi được thành lập để mua bán từ cuối thế kỷ thứ 17 đã bị Tây Sơn phá tan khi họ kéo vào đánh Miền Nam . Sau khi thành phố này đã vững , người Hoa Kiều đã đáp thêm bờ kinh Chợ Lớn , cẩn đá cho cao ráo kiên cố . Và có lẽ để ghi công việc này , họ đặt tên chỗ mới này là Ðề Ngạn , tức là bờ sông cao dốc trên có đe ngăn nước . Ðề Ngạn là tiếng Hán Việt , chớ người Trung Hoa phát âm theo giọng Quảng Ðông thì nói thành Tài Ngon hay Thầy Ngồnn . Ông Vương Hồng Sển cho rằng tiếng Sàigòn chính do Thầy Ngồnn mà ra .





Về đất Bến Nghé thì người Trung Hoa gọi là Xi Cong . Ông Vương Hồng Sển cho rằng đó là họ đọc trại lại tiếng Sàigòn của ta và khi viết ra Hán văn thì họ dùng hai chữ mà ta đọc là Tây Cống .

Vậy , có ba thuyết về nguồn gốc và ý nghĩa của tên Sàigòn :


1.  Thuyết của các ông Trương Vĩnh Ký và Lê Văn Phát : Sàigon do tiếng Khmer Prei Kor mà ra , và có nghĩa là củi gòn .

2.  Thuyết của ông Louis Malleret : Sàigòn do tiếng Tây Ngòn , tức là Tây Cống phát âm theo giọng Trung Hoa và có nghĩa là cống phẩm của phía tây .

3.  Thuyết của ông Vương Hồng Sển : Sàigòn do tiếng Thầy Ngồnn tức là Ðề Ngạn phát âm theo giọng Trung Hoa và có nghĩa là bờ sông cao dốc trên có đê ngăn nước . Còn về tiếng Tây Cống , ông Vương Hồng Sển lại cho rằng nó chỉ được người Trung Hoa dùng sau này để phiên âm lại tên Sàigòn sau khi tên này được dùng đẻ chỉ đất Bến Nghé cũ .





Ba thuyết trên đây cái nào cũng có vẻ có lý phần nào nhưng thật sự , không cái nào có thể làm cho chúng ta hoàn toàn thỏa mãn . Như thế có lẽ vì những người nêu ra các thuyết ấy đã quên để ý đến cách ông bà chúng ta đặt các địa danh ở Nam Kỳ trước đây . Chúng ta có thể nhận thấy rằng trong việc đạt địa danh này, ông bà chúng ta đã theo một số nguyên tắc :

*  Các cụ có thể phiên âm một địa danh Khmer đã có và bỏ dấu cho thành tiếng Việt Nam . Thí dụ như Psar Deck thiếng Khmer là Chợ Sắt đã được các cụ gọi lại là Sa Ðéc , hay Me So tiếng Khmer là Người Ðàn Bà Ðẹp hay nàng Tiên được các cụ gọi là Mỹ Tho . Trong một bài kỷ niệm ngày 30 tháng tư , đăng trong tờ Việt Báo , ông Phạm Nam Sách khi nói về tỉnh Ba Xuyên đã nhắc đến một địa danh mà ông nói là là Bảy Sào , Bải Sào , Bảy Sau hay Bải Sau chi đó . Thật sự đó là Bải Xào , một tiếng phát xuất từ tiếng Khmer Bai Xao ( có nghĩa là Cơm Sống ) . Ðịa danh này sở dĩ có là vì trong trận đánh nhau với người Việt Nam , người Khmer đã thua chạy về đến đó và ngừng lại nấu cơm ăn , nhưng cơm chưa kịp chín thì quân Việt Nam lại kếo đến và người Khmer phải bỏ chạy . Ðể đánh dấu việc này , họ gọi đất đó là Cơm Sống , tiếng Khmer là Bai Xao và các cụ ta bỏ dấu thêm thành Bải Xào .





Các cụ có thể dịch nghĩa một địa danh Khmer đã có . Thí dụ như tên Bến Nghé phát xuất từ tiếng Khmer Kompong Krabei có nghĩa la Vũng Trâu . Theo sử Khmer mà ông Malleret viện dẫn thì ngoài Prei Nokor , vua CamBuChia còn cho chúa Nguyễn đạt sở thuế ở Kas Krobey . Chữ Krobey rất gần Krabei , và có thể Kas Krobey với Kompong Krobei cũng là một và có nghĩa là Vũng Trâu , Bến Trâu gì đó .





Nhưng tên theo hai loại trên đây là do người Việt Nam bình dân đặt ra khi mới đến một địa phương , về sau , khi đã có nhiều người Việt Nam ở và triều đình Việt Nam đặt ra các đơn vị hành chánh , thì triều đình lại dùng tiếng Hán Việt như Trấn Biên , Phiên Trấn , Phước Long , Phước Tuy , v...v..... Mặt khác , khi viết sử hay viết sách địa lý mà gặp một tên nôm do người bình dân đã đặt , các cụ đã dịch phăng nó ra tiếng Hán Việt chớ ít khi chịu chép tên Nôm . Như Ba Giỗng , các cụ dịch là Tam Phụ và Bến Nghé , các cụ dịch lại là Ngưu Chử khi chép vào sách chớ không chịu viết tên nôm là Ba Giồng , Bến Nghé .

Nếu lấy các qui tắc đặt địa danh của các cụ ngày xưa làm tiêu chuẩn dể suy luận thì ta thấy ngay các thuyết trên đây về nguồn gốc và ý nghĩa của Sàigòn không ổn .





Nếu các cụ ta ngày xua muốn dịch tiếng Khmer Prei Kor ra tiếng Việt thì các cụ đã dùng tên Củi Gòn , Cây Gòn hay Rừng Gòn để đạt cho địa phương này , chớ không ghép một tiếng Hán Việt là Sài với một tiếng Nôm là Gòn để thành Sàigòn , cũng nhu khi dịch Kompong Krabei ra tiếng Việt , các cụ đã gọi là Bến Nghé chớ không nói Tân Nghé , Chử Nghế hay Ngạn Nghé ( Tân , Chử và Ngạn là những tiếng Hán Việt có nghĩa là cái cồn nhỏ , bến sông , bờ sông ) . Nếu bảo rằng gòn là một loại cây không có tên Hán Việt và các cụ đã dùng tên ấy như tiếng Hán Việt thì các cụ đã theo văn phạm Hán Việt mà gọi Củi Gòn là Gòn Sài chớ không thể gọi là Sài Gòn .





Chữ Sài là tiếng Hán Việt có nghĩa là Củi , nhưng cũng chữ ấy mà dùng làm chữ nôm thì lại đọc là Thầy . Vậy , nếu đọc theo tiếng nôm hoàn toàn hai chữ mà ông bà chúng ta dùng để chỉ tên đất ta đang nghiên cứu thì ta có Thầy Gòn . Tên này rất gần với Tây Ngòn hay Thầy Ngồnn là những tiếng Hán Việt Tây Công hay Ðề Ngạn đọc theo giọng Trung Hoa . Nhưng các cụ ngày xua rất sính dùng tiếng Hán Việt . Ðến như tiếng nôm hoàn toàn là Ba Giồng , Bến Nghé mà các cụ còn nhứt định phải dịch ra là Tam Phụ , Ngưu Chử khi viết vào sách vở thì không lý do gì các cụ lại không dùng các tiếng Hán Việt đã sẵn có là Tây Cống hay Ðề Ngạn , mà lại dùng tiếng Thầy Gòn là tiếng phiên âm theo giọng của người Trung Hoa .

Vậy , các thuyết kể trên đây đều không vững cả .





Cuối cùng , chỉ còn một dấu vết nhỏ trong các tài liệu nói về ý nghĩa và nguồn gốc tên Sàigòn có thể giúp ta một lối thoát : đó là việc ông Lê Văn Phát cho biết rằng người Lào đã gọi vùng Chợ Lớn ngày nay là Cai ngon , mà Cai ngon theo tiếng Thái có nghĩa là Rừng Chỗi Cây Gòn . Chúng tôi không biết tiếng Lào hay tiếng Thái nên không thể xác nhận được ý nghĩa của Cai Ngon theo tiếng Thái , nhưng nếu quả đúng như ông Lê Văn Phát nói thì tên Sàigòn do ông bà ta phiên âm từ tiếng Thái - Cai Ngon và bỏ dấu theo giọng Việt Nam như thông lệ .

Xét về mặt nguyên tắc đạt địa danh của ông bà chúng ta ngày xưa , thì vấn đề này có thể kể là tạm giải quyết . Nhưng nghi vấn còn lại là tại sao lại có tiếng Lào hay tiếng Thái lọt vào đây ? . Hiện nay , không có nhiều tài liệu lịch sử giúp chúng ta có một sự hiểu biết rộng rãi và chánh xác về thời kỳ người Việt Nam mới vào ở đất Nam Kỳ . Chúng ta chỉ có thể dựa vào một số dữ kiện sau đây để suy luận :

1.  Vào đầu thế kỷ 17 , nước CamBuChia đã bị người Xiêm ( Thái Lan hiện nay ) uy hiếp nặng nề , và chính vì muốn dựa vào người Việt Nam để chống lại Xiêm mà vua Chey Chetta II đã đi cưới công chúa Ngọc Vạn ( là con gái chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên ) về làm hoàng hậu năm 1620 , rồi đến năm 1623 lại để cho chúa Nguyễn đặt những cơ sở thâu thuế ở vùng Sàigòn , Chợ Lớn ngày nay .

2.  Vùng Chợ Lớn chỉ trở thành một vùng thương mãi thạnh vượng từ năm 1788 với khối người Hoa Kiều tụ tập về đó sau khi Cù Lao Phố bị Tây Sơn phá hủy . Vậy , lúc chúa Nguyễn mới đạt cơ sở thuế hơn 150 năm về trước vùng này chưa có mua bán gì nhiều .

3.  Người Việt Nam chỉ vào ở Nam Kỳ nhiều từ khi có lực lượng của ông Trần Thượng Xuyên đóng thường trực để bảo vệ cho họ từ năm 1680 . Vậy , lúc chúa Nguyễn đạt sở thuế ở vùng Chợ Lớn ngày nay , hơn 50 năm trước đó , chưa có đông người Việt Nam và chưa có sản xuất nhiều lúa gạo để bán .

4.  Như thế , cơ sở thuế của chúa Nguyễn chắc chỉ đánh vào một vài sự buôn bán nhỏ , không quan trọng lắm , và do đó mà vua CamBuChia đã dễ dàng cho chúa Nguyễn thâu lấy nguồn lợi này , chớ nếu có sự mua bán quan trọng và quyền lợi thuế vụ lớn thì vua CamBuChia lúc đó vốn còn hoàn toàn độc lập với chúa Nguyễn , chắc không phải chấp nhận dễ dàng lời yêu cầu của chúa Nguyễn . Vậy , sự mua bán đó dựa vào móng hàng gì ? . Có thể một trong những món hàng được buôn bán thời đó là gòn , vì vùng này có nhiều cây gòn , có lẽ không nhiều đến thành rừng , nhưng cũng đạt mức quan trọng để có thể gọi là rừng chổi được . Người Xiêm có thể đã đến đó mua gòn để đem về nước dồn gối , dồn nệm . Một ít thương gia Xiêm có thể đã có mặt ở vùng này trước khi chúa Nguyễn đạt sở thuế tại đó , và vì thấy vùng này có nhiều cây gòn, họ gọi nó là CaiNgon tức là Rừng Chổi Cây Gòn , rồi các viên chức Việt Nam liên lạc với họ để đánh thuế lúc mới đến đã theo họ mà gọi đất này là Sàigòn , thay vì phiên âm hay dịch nghĩa tên Khmer của địa phương này .

5.  Về cái tên Khmer này , các học giả đã không đồng ý kiến với nhau , người thì nói là Prei Kor , người thì nói là Prei Nokor . Ông Malleret đã dựa vào sử Khmer mà bảo đó là Prei Nokor và theo linh mục Tandart để dịch Prie Nokor là thành phố của rừng . Vì không biết tiếng Khmer và văn phạm Khmer , chúng tôi không thể đi sâu vào vấn đề này , nhưng vẫn thấy có những chỗ không ổn .





Nếu Prei Nokor có nghĩa là Rùng Gòn hay Rừng Bò thì văn phạm Khmer cũng như văn phạm Việt Nam đạt tiếng rừng lên trên , tiếng phụ nghĩa cho rừng ở dưới . Như vậy Prei Nokor dịch ra là rừng của vua như Aymonier thì vẫn hợp với văn phạm đó , còn dịch ra như linh mục Tandart là thành phố giữa rừng thì lại đi ngược với văn phạm đó rồi . Hiểu theo văn phạm như nói trên đây thì Prei Nokor là rừng của thành phố mới phải , nhưng tên Rừng của Thành Phố thì cố nhiên là không có ý nghĩa gì .

Mặt khác , nếu Prei Nokor là thành phố giữa rừng hay rừng của vua thì nó chỉ có thể có từ năm 1674 là năm mà vua thứ nhì của Cam-Bu-Chia chua chúa Nguyễn đến đặt sở thuế tại đó thì đất này hãy còn là một thị xã nhỏ , không có vua ở nên không thể mang tên Prei Nokor là thành giữa rừng hay rừng của vua được .





Do các nghi vấn trên đây , chúng ta thấy rằng thuyết của ông Malleret không vững . Và chúng ta có thể đua ra giả thuyết khác : địa điểm mà vua CamBuChia cho chúa Nguyễn đạt sở thuế vẫn tên là Prei Kor vì nơi đó có nhiều gòn và là nơi mua bán gòn , nhưng sau đó , khi vua thứ nhì của CamBuChia đến đóng đô tại đó , nó có tên mới là Prei Nokor ( hiểu theo nghĩa là rừng của vua hay thành phố giữa rừng đều được cả ) . Các sử gia CamBuChia sau này chép lại việc cho chúa Nguyễn đến địa phương này đặt sở thuế đã chép lại tên Prei Nokor mà họ được biết nhiều hơn mà bỏ tên Prei Nokor đi . Với giả thuyết này thì ý nghĩa và nguồn gốc tên Sàigòn có thể giải quyết được : đó là một tên phiên âm từ tiếng Xiêm Cai Ngon có nghĩa là Rừng Chổi Cây Gòn , và phù hợp vớ tên Khmer nguyên thủy Prei Kor cũng có ý nghĩa tương tự .

Vì không biết ngôn ngữ và văn phạm Khmer và Thái ( Xiêm ) nên chúng tôi không thể đi sâu vào vấn đề này và chỉ xin nêu ra những nhận xét trên đây . Chúng tôi mong ước rằng có vị nào thông thạo tiếng Khmer hay tiếng Thái lưu tâm đến vấn đề này để làm sáng thêm ý nghĩa và nguồn gốc tên Sàigòn yêu dấu của chúng ta .



( ****** )




Ăn thịt voọc : Thú chơi man rợ của đại gia




Tay đao phủ cắt động mạch ở yết hầu con vật cho máu phun xối xả vào hũ , màu rượu từ trắng dần chuyển sang hồng . Sau đó họ sẽ rạch bụng lấy túi mật , moi cả trái tim còn đập thoi thóp của nó chế biến món ngon cho vị thực khách hám mạnh hám sung .

Chuyện bắt đầu từ một cuộc gọi lúc nửa đêm về sáng của anh N.V.Tứ , ngụ phường Phạm Ngũ Lão , quận 1 , TP HCM , với tâm trạng phẫn nộ : Xin lỗi vì đã làm phiền nhưng tôi không thể chịu đựng được . Tôi thấy có những người sao mà bạo tàn , nhẫn tâm quá . Khi nhìn vào tấm hình mà tôi gửi , tin rằng anh sẽ kinh hãi . Nó là tội ác đỉnh cao mà chỉ có những kẻ máu lạnh , vô cảm mới có thể trực tiếp ra tay , hoặc gián tiếp chi tiền để đạt được điều mình muốn ! .



Hình ảnh thê lương của con voọc bị chẻ sọ , rạch bụng lấy bào thai , lột da đem ngâm rượu


Anh Tứ hiện đang công tác tại một công ty lữ hành có trụ sở tại khu phố Tây , đường Phạm Ngũ Lão , quận 1 , TP HCM . Đi nhiều , tiếp xúc nhiều nên anh “ thu nạp ” khá nhiều chuyện trái khoáy liên quan đến những thú ăn chơi sa đọa nhuốm màu tàn bạo của không ít kẻ lắm tiền . Từ nguồn tin của anh , Phóng Viên đã có những bài viết chi tiết về nạn “ yêu nữ mạo danh nữ sinh ” rao bán cái ngàn vàng để lấy tiền đóng học phí… hay tình trạng lắm quý ông quý bà hăng hái bỏ ra hàng trăm triệu đồng mua sừng dinh rắn gốc sừng dê để mài lấy bột uống đặng được tráng dương , cường âm , chữa ung thư .

Tấm hình mà anh Tứ gửi lúc nửa đêm về sáng quả là rùng rợn . Nó phơi bày tình cảnh đáng thương của một con voọc bị nhồi trong lọ thủy tinh với hộp sọ bị chẻ ngang , tứ chi bị bẻ quặt , co quắp và kinh khủng nhất là nó bị người ta lột da phô bộ xương đẫm máu . Anh Tứ bật mí tấm hình trên được một người em của anh “ săn ” được tại tư gia của một quý ông khả kính làm trong ngành xây dựng vốn rất ham hố chuyện gối chăn : Em tôi là lính của ông này . Nghe nó nói con voọc trong tấm ảnh là voọc cái , đang mang thai . Trước khi bị phanh thây , nó bị ông nọ cho người chẻ sọ lấy óc ăn cho bổ não . Sau đó thì nó bị rạch bụng , rồi bị lột da lấy xác ngâm rượu cùng một số loại cây thuốc đặng thành… rượu tăng lực .

Tấm hình máu me của anh Tứ về con voọc xấu xố kia đã lại một lần nữa gióng lên hồi chuông về những thú ăn chơi phi nhân tính của những kẻ lắm tiền . Đồng thời là thông điệp buồn về số phận của loài voọc vốn dĩ hiền lành , thông minh , rất gần với con người mà không ít ý kiến cho rằng là “ anh em của loài người ” .

Từ tình cảnh thê thảm của con voọc mà anh Tứ gửi , người viết xâu chuỗi các sự kiện và không khỏi hãi hùng trước sự tàn bạo của con người với muông thú , đặc biệt với loài voọc . Đã từng theo chân những toán thợ săn voọc ở rừng Hòn Hèo ( bán đảo Hòn Hèo , huyện Ninh Hòa , tỉnh Khánh Hòa ) và mục kích cảnh họ lạnh lùng giương súng ngắm bắn voọc , và cứ sau tiếng nổ xé toạc rừng xanh của cánh thợ săn , người viết chứng kiến màn chết thảm của “ anh em loài người ” .

Còn nhớ 6 năm trước , sau khi bị gã thợ săn tên Thưởng tuổi mới ngoài 30 luôn vỗ ngực khoe chiến tích hạ cả trăm con voọc , hạ gục bằng phát súng chí mạng ở khoảng cách 150m , con voọc chà vá chân đen đang nhởn nhơ ăn lá cây rớt xuống . Gã thợ săn hân hoan tiến đến thu hoạch chiến lợi phẩm và mừng rỡ khi thấy mình “ hạ một nhưng được hai ″ . Đó là con voọc con chết thảm sau cú rơi chí mạng , miệng còn ngậm chặt vú mẹ . Con voọc mẹ bị súng bắn thủng sọ , óc văng tung tóe nhưng theo bản năng làm mẹ luôn chở che cho con đã ôm chặt voọc con không rời .

Một lần khác , vào giữa năm 2011 , người viết đến rừng Nam Cát Tiên ( vườn Quốc gia Cát Tiên , huyện Tân Phú , tỉnh Đồng Nai ) ghé thăm những người giữ rừng ở trạm kiểm lâm Đất Đỏ ( xã Tà Lài ) khi các anh vừa lập chiến công bắt đối tượng săn gần chục con voọc tại vùng rừng thuộc quyền quản lý của mình . Hôm ấy , nói về cuộc chiến chống phường sơn tặc – cơn ác mộng của rừng già và thú hoang , trong đó có loài voọc , những người giữ rừng đã kể rất nhiều chuyện đau lòng về tình cảnh chết thảm của dòng giống nhà voọc .

Có voọc mẹ trúng bẫy chết thảm nhưng voọc con vẫn bám riết lấy mẹ chẳng rời . Khi những nhân viên kiểm lâm đến hiện trường thì voọc con vì đói và kiệt sức mới vừa “ lìa đời ” , xác hãy còn rất ấm . Thì ra voọc con vì thương mẹ , nên khi mẹ bị thương đã chẳng rời . Đến khi voọc mẹ chết , chẳng biết bấu víu vào đâu nên voọc con vẫn quanh quẩn bên xác mẹ cho đến khi gục chết .

Câu chuyện buồn khác liên quan đến một đôi voọc trúng bẫy tại vùng rừng Đất Đỏ . Thương voọc cái trúng bẫy nên con voọc đực loay hoay tìm cách giải thoát nhưng không được . Voọc cái chết , voọc đực đau đớn lẩn quẩn bên xác vợ để rồi phải trả giá cho sự thủy chung ấy bằng phát đạn trúng ngay tam tinh của gã thợ săn . Nghe tiếng súng nổ , đang tuần rừng gần đó , những người giữ rừng vội lao đến hiện trường . Bị động , cánh phường săn tháo chạy , bỏ lại xác con voọc đực chung tình tung tóe máu bên xác vợ đang phân hủy .

Loài voọc có trí khôn , có ân tình , có tình mẫu tử không thua kém gì loài người , rất gần với loài người . Ấy là nói về mặt ân tình , còn về hình dáng bên ngoài và tập tính sinh học , cái sự “ rất gần ” , “ rất giống ” ấy không quá xa . Bằng chứng là voọc cũng có tứ chi , có trí khôn đặc biệt , có những biểu hiện hỉ-nộ-ái-ố không kém gì loài người . Và cụ thể hơn , voọc cái sinh con , nuôi con bằng sữa mẹ…

Voọc , mà đặc biệt là voọc chà vá từng được gặp nhiều ở vùng núi Trung Bộ , từ Thanh Hóa dọc theo dãy Trường Sơn cho tới các tỉnh Tây Nguyên , Đồng Nai , Bình Dương và Tây Ninh . Chẳng rõ con voọc trong tấm hình bi thương kia mà anh Tứ gửi đến có nguồn gốc từ cánh rừng nào . Ở các tỉnh thuộc Tây Nguyên hay Bình Dương , Tây Ninh ? . Nhưng điều rõ nhất là nó chết một cách thê thảm . Sau này , khi xem tấm hình máu me rùng rợn ấy , Linh - một con buôn lâm sản - nay đã giải nghệ quả quyết nhiều khả năng con voọc này bị lột da lúc còn sống . Linh nói : Nếu người ta gây mê thì còn đỡ cho nó , chứ nếu không thì đúng là bi kịch .

Bi kịch mà Linh đề cập tương tự tâm tình của anh Tứ . Nghĩa là tay đao phủ sẽ cắt ngay động mạch ở yết hầu con vật cho máu phun xối xả vào hũ , màu rượu từ trắng dần chuyển sang hồng . Sau đó họ sẽ rạch bụng lấy túi mật , moi cả trái tim còn đập thoi thóp của nó chế biến món ngon cho vị thực khách hám mạnh hám sung . Tiếp đến người ta sẽ không ngần ngại rạch cái bụng nó lấy bào thai hoặc đem ngâm rượu , hoặc chưng thuốc bắc cho tay chơi sành ăn ẩm thực . Ấy là với voọc cái , nếu là voọc đực , người ta trước tiên sẽ vạt sọ lấy óc nó ăn như kiểu ăn óc khỉ . Nhưng quý nhất của voọc đực là hai tinh hoàn của nó . Tiếng đồn ai đó uống rượu ngâm tinh hoàn voọc thì bản lĩnh đàn ông sẽ vời vợi , có thể hăng như voọc chúa , dư sức cai quản , phục vụ cả binh đoàn thê thiếp – Linh bật mí .



Đối tượng săn voọc bị bắt giữ tại trạm kiểm lâm Đất Đỏ ; vô số xác voọc bị chặt đầu , lột da , mổ bụng được tìm thấy trong một đợt truy quét của Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng


Nói chung , để được tẩm bổ từ máu , tim , mật , óc , bào thai , lấy xương ngâm rượu hoặc ninh cao… người ta tin rằng phải mổ xẻ voọc lúc nó còn sống . Có như vậy thì các cơ phận của nó mới phát huy sức mạnh dược tính . Và vì người ta có niềm tin như vậy nên nhiều năm qua, đã có rất nhiều con voọc chết thảm dưới họng súng và những suy nghĩ bạo tàn từ phía loài người .

Theo Sách đỏ Việt Nam , voọc chà vá như các loài anh em khác của nó như voọc đen , voọc mũi hếch..... mỗi năm chỉ đẻ 1 con và loài voọc nói chung là loài thú hoang bị loài người săn lùng , giết hại bạo tàn nhất . Và cũng vì bị người ta tích cực truy sát , đặc biệt là việc họ dồn tâm điểm chú ý vào những con voọc lúc bụng mang dạ chửa , hay những voọc mẹ đang nuôi con nhỏ với suy nghĩ “ sát một được hai ″ , bán được nhiều tiền vì khách ưa chuộng… nên loài voọc đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Vấn đề ở chỗ chúng có xứng đáng bị như vậy ?

Trong cuốn Từ điển Động vật và khoáng vật làm thuốc , Tiến Sĩ Võ Văn Chi ghi rằng : " Người ta săn bắn voọc để lấy thịt làm thực phẩm , lấy xương nấu cao như các loại cao khỉ . Mà công dụng của cao khỉ nếu so với cao trăn , cao hổ cốt , cao ban long… thì độ oai phong , lẫm liệt kém xa " . Y văn chỉ đề cập thế thôi , chẳng tìm đâu ra những đoạn “ khen ” rằng bào thai , não , thịt xương của voọc có tác dụng bài thải độc chất hay cải lão hoàn đồng , như người ta đồn đại và tin tưởng . Càng không có đoạn đề cập đến chuyện muốn dùng voọc cho tốt thì phải lột da róc thịt , mổ bụng lấy bào thai lúc con vật còn sống… như lâu nay người ta vẫn xuống tay một cách bạo tàn với dòng giống loài voọc .

Nói như thế có nghĩa là nhiều , rất nhiều con voọc đã phải chết oan bởi sự độc ác và suy nghĩ ấu trĩ của con người . Bây giờ , ai cũng biết , nhất là cánh phường săn đều rất rõ vào rừng săn voọc là hành vi vi phạm pháp luật, sẽ bị xử lý nghiêm . Những năm qua , đã có nhiều kẻ sát hại voọc bị xử án tù . Biết bị xử lý nghiêm , bị phạt tù nhưng người ta vẫn hăng hái vác súng vào rừng khạc đạn . Ngông cuồng như thế chỉ có thể vì lý do duy nhất : voọc bán được giá , được nhiều tiền nên người ta bất chấp… hậu quả .

Khi đi săn voọc , nếu voọc chết , phường săn sẽ sấy khô , đào hố phủ lá cây , rồi cứ thế tiến sâu vào rừng , khi nào đủ sở hụi thì quay trở ra . So với hàng tươi sống thì voọc chết giá chỉ rẻ bằng 1/3 , thậm chí bằng 1/4 . Do đó, thợ săn tìm cách bắt sống voọc
– Khả , một con buôn đồ rừng ở “ chợ ” thịt rừng đường Phạm Viết Chánh , quận 1 , tiết lộ .

Theo tâm tình của Khả , thật vô phước cho con voọc nào chẳng may dính bẫy của cánh phường săn . Nếu trúng phát đạn , dẫu có máu me , dẫu óc văng loạn xạ nhưng con voọc sẽ khép lại quãng đời tự do của nó một cách nhanh chóng . “ Nhưng nếu nó còn sống , thì đó quả là thảm họa . Bởi nếu không bị người ta phanh thây , vạt sọ lấy não lúc còn sống thì con vật sẽ bị người ta cầm tù , nghĩa là bị nuôi nhốt nhiều năm trời trong chiếc cũi chật hẹp để “ làm trò lạ mắt thứ đồ chơi ” . Và sau khi thỏa mãn thú vui cầm tù ấy , chắc rằng chủ nhân của con voọc sẽ trổ màn cuối , hoặc bán nó cho ai đó có nhu cầu xương cốt , mật , óc hoặc chính họ sẽ khoái trá trước hình ảnh con vật nuôi của mình bị tay đao phủ nào đó phanh thây – chẻ sọ .

Câu chuyện buồn của loài voọc như chuyện buồn của loài gấu , loài voi , cọp , v...v..... nghĩa là chết thảm , là “ quân số ” tàn lụi thê thảm vì sự độc ác của con người . Nhưng có lẽ , so về “ nỗi đau ” thì “ thân phận ” của voọc lâm li bi đát hơn các loài kể trên . Bởi cơ phận của gấu , cọp , voi..... y học cổ truyền ít nhiều đề cập , ít nhiều có tác dụng này tác dụng nọ , còn voọc thì chẳng nhằm nhò gì . Vậy nhưng chúng vẫn bị truy sát đến tuyệt diệt ?

Mặt khác , gấu , cọp , voi là loài mãnh thú , khi bị truy sát hụt , với sức mạnh kinh hồn và bản năng giống loài , chúng có khả năng tự vệ , truy sát , trả thù kẻ tìm cách sát hại mình . Còn voọc bé xíu , là loài vô hại , khi bị con người ta dồn vào bước đường cùng , chúng chỉ biết chờ chết . Một con vật hiền lành đến tội nghiệp như thế nhưng bị người ta cài bẫy đến bò tót nếu sa lầy cũng bó chân , bị hàng trăm họng súng chực chờ..... hạ sát , hỏi sao không chua xót , phẫn nộ ?!

Và , vì cái cách mà con người ta đối với con vật rất gần gũi loài người cũng như không có bản năng tự vệ một cách tàn độc như thế , nói hành vi ấy còn hơn loài ác thú..... liệu có quá lời ?




Theo VietNamnet




Những hình phạt tàn khốc nhất trong lịch sử nhân loại




Những hình phạt dã man có từ thời trung cổ , tồn tại hàng ngàn năm , là nỗi ám ảnh của cả kẻ tử tù lẫn đao phủ . Tuy đã bị loại bỏ khỏi xã hội văn minh hàng trăm năm nay nhưng sự khủng khiếp của nó vẫn in bóng trong văn học và trí nhớ của loài người .


LĂNG TRÌ - ' CỰC HÌNH NGOÀI MỨC CỰC HÌNH '

Lăng trì ( còn gọi là tùng xẻo , xử bá đao ) là hình thức xử tử tàn độc , dã man và ghê rợn bậc nhất thời trung cổ . Lăng trì xuất hiện từ khoảng những năm 900 ở Trung Quốc và tồn tại cho đến khi được bãi bỏ năm 1905 .

Lăng trì cũng từng áp dụng rộng rãi tại Việt Nam thời xưa dưới chế độ phong kiến , được gọi nôm na là tùng xẻo . Phương pháp tử hình này cũng được các vua chúa Việt Nam dưới triều Gia Long , Minh Mạng , Tự Đức thi hành đối với những kẻ " phản loạn , bất trung , bất hiếu " . Trong Bộ luật Gia Long thời Nguyễn xếp lăng trì vào loại “ cực hình ngoài mức cực hình ” và áp dụng với những kẻ mang các tội sau : Mưu phản và đại nghịch chống vua và xã tắc , mưu giết ông bà , cha mẹ , gian dâm và âm mưu giết chồng , giết một nhà ba người , chặt chân tay , phanh thân thể người còn sống , đầy tớ đánh chủ nhà đến chết , vợ cố ý đánh chết chồng .

Dựa theo những bức tranh vẽ và sách xưa viết lại thì thường phạm nhân sẽ bị trói vào cột , đao phủ nghe hiệu lệnh bằng tiếng trống và chặt hết tay chân rồi dùng dao sắc xẻo từng miếng thịt cho đến chết . Tùy theo từng nơi , từng luật mà quy định mà phải sau đúng bao nhiêu nhát xẻo thì nạn nhân mới được chết . Thịt bị lóc ra sẽ được trưng bày nơi công cộng với mục đích răn đe dân chúng . Có những nơi nhân đạo hơn , phạm nhân sẽ được sử dụng nha phiến trước khi hành hình để làm nhẹ bớt cơn đau đớn . Hình phạt này áp dụng cho người sống và cả người đã chết nhằm mục đích lăng nhục .

Trong lịch sử Trung Quốc có nhiều người bị xử lăng trì , những người nổi tiếng như danh tướng Viên Sùng Hoán thời nhà Minh bị tùng xẻo tới hơn 3.000 nhát dao mới chết còn tên thái giám Lưu Cẩn thì phải chịu đựng tới 3.357 nhát dao mới đứt hơi...

Sự khủng khiếp của hình phạt này còn được ghi lại trong văn học, tiêu biểu nhất gần đây là tiểu thuyết Đàn hương hình của nhà văn Mạc Ngôn (Trung Quốc) bên cạnh hình phạt tàn khốc nhất là dùng thanh kiếm gỗ đàn hương đâm vào hậu môn tội phạm xuyên suốt đến gáy và để nạn nhân sống ngắc ngoải trong nhiều ngày , hình phạt lăng trì được tác giả mô tả tỉ mỉ với ba cấp độ : cấp một xẻo đến 3.357 miếng , cấp hai xẻo 2.896 miếng , cấp ba xẻo 1.585 miếng .


VOI GIÀY

Là một hình phạt có từ hàng ngàn năm ở các quốc gia Nam Á và Đông Nam Á , đặc biệt tại Ấn Độ . Voi được sử dụng là voi châu Á được huấn luyện thuần thục . Hình phạt này áp dụng cho các tử tội , thường là phạm tội nặng với triều đình hoặc được sử dụng như một cách thức trả thù của vua đối với những người ủng hộ phe chống lại vua . Nạn nhân bị hành quyết thường bị voi dùng chân dẫm lên cơ thể , dùng vòi cuốn đưa lên cao và quật xuống đất . Người ta có thể điều khiển voi làm cho nạn nhân chết nhanh hoặc chết từ từ để hành hạ . Không chỉ có các nước châu Á áp dụng hình phạt này , La Mã và Carthage cũng áp dụng cho việc xử tử đồng loạt một số đông tù nhân .

Trong lịch sử Việt Nam , vụ xử lăng trì , voi giày gây chấn động nhất có thể kể đến vụ vua Gia Long “ trừng trị ” vua quan Tây Sơn… . Sách Đại Nam thực lục chính biên chép : " Quang Toản và những người con khác của Nguyễn Nhạc , Nguyễn Huệ là Quang Duy , Quang Thiệu và Quang Bàn bị 5 voi xé xác , đầu bị bỏ vào vò và giam trong ngục . Quang Tự , Quang Điện , Nguyễn Văn Trị rồi các con của Nguyễn Nhạc gồm Thanh , Hán , Dũng bị giết ngay sau khi bị bắt , chưa kể 31 người có quan hệ huyết thống với Nguyễn Huệ đều bị xử lăng trì . Lăng mộ nhà Tây Sơn như các lăng của vua Thái Đức và vua Quang Trung bị quật lên , hài cốt bị giã nát quăng đi , đầu ba vua Tây Sơn ( Thái Đức , Quang Trung và Cảnh Thịnh ) và bài vị vợ chồng Nguyễn Huệ thì bị giam trong ngục tối . Nữ tướng Bùi Thị Xuân và con gái bị voi giày… " . Một vụ lăng trì nổi tiếng khác là vào năm 1835 những đầu đảng phiến lọan thành Phiên An gồm 6 người bị xử lăng trì…


TRU DI TAM TỘC

Là một hình phạt tàn bạo thời phong kiến ở các nước châu Á như Việt Nam , Trung Hoa , có nghĩa là giết sạch ba họ gồm : họ cha , họ mẹ , họ vợ ( hoặc họ chồng ) của phạm nhân . Những kẻ phạm tội khi quân , phản quốc sẽ phải chịu hình phạt này .

Khi một người phạm tội bị kết án tru di tam tộc , những người trong cả ba họ của người đó từ trẻ đến già đều bị diệt . Họ nhà mẹ và họ nhà vợ trong trường hợp này bao gồm cả họ hàng của mẹ kế và vợ lẽ cũng không loại trừ . Kể cả trong trường hợp chính những người mẹ , mẹ kế và những người vợ lẽ của người đó đã qua đời trước khi kết án thì họ hàng của họ vẫn phải thụ án . Do đó trong lịch sử , khi xảy ra án tru di tam tộc , thường có hàng trăm , thậm chí hàng ngàn người mang nhiều họ bị giết một lúc . Nhiều người có quan hệ họ hàng khá xa với người phạm tội cũng bị giết cùng . Vụ án nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam chính là Vụ án Lệ Chi Viên mà Nguyễn Trãi - công thần khai quốc nhà Hậu Lê - bị kết án giết vua Lê Thái Tông .

Để tránh tai hoạ , những người cùng trong họ may mắn thoát nạn thường phải chạy đi nơi xa , mai danh ẩn tích , đổi sang họ khác . Sự truy nã của triều đình phong kiến đối với những người này kéo dài nhiều năm và chỉ dừng lại khi có lệnh cải chính chính thức của triều đình . Vì vậy có những trường hợp trốn tránh sau nhiều năm vẫn bị bắt giết . Điển hình là trường hợp cha con Nguyễn Văn Đức và Nguyễn Văn Đâu - con và cháu của vua Thái Đức Nguyễn Nhạc , dù nhà Tây Sơn đã mất năm 1802 nhưng họ vẫn bị nhà Nguyễn bắt và xử chém năm 1831 để đề phòng phản loạn chống triều đình , báo thù cũ .


CUNG HÌNH

Là một hình phạt thời phong kiến , đối tượng phạm tội bị cắt bộ phận sinh dục . Tuy kết cục của hình phạt này đa số không phải là cái chết nhưng là một đòn cực hiểm độc đối với thần kinh và tâm lý , có thể khiến người bị cung hình mãi mãi về sau sống trong sự hoảng loạn , sợ hãi , nhục nhã và ức chế .

Trong lịch sử Trung Hoa , Tư Mã Thiên phải chịu hình phạt cung hình . Sử gia Tư Mã Thiên khi nghĩ lại giây phút bị cung hình đã cay đắng viết : " Mỗi khi nghĩ đến nỗi nhục đó thì mồ hôi ướt đầm áo , nghĩ mình chỉ đáng canh cửa cho đàn bà hay tốt hơn là nên ẩn thân vào nơi sơn cùng thuỷ tận " .


TỨ MÃ PHÂN THÂY

Tứ mã phân thây ( đôi khi gọi là tứ mã phanh thây ) là một hình phạt thời phong kiến . Đây là hình phạt mà tứ chi của phạm nhân bị cột vào bốn sợi dây nối vào bốn con ngựa . Trên ngựa có thể có nài ngựa hoặc không . Khi hành hình , các nài ngựa sẽ thúc ngựa phi ra bốn hướng còn không có nài ngựa thì người ta sẽ hét lớn hoặc đánh ngựa để chúng hoảng sợ bỏ chạy . Từ đó bốn sợi dây sẽ kéo tứ chi phạm nhân đến khi thân thể của phạm nhân bị xé thành năm mảnh gồm đầu , thân và tứ chi . Phạm nhân sẽ bị bỏ mặc cho máu chảy đến chết .

Hình phạt này còn có một biến thể khác là ngũ mã phân thây với con ngựa thứ năm cột vào cổ phạm nhân . Hình phạt này cũng được áp dụng khá rộng rãi ở một số nước châu Á , châu Âu thời cổ đại , là một niềm khiếp sợ đối với phạm nhân và những người chứng kiến .

Trong hàng nghìn năm xã hội loài người chưa tiến đến văn minh , còn có rất nhiều hình phạt tàn độc khác nữa như ném đá tới chết , lột da , xiết đai diêm vương , chặt ngang lưng , tự rạch bụng , bị ép phải đấu gươm , đấu súng , v...v.....

Cùng với sự tiến bộ của loài người , công lý cũng được thực thi một cách nhân đạo hơn .



Theo Đất Việt




Điện Ảnh Sài Gòn Xưa




Sài Gòn vào những thập niên 50s , 60s và đầu thập niên 70s đa số phim nước ngoài nhập vào Việt Nam đều chiếu ở Pháp rồi mới sang Việt Nam . Đó cũng là lý do tại sao phim Mỹ lại nói tiếng Pháp hoặc phim nói tiếng Mỹ và có phụ đề (sous-titre) tiếng Pháp . Tên phim thì đa số bằng tiếng Pháp , dù là phim Mỹ . Phần đông các phim ( dù của Pháp hay của Mỹ ) , đều có phụ đề Việt ngữ để khán giả có thể theo dõi . Ngoài ra, một số phim nói tiếng Pháp lại có phụ đề cả ba thứ tiếng Việt-Hoa-Anh…

Nói đến chuyện phụ đề Việt ngữ , tôi xin ghi lại một chuyện khá tức cười . Trong một phim tôi không nhớ tên , có cảnh người nữ diễn viên bồng đứa con còn ẵm ngửa và bên dưới có phụ đề : “ Để em bỏ con vô nồi ” . Khán giả cười ồ , dù cảnh trên màn ảnh không có gì để cười . Hóa ra những người làm phụ đề sơ xuất trong việc bỏ dấu : chữ " nôi " bị biến thành " nồi " thay vì “ Để em bỏ con vô nôi ” !

Theo tôi , phụ đề Việt ngữ là cách hay nhất giúp khán giả tiếp cận với tình tiết trong phim . Tuy nhiên , có nhiều phim vì diễn viên nói vừa nhanh vừa dài nên phụ đề cũng phải chạy chữ cho kịp khiến khán giả đọc " hụt hơi " , chưa hết câu này đã xuất hiện câu khác . Khổ nhất là những người đọc chậm theo kiểu… " bình dân học vụ " .

Sau 1975 , dòng phim " cách mạng " miền Bắc không thấy xuất hiện " phụ đề Việt ngữ " , thay vào đó là lối " thuyết minh " . Cứ mỗi buổi chiếu , có một nhân viên ngồi trong rạp đọc bản script bằng tiếng Việt nên mới gọi là " thuyết minh " . Nhiều khi " thuyết minh viên " vì tay nghề kém nên cứ đọc trước hoặc đọc sau cảnh trong phim khiến khán giả nhiều lúc chẳng hiểu phim nói gì .

Tôi cũng đã có một thời kỳ nhận dịch phim cho Fafilm Saigon sau ngày miền Nam thất thủ . Phim nói tiếng Anh được Fafilm sao lại qua băng Video và giao cho người dịch . Nhận dịch phim có nghĩa là phải nghe hết những đối thoại trong phim rồi viết lại bằng tiếng Việt để người thuyết minh đọc khi phim được trình chiếu .

Gặp những phim thuộc loại " ít nói " như phim chiến tranh , phim hành động đấm đá thì công việc dịch phim tương đối dễ dàng . Ngược lại , những phim thuộc loại tình cảm ướt át , triết lý lòng thòng , người dịch phim cứ phải nghe đi nghe lại mới nắm hết ý nên tốn rất nhiều thì giờ .

Nếu may mắn , phim gốc có kèm original script , người dịch chỉ nhìn phần đối thoại trong bản tiếng Anh và cứ thế dịch ra tiếng Việt , khỏi cần xem phim cũng xong . Tuy nhiên , những trường hợp " ngon ăn " ít khi nào đến tay mình . Fafilm để dành cho " bồ tèo " và những người thân thiết , còn lâu mới đến lượt " con bà phước " !

Khi viết thuyết minh còn phải có những lời dẫn để trong ngoặc dành riêng cho người thuyết minh đọc đúng đoạn , đúng cảnh . Ở đây người ta thấy ngay trình độ khán giả xem phim giữa hai miền Nam-Bắc . Thuyết minh dành cho loại khán giả " có trình độ văn hóa thấp " , chỉ cần nghe không cần đọc trong khi phụ đề đòi hỏi trình độ ở mức cao hơn để đọc chữ trên màn ảnh . Như vậy , hình thành hai trình độ thưởng thức phim : Văn hóa đọc và Văn hóa nghe… giữa hai miền Nam-Bắc !

Ngoài phụ đề Việt ngữ , xi-nê Sài Gòn xưa còn dùng hình thức chuyển âm , ngôn ngữ ngày nay gọi là " lồng tiếng " . Chuyển âm thường áp dụng cho những phim bình dân như loại phim ca-vũ-nhạc của Ấn Độ , sản xuất từ Bollywood .

Sang đến thời của video với các bộ phim của TVB Hồng Kông được cả một ê-kíp chuyển âm người ta mới thấy công việc khó nhọc của diễn viên lồng tiếng như thế nào nhưng khi trình chiếu trên màn ảnh tên tuổi của các diễn viên chỉ xuất hiện khoảng… 10 giây ! . Nổi tiếng trong loại phim được chuyển âm phải kể đến Tú Trinh với tài diễn xuất điệu nghệ từ tiếng cười , tiếng khóc cho đến những đoạn đối thoại đòi hỏi những đối thoại xuất phát từ nội tâm .

***

Một trong những phim tôi " mê " nhất là Vertigo với các tài tử Kim Novak , James Stewart . Đạo diễn Alfred Hitchcock làm phim Vertigo theo tiểu thuyết D’Entre les Morts của tiểu thuyết gia Pháp Boileau-Narcezac , hai ông viết chung , một ông tên là Boileau , ông kia tên là Narcezac . Nhà văn Hoàng Hải Thủy đã dựa theo tiểu thuyết D’Entre les Morts để phóng tác thành truyện “ Giữa những người đã chết ” .

Vertigo là loại phim " toát-mồ-hôi-lạnh " được Hitchcock thực hiện từ năm 1958 với những cảnh hồi hộp đứng tim . Chuyện xoay quanh chứng " sợ độ cao " (acrophobia) , có những cảnh người rớt từ cao ốc, người tự tử từ cầu Golden Gate và từ tháp chuông nhà thờ… Vertigo thuộc loại trinh thám , hấp dẫn khán giả từ đầu mối này đến tình tiết khác , lúc thắt lúc mở dưới tài đạo diễn của Hitchcock .

Hồi đó , Sài Gòn chiếu rất nhiều phim Hitchcock cho nên giới ghiền xi nê gọi chung những phim kinh dị là " phim Hitchcock " dù phim không thực sự do Hitchcock đạo diễn . Trong ngôn ngữ Sài Gòn , người ta còn dùng từ " hít-cốc " để diễn tả sự căng thẳng , quái đản hay nhuộm màu sắc trinh thám .

Sir Alfred Joseph Hitchcock là đạo diễn tiên phong trong nghệ thuật làm phim tâm lý - tình cảm - kinh dị . Ông khởi nghiệp từ thời làm phim câm tại Anh nhưng giai đoạn thành công nhất là kể từ khi ông chuyển đến Hollywood năm 1956 . Hitchcock đạo diễn hơn 50 bộ phim trong suốt sự nghiệp kéo dài đến sáu thập kỷ . Ông thường được coi là nhà làm phim số 1 của mọi thời đại với thể loại phim đen trắng kinh dị . Những phim nổi bật của ông phải kể đến " The Man Who Knew Too Much " (1956) với James Stewart và Doris Day ( trong phin này Doris Day hát bài What Will Be , Will Be – Que Sera , Sera và đoạt giải Oscar âm nhạc hay nhất ) .

Các bộ phim " North by Northwest " (1959) với Cary Grant và Eve Marie Saint , " Psycho " (1960) với Anthony Perkins và Janet Leigh , và " The Birds " (1963) với Tippi Hedren và Rod Taylor cũng được coi là những thành công của Hitchcock. Sau khi làm phim Psycho với Universal, Hitchcock trụ lại với hãng phim này cho đến khi về hưu . Thật may mắn , năm 1971 , tôi đã chụp được hình ảnh ngôi nhà trong phim Psycho vẫn còn được lưu giữ tại phim trường Universal ở tiểu bang California .

Có một loại phim cũng rất ăn khách với những màn nổ súng - " bắn chậm thì chết " . Người Sài Gòn gọi nôm na là " phim cao-bồi " (cowboy) , " phim miền Tây " (Western Movies) với những cảnh cưỡi ngựa , bắn súng lồng trong cốt truyện " thiện thắng ác " , " anh hùng thắng gian ác " hoặc " da trắng thắng da đỏ " . Người hùng trong những phim này phải kể đến Gary Cooper , John Wayne , Clint Eastwood… trong những bộ phim miền Tây nổi tiếng như Gunfire at OK Coral và The magnificient seven (Les sept mercenaires) .

Sài Gòn đã chiếu quá nhiều phim hay có tính cách kinh điển . Theo tôi , những phim dưới đây được xếp vào hạng " kiệt tác " đối với dân ghiền xi-nê thời đó :

Casablanca : phim tình cảm với một mối tình đẹp giữa Rick (Humphrey Bogart) và Isla (Ingrid Bergman) trong những thời khắc của định mệnh và chiến tranh .

Gone with the wind (Cuốn theo chiều gió) với nàng Scarlet trong bối cảnh nội chiến Nam-Bắc Mỹ đã làm thổn thức bao trái tim vì cuộc tình lãng mạn qua diễn xuất của các tài tử nổi danh Vivian Leigh , Clark Gable .

Roman Holyday (Vacance Romaine - Nghỉ Hè La Mã) , nàng công nương Audrey Hepburn và một phóng viên do số phận run rủi đã có những thời khắc đẹp bên nhau . Cảnh thơ mộng nhất phải kể đến cặp tình nhân chở nhau trên chiếc Vespa đi khắp Florence . Sau này , có dịp đi Ý , tôi đã đến những nơi đã quay ngoại cảnh của cuốn phim . Thật tuyệt vời !

Bác sĩ Zhivago mang chủ đề tình yêu mạnh mẽ và thơ mộng trong những tháng ngày tuyệt vọng của cuộc sống tại Nga , mang dáng dấp bàng bạc của thời điêu linh sau 1975 tại Việt Nam . Đây là tác phẩm văn học của Boris Pasternak , Giải Nobel Văn Chương với các diễn viên Omar Sharif và Julie Christie . Chính quyền Nga gần đây đã cho phép xuất bản toàn bộ các tác phẩm của ông sau khi đã bị cấm đoán suốt thời kỳ Liên Bang Xô Viết .

City Lights (Ánh đèn đô thị) là một phim câm mang tính kinh điển của thời Charlie Chaplin với vai diễn độc đáo Charlot , một gã lang thang yêu một cô gái bán hoa bị mù hai mắt . Tình yêu khiến anh mạnh mẽ trong cuộc chiến vượt lên sự bần cùng . Phim câm , cười mà rơi lệ !

Love Story (Chuyện tình) , phim đã đưa Ali McGraw và Ryan O’ Neal lên hàng các ngôi sao , đồng thời đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa hiện sinh .

***

Sài Gòn trước 1975 chiếu nhiều loại phim và mỗi tài tử nổi tiếng đều có những fans hâm mộ riêng . Theo tôi , nổi nhất và có nhiều người hâm mộ nhất là cô đào sexy BB . Nữ minh tinh người Pháp , Brigitte Bardot , sinh ngày 28/9/1934 , nổi tiếng từ năm 1956 qua phin Et Dieu Créa La Femme (And God Created Woman) do Roger Vadim đứng ra đạo diễn và chính ông là chồng của BB . Đạo diễn này chắc tử vi có số đào hoa , về sau ông còn kết hôn với người đẹp Jane Fonda , con gái rượu của Henry Fonda .

Trong suốt cuộc hôn nhân với BB (1953-1957) ông đã biến người phụ nữ trẻ con (child-woman) thành một hình tượng quyến rũ của phái đẹp . Những phim tiếp theo như Babette s'en va-t-en guerre (1959) , La Verité (1960) đã được trình chiếu tại các rạp xi-nê Sài Gòn và lúc nào cũng đông nghẹt người đến để xem cô đào sexy , tóc vàng , " môi cong tớn " .

Không biết tôi có dùng đúng chữ để diễn tả cặp môi BB ? . Cặp môi đó lúc nào cũng chờ đợi , mời gọi những cái hôn và chính cặp môi đó sau này trên Đà Lạt có một loại hoa hồng mang tên Brigitte Bardot .

Đã có không ít cô gái Việt vào các thập niên 50-60 lấy BB làm khuôn mẫu . Theo tôi , không thể nào có một cặp môi thứ hai , không ai có thể bắt chước được BB với cặp môi… thiên phú ! . BB cũng là thần tượng của giới học sinh và sinh viên với mái tóc dài buông lơi đến quá lưng rất quyến rũ . Tóc BB lại đánh rối phía trước nên nhiều nữ sinh hồi đó cũng bắt chước kiểu tóc này khiến trường Trưng Vương phải tung ra chiến dịch chấn chỉnh : nữ sinh nào tóc đánh rối quá cao đều được các bà giám thị đưa vào văn phòng , bắt gỡ tóc và chải lại !

" Quả Bom Sex " thứ hai là Sophia Loren , cũng sinh năm 1934 như BB , nhưng lại là cô gái Ý , sống cuộc đời nghèo khổ tại Naples . Và cũng như BB , cô lấy ông chồng làm đạo diễn - Carlo Ponti - năm 1957 .

Qua hai trường hợp của BB và Sophia Loren , người ta thấy ngay các kiều nữ đều có tính toán đâu ra đó . Lấy chồng đạo diễn – dù già , dù xấu trai – nhưng sẽ bảo đảm một con đường vinh quang nghệ thuật ?

Những phim hay nhất của Sophia Loren phải kể đến " The Pride and the Passion " ( 1957 , đóng chung với Frank Sinatra ) , " It Started in Naples " ( 1960 , với Clark Gable ) và " El Cid " ( 1961 , với Charlton Heston ) . Năm 1961 , Sophia Loren đoạt giải Oscar qua phim La Ciociara (Two Women) đến khi về già vẫn còn nhận một giải Oscar vào năm 1991 .

Kiều nữ thứ ba được dân ghiền xi-nê ái mộ là Gina Lollobrigida . Phim hay nhất làm tôi mê mẩn là " Anh gù Nhà thờ Đức Bà " (Notre Dame de Paris) năm 1956 với Gina trong vai người đẹp Esmeralda và Anthony Quinn trong vai anh gù Quasimodo theo truyện của Victor Hugo . Đoạn kết thật cảm động với cảnh chiếu bộ xương của anh gù và người đẹp trong tư thế ôm nhau khi màn ảnh mờ dần…

Đây cũng là phim màu đầu tiên dựa theo tiểu thuyết và sau này tôi mới biết nguyên bản của phim chỉ có hai nhân vật chính nói tiếng Anh còn những diễn viên người Pháp đều được lồng tiếng Anh . Trong khi đó tại Sài Gòn dù xem phim Mỹ vẫn nghe tiếng Pháp . Thật tréo cẳng ngỗng giữa 3 ngôn ngữ Anh-Pháp-Việt trong thị trường điện ảnh tại Sài Gòn .

Cũng như Sophia , Gina là người Ý nhưng cô lớn hơn BB và Sophia đến 7 tuổi và xuất hiện trong hoàn cảnh thế giới còn đang ngổn ngang những đổ nát từ cuộc đại chiến lần thứ nhì . Năm 1947 , Gina tham dự cuộc thi hoa hậu Ý và với nhan sắc mặn mà của một cô gái 20 tuổi , Gina đoạt giải ba .

Gina có biệt hiệu Người đàn bà đẹp nhất thế giới qua bộ phim do Ý sản xuất , " La Donna Piu Bella del Mondo " ( năm 1955 ) . Cô đã từng diễn xuất bên cạnh những tài tử nổi danh một thời như Humphrey Bogart (trong phim Beat the Devil) , Yul Brynner (Solomon and Sheba) , Burt Lancaster (Trapeze) , Frank Sinatra (Never So Few)… Năm 1961 , Gina xuất hiện trong Come September với Rock Hudson và đoạt Giải Cầu Vàng (Golden Globe) qua bộ phim này .

Cuộc đời tình ái của Gina cũng sôi nổi không kém cuộc đời nghệ thuật . Vào năm 2006 , khi đó Gina đã 79 tuổi , bà tuyên bố sẽ kết hôn với một doanh nhân người Tây Ban Nha , Javier Rigau . Chàng Javier khi đó mới tròn 45 ! . Họ tiết lộ đã hẹn hò với nhau từ năm… 1984 khi gặp nhau tại Monte Carlo . Cuối cùng , cuộc hôn nhân bất thành vì sức ép của dư luận và báo chí !

***

Sẽ không công bằng khi bỏ qua các minh tinh miền Nam một thời vang bóng như Kim Cương ( trong phim Lòng nhân đạo , Ngọc bồ đề ) , Trang Thiên Kim ( Mục liên thanh đề , Trương Chi… ) , Mai Trâm ( Chúng tôi Muốn Sống ) , Khánh Ngọc ( Ràng buộc , Ánh sáng miền nam… ).

Một trong những phim thành công nhất về mặt doanh thu phải kể đến Quan Âm Thị Kính . Năm 1957 là năm điện ảnh hoạt động mạnh mẽ nhất tại miền Nam , chỉ riêng trong năm này , các hãng phim tư nhân đã sản xuất gần 40 phim . Một số hãng phim đã xuất hiện với các tên như Tân Việt , Việt Thanh , Mỹ Vân , Văn Thế , Trường Sơn , Đông Phương , Liên Hiệp , Viễn Đông , An Pha , Hương Bình…

Cuối năm 1957 , hãng Mỹ Vân tung ra bộ phim Người đẹp Bình Dương được trình chiếu vào dịp Noel và năm mới 1958 với một chiếc lược quảng cáo rầm rộ . Bộ phim đã thu hút được sự hưởng ứng của đông đảo khán giả và đồng thời giới thiệu một gương mặt mới của nền điện ảnh miền Nam : Thẩm Thúy Hằng .

Tên thật của Thẩm Thúy Hằng là Nguyễn Kim Phụng , sinh năm 1941 , nguyên quán bố mẹ gốc Hải Phòng , và lớn lên tại An Giang . Vào một ngày gần như là định mệnh , Phụng được thấy một trang báo có đăng quảng cáo cuộc thi tuyển diễn viên điện ảnh của hãng phim Mỹ Vân . Dấu cha mẹ , cô nữ sinh Phụng , khi đó mới 16 tuổi , học lớp Đệ Tứ , ghi tên dự tuyển .

Giữa muôn ngàn đóa hoa hương sắc , với những gương mặt sáng ngời của những ngôi sao nổi tiếng thuộc lớp " đàn chị " như Kim Vui , Khánh Ngọc , Kiều Chinh , Trang Thiên Kim… , bà chủ hãng phim Mỹ Vân đã tinh ý phát hiện thấy Phụng . Cô nữ sinh Nguyễn Kim Phụng đã vượt qua hơn hai ngàn thí sinh , bước lên đài vinh quang bằng giải nhất của cuộc tuyển lựa bên phía nữ .

Từ vai diễn đầu tiên với vai Tam Nương trong Người Đẹp Bình Dương , đóng cặp với nam diễn viên Nguyễn Đình Dần trong vai Hoàng tử , Thẩm Thúy Hằng bước lên ngôi vị nữ diễn viên khả ái nhất của màn ảnh Sài Gòn vào cuối thập niên 50 đầu thập niên 60 . Có điều ít người biết là địa danh Bình Dương trong cuốn phim lại không phải là Thủ Dầu Một mà là một địa danh ở... bên Tàu .

Biệt danh Người Đẹp Bình Dương xuất hiện từ đó và Thẩm Thúy Hằng đã đóng trên dưới 60 phim nổi tiếng thời đó là: Trà Hoa Nữ , Ngưu Lang-Chức Nữ , Sự Tích Trầu Cau , Bạch Viên Tôn Cát , Sài Gòn Vô Chiến Sự , Nửa Hồn Thương Đau , Đôi Mắt Huyền , Oan Ơi Ông Địa , Dang Dở , Tơ Tình , Nàng , Bóng Người Đi , Ngậm Ngùi , Mười Năm Giông Tố , Sóng Tình , Xin Đừng Bỏ Em…

Riêng đối với nhạc sĩ Thẩm Oánh , Thẩm Thúy Hằng xem như là một người thầy , người cha tinh thần . Chính nghệ danh Thẩm Thúy Hằng là cô đã lấy họ Thẩm của ông dùng làm nghệ danh cho mình . Thời đó , nhạc sĩ Thẩm Oánh là hiệu trưởng Trường Ca Vũ Nhạc Phổ thông mà Thẩm Thúy Hằng theo học bộ môn kịch do ông Hoàng Trọng Miên làm giáo khảo tuyển sinh và giáo sư kịch nghệ .

Năm 1969 , Thẩm Thúy Hằng lập nhóm làm phim Thẩm Thúy Hằng ( tiền thân của Vilifilms sau này ) . Phim đầu tay của Thẩm Thúy Hằng , " Chiều Kỷ Niệm " , với độ dài 1 giờ 45 phút , là phim thuộc thể loại tình cảm xã hội do Lê Mộng Hoàng đạo diễn . Bộ phim đen trắng được tạp chí Màn ảnh Sài Gòn ca tụng :

Ngay ngày chiếu cho khán giả xem , đồng bào đã chen chúc tới hai rạp Rex và Văn Hoa để giành vé . Chỉ trong ngày đầu công chiếu , rạp Rex đã thu về được hơn một triệu tiền Việt nam , còn Văn Hoa thu về hơn bảy trăm ngàn đồng . Sau đó , suốt trong một tuần lễ phim chiếu , ngày nào cũng đông như vậy , đến nổi cuốn phim được chiếu tiếp sang tuần thứ nhì . Điều này , là một hiện tượng hiếm mà khán giả dành cho phim Việt nam .

Phim cuối cùng của Thẩm Thúy Hằng được quảng cáo chiếu tại các rạp Khải Hoàn , Casino Dakao , Kim Châu và Lux trước ngày Sài Gòn sụp đổ là một phim hài mang tên " Chàng ngốc gặp hên " . Phim này còn có sự hiện diện của La Thoại Tân cùng các danh hài Văn chung , Thanh Việt và Tùng Lâm .

Chàng ngốc gặp hên được chiếu tại các rạp từ ngày 21/3/75 , chỉ cách ngày các cán binh miền Bắc tràn ngập Sài Gòn đúng 1 tháng 9 ngày . Phải chăng đó cũng là một điềm dữ báo trước… các chàng ngốc gặp hên (??? !!!).

Thẩm Thúy Hằng kết hôn với giáo sư tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh . Ông Oánh tốt nghiệp đại học Harvard và đã từng làm Phó thủ tướng kiêm Thống đốc Ngân hàng Việt Nam Cộng hòa . Sau năm 1975 , ông làm cố vấn kinh tế cho Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Võ Văn Kiệt . Ông mất ngày 29/08/2003 vì bệnh về tim mạch , hưởng thọ 82 tuổi ( Nhiều chi tiết về ông Nguyễn Xuân Oánh còn được đề cập đến trong Chương 8: Thời mở cửa ).

Thẩm Thúy Hằng hiện sống giản dị trong ngôi nhà yên tĩnh ở khu vực Bình Qưới , Sài Gòn . Gặp bạn bè đến thăm , cô vẫn vui vẻ khi được khơi gợi lại ký ức về cuộc đời nghệ thuật . Ngày nay , cô có cuộc sống riêng lặng lẽ và âm thầm . Hằng ngày , cô dành nhiều thì giờ cho việc ngồi thiền và ăn chay trường .

Tôi nghĩ , trường hợp một nữ tài tử tài-sắc vẹn toàn như Thẩm Thúy Hằng là quá hiếm trong nền điện ảnh Sài Gòn thời đó . Cô đã trở thành " người của công chúng " và giữ được cảm tình của nhiều người cho đến cuối đời với một cuộc sống đạo đức đáng phục . Một thi sĩ vô danh nào đó đã sửa lời một bài thơ nổi tiếng để thể hiện tình cảm của mình đối với Người Đẹp Bình Dương :

Nếu biết rằng em đã lấy chồng .
Anh về lấy vợ thế là xong .
Vợ anh không đẹp bằng em lắm !
Mà chỉ same same… Thẩm Thúy Hằng !




Nguyễn Ngọc Chính
Hồi Ức Một Đời Người




Những Bí Ẩn Của Cuộc Đời ( I )




Tác giả : Dale Carnegie
Dịch giả : Nguyễn Hữu Kiệt



PHẦN 1


CHƯƠNG 1 : MỘT TRIỂN VỌNG ĐÁNG MỪNG


Một nhà Hiền Triết đã tóm tắt tất cả lịch sử của nhân loại với những lời nầy : " Con người sinh ra , chịu đau khổ và chết " .

Nói về sự đau khổ của thế gian , người ta đã từng nghe nói về một chuyện cổ xưa và đầy ý nghĩa . Đó là truyện tích thái tử Sĩ Đạt Ta , mà về sau người ta được biết dưới danh hiệu đức Phật , tức là bậc Toàn Giác . Phụ Vương của Sĩ Đạt Ta là một vị vua rất giàu sang và có thế lực lớn ở miền Bắc Ấn Độ . Người quyết định truyền ngôi cho Thái Tử , và muốn giữ Thái Tử ở trong cung , không muốn cho Thái Tử nhìn thấy cảnh lầm than , đau khổ của người đời . Thái Tử sống từ nhỏ trong cung cấm , và đến lúc trưởng thành , vua cha mới cưới cho Thái Tử một vị Công Chúa nhan sắc đẹp tuyệt trần . Từ nhỏ đến lớn , Thái Tử không hề bước chân ra khỏi bốn vách thành bao bọc chung quanh Hoàng cung một lần nào . Đến lúc Thái Tử sinh hạ được một hoàng nam , người mới thấy nhàm chán cảnh cung điện và tọc mạch muốn biết có những gì ở cõi thế gian bên ngoài . Người mới tìm cách đánh lừa những tên lính gác cửa thành , và lần đầu tiên người mới nhìn thấy cảnh thành phố tấp nập , dân cư đông đão và cảnh đời thực tế bên ngoài .

Trong chuyến ngao du đó , người nhìn thấy ba cảnh tượng làm cho người chú ý : đó là cảnh tượng một người gia , một người bịnh và một xác chết . Thái tử vô cùng xúc động , bèn hỏi tên đánh xe đi theo Ngài , tại sao lại có những cảnh đau khổ như thế ? . Khi được biết rằng đó là những điều thường vẫn xảy ra hằng ngày và đó là cái số phận chung cho cả mọi người , không ai tránh khỏi , Thái Tử lấy làm buồn bực vô cùng đên nỗi Ngài không còn muốn sống cuộc đời sung sướng xa hoa như trước nữa . Ngài trở về cung , bèn từ giã tất cả mọi gia tài sản nghiệp , gia đình vợ con , và quyết định xuất gia tầm Đạo để cứu vớt nhân loại và chúng sinh khỏi sự lầm than đau khổ . Sau nhiều năm khổ công tu luyện và tham thiền quán tưởng , Ngài bèn thoát nhiên đại ngộ , trở nên một bậc Toàn Thông , đắc Vô thượng Đạo , chánh đẳng chánh giác , tức là đắc Đạo thành Phật vậy . Khi đó Ngài mới đem truyền dạy Đạo mầu thoát khổ cho thế gian .

Chúng ta là những người trần gian phàm tục , không mấy ai có thể làm giống như Phật Thích Ca , nhất thời dứt bỏ tất cả giàu sang , quyền thế , danh vọng , tình yêu và hạnh phúc gia đình để theo đuổi một mục đích mơ màng viễn vông như là việc đi tìm Chân Lý , và tìm hiểu bí quyết của cuộc Đời ! . Tuy nhiên , mỗi người trong chúng ta đều có kinh nghiệm về sự đau khổ ít nhất một vài lần trong đời mình và đã có lúc phải tự hỏi : " Tại sao con người bị đau khổ ? Và họ có thể làm gì để thoát khổ ? " .

Những nhà văn có óc không tưởng đã phác họa một thời kỳ trong tương lai mà trong bốn điều khổ của đức Phật nêu ra , thì hai điều sẽ không còn nữa , đó là : " Bệnh và Lão " . Nhưng mặc dầu khoa học hiện đại đã có bao nhiêu những phát minh mới mẻ tân kỳ , người ta vẫn chưa có triển vọng tìm ra phương pháp giải quyết vấn đề mà con người vẫn coi như là một kẻ thù lớn nhất , đó là " Sự Chết " ! . Trong khi chờ đợi , và trong khi mà một sự cải tạo thế giới trên một bình diện hợp lý hơn vẫn chưa đem đến cho nhân loại sức khỏe , an ninh , và hạnh phúc , thì chúng ta còn phải đương đầu với muôn ngàn sự bấp bênh , nguy cơ và đau khổ nó hăm dọa nền hạnh phúc và sự bằng an trong tâm hồn chúng ta !

Những tai họa thiên nhiên như hỏa hoạn , ngập lụt , bệnh tật truyền nhiễm , động đất , chiến tranh , v...v..... đó chỉ là mới kể một vài sự hăm dọa từ bên ngoài . Còn nói về đời sống bên trong , tức là về phần nội tâm thì con người có bao nhiêu những sự yếu đuối , bất toàn , như sự ích kỷ , ganh ghét , tham lam , thù hận , si mê..... Nó là bao nhiêu những nguồn gốc sinh ra sự đau khổ cho mọi người và cho những kẻ đồng loại ở chung quanh .

Trong những giờ tươi sáng , khi chúng ta cảm thấy trong lòng vui vẻ hân hoan vì tiếng nhạc réo rắt dụ dương , hay khi nhìn thấy cảnh tượng tưng bừng rực rỡ của lúc bình minh , chúng ta cảm thấy rằng trong vũ trụ hẳn có sự hòa vui và có ẩn dấu một ý nghĩa sâu xa thâm trầm . Tuy nhiên , khi chúng ta quay trở về cõi đời thực tế với những sự va chạm phũ phàng , những thất vọng não nề cay đắng , chúng ta không khỏi nêu ra những câu hỏi tối hậu : " Ý nghĩa và mục đích của cuộc đời là gì ? . Tôi là ai ? . Tại sao tôi lại sinh ra ở đây ? . Tôi sẽ đi về đâu ? . Tại sao tôi phải chịu đau khổ ? . Có những mối liên quan gì giữa tôi với người khác ở chung quanh ? . Và giữa con người với cái sức mạnh vô hình huyền bí trong cõi thiên nhiên nó bao phủ cuộc đời chúng ta , có một mối liên hệ như thế nào ? "

Những câu hỏi căn bản đó , nhân loại đã từng nêu ra từ thuở bao giờ trong những thời đại quá khứ xa xăm . Ngày nào người ta vẫn chưa tìm ra được câu giải đáp thì tất cả những giải pháp tạm thời để làm dịu bớt sư đau khổ , dầu là những phương tiện vật chất hay tinh thần , cũng đều là vô nghĩa và không có ích lợi gì . Ngày nào mà vấn đề đau khổ của nhân loại vẫn chưa được giải quyết , thì người ta vẫn chưa giải quyết được gì cả . Ngày nào mà trên thế giới còn có một sinh vật nhỏ mọn tầm thường nhất đang quằn quại trong đau khổ mà người ta chưa giải thích nổi lý do , thì người ta cũng vẫn chưa giải thích được điều gì cả , và quan niệm triết lý của chúng ta về cuộc đời vẫn hãy còn là thiếu sót và bất toàn .

Từ những thời đại cổ xưa nhất , loài người đã từng nêu ra những câu hỏi đó . Càng ngẫm nghĩ , họ càng cảm thấy rằng những sự tranh đấu vất vả đau khổ của con người không phải là vô ích và vô nghĩa lý như người ta tưởng , mà nó có một ý nghĩa nhờ bởi một sự liên quan lớn lao nối liền con người và vũ trụ . Hoặc họ đã cảm thấy có sự hiện diện vô hình của những đấng Thần Linh trong khu rừng vắng hoặc trên đồi cao và biết rằng mỗi sinh vật , từ con người đến loài cầm thú , đều có một linh hồn : " Rằng linh hồn đó chỉ là tạm thời sống và chịu đau khổ một lúc ở cõi hạ giới , và sau khi chết sẽ tìm thấy một đời sống an nhàn và hạnh phúc hơn . Hoặc họ nghĩ rằng ngoài ra cõi trần gian đau khổ nầy , mà loài người sống trong sự hỗn tạp pha lẫn cả điều lành và điều dữ , điều thiện và điều ác , còn có một cõi giới xa xăm nào đó , là nơi thưởng phạt những hành động của họ Ở thế gian " . Những điều tin tưởng và giải thích như trên đã từng được nêu ra kể đến hằng nghìn , có những điều hãy còn giản dị thô sơ , có những điều tế nhị hơn , cũng có những điều hợp lý . Và vì bởi một vài điều giải thích đó có vẻ hợp lý mà trên thế gian con người vẫn tiếp tục sống và đương đầu với những nỗi khó khăn của họ một cách can đảm .

Có người tin tưởng ở đức Mohamet , có người tin tưởng ở đức Phật , hoặc Chúa Jesus , hay đức Krishna . Có hằng muôn người tin rằng đời người có thể giải thích bằng một lý do duy nhất , đó là sự sống còn . Những người khác không cần tìm biết lý do gì cả , mà chỉ tận hưởng sự vui sướng khoái lạc trong hiện tại .

Đối với những người sinh trưởng trong nền giáo dục và tín ngưỡng đạo Gia Tô , thì sự giải thích về đời người và những sự đau khổ của cuộc đời là nhứ thế này : " Con người có một linh hồn và linh hồn vốn bất diệt ; sự đau khổ là một thử thách đưa đến cho chúng ta , Thiên Đàng hay Địa Ngục là những điều tưởng phạt tùy theo cách hành động và cư xử của chúng ta trên thế gian . Những người đã từng chấp nhận sự giải thích đó không hề tự hào rằng họ có đủ bằng chứng ; đó là sự giải thích mà họ được hấp thụ của cha mẹ và của giáo sĩ , chính những vị này cũng đã hấp thụ của những bậc phụ huynh và các giáo sĩ của họ , và cứ như thế đi ngược thời gian cho đến khi người ta tìm thấy uy quyền của một quyển sách gọi là bộ Thánh Kinh (Bible) , và của một người tên Jesus " .

Hầu hết mọi người đều đồng ý : Bộ sách này thật là hay tuyệt diệu , và đức Jesus , dầu rằng là một người hay là Con của Chúa Trời , vốn là một nhân vật phi thường . Tuy nhiên , kể từ thời Phục Hưng ( Renaissance ) cho đến nay , người Tây phương càng ngày càng trở nên hoài nghi đối với những tín điều căn cứ trên uy quyền của một người : Bất cứ tín điều nào mà không thể chứng minh được qua cái lò thí nghiệm khoa học đều phải gặp một sự hoài nghi mỗi lúc càng tăng thêm .

Nhà thiên văn học Ptolémée nói rằng mặt Trời xoay chung quanh Trái Đất ; và đó là điều mà Hội Thánh Gia Tô đã chấp nhận và truyền dạy . Tuy nhiên , nhà Thiên văn Copernic đã phát minh ra những khí cụ thiên văn học để chứng minh rằng trái lại , chính Trái Đất xoay chung quanh mặt Trời . Triết gia Aristote nói rằng nếu người ta làm rơi cùng một lượt hai vật có trọng lượng khác nhau từ chỗ cao , vật nặng hơn sẽ rơi xuống đất trước tiên , và Hội Thánh đã hoàn toàn chấp nhận nền triết học cùng sự phát minh khoa học của Aristote . Tuy thế , với một cuộc thí nghiệm giản dị từ trên đài nghiêng ở thành phố Pise , Galiée đã chứng minh rằng hai vật cùng đồng một dung tích như nhau , nhưng trọng lượng khác nhau , lại rơi xuống đất cùng một lúc .

Trong bộ Thánh Kinh có nhiều đoạn cho rằng Trái Đất vốn bằng phẳng ; tuy nhiên Christophe Colomb và Magellan cùng những nhà thám hiểm khác nữa của thế kỷ mười lăm đã làm đảo lộn giả thuyêt trên đây bằng những chuyến du hành trên mặt biển , khởi hành từ phương Tây để đi về phương Đông . Những sự chứng minh trên đây cùng với việc chứng minh khác nữa đã lần lần chỉ cho người thời xưa không phải là hoàn toàn đúng . Do đó nảy sinh ra quan niệm khoa học và óc hoài nghi của người thời nay .

Trong sự tranh đấu để sống còn , con người không thể tránh khỏi sự đau khổ . Sự đau khổ này , dường như người ta không tìm ra lý do nào khác hơn là nó không có mục đích gì cả . Sự chết chỉ là một sự tan rã của những phân tử hóa học vật chất, ngoài ra không còn gì nữa .

Như vậy , người ta đã thay thế uy quyền của bộ Thánh Kinh hay của đức Giáo Chủ bằng uy quyền của năm giác quan ! Với những ống kính hiển vi , viễn vọng kính , quang tuyến X , máy radar và những phát minh tối tân khác , khoa học đã nới rộng tầm hoạt động của ngũ quan chúng ta . Sự nhận xét bằng ngũ quan , tức thị giác , thính giác , vị giác , khứu giác , xúc giác , là nền tảng của mọi lý luận khoa học .

Tuy nhiên , trải qua vài chục năm nay , người ta đã trở nên phức tạp hơn và hoài nghi hơn đối với những điều họ hiểu biết hoặc tưởng rằng mình đã hiểu biết . Những khí cụ khoa học mà người ta đã phát minh ra , đã chỉ cho họ thấy một cách mỉa mai rằng những giác quan của con người thật là thiếu sáng suốt , bất toàn là dường nào và không thể giúp chúng ta hiểu biết vũ trụ một cách thật sự . Những luồng sóng Hertziennes , chất phóng quang , nguyên tử lực , đó là chỉ mới kể có một vài hiện tượng khoa học của thời buổi hiện đại , đã chứng minh một cách rõ ràng rằng chung quanh chúng ta có những luồng âm ba rung động và những mãnh lực vô hình ; và những vi tử nhỏ bé nhất của cõi vật chất đều là những kho chứa đựng tinh lực , hàm xúc tiềm tàng một sức mạnh kinh khủng mà con người không thể tưởng tượng . Chúng ta biết rằng những giác quan như tai , mắt..... Mà chúng ta dùng để tiếp xúc với ngoại giới , cũng ví như những cửa sổ nhỏ hẹp của cái tòa nhà bé nhỏ là xác thân của chúng ta . Sự nhạy cảm của con mắt chúng ta đối với ánh sáng giúp chúng ta tiếp nhận chỉ có một phần nhỏ những luồng âm ba rung động của ánh sáng . Sự thụ cảm của lỗ tai ta đối với âm thanh chỉ giúp cho chúng ta tiếp nhận có một bát độ nhỏ hẹp trong cái biển âm thanh rộng lớn của vũ trụ . Nhiều loại thú cầm , chim muông , côn trùng , sâu bọ có những thị giác , thính giác và khứu giác khác hẳn của loài người ; bởi đó vũ trụ của chúng nó bao hàm chứa đựng nhiều sự vật mà chúng ta không nhận thấy và không thể nhận xét thấy rõ .

Người biết suy nghĩ không khỏi lấy làm ngạc nhiên về hiện tượng này là con người vốn thường vẫn tự hào về trí óc thông minh của mình , lại thua kém loài cầm thú , chim muông và sâu bọ về tầm hoạt động của giác quan để nhận xét vũ trụ bên ngoài , và về điểm này họ cũng thua kém cả những đồ dụng cụ khoa học mà trí óc siêu việt thông minh của họ đã phát minh . Họ bắt đầu tự hỏi rằng làm sao họ có thể tự mình nhìn thấy và quan sát những sự vật trong cõi vô hình mênh mông rộng lớn . Thí dụ , chúng ta hãy tưởng tượng rằng chúng ta có thể nới rộng tầm hoạt động và nhận xét của giác quan đến mức làm cho chúng ta trở nên nhậy cảm hơn đối với ánh sáng và âm thanh , dẫu rằng chỉ hơn mức thường độ một ít mà thôi . Phải chăng chúng ta sẽ nhận xét được nhiều sự vật mà trước kia chúng ta không hề nghe , thấy ? . Hoặc thí dụ như một vài người trong chúng ta bẩm sinh ra đã có những giác quan phi thường , với một tầm thu nhận rộng lớn hơn : " Phải chăng là một điều tự nhiên nếu những người này có thể nghe và thấy những sự vật mà chúng ta không thấy và không nghe . Và phải chăng họ có thể nghe xa chẳng khác nào như một cái máy thu thanh , và thấy xa dường như một cái máy vô tuyến truyền hình ? " .

Đứng trước cái thế giới vô hình huyền bí , vô tận bao la mà những khí cụ khoa học tối tân của thế kỷ 20 đã tiết lộ cho chúng ta biết , thì người ta phải nhìn nhận sự thật của những điều kể trên . Và nếu chúng ta nhìn lui về lịch sử loài người , thì chúng ta thấy có nhiều trường hợp đặc biệt được ghi chép về những khả năng nhận xét phi thường của một số người .

Một trong những người đó là ông Swedenborg - nhà bác học và toán học trứ danh của thế kỷ 18 - đã có một năng khiếu thần thông phi thường . Người ta được biết rõ một chuyện về năng khiếu thần thông của ông , chuyện này đã được nhiều nhà tai mắt chứng kiến trong số đó có nhà triết học Emmanuel Kant .

Một buổi chiều vào khoảng 6 giờ , ông Swedenborg đang ngồi dùng cơm với vài người bạn ở thành phố Gothenburg , bỗng nhiên ông giựt mình và nói rằng một cơn hỏa hoạn lớn đang xảy ra ở Stockholm là chỗ ông ở , cách đó độ 500 cây số . Sau đó một lát , ông tuyên bố rằng ngọn lửa đã thiêu hủy ngôi nhà của một người láng giềng và hăm dọa cháy lan đến ngôi nhà của ông . Đến 8 giờ , cũng chiều hôm đó , ông cho biết , với một giọng nói đã trấn tĩnh , rằng ngọn lửa đã được dập tắt ở khoảng cách nhà ông độ vài ba gian nhà khác . Hai ngày sau , những lời của ông Swedenborg đã được xác nhận bằng những lời tường thuật về cuộc hỏa hoạn , mà sự bộc phát nhằm đúng ngay vào lúc ông Swedenborg giựt mình và có cảm giác đầu tiên về cơn tai biến này . Đây không phải là trường hợp duy nhất : Tiểu sử của nhiều nhân vật tên tuổi cũng đã ghi chép hàng trăm trường hợp tương tự , trong số đó có vài người như Mark Twain , Abraham Lincoln , St. Saens , v...v..... Trong vài trường hợp , chính những người bà con thân quyến của họ đã có lúc nhìn thấy thình lình những hình ảnh lạ lùng về những sự việc xảy ra ở cách rất xa , hoặc sẽ xảy ra trong nhiều tháng hay nhiều năm về sau , với đầy đủ từng chi tiết .

Nói về trường hợp ông Swedenborg thì năng khiếu thần nhãn của ông từ đó trở nên một thứ giác quan mạnh mẽ phi thường và liên tục . Trong phần nhiều những trường hợp khác , năng khiếu đó hình như chỉ biểu lộ trong một lúc nhất định khi đương sự tạm thời rơi vào một trạng thái xuất thần .

Người Tây phương thường có khuynh hướng đón nhận những sự việc kể trên với một thái độ hoài nghi và thậm chí với ít nhiều cử chỉ khinh thường . Tuy nhiên , nay đã đến lúc mà người ta không thể nhìn xem những hiện tượng đó một cách khinh rẻ như thế được nữa . Đối với những người có một tinh thần cởi mở , sẳn sàng tìm hiểu những hiện tượng lạ lùng , đối với những người thông hiểu các trào lưu khoa học và sự nhu cầu của thế hệ thì bất cứ sự việc gì có liên hệ đến những khả năng lạ lùng huyền bí của con người đều có tánh cách lý thú và có một tầm quan trọng vào bậc nhất .

Trong số những nhà thông thái có tầm kiến thức rộng rãi , cho rằng những hiện tượng thần bí , siêu nhiên , đáng được nghiên cứu bằng phương pháp khoa học , và đã ra công sưu tầm về những hiện tượng đó , có bác sĩ J. B. Rhine , giáo sư trường Đại Học Duke . Từ năm 1930 , bác sĩ Rhine và những người cộng sự với ông đã nghiên cứu ráo riết về những hiện tượng thần giao cách cảm và năng khiếu Thần Nhãn trong con người .

Do những cuộc thí nghiệm được kiểm soát chặt chẽ và một phương pháp đặc biệt , bác sĩ Rhine đã khám phá được một điều là trong phòng thí nghiệm , có nhiều người đã biểu lộ những khả năng cảm xúc bằng giác quan siêu đẳng , nói tóm tắt là biểu lộ những năng khiếu thần thông . Người ta có thể nhìn thấy những chi tiết về phương pháp thí nghiệm và những kết quả sưu tầm của bác sĩ Rhine trong quyển sách nhan đề " Tầm Hoạt Động Của Trí Não " do chính ông xuất bản năm 1947 .

Những nhà sưu tầm khác như Warcollier ở Pháp , Kotik ở Nga và Tichner ở Đức , với những phương pháp thí nghiệm tương tự , cũng đã đi đến những kết luận giống như của bác sĩ J. B. Rhine . Những bằng chứng khoa học hiển nhiên đã giải tán mọi điều nghi ngờ về sự thật của những hiện tượng thần giao cách cảm và năng khiều Thần Nhãn trên địa hạt tâm linh con người . Tuy thế , cho đến nay khoa học chỉ mới

chứng minh rằng hiện tượng Thần Nhãn là một điều có thật . Người ta vẫn chưa tìm cách áp dụng năng khiếu đó trên địa hạt thực tế . Nếu con người có được cái năng khiếu thần thông đó , nó giúp cho y nhìn thấy được những gì xảy ra trong không gian mà không cần sử dụng đến cặp mắt phàm , chẳng khác nào y như là một cái máy vô tuyến thu ảnh ( Television ) thì chừng đó y đã có được một khí cụ mới và quan trọng để thu hoạch những điều hiểu biết về con người và về vũ trụ .

Trải qua nhiều thế kỷ , con người đã làm được nhiều công trình lớn lao . Sự khôn ngoan khéo léo của y đã giúp y chinh phục không gian và làm chủ được cõi giới vật chất . Nhưng mặc dầu y đã có được sự khôn ngoan khéo léo đó , y vẫn là một vật yếu đuối và bất toàn . Mặc dầu những sự chinh phục trên địa hạt vật chất , y vẫn còn bất lực và bỡ ngỡ , lạc loài . Mặc dầu y đã thu hoạch được những kết quả thành tựu mỹ mãn trên các lĩnh vực nghệ thuật , văn hóa và khoa học , y vẫn chưa tìm ra ý nghĩa và mục đích của sự đau khổ mà con người phải chịu từ khi sinh ra cho đến khi y từ giã cõi đời . Trong thời gian qua , con người đã tìm ra những bí mật của hột nguyên tử . Có lẽ nhờ những sự khám phá gần đây về những khả năng cảm xúc bằng giác quan siêu đẳng của con người và những mối liên quan lạ kỳ giữa ý thức và tiềm thức , y sẽ có thể tiến sâu vào lĩnh vực tâm linh huyền bí của chính mình . Sau nhiều thế kỷ dọ dẫm tìm tòi , có lẽ sau cùng người ta sẽ tìm ra những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí hiểm quan trọng của đời người , những lý do vì sao y sinh ra ở cõi thế gian và mục đích cùng ý nghĩa của sự đau khổ .


( CÒN TIẾP )




Những Bí Ẩn Của Cuộc Đời ( VI )




PHẦN 2


CHƯƠNG 6
VÀI CẢM TƯỞNG VỀ LUẬT QỦA BÁO


Những tập hồ sơ Cayce trình bày cho ta thấy biết bao nhiêu những sự đau khổ của người đời , có thể phân tách ra từng nhiều loại , đau khổ bệnh tật về thể xác lẫn cả về tinh thần . Những hồ sơ đó làm nổi bật những khía cạnh trừng phạt của Luật Nhân Quả , bởi vì những người đến nhờ ông Cayce giúp đỡ , trước hết là những người đau khổ về bịnh tật . Một người đầy đủ sức khỏe không có lý do đến viếng một bác sĩ ; và một người sung sướng ít khi thấy cần phải tìm hiểu về mục đích rốt ráo và ý nghĩa của cuộc đời . Chính vì đó mà phần lớn những cuộc khám nghiệm bằng Thần Nhãn của ông Cayce được thực hiện cho những người bị thắc mắc đau khổ về những bịnh tật khó khăn , hoặc có khi là những sự đau khổ tinh thần rất lớn , mà không có một vị y sĩ, một nhà tâm lý , hay một vị mục sư nào có thể tìm ra cách giải quyết .

Những cuộc soi kiếp của ông Cayce đã thấy giá trị của sự đau khổ trên phương diện luân lý và tinh thần ; nhờ thấy rõ lý do và nguyên nhân sự đau khổ , nên nó không còn là một điều khủng khiếp và rùng rợn đối với chúng ta . Trái lại , những cuộc soi kiếp đó đã khuyến khích , an ủi , giúp nguồn cảm hứng và xoa dịu những tâm hồn đau khổ một cách sâu xa thâm trầm . Tuy nhiên , một tập hồ sơ thâm trầm của Cayce không phải chỉ gồm có những trường hợp chữa bịnh và giúp đỡ những kẻ bịnh tật khốn khó mà thôi . Trong những Chương sau , chúng ta sẽ thấy sự hành động của Luật Nhân Quả trong việc đào tạo khả năng , đức tính , thiên tài , và những bẩm tính cùng tư chất đủ mọi loại trong con người , làm căn bản cho sự khám phá ra những tài năng ẩn tàng cùng là vấn đề hướng nghiệp , ngõ hầu giúp cho thiên hạ tìm thấy con đường hành động của mình để có thể thành công ở đời .

Một hoàn cảnh tốt và một thân thể kiện toàn là do những nghiệp quả tốt đưa đến . Nhưng những cuộc soi kiếp thường không giải thích về nguyên nhân của những quả báo tốt lành , vì người ta cho rằng không phải những người được yên lành sung sướng , mà chỉ có những trường hợp đau khổ mới là đáng được chú ý . Những người được soi kiếp cũng đồng quan niệm với cái khuynh hướng chung của mọi người , là một số phận tốt lành hạnh phúc không cần phải giải thích lý do ; mọi người đều cho rằng mình có quyền được hưởng một số phận yên lành tốt đẹp . Chỉ khi nào bị điêu linh khốn khổ , tai họa dập dồn , thì người ta mới bắt đầu tự hỏi lại sao họ lại bị như thế !

Một thân hình tốt đẹp cũng là do nghiệp quả tốt gây nên. Những cuộc soi kiếp thỉnh thoảng cũng cho biết rằng một thân hình cân đối mỹ lệ trong kiếp này là kết quả của sự săn sốc giữ gìn thân thể trong kiếp trước . Trong một cuộc soi kiếp , ông Cayce có đưa ra một trường hợp lý thú về sắc đẹp do một lý do nghiệp quả khác hẳn . Đó là trường hợp của một người đàn bà là kiểu mẫu đẹp có tiếng ở New York . Cô có hai bàn tay tuyệt đẹp , và được các hãng buôn mời chụp ảnh làm kiểu mẫu để quảng cáo cho những món hàng trang sức như thuốc nhuộm móng tay , dầu thơm , và đồ nữ trang . Quả báo tốt lành khiến cho cô có sắc đẹp trong kiếp này được truy nguyên từ một kiếp trước trong một tu viện ở Anh Quốc . Trong tu viện , cô đành trọn cuộc đời và dùng hai bàn tay để làm những công việc hèn mọn và thấp thỏi nhất với một tinh thần phụng sự và hoàn toàn hiến dâng . Cái chí nguyện tâm linh ấy đã đem đến cho cô trong kiếp nầy một thân hình mỹ lễ với hai bàn tay đẹp đẽ khác thường . Đây là một triển vọng đáng khuyến khích cho những ai mong muốn có sắc đẹp ! .

Những quả báo đau khổ xảy đến cho ta có lẽ gây cho ta một ấn tượng sâu xa thấm thía hơn là những quả báo tốt lành , nhứt là nó lại càng thấm thía hơn và cần thiết hơn ở vào thời buổi hỗn loạn và suy đồi hiện naỵ Người thời nay trí khôn đã mở rộng , khoa học càng ngày càng phát triển , cuộc đời tinh thần của họ cần căn cứ trên một nền tảng thông minh có thể làm thỏa mãn được lý trí .

Một phép xử thế đúng đắn , hạp với lẽ Đạo là cần thiết để đem đến cho con người một đời sống hạnh phúc , an vui và giải thoát . Người ta sẽ nhận thấy tầm quan trọng lớn lao của điều này khi người ta hiểu rõ những định luật Nhân Quả và Luân Hồi . Bởi đó , giáo lý Minh Triết cổ truyền đem đến cho ta một phương thuốc bổ khỏe , thần hiệu để chữa khỏi chứng bịnh liệt nhược tinh thần của nhiều giáo phái hiện nay . Có lẽ những sự hành phạt đau khổ của luật quả báo mà chúng tôi trình bày trong quyển sách này sẽ không làm nản lòng quá mức những người nào chấp nhận định luật Luân Hồi ; trái lại nó còn đem cho họ một niềm hy vọng một sự yêu đời và một đức tinh mới mẻ căn cứ trên sự tin tưởng ở định luật công bình của Vũ Trụ , nó cai quản mọi sự trên thế gian .

Những thí dụ kể trên có lẽ sẽ làm cho chúng ta dè dặt cẩn thận hơn trong những hoạt động và cử chỉ của đời sống hằng ngày . Khi chúng ta biết rằng sự tàn nhẫn độc ác có thể gây nên quả báo đui mù tàn tật , bịnh mất máu , bịnh xuyễn hay bịnh liệt bại ; sự hoang dâm có thể gây nên chứng bịnh động kinh ( épilepsie ) ; sự áp chế đè nén kẻ khác có thể đem đến bịnh liệt bại ; thì những điều đó có thể làm cho chúng ta dễ quay đều hướng thiện và cố gắng sống một đời sống tốt lành . Ngoài ra , những trường hợp kể trên đem đến sự giải thích về tình trạng thê thảm của hằng triệu người đau khổ về bịnh tật trên thế gian . Chúng ta không thấy những kẻ tật nguyền , què quặt , đui mù , câm điếc , điên khùng , những người bị các chứng bịnh nan y , liệt bại , động kinh cùi phong , những người cụt tay , cụt chân vì tai nạn hay chiến tranh..... Những người xấu số đáng thương ấy , chúng ta không nhìn thấy vì họ ở ẩn trú trong nhà , hoặc nằm trong các bịnh viện . Chúng ta chỉ tình cờ gặp họ một đôi khi ở ngoài đường phố , và không biết rõ tổng số những người bịnh tật đau khổ ấy lên đến bao nhiêu !

Nhưng họ gồm một thành phần rất đông đảo , và số phận của họ rất thảm thương . Sự giải thích thông thường của những giáo sĩ đạo Gia Tô về những thảm trạng đau thương ấy là : " Đó là ý muốn của Chúa Trời ! " . Nhưng thật khó mà dung hòa cái ý niệm một đấng Cha Lành đầy lòng từ bi bác ái mà lại tạo ra những cảnh đau khổ lầm than đó cho những đức con vô tội của Ngài . Về điểm này , người ta lại nói rằng ý muốn của Chúa Trời là một điều bất khả tư nghị , không thể cân nhắc đo lường , và không thể hiểu được ! . Nhưng rốt cuộc câu ấy vẫn không giải quyết được sự mâu thuẫn nói trên .

Thuyết Luân Hồi đã đưa ra sự giải thích cho vấn đề bí hiểm đó bằng cách chỉ rằng sự vật diễn ra trong vũ trụ không bao giờ do sự ngẫu nhiên tình cờ , mà là do sự hành động của một định luật thiên nhiên rất công bình và hợp lý . Đó là một định luật căn bản trong Trời Đất , theo đó thì những người đau khổ bịnh tật vốn là do những nguyên nhân của họ đã gây ra trong quá khứ , và bây giờ họ phải gánh lấy hậu quả ; không một ai có thể bị những cảnh lầm than khốn đốn nếu đó không phải là do những nguyên nhân xa gần mà họ đã tạo nên trong những kiếp quá khứ . Người Tây phương không thể chấp nhận quan niệm về Luân Hồi một cách dễ dàng vì nó khó tin và không thể đem ra thí nghiệm một cách khoa học , hoặc không có gì làm bằng chứng .

hTuy nhiên , trong đời có biết bao nhiêu những chuyện khó tin mà chúng ta không hề nghĩ đến ! . Từ một cái trứng bé nhỏ chui ra một con nòng nọc , nó lội nước như một con cá , rồi lớn dần và rụng đuôi để trở thành con cóc . Một con sâu kết một kén bằng tơ và sau đó ít lâu nó từ trong cái kén một cái kén bằng tơ và sau đó ít lâu nó từ trong cái kén chui ra và trở thành một con bươm bướm màu mè sặc sỡ . Đó chỉ là một vài thí dụ lạ lùng để chỉ cho ta thấy rằng sự sống của một sinh vật có thể thay hình đổi dạng nhiều lần liên tiếp mà vẫn không mất cái cá tính riêng của nó ; và chúng ta chấp nhận điều ấy một cách tự nhiên . Nếu ta suy nghĩ kỹ , có lẽ chúng ta sẽ thấy rằng những thí dụ đó cũng không khác gì hơn là việc linh hồn những thể xác khác nhau mà vẫn giữ nguyên vẹn cá tính của nó .

Những cuộc soi kiếp của ông Cayce mà ta có thể chấp nhận được về phương diện tâm lý và luân lý đã giúp cho chúng ta giải tán được sự hoài nghị Những tài liệu lạ lùng đó là một bằng chứng để giúp cho chúng ta có một tầm hiểu biết sâu xa hơn . Có lẽ nó giúp đỡ cho chúng ta thấy rằng ngoài ra những kiếp sống tầm thường , bẩn chật , gò bó của chúng ta trên cái thế giới nhỏ hẹp này , còn có một tầm sinh hoạt rộng lớn bao la hơn nữa , và cuộc đời còn có một ý nghĩa sâu xa thâm trầm hơn những gì mà chúng ta đã có thể tưởng tượng từ trước đến nay .



CHƯƠNG 7
QỦA BÁO TREO



Một điều lạ lùng mà người ta có thể nhận thấy trong những trường hợp quả báo về xác thân như chúng tôi đã nêu trên , là có đôi khi những quả báo chỉ xuất hiện một hay nhiều kiếp sau khi cái nhân được tạo ra . Người ta tự hỏi tại sao lại có sự đình chỉ đó , và tại sao nghiệp quả không báo ứng ngay tức khắc như một quả banh dội lại ngay sau khi được ném vào tường ?

Dường như câu hỏi đó có nhiều cách giải đáp . Một là : Linh hồn đã gây nhân tạo nghiệp , phải đợi đến khi có một hoàn cảnh và thời giờ thuận tiện cho quả kia kết thành hình . Có khi phải đợi nhiều thế kỷ mới có một cơ hội thuận tiện và trong khi chờ đợi , thì khoảng thời gian đó được sử dụng để cải thiện cho tâm tính của đương sự . Người ta tìm thấy một thí dụ về loại quả báo treo này trong những tập hồ sơ Cayce về những linh hồn trước kia đã sống ở Châu Atlantide .

Khoa học chưa bao giờ có thể xác nhận hay hoàn toàn phủ nhận sự hiện diện của Châu Atlantide vĩ đại và cổ xưa chìm dưới đáy biển Đại Tây Dương , mặc dầu người ta có đủ lý do để tin ở sự kiện lấy trước những bằng chứng lịch sử , khoa học và văn hóa . Một tài liệu lịch sử quan trọng là bộ sách " Crisias Timeus " của Platon trong đó tác giả tường thuật những điều ông đã nghe nói về Châu Atlantidẹ Một trong những bằng chứng khoa học thường được nêu ra là sự khám phá của các nhà bác học, nhân dịp một sợi dây cáp ( câble sous marin ) đặt ngầm dưới biển Đại Tây Dương bị đứt và chìm xuống đáy biển ở một bề sâu 3.000 thước . Khi sợi dây cáp được vớt lên , thì nó quến theo những mẫu phún thạch ( lava ) . Khi người ta quan sát bằng kiếng hiển vi thì thấy rằng những mẫu phún thạch này ngày xưa đã từng đông đặc lại trên đất liền , trước khi chìm xuống đáy biển .

Trong những bằng chứng văn hóa đáng kể nhứt , thì trước hết là những chuyện giai thoại về cuộc Đại Hồng Thủy . Người ta gặp chuyện những giai thoại này không những trong bộ Thánh Kinh (Bible) , mà còn trong những truyện Thần Thoại tôn giáo và lịch sử của hầu hết tất cả những dân tộc cổ xưa trên thế giới .

Kế đó là những điểm tương đồng giữa những ngôn ngữ , văn tự và kiến trúc của Ai Cập và Trung Mỹ , ở vào một thời kỳ mà người ta không thấy có những phương tiện giao thông giữa hai lục địa Mỹ Châu và Phi Châu .

Tất cả những bằng chứng kể trên có thể giúp cho người ta tin tưởng nơi sự hiện diện của Châu Atlantide , nhưng vẫn chưa đủ để đưa đến một kết luận chắc chắn . Dầu sao , nếu ta có phải tin nơi những cuộc soi kiếp của ông Cayce , thì châu Atlantide đã từng có một cách hiển nhiên , không còn nghi ngờ gì nữa . Theo ông Cayce một vài gian phòng bí mật hãy còn khóa chặt trong Kim Tự Tháp lớn ở Ai Cập , một ngày kia sẽ có thể tiết lộ cho chúng ta một kho tài liệu đầy đủ về lịch sử và nền văn minh của châu Atlantide . Ông Cayce cho biết rằng những tài liệu đó được đem chôn giấu trong Kim Tự Tháp , do những người dân Atlante ngày xưa di cư qua Ai Cập trong cuộc thiên tai địa chấn lần thứ ba và cũng là lần cuối cùng đã nhận chìm châu Atlantide xuống đáy biển vào khoảng 9.500 năm trước Tây Lịch kỷ nguyên . Ông Cayce cũng có nói rằng đảo Bimini , ở ngoài khơi tiểu bang Florida bên Hoa Kỳ , nguyên là đỉnh ngọn núi cao ở châu Atlantide ngày xưa . Ông cũng cho biết rằng tại nơi đó , người ta có thể tìm thấy dưới đáy biển một ngôi đền cổ của dân Atlante , mái bầu của ngôi đền được xây cất với những tấm kiếng thủy tinh theo một kiểu kiến trúc đặc biệt để thâu ánh nắng mặt trời . Những cuộc soi kiếp cho biết dân Atlante ngày xưa đã từng đạt tới một trình độ khoa học tiến bộ hơn của chúng ta ngày nay . Họ đã từng phát triển tới một mực rất cao các nghành điện khí , vô tuyến điện , vô tuyến truyền hình , những phương tiện di chuyển trên không trung , tàu ngầm , cùng phương pháp sử dụng mãnh lực của Mặt Trời và nguyên tử lực . Họ đã từng phát minh những kỹ thuật dùng nhiệt lực , thắp sáng , và chuyển vận tiến bộ hơn của chúng ta ngày nay .

Điều đáng ghi nhớ là những cuộc soi kiếp của ông Cayce thường lập đi lập lại nhiều lần rằng dân Atlante ngày xưa bị họa diệt vong vì họ đã lạm dụng những sức mạnh kinh khủng mà họ chế ngự được . Họ dùng điện lực , khoa thôi miên và mãnh lực của tư tưởng để đàn áp , chế ngự kẻ khác , hoặc sai khiến chúng làm việc một cách nô lệ , hoặc để cưỡng hiếp phụ nữ và thỏa lòng háo sắc của họ . Người ta sẽ hiểu rằng những sự lạm dụng quyền năng và những hành vi trái Đạo kể trên không thể cứu chuộc được một cách đầy đủ và trọn vẹn trong những thời kỳ mà khoa học chưa được phát triển , và người ta chưa có những kiến thức sâu rộng về khoa tâm lý hoặc khoa Huyền Môn . Cuộc thử thách hữu hiệ nhứt để biết xem một người đã thắng được thói ăn uống vô tiết độ hay chưa , là đặt trước mặt y những món cao lương mỹ vị mà y ưa thích , để xem y có biết tự chủ hay không . Người ta không thể biết đượ rằng một người đã hoàn toàn tự chủ về đường sắc dục hay chưa , nếu y không gặp cơn thử thách : Bị cám dỗ mà vẫn không động lòng như Thánh Antoine ngày xưa vẫn thanh tịnh giữa những giai nhân tuyệt sắc , đáng yêu !

Cũng giống như thế , những linh hồn đã lạm dụng những quyền năng phi thường và mầu nhiệm nhờ sự phát triển khoa học của châu Atlantide thuở xưa , không chắc là đã từ bỏ thói ích kỷ tham tàn và cải tạo tâm tính , nếu họ chưa gặp những hoàn cảnh tương tự của một thời kỳ phát triển khoa học và kỹ thuật như thời đại này , để thử thách xem họ có biết dùng những phương tiện đó với một tinh thần xây dựng , hay là với mục đích kỷ hại nhân như thuở xưa kia .

Sự tiến bộ từng chu kỳ của Lịch sử đã làm cho thế kỷ 20 trở nên thời kỳ phát triển khoa học kể trên ; bởi đó những cuộc soi kiếp của ông Cayce tiết lộ cho biết rằng có rất nhiều dân Atlantide thời cổ nay đã đầu thai chuyển kiếp vào thời kỳ hiện tại . Những sự tiến bộ về khoa học và kỹ thuật có thể hiểu được bằng hai cách : Trước hết , đó là do kết quả của những kinh nghiệm về mọi phát minh khoa học mà những linh hồn mới đầu thai đã mang lại từ những kiếp quá khứ của châu Atlantide ngày xưa . Thứ hai, thời kỳ này là giai đoạn thử thách cho những linh hồn đó để xem trong những thế kỷ trung gian , họ đã thâu thập được những đức tính gì khả dĩ giúp cho họ chống chỏi lại sự cám dỗ do thói ích kỷ và tàn bạo của thế hệ văn minh khoa học vật chất đưa đến . Bởi đó , cái yếu tố căn bản nó quyết định vấn đề " Quả báo treo " dường như là những linh hồn đã gây sự nghiệp quả xấu phải chờ đầu thai vào một thời kỳ thuận tiện , có một nền văn minh tiến bộ thích nghị Vấn đề này hình như cũng có liên quan đến sự tiến bộ từng chu kỳ của lịch sử , và việc luân phiên của những nhóm linh hồn trong việc chọn lựa những thời kỳ đầu thai chuyển kiếp xuống Trần .

Những trào lưu chủng tộc và các sắc dân trên Địa Cầu cũng đầu thai trở lại thế gian theo từng đợt hay từng nhóm , cũng ví như những luồng sóng dập dồn từng thời kỳ , theo định luật Tuần Hoàn của vũ trụ . Tuy nhiên , có nhiều đoạn trong các cuộc soi kiếp của ông Cayce chỉ rằng sự chuyển kiếp của những nhóm thiểu số trong những luồng sóng lớn đó , và thậm chí sự đầu thai của từng cá nhân trong những nhóm ấy , có thể không phải là do tiền định một cách chặt chẽ và máy móc theo từng chu kỳ nhất định . Những linh hồn và từng nhóm linh hồn không phải tái sinh trở lại một cách đều đặn như một việc đã định sẳn . Về điểm này , cũng như trên những lãnh vực khác của Cơ Trời máy Tạo , con người vốn có quyền tự do ý chí , và một cá nhân hay một nhóm người đều có quyền tự do chọn lựa những thời kỳ đầu thai tùy theo ý muốn .

Điều này lại đưa đến một sự phức tạp mới nữa : Nếu một linh hồn cần phát triển một đức tính trong những giao tế của y với một linh hồn hay một nhóm linh hồn khác , có lẽ y sẽ cần trì hoãn sự đầu thai của y trong một thời gian để đợi đến một thời kỳ được chọn lựa cho sự đầu thai chung của những linh hồn ấy . Và nếu đó là một sự trì hưỡn lâu dài , thì trong khi chờ đợi , linh hồn ấy có thể dùng thời gian để cố gắng phát triển một vài đức tính mới , hoặc một khía cạnh mới nào đó về sự tiến hóa của y , và bởi đó mới có cái hiện tượng " Quả báo treo " .

Những sự kiện kể trên nhắm vào những yếu tố bên ngoài của quả báo treo ; nhưng ngoài ra còn có những yếu tố bên trong . Một sự kiện tâm lý sau đây còn có một tầm quan trọng tương đương , nếu không nói là lớn hơn ; đó là sức mạnh tinh thần cần thiết để chịu đựng những quả báo xảy đến . Linh hồn phải trả quả cần có cơ hội thâu thập những đức tính cần thiết để đương đầu với quả báo khi nó xảy đến ; chứ nếu không thì quả báo nặng nề quá sức chịu đựng cò thể làm cho đương sự bị đè bẹp , thay vì giúp ích cho sự tiến hóa của y .

Nhiều người bịnh tật khi được ông Cayce soi kiếp và được cho biết rằng nguồn gốc bịnh trạng của họ được truy nguyên ra từ nhiều kiếp trở về trước , đều lấy làm tò mò muốn biết lý do của sự trì hoãn lâu dài như thế . Những người muốn làm sáng tỏ vấn đề này bằng một cuộc soi kiếp thứ nhì , đều nhận được câu trả lời giống như của cô thiếu nữ què mà chúng tôi đã kể chuyện trong Chương Năm . Cô này hỏi : " Tại sao linh hồn lại đợi cho đến kiếp này mới trả xong nghiệp quả đã gây ra từ thời Đế Quốc La Mã ? " . Cô ấy được trả lời như sau : " Bởi vì linh hồn ấy không đủ sức trả quả sớm hơn " .

Câu chuyện ấy chỉ rõ rằng nếu một linh hồn không đủ sức trả quả sớm hơn , đó là vì bởi một lý do bên trong hơn là lý do bên ngoài . Trong trường hợp đó, cũng như những trường hợp bệnh tật khác, một sự nghiên cứu tỉ mỉ về những kiếp trung gian chỉ rằng những kiếp này là những kinh nghiệm cần thiết để giúp cho đương sự có cơ hội thu thập thêm một vài đức tính tốt và để tiến hóa thêm .

Thí dụ , nếu chúng ta xét lại trường hợp của người thiếu niên 16 tuổi , bị thương nặng trong vụ tai nạn xe hơi như đã kể trên , chúng ta thấy rằng nguyên nhân của nghiệp quả này là do y đã gieo trong thời kỳ đế quốc La Mã . Tuy nhiên , một kiếp đầu thai vào thời kỳ Cách Mạng ở Bắc Mỹ đã giúp cho họ có cơ hội phát triển một vài đức tính như can đảm , yêu đời , và khả năng khai thác khía cạnh tốt của mọi hoàn cảnh . Những đức tính đó là những điều mà y cần dùng để chịu đựng cảnh khổ trong kiếp hiện tại , khi quả đã chín mùi và đến kỳ phải trả .

Một thí dụ sau đây có thể giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về vấn đề này :

* Một người kia vay năm triệu đồng của ngân hàng để kinh doanh sự nghiệp . Y không thể nào trả hết số tiền đó trong vài ngày hay một tuần lễ , hoặc một tháng sau . Vì lẽ đó , y xin hẹn đến một kỳ hạn nào đó , thí dụ là ba năm để cho y có thời giờ dành dụm lần hồi cho đủ số trước khi trả dứt làm một lần . Ngân hàng không thể bắt y phải trả dứt trong một tuần lễ , vì lẽ tất nhiên là y không đủ sức trả gấp , và đòi nợ một cách gắt gao như thế thật là không có ích gì . Có thể rằng trên địa hạt tâm linh , sự trì hoãn thời kỳ phải trả quả , gọi là quả báo treo , cũng diễn ra với một tinh thần đó .

Nếu một ngày kia thuyết Luân Hồi được một số đông người thừa nhận và nếu quan niệm về Nhân Quả được quần chúng Phương Tây cũng như Đông Phương hiểu rõ , ít nhất trên nguyên tắc đại cương , thì vấn đề quả báo treo có lẽ sẽ trở nên một đầu đề lo sợ cho rất nhiều người ! . Cái ý tưởng rằng một hành động hung dữ độc ác trong quá khứ có thể bị quả báo đui mù , tàn tật trong một kiếp tương lai xa hay gần , làm cho người ta cảm thấy băn khoăn lo sợ . Đối với những người nhậy cảm và nhiều tưởng tượng , thì một món nợ nhân quả mà họ không được biết rõ cũng ví như một lưỡi gươm của Damoclès treo lủng lẳng trên xà nhà và chực rơi xuống đầu họ bất cứ lúc nào . Quả báo treo có thể trở nên một sự đe dọa khủng khiếp rùng rợn trong những năm đầu của thế hệ phổ biến về thuyết Luân Hồi , cũng như Quỷ Satan và lửa Hỏa ngục đã từng là một mối đe dọa sợ hãi cho người đời trong thế hệ đã qua ! .

Để chống lại khuynh hướng sợ sệt đó những nhà lãnh đạo các phái Tư Tưởng Mới có thể đi đến việc phủ nhận toàn bộ vấn đề quả báo treo , cũng như phong trào Khoa Học Công Giáo ( Science Chrétenne ) phủ nhận tội lỗi , bịnh tật , sự chết , sự lầm lạc và cõi vật chất . Những sự phủ nhận đó có một sức dẫn dụ rất mạnh và có thể đưa đến những kết quả khá lành mạnh về đường tâm linh . Tuy nhiên, phủ nhận vật chất , thế gian , tội lỗi và quả báo , không có nghĩa là giải quyết được vấn đề ! . Bổn phận của chúng ta không phải là dấu diếm sự thật , cũng như con chim đà điểu vùi đầu xuống đống cát ; mà là thắng đoạt , chế ngự và tổ chức lại cõi đời vật chất theo những lý tưởng tâm linh cao cả . Phủ nhận Luật Quả Báo chẳng khác nào như không nhìn nhận những món nợ mà mình phải trả , và những bài học mà mình phải học hỏi , và đó là một thái độ bất lương . Kẻ nào muốn gạt gẫm hay trốn tránh trách nhiệm , dẩu đó là những trách nhiệm vật chất hay tinh thần , không thể gây cho người khác lòng mến phục .

Thói thường , khi người ta không thích một điều gì , người ta hay lý luận một cách khôn khéo để phủ nhận điều ấy . Đó cũng là một sự tìm cách trốn tránh trách nhiệm . Nhưng chúng tôi không muốn nói rằng sự dẫn dụ ( suggestion ) là vô ích . Trái lại , sự dẫn dụ có thể rất hữu ích để chữa những bịnh trạng thuộc về tâm lý . Chúng ta đã thấy trường hợp lý thú của một trẻ em bị chứng bệnh đái dầm và phương pháp dẫn dụ để đánh tan ý thức về tội lỗi in sâu trong tiềm thức, đã chữa cho em ấy được khỏi bịnh .

Nếu những nhà chữa bịnh tinh thần muốn chữa các chứng bịnh về nhân quả , thì phương pháp điều trị là làm cho bịnh nhân thành thực nhìn nhận những tội lỗi cũ ; bày tỏ một ý muốn chân thành cứu chuộc những tội lỗi và sau cùng , tỏ ra một sự cương quyết làm việc phải và hướng thiện theo đường lối ngược chiều với tội lỗi đã gây ra . Như vậy , các quả báo sẽ lần lần tiêu tan , và bịnh sẽ thuyên giảm .

Nếu chúng ta chấp nhận thuyết Luân Hồi , thì ta phải nhìn nhận rằng nhân loại chưa được tiến hóa cao về phương diện tâm linh , và bởi đó con người phải chịu quả báo xấu xa trong những kiếp tương lai . Nhưng điều đó không là cho ta quá băn khoăn lo sợ , vì hai lý do :

*   Một là : " Mỗi ngày chỉ chịu đựng vừa đủ sự khổ nhọc của nó ! " ( A chaque jour suffit sa peine ) . Câu tục ngữ này có nghĩa là : Ta nên sống mỗi ngày một cách bình tĩnh và không nên quá băn khoăn lo lắng . Chẳng những thế , mỗi kiếp sống cũng vậy ; dầu cho ta có bị những khó khăn đau khổ như thế nào , ta cũng phải sống trọn kiếp của mình với một niềm tin tưởng chắc chắn rằng số phận của mỗi người là rất công bình , và ta có đủ sức chịu đựng mọi điều xảy đến . Không bao giờ ta phải trả một quả báo nào mà ta không đủ sức chịu đựng .

*   Hai là : Dầu cho ta có tin ở Luật Nhân Quả hay không , ta cũng phải thấy rằng tương lai là một cái gì mà ta không thể biết một cách chắc chắn. Và ta biết rằng những tai họa xảy đến cho ta là do lẽ nhân quả báo ứng chớ không phải do sự ngẫu nhiên tình cờ , thì những nỗi băn khoăn sợ sệt của chúng ta cũng sẽ giảm bớt , vì lý do giản dị là quả báo xảy đến chỉ do một định luật Công Bằng . Con người thường hay sợ sệt những tai họa sẽ đến, nhưng nếu một sự việc xảy đến một cách công bình, để cho ta học một bài học hay và mở rộng tầm kiến thức của mình thì đó không phải là một điều đáng sợ . Một người lương thiện nếu mắc nợ thì lo trả ; y làm việc một cách siêng năng chăm chỉ để trả góp đúng kỳ hạn vào đầu tháng . Y không phải lúc nào cũng lo lắng sợ sệt cái ngày trả nợ sẽ đến . Y đem hết tinh thần , sức lực , cố gắng làm việc để có thể trả dứt nợ nần .

Vì bởi tầm ý thức của chúng ta có giới hạn , nên chúng ta không biết được rằng mình đã mắc phải bao nhiêu món nợ quả báo trong thời kỳ dĩ vãng xa xăm . Nhưng chúng ta nên có cái thái độ thẳn thắn của một người lương thiện , để chấp nhận những món nợ của chúng ta với một sự thiện chí và thành thật muốn trả nợ .

Sự chấp nhận định luật Nhân Quả và đức tin nơi một sự Công Bằng Thiêng Liêng , phải là cái thái độ của chúng ta đối với mọi quả báo xảy đến . Trong một Vũ Trụ công bằng , trật tự và tốt lành , mà định luật Luân Hồi đã tiết lộ cho chúng ta thấy , thì tuyệt nhiên ta không có gì cần phải sợ sệt hết cả .


...

__________________




Những Bí Ẩn Của Cuộc Đời ( V )




( TIẾP THEO )


Trước đây không lâu , người ta vẫn tưởng rằng tất cả mọi chứng bịnh đều so những nguyên nhân về sinh lý . Những sự tiến bộ của khoa chữa bịnh tinh thần ( Psychiatrie ) đã chỉ rằng ít nhất có vài bịnh trạng nguyên nhân là do bởi những sự xáo trộn tinh thần hoặc xúc động tình cảm gây nên . Từ sự khám phá này mới nảy sinh một ngành Y học mới , gọi là khoa Tâm bịnh học ( Psychosomatique , do hai danh từ Hy Lạp : Psyche là linh hồn , và soma là xác thể ) , khoa này cũng đạt được những kết quả hiển nhiên và không thể chối cãi về sự liên quan giữa xác thể và linh hồn .

Khoa Tâm bịnh học đã chứng minh rằng những sự căng thẳng về tình cảm nếu không biểu lộ được bằng lời nói hay hành động, thường tự biểu lộ nơi thể xác một cách tượng trưng bởi một thứ " Tiếng nói của cơ thể " .

Thí dụ : Nếu người bịnh không nuốt được một cách trôi chảy trong bữa ăn mà người ta không tìm thấy có một nguyên nhân nào thuộc về cơ thể, thì đó có thể là một cái gì trong đời của bịnh nhân mà y " Không thể nuốt được " . Sự buồn mửa , nếu không phải là do bịnh tật của cơ thể sinh ra , có nghĩa là người bịnh còn mang trong lòng một cái hận nào đó trong đời sống tình cảm của y .

Dường như có một sự tương quan chặt chẽ giữa " Tiếng nói của cơ thể " theo khoa Tâm bịnh học , và điều mà người ta gọi là " Quả báo tượng trưng " . Trong các trường hợp sau này , dường như đương sự có một ý thức sâu xa thâm trầm về tội lỗi của mình , và cái ý thức đó biểu lộ ra nơi một bộ phận trong cơ thể . Sự chọn lựa một bộ phận nào sẽ tùy nơi cái ý nghĩa tượng trưng của bộ phận ấy . Dưới đây là một vài thí dụ điển hình trong số rất nhiều trường hợp quả báo tượng trưng mà người ta tìm thấy trong các tập hồ sơ của ông Cayce .

Một người bị chứng bệnh suyễn kinh niên , trong lúc soi kiếp được nghe ông Cayce nói rằng : " Anh đã từng đè nén , áp bức kẻ khác , lẽ tự nhiên , nhân quả báo ứng , có lúc anh phải cảm thấy nghẹn ngào khó thở , cũng như chính anh bị kẻ khác đè nén và áp bức vậy " .

Một người điếc bị cảnh báo rằng : " Như vậy anh đừng bịt lỗ tai làm ngơ trước sự đau khổ của những người cầu xin anh giúp đỡ " . Cuộc soi kiếp cho biết người điếc này là một người dòng sang , quý tộc dưới thời Cách Mạng Pháp , nhưng thường ngoảnh mặt làm ngơ trước những tiếng kêu rên siết và những cảnh lầm than khốn khổ của người đương thời .

Một người bị chứng bịnh lao trong tủy xương sống , được biết cho rằng : " Linh hồn này đã từng gây chướng ngại khó khăn cho kẻ khác . Nên bây giờ y phải chịu những khó khăn chướng ngại đó trong thân thể của y " .

Một người bị chứng bịnh rút gân , làm cho hai chân y bị teo bắp thịt , càng ngày càng nhỏ dần , được cho biết rằng : " Đây không phải là bịnh rút gân và teo bắp thịt mà thôi đâu , đó là hậu quả của những gì maà anh đã làm cho kẻ khác trong những kiếp trước " .

Trường hợp lạ lùng nhất về quả báo tượng trưng trong các tập hồ sơ Cayce là trường hợp của một trẻ em mười một tuổi có tật đái dầm từ khi mới lên hai tuổi . Trường hợp này được kể ra một cách đầy đủ chi tiết hơn , vì tánh cách đặc biệt của sự điều trị cho em bé ấy .

Người thiếu niên này hồi nhỏ rất hiền lành , được cha mẹ y nuôi nấng dễ dàng cho đến khi người mẹ sinh thêm một đứa em gái nhỏ . Từ khi đó , y bắt đầu đái dầm trên giường trong giấc ngủ . Y đái dầm như vậy đều đều mỗi đêm . Cha mẹ y nghĩ rằng có lẽ y cảm thấy bị bỏ rơi khi người mẹ sinh thêm một em nhỏ nữa , nên tiềm thức của y khiến cho y tái diễn thói quen của tuổi sơ sinh để làm cha mẹ y phải chú ý và săn sóc y như thuở ban đầu . Cha mẹ y bèn hết sức cố gắng để tỏ cho y biết rằng tình thương của cha mẹ vẫn không thay đổi vì đứa em gái nhỏ mới sinh , và y vẫn được thương yêu săn sóc như trước , nhưng vẫn không có kết quả .

Khi đứa trẻ lên ba tuổi , cha mẹ y bèn nhờ một vị bác sĩ chuyên môn về bịnh thần kinh chạy chữa cho y . Sau một năm thuốt thang điều trị , y vẫn không thuyên giảm chút nào , và cha mẹ đành phải chịu vậy . Suốt năm năm trường , y vẫn tiếp tục đái dầm mỗi đêm . Cha mẹ y chạy đủ thầy chuyên môn và thử đủ mọi cách điều trị chứng bịnh vẫn trơ trơ không sao chữa khỏi . Y vẫn đái dầm lên cho đến năm tám tuổi . Một lần nữa cha mẹ y lại chạy chữa với một bác sĩ khác , và cuộc điều trị kéo dài suốt hai năm , nhưng vẫn không hiệu quả . Khi y lên mười tuổi , thấy rằng cuộc điều trị vẫn không ăn thua gì , cha mẹ y mới thôi và đành chịu phép . Khi y lên mười một tuổi , cha mẹ y nghe nói về thuật chữa bịnh của ông Caycẹ Người cha bèn yêu cầu ông Cayce khán bịnh về trường hợp kì lạ này của đứa trẻ . Ông Cayce bèn dùng Thần Nhãn để soi kiếp cho đứa trẻ thì thấy rằng trong kiếp trước , y là một người giáo sĩ đạo Gia Tô trong hồi xử án những kẻ theo tà giáo . Chức vụ của y là trị tội những mụ đồng bóng , phù thủy bằng cách trói họ trên những chiếu ghế đẩu , rồi cầm chân ghế chổng ngược đầu để nhận chìm họ xuống ao nước lạnh . Sau khi tìm ra cái lý do nhân quả nói trên , cuộc soi kiếp cho biết bịnh ấy có hy vọng chữa khỏi . Cha mẹ đứa trẻ được cho biết là hãy áp dụng phương pháp ám thị cho y trong giấc ngủ , và sự ám thị này phải thuộc về tinh thần chớ không phải về thể xác .

Vài hôm sau , khi về đến nhà , ban đêm người mê bèn đến ngồi cạnh giường con trai bà . Đợi đến lúc y đã ngủ mê , bà mới bắt đầu nói bằng một giọng trầm trầm và chậm rãi những lời này : " Con là một người hiền lành tốt bụng . Con sẽ làm cho nhiều người được sung sướng . Con sẽ giúp đỡ tất cả những người con gặp trên đường đời của con . Con rất hiền lương và tốt bụng " . Bà lặp đi lặp lại nhiều lần câu ấy nhiều lần , và thay đổi với những danh từ khác nhâu , tuy rằng với bấy nhiêu ý tưởng đó trong chừng mười phút trở lại , trong khi con bà đang ngủ mê . Đêm đó , lần đầu tiên từ chín năm nay , đứa trẻ không đái dầm như mỗi khi . Trong nhiều tháng , bà mẹ vẫn theo đuổi phương pháp ám thị đó và cũng vẫn dùng bấy nhiêu lời tương tự . Đứa trẻ không đái dầm một lần nào trong suốt mấy tháng đó . Lần lần , bà mẹ thấy rằng bà chỉ cần ám thị ba ngày một lần , rồi sau đó mỗi tuần một lần là đủ ; và sau cùng , sự ám thị cũng không còn cần thiết nữa : " Con bà đã hoàn toàn khỏi bịnh " .

Trường hợp này có nhiều điểm lý thú . Trước hết là cuộc ám thị vừa áp dụng đầu tiên , đã làm dứt hẳn một chứng bịnh kinh niên trong chín năm . Và nếu người mẹ là một người đàn bà không có học thức và đức hạnh , thì có lẽ người ta cho rằng đó là chuyện nói thừa , nhưng bà là một nữ luật sư ở Tòa Án , bà không phải là một người tin nhảm hay dị đoan mê tín , và không có tâm địa bất lương .

Điểm thứ hai là trong sự ám thị đó , bà mẹ không hề bảo con là đừng đái dầm . Sự ám thị đó không nhằm vào cái ý thức về vào cái ý thức tâm linh của người thiếu niên . Nói một cách khác , sự ám thị nhắm vào cái ý thức về sự tội lỗi mà y đã làm trong kiếp trước , nó đã biểu lộ ra một cách tượng trưng trong thể xác của y do đường tiểu tiện , thận và bọng đái . Kiếp trước y đã nhận người khác xuống ao nước lạnh , hoặc chịu trách nhiệm về cái hành động tàn ác đó; kiếp này, y cảm thấy trong chỗ kín đáo, u uẩn của tiềm thức, rằng y phải trả cái nghiệp ác đó , và cái quả báo đã ứng hiện vào xác thân của y một cách tượng trưng . Mặc dầu trong kiếp này , y không có làm hại ai , nhưng một lớp kín đáo trong tiềm thức làm cho y nghi ngờ về lòng tốt của mình , vì y còn mang nặng trong lòng cái kỷ niệm về sự trừng phạt nặng nề đau khổ mà y đã gây cho kẻ khác trong kiếp trước . Sự ám thị của bà mẹ đã thức động đến cái lớp kín đáo u uẩn đặc biệt đó , làm cho y hiểu rằng sự tội lỗi của y có thể xóa bỏ được bằng những hành động và cử chỉ hiền lương , tốt lành , và bởi đó , cái quả báo tượng trưng kia sẽ không còn là cần thiết nữa .

Từ đó người thiếu niên đã bắt đầu sống một cuộc đời mới . Y được mọi người thương mến , y là một người học trò tốt và tỏ ra có khả năng lãnh đạo . Tâm tình tánh chất của y đã thay đổi . Trong một cuộc giảo nghiệm về khả năng tại Viện Đào Tạo Nhân Cách Johnson Ó Connor , y đã được liệt vào hạng những người có triển vọngï thành công về sự giao tế ngoài xã hội . Người mẹ y cho rằng sự thay đổi cá tính của y một phần nhờ bởi sự điều trị thần kinh , và một phần nhờ bởi cuộc khán bịnh bằng Thần Nhãn của ông Cayce . Hiện nay , vào năm 18 tuổi , theo ý kiến của cha mẹ y , thì người thiếu niên có một đức tính căn bản là rộng rãi khoan dung đối với mọi người . Đối với thói hư tật xấu cua người đời , y đều tìm cách bào chữa và tìm ra một sự giải thích về tâm lý để khoan dung và tha thứ cho họ . Dường như tánh độc ác , khắc nghiệt của y trong kiếp trước , mà chứng bịnh đái dầm là một hình phạt tượng trưng , đã được biến đổi thành một đức tánh khoan dung nhân hậu trong kiếp này . Nhờ đó cán cân nhân quả đã được lập lại sự cân bằng , và căn bịnh quả báo của y cũng đã dứt tuyệt .

Nếu chúng ta xét lại những trường hợp nhân quả báo ứng trên , chúng ta có thể thấy rõ một vài nguyên tắc hành động chung của Luật Nhân Quả . Trong những cuộc khán nghiệm và soi tiền kiếp của ông Cayce , ông đã chỉ cho ta thấy rằng mọi hành động trong quá khứ đều gây nên một nghiệp quả hiển nhiên và cụ thể trong hiện tại . Nhưng cái nghiệp quả đó không phải lúa nào cũng báo ứng một cách thật đúng khớp với cái nguyên nhân gây ra , cũng như vay nửa cân trả tám lạng . Thí dụ như trường hợp người nhạc sư bị mù mắt . Kiếp trước ông ta đã lấy dùi sắt nhọn nướng đỏ chọc vào mắt kẻ tù binh ; nhưng kiếp này ông ta không có sinh vào làm dân của một bộ lạc dã man , rồi đến phiên ông bị bắt làm tù binh của bộ lạc cừ địch tàn bạo , dùng dùi sắt nướng đỏ chọc vào mắt ông ta . Ông ta sinh ra đã bị mù lòa , và sinh trưởng trong một xã hội văn minh tân tiến của thế kỷ hai mươi . Những sự việc xảy ra trong kiếp này của ông ta không hoàn toàn đúng hẳn như trong kiếp trước .

Thí dụ trên và nhiều thí dụ khác cũng một loại , đã đưa chúng tôi đến cái kết luận chung như sau : " Luật Nhân Quả là một định luật tâm lý , nó hành động trước hết trên địa hạt tâm lý , những hoàn cảnh vật chất chỉ là một phương tiện để đạt tới cái mục đích tâm lý đó mà thôi . Bởi đó , sự báo ứng của nghiệp quả trên bình diện vật chất không hẳn phải là thật đúng khớp và ăn rập theo khuôn mẫu với cái nguyên nhân đã gây ra từ trước , mà chỉ là đúng một cách phỏng chừng . Trên bình diện tâm lý , nghiệp quả báo ứng mới thật đúng khớp hơn , và đầy đủ trọn vẹn hơn " . Một nguyên tắc đại cương khác dường như căn cứ trên vấn đề khí cụ của nghiệp quả . Trong các tập hồ sơ Cayce , người ta không hề thấy có trường hợp nào mà sự đau khổ trong kiếp hiện tại lại gây ra bởi một nạn nhân cũ của đương sự trong kiếp trước , và đã gặp lại y trong kiếp này . Trong trường hợp của vị nhạc sư mù từ lúc mới sinh : Không có điều gì chỉ rằng cha mẹ ông ta vốn là những nạn nhân cũ trong kiếp trước , nay đầu thai lại để hành phạt ông ta . Cô thiếu nữ làm nghề sửa móng tay bị bịnh liệt bại hai chân từ thuở nhỏ không phải là bị trả thù bởi những nạn nhân cũ của cô trước kia ở châu Atlantide .

Nói tóm lại , quả báo xảy đến thường là không phải do chính nạn nhân cũ của đương sự gây ra , mà có thể do những người khác , những người này chỉ là những khí cụ của nghiệp quả , cũng chẳng khác nào như những người tay sai đi đòi nợ , để cho y trả những món nợ cũ . Và những người " Tay sai " này cũng chỉ hành động một cách vô ý thức , chứ không hề biết gì cả về cái vai trò " Thiên Lôi " hay " Hung Thần " của mình , tức là cái vai trò làm khí cụ của nghiệp quả .



CHƯƠNG 5
QỦA BÁO CỦA SỰ CHẾ NHẠO



Theo giáo lý Gia Tô , thì tánh kiêu ngạo là một trong bảy điều tội lớn nhất của con người . Cũng như những tính điều khác trong đạo Gia Tô điều này rất lý thú , nhưng dường như hơi cách xa những vấn đề thật tế về sự đau khổ của nhân loại . Tuy nhiên , chúng ta chấp nhận những bằng chứng trong cuộc soi kiếp của ông Cayce , thì sự kiêu ngạo có thể tạo nên nghiệp quả đau đớn xác thân , nhất là khi nó biểu lộ bằng sự chế diễu hay sự khinh bỉ . Một cái cười độc ác hay những lời dèm pha , chỉ trích , chê bai dường như gây một cái nhân tương đương với một hành động bạo tàn , và sẽ mang đến cái quả báo dội ngược : Người chế nhạo sẽ bị một thứ bịnh tật , tai ương , đau khổ giống như của người bị y chế diễu ! Những hồ sơ Cayce có ghi chép bảy trường hợp mà những bệnh tật đau khổ nặng nề có thể truy nguyên ra từ những hành động chế nhạo kể trên . Có điều hơi lạ , là sáu trường hợp trong số đó xảy ra trước hết ở La Mã , trong thời kỳ khủng bố đạo Gia Tộ Về điểm này một lần nữa , chúng ta lại thấy những nhóm linh hồn thuộc về một thời kỳ lịch sử , tái sinh trở lại cõi trần đồng một lượt ở một thời kỳ khác . Trong số đó có ba trường hợp về bịnh bại liệt .

*  Trường hợp thứ nhất là của một người đàn bà bốn mươi lăm tuổi , có ba người con , chồng bà ấy làm một nghề tự do . Năm ba mươi sáu tuổi bà bị bại liệt cả hai chân và không thể đi đứng vận động gì được . Từ khi đó , bà vẫn ngồi trên một chiếc xe lăn và phải có người đỡ mỗi khi muốn cử động . Cuộc soi kiếp cho biết nguyên nhân bịnh trạng của bà là một tiền kiếp dưới thời Đế Quốc La Mã . Hồi đó bà là một người trong dòng dõi quý tộc của triều đại vua Néron và trực tiếp tham gia khủng bố những người theo đạo Gia Tộ Cuộc soi kiếp nói : " Linh hồn này đã cười khi thấy những người bị hành hình trong vũ trường , và bây giời y phải chịu cảnh đau khổ tương tự như của những người ấy ! " .

*  Trường hợp thứ hai có lẽ là trường hợp đau khổ nhất trong tập hồ sơ Cayce , là của một người đàn bà ba mươi bốn tuổi , bị bệnh bại liệt từ lúc sáu tuổi , làm cho bà bị què chân và xiêu vẹo xương sống . Người cha chẳng những rất thản nhiên với bịnh trạng của bà , mà còn lấy hết tiền bạc của bà dành dụm được nhờ nuôi gà vịt kiếm lời . Số phận của bà càng hẩm hiu hơn nữa vì hai cuộc tình duyên đau khổ . Người yêu đầu tiên bị tử trận trong cuộc Thế Chiến Thứ Nhất . Sau đó bà đính hôn với một người đàn ông khác , nhưng người này bị đau nặng và vừa khi khỏi bịnh xong thì liền cưới ngay cô nữ y tá đã săn sóc y trong nhà thương ! . Ngoài ra những đau khổ về thể xác và tình cảm trên đây , còn thêm nào là đời sống cô độc ở quê , và một lần té ngã trên những bực thang bằng đá , làm cho bà phải nằm liệt giường và bị thêm một tật khác ở xương sống . Người ta không thể tưởng một cuộc đời đau khổ hơn nữa ! Nguyên nhân của bệnh trạng này thuộc hai kiếp về trước ở đế quốc La Mã . Cuộc soi kiếp nói : " Linh hồn này thuộc về giòng dõi nhà vua Palatius , và thường đến vũ trường xem những cuộc đấu võ giữa hai tội nhân , hoặc giữa một tội nhân với một thú dữ . Sự đau khổ hiện thời một phần lớn là vì bởi y đã cười cợt một cách khinh bỉ trước sự yết đuối bất lực của những kẻ tù nhân bị thú dữ xé xác trong vũ trường ! " .

*  Trường hợp thứ ba là của một nhà sản xuất phim ảnh , bị chứng liệt bại từ khi lên mười bảy tuổi , và hiện thời hãy còn có tật ở chân . Nguyên nhân cũng là vào thời kỳ chống đạo Gia Tô ở đế quốc La Mã . Cuộc soi kiếp cho biết : " Linh hồn này thuở xưa làm lính đao phủ quân của nhà vua , và đã cười cợt chế nhạo những kẻ tỏ dấu sợ sệt hoặc những người bị ngã quị trong võ trường dưới ngọn đao hành tội của y . Y đã gây ác quả không phải vì y làm phận sự của người đao phủ , mà vì y đã khinh bỉ chế nhạo những người theo một lý tưởng tôn giáo . Trong kiếp này , một xác thể tàn tật đem cho y cái kinh nghiệm cần thiết để làm thức động Chân Tánh và phát triển những sức mạnh tâm linh tiềm tàng của y " .

Dưới đây là bốn trường hợp lý thú mà sự chế nhạo lại bị những quả báo khác hơn là bịnh liệt bại . Một là trường hợp của một thiếu nữ bị chứng lao xương háng . Trong kiếp trước đây , cô có mặt trong nhóm người đầu tiên đến khai thác thuộc địa ở Bắc Mỹ . Tuy nhiên , bịnh trạng của cô được truy nguyên ra ở một kiếp trước nữa ở La Mã . Hồi đó , cô thuộc giồng dỏi quý tộc dưới triều vua Néron , và hay mua vui bằng cách đến xem những cảnh hành tội người Gia Tô Giáo trong các vũ trường . Cảnh tượng một thiếu phụ bị móng vuốt sư tử cào rách một bên hông đã làm cho đương sự vô cùng vui thích và cười đùa một cách khoái trá ! .

Đây là một trường hợp khác : Một thiếu nữ kia mới mười tám tuổi đáng lẽ ra có một vẻ đẹp quyến rũ , nếu cô không bị phát phì ! Các bác sĩ y khoa nói rằng đó là do bộ hạch óc làm việc quá độ . Cuộc khám bịnh bằng Thần Nhãn của ông Cayce cũng xác nhận có sự sai lệch trong sự hoạt động của hạch và phát phì của cô ta là một chứng bịnh về nhân quả . Hai kiếp trở về trước , cô là một lực sĩ ở thành La Mã , có tiếng về khoa điền kinh và vẻ đẹp cân đối của thân hình . Nhưng y hay chế nhạo những tay lực sĩ khác nặng cân hơn và thua kém y về sự khéo léo lanh lẹ .

Trường hợp thứ ba là của một thanh niên hai mười mốt tuổi , theo đạo Gia Tô . Cha mẹ y muốn cho y sau này trở nên một giáo sĩ ; nhưng y thấy rằng nghề ấy không đúng với sở thích của y . Y bèn từ chối không chịu nghe theo . Tật xấu lớn nhất của y là tật đồng tình luyến ái ( yêu bạn trai hay bạn gái cùng đồng một nam tính hay nữ tính với mình : Homosexualité ) . Y bèn yêu cầu ông Cayce soi kiếp , và được biết rằng trong một tiền kiếp dưới một triều vua ở nước Pháp , y là một họa sĩ chuyên môn về lối vẽ hoặc kể hài hước . Bằng một nét bút chì sắc sảo và linh động , y hay vẽ những cảnh tượng luyến ái giữa những người đồng tình với nhau để làm trò cười cho thiên hạ . Cuộc soi kiếp luận như sau : " Anh chớ lên án kẻ khác nếu anh không muốn bị lên án . Anh cười người khác bao nhiêu , anh sẽ phải bị người cười bấy nhiêu , và anh lên án kẻ khác về cái tật nào , thì chính anh sẽ mắc phải cái tật đó ! " .

Trường hợp thứ tư là của một thiếu niên bị tai nạn xe hơi hồi mười sáu tuổi , làm cho y bị đứt tiện ngang tủy xương sống . Các bác sĩ chuyên môn nói rằng y sẽ không thể sống được , nhưng rốt cuộc y vẫn sống sót . Y hoàn toàn bại liệt cả nửa thân mình , từ đốt xương sống thứ năm trở xuống và kể từ khi đó y không hề rời khỏi chiếc xe lăn . Lúc y được 33 tuổi , 17 năm sau khi tai nạn xảy ra , mẹ y yêu cầu ông Cayce soi kiếp cho y . Cuộc soi kiếp cho biết rõ hai tiền kiếp : Một kiếp hồi thời kỳ Cách Mạng ở Bắc Mỹ , trong khi đó y phục vụ trong quân đội và tỏ ra là một sĩ quan ưu tú và can đảm . Do kinh nghiệm trong kiếp đó mà kiếp này y có được những đức tính kỷ luật , trật tự , yêu đời và khả năng quyền biến . Trong kiếp trước nữa ở La Mã vào lúc bắt đầu Tây lịch kỷ nguyên , y đã tạo ra cái nguyên nhân của thảm trạng hiện tại . Hồi đó y là một người lính trong đạo binh La Mã và lấy làm khoái trá mà nhìn thấy những sự đau khổ của những người theo đạo Gia Tô bị hành hình ở pháp trường . Y đã từng đấu sức trong vũ trường , và về sau y nhìn xem những kẻ địch thủ của y đối chọi với các thú dữ . Y đã nhìn thấy rất nhiều cảnh tượng tàn ác , gây sự đau khổ chết chóc , nhưng y không chút động lòng . Kết quả là trong kiếp này y nhìn thấy sự đau khổ ở chính mình , và y cũng phải tập nhìn nó một cách thản nhiên nhưng với một mục đích khác hẳn : Quả báo này có cái tác dụng sâu xa là nhờ sự đau khổ , y sẽ cảm thấy rằng sự tín ngưỡng tôn giáo mà y diễu cợt nhạo báng trước kia , nay đã đột khởi ở trong linh hồn y để bù lại những gì y đã tạo ở kiếp trước .

Có điều lý thú là trong những trường hợp kể trên , gồm có ba người bị liệt bại từ nhỏ , một người bị bịnh lao xương háng , một người phát phì , một người có tật đồng tính luyến ái , một người dập tủy xương sống , tất cả là bảy người nhưng không có trường hợp nào là bịnh di truyền . Trong mỗi trường hợp , bịnh trạng chỉ xuất hiện sau khi đương sự đã sinh ra đời , ở vào khoảng giữa năm lên một và năm lên 36 tuổi . Trong một trường hợp , bịnh tật do tai nạn xe hơi gây nên , Dầu rằng thế nào , đằng sau cái nguyên nhân hiển hiện , còn ẩn khuất một nguyên nhân sâu xa hơn . Cái định mệnh lạ lùng nó đặt để rằng trong một tai nạn xe cộ , có người thiệt mạng , có người lại sống sót , có người bị thương tích nặng nề , có người lại không bị một vết trầy da , thường được coi như một sự may rủi , tình cờ . Nhưng nếu ta xét những trường hợp kể trên thì thấy rằng dường như có sự hành động của một bàn tay vô hình , dầu rằng trong sự hỗn loạn của một tai nạn xảy ra bất thình lình , và như thế những quả báo xảy đến đều đúng luật công bình , không mảy may sơ sót .

Mới nghe qua những trường hợp kể trên , người ta thấy rằng dường như những quả báo xảy đến có vẻ quá nặng nề đối với một viếc không quan trọng như là một tiếng cười , nhưng nếu chúng ta suy xét kỹ thì sẽ thấy quả có sự công bằng .

Một người đùa cợt nhạo báng trước sự đau khổ của kẻ khác tức là y kết án người này về những hoàn cảnh trái ngược của họ mà y không hề hiểu biết được cái lý do ẩn tàng . Y khinh bỉ cái quyền tự do của người khác , dầu cho đó là cái tự do lỗi lầm mà mỗi người đều có thể rút những bài học kinh nghiệm lấy cho mình . Y chà đạp , dày xéo cái nhân vị , cái giá trị và tính cách thiêng liêng của mỗi linh hồn , dầu rằng linh hồn ấy có rơi vào sự đớn hèn , đày đọa hay lố bịch chăng nữa . Ngoài ra , y còn tự tôn và cho rằng mình cao hơn kẻ mà y chế diễu đùa cợt . Trong sự chế diễu đùa cợt , có một hình thức tự tôn rá6t bỉ ổi làm cho đương sự cách biệt rất xa với tình bác ái đại đồng giữa nhân loại và vạn vật . Những điều kể trên làm cho ta phải nhớ đến những giáo lý răn dạy người đời , được chứa đựng trong một quyển sách về đạo lý cổ truyền . Chúng ta bắt đầu nhận thấy rằng thật là hữu phước thay cho người nào thoát khỏi được cái thói xấu hay nhạo báng đùa cợt . Tác giả bộ Thánh Thi đã tỏ ra có một bản năng sáng suốt khi người thốt ra những lời này : " Tôi sẽ thắng dây cương ở đôi môi của tôi để khỏi phải gây tội lỗi vì cái lưỡi " .

" Người chớ xét đoán kẻ khác nếu ngươi không muốn bị người xét đoán ! . Vì ngươi sẽ bị kết án cũng như ngươi đã kết án kẻ khác vậy " .

Đức Jesus cũng nói rằng : " Kẻ nào mắng người khác là " Đồ ngu ! " sẽ bị thiêu đốt dưới ngọn lửa Địa ngục ! " .

Xét về những trường hợp mà sự chế nhạo đùa cợt bị mang lấy quả báo vô cùng thảm khốc như đã kể trên , thì lời nói của đức Jesus hẳn là có một ý nghĩa sâu xa thâm trầm về phương diện tâm lý vậy .


( CÒN TIẾP )




Những Bí Ẩn Của Cuộc Đời ( IV )




( TIẾP THEO )


Trong trường hợp lý thú hơn nữa là của một đứa trẻ khác mà cuộc soi kiếp cho biết rằng về sau y có thể trở nên một y sĩ có tài . Những thói xấu mà cuộc soi kiếp trước cũng đã bắt đầu biểu lộ sớm , cùng một lượt với sự thích thú đặc biệt về nghành y học . Vào năm tám tuổi , y đã bắt đầu mổ xác những con thú đã chết để xem cơ thể bên trong con thú như thế nào . Chưa đầy mười tuổi , y đã xem một cách say mê những bộ sách tự điển Y Khoa , và năm mười hai tuổi , y cho cha mẹ biết rằng y có ý muốn sẽ vào trường Đại Học John Hopkins để theo nghành Y khoa . Cha của đứa trẻ là một nhà kinh doanh thương mại ở New York , mẹ y là một nữ tài tử . Lúc đầu , cha mẹ y đều phản đối ý định học Y khoa của y và khuyên hãy bỏ ý định ấy . Nhưng đứa trẻ cương quyết giữ lập trường và sau cùng đã thắng mọi trở lực . Hiện nay y đang học lớp dự bị về khoa Lý Hóa Sinh tại một trường Đại Học lớn ở miền đông Hoa Kỳ . Trường hợp này chứng tỏ một lần nữa về năng khiếu Thần Nhãn thật sự của ông Cayce , vì ông đã nhìn thấy kiếp trước của đứa trẻ và chắc chắn rằng những khả năng đặc biết của y sẽ biểu lộ ra ở kiếp này .

Những thí dụ kể trên chỉ rằng những cuộc soi kiếp của ông Cayce có một giá trị rất lớn về sự tiên đoán tương lai , không những của trẻ sơ sinh mà cũng của những người lớn . Một cô điện tín viên ở nhà Bưu điện thành phố New York lấy làm vô cùng ngạc nhiên về những bức điện tín lạ lùng mà cô đã đánh đi nhiều lần về Virginia Beach . Cô ấy mới hỏi thăm về ông Cayce và quyết định yêu cầu ông soi kiếp cho cô . Nhờ đó , cô biết rằng cô sẽ theo đuổi nghề nghiệp điện tín viên , và tốt hơn cô nên học về nghành vẽ quảng cáo , vì trong nhiều kiếp trước , cô đã là một nghệ sĩ có tài về nghành này . Cô ấy không hề có ý nghĩ theo đuổi một nghệ thuật nào , dầu là kỹ nghệ họa hay bất cứ nghành nào khác , nhưng cô ấy có đủ can đảm để học thử và xin ghi tên học ở một trường nọ . Cô lấy làm vô cùng ngạc nhiên mà thấy rằng cô có năng khiếu và đã thành công rất mau chóng với nghành kỹ nghệ họa , đồng thời cô cũng được cải tiến rất nhiều về nhân cách của mình .

Với thời gian trôi qua , ông Cayce càng nhận thấy rằng những cuộc soi kiếp của ông đã giúp ích cho rất nhiều người . Ông càng vững đức tin hơn trước , khi thấy rằng công việc của ông làm là chánh đáng vì nó gây nên những kết quả tốt đẹp . Có nhiều người được hướng dẫn theo những nghề nghiệp thích hợp với họ , những người khác nhận được những lời chỉ giáo san bằng mọi sự khó khăn trong đời sống gia đình , những người khác nữa đã tìm cách tự biết mình và tập hòa mình một cách thích nghi với đời sống xã hội .

Những điều kể trên đã lần lần thuyết phục ông Cayce về tánh cách chân thật và xác đáng của những cuộc soi kiếp bằng Thần Nhãn cũng như của sự giải thích mà nó đưa ra về định mệnh của con người . Nhưng điều nó làm cho ông tin tưởng hơn hết là cái tinh thần Gia Tô giáo thâm sâu , tiềm tàng trong những điều mà cuộc soi kiếp đã tiết lộ cho ông biết - và hơn nữa - cái tinh thần Gia Tô giáo đó lại được đưa ra một cách dễ dàng và thích nghi trong khuôn khổ của thuyết Luân Hồi .

Một cuộc soi kiếp ít khi nào mà không nêu ra một đoạn sách trong Thánh Kinh hay một điều giảng dạy của đấng Christ . Những câu dẫn chứng thông thường nhất là những lời dạy của đấng Christ như sau : " Ngươi gặt hái những gì ngươi đã gieo " và " Hãy làm cho kẻ khác những gì ngươi muốn kẻ khác làm cho ngươi " . Đôi khi đó là những câu chú thích theo đúng nguyên văn hoặc phác họa thêm ít nhiều tư tưởng theo nguyên văn , chẳng hạn như : " Ngươi chớ lầm lạc . Không ai có thể kiêu ngạo Chúa Trời ! Vì ai gieo giống nào sẽ gặt giống nấy " . Và : " Con người luôn luôn là cái hậu quả của chính mình . Ngươi hãy làm điều lành cho những kẻ đã phỉ báng nhục mạ ngươi , rồi ngươi sẽ cứu chuộc được những điều tội lỗi mà chính ngươi đã gây ra cho kẻ khác " .

Những lời dẫn chứng kể trên là để răn dạy những người bị bịnh tật đau khổ , do hậu quả của những điều tội lỗi mà họ đã gây ra trong một kiếp trước .

Khi sự hứng khởi nồng nhiệt lúc ban đầu đã lắng dịu , thì nhóm người chung quanh ông Cayce mới bắt đầu đặt những câu hỏi về những điều đã tiết lộ trong các cuộc soi kiếp của chính họ . Trước hết họ muốn biết tại sao có một vài thời kỳ trong lịch sử luôn luôn tái diễn trở đi trở lại trong các cuộc soi kiếp . Nhiều người lại có chung một bối cảnh lịch sử giống như nhau ; nói tóm lại , những điều diễn tả trong các cuộc soi kiếp hình như đều rập theo một khuôn khổ . Các cuộc soi kiếp thường nêu ra một loạt các thời kỳ sau đây : Thời đại Atlantide , Đế quốc La Mã , Thời kỳ Thánh Chiến ( Croisades ) và lúc khởi đấu thời kỳ khai mở thuộc địa ở Bắc Mỹ . Một loạt khác gồm có : Châu Atlantide , Ai Cập , La Mã , nước Pháp thời Louis 14 , 15 và 16 , và Giặc Phân Ly ( Secession ) ở Hoa Kỳ . Lẽ tự nhiên , cũng có những trường hợp khác , gồm có Trung Hoa , Ấn Độ , Cao Miên , Pérou , Bắc Âu , Phi Châu , Trung Mỹ , Ý , Tây Ban Nha , Nhật Bổn , và nhiều xứ khác ; nhưng phần nhiều các cuộc soi kiếp đều noi theo một khuôn khổ lịch sử như nhau .

Theo ông Cayce , lý do của sự kiện trên là vì những linh hồn thuộc về một thời kỳ lịch sử nhất định , về sau thường chuyển kiếp đầu thai chung một lượt ở một thời kỳ khác . Trong những thế kỷ ở khoảng giữa , thì những nhóm linh hồn khác lại chuyển kiếp xuống trần theo đúng phiên bản của họ . Sự thay phiên đầu thai từng nhóm một một cách có quy củ , trật tự như vậy cũng giống như sự thay phiên từng toán thợ làm việc trong một cơ xưởng . Bởi đó , phần nhiều những linh hồn đang sống trên thế gian hiện nay , đều đã cùng đầu thai với nhau một lượt ở những thời kỳ quá khứ trong lịch sử . Ngoài ra , những linh hồn có sự liên lạc gia đình , bè bạn hoặc đồng lý tưởng với nhau , có thể đã cùng có những nhân duyên với nhau trong những kiếp trước .

Một câu hỏi khác được nêu ra : " Những tài liệu đó do đâu mà có ? " . Câu trả lời là : Ông Cayce nằm trong giấc ngủ thôi miên , có thể thâu thập những tài liệu đó ở hai nơi . Một là trạng thái vô thức của người đang được soi kiếp . Trạng thái vô thức này giữ lại ký ức của tất cả những kinh nghiệm mà đương sự đã trải qua , không những trong kiếp này mà cũng gồm luôn những kinh nghiệm ở những kiếp trước . Những ký ức thuộc về kiếp trước được che khuất , ẩn tàng trong những chỗ thâm sâu kín đáo nhất của tiềm thức , ngoài vòng hiểu biết và thực nghiệm của khoa Tâm lý học hiện đại .

Ngoài ra , tiềm thức của một người là một lĩnh vực dễ thăm dò bằng tiềm thức của một người khác , hơn là bằng trạng thái ý thức , chẳng khác nào như một cảnh hỗn độn của một thành phố lớn , người ta có thể đi từ chỗ này đến chỗ kia bằng đường xe điện ngầm ( metro ) một cách dễ dàng mau chóng hơn là bằng những phương tiện khác ở trên mặt đất . Bởi lẽ đó , trong trạng thái thôi miên , linh hồn ông Cayce tiếp xúc với linh hồn đương sự một cách trực tiếp bằng tiềm thức . Sự giải thích này có thể được chấp nhận một cách dễ dàng ; nó phù hợp , ít nhất là một phần nào , với những sự phát minh của khoa phân giải tâm lý ( psychanalyse ) về cuộc đời và trạng thái vô thức .

Nhưng còn cái nguồn gốc thứ hai đã giúp tài liệu cho ông Cayce , thì dường như rất lạ lùng . Những cuộc soi kiếp gọi đó là những " ký ức của không gian " ( Clichés Akashiques ) . Như thường lệ , mỗi khi nói đến một danh từ lạ và khó hiểu , ông Cayce đánh vần từng chữ trong giấc thôi miên của ông : Akasha : Danh từ ; Akashique : Tĩnh từ . Nói tóm tắt , ông Cayce giải thích danh từ ấy như sau :

" Akasha là danh từ Phạn nhữ ( sanskrit ) dùng để chỉ chất dĩ thái tinh hoa căn bản của Vũ Trụ . Chất ấy có cái tác dụng như một cái phim ảnh hay một cuốn phim chiếu bóng , trên đó được ghi nhận một cách rõ ràng không bao giờ mất những âm thanh , ánh sáng , cùng mọi hành vi , tư tưởng của con người và tất cả mọi sự gì ra trong vũ trụ kể từ thuở Vô Cực . Chính nhờ đó sự ghi nhận trong ký ức của không gian đó mà những bị có Thần Nhãn có thể nhìn thấy dĩ vãng như đọc một quyển sách phơi bày từng trang trước mặt họ , dầu cho những sự việc xảy ra đã cách xa hằng bao nhiêu thời gian trong quá khứ . Chất Akasha cò thể được coi như một cái máy chụp ảnh vĩ đại của Vũ Trụ . Cái khả năng thấy ký ức của Thiên Nhiên trên chất Akasha đó vốn tiềm tàng ở mọi người trong chúng ta : Nó tùy nơi mực độ nhậy cảm của mỗi người , và tùy nơi chúng ta có thể đặt mình vào một trạng thái thụ cảm thích nghi , cũng ví như khi chúng ta bắt đúng luồn sóng vô tuyến trên máy thu thanh để nghe âm nhạc vậy " . Trong khi thức tỉnh , ông Cayce không có thể đặt mình vào trạng thái thụ cảm thích nghi , để " Bắt đúng luồn sóng " như đã kể trên , nhưng trái lại trong giấc ngủ thôi miên ông có thể làm được điều ấy .

Trong tất cả những điều bí ẩn mà ông Cayce đã thốt ra trong giấc thôi miên , thì đó là điều mà ông cho là lạ lùng nhất . Tuy thế , đáp lại những câu hỏi hoài nghi về vấn đề này , ông đều luôn luôn trả lời như nhau , có khi thì dùng những danh từ giống nhau , có khi thì thêm vào những chi tiết phụ thuộc . Có nhiều khi , ông nói thêm rằng những sự ghi nhận trên chất Akasha cũng có thể gọi là " Ký ức của Vũ Trụ " hay " Quyển sách Thiên nhiên " .

Ông Cayce cũng đưa ra những sự giải thích đã có từ nhiều thế kỷ trước về chất Akashạ Nền Triết học cổ Ấn Độ đã từng nói rằng căn bản của vật chất vốn hư không ; vật chất là sự kết tinh của một sức mạnh gọi là sinh lực ; và cũng nói về sự chuyển di tư tưởng bằng phương pháp Thần giao cách cảm , và những điều này gần đây đã được khoa học Âu Tây xác nhận . Vậy tại sao chúng ta không có một thái độ cởi mở để chấp nhận ít nhất là tiềm năng của chất Akasha , cũng là một quan niệm khác của Triết học Ấn ? . Sự giải thích bằng trạng thái vô thức có thể chấp nhận được trong việc soi kiếp cho những người khác , nhưng làm sao giải thích hiện tượng này là ông Cayce đã nói rất nhiều chi tiết đầy đủ , nó tuôn tràn một cách dồi dào như suối chảy trong những cuộc khán nghiệm sưu tầm về những thời đại cổ xưa ở châu Atlantide , Ai Cập , và thời kỳ của đức Chúa Jesus ? .

Có thể nào ông đã góp nhặt tài liệu trong tiềm thức của những người đã từng sống vào những thời kỳ đó chăng ? . Mặc dầu họ không phải là những người đến nhờ ông soi kiếp ? . Hay ông Cayce đã khám phá ra những điều đó trong ký ức của Lịch Sử , được ẩn dấu tiềm tàng và giữ gìn nguyên vẹn trong những cõi vô hình huyền bí của Vũ Trụ ? . Sau cùng ông Cayce đã chấp nhận quan niệm về chất Akasha , không phải vì ông có một bằng chứng tuyệt đối về đều ấy , mà bởi vì nó đã được xác nhận trong những cuộc khán nghiệm bằng Thần Nhãn ; và những cuộc khán nghiệm của ông về tất cả mọi vấn đề từ trước đến nay đều đúng đắn và hoàn toàn đáng tin cậy .

Có lẽ sự dùng Thần Nhãn để nhìn thấy những sự việc đã xảy ra trong quá khứ cũng có thể được giải thích bằng những cách khác ; và cũng có lẽ trong tương lai , một nhà bác học hiện đại nào đó có thể chứng minh sự thật về chất Akasha , và điều này rốt cuộc cũng không phải bí mật lạ lùng gì hơn những hiện tượng đã có , chẳng hạn như luồng sóng vô tuyến , tánh chất phóng quang của chất radium , nguyên tử lực , hoặc trí nhớ của bộ Óc con người , và sự truyền cảm của bộ Thần kinh hệ . Dầu sao , những cuộc soi kiếp của ông Cayce và sự đúng đắn một lạ lùng của nó là một sự thật hiển nhiên . Trong khoảng 22 năm trường , bắt đầu từ năm 1923 trở đi là năm mà ông Cayce bắt đầu soi kiếp và khán bịnh bằng Thần Nhãn , cho đến năm 1945 là năm ông từ trần , ông đã soi kiếp cho tất cả độ 2.500 người . Cũng như những cuộc khán bịnh bằng Thần Nhãn , những cuộc soi kiếp đều được ghi chép trong các tập hồ sơ và được giữ gìn cẩn thận . Nhiều thơ từ văn kiện đã chứng minh cho sự đúng đắn của nhiều cuộc soi kiếp , mỗi khi có đủ bằng chứng xác nhận về sự đúng đắn của những điều đã tiết lộ . Những người nào muốn tìm biết sự thật về những điều này vẫn còn có thể chất vấn nhiều người hiện nay còn sống và đã từng được ông Cayce soi kiếp cho họ .

Như vậy , nếu chúng ta có thể tin tưởng nơi tánh cách chân thật của những tập hồ sơ văn kiện lạ lùng đó và sự giải đáp của nó về những bài toán bí hiểm của cuộc đời , thì ta đã có trong tay một số tài liệu khổng lồ và hiếm có về vấn đề này . Trước hết chúng ta có một số bằng chứng cụ thể hiển nhiên về luật Luân Hồi , là một nguyên tắc tiến hóa căn bản của con người . Và tất cả những yếu tố kể trên cũng chưa đủ để hoàn toàn thuyết phục chúng ta , thì ít nhứt nó cũng đáng để cho chúng ta chú ý vì mục đích khảo cứu và sưu tầm khoa học . Có biết bao nhiêu những cuộc phát minh lớn lao vĩ đại , lúc ban đầu cũng chỉ căn cứ trên những giải thuyết lạ lùng và khó tin . Khi người ta hỏi nhà bác học Einstein bằng cách nào ông ta đã phát minh ra thuyết Tương Đối luận , ông đáp :

-  Tôi chỉ thử đặt một nghi vấn về một định lý .

Ngoài ra , chúng ta còn có một số tài liệu rất dồi dào về tâm lý , y lý và triết lý , nó d8em đến cho ta một tầm kiến thức rộng rãi và khác hẳn về cuộc đời .

Trong khoảng hai mươi hai năm đó có biết bao nhiêu người đau khổ tuyệt vọng đã tìm đến ông Cayce và đã được ông săn sóc giúp đỡ do sự hiểu biết thâm sâu và năng khiếu Thần Nhãn của ông . Họ bị đủ thứ đau khổ bịnh tật về thể xác lẫn tinh thần , và tất cả đều muốn tìm sự giải đáp cho câu hỏi sau đây :

-  " Tại sao sự đau khổ này lại đến cho tôi ? "

- " Nguyên nhân vì đâu mà tôi bị sự đau khổ này ? " .

Không phải tất cả những trường hợp đó đều là nguy cấp hay tuyệt vọng . Có nhiều người xem ra thì những kiếp trước họ cũng tầm thường như kiếp này , vì không có gì đặc biệt . Nhưng , dầu cho sự đau khổ của họ nặng hay nhẹ , các cuộc soi kiếp đã chỉ cho thấy rằng cái thân phận và hoàn cảnh hiện thời của họ là cái kết tinh của bao nhiêu nhân và quả nối tiếp lẫn nhau như những cái khoen của một sợi dây xích và bắt đầu từ nhiều thế kỷ trước . Tất cả đều đã được chỉ cho thấy rằng những bịnh tật , thống khổ của họ bây giờ đều có nguyên nhân xa hay gần , do sự hành động của một định luật căn bản gọi là Luật Nhân Quả .

Những gì họ đã nghe và học hỏi đã làm cho họ thay đổi cuộc đời ; sự hiểu biết thâm sâu về bài học Nhân Quả đã giúp cho họ một nguồn an ủi cùng tìm thấy sự thăng bằng và an tịnh của tâm hồn .

Nếu người ta chấp nhận tánh cách chân thật của những cuộc soi kiếp , người ta cũng phải nhìn nhận sự kiện này là nó đã làm đảo lộn trí óc và quan niệm của họ về cuộc đời . Tầm quan trọng của sự việv kể trên không phải là nó đem đến cho ta một giả thuyết mới : đó là một lý thuyết rất cổ xưa và đã từng là một điều tín ngưỡng của nhiều dân tộc rải rác ở nhiều miền lục địa trên quả địa cầu . Những cuộc soi kiếp của ông Cayce có một tầm quan trọng vì hai điều này :

*  Điều thứ nhất : đây là lần đầu tiên ở Âu Mỹ mà người ta đã có được những bản phúc trình đúng đắn mạch lạc , rõ ràng và đáng tin cậy về những kiếp trước của một số nhiều người .

*  Điều thứ hai : đây là lần đầu tiên trong lịch xử thế giới , những bản phúc trình đó được ghi chép và sắp thành hồ sơ có ngăn nắp , trật tự , để cho mọi người có thể tra cứu , sưu tầm . Ngoài ra , những cuộc soi kiếp của ông Cayce đã hợp nhứt triết lý Đông Tây càng thêm phần sinh sắc . Nhờ đó , chúng ta đã có một sự tổng hợp rất cần thiết giữa hai quan điểm triết học khác nhau của Đông Phương và Tây Phương .

Những cuộc soi kiếp bằng Thần Nhãn của ông Cayce cũng đã tổng hợp khoa học cà tôn giáo bằng cách chỉ cho ta thấy rằng cõi giới tinh thần được cai quản bởi những định luật Nhân Quả một các đúng đắn cũng y như cõi giới vật chất . Nó cho ta thấy rằng sự đau khổ của con người không phải là do một sự rủi ro tình cờ theo quan niệm duy vật , mà là do bởi những tư tưởng và cách hành động sai lầm trong quá khứ . Nó chỉ rằng những sự sai biệt và bất đồng giữa thân thế , hoàn cảnh và khả năng của người đời không phải là do ý muốn độc đoán của Thượng Đế hay là do ảnh hưởng mù quáng của sự di truyền , mà nó chỉ là cái kết quả của những hành động và cách xử thế của con người trong kiếp trước .

Mọi sự đắng cay , thất bại , buồn rầu đều có một ý nghĩa và mục đích giáo hóa chúng ta về đướng xử thế ; những bệnh tật tai ương xảy đến cho ta đều có một nguyên nhân sâu xa về tinh thần . Và tất cả những sự quằn quại đau khổ đều là những bài học quý mà chúng ta thọ lãnh trên trường học lớn của thế gian , ngõ hầu trong tương lai nó sẽ đưa chúng ta đến cái mục đích Minh Triết và Toàn Thiện .



CHƯƠNG 4
VÀI LOẠI QỦA BÁO XÁC THÂN



Những người tàn tật , đui què , câm điếc , những người bị các chứng nan y , đó là những thí dụ rõ rệt nhứt về sự đau khổ của người đời . Đứng trước những cảnh đau khổ đó , chúng ta cảm thấy một lòng trắc ẩn sâu xa và thấm thía . Khi mà một trong những cảnh khổ đó xảy đến cho ta , khi chúng ta gặp phải những cảnh ngộ đắng cay , trái ngược , chúng ta có lẽ đâm ra hoài nghi về lòng nhân từ bác ái của đấng Tạo Hóa . Có lẽ chúng ta sẽ tự hỏi : " Tại sao tôi bị sự đau khổ này ? . Và tại sao cảnh khổ này lại xảy đến cho tôi ? " .

Anh X... Là một người hiền lành và đức hạnh hơn người . Anh đã bị mất hết gia tài , sản nghiệp và tất cả mấy đứa con anh đều chết hết , anh chịu đựng những cảnh khổ đó một cách kiên nhẫn và không phàn nàn rên siết . Nhưng khi anh bị một chứng bịnh kỳ quái làm toàn thân anh đều nổi các mụt nhọt lở loét , ghê tởm , thì anh X..... bèn nguyền rủa Thượng Đế lần đầu tiên , và cũng lần đầu tiên , anh la lên trong cơn tuyệt vọng để tìm biết lý do những sự đau khổ đã xảy đến : " Ai có thể nói cho tôi biết , rồi tôi sẽ im lặng và an phận . Tôi đã gây nên những tội lỗi gì ? " .

Nói rằng nguyên nhân sự đau khổ là do bởi những hành động sai lầm , tội lỗi gây ra , thì người thời nay thường cho đó là một điều dị đoan , di sản của những tôn giáo cổ xưa đã lỗi thời . Ít người chịu suy nghĩ và nhìn nhận điều đó . Tuy vậy , theo những cuộc soi kiếp của ông Cayce , thì tội lỗi và đau khổ đi liền với nhau như bóng với hình , và giữa Nhân với Quả vốn có một sự liên quan chắt chẽ .

Để hiểu rõ cái quan niệm trên , nó làm nền tảng cho những cuộc soi kiếp của ông Cayce , ta cần hiểu ý nghĩa của danh từ Karma , là danh từ duy nhất giải thích ý nghĩa về vấn đề Nhân Quả . Karma là một danh từ Phạn ngữ , có nghĩa là hành động . Nhưng theo ý nghĩa về triết học , thì nó định nghĩa Luật Nhân Quả , là một định luật cai quản và chi phối mọi hình thức sinh hoạt trong Trời Đất . Ông Emerson là người đã từng hấp thụ và tin tưởng nền Triết học Ấn Độ , gọi đó là Luật Thừa Trừ . Đấng Christ cũng đã nói về luật ấy một cách gọn gàng giản dị trong câu : " Ngươi sẽ gặt những gì ngươi đã gieo " . Định lý khoa học của Newton nói rằng : " Mỗi hành động đều gây nên một phản ứng tương đương và ngược chiều " , áp dụng trên cả hai phương diện vật chất lẫn tinh thần .

Những cuộc soi kiếp của ông Cayce làm cho người ta thích thú say mê vì nó khám phá ra tận nguồn gốc của những bịnh tật đau khổ trong kiếp hiện tại , truy nguyên ra từ những hành động ở những kiếp quá khứ , và làm sáng tỏ một cách rõ ràng cái quan niệm trừu tượng về Nhân Quả . Một sự nghiên cứu tỉ mỉ về những trường hợp đã khán nghiệm co biết rằng có nhiều loại quả báo khác nhau . Một trong những loại đó có thể gọi là " Quả Báo Dội Ngược " , nghĩa là một hành động gây tổn thương cho kẻ khác , kết quả sẽ dội ngược trở về bản thân của đương sự .

Trong những tập hồ sơ của ông Cayce , có nhiều thí dụ về loại quả báo này , mà một trường hợp được kể ra như sau :

Một vị giáo sư dạy nhạc , lúc mới sinh ra đã bị mù mắt , có nghe nói về ông Cayce trong một chương trình phát thanh " Những Sự Mầu Nhiệm " . Ông bèn đến nhờ ông Cayce khán bịnh và sau một thời gian chạy chữa theo sự chỉ dẫn của ông Cayce , ông ta cảm thấy khá nhiều . Ba tháng sau , ông đã thuyên giảm được 10 phần trăm về con mắt bên trái , mà các nhà chuyên môn về bịnh đau mắt cho là đã hoàn toàn hỏng . Kế đó , một cuộc soi kiếp cho thấy rõ ràng tất cả bốn tiền kiếp của ông ta : Kiếp thứ nhất ở Bắc Mỹ hồi thời kỳ Chiến tranh Phân Ly ( Secession ); kiếp thứ nhì ở Pháp hồi thời kỳ Giặc Thánh Chiến ( Croisades ) ; kiếp thứ ba ở Ba Tư vào khoảng 1.000 năm trước Tây lịch ; và kiếp thứ tư ở Châu Atlantide trước khi xảy ra cuộc Đại Hồng Thủy . Chính trong kiếp thứ ba ở Ba Tư , ông ta đã gây nên cái nhân ác nó báo ứng bằng sự mù mắt của ông ta trong kiếp này . Hồi đó , ông ta có chân trong một bộ lạc dã man có tục lấy dùi sắt nhọn nung đỏ châm vào mắt những tù binh , và chính ông ta là đao phủ quân hành tội các tù nhân bằng cách đó .

Một thí dụ thứ hai đáng được ghi nhớ là trường hợp của một thiếu nữ làm nghề sửa móng tay , bị chứng liệt bại cả hai chân từ khi mới lên một tuổi . Cô này không thể đi đứng gì được , nếu cô không dùng nạng chống và những dụng cụ nối xương nhân tạo . Cuộc soi kiếp tiết lộ rằng nguyên nhân của bịnh trạng cô bây giờ là do một tiền kiếp ở Châu Atlantide . Trong kiếp đó , cô đã dùng những phép thuật tà đạo để làm cho kẻ khác bị yếu mềm cả tay chân , trở nên bất lực và chịu để cho cô sai khiến . Bởi vậy trong kiếp này cô phải chịu quả báo về sự tổn thương mà cô đã gây ra cho kẻ khác ( Trong cuộc soi kiếp , ông Cayce thường dùng chữ " Linh hồn " để chỉ đương sự , vì con người vốn là một linh hồn bất tử đầu thai từ kiếp này sang kiếp khác để học hỏi những bài học kinh nghiệm cần thiết trên đường tiến hóa đưa đến mức Toàn Thiện )

Một thí dụ thứ ba về quả báo dội ngược được kể ra như sau : Một người đàn bà 40 tuổi từ lúc nhỏ bị một chứng bịnh kỳ lạ . Mỗi khi cô ăn một vài thức ăn như bánh mì , hoặc chất ngũ cốc , thì bị nhảy mũi dữ dội như bị chứng sổ mũi hoặc cảm cúm . Khi cô dùng đến một vài thứ đồ vật dụng , nhất là đồ bằng da hay bằng chất nhựa ( plastique ) thì lại cảm thấy đau nhói dữ dội ở bên hông trái . Cô đã đi khám bịnh với nhiều bác sĩ , nhưng không có kết quả , và cho biết rằng cô chỉ thấy bớt trong những cuộc chữa bịnh bằng thôi miên lúc 25 tuổi . Sự thuyên giảm đó kéo dài được sáu năm , nhưng triệu chứng cũ lại tái phát . Cô đến nhờ ông Cayce chữa bịnh . Cuộc soi kiếp tiết lộ rằng : " Trong một tiền kiếp , linh hồn này làm nghề bào chế sư , y đã dùng nhiều chất hóa học để gây tổn thương cho kẻ khác . Bởi đó y bị hành xác bằng những chất hóa học trong kiếp này . Linh hồn này cũng đã dùng một vài chất độc để làm cho kẻ khác bị nghẹt thở , bởi đó ngày nay ông bị nhiễm độc bởi một vài chất kim khí , chất nhựa , và đồ da thuộc bằng chất hóa học... " .

Một loại quả báo thứ nhì trên địa hạt vật chất có thể được gọi là quả báo về xác thân , theo đó sự lạm dụng cơ thể trong một kiếp sẽ gây nên quả báo thích nghi trong một kiếp sau . Đây là một ví dụ : Một người đàn ông 35 tuổi , từ thuở nhỏ đã bị chứng đau ruột và bộ máy tiêu hóa . Y phải ăn uống kiêng cữ gắt gao và chỉ dùng được một vài thức ăn giản dị mà thôi , và mặc dầu như thế , y cũng tiêu hóa các bữa ăn của y một cách khó khăn , sau nhiều giờ vất vả và mệt nhọc . Chứng bịnh này gây cho y rất nhiều điều bất tiện , và gây trở ngại không ít trong đời sống ngoài xã hội . Cuộc soi kiếp của ông Cayce tiết lộ cho biết nguyên nhân của bịnh trạng này là trong một tiền kiếp dưới trào vua Louis 13 bên Pháp , y làm chức hầu cận của nhà vuạ Y thừa hành chức vụ một cách tận tâm và chu đáo , nhưng y có tật tham ăn và ăn uống quá độ . Trong một kiếp trước nữa , khi y làm nghề y sĩ dưới triều vua nước Ba Tư , y cũng ăn uống vô tiết độ . Như thế trong hai kiếp , y đã phạm cái lỗi về tâm lý là lạm dụng sự ăn uống để tìm khoái lạc của nhục thể . Điều này làm đảo lộn sự quân bình trong trạng thái tâm lý của y , và phải được thừa trừ bằng một cách nào đó trong kiếp hiện tại . Quả báo về xác thân làm cho y bị đau bộ máy tiêu hóa , và bắt buộc y phải hạn chế ăn uống trong kiếp này .

Một loại quả báo thứ ba về thân xác mà người ta thường thấy trong nhũng cuộc soi kiếp của ông Cayce , có thể gọi là " Quả báo Tượng Trưng " . Đây là một loại quả báo rất lạ kỳ và thú vị nhứt trong các loại quả báo về thể xác . Một trường hợp của loại quả báo này được kể ra như sau : Ông Cayce có soi kiếp cho một người thanh niên bị bịnh thiếu máu từ thuở nhỏ . Y là con của một vị bác sĩ , bởi đó y đã được săn sóc thuốc thang và chạy chữa đủ cách , nhưng vẫn vô hiệu quả . Một chứng bịnh nan y như thế hẳn là phải có một nguyên nhân rất sâu xạ Cuộc soi kiếp cho biết rằng trong một tiền kiếp ở xứ Perou , đã năm kiếp về trước , linh hồn này làm tướng đem quân chiếm đoạt xứ ấy một cách bạo tàn . Trong cuộc soi kiếp , ông Cayce nói : " Cuộc chiến tranh đó đã làm cho bao nhiêu đầu rơi máu chảy , gây nên một thảm họa lưu huyết rất lớn . Bởi đó trong kiếp hiện tại của linh hồn nầy , y bị bịnh mất máu , không sao chạy chữa " .

Chúng ta sẽ hiểu rõ ý nghĩa câu này hơn , nếu chúng ta so sánh với trường hợp quả báo vềt thể xác , vì tội lỗi của người này không phải do sự lạm dụng một bộ phạm nào trong cơ thể của y . Đây cũng không phải là một trường hợp " Quả báo dội ngược " vì nếu như thế thì người thanh niên này có lẽ đã là nạn nhân của một cuộc tàn sát hung bạo , chẳng hạn như y có thể là một người lính Ba Lan bị quân Đức Quốc Xã của Hitler sát hại .

Trái lại , ở đây chúng ta thấy nghiệp báo ứng vào chính thể xác của y : Nó trở thành một vật khí dụng cho y dùng để trả quả . Bịnh mất máu làm cho cơ thể yếu đuối suy nhược suốt một đời , chính là một cơ hội trả quả nặng nề đau đớn hơn và có một ý nghĩa giáo dục rộng rãi hơn là một cái chết vì đao kiếm trên bãi chiến trường . Linh hồn này đã làm đổ máu cả một dân tộc để làm thỏa mãn tham vọng chinh phục đất đai . Trong kiếp này sự yếu đuối bất lực so bịnh thiếu máu gây nên làm cho y chịu quả báo một cách tượng trưng .

Điều này có vẻ hình như hoang đường , nếu chúng ta không quen với những quan niệm thuộc về loại đó , qua sự phát minh gần đây về những sự tương quan giữa linh hồn và thể xác theo khoa Tâm Bịnh Học ( Psychosomatique ) .


( CÒN TIẾP )




June 2012
M T W T F S S
May 2012July 2012
1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30