( TIẾP THEO )
Trong trường hợp lý thú hơn nữa là của một đứa trẻ khác mà cuộc soi kiếp cho biết rằng về sau y có thể trở nên một y sĩ có tài . Những thói xấu mà cuộc soi kiếp trước cũng đã bắt đầu biểu lộ sớm , cùng một lượt với sự thích thú đặc biệt về nghành y học . Vào năm tám tuổi , y đã bắt đầu mổ xác những con thú đã chết để xem cơ thể bên trong con thú như thế nào . Chưa đầy mười tuổi , y đã xem một cách say mê những bộ sách tự điển Y Khoa , và năm mười hai tuổi , y cho cha mẹ biết rằng y có ý muốn sẽ vào trường Đại Học John Hopkins để theo nghành Y khoa . Cha của đứa trẻ là một nhà kinh doanh thương mại ở New York , mẹ y là một nữ tài tử . Lúc đầu , cha mẹ y đều phản đối ý định học Y khoa của y và khuyên hãy bỏ ý định ấy . Nhưng đứa trẻ cương quyết giữ lập trường và sau cùng đã thắng mọi trở lực . Hiện nay y đang học lớp dự bị về khoa Lý Hóa Sinh tại một trường Đại Học lớn ở miền đông Hoa Kỳ . Trường hợp này chứng tỏ một lần nữa về năng khiếu Thần Nhãn thật sự của ông Cayce , vì ông đã nhìn thấy kiếp trước của đứa trẻ và chắc chắn rằng những khả năng đặc biết của y sẽ biểu lộ ra ở kiếp này .
Những thí dụ kể trên chỉ rằng những cuộc soi kiếp của ông Cayce có một giá trị rất lớn về sự tiên đoán tương lai , không những của trẻ sơ sinh mà cũng của những người lớn . Một cô điện tín viên ở nhà Bưu điện thành phố New York lấy làm vô cùng ngạc nhiên về những bức điện tín lạ lùng mà cô đã đánh đi nhiều lần về Virginia Beach . Cô ấy mới hỏi thăm về ông Cayce và quyết định yêu cầu ông soi kiếp cho cô . Nhờ đó , cô biết rằng cô sẽ theo đuổi nghề nghiệp điện tín viên , và tốt hơn cô nên học về nghành vẽ quảng cáo , vì trong nhiều kiếp trước , cô đã là một nghệ sĩ có tài về nghành này . Cô ấy không hề có ý nghĩ theo đuổi một nghệ thuật nào , dầu là kỹ nghệ họa hay bất cứ nghành nào khác , nhưng cô ấy có đủ can đảm để học thử và xin ghi tên học ở một trường nọ . Cô lấy làm vô cùng ngạc nhiên mà thấy rằng cô có năng khiếu và đã thành công rất mau chóng với nghành kỹ nghệ họa , đồng thời cô cũng được cải tiến rất nhiều về nhân cách của mình .
Với thời gian trôi qua , ông Cayce càng nhận thấy rằng những cuộc soi kiếp của ông đã giúp ích cho rất nhiều người . Ông càng vững đức tin hơn trước , khi thấy rằng công việc của ông làm là chánh đáng vì nó gây nên những kết quả tốt đẹp . Có nhiều người được hướng dẫn theo những nghề nghiệp thích hợp với họ , những người khác nhận được những lời chỉ giáo san bằng mọi sự khó khăn trong đời sống gia đình , những người khác nữa đã tìm cách tự biết mình và tập hòa mình một cách thích nghi với đời sống xã hội .
Những điều kể trên đã lần lần thuyết phục ông Cayce về tánh cách chân thật và xác đáng của những cuộc soi kiếp bằng Thần Nhãn cũng như của sự giải thích mà nó đưa ra về định mệnh của con người . Nhưng điều nó làm cho ông tin tưởng hơn hết là cái tinh thần Gia Tô giáo thâm sâu , tiềm tàng trong những điều mà cuộc soi kiếp đã tiết lộ cho ông biết - và hơn nữa - cái tinh thần Gia Tô giáo đó lại được đưa ra một cách dễ dàng và thích nghi trong khuôn khổ của thuyết Luân Hồi .
Một cuộc soi kiếp ít khi nào mà không nêu ra một đoạn sách trong Thánh Kinh hay một điều giảng dạy của đấng Christ . Những câu dẫn chứng thông thường nhất là những lời dạy của đấng Christ như sau : " Ngươi gặt hái những gì ngươi đã gieo " và " Hãy làm cho kẻ khác những gì ngươi muốn kẻ khác làm cho ngươi " . Đôi khi đó là những câu chú thích theo đúng nguyên văn hoặc phác họa thêm ít nhiều tư tưởng theo nguyên văn , chẳng hạn như : " Ngươi chớ lầm lạc . Không ai có thể kiêu ngạo Chúa Trời ! Vì ai gieo giống nào sẽ gặt giống nấy " . Và : " Con người luôn luôn là cái hậu quả của chính mình . Ngươi hãy làm điều lành cho những kẻ đã phỉ báng nhục mạ ngươi , rồi ngươi sẽ cứu chuộc được những điều tội lỗi mà chính ngươi đã gây ra cho kẻ khác " .
Những lời dẫn chứng kể trên là để răn dạy những người bị bịnh tật đau khổ , do hậu quả của những điều tội lỗi mà họ đã gây ra trong một kiếp trước .
Khi sự hứng khởi nồng nhiệt lúc ban đầu đã lắng dịu , thì nhóm người chung quanh ông Cayce mới bắt đầu đặt những câu hỏi về những điều đã tiết lộ trong các cuộc soi kiếp của chính họ . Trước hết họ muốn biết tại sao có một vài thời kỳ trong lịch sử luôn luôn tái diễn trở đi trở lại trong các cuộc soi kiếp . Nhiều người lại có chung một bối cảnh lịch sử giống như nhau ; nói tóm lại , những điều diễn tả trong các cuộc soi kiếp hình như đều rập theo một khuôn khổ . Các cuộc soi kiếp thường nêu ra một loạt các thời kỳ sau đây : Thời đại Atlantide , Đế quốc La Mã , Thời kỳ Thánh Chiến ( Croisades ) và lúc khởi đấu thời kỳ khai mở thuộc địa ở Bắc Mỹ . Một loạt khác gồm có : Châu Atlantide , Ai Cập , La Mã , nước Pháp thời Louis 14 , 15 và 16 , và Giặc Phân Ly ( Secession ) ở Hoa Kỳ . Lẽ tự nhiên , cũng có những trường hợp khác , gồm có Trung Hoa , Ấn Độ , Cao Miên , Pérou , Bắc Âu , Phi Châu , Trung Mỹ , Ý , Tây Ban Nha , Nhật Bổn , và nhiều xứ khác ; nhưng phần nhiều các cuộc soi kiếp đều noi theo một khuôn khổ lịch sử như nhau .
Theo ông Cayce , lý do của sự kiện trên là vì những linh hồn thuộc về một thời kỳ lịch sử nhất định , về sau thường chuyển kiếp đầu thai chung một lượt ở một thời kỳ khác . Trong những thế kỷ ở khoảng giữa , thì những nhóm linh hồn khác lại chuyển kiếp xuống trần theo đúng phiên bản của họ . Sự thay phiên đầu thai từng nhóm một một cách có quy củ , trật tự như vậy cũng giống như sự thay phiên từng toán thợ làm việc trong một cơ xưởng . Bởi đó , phần nhiều những linh hồn đang sống trên thế gian hiện nay , đều đã cùng đầu thai với nhau một lượt ở những thời kỳ quá khứ trong lịch sử . Ngoài ra , những linh hồn có sự liên lạc gia đình , bè bạn hoặc đồng lý tưởng với nhau , có thể đã cùng có những nhân duyên với nhau trong những kiếp trước .
Một câu hỏi khác được nêu ra : " Những tài liệu đó do đâu mà có ? " . Câu trả lời là : Ông Cayce nằm trong giấc ngủ thôi miên , có thể thâu thập những tài liệu đó ở hai nơi . Một là trạng thái vô thức của người đang được soi kiếp . Trạng thái vô thức này giữ lại ký ức của tất cả những kinh nghiệm mà đương sự đã trải qua , không những trong kiếp này mà cũng gồm luôn những kinh nghiệm ở những kiếp trước . Những ký ức thuộc về kiếp trước được che khuất , ẩn tàng trong những chỗ thâm sâu kín đáo nhất của tiềm thức , ngoài vòng hiểu biết và thực nghiệm của khoa Tâm lý học hiện đại .
Ngoài ra , tiềm thức của một người là một lĩnh vực dễ thăm dò bằng tiềm thức của một người khác , hơn là bằng trạng thái ý thức , chẳng khác nào như một cảnh hỗn độn của một thành phố lớn , người ta có thể đi từ chỗ này đến chỗ kia bằng đường xe điện ngầm ( metro ) một cách dễ dàng mau chóng hơn là bằng những phương tiện khác ở trên mặt đất . Bởi lẽ đó , trong trạng thái thôi miên , linh hồn ông Cayce tiếp xúc với linh hồn đương sự một cách trực tiếp bằng tiềm thức . Sự giải thích này có thể được chấp nhận một cách dễ dàng ; nó phù hợp , ít nhất là một phần nào , với những sự phát minh của khoa phân giải tâm lý ( psychanalyse ) về cuộc đời và trạng thái vô thức .
Nhưng còn cái nguồn gốc thứ hai đã giúp tài liệu cho ông Cayce , thì dường như rất lạ lùng . Những cuộc soi kiếp gọi đó là những " ký ức của không gian " ( Clichés Akashiques ) . Như thường lệ , mỗi khi nói đến một danh từ lạ và khó hiểu , ông Cayce đánh vần từng chữ trong giấc thôi miên của ông : Akasha : Danh từ ; Akashique : Tĩnh từ . Nói tóm tắt , ông Cayce giải thích danh từ ấy như sau :
" Akasha là danh từ Phạn nhữ ( sanskrit ) dùng để chỉ chất dĩ thái tinh hoa căn bản của Vũ Trụ . Chất ấy có cái tác dụng như một cái phim ảnh hay một cuốn phim chiếu bóng , trên đó được ghi nhận một cách rõ ràng không bao giờ mất những âm thanh , ánh sáng , cùng mọi hành vi , tư tưởng của con người và tất cả mọi sự gì ra trong vũ trụ kể từ thuở Vô Cực . Chính nhờ đó sự ghi nhận trong ký ức của không gian đó mà những bị có Thần Nhãn có thể nhìn thấy dĩ vãng như đọc một quyển sách phơi bày từng trang trước mặt họ , dầu cho những sự việc xảy ra đã cách xa hằng bao nhiêu thời gian trong quá khứ . Chất Akasha cò thể được coi như một cái máy chụp ảnh vĩ đại của Vũ Trụ . Cái khả năng thấy ký ức của Thiên Nhiên trên chất Akasha đó vốn tiềm tàng ở mọi người trong chúng ta : Nó tùy nơi mực độ nhậy cảm của mỗi người , và tùy nơi chúng ta có thể đặt mình vào một trạng thái thụ cảm thích nghi , cũng ví như khi chúng ta bắt đúng luồn sóng vô tuyến trên máy thu thanh để nghe âm nhạc vậy " . Trong khi thức tỉnh , ông Cayce không có thể đặt mình vào trạng thái thụ cảm thích nghi , để " Bắt đúng luồn sóng " như đã kể trên , nhưng trái lại trong giấc ngủ thôi miên ông có thể làm được điều ấy .
Trong tất cả những điều bí ẩn mà ông Cayce đã thốt ra trong giấc thôi miên , thì đó là điều mà ông cho là lạ lùng nhất . Tuy thế , đáp lại những câu hỏi hoài nghi về vấn đề này , ông đều luôn luôn trả lời như nhau , có khi thì dùng những danh từ giống nhau , có khi thì thêm vào những chi tiết phụ thuộc . Có nhiều khi , ông nói thêm rằng những sự ghi nhận trên chất Akasha cũng có thể gọi là " Ký ức của Vũ Trụ " hay " Quyển sách Thiên nhiên " .
Ông Cayce cũng đưa ra những sự giải thích đã có từ nhiều thế kỷ trước về chất Akashạ Nền Triết học cổ Ấn Độ đã từng nói rằng căn bản của vật chất vốn hư không ; vật chất là sự kết tinh của một sức mạnh gọi là sinh lực ; và cũng nói về sự chuyển di tư tưởng bằng phương pháp Thần giao cách cảm , và những điều này gần đây đã được khoa học Âu Tây xác nhận . Vậy tại sao chúng ta không có một thái độ cởi mở để chấp nhận ít nhất là tiềm năng của chất Akasha , cũng là một quan niệm khác của Triết học Ấn ? . Sự giải thích bằng trạng thái vô thức có thể chấp nhận được trong việc soi kiếp cho những người khác , nhưng làm sao giải thích hiện tượng này là ông Cayce đã nói rất nhiều chi tiết đầy đủ , nó tuôn tràn một cách dồi dào như suối chảy trong những cuộc khán nghiệm sưu tầm về những thời đại cổ xưa ở châu Atlantide , Ai Cập , và thời kỳ của đức Chúa Jesus ? .
Có thể nào ông đã góp nhặt tài liệu trong tiềm thức của những người đã từng sống vào những thời kỳ đó chăng ? . Mặc dầu họ không phải là những người đến nhờ ông soi kiếp ? . Hay ông Cayce đã khám phá ra những điều đó trong ký ức của Lịch Sử , được ẩn dấu tiềm tàng và giữ gìn nguyên vẹn trong những cõi vô hình huyền bí của Vũ Trụ ? . Sau cùng ông Cayce đã chấp nhận quan niệm về chất Akasha , không phải vì ông có một bằng chứng tuyệt đối về đều ấy , mà bởi vì nó đã được xác nhận trong những cuộc khán nghiệm bằng Thần Nhãn ; và những cuộc khán nghiệm của ông về tất cả mọi vấn đề từ trước đến nay đều đúng đắn và hoàn toàn đáng tin cậy .
Có lẽ sự dùng Thần Nhãn để nhìn thấy những sự việc đã xảy ra trong quá khứ cũng có thể được giải thích bằng những cách khác ; và cũng có lẽ trong tương lai , một nhà bác học hiện đại nào đó có thể chứng minh sự thật về chất Akasha , và điều này rốt cuộc cũng không phải bí mật lạ lùng gì hơn những hiện tượng đã có , chẳng hạn như luồng sóng vô tuyến , tánh chất phóng quang của chất radium , nguyên tử lực , hoặc trí nhớ của bộ Óc con người , và sự truyền cảm của bộ Thần kinh hệ . Dầu sao , những cuộc soi kiếp của ông Cayce và sự đúng đắn một lạ lùng của nó là một sự thật hiển nhiên . Trong khoảng 22 năm trường , bắt đầu từ năm 1923 trở đi là năm mà ông Cayce bắt đầu soi kiếp và khán bịnh bằng Thần Nhãn , cho đến năm 1945 là năm ông từ trần , ông đã soi kiếp cho tất cả độ 2.500 người . Cũng như những cuộc khán bịnh bằng Thần Nhãn , những cuộc soi kiếp đều được ghi chép trong các tập hồ sơ và được giữ gìn cẩn thận . Nhiều thơ từ văn kiện đã chứng minh cho sự đúng đắn của nhiều cuộc soi kiếp , mỗi khi có đủ bằng chứng xác nhận về sự đúng đắn của những điều đã tiết lộ . Những người nào muốn tìm biết sự thật về những điều này vẫn còn có thể chất vấn nhiều người hiện nay còn sống và đã từng được ông Cayce soi kiếp cho họ .
Như vậy , nếu chúng ta có thể tin tưởng nơi tánh cách chân thật của những tập hồ sơ văn kiện lạ lùng đó và sự giải đáp của nó về những bài toán bí hiểm của cuộc đời , thì ta đã có trong tay một số tài liệu khổng lồ và hiếm có về vấn đề này . Trước hết chúng ta có một số bằng chứng cụ thể hiển nhiên về luật Luân Hồi , là một nguyên tắc tiến hóa căn bản của con người . Và tất cả những yếu tố kể trên cũng chưa đủ để hoàn toàn thuyết phục chúng ta , thì ít nhứt nó cũng đáng để cho chúng ta chú ý vì mục đích khảo cứu và sưu tầm khoa học . Có biết bao nhiêu những cuộc phát minh lớn lao vĩ đại , lúc ban đầu cũng chỉ căn cứ trên những giải thuyết lạ lùng và khó tin . Khi người ta hỏi nhà bác học Einstein bằng cách nào ông ta đã phát minh ra thuyết Tương Đối luận , ông đáp :
- Tôi chỉ thử đặt một nghi vấn về một định lý .
Ngoài ra , chúng ta còn có một số tài liệu rất dồi dào về tâm lý , y lý và triết lý , nó d8em đến cho ta một tầm kiến thức rộng rãi và khác hẳn về cuộc đời .
Trong khoảng hai mươi hai năm đó có biết bao nhiêu người đau khổ tuyệt vọng đã tìm đến ông Cayce và đã được ông săn sóc giúp đỡ do sự hiểu biết thâm sâu và năng khiếu Thần Nhãn của ông . Họ bị đủ thứ đau khổ bịnh tật về thể xác lẫn tinh thần , và tất cả đều muốn tìm sự giải đáp cho câu hỏi sau đây :
- " Tại sao sự đau khổ này lại đến cho tôi ? "
- " Nguyên nhân vì đâu mà tôi bị sự đau khổ này ? " .
Không phải tất cả những trường hợp đó đều là nguy cấp hay tuyệt vọng . Có nhiều người xem ra thì những kiếp trước họ cũng tầm thường như kiếp này , vì không có gì đặc biệt . Nhưng , dầu cho sự đau khổ của họ nặng hay nhẹ , các cuộc soi kiếp đã chỉ cho thấy rằng cái thân phận và hoàn cảnh hiện thời của họ là cái kết tinh của bao nhiêu nhân và quả nối tiếp lẫn nhau như những cái khoen của một sợi dây xích và bắt đầu từ nhiều thế kỷ trước . Tất cả đều đã được chỉ cho thấy rằng những bịnh tật , thống khổ của họ bây giờ đều có nguyên nhân xa hay gần , do sự hành động của một định luật căn bản gọi là Luật Nhân Quả .
Những gì họ đã nghe và học hỏi đã làm cho họ thay đổi cuộc đời ; sự hiểu biết thâm sâu về bài học Nhân Quả đã giúp cho họ một nguồn an ủi cùng tìm thấy sự thăng bằng và an tịnh của tâm hồn .
Nếu người ta chấp nhận tánh cách chân thật của những cuộc soi kiếp , người ta cũng phải nhìn nhận sự kiện này là nó đã làm đảo lộn trí óc và quan niệm của họ về cuộc đời . Tầm quan trọng của sự việv kể trên không phải là nó đem đến cho ta một giả thuyết mới : đó là một lý thuyết rất cổ xưa và đã từng là một điều tín ngưỡng của nhiều dân tộc rải rác ở nhiều miền lục địa trên quả địa cầu . Những cuộc soi kiếp của ông Cayce có một tầm quan trọng vì hai điều này :
* Điều thứ nhất : đây là lần đầu tiên ở Âu Mỹ mà người ta đã có được những bản phúc trình đúng đắn mạch lạc , rõ ràng và đáng tin cậy về những kiếp trước của một số nhiều người .
* Điều thứ hai : đây là lần đầu tiên trong lịch xử thế giới , những bản phúc trình đó được ghi chép và sắp thành hồ sơ có ngăn nắp , trật tự , để cho mọi người có thể tra cứu , sưu tầm . Ngoài ra , những cuộc soi kiếp của ông Cayce đã hợp nhứt triết lý Đông Tây càng thêm phần sinh sắc . Nhờ đó , chúng ta đã có một sự tổng hợp rất cần thiết giữa hai quan điểm triết học khác nhau của Đông Phương và Tây Phương .
Những cuộc soi kiếp bằng Thần Nhãn của ông Cayce cũng đã tổng hợp khoa học cà tôn giáo bằng cách chỉ cho ta thấy rằng cõi giới tinh thần được cai quản bởi những định luật Nhân Quả một các đúng đắn cũng y như cõi giới vật chất . Nó cho ta thấy rằng sự đau khổ của con người không phải là do một sự rủi ro tình cờ theo quan niệm duy vật , mà là do bởi những tư tưởng và cách hành động sai lầm trong quá khứ . Nó chỉ rằng những sự sai biệt và bất đồng giữa thân thế , hoàn cảnh và khả năng của người đời không phải là do ý muốn độc đoán của Thượng Đế hay là do ảnh hưởng mù quáng của sự di truyền , mà nó chỉ là cái kết quả của những hành động và cách xử thế của con người trong kiếp trước .
Mọi sự đắng cay , thất bại , buồn rầu đều có một ý nghĩa và mục đích giáo hóa chúng ta về đướng xử thế ; những bệnh tật tai ương xảy đến cho ta đều có một nguyên nhân sâu xa về tinh thần . Và tất cả những sự quằn quại đau khổ đều là những bài học quý mà chúng ta thọ lãnh trên trường học lớn của thế gian , ngõ hầu trong tương lai nó sẽ đưa chúng ta đến cái mục đích Minh Triết và Toàn Thiện .
CHƯƠNG 4
VÀI LOẠI QỦA BÁO XÁC THÂN
Những người tàn tật , đui què , câm điếc , những người bị các chứng nan y , đó là những thí dụ rõ rệt nhứt về sự đau khổ của người đời . Đứng trước những cảnh đau khổ đó , chúng ta cảm thấy một lòng trắc ẩn sâu xa và thấm thía . Khi mà một trong những cảnh khổ đó xảy đến cho ta , khi chúng ta gặp phải những cảnh ngộ đắng cay , trái ngược , chúng ta có lẽ đâm ra hoài nghi về lòng nhân từ bác ái của đấng Tạo Hóa . Có lẽ chúng ta sẽ tự hỏi : " Tại sao tôi bị sự đau khổ này ? . Và tại sao cảnh khổ này lại xảy đến cho tôi ? " .
Anh X... Là một người hiền lành và đức hạnh hơn người . Anh đã bị mất hết gia tài , sản nghiệp và tất cả mấy đứa con anh đều chết hết , anh chịu đựng những cảnh khổ đó một cách kiên nhẫn và không phàn nàn rên siết . Nhưng khi anh bị một chứng bịnh kỳ quái làm toàn thân anh đều nổi các mụt nhọt lở loét , ghê tởm , thì anh X..... bèn nguyền rủa Thượng Đế lần đầu tiên , và cũng lần đầu tiên , anh la lên trong cơn tuyệt vọng để tìm biết lý do những sự đau khổ đã xảy đến : " Ai có thể nói cho tôi biết , rồi tôi sẽ im lặng và an phận . Tôi đã gây nên những tội lỗi gì ? " .
Nói rằng nguyên nhân sự đau khổ là do bởi những hành động sai lầm , tội lỗi gây ra , thì người thời nay thường cho đó là một điều dị đoan , di sản của những tôn giáo cổ xưa đã lỗi thời . Ít người chịu suy nghĩ và nhìn nhận điều đó . Tuy vậy , theo những cuộc soi kiếp của ông Cayce , thì tội lỗi và đau khổ đi liền với nhau như bóng với hình , và giữa Nhân với Quả vốn có một sự liên quan chắt chẽ .
Để hiểu rõ cái quan niệm trên , nó làm nền tảng cho những cuộc soi kiếp của ông Cayce , ta cần hiểu ý nghĩa của danh từ Karma , là danh từ duy nhất giải thích ý nghĩa về vấn đề Nhân Quả . Karma là một danh từ Phạn ngữ , có nghĩa là hành động . Nhưng theo ý nghĩa về triết học , thì nó định nghĩa Luật Nhân Quả , là một định luật cai quản và chi phối mọi hình thức sinh hoạt trong Trời Đất . Ông Emerson là người đã từng hấp thụ và tin tưởng nền Triết học Ấn Độ , gọi đó là Luật Thừa Trừ . Đấng Christ cũng đã nói về luật ấy một cách gọn gàng giản dị trong câu : " Ngươi sẽ gặt những gì ngươi đã gieo " . Định lý khoa học của Newton nói rằng : " Mỗi hành động đều gây nên một phản ứng tương đương và ngược chiều " , áp dụng trên cả hai phương diện vật chất lẫn tinh thần .
Những cuộc soi kiếp của ông Cayce làm cho người ta thích thú say mê vì nó khám phá ra tận nguồn gốc của những bịnh tật đau khổ trong kiếp hiện tại , truy nguyên ra từ những hành động ở những kiếp quá khứ , và làm sáng tỏ một cách rõ ràng cái quan niệm trừu tượng về Nhân Quả . Một sự nghiên cứu tỉ mỉ về những trường hợp đã khán nghiệm co biết rằng có nhiều loại quả báo khác nhau . Một trong những loại đó có thể gọi là " Quả Báo Dội Ngược " , nghĩa là một hành động gây tổn thương cho kẻ khác , kết quả sẽ dội ngược trở về bản thân của đương sự .
Trong những tập hồ sơ của ông Cayce , có nhiều thí dụ về loại quả báo này , mà một trường hợp được kể ra như sau :
Một vị giáo sư dạy nhạc , lúc mới sinh ra đã bị mù mắt , có nghe nói về ông Cayce trong một chương trình phát thanh " Những Sự Mầu Nhiệm " . Ông bèn đến nhờ ông Cayce khán bịnh và sau một thời gian chạy chữa theo sự chỉ dẫn của ông Cayce , ông ta cảm thấy khá nhiều . Ba tháng sau , ông đã thuyên giảm được 10 phần trăm về con mắt bên trái , mà các nhà chuyên môn về bịnh đau mắt cho là đã hoàn toàn hỏng . Kế đó , một cuộc soi kiếp cho thấy rõ ràng tất cả bốn tiền kiếp của ông ta : Kiếp thứ nhất ở Bắc Mỹ hồi thời kỳ Chiến tranh Phân Ly ( Secession ); kiếp thứ nhì ở Pháp hồi thời kỳ Giặc Thánh Chiến ( Croisades ) ; kiếp thứ ba ở Ba Tư vào khoảng 1.000 năm trước Tây lịch ; và kiếp thứ tư ở Châu Atlantide trước khi xảy ra cuộc Đại Hồng Thủy . Chính trong kiếp thứ ba ở Ba Tư , ông ta đã gây nên cái nhân ác nó báo ứng bằng sự mù mắt của ông ta trong kiếp này . Hồi đó , ông ta có chân trong một bộ lạc dã man có tục lấy dùi sắt nhọn nung đỏ châm vào mắt những tù binh , và chính ông ta là đao phủ quân hành tội các tù nhân bằng cách đó .
Một thí dụ thứ hai đáng được ghi nhớ là trường hợp của một thiếu nữ làm nghề sửa móng tay , bị chứng liệt bại cả hai chân từ khi mới lên một tuổi . Cô này không thể đi đứng gì được , nếu cô không dùng nạng chống và những dụng cụ nối xương nhân tạo . Cuộc soi kiếp tiết lộ rằng nguyên nhân của bịnh trạng cô bây giờ là do một tiền kiếp ở Châu Atlantide . Trong kiếp đó , cô đã dùng những phép thuật tà đạo để làm cho kẻ khác bị yếu mềm cả tay chân , trở nên bất lực và chịu để cho cô sai khiến . Bởi vậy trong kiếp này cô phải chịu quả báo về sự tổn thương mà cô đã gây ra cho kẻ khác ( Trong cuộc soi kiếp , ông Cayce thường dùng chữ " Linh hồn " để chỉ đương sự , vì con người vốn là một linh hồn bất tử đầu thai từ kiếp này sang kiếp khác để học hỏi những bài học kinh nghiệm cần thiết trên đường tiến hóa đưa đến mức Toàn Thiện )
Một thí dụ thứ ba về quả báo dội ngược được kể ra như sau : Một người đàn bà 40 tuổi từ lúc nhỏ bị một chứng bịnh kỳ lạ . Mỗi khi cô ăn một vài thức ăn như bánh mì , hoặc chất ngũ cốc , thì bị nhảy mũi dữ dội như bị chứng sổ mũi hoặc cảm cúm . Khi cô dùng đến một vài thứ đồ vật dụng , nhất là đồ bằng da hay bằng chất nhựa ( plastique ) thì lại cảm thấy đau nhói dữ dội ở bên hông trái . Cô đã đi khám bịnh với nhiều bác sĩ , nhưng không có kết quả , và cho biết rằng cô chỉ thấy bớt trong những cuộc chữa bịnh bằng thôi miên lúc 25 tuổi . Sự thuyên giảm đó kéo dài được sáu năm , nhưng triệu chứng cũ lại tái phát . Cô đến nhờ ông Cayce chữa bịnh . Cuộc soi kiếp tiết lộ rằng : " Trong một tiền kiếp , linh hồn này làm nghề bào chế sư , y đã dùng nhiều chất hóa học để gây tổn thương cho kẻ khác . Bởi đó y bị hành xác bằng những chất hóa học trong kiếp này . Linh hồn này cũng đã dùng một vài chất độc để làm cho kẻ khác bị nghẹt thở , bởi đó ngày nay ông bị nhiễm độc bởi một vài chất kim khí , chất nhựa , và đồ da thuộc bằng chất hóa học... " .
Một loại quả báo thứ nhì trên địa hạt vật chất có thể được gọi là quả báo về xác thân , theo đó sự lạm dụng cơ thể trong một kiếp sẽ gây nên quả báo thích nghi trong một kiếp sau . Đây là một ví dụ : Một người đàn ông 35 tuổi , từ thuở nhỏ đã bị chứng đau ruột và bộ máy tiêu hóa . Y phải ăn uống kiêng cữ gắt gao và chỉ dùng được một vài thức ăn giản dị mà thôi , và mặc dầu như thế , y cũng tiêu hóa các bữa ăn của y một cách khó khăn , sau nhiều giờ vất vả và mệt nhọc . Chứng bịnh này gây cho y rất nhiều điều bất tiện , và gây trở ngại không ít trong đời sống ngoài xã hội . Cuộc soi kiếp của ông Cayce tiết lộ cho biết nguyên nhân của bịnh trạng này là trong một tiền kiếp dưới trào vua Louis 13 bên Pháp , y làm chức hầu cận của nhà vuạ Y thừa hành chức vụ một cách tận tâm và chu đáo , nhưng y có tật tham ăn và ăn uống quá độ . Trong một kiếp trước nữa , khi y làm nghề y sĩ dưới triều vua nước Ba Tư , y cũng ăn uống vô tiết độ . Như thế trong hai kiếp , y đã phạm cái lỗi về tâm lý là lạm dụng sự ăn uống để tìm khoái lạc của nhục thể . Điều này làm đảo lộn sự quân bình trong trạng thái tâm lý của y , và phải được thừa trừ bằng một cách nào đó trong kiếp hiện tại . Quả báo về xác thân làm cho y bị đau bộ máy tiêu hóa , và bắt buộc y phải hạn chế ăn uống trong kiếp này .
Một loại quả báo thứ ba về thân xác mà người ta thường thấy trong nhũng cuộc soi kiếp của ông Cayce , có thể gọi là " Quả báo Tượng Trưng " . Đây là một loại quả báo rất lạ kỳ và thú vị nhứt trong các loại quả báo về thể xác . Một trường hợp của loại quả báo này được kể ra như sau : Ông Cayce có soi kiếp cho một người thanh niên bị bịnh thiếu máu từ thuở nhỏ . Y là con của một vị bác sĩ , bởi đó y đã được săn sóc thuốc thang và chạy chữa đủ cách , nhưng vẫn vô hiệu quả . Một chứng bịnh nan y như thế hẳn là phải có một nguyên nhân rất sâu xạ Cuộc soi kiếp cho biết rằng trong một tiền kiếp ở xứ Perou , đã năm kiếp về trước , linh hồn này làm tướng đem quân chiếm đoạt xứ ấy một cách bạo tàn . Trong cuộc soi kiếp , ông Cayce nói : " Cuộc chiến tranh đó đã làm cho bao nhiêu đầu rơi máu chảy , gây nên một thảm họa lưu huyết rất lớn . Bởi đó trong kiếp hiện tại của linh hồn nầy , y bị bịnh mất máu , không sao chạy chữa " .
Chúng ta sẽ hiểu rõ ý nghĩa câu này hơn , nếu chúng ta so sánh với trường hợp quả báo vềt thể xác , vì tội lỗi của người này không phải do sự lạm dụng một bộ phạm nào trong cơ thể của y . Đây cũng không phải là một trường hợp " Quả báo dội ngược " vì nếu như thế thì người thanh niên này có lẽ đã là nạn nhân của một cuộc tàn sát hung bạo , chẳng hạn như y có thể là một người lính Ba Lan bị quân Đức Quốc Xã của Hitler sát hại .
Trái lại , ở đây chúng ta thấy nghiệp báo ứng vào chính thể xác của y : Nó trở thành một vật khí dụng cho y dùng để trả quả . Bịnh mất máu làm cho cơ thể yếu đuối suy nhược suốt một đời , chính là một cơ hội trả quả nặng nề đau đớn hơn và có một ý nghĩa giáo dục rộng rãi hơn là một cái chết vì đao kiếm trên bãi chiến trường . Linh hồn này đã làm đổ máu cả một dân tộc để làm thỏa mãn tham vọng chinh phục đất đai . Trong kiếp này sự yếu đuối bất lực so bịnh thiếu máu gây nên làm cho y chịu quả báo một cách tượng trưng .
Điều này có vẻ hình như hoang đường , nếu chúng ta không quen với những quan niệm thuộc về loại đó , qua sự phát minh gần đây về những sự tương quan giữa linh hồn và thể xác theo khoa Tâm Bịnh Học ( Psychosomatique ) .
( CÒN TIẾP )