Skip navigation.

Như Áng Mây Trôi

STICKY POST

Lê Trung Thành: "Còn đảng CSVN, còn cờ máu thì Việt-Nam không bao giờ có Độc-Lập Tự-Do

Ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh tuyên bố “độc lập” để rồi hàng năm vào cái ngày tối tăm đó đất nước mình dẫu đói nghèo vẫn phải oằn mình tổ chức “quốc khánh” rình rang tốn không biết bao nhiêu là tiền của, phô diễn cờ hoa rợp trời, quan chức đua nhau đọc diễn văn với các bữa tiệc xa xỉ vô tội vạ, cùng lúc đó thì hàng triệu người khác đang còng lưng trên những cánh đồng cằn cỗi với cái bụng đói meo, tất cả chỉ với một mục đích ca ngợi sự vẻ vang của Đảng đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi thực dân Pháp dành “độc lập” cho dân tộc.

Nhưng giờ đây nhân loại đã bước vào kỷ nguyên tin học với tốc độ truyền tải thông tin vô cùng khủng khiếp mà chắc chắn ông Hồ không thể nào tưởng tượng nổi, người Việt Nam giờ có thể dễ dàng tiếp cận hơn với nhiều “thông tin ngoài luồng”, nhiều anh chị mặt đỏ bừng bừng khi vô tình đi lạc vào một “website phản động” nào đó, một người bạn cũ còn kín đáo gởi tin nhắn vào blog của tôi với nội dung như sau: “lâu rồi mới vô đọc blog của mi, phản động quá, tau không có đủ can đảm để đọc hết bài nữa, lo học đi mi, việc nước đã có nhà nước lo ”. Và nhiều lần tôi đã cố giải thích cho bạn tôi hiểu rằng thực ra sau mùng 2 tháng 9 năm 45 nước ta không hề có độc lập, đó chỉ đơn giản là việc thay thế Chủ Nghĩa Thực Dân bằng Chủ Nghĩa Cộng Sản, mà chính ông Hồ là tay sai và lá cờ đỏ sao vàng mà ông ta mang về ngang nhiên bay trên bầu trời nước ta từ đó . Bài học năm xưa, lợi dụng người dân ít học ông Hồ đã khéo léo che đậy Chủ nghĩa Cộng Sản bằng cách kích động lòng yêu nước, bao nhiêu triệu người đã bỏ lại tuổi thanh xuân trong cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước “, chữ “cứu nước” là chữ linh thiêng nhất của Dân Tộc chúng ta vì nó gắn liền với suốt chiều dài lịch sử của Dân Tộc. Vì hai chữ đó người Việt Nam sẵn sàng hy sinh tất cả .

Nhưng than ôi, tất cả đã bị lừa và ngày hôm nay vẫn tiếp tục bị lừa. Dân tộc ta đâu thiếu người tài, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học, Lý Đông A, Huỳnh Phú Sổ, ... nhưng chỉ có Hồ Chí Minh là người gặp thời, thời của quỷ , chính xác là thời “quỷ đỏ” lộng hành , với tham vọng nhuộm đỏ cả địa cầu . Chúng ta hãy tưởng tượng xem nếu như ngày hôm nay khắp hoàn vũ này nước nào cũng bị áp bức bởi Chủ Nghĩa Cộng Sản thì sẽ ra sao ? Xin thưa tất cả hơn 6 tỷ người sẽ sống trong "thế giới đại đồng", lúc đó kinh đô ánh sáng Paris sẽ tăm tối như Bắc Hàn, và người dân New York cũng sẽ chèo thuyền đánh cá trên phố giống như Hà Nội của chúng ta . Tất cả sẽ bình đẳng , ai sinh ra cũng đói khổ như nhau , ai cũng mất nhân quyền như nhau , cũng được Đảng nhồi sọ như nhau, sẽ không còn ai ganh tỵ ai, tất cả sẽ không còn đấu tranh, cứ như thế sinh ra làm nô lệ, không chết vì già thì cũng chết vì kiệt sức. Đó là viễn cảnh một trái đất màu hồng của máu và nước mắt.

Chính vì hiểu được hiểm họa đó nên nước Mỹ với vai trò là một siêu cường có trách nhiệm phải đi tiên phong lãnh đạo các nước khác trong việc chặn đứng sự bành trướng của khối Cộng Sản trên thế giới , thế nên việc “ngụy Hồ” kêu gọi “chống Mỹ cứu nước” trên thực chất phải được hiểu đúng đắn là chống Mỹ cứu Chủ Nghĩa Cộng Sản. Chỉ có người dân quê thật thà chất phác là mù quáng tin theo những khẩu hiệu ngụy tạo đó , và có lẽ nếu tôi sinh ra dưới xã hội miền Bắc vào thời đó tôi cũng sẽ yêu nước mù quáng , sẽ cầm súng đi đánh Mỹ, sẽ nuôi giấu cán bộ, sẽ liều chết trong các cuộc xung phong, và nếu không bỏ mạng thì sẽ may mắn được sống cuộc sống ‘hòa bình” với tay cụt, chân cụt, đang ngồi chờ khách bơm xe ở dọc đường, hay về nhà đi cày với mảnh ruộng bé hơn hồi còn chiến tranh, vì hòa bình rồi thì người ta biến nó thành sân gôn hay các khu rì sọt để “sánh vai với các cường quốc năm châu”, rồi đời sống quá khổ, quá oan ức tôi cũng sẽ đi khiếu kiện như bao người khác, tôi sẽ kêu “thủ tướng ơi cứu dân”, “quốc hội ơi cứu dân”, đến một lúc kêu hoài chúng nó không nghe thì có khi với bản tính ngông cuồng cộng với việc hết đường sống, tôi lại đánh bom cảm tử cũng nên.

Chính vì thế nên tôi muốn nói rằng nếu không có lá cờ đỏ của ông Hồ mang về thì sẽ không có quá nhiều bi kịch trên đất nước như ngày hôm nay. Tất nhiên lịch sử không bao giờ nói nếu.

Và ngày 30 tháng 4 năm 1975, là ngày mà triệu người vui, triệu người buồn, nhưng triệu người vui kia thì cũng mếu máo không lâu sau đó. Từ đây nửa nước Việt Nam tự do đã chìm vào biết bao nhiêu khổ đau mà kể cho hết. Vết thương lịch sử này ngoài trách nhiệm của người Việt, cũng không thể không nhắc đến việc Mỹ đã phản bội đồng minh, vì cục diện chính trị lúc đó và vì chiến lược lâu dài, Mỹ đã để cho màu đỏ của máu loang lổ trên khắp miền Nam sau khi ký kết hiệp định Paris 1973, hiển nhiên Mỹ không thể thả nổi cho khối Cộng Sản bành trướng sang đến Mỹ nhưng ở một chừng mực nào đó vì lợi ích của nước Mỹ được cân nhắc kỹ càng thì Mỹ sẳn sàng thỏa hiệp với Cộng Sản cho dù thỏa hiệp đó sẽ giết chết hàng triệu người hay cả một dân tộc khác. Gần đây nhất trong bộ phim "Việt Nam Việt Nam" của đạo diễn John Ford được công bố sau 37 năm bị giấu kín, thượng nghị sĩ Ronald Reagan đã thừa nhận ".. chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ , cái giá phải trả cho loại hòa bình đó là ngàn năm tăm tối cho các thệ hệ sinh tại Viêt Nam về sau." Mỹ đã thua Cộng Sản trên chiến trường Việt Nam , nhưng trên chiến trường thế giới thì Mỹ đang thắng sau khi một loạt khối Cộng Sản Đông Âu và Nga Xô xụp đổ , đến trong tương lai gần thì Trung Cộng, Bắc Hàn và Việt Cộng cũng sẽ chịu chung số phận với ông tổ của chúng mà thôi.

Biết chắc chắn là Cộng Sản phải đến hồi suy vong nhưng cái hậu quả của nó để lại sau 33 năm hà hiếp dân tộc mới ghê gớm thay , biết bao nhiêu năm nữa mới phục hồi được môi trường sống đang bị phá hoại , bao nhiêu năm nữa mới cải thiện được nòi giống đang ngày một bệnh hoạn , và bao nhiêu năm nữa mới làm sáng lại đạo đức nhân phẩm của người Việt khi ngày một băng hoại . Tôi cảm thấy tiếc nuối vô cùng, tiếc cho cơ hội được sống tự do hạnh phúc của người Việt đã vỡ tan tành, tiếc cho những ai chưa từng và đã từng được “ghé bến sài gòn, là nơi du khách dập dồn từ 5 châu tới viếng thăm thủ đô, dòng sông chen chúc tàu đò , ngựa xe buôn bán hẹn hò , người dân no ấm sống đời tự do”, tự do thì đã mất ,tiếc nuối cũng đã muộn, mong sao con cháu thế hệ sau sẽ khắc cốt ghi tâm bài học của một nước nhược tiểu phải gánh chịu .

Sau mùng 2 tháng 9 năm 1945, ông Hồ đã đưa đất nước vào con đường khánh kiệt với những cuộc chết chóc triền miên chỉ vì ích kỷ thủ đắc riêng cho cái bản ngã đầy ắp tính man rợ của Quốc Tế Cộng Sản. Ở thời chiến thì người dân chết theo kiểu của thời chiến , nay thời bình thì chết theo kiểu thời bình, ví như giết “cường hào ác bá” trong cuộc cải cách ruộng đất , thảm sát hàng ngàn người dân vô tội ở Huế trong trận Mậu Thân, hay trên đại lộ kinh hoàng Việt Cộng đã hả hê mở một bửa tiệc thịt người khi nả đại pháo 130 ly và hỏa tiễn 122 ly vào người dân Quảng Trị đang rồng rắn kéo nhau dài hàng chục kilômét vào Huế để lánh nạn Cộng Sản, còn giờ đây thì người dân mất đất mất ruộng đói mà chết , ra đường sập hố ga hay xe đụng mà chết , ăn uống ngộ độc mà chết , đi làm giấy tờ bị hành lên hành xuống tức mà chết ...v .v..v rất nhiều kiểu chết và cứ ở đâu có Cộng Sản thì ở đó có phi lý, có bất công , có mùi tanh của máu , có xú uế của xác người nên người ta còn gọi cờ đỏ sao vàng với một cái tên dễ nhớ khác : Cờ Máu.

Ngày hôm nay vui mừng lắm khi ngày càng có nhiều người trẻ yêu nước chống Cộng quyết liệt, nhiều người không chống Cộng nhưng cũng yêu nước quyết liệt, nhưng tất cả nên là những người chịu khó tìm hiểu lịch sử trước đã .

Hãy nhìn xem cả thế giới đều rùng mình khi nghe nhắc đến Chủ Nghĩa Cộng Sản, và Quốc Tế Cộng Sản bị toà án quân sự thế giới lên án với tội ác chống lại hòa bình thế giới, tội ác chiến tranh, và tội ác chống lại con người . Những năm gần đây người Trung Quốc tự do đã ra mắt tác phẩm Cửu Bình (9 bài bình luận về Đảng Cộng sản Trung Quốc), tác phẩm đã phơi bày những tội ác những cuộc giết người man rợ mà Trung Cộng đã gây ra và vạch trần bản chất lưu manh tà giáo, phản con người , phản vũ trụ của Chủ Nghĩa Cộng Sản, người đọc sẽ không khỏi kinh hoàng và thương cảm cho dân tộc Trung Hoa luôn vổ ngực xưng hùng xưng bá giờ đây thê thảm đến như vậy , thật là khủng khiếp khi nhận được con số thống kê của thời báo Đại Kỷ Nguyên từ ngày 3 /12/2004 cho tới nay 13/3/2009 chỉ vỏn vẹn 4 năm 3 tháng mà đã đã có 51.193.607 người ký tên ủng hộ việc dẹp bỏ Đảng Cộng Sản ,tính ra trung bình một ngày gần 10 ngàn người thức tỉnh , điều đó như báo trước cái chết của Chủ Nghĩa Cộng Sản trên đất nước Trung Quốc chỉ còn là vấn đề thời gian . Còn ở Nga từ sau năm 1991 đã thay lá cờ búa liềm bằng lá cờ ba sọc trắng xanh đỏ có từ thời Nga Hoàng , những tượng đài Lênin đã bị tháo bỏ , viện Lênin nay đã đổi tên là Medical Biological Technologies , và nước Nga đã có kế hoạch sẽ mai táng cái xác ướp Lênin vào năm 2010 , trong khi ở Việt nam thì trẻ con cứ thắc mắc rằng “ ông Lênin ở nước Nga , sao ông lại đứng vườn hoa nước mình ...” , tất cả các lĩnh vực nghệ thuật, hội họa , văn thơ , phim ảnh, âm nhạc ... “trăm hoa đua nở” thỏa sức vạch trần tội ác Cộng Sản cho người dân được biết, người ta cũng đã đưa tội ác của chủ nghĩa cộng sản vào chương trình giáo dục học đường và rất nhiều lần trong những tiết học các em bé đã phản đối kịch liệt vì cho rằng làm sao mà con người có thể đối xử với nhau còn tệ hơn cầm thú như thế được ?! Thầy giáo chỉ biết nhăn mặt mỉm cười , đã qua rồi các em yêu mến ! qua rồi “thời đại của những lời nói dối tuyệt vời” .

Tôi nêu lên những điều này vì muốn nói rằng xã hội Việt Nam rồi cũng sẽ phải trải qua những giai đoạn y như thế, lá cờ vàng ba sọc đỏ chắc chắn sẽ lại tung bay ngạo nghễ trên quê hương Việt Nam, quốc ca sẽ không còn “xây xác quân thù”, lăng Hồ Chí Minh sẽ bị phá bỏ , tiền Việt Nam sẽ phải có hình hai bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo .v.v.. tất cả 64 tỉnh thành mỗi tỉnh sẽ có một viện bảo tàng tội ác Cộng Sản, cả Dân Tộc sẽ bừng tỉnh, cả Dân tộc sẽ xót xa đau đớn chen lẫn hạnh phúc trước quá nhiều sự thật sẽ được phơi bày, tất cả sẽ phải tiếp tục đấu tranh lâu dài và cam go trước là để lập lại trật tự xã hội, sau là để hoàn thiện dần dần nền dân chủ mà những nước láng giềng như Thái Lan, Singapore, Đài Loan, Nam Hàn, Nhật Bản đã bỏ quá xa rồi.

Càng nhìn lại lịch sử rồi đối chứng với hiện tại thì tôi lại càng căm phẫn tột cùng, khi gần 40 000 người Việt Nam đã hi sinh dưới lá cờ đỏ sao vàng trong cuộc chiến biên giới với Trung Cộng vào những năm 79, để rồi hôm nay vì quy phục quan thầy Bắc Kinh mà những hy sinh mất mát đau thương đó trở thành đề tài cấm kỵ trên tất cả các phương tiện truyền thông trong nước, học sinh thì không được học, sử gia thì không được đào sâu phân tích, nhà văn nhà thơ thì không được tự do xuất bản, ngay đến cả những người đồng đội anh dũng năm xưa, giờ đây cũng chỉ dám “đặt vòng hoa trong tâm tưởng”.

Trong khi đó lại có đến 40 nghĩa trang “Đời đời nhớ ơn các liệt sỹ Trung Quốc” trên đất nước Việt Nam. Tác phẩm Ma Chiến Hữu của nhà văn Trung Quốc Mạc Ngôn viết về cuộc chiến biên giới 1979, được phát hành trong nước với lời giới thiệu của nhà xuất bản như ca tụng về chủ nghĩa anh hùng của những người lính Trung Quốc đã xâm lược giết hại người dân Việt Nam. Và gần đây với “Vụ án Bôxít ”, Trung cộng đã âm thầm hủy diệt môi trường sống của người Việt đồng thời ngang nhiên đưa hàng ngàn công nhân chiếm đóng Tây Nguyên và những công nhân đó sẳn sàng cấm súng bất kỳ lúc nào , và tôi dám chắc rằng một ngày rất gần đây thôi chúng ta sẽ được nghe phát ngôn bộ ngoại giao Việt Cộng Lê Dũng hùng hồn lên tiếng “ Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử về chủ quyền của mình đối với TÂY NGUYÊN ”, rồi cũng giống như Hoàng Sa Trường Sa, Vịnh Bắc Bộ, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc mà thôi, việc của báo chí thì cứ lu loa khẳng định chủ quyền, còn việc mất đất mất biển là chuyện quốc gia đại sự nên chỉ một mình Đảng biết Đảng giải quyết.

Nói như thế để thấy rõ bản chất vong nô của Việt cộng và bản tính bá quyền lưu manh của Trung cộng , dù chúng nó thân thiết với nhau hay chúng nó quay sang đánh nhau thì chỉ có nước mình nhiễm độc , nước mình mất, dân mình khổ , dân mình chết thôi , chứ nhà nó vẫn to, xe nó vẫn sang, trương mục ngân hàng vẫn kếch xù từ sức lao động của nhân dâ , và dù bè lũ chính trị bộ có chạy theo Tàu hay theo Mỹ đi nữa nhưng chắc chắn rằng không có tên nào theo Dân Tộc mình, đối với chúng là nước Tàu hay nước Việt Nam có khác gì nhau, Tố Hữu đã báo trước rồi mà : “Bên kia biên giới là nhà, bên đây biên giới cũng là quê hương”.

Tôi biết nói những điều này với những người đã bị Đảng nhồi sọ quá lâu sẽ bị họ đấu tố là Việt gian phản động, họ sẽ dùng những lý lẽ như nhờ ơn “bác” ơn Đảng mà mới có ngày hôm nay độc lập tự do hạnh phúc , nhưng việc tôi sinh ra và lớn lên dưới lá cờ đỏ sao vàng không có nghĩa là nhờ lá cờ đó mà tôi được sống được học tập... , mà đúng ra vì “nó” mà tôi phải mất đi rất nhiều thứ vốn dĩ là quyền cơ bản của một con người . Nói dễ hiểu cũng giống như việc người ta nuôi nhốt những con chim từ lúc nó lọt lòng , khi lớn lên nó sẽ quanh quẩn với cái lồng , sống với “tư tưởng ăn ỉa có người dọn” trong khuôn khổ của cái lồng , được quyền tự do hót nhưng thường thì khi từ nhỏ người ta sẽ dạy cho nó hót những câu “đúng đắn và lặp đi lặp lại ” đại loại như “líu lo líu lo , Vì Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa - vì lý tưởng của bác Hồ vĩ đại - sẵn sàng” hay “huýt, huýt, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng văn minh”... , những chú chim hót hay này sẽ được người ta cho hưởng những đặc quyền đặc lợi , thức ăn ngon, chổ ở đẹp .... Còn tất nhiên biện pháp tốt nhất dành cho những con chim suốt ngày gào thét “két két , tự do , dân chủ , nhân quyền ” điếc tai thì sẽ bị đưa vào những “chuồng cải tạo với những tội danh rất lạ tai như “Phản động” “thế lực thù địch” “chống phá nhà nước XHCN” “âm mưu diễn biến hòa bình” .... và cải tạo đến chừng nào chịu hót đúng bài thì thôi , còn không thể cải tạo thì tìm mọi cách loại bỏ khỏi đời sống của loài chim. Cũng vì hoàn cảnh sống trong lồng tù túng cứt cơm lẫn lộn như thế, nên khi nghe thấy những chú chim khác hót ca kể về đời sống văn minh của loài chim tự do , nhiều chú chim trong lồng rất hoang mang không biết có thật mình đã bị đánh lừa suốt quãng đời qua không? Dù sao may mắn thay cho nòi giống của loài chim vẫn còn nhiều những con chim đại bàng khao khát tự do, phá cũi xé lồng oai hùng tung cánh tìm về với bầu trời xanh lơ.

Này bạn tôi ơi! Đất nước mình có độc lập không khi đất nước bị lèo lái bởi những thái thú của Tàu cộng, tự do là gì khi đến lòng yêu nước cũng bị tước đoạt , và hạnh phúc ở đâu khi hàng chục triệu người trên đất nước mình vật lộn kiếm ngày 2 bữa ăn không nổi.

Khi nhìn thấy các mẹ các chị cầm cờ đỏ ảnh “bác” đi khiếu kiện, thấy sinh viên học sinh yêu nước mang cờ đỏ đi biểu tình chống Tàu Cộng , thấy các anh lính gìn giử tổ quốc nơi biên ải xa xôi hay trên các vùng hải đảo mang theo lá cờ đỏ sao vàng, tôi đã thốt lên, các anh ơi! các chị ơi! các mẹ ơi! Còn cờ đỏ sao vàng thì không bao giờ có độc lập tự do hạnh phúc .

***

- Viết cho “Bác” ở dưới địa ngục để báo cho “Bác” biết dù tôi đã bị Đảng của “Bác” nhồi sọ suốt 2 chục năm nhưng đầu óc vẫn còn tỉnh táo .
- Viết cho dì của tôi đang vất vã kiếm kế sinh nhai nuôi đàn con nhỏ.
- Viết cho dượng của tôi đang ngày đêm canh giữ trên hòn đảo Trường Sa “còn sót lại”.
- Viết cho anh chị tôi đang hăng hái dấn thân “vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh”.
- Viết cho bạn tôi tốt nhiệp đại học loại khá , thất nghiệp , đóng tiền nhà thì hết tiền ăn, muốn ăn thì hết đóng tiền nhà.
- Cũng viết cho bạn tôi, con một gia đình quan chức giàu có nhưng đang sống mất phương hướng trong xã hội lộn ngược này.
- Và viết cho thằng em tội nghiệp của tôi đang ngồi trên ghế nhà trường, miệng đọc ê a, mặt mày ngơ ngác.

Đài Loan 07/4/2009
Sinh viên Du học nghành kiến trúc
Lê Trung Thành

NHẬN ĐỊNH VỀ ĐƠN LY KHAI ĐẢNG CỘNG SẢN CỦA NHÀ VĂN PHẠM ĐÌNH TRỌNG

(Duy Nhân) - Gần đây, trên các website Bauxite Việt Nam, Ánh Dương, Đàn Chim Việt, Vietland, Take 2 Tango, v.v… có đăng tải lá đơn đề ngày 20 tháng 11 năm 2009 của nhà văn Phạm Đình Trọng gửi đảng ủy phường 15 quận Tân Bình TP.HCM thông báo tự rút ra khỏi đảng Cộng sản Việt Nam.

Văn bản này cũng được forward rất rộng rãi đến cộng đồng người Việt tỵ nạn hải ngọai. Văn bản có vẻ như được nồng nhiệt đón nhận và “ hồ hởi phấn khởi ” phổ biến cho nhiều người đọc vì cái tiêu đề gây chú ý của nó là sự ly khai đảng Cộng sản của một nhà văn có 40 năm tuổi đảng ! Những lý do mà tác giả nêu ra để ly khai khỏi đảng Cộng sản của ông là hoàn toàn chính xác.

Nhưng, bên cạnh đó tác giả đã để lộ nhiều nhận thức mơ hồ, mâu thuẩn và sai lệch về nhân vật Hồ Chí Minh, về đảng Cộng sản Việt Nam cũng như về cuộc chiến tranh “ cách mạng chống Mĩ ” (1) vừa qua. Điều này hoàn toàn không có ích gì cho công cuộc chống Cộng, đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền ở Việt nam của người Việt hải ngọai, đặc biệt đối với giới trẻ vốn không có điều kiện để hiểu biết nhiều về những vấn đề trọng đại của đất nước, lại càng nguy hiểm hơn.

Sinh năm1944, thời kỳ tác giả mô tả là “ trong không khí sôi sục của cuộc cách mạng khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa . Rời trường trung học khoản 17, 18 tuổi thì vào bộ đội , đi kháng chiến chống Mĩ xâm lược để giải phóng dân tộc. lúc đó vào năm 1962, quân đội Mỹ chưa có mặt ở Việt Nam ! Tác giả được kết nạp đảng năm 26 tuổi ở cơ quan chính trị Bộ Tư lệnh Thông Tin đúng ngày 19/5/1970 là ngày sinh Hồ Chí Minh. Tác giả viết :“Tình cảm đã đưa tôi đến lí tưởng Cộng sản”. Hình ảnh người Cộng sản trẻ tuổi Nguyễn Viết Xuân bị máy bay Mĩ bắn nát đùi trong một trận địa pháo ở miền tây Quảng Bình, vẫn bám thành công sự phất lá cờ đỏ dõng dạc chỉ huy : “ Nhắm thẳng quân thù mà bắn ” là hình ảnh anh hùng lãng mạn, là thần tượng của Phạm Đình Trọng lúc đó. Chúng ta nên nhớ, cụm từ “ Nhắm thẳng quân thù mà bắn ” không phải là chữ nghĩa của tác giả mà là khẩu hiệu, là mệnh lệnh của đảng chỉ thị cho cán binh Cộng sản khi ra trận. Chúng ta không rõ là người chiến binh trẻ tuổi Nguyễn Viết Xuân lúc đó có bị xích vào mâm pháo như nhiều trường hợp khác hay không ? Cũng không hiểu tại sao cấp chỉ huy của anh ta không đưa người đồng chí đã bị thương của mình về tuyến sau để cấp cứu ? Cũng không sao hiểu được một người bị nhiều phi cơ tập trung oanh tạc bằng bom, bằng rocket mà chỉ nát đùi thôi, lại còn khả năng phất cờ và dõng dạc chỉ huy trận địa ? Những chi tiết nhỏ này nhắc người ta nhớ đến một nhân vật lịch sử, anh hùng Lê văn Tám, chỉ mới 10 tuổi, bán đậu phộng rang, không nằm trong tổ chức nào, lại tự tẩm xăng vào người rồi châm lửa thành “ cây đuốt sống ”và chạy một khoảng đường 50 thước, vào đốt kho xăng giặc Pháp ở Thị Nghè ngày 1/1/ 1946.

Chuyện này không hề có thật mà do Trần Huy Liệu, bộ trưởng bộ tuyên truyền và cổ động của Hồ Chí Minh bịa ra ( 2 ) nhằm lừa dối và động viên tinh thần của những thanh niên ngây thơ nhẹ dạ, lao vào cuộc chiến tranh “ chống Mĩ cứu nước ” bằng tình cảm bồng bột, bằng khẩu hiệu và tuyên truyền bịp bợm mà không biết phân biệt thật giả, chánh nghĩa và phi nghĩa mà Phạm Đình Trọng là một nhân vật điển hình cùng với huyền thọai Nguyễn Viết Xuân !.
Là nhà văn nên Phạm Đình Trọng sử dụng ngôn ngữ rất văn hoa và hiện đại như “ Lí trí cho tôi nhận thức lại ” làm cho tác giả “ thức tỉnh” và rời bỏ đảng cộng sản ở cái tuổi 65 sau thời gian mười mấy năm đi bộ đội, cầm súng tham gia chiến tranh xâm lược miền Nam, gây tội ác với nhân dân miền Nam, sau 40 năm theo chủ nghĩa Cộng sản phi nhân, theo đảng Việt gian, tay sai và bán nước do Hồ Chí Minh du nhập, tổ chức và lãnh đạo. Thật ra, những vấn đề mà tác giả “ nhận thức lại “chỉ là những thực tế đã xảy ra ở miền Bắc và một ít việc đang xảy ra hằng ngày tại Việt Nam hiện nay mà bất cứ ai cũng biết và thấy chớ chẳng cần đến một nhà văn, chẳng cần phải dùng lý trí để nhận thức lại như tác giả . Đó là những vấn đề:

* - Cải cách ruộng đất ngoài Bắc từ năm 54.
* Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh.
* Vụ án nhân văn giai phẩm.
* Vụ án xét lại chống đảng.
* Đánh tư sản mại bản ở miền Nam sau năm 1975.
* Đưa những người tham gia chánh quyền cũ vào trại cải tạo.
* Sử dụng bạo lực chuyên chính vô sản với nhân dân.
* Liên minh thua thiệt với Trung Quốc.

Những vấn đề quan trọng khác đang xảy ra ở Việt Nam thì Phạm Đình Trọng không nhắc tới :

* Vấn đề tham nhũng của các cấp lãnh đạo Cộng sản Việt Nam.
* Vấn đề cướp đất đai, tài sản của người dân theo chủ trương “ đất đai là sở hữu của tòan dân ”, gây nên phong trào dân oan khiếu kiện khắp nơi trong nước.
* Vấn đề đàn áp và gây chia rẽ tôn giáo của nhà cầm quyền CSVN.
* Vấn đề xuất cảng phụ nữ làm lao nô tình dục và thanh niên bán sức lao động cho người nước ngoài.
* Vấn đề các quan chức Việt Nam cấu kết với các nhà đầu tư nước ngoài để bóc lột công nhân Việt Nam.
* Vấn đề tự do báo chí, tự do phát biểu, tự do lập hội, tự do biểu tình và những quyền tự do khác.
* Là nhà văn, tác giả có quyền viết ra những gì mình suy nghĩ không ? Những gì viết ra có được phổ biến đến nhân dân, độc giả hay không ? Hay tác giả chỉ là một văn nô trong chế độ Cộng sản ?
* Vân… vân..

Khi viết “ Chuyên chính vô sản đã gây ra cải cách ruộng đất….” Phạm Đình Trọng đã đặt cái cày trước con trâu, ông đã nhầm lẫn giữa biện pháp và chủ trương, chính sách. Nhà nước cộng sản bao giờ cũng dùng bạo lực, dùng chuyên chính như đấu tố, nhục hình, tù đày và tước đọat gồm cả tước đọat tài sản và mạng sống con người để thi hành chủ trương chính sách đã có sẵn như cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh…vân …vân. Chính sách là mục tiêu, là cứu cánh, đẻ ra biện pháp, là phương tiện, chớ không phải biện pháp đẻ ra chính sách như PĐT nhầm lẫn. Còn quân đội, công an, tòa án là công cụ để thi hành chính sách. Do đó nó rất độc ác và tàn nhẫn, miễn sao đạt được mục tiêu thì thôi như phương châm muôn đời của họ :“ Cứu cánh biện minh cho phương tiện ”. Phạm Đình Trọng không chấp nhận chuyên chính vô sản nhưng không chống chính quyền Cộng sản là ngây thơ và mâu thuẫn. Mặc dầu chuyên chính vô sản là biện pháp nhưng nó đã trở thành bản chất của nhà nước Cộng sản trên toàn thế giới chớ chẳng riêng gì Việt Nam. Chính Hồ Chí Minh đã chủ trương : “ Một nhà nước dân chủ phải là công cụ chuyên chính của đảng, một nền dân chủ phải lấy phục tùng quyền uy của đảng làm tiền đề ”. Là nhà văn, lại là đảng viên lẽ nào Phạm Đình Trọng không biết điều này ? Tư tưởng này được thể hiện ở điều 4 hiến pháp hiện hành Việt Nam. Phạm Đình Trọng không chấp nhận điều 4 hiến pháp 1992 mà lại đi ca tụng Hồ Chí Minh, thêm một lần nữa cho thấy sự mâu thuẫn của chính mình.
Điều quan trọng nhất và tai hại nhất ở Phạm Đình Trọng là ông chỉ nhìn thấy hiện tượng chớ không nhận ra bản chất của vấn đề cho dầu là ông đã nhận thức lại . Tác giả viết : “ Đảng đang thực hiện những điều trái với tư tưởng Hồ Chí Minh ”, có nghĩa là đảng làm sai, làm bậy chớ tư tưởng Hồ Chí Minh là tốt đẹp, cao quý lắm ! Miệng thì nói ra khỏi đảng nhưng tư tưởng thì không thoát ra được cái vòng kim cô của đảng Cộng sản đã xiết chặt vào đầu từ 40 năm qua, không thoát ra khỏi cái khuôn thức thường dùng để biện minh cho mọi việc làm sai trái và phủ nhận trách nhiệm của người Cộng sản : đường lối chính sách bao giờ cũng đúng, chỉ có cấp dưới thi hành sai như Phan văn Khải đã từng nói “trên bảo dưới không nghe” .Trong bài viết gọi là đơn ra khỏi đảng, Phạm Đình Trọng tuyên truyền cho cái xác chết Hồ chí Minh nhiều điều. Nào là tinh thần dân tộc rất sâu đậm, tư tưởng, đạo đức, hình ảnh bình dị và gần gũi thân thiết với nhân dân. Chủ nghĩa Cộng sản là thứ chủ nghĩa đề cao giai cấp, đặt giai cấp lên trên dân tộc, chủ trương vô tôn giáo, vô gia đình , vô tổ quốc, nhằm xóa bỏ biên giới quốc gia và bôn-sơ-vít hóa toàn thế giới, tiến đến đại đồng. Nếu Hồ Chí Minh có tinh thần dân tộc thì đã không đem chủ nghĩa ngọai lai, không tưởng và phi dân tộc này vào thi hành ở Việt Nam. Lịch sử ghi chép chưa ráo mực, hiện tại vẫn đang chứng minh Hồ Chí Minh và tập đòan Việt gian Cộng sản chỉ là kẻ tay sai bán nước cho Nga Xô ngày trước và Trung Cộng bây giờ. Lê Duẩn từng phát biểu “ Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc ” ( 3 )
Về tư tưởng thì chính Hồ Chí Minh đã nói : “ Tôi không có tư tưởng nào cả ngòai chủ nghĩa Mác-Lênin ”. Thực vậy, khi đọc sách vở Cộng sản chúng ta bắt gặp các từ Marxism, Leninism, tức tư tưởng Mác, tư tưởng Lênin, chớ chưa bao giờ thấy từ Hoism, tức tư tưởng Hồ Chí minh. Ngoài ra, những tư tưởng rời rạc, những khẩu hiệu được cho là của Hồ Chí Minh chỉ là sự cóp nhặt từ các nhà tư tưởng Đông , Tây ( 4 ) có thứ từ trên 200 năm như bản Tuyên ngôn Độc Lập được tuyên đọc ngày 2/9/1945, có thứ từ trên 2000 năm như“ Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, kể cả khái niệm rất thông thường như “ Cần, Kiệm , Liêm, Chính; Chí công vô tư ” (4b) .
Tài liệu từ nhiều nguồn cho biết Hồ Chí Minh có rất nhiều vợ từ chính thức đến không chính thức. Có người ông đã ăn ở có con, khi người này muốn ra công khai thì Hồ Chí Minh cho đàn em thủ tiêu rất vô nhân đạo( 5 ). Mặc dầu sống trong nước nhưng với tư cách là một nhà văn của thời đại internet, Phạm Đình Trọng không thể không đọc được những tài liệu trung thực viết về Hồ Chí Minh, không thể không xem DVD Sự thật về Hồ Chí Minh do phong trào “ Quốc Dân Đòi Trả Tên Sàigòn ”của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ ! Vậy mà PĐT không mở mắt ra được để “ nhận thức lại ” một lần nữa cho đúng về con người có tên gọi Hồ Chí Minh.
Đơn xin ra đảng của PĐT có người cho là can đãm như Bùi Tín, Tô Hải, những người khác cho là cuội, là giả. tùy quan điểm chánh trị mỗi người. Vấn đề là những sự kiện quan trọng mà PĐT đưa ra và bênh vực thì không phải là sự thật ! Phạm Đình Trọng viết : “ Chiến thắng năm 1975 không phải là chiến thắng của miền Bắc với miền Nam mà là chiến thắng của cả dân tộc Việt Nam ”. Khi viết như vậy, PĐT đã phủ nhận nước Việt Nam Cộng Hòa, phủ nhận Hiệp định Genève năm 1954, phủ nhận công pháp quốc tế. Thật là láo ! Nhưng Phạm Đình Trọng gian mà không ngoan nên giấu đầu thì lòi đuôi với câu “ đẩy hàng vạn người đã tham gia chánh quyền cũ vào những trại cải tạo ”. Khi nói tới chánh quyền là nói tới quốc gia mà chánh quyền đó đại diện ! Với thâm ý, PĐT lập lờ nói hàng vạn người mà không nói rõ là những sĩ quan, binh lính và viên chức VNCH. Phạm Đình Trọng nói chiến thắng năm 1975 là chiến thắng của cả dân tộc Việt Nam thì tại sao sau chiến thắng đó thì hàng trăm ngàn ( chớ không phải hàng vạn ) người bị đi tù, vợ con họ bị đày đi “ “kinh tế mới”, nhà cửa, tài sản bị tịch thu ? Họ là nhân dân miền Nam, là một thành phần của cả dân tộc chiến thắng. Vậy thì tội ác này ai gây ra cho họ ? Đó chính là kẻ thù Cộng sản mà Phạm Đình Trọng là một. Nếu họ là những người chiến thắng thì tại sao họ không ở lại để hưởng “ Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc ” mà lại cùng nhau tìm đường vượt biên, vượt biển để đến bất cứ nơi nào trên thế giới trong tình trạng cứ ba người đi thì có một người chìm dưới đáy biển ? Không những người ở miền Nam mà cả ở miền Bắc cũng tìm đường vượt thoát, cho đến tận ngày hôm nay. Phạm Đình Trọng dùng kỹ thuật viết văn để chạy tội cho Cộng sản bằng cách xập xí xập ngầu kẻ xâm lược đến từ phương Bắc với đồng bào miền Nam và trắng trợn nói chiến thắng ngày 30 tháng 4 năm 1975 là chiến thắng của toàn dân. Xin đừng lộng ngôn và hãy đọc lại lời phát biểu của cựu thủ tướng Võ văn Kiệt trả lời báo chí nhân ngày 30/4 năm 2005 : “ Sự kiện 30 tháng 4 nhắc lại có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là vết thương chung của dân tộc, cần được giữ lành thay vì tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu ”. Mặc dầu Võ văn Kiệt, một lãnh tụ cao cấp của đảng chưa nói hết sự thật và đúng sự thật nhưng chừng ấy cũng đủ cho Phạm Đình Trọng suy ngẫm : Ông ta không gọi ngày 30 tháng 4 là ngày chiến thắng mà gọi đó là sự kiện, không gọi đó là chiến thắng của toàn dân mà là vết thương chung của dân tộc, có hàng triệu người vui thì cũng có hàng triệu người buồn. Tại sao Phạm Đình Trọng chỉ là một đảng viên tép riu, lại lộng ngôn quá đỗi ? Phạm Đình Trọng lếu láo trong nội bộ đảng thì được, sao lại nói điều này với người Việt hải ngọai ?
Không có gì phi lý và dối trá cho bằng bản thân mình muốn thoát ra khỏi đảng nhưng lại muốn nó tiếp tục đè đầu cỡi cổ nhân dân. Phạm Đình Trọng viết :“ Đây chính là lúc phải bừng tỉnh để nhận lại đường, từ bỏ sự trì trệ, trái tự nhiên. Làm việc này không phải chỉ vì đất nước, vì dân tộc mà trước hết chính vì đảng Cộng sản…, để đảng Cộng sản vẫn giữ được vai trò lãnh đạo bằng lòng tin và sự gửi gấm của nhân dân chớ không phải bằng điều 4 của Hiến pháp, không phải bằng bạo lực chuyên chính vô sản ” Đoạn văn này một lần nữa xác định PĐT và cái đảng của ông bao giờ cũng đặt quyền lợi của đảng lên trên quyền lợi đất nước, dân tộc. Thấy ai cũng chống điều 4 hiến pháp, PĐT cũng nhẹ nhàng nói lời phủ nhận nhưng vẫn muốn đảng tiếp tục cai trị nhân dân, chỉ cần nó thoát khỏi “ xơ cứng ”, “ trì trệ ”, không sử dụng “ bạo lực chuyên chính vô sản” nữa. Không biết PĐT nghĩ gì về lời tuyên bố của Boris Yelsin, cựu Tổng Thống Nga sau khi thực hiện cuộc cách mạng dân chủ năm 1991 ở nước ông : “ Chế độ Cộng sản không thể sửa chữa được.Chỉ có một cách là bỏ hẳn nó đi, triệt tiêu nó, thay thế bằng một chế độ khác ”
“ Mỗi khi lãnh đạo nước ta đến Mĩ đều có những đoàn người Việt ở Mĩ rầm rộ biểu tình chống đối ”. Phạm Đình Trọng chưa nói hết sự thật là bất cứ nơi nào lãnh đạo các ông đến thì đều có biểu tình chống đối chớ không riêng ở Mỹ ! Vì lý do đó nên PĐT lại nêu lên vấn đề “ Hòa giải, hòa hợp dân tộc ”. Thưa ông Phạm Đình Trọng : Nếu người Cộng sản có tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc thì không có ngày 30/4/1975. Nếu người Cộng sản có tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc thì sau ngày 30/4/1975 không có cảnh tù đày khổ sai hàng trăm ngàn cựu quân nhân và viên chức VNCH, không đày ải vợ con họ lên vùng gọi là kinh tế mới rồi chiếm đọat nhà của , tài sản của họ, không đào mồ, cuốc mả những người lính VNCH đã nằm xuống ở nghĩa trang Đô thành Sàigòn để biến thành công viên Lê văn Tám bịp bợm, vân vân và vân vân…Nếu ngày hôm nay người Cộng sản có tinh thần dân tộc thì không bắt bớ, tù đày những người bất đồng chính kiến, những người đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền, những dân oan khiếu kiện bị tịch thu ruộng đất, nhất là những người biểu tình bày tỏ lòng yêu nước, chống bọn “ bá quyền bành trướng Bắc Kinh ” ( 6 ) cướp đất, lấn biển của ta.
Kết luận : Nếu thật sự chỉ muốn bỏ đảng Cộng sản Việt Nam thì Phạm Đình Trọng chỉ cần viết một tờ đơn ngắn gọn trong một trang giấy khổ A4, nêu ra lý do cùng quyết tâm của mình là xong. Hà cớ gì phải động não để cho ra một văn bản, đưa lên mạng thông tin toàn cầu, nhắm vào người Việt hải ngoại vốn có tư tưởng và lập trường đối nghịch với đảng Cộng sản Việt Nam ? Trong bài viết, PĐT đề cập đến nhiều vấn đề xảy ra ở miền Bắc từ hơn nửa thế kỷ qua, trong khi đó, nhiều tội ác mà Cộng sản đã thực hiện sau ngày cưỡng chiếm VNCH không được ông đặt thành vấn đề. Ông chỉ nhắc tới sự việc rất nhỏ ở đơn vị ông, đó là việc mua quan bán chức. Thay vào đó, ông ca ngợi Hồ Chí Minh, đưa ra nhận định láo khoét về cuộc chiến vừa qua, hướng dẫn dư luận để cho đảng Cộng sản vẫn giử vai trò cai trị đất nước và tuyên truyền cho vấn đề “ hòa giải hòa hợp dân tộc ”. Đó không phải là việc thực thi nghị quyết 36 của bộ chánh trị đảng CSVN thì là cái gì ?
Ông Phạm Đình Trọng ơi ! Chúng tôi nhìn nhận chúng tôi là những người thua cuộc. Vì ghê tởm và sợ hãi người Cộng sản quá nên chúng tôi đã phải bỏ lại mồ mả ông bà, bà con quyến thuộc, bỏ tất cả của cải, tài sản đã dành dụm một đời để ra đi tìm tự do, cam chịu sống đời lưu vong mà ông còn chạy theo quậy phá chúng tôi làm gì ? Hãy để yên cho chúng tôi, có được không ?


Ghi chú : (1) Những chữ nghiêng, highlight đậm nét là của PĐT (2) Việc này Trần Huy Liệu trước khi chết đã tiết lộ cho Nguyễn đình Thanh, Nguyễn công Bình và Phan Huy Lê (3) Đêm giữa ban ngày, Vũ thư Hiên, nxb Văn Nghệ trg 422 (4) Viết cho mẹ và Quốc hội, Nguyễn văn Trấn, nxb Văn Nghệ trg 150-152 ( 4b) Người giúp HCM viết bản tuyên ngôn độc lập là thiếu tá Hoa Kỳ Archimedes L.A. Patti dựa vào văn bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ ngày 4/7/1776 . Khẩu hiệu vì lợi ích 10 năm trồng cây; vì lợi ích 100 năm trồng người là câu nói của Quản Trọng cách đây 2000 năm : Nhất niên chi kế tại ư thụ cốc, thập niên chi kế tại ư thụ mộc, bách niên chi kế tại ư thụ nhân. Chí công vô tư, cần kiệm liêm chính là lời dạy của Nho giáo đã trên 2000 năm. (5 ) Đêm giữa ban ngày, Vũ thư Hiên (6) Bá quyền bành trướng Bắc Kinh là cụm từ của nhà cầm quyền CSVN dùng để gọi Trung Quốc từ năm 1979, ngày nay Trung Quốc cướp đất, lấn biển, chiếm hải đảo của ta thì CSVN câm miệng, không dám nói gì cả.

CSVN là tên "mẹ mìn" vĩ đại

Chắc hẳn người VN chúng ta ai ai cũng hiểu hai chữ mẹ mìn là lũ người chuyên bắt cóc con nít đem đi bán hoặc nuôi lớn để dùng vào nhiều công việc vô nhân đạo khác .

Trong thời buổi kẻ ác đông hơn người hiền thì lũ mẹ mìn đúng nghĩa đen của nó tại vn chuyên đi mua hoặc bắt cóc con nít để làm nghề ăn xin . Chuyện thất đức nhất cho lũ buôn người này. Nó còn dùng đến các thủ đoạn tàn nhẫn nhất trần đời là khoét mắt , phá chân làm cho những đứa trẻ thơ vô tội đó có ngoại hình rất tội nghiệp hoặc tàn bạo hơn nữa là cho đứa trẻ vô phước đó chịu rét lạnh đói ,ốm o gầy mòn ghẻ chóc và cái hậu ý của nó là thế nào ?

Đó là "đánh động " vào con mắt người qua đường và cuối cùng là moi hầu bao thiên hạ làm giàu cho lũ ác quỷ ban ngày "mẹ mìn ' sơ cấp này có tiền bỏ túi .
Có khi chúng ta nghĩ lại thật đáng thương cho lũ trẻ vô tội này tại khắp các nẻo đường đất nước chúng ta và nhất là khi dịch vụ du lịch nở rộ khắp nơi tại VN .

Thực sự với nguồn lợi tức VN hiện tại nhà nước CSVN thực sự nuôi được lớp trẻ em xấu số này và vũ lực trong tay chính quyền CSVN thừa sức dẹp tan được bọn buôn người này .

Được thế, bọn mẹ mìn này thò tay lông lá dài ra bốc lột luôn sức người già cả . Tập thể băng nhóm buôn nô lệ này ra tận các vùng nghèo khổ "tuyển mộ "các ông già bà lão tứ cố vô thân vào các thành phố lớn như Sài gòn làm nghề ăn xin cho chúng . Như báo chí trong và ngoài nước đã loan tin bọn đầu nậu bất lương này đêm đêm đi "thu gom " các ông già bà lão này về nhốt lại trong các căn phòng như nhốt "thú trong chuồng" . Và dĩ nhiên , tiền bạc chúng gom lại bỏ túi .

Chuyện đáng nói , khi nhìn hình ảnh đáng thương các bà cụ run run bên đường ngã tay xin chúng ta ai mà không cảm động . Nhưng bà con biết đâu sau lưng những người già này là các tay "mẹ mìn ' đang chờ sẵn ; hoặc chúng ta liên tưởng đến những thiếu phụ ăn xin tay bồng các cháu nhỏ bệnh hoạn rách rưới , đui què ghẻ chóc ngửa tay xin chúng ta tiền thật tội . Nhưng sau cái ngày ăn xin đó , đứa nhỏ về nhà sẽ bi bỏ đói run run vì lạnh, con phù thủy "ăn xin " đó thản nhiên đếm từng đồng bạc đến từ tay những kẻ từ tâm .

Chuyện đáng nói ở đây tại sao nhà nước VN không dẹp được chuyện ác nhân thất đức như chỉ đơn cử sơ sài ở trên .
Chuyện là nhà nước CSVN cũng là một tên "mẹ mìn " chính hiệu và "vĩ đại" đang trá hình khư khư ôm giữ những hình ảnh đau thương nhất tại VN hiện nay để moi tiền của những người hảo tâm nhân đức .

Lướt qua những hình ảnh của những trại phong cùi từ Bắc chí Nam như chân đèo Hải Vân, Qui nhơn , Nha Trang và lác đác những nơi khác chúng ta ai cũng phải đau lòng cho số kiếp họ . Xin hãy lướt qua các trại cô nhi cũng đáng tội cho các em không cha không mẹ . Và , nhan nhãn các tầng lớp tật nguyền , các em bé sức yếu thế cô ngày ngày phải lê kiếp ăn xin trên khắp nẻo đường đất nước .

Đau lòng lắm , động lòng lắm và thế chuyện từ thiện là phản ứng đương nhiên theo cảm tính con người trần thế .
Nhưng chúng ta phải lật lại vấn đề ; Phải chăng CSVN không giải quyết được chuyện này ? 34 năm qua , cho đến nay kể cả số tìên VK gởi về nước và viện trợ quốc tế cùng lợi tức tài nguyên và GDP của VN tăng đều đặn, CSVN dư sức hàn gắn được tất cả vết thương xã hội tại VN .
Nhưng CSVN cố tình làm ngơ ; chúng chính là "mẹ mìn" chính hiệu ; Tại sao vậy ? xin thưa , từ hình ảnh các người phong cùi lỡ lói , các cụ già em bé đang run run vì đói lạnh mới đánh động được vào những trái tim nhân ái của mọi người .

Chính CSVN cố tình duy trì mãi sự đau khổ của con người cùng dòng máu đỏ da vàng để trục lợi và đúng lý ra những con người đau khổ kể trên không còn sự đau khổ đó nữa, đúng vào hoàn cảnh kinh tế VN hiện tại .

Và khi cái đám "ăn theo nghề kinh doanh từ thiện " để hưởng lây với ông "mẹ mìn " lớn nhất CSVN nêú có ý phản đối thì chúng sẽ phản ứng mãnh liệt .
Để trả lời ý cuả một sinh viên VN tôi đã đọc cho những kẻ phong cùi đó là NẠN NHÂN CHỨ KHÔNG PHẢI NGUYÊN NHÂN - xin thưa : Vâng, họ là nạn nhân cuả những tên mẹ mìn "vĩ đại " như đảng CSVN và lũ kinh doanh từ thiện trên đau khổ đồng bào nước VN .

Có một điêù nữa , xin lưu ý anh sinh viên đaị học VN tại Orange County cho rằng chúng tôi phản đối việc từ thiện là để "thoả mãn thú tính chính trị " ?!

Xin thưa với bạn rằng chúng tôi có cái nhìn từ thiện còn rộng hơn bạn nghĩ vì cái rung động cái trắc ẩn của chúng tôi là cho toàn khối đất nước đồng bào đất việt đang mãi đoạ đày dưới nanh vuốt độc tài của bọn cầm quyền CSVN gian manh . Cái nhìn từ thiện cho hạn hẹp một số người đó là hạn chế lắm , phải mở cái nhìn cuả bạn ra mọi miền đất nước và khi cái nhìn của bạn sinh viên đó xuyên thấu được từng kho tàng đầy ắp tiền đô của bè lũ tham quan bạo chuá CSVN thì chúng tôi tin bạn hiểu tại sao chúng tôi phản đối việc làm từ thiện "giả vờ" và thủ đoạn trục lợi cua một hệ thống "mẹ mìn " kinh doanh từ thiện đang rộ khắp hiện nay .

Và khi niềm đau xã hội phía CSVN cố tình giữ để moi hầu bao hải ngoại thì xin hỏi bạn đến bao giờ hội chứng "kinh doanh từ thiện " này mới chấm dứt đây?
Cuối cùng nếu bạn nói những người đau khổ đủ mọi hình thức tại VN là NẠN NHÂN và ai là THỦ PHẠM ? Xin bạn sinh viên tại VN hãy đứng thẳng người lên cùng góp một bàn tay diệt trừ tên THỦ PHẠM đó .

Cuối cùng xin bạn nhớ cho rằng chính trị chúng tôi từ lòng yêu nước chân thành và không bao giờ có "thú tính" trong đó .

Xuân Khê
12/12/09

Nguồn Vietland

Đôi điều về "tự do tư tưởng và tự do ngôn luận"

Trong môi trường xã hội tự do dân chủ, ở nơi đó toàn xã hội họ sống theo chủ trương tôn trọng mọi suy nghĩ khác nhau. Mọi người có thể tự do biểu thị suy nghĩ của mình bằng cách sử dụng quyền tự do ngôn luận, người có học thức có tiền thì mở đài truyền hình, đài phát thanh sóng FM, mở các trang báo online, báo giấy cũng là nghề vừa kinh doanh vừa biểu thị chủ trương tư tưởng của cá nhân hay của một nhóm người. Kẻ ít tiền hơn muốn biểu thị suy nghĩ thì lập blogsite, website, xuất bản báo giấy một vài trăm bản để biếu hay phát không cho bạn bè. Còn lại một số đông không có khả năng hoặc không muốn thể hiện khả năng thì cách biểu thị suy nghĩ cá nhân của mình với dư luận xã hội là dùng khẩu hiệu viết các ý nguyện, các đòi hỏi, các suy nghĩ của mình và đem ra trưng ở những nơi công cộng nhiều người qua lại để thu hút sự chú ý.

Nghĩa là sự bầy tỏ suy nghĩ, quan điểm được pháp luật tôn trọng, bảo vệ và khuyến khích vì nó là quyền tự do của con người được Hiến pháp và luật pháp bảo vệ. Nhưng ngược lại nếu ai sử dụng cái quyền ấy quá mức của luật pháp quy định làm ảnh hưởng tới danh dự, nhân phẩm của cá nhân hay tổ chức và đặc biệt những thông tin đó mang tính chất kích động bạo lực, chia rẽ hoặc kêu gọi lật đổ đều bị xét xử nghiêm khắc theo luật pháp quy định.

Mặc dù quyền tự do ngôn luận được khuyến khích và được chính quyền ủng hộ như vậy nhưng đa số người dân như tôi cũng ít khi có những điều gì bức xúc mà phải sử dụng đến những cái quyền đó. Lý do vì những suy nghĩ, những bức xúc của cá nhân mình nói riêng hay của cả cộng đồng nói chung thì hàng ngày các phương tiện truyền thông công cộng người ta đã nói hết phần của mình rồi, chẳng cần phải sử dụng cái quyền tự do ngôn luận ấy mấy khi. Nhiều khi hôm nay mình mới chỉ nghĩ "giá mà... thế này" thì không lâu vài hôm sau mấy ông dân biểu đã "tranh phần" lấy suy nghĩ của mình thành kiến nghị trong cuộc họp Quốc hội hay Hội đồng nhân dân các cấp. Cũng chẳng phải vì họ nghe cá nhân mình đâu, mà vì suy nghĩ của cá nhân mình nó giống như trào lưu đồi hỏi của phần lớn cộng đồng.

Nói như vậy để thấy, ở Việt nam đảng cầm quyền và nhà nước cứ hay lo sợ không cần thiết, người ta bảo cho báo chí tư nhân hoạt động thì sợ báo chí nói xấu nhà nước không quản lý được. Thế thì xin hỏi tại sao họ không nghĩ nếu đảng và chính quyền làm tốt, thi hành đầy đủ và làm việc có hiệu quả với vai trò của nhà nước, thì lấy gì cho báo chí tư nhân họ nói xấu ? Đã làm tốt thực sự, hoàn thiện mọi mặt không có gì để chê trách mà báo chí tư nhân vẫn kiên quyến không chịu ủng hộ, vẫn nói xấu thì lúc đó không phải bận tâm làm gì cả, lúc đó người dân sẽ là người đánh giá và phán xét ai đúng ai sai, đừng quá coi thường khả năng nhìn nhận vấn đề của quần chúng.

Vả lại cái mà đảng sợ và bảo người ta nói xấu thì sao không nghĩ đó chỉ là tiếng nói góp ý giúp cho lãnh đạo nhà nước khắc phục, sửa chữa các khuyết điểm tồn tại để ngày càng hoàn thiện hơn, vì vậy hãy coi các ý kiến góp ý , phê bình hay phản biện là những yếu tố mang tính tích cực hơn là tiêu cực. Mà một điều tối quan trọng là phải tin tưởng rằng cho và khuyến khích dân được quyền nói, quyền biểu thị suy nghĩ nó chỉ là lẽ thường tình trong sinh hoạt của một xã hội dân chủ tiến bộ.

Bài học của nền kinh tế mở theo kiểu kinh tế thị trường thay cho hệ thống kinh tế quan liêu bao cấp của chủ nghĩa xã hội kiểu Marx-Lenin là một ví dụ. Trước đây đảng CSVN vẫn cho rằng nếu mở cửa kinh tế cho phát triển theo quy luật kinh tế thị trường thì nhà nước không kiểm soát nổi sẽ gây nguy hại cho sự ổn đinh chính trị, nhưng kết quả của việc đổi mới về cơ cấu kinh tế đã đem lại hiệu quả ra sao chắc ai cũng rõ.

Thói đời người ta là như vậy, của hiếm là của quý. Càng cấm đoán, càng hạn chế tự do tư tưởng, tự do ngôn luận bao nhiêu càng kích thích sự thèm khát lên tiếng và lâu dần nó trở thành khát vọng âm ỷ của nhân dân. Cấm không có tác dụng tích cực làm ổn định chính trị như người ta tưởng, mà ngược lại nó càng kích thích sự chống đối dưới nhiều hình thức muôn hình muôn dạng, chống đối nếu phát triển ở mức cao sẽ trở thành cách mạng. Mà bất kỳ cuộc cách mạng nào cũng mang lại tổn thất không nhiều thì ít.

Bên trong của sự ổn định mà đảng CSVN đang tự hào hiện nay đang có bao nhiêu tiềm ẩn nguy hiểm như những cơn sóng ngầm mà bất cứ lúc nào cũng trở thành những trận sóng thần (tsunami), mà hậu quả của nó khó ai có thể lường hết được.

Chính vì vậy tốt hơn hết đảng và nhà nước Việt nam hãy cho người dân tự do sử dụng các quyền của mình mà Hiến pháp ghi nhận và dùng hệ thống luật pháp để quản lý và điều chỉnh. Nếu làm được như vậy sẽ là biện pháp tháo ngòi nổ nguy cơ tiềm ẩn và đồng thời cải thiện được hình ảnh của quốc gia dưới con mắt không mấy thiện cảm của cộng đồng quốc tế như hiện nay, như vậy sẽ có những bước cải thiện đáng kể trong sự ủng hộ đối với Việt nam của các quốc gia và các tổ chức quốc tế.

Trong một hệ thống nhà nước kiểu độc đảng lãnh đạo như Việt nam hiện nay, mọi thay đổi cũng cần phải có sự chuyển tiếp dần dần qua các giai đoạn, không thể một sớm một chiều mà tuyên bố cải cách chính trị cho tự do đa nguyên đa đảng. Một trong những việc làm có ý nghĩa then chốt và mang tính quyết định sẽ mang lại hiệu quả nhanh chóng, đó là khôi phục và tôn trọng quyền biểu thị suy nghĩ của công dân và các tổ chức đoàn thể mà Hiến pháp nước CHXHCN Việt nam đã ghi nhận càng sớm càng tốt.

Chắc chắn một điều khi cho tự do tư tưởng, tự do ngôn luận để thể hiện suy nghĩ của công dân và tự do báo chí, thì cũng không có các nhân, tổ chức hoặc các tờ báo nào dám có hành động "bán đứng tổ quốc" khi lên tiếng khẳng định chủ quyền của Trung quốc trên quần đảo Hoàng sa như Báo điện tử đảng CSVN đã làm. Tất cả mọi công dân mang dòng máu Việt nam chắc chắn họ sẽ để quyền lợi của quốc gia và dân tộc là trên hết, với những người Việt nam yêu nước chân chính và có sự hiểu biết thì đảng phái chính trị chỉ là một nhóm lợi ích
của một bộ phận nào đó của dân tộc không thể đại diện cho lợi ích của một quốc gia, đảng CSVN cũng như vậy không ngoại trừ.

Tự do ngôn luận để tự do biểu thị suy nghĩ của công dân thông qua hình thức tự do báo chí dưới mọi loại hình như truyền hình, phát thanh, báo giấy, báo online v.v.. hoàn toàn mang tính tích cực xây dựng xã hội công bằng và văn minh nếu nhà nước biết quản lý và điều hành bằng luật pháp của mình. Cấm đoán và dùng các biện pháp ngăn cấm là hành động mang tính tiêu cực, nó còn là sự coi thường dân trí của cả một dân tộc. Vì người đọc, người nghe, người tiếp nhận thông tin họ có đủ trình độ, suy nghĩ để đánh giá cái đúng cái sai, cái giả cái thật, cái nào có lợi và không có lợi cho bản thân và đất nước của họ.

Tự do tư tưởng và tự do ngôn luận nó hoàn toàn không hề nguy hiểm như một vài ai đó tưởng tượng.

Kami

(Sưu tầm)

Liên Thành Trả Lời Chất Vấn Trong Bài Trịnh Công Sơn (1)



Đã có một số độc giả góp ý cũng như thắc mắc sau loạt bài về Trịnh Công Sơn, vì thế tôi xin chính thức phúc đáp như sau:

Bài giải trình của tôi, với tư cách là một cựu trưởng ty CSQG Thừa Thiên Huế, nói về một ổ CS nằm vùng lớn nhất, nguy hiểm nhất, gây tác hại nhất cho Miền Nam, trong đó có đề cập nhiều về Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng của mạng lưới này, được viết theo lối vừa kể chuyện, vừa mang tính “phúc trình của cảnh sát”, thật tình không ngờ lại gây ra nhiều câu hỏi tùm lum như thế!.

Tôi không phải là cây viết chuyên nghiệp, một gã “vừa cò vừa lính” kể chuyện, nghĩ sao viết vậy, chỉ muốn kể lại một sự thật. Cho nên, thiếu sót và không rõ ràng là chuyện tất nhiên. Đã có vài câu hỏi hoặc ý kiến mang tính mỉa mai xách mé, cố phủ nhận vấn đề. Nhưng cũng có rất nhiều câu hỏi đứng đắn rất đáng trân trọng. Quả tình khi viết, tôi đã không nghĩ ra được điều là tôi đang viết lại một câu chuyện tình báo cho công luận, chứ không phải là đang làm phúc trình cho một cơ quan tình báo của chính phủ. Vì bài viết khá ngắn gọn cho một câu chuyện dài dòng, nên đã gây ra những thắc mắc chính đáng, và cũng tạo cơ hội cho những ai thích bắt bẽ kiếm cớ. Điều chính yếu là, đây là những dữ kiện thật, có liên quan đến một giai đoạn lịch sử đầy biến động, mà tôi lại là người nằm sâu trong cuộc, ngay trong cái nôi đã đẻ ra nó, nên bổn phận của tôi là phải mở nó ra, để những người viết sử có thêm dữ kiệ n và rút ra bài học cho hậu thế.

Để làm vấn đề được hiểu một cách đơn giản và dễ dàng, trong bài này, chúng tôi sẽ cố gắng đề cập về một vài nguyên tắc sơ đẳng trong tình báo của mọi phía, cộng sản cũng như quốc gia dân chủ, nhằm hy vọng là những bài viết sau, tôi sẽ không bị lập lại những chất vấn cũ, hoặc giả những ý kiến hay câu hỏi mang tính xách mé chợ búa, làm tốn thì giờ người đọc. Và điều quan trọng nhất là, những nguyên tắc này có thể hữu ích cho những ai đang và sẽ tham gia các công việc nhằm dân chủ hóa đất nước, rút ra những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động, tránh bớt những sơ xẩy vô vàn đáng tiếc. Bên cạnh đó là nội gián nội thù, một vấn đề muôn thuở của tình báo, mà đã làm hủy hoại đi những tài năng của đất nước, như chuyện vừa mới xảy ra cho Luật sư trẻ Lê Công Định.

Đáng lý việc TCS phải đưa ra ánh sáng sớm hơn, thời điểm nầy đưa ra là quá chậm.

Tôi cần nói rõ “Nghề tình báo là một nghề khắc nghiệt. Những ai đã ở trong nghề này đều phải chấp nhận một cuộc đời nghiệt ngã, bị ràng buộc bởi luật pháp quốc gia và những quy luật chặt chẽ của cơ quan suốt cả đời, cho dù còn phục vụ hay đã về hưu. Họ sống thu mình im lặng câm nín, chôn chặt những gì mình đã làm, mình đã biết, cho đến lúc lìa khỏi cõi đời. Nói một cách đúng nghĩa là “sống để dạ, chết mang theo”.

Nhưng hôm nay, trong cảnh quốc gia suy vong, bị Cộng Sản đô hộ, vận nước điêu linh, chính phủ VNCH không còn nữa, tôi có bổn phận phải tường trình cho lịch sử những oan khiên của đất nước. Nhất là những nhân vật mà thời gian tính cho phép được bạch hóa. Sau khi suy nghĩ và cân nhắc, tôi viết cuốn Biến Động Miền Trung đồng thời sẽ công khai hóa sự thật về một số nhân vật tên tuổi. Bởi vì, do số phận run rủi, tôi lại làm Cảnh Sát Trưởng tại Huế, cái nôi của một hệ thống cộng sản nằm vùng sử dụng chiêu bài tôn giáo, sinh viên học sinh. Tôi có trách nhiệm phải bạch hóa.

Tự cổ chí kim cái gì thuộc về Tình báo, tức thuộc về bí mật, thuộc về im lặng. Chúng tôi, sống để bụng, chết mang theo không bao giờ hở môi tiết lộ một điều gì cả. Tại sao? An ninh quốc gia, an ninh cho bản thân, an ninh cho đồng đội, an ninh cho những kẻ cộng tác với mình. Hầu như luật pháp mọi quốc gia đều quy định như thế, còn cộng sản, tôi không biết chúng xử sự và “luật” của chúng thế nào. Có rất nhiều trường hợp phải đến ba hoặc bốn mươi năm sau chính phủ mới giải mật một số hồ sơ hoặc cá nhân. Đó là lẽ thường tình.

Sau 1975 Việt nam Cộng Hòa không còn nữa, tuy nhiên vì an toàn cho đồng đội và những tình báo viên, mật báo viên còn kẹt lại trong vùng địch kiểm soát nên không thể tiết lộ. Đó là đạo đức tối thiểu phải có của một người rất bình thường như tôi.

Tại sao không dám viết khi TCS còn sống? Liên Thành muốn nổi tiếng?

Cá nhân tôi khi viết về những gì tôi biết về TCS vì những lý do sau đây:

Tôi không muốn mang tiếng “tiếng bất nghĩa, hoặc vì lười, hoặc vì sợ mà không nói ra sự thật. Và cũng không muốn để những ai đã thương, ghét, TCS ở trong tình trạng mù mờ về mọi phương diện của cuộc đời TCS, trong khoảng thời gian mà quốc gia, và đặc biệt là xứ Huế, trải qua nhiều khổ nạn, xuất phát từ Đảng Cộng Sản VN, từ những kẻ buôn thần bán thánh, đội lốt tu hành như Trí Quang, Đôn Hậu.

Viết về TCS để mọi người cùng nhìn thật rõ TCS là ai? quốc gia? Cộng Sản, nhân cách thật, con người thật, và cũng để làm rõ hơn những nhận xét của bằng hữu đối với TCS, nhất là nhận xét của Trịnh Cung, Đặng văn Âu, và vài người bạn của TCS nữa, rồi quý vị tự chọn cho mình một thái độ.

Có người cho là tôi muốn bôi nhọ TCS để nổi tiếng.

Có cần bôi nhọ thêm TCS nữa hay không? Vì tỵ hiềm, vì ganh nghét TCS? Thành thật mà nói, quan hệ cá nhân giữa tôi và TCS, nếu không đề cập tới lý tưởng và quan điểm chính trị, tôi và TCS không hề có oán thù cá nhân. Tôi cũng đã từng giúp TCS và gia đình TCS bằng cách lờ đi một số việc mà khó nói ra để gia đình TCS sinh sống. Ngoài ra, tôi còn là bạn của Trịnh Công Hà, (không phải là Trịnh Quang Hà) chúng tôi là bạn võ sinh, thường xuyên tập Judo chung với nhau. Hà hiện ở Cali, chúng tôi vẫn còn là bạn. Tôi cũng không có thói quen ganh ghét, tỵ hiềm bất cứ ai, nhất là thuộc cấp của mình.

Còn nói bám vào TCS để nổi tiếng.

Xin hỏi, bám vào TCS để nổi cái “tiếng”gì? Tôi xuất thân là cháu đích tôn đời thứ 7 của Gia Long Hoàng Đế, dòng Đông Cung Thái Tử Cảnh, cháu nội Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Bà nội tôi là cháu ngoại vua Thiệu Trị, chị của Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết. Nhân cách và lòng yêu nước của tiền nhân tôi không đủ cho tôi “nhờ vả” hay sao, mà phải nhờ vào nhạc sĩ nằm vùng TCS để nổi tiếng? Tôi nói vậy thì thế nào cũng có điều tiếng rằng tôi là gã khoe khoang. Không sao cả, còn hơn là bị sỉ nhục ăn theo tên nhạc sĩ mất tư cách Trịnh Công Sơn. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc sỉ nhục truyền thống gia đình tôi. TCS là thiên tài của ai cũng mặc kệ, nhưng nhất định không phải là thiên tài của tôi. Vả lại, nếu không biết thì thôi, còn đã biết rõ TCS như thế, liệu ai có can đảm để đứng gần TCS không? nói chi đến “nổi tiếng”? Ngoài ra, có một kiểu nổi tiếng nữa, mà tôi cùng rất nhiều bạn đồng ngũ đã nổi tiếng, đó là “nổi tiếng bỏ chạy” trước đồng đội. Cái nổi tiếng này đã quá đủ để suy ngẩm đến cuối đời rồi, có cái nổi tiếng nào mà có thể xóa được cái nổi tiếng này không? cần thêm nữa không?

Những bắt bẻ sao đợi đến bây giờ mới nói ra? Dám nói ra khi TCS còn sống không? Đợi TCS chết, rồi muốn nói sao thì nói? Rõ ràng là muốn ăn theo, muốn nổi tiếng qua bài viết có tính cách nhục mạ một “thần tuợng, thiên tài”!

Thật tình mà nói, cho dù là không có kiến thức tình báo, nhưng những điều trong cuộc sống hàng ngày cũng đủ cho mọi người hiểu một cách sơ đẳng là, giả sử tôi công bố điều này lúc TCS còn sống, thì hậu quả gì sẽ xảy ra cho đương sự và những người có liên quan đã cung cấp những tin tức về TCS cho tôi mà vẫn còn ở lại VN? Quý vị không tin tôi, nhưng Công An CSVN sẽ tin, và cơ quan tình báo nước ngoài tin tôi. Lý do chất vấn thì tiểu tiết nông cạn, rồi cho là toàn bộ dữ kiện tôi đưa ra là không đúng, thì quả là chỉ muốn kiếm cớ mọn để bài bác mà thôi. Và cũng kiểu lý luận sờ voi như thế, thì lịch sử kiểu này chỉ là lịch sử của người sống? Người chết kể như xù?

Lý do mà tôi không thể công bố vấn đề TCS hoạt động 3 mang, khi đương sự còn sống, thì tôi đã nói ở trên, xin được nhắc lại một lần nữa. Thật ra, bất cứ ai là dân tình báo như tôi, đều hiểu ngay là tại sao như thế, mà không cần một lời giải thích nào. Tình báo có luật của tình báo. Nó căn cứ trên lương tâm, đạo đức và trách nhiệm đối với những người khác có liên quan, đã cung cấp thông tin cho CSQG vẫn còn ở lại VN. Ai có thể bảo đảm rằng TCS ko bị bắt nếu như tôi công bố rằng TCS đã từng hoạt động 2 mang cho tôi và tình báo ngoại quốc? mà hậu quả kéo theo những người khác nữa? Không gì có thể đặt trên tính mạng và an nguy của họ được. Câu chuyện mà chánh văn phòng cựu phó TT Mỹ Dick Cheney, Lewis “Scooter” Libby tiết lộ danh tính một điệp viên CIA, bà Valerie Plame, mặc dù đã được cho là” “degrade” đã gây rất nhiều sóng gió, hẳn quý vị còn nhớ?

Tiện đây, Liên Thành tôi có đôi lời “tâm sự lòng thòng” dưới đây, để trả lời cho những kẽ cho là TCS quá nổi tiếng, quá thiên tài, nên tôi muốn ăn theo...

Tôi rời đất nước ngày 30/4/75, 32 tuổi. Với cái tuổi này, biết bao nhiêu thanh niên trong nước, bao nhiêu quân nhân còn ở lại, lặng lẽ đi vào “chiến khu” với một tương lai đầy nguy hiểm và vô định: không lương tháng, không vũ khí quân trang quân dụng? không lương thực, đói khát! Không còn chính phủ, không còn tổ chức, nhưng họ vẫn liều mạng với một tương lai vô định. Vì sao vậy? Họ mơ uớc điều gì? Hoài vọng điều gì? Họ chiến đấu cho ai? Kết quả là những cái chết âm thầm nơi rừng thiêng nước độc, hay những bản án tử hình, những năm tháng tù đày suốt cả đời người! Vì sao những anh hùng vô danh này làm như vậy? Phải chăng là vì họ không thể nào chấp nhận được một thực tế là Miền Nam đã rơi vào tay CS? Đó là một niềm đau, một niềm uất nghẹn không thể chịu đựng được?

Chúng tôi, mỗi người chọn một con đường, con đường tôi đi là con đường hèn, nhưng niềm đau thì giống nhau như đúc. Đau không thể chịu đựng được, đau vô bờ!

Tôi sang Mỹ, chôn chặt tất cả trong lòng, khóa kín nó lại, không dám nghĩ tới chuyện 30/4. Vẫn mơ mơ tỉnh tỉnh. Thật hay mộng đây? Những đêm mơ cố quận, đến khi tỉnh giấc, thật hãi hùng! Tôi lao vào mưu sinh, và cố gắng cho xong 4 năm đại học, để vừa như là một liều thuốc lãng quên, vừa là có cái nghề nuôi bầy trẻ. Vừa làm 2, 3 job, vừa đi học. Nhọc nhằn tất bật để không có thời gian cho quá khứ hành hạ. Chuyện cũ vẫn cố đào cho sâu mà chôn nó đi theo ngày tháng. Nhưng nặng nề quá! khó quá! Qua tuổi lục tuần, về hưu, la cà bè bạn. Ngồi kể chuyện cũ với dăm ba thằng bạn lính, tụi nó há hốc mồm. Không ngờ chuyện tồi tệ đến vậy. Có thằng hỏi tôi, mày dám viết không? Dĩ nhiên là viết, chuyện thật có gì không dám? Chuyện láo mới không dám! Vả lại, nhân chứng sống vẫn còn đây. Trên 5000 nhân viên Ty CSQG cùng chia bùi xẻ ngọt với tôi, một số còn kẹt lại VN, một số lưu lạc khắp nơi, nhưng ít ra cũng còn khoảng 3000 rải rác đầy thế giới.

Lý do cuốn sách Biến Động Miền Trung ra đời là như thế. Càng viết, tôi càng thấy nhẹ người. Cuốn sách với tôi thật sự là một giải thoát!

Vấn đề Mậu Thân 1968
Tháng 5 năm 1967, HCM chủ tọa phiên họp của Bộ CT trung ương đảng CS Việt Nam để duyệt xét tình hình và kế hoạch cho chiến dịch đông xuân 1967-1968. Kế tiếp, từ ngày 20 đến ngày 24/10/1967, tại phiên họp của bộ chính trị, thay mặt Quân ủy trung ương, Tướng Văn Tiến Dũng trình bày dự thảo chiến dịch Đông-Xuân-Hè 1967-1968. Bộ CT quyết định mở cuộc tổng CK, tổng nổi dậy vào đúng Tết Mậu Thân 1968.

Như vậy cuộc TCK tổng nổi dậy đã được bọn chúng quyết định vào tháng 10/1967, để đánh lừa và tạo bất ngờ, HCM tráo trở đề nghị hưu chiến 7 ngày trong dịp tết Mậu Thân, nhưng chính phủ VNCH chỉ đồng ý 3 ngày mà thôi.

Những hoạt động của VC được cơ quan tình báo CSQG Thừa Thiên Huế ghi nhận trước cuộc Tổng Công Kích, Tổng nổi dậy tại Thừa Thiên Huế:

1- Tình báo Kỹ thuật
Khoảng từ ngày 10 tháng 12 /1967, gần 20 ngày trước cuộc tấn công, cơ quan tình báo dân sự đồng minh đã có một loạt không ảnh chụp được tại những vùng núi phía tây thành phố Huế: thượng nguồn sông Bồ, Khe Trái, động Chuối, sông Hữu Trạch, phát giác một số lượng đông đảo các lực lượng quân sự của VC đang tập trung tại các vùng trên. Tin tức tình báo kỹ thuật cũng nghi nhận một số điện đài quân sự địch đang hoạt động liên tục tại vùng nầy.

Tôi đã được cơ quan tình báo dân sự đồng minh thông báo đầy đủ. Đồng thời họ cũng đã yêu cầu tôi xử dụng lực lượng tình báo cơ Hữu CSĐB để phối kiểm và xác nhận thêm các tin tức trên.

2- Mười toán tình báo của 10 quận thuộc tỉnh Thừa Thiên từ phía Bắc là quận Phong Điền, xuống tận phía nam là quận Phú Lộc, đều báo cáo về BCH tỉnh những tin tức tương tự giống nhau: Dân chúng trong những vùng C,D,F ( lượng giá tình hình an ninh) đều được cơ sở VC địa phương thông báo: Mọi gia đình trong vùng đều phải mua trữ lương thực, dự trữ thuốc men, chuẩn bị cho một cuộc đánh lớn sắp xãy ra.

3- Một số cán bộ cộng sản từ cấp huyện trở lên cũng đã được lệnh rời khỏi địa bàn hoạt động lên mật khu hội họp.

Tại thành phố Huế có 8 chi bộ đảng cộng sản và 80 cơ sở đảng bí mật có những hoạt động khác thường, bọn chúng tiếp xúc với nhau thường xuyên hơn. Tại các trạm giao liên nội thành có rất nhiều kẻ lạ xuất hiện.

4- Nhiều cơ sở quan trọng nội thành được điều lên mật khu hội họp do Khu Ủy Trị Thiên tổ chức. Bọn họ rời thành phố lên Mật khu họp vào đầu tháng 12/1967 và trở về lại thành phố Huế vào khoảng 20 tháng 12/1967.

Đương nhiên, trong số những cơ sở lên họp tại mật khu có cơ sở nội tuyến của chúng tôi. Vì vậy, khi họ trở về chúng tôi nhận được báo cáo của họ như sau:

Khóa học tập này có khoảng 300 cán bộ và 130 cơ sở nồng cốt nội thành. Nội dung học tập là phương thức phát động quần chúng nổi dậy tại nông thôn và đô thị. Nhiệm vụ của họ là sau khi trở về địa bàn hoạt động là thành lập các đội công tác làm nòng cốt phát động quần chúng tổng nổi dậy khởi nghĩa.

Cũng cần nói rõ thêm trong số những cơ sở nội thành được điều lên mật khu, có cả Giáo sư Lê văn Hảo, một số sinh viên đại học Huế. Bọn chúng là cơ sở nội thành VC.

Điểm chính rất quan trọng là chúng tôi phát hiện hầu hết các thành phần thân cận tranh đấu của Thích Trí Quang vào năm 1966, đào thoát lên mật khu, nay trong những ngày cận Tết, đã đột nhập trở lại, trú ngụ tại các căn cứ lõm của bọn chúng trong thành phố Huế. Căn cứ vào những sự việc vừa nêu trên, cộng thêm một số dữ kiện khác, chúng tôi, cơ quan tình báo CSQG của BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế và cơ quan tình báo dân sự Hoa kỳ sau khi nhận định lượng giá đều đi đến một kết luận chung là Việt Cộng sẽ tấn công Huế trong những ngày Tết Mậu Thân 1968.

Câu hỏi được đặt ra, tại sao tin tức tình báo của các cơ quan tình báo VNCH và đồng minh đầy đủ như vậy, mà thảm họa vẫn xãy ra cho Huế? VC tấn công và chiếm giữ Huế 26 ngày kể từ 2 giờ 33 phút sáng, rạng ngày 2 Tết Mậu Thân 1968, tàn sát 5327 thường dân vô tội và bắt dẫn đi mất tích 1200 người?.

Có những điều sau đây để có thể lý giải một phần nào:
-Bản chất người quốc gia quá thiệt thà lương thiện, bị HCM và đảng Cộng Sản phỉnh gạt, hưu chiến 3 ngày. Chính quyền Miền Nam cũng như đồng bào Miền Nam đã không thể tưởng tượng nổi rằng, cộng sản lại chọn ngày tết để chém giết đồng bào, vì dù sao chúng cũng là con người. Ai có thể ngờ những giờ phút thiêng liêng đầu năm của toàn dân tộc, dành để cúng giỗ ông bà, nhớ ơn tiền nhân, mà chúng lại nỡ đang tâm làm chuyện sát hại sinh linh vô tội. Chính quyền Miền Nam lúc ấy vẫn còn nghĩ là bọn CS không đến độ man rợ mất hết lương tri như thế. Cho nên, Miền Nam đã bỏ ngỏ tết Mậu Thân. Lợi dụng sự lương thiện của Miền Nam, chúng đã phát động chiến tranh và tàn sát đồng bào cùng màu da tiếng nói. Chúng dùng mọi thủ đoạn, nhất là khủng bố bằng máu để thắng hôm nay, nhưng muôn vạn đời sau, mỗi độ tết về, lịch sử lại nhắc rằng, bọn Cộng Sản Việt Nam đã vô lương tráo trở, cuồng sát đồng bào Mậu Thân 1968.

- Các cấp chỉ huy Quân sự vô trách nhiệm, hoàn toàn không có kế hoạch phòng thủ cho Huế.

- Quân số và lực luợng không đủ để phòng thủ khi bị địch tấn công, vì đã cho quân nhân, cảnh sát xã trại năm mươi phần trăm nghỉ Tết.

Và quan trọng nhất là tin tức tình báo từ lực lượng CSĐB/BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế, một phúc trình rất đầy đủ, đích thân tôi đưa lên cho trưởng ty, đã bị ém nhẹm. Lý do: trưởng ty CSQG Đoàn công Lập lại là nội tuyến nằm vùng, hoạt động cho Hoàng Kim Loan. ĐCL lý luận là loan tin đi chỉ sẽ làm kinh động dân chúng, chắc gì có thật. Trong thời gian làm phó ty, cá nhân tôi thấy Đoàn Công Lập có những hành tung và cách xử sự rất đáng ngờ. Sau đó cơ quan Tình Báo Dân Sự Hoa Kỳ có cho tôi hay là họ đang theo dõi Đoàn Công Lập, đương sự có những hoạt động nội tuyến. Từ đó tôi theo dõi hắn rất sát. Và hình như hắn cũng biết là tôi đang nghi ngờ hắn. Chúng tôi và cơ quan tình báo dân sự Hoa Kỳ đang phối hợp theo dõi để lấy thêm bằng cớ phúc trình lên trung ương, thì lại xãy ra biến cố Mậu Thân. Đêm 30 tết chính Đoàn Công Lập đã mưu sát tôi bằng cách ra lệnh cho tôi vào dẫn một đơn vị CSDC đến quận Nam Hòa, vì ĐCL nói rằng có một toán du kích sẽ đến đó. Bụng đã nghi ngờ Đoàn Công Lập, cho nên tôi rất cẩn thận. Khi tôi và 6 anh em nữa đến đó, thì không phải là một tiểu đội mà là một tiểu đoàn địch đang di chuyển. Nếu chúng tôi không nín thở nằm im, thì giờ này tôi và 6 anh em CSQG đã xương tàn cốt rục. Khi tôi trở về báo cho ông ta biết là không phải một toán mà là một tiểu đoàn, ông ta không phản ứng gì, chỉ hỏi “Sao anh không nổ súng?” Tôi trả lời “ Nếu hồi đêm tôi nổ súng thì giờ này đâu gặp ông trưởng ty được nữa”.

Vì tình hình quá sức khẩn cấp nghiêm trọng, theo nguyên tắc không được vượt quyền Đoàn Công Lập, nhưng tôi đã vượt rào gặp Tỉnh Trưởng Thừa Thiên lúc đó là Trung Tá Phan Văn Khoa, để cố thuyết phục ông ta nên có kế hoạch chống đỡ tối thiểu, ít nhất là còn nước còn tát. Nhưng ông ta, không chú ý gì đến bản phúc trình của thằng trung úy quèn, mặt non choẹt, búng ra sửa mới 25 tuổi như tôi cả, chỉ ừ hử qua chuyện. Kết quả:

Rạng sáng ngày mùng hai tết Mậu Thân, lúc 2 giờ 33 phút sáng là giờ khởi đầu của 624 giờ địa ngục. Năm giờ 30 sáng, lờ mờ bóng quân đội nhân dân giải phóng trong thành phố. Sáu giờ sáng, quốc kỳ VNCH không còn trên kỳ đài Phú Văn Lâu, thay vào đó là cờ của lực lượng Liên minh Dân Tộc, Dân chủ, Hòa Bình do ông Lê văn Hảo làm chủ tịch, Thích Đôn Hậu làm phó chủ tịch. Cờ gồm 2 mảnh màu xanh nhạt, ở giữa là màu đỏ sao vàng, không phải là cờ của MTGPMN. Bảy giờ sáng, Việt Cộng bắn xối xả vào đoàn dân chúng hốt hoảng chạy nạn. Thây người ngã gục, máu đào tuôn rơi. Dân chúng chạy trốn vào nhà thờ Phủ Cam, nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, trường trung học Gia Hội, trường tiểu học Kiểu Mẫu, trường trung học Thiên Hựu, chùa Diệu Đế, chùa Áo Vàng, số còn lại trốn tại nhà. Dân quận I thì chạy về Cầu Kho , Mang Cá, nơi có BTL sư đoàn I để tìm sự bảo vệ. Suốt 2 tuần từ mùng hai tết, trời u ám, mây xám đặc phủ cả thành phố. Huế trong cơn mưa lạnh giá buốt và trong nỗi sợ hãi rúng động kinh hoàng. Trong khi lực lượng quân sự cộng sản tấn công những vị trí quan trọng trong thành phố, thì bộ phận an ninh chính trị của quân khu Trị thiên và tỉnh ủy, thị ủy Thừa Thiên Huế bắt đầu cuộc tắm máu tàn sát dân lành.

Mùng 3 tết, Lê Chưởng, chính ủy mặt trận Huế, bắt đầu thi hành nghị quyết ngày 21/1/1968 của trung ương đảng, chỉ thị cho Trung Uơng cục Miền Nam, khu ủy khu 5, khu ủy Trị Thiên, Phạm Hùng, Võ Chí Công, và thiếu tướng Trần văn Quang, tư lệnh mặt trận Trị Thiên. Nghị quyết gồm 3 điểm;

1/ Kêu gọi tổng nổi dậy, thành lập chính quyền cách mạng
2/Thành lập mặt trận Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ, Hòa Bình
3/ Lùng diệt truy quét thành phần ác ôn, tàn binh ngụy, công an cảnh sát ngụy, thành phần làm tay sai cho Mỹ, CIA.

Hầu hết đám nằm vùng theo Thích Trí Quang bao gồm giáo sư, sinh viên thanh niên tranh đấu đã thoát lên mật khu sau biến động 1966, nay trở về, đảm nhiệm là thành phần nòng cốt chỉ điểm và thi hành các vai trò trên, đặc biệt là vai trò truy quét tận diệt các thành phần Mỹ Ngụy ác ôn.

Chính quyền cách mạng được thành lập như sau: Lê văn Hảo: chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố. Lê văn Hảo là thành phần tranh đấu Phật Giáo năm 1966 bị bắt, được Đoàn Công Lập trả tự do, cán bộ trí vận. Cán bộ điều khiển y là Hoàng Kim Loan. Phó chủ tịch UBNDCM là Đào thị Yến tức Tuần Chi, hiệu trưởng trường Đồng Khánh, tình nhân của Thích Đôn Hậu, cán bộ trí vận, HKL điều khiển thị. Đồng phó chủ tịch là thường vụ thành ủy Hoàng Phương Thảo. Chủ tịch UBNDCM quận I là Nguyễn Hữu Vấn, GS trường quốc gia âm nhạc và kịch nghệ. Chủ tịch UBNDCM quận II là Nguyễn Thiết. Thiết vượt tuyến vào Nam 1957, là cơ sở nằm vùng rất lâu ở Huế, SV luật khoa, thành viên BCH tổng hội SV đại học Huế. Quận III chưa tổ chức kịp nên Bảy Lanh, trưởng ban an ninh thành ủy đảm trách.

Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình: Vẫn Lê văn Hảo làm thêm một chức chủ tịch. Phó chủ tịch là Thích Đôn Hậu, tình nhân của Tuần Chi. Tổng thư ký: Hoàng P N Tường. Nguyễn Đắc Xuân, phụ trách thanh niên SVHS.

Trách nhiệm truy quét ác ôn Mỹ Ngụy được thực hiện như sau:
-
-Nhiệm vụ thi hành bạo lực cách mạng được thực hiện bởi các “đội tự vệ khu phố”, do Nguyễn Đắc Xuân chỉ huy, dưới sự điều khiển chỉ đạo của lực lượng an ninh quân khu và tỉnh ủy. Gồm các cơ sở nằm vùng rất bí mật trong nội thành, các thành phần trong phong trào Phật Giáo đấu tranh thoát ly lên mật khu sau biến động miền trung 1966, lực lượng HSSV giải phóng thành phố Huế. Các đội tử thần này rãi đều khắp 3 quận, là lực lượng sát máu và tàn bạo nhất, hơn hẳn Hồng Vệ Binh của Mao Trạch Đông. Ngoài Nguyễn Đắc Xuân, Chủ tịch quận I Nguyễn Hữu Vấn, quận II Nguyễn Thiết, tổng thư ký HPNT và HPNP, Hoàng văn Giàu, Nguyễn thị Đoan Trinh là những thành phần chủ chốt sắt máu nhất của các đội này. Các đội tử thần này rãi đều trên các quận, chúng đi từng nhà, vừa đe dọa, vừa lục soát, vừa bắt những ai có trong sổ đen. Chúng chia làm 3 đợt. Chúng dụ địch. Những ai tự ý trình diện giao nộp vũ khí trong đợt 1 và 2 đều được chúng cấp giấy khoan hồng cho về. Thấy vậy, nhiều người trốn tránh khỏi 2 đợt kia liền ra trình diện. Đến sau đợt 3, chúng tóm gọn cả 3 đợt, yêu cầu mọi người đi học tập tại các địa điểm mà chúng quy định. Tin tưởng như các lần trước, đi rồi lại về, mọi người kéo nhau đi. Và họ đã đi mãi không trở lại. Tất cả đã chết, tất cả đã bị bọn nằm vùng và cộng sản dùng vật cứng đập đầu rồi chôn sống, lấp xuống hầm sâu hố cạn, vài hố thì ở trong thành phố, còn hầu hết các hố chôn còn lại là ở các quận vành đai.

Tổng cộng có cả thảy 26 hố chôn tập thể. Hố ít nhất là 3 người, trung bình là 400 người, đông nhất là 800 người. Tôi cố gắng tóm tắt để trả lời quý vị. Muốn hiểu rõ danh sách đầy đủ hơn của bọn nằm vùng, chúng hoạt động chi tiết ra sao, những viên chức chính quyền, những quân nhân bị giết, giết như thế nào v.v xin xem trong cuốn Biến Động Miền Trung tôi ghi khá đủ như phúc trình của cảnh sát.

Kết quả là Huế điêu tàn đổ nát, 5327 đồng bào vô tội bị giết, 1200 người bị dẫn đi mất tích, khăn tang trắng ngập cả Cố Đô. Ngoài lực lượng chính quy CS Bắc Việt và đảng CSVN, những tay trùm chủ chốt nhất của vụ Mậu Thân gồm có: Lê văn Hảo, Hoàng phủ ngọc Tường, Tôn thất Tiềm, Tôn thất Dương Kỵ Nguyễn Đóa, Nguyễn hữu Vấn. Những đại đồ tể nổi cộm nằm vùng đã trực tiếp bắn, giết, đập đầu, chôn sống đồng bào gồm có: Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng văn Giàu, Nguyễn Thiết... Riêng nữ sinh Nguyễn thị Đoan trinh, con gái Nguyễn Đóa, y thị vô cùng tàn bạo sắt máu. Y thị cỡi Honda, mang AK, chận hỏi mọi người. Bất kỳ ai trả lời là lính, cảnh sát, nhân viên chính quyền là y thị nổ súng bắn chết ngay.

Nhưng trời cao đôi khi không có mắt, y thị hiện nay vẫn sống chễm chệ trên tội ác, trở thành nữ thương gia giàu có tại Sài Gòn…

Tóm lại, chịu trách nhiệm không bảo vệ được đồng bào trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân là chính quyền VNCH các cấp, trong đó có cả tôi.

Còn thủ phạm tàn sát dân chúng là đảng CSVN, tất cả các nhóm tranh đấu nằm vùng. Qua lời khai của Hoàng Kim Loan và một số cơ sở Việt Cộng khác, những tài liệu thu thập được, cũng như qua các phương pháp thu thập và kiểm chứng thông tin với nhiều nguồn khác nhau, ty CSQG Thừa Thiên Huế cũng như ngành tình báo trung uơng của chính phủ VNCH đã có quá nhiều bằng chứng để kết luận như thế. Đảng Cộng Sản và những tay đồ tể này, cần phải bị đưa ra tòa án tội phạm quốc tế. Hãy so sánh vụ tàn sát Mỹ Lai mà Đảng CSVN vẫn sử dụng để quảng cáo cho “chính nghĩa cộng sản” và khỏa lấp tội ác của chúng. Tính tới thời điểm này, đã có quá đầy đủ bằng chứng cho thấy CS đã cố ý dùng thường dân vô tội để khiêu khích tạo ra các vụ tàn sát bởi bàn tay của một vài cá nhân quân nhân Hoa Kỳ như William Calley. Chiến lược gài độ này được dùng để tạo nên sự giận dữ của thế giới và mất đi sự ủng hộ của dân chúng Hoa Kỳ đối với cuộc chiến tại Việt Nam, và là một cái cớ rất tốt để bọn phản chiến kêu gào chữi rủa. Cộng sản Việt Nam đã không chừa mọi thủ đoạn nào để gài độ đối phương, thì trách nhiệm vụ Mỹ Lai có phải chỉ thuộc về phía Hoa Kỳ mà thôi? Và hãy nhớ rằng, súng đạn và vài bàn tay quân nhân Hoa Kỳ gây nên cái chết của vài trăm người Việt Nam, thì có thể so sánh được không, với súng đạn của cộng sản, bằng chính bàn tay của cộng sản Việt Nam, giết 5327 đồng bào Việt Nam, 1200 người mất tích, như vậy có thể nói, con số chết là 6527 người, trong một chiến lược và chủ trương của đảng cầm quyền?

Cộng sản đang đô hộ Việt Nam, đang tự cho mình là minh quân. Nhưng, “Những minh quân của hôm nay đều trở thành hôn quân của trăm năm sau”. Lịch sử sẽ định tội phân minh.

Và trách nhiệm cũng thuộc về nhóm Phật Giáo Ấn Quang như các ông Đôn Hậu, Trí Quang, Thiện Siêu, đã gây dựng cơ sở cho cộng sản, tạo mọi điều kiện cho chúng tràn vào Huế. Tuy các ông không tự tay tàn sát đồng bào như bọn cộng sản và đám Hoàng phủ, Hoàng văn Giàu, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn thị Đoan Trinh, Nguyễn Thiết, nhưng các ông đã ủng hộ và đồng lõa, giúp tạo nên biến cố lịch sử thê thảm này…

Sau Mậu Thân, tỉnh trưởng Phan văn Khoa bị cách chức trả về quân đội. Đoàn Công Lập bị bắt. Trung Úy Trương Công Ân là người thụ lý hồ sơ ĐCL, hiện đang ở Orange County.

Trả lời câu hỏi: Sau 1975 Đoàn Công Lập cựu Trưởng Ty CSQG/Thừa Thiên-Huế trốn tránh VC tại Sàigon cho đến ngày bị bệnh qua đời. Như vậy Ông Đoàn Công Lập làm sao là cộng sản nội tuyến?.

Đây là câu hỏi của một vị thầy giáo(?) đã dạy kèm cho con ông Lập tại Huế. Sau 1975 đã được Đoàn Công Lập che chỡ trốn tránh tại Sài gòn, như vậy Đoàn Công Lập khó có thể là CS.

Trong lịch sử tình báo, thật tình có nhiều chuyên không ngờ. Việc xãy ra vậy mà thực chất bên trong không phải vậy.

Xin đưa ra một vài vụ điển hình:
-
Trong thời đệ I Cộng hòa, Ông Phạm Ngọc Thảo về hồi chánh đã cung cấp cho CP/VNCH nơi trú đóng của trung đoàn Quyết Thắng VC, Quân lực VNCH liền mở cuộc hành quân tiêu giệt gần trọn Trung đoàn nầy. Sau vụ nầy Ông Thảo đã tạo được lòng tin của chính phủ VNCH ông ta đã đuợc nâng đỡ lan đến chức Tỉnh Truởng và cấp bậc cuối cùng là Trung Tá QLVNCH. Sau 1975 sự việc trung đoàn Quyết thắng mới một phần nào lộ ra ánh sáng:

Hầu hết cán binh của trung đoàn này là thương phế binh, bọn VC thí đám tàn binh này, để Phạm Ngọc thảo dùng làm món quà đầu thú, tạo niềm tin với chính phủ VNCH. Một công hai việc, vừa tẩy trừ gánh nặng thương phế binh, vừa cài được điệp viên trong lòng địch. Sau 1975 Phạm Ngọc Thảo được phong là liệt sĩ. Đây có thể được gọi là “khổ nhục kế” mà tình báo từ ngàn xưa đã áp dụng.

- BTL/ CSQG tại Sàigòn cũng đã bị VC đặt chất nổ. Báo chí Sài Gòn hồi đó đã chê bai lực luợng CSQG là bất lực. Nhưng họ đâu ngờ rằng để bảo vệ Tình báo viên nội tuyến của mình, BTLCSQG buộc lòng cho nổ theo lệnh của VC.

- Cá nhân tôi sau khi trình bày đầu mối xâm nhập và được phép Đại Tá Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa Thiên chấp thuận, tôi đã vẽ sơ đồ xã Thủy An cho Đặc Công VC tấn công.

Với 3 ví dụ trên cho thấy việc Ông Đoàn Công Lập bảo vệ người thầy giáo chạy trốn cộng sản tại Saigòn thấy vậy, mà không phải vậy. Sau 1975, Đoàn Công Lập vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ dụ địch, ĐCL đã giúp thành lập những tổ chức kháng chiến do cục tình báo phản gián dàn dựng. Rất nhiều anh em bị bắt tại Sài Gòn là do ông Lập chỉ điểm. Vụ kêu gọi anh em tham gia kháng chiến hẹn gặp tại xa lộ Đài Hàn để lên mật khu là do ông Lập dàn dựng. Tất cả đã bị Công An đợi sẵn ngoài xa lộ và bắt trọn ổ, một số đi ở tù về hiện nay đang ở Cali sẳn sàng đối chất về chuyện này.

Liên hệ với tình hình hiện tại, đó là việc tất cả hình ảnh thu thập được khi Ls Lê Công Định sang Thái Lan tiếp xúc với Nguyễn Sỹ Bình và “đại diện” Đảng Việt Tân để học tập về phương pháp đấu tranh bất bạo động do một chuyên viên từ khối Đông Âu sang giảng dạy. Theo nghề tình báo, chúng tôi phải bắt buộc đặt nghi vấn thủ phạm gài bẩy trước tiên phải là những người có mặt trong các cuộn phim tang chứng, rồi mới đến những nghi can khác. Chuyện chuyên viên Đông Âu, nghe qua, rõ ràng là một “brand name”, dĩ nhiên tạo được niềm tin cho những người đang mong mỏi dân chủ cho đất nước ngay tức thì, vì đó là cái nôi của việc lật đổ Cộng Sản. CS đã sử dụng nó để quyến rũ những trái tim nhiệt huyết nhưng hơi nhẹ dạ như LCĐ. Chuyện “đại diện” Việt Tân thì quá dễ dàng nhanh chóng kiểm chứng được là Việt Tân giả hay thật. Vấn đề Nguyễn Sỹ Bình bằng xương bằng thịt thì không thể gọi là Nguyễn Sỹ Bình giả được. Chuyện soạn thảo Hiến Pháp cũng là do chính y mớm lời và gài cho LCĐ sửa chửa, và còn nhiều rất nhiều chuyện nữa. Khi những thước phim có đủ hình ảnh việc gặp gỡ, trao đổi, được đưa ra, làm sao LCĐ có thể phủ nhận? Việc dàn dựng Việt Tân giả nhằm hai mục đích: dụ dỗ những người nhẹ dạ có tâm huyết trong nước, bởi vì Việt Tân cũng có tên tuổi trong các đảng phái chống cộng hiện nay. Chuyện thứ hai là để triệt hạ uy tín của Việt Tân. Riêng việc chọn lựa Nguyễn Sỹ Bình làm con mồi dụ địch thì nguyên tắc bắt buộc mà Cục Tình Báo Hải Ngoại của CS phải chọn, ứng viên phải là người có thành tích chống cộng ở tù cộng sản v.v.Càng chống cộng có bản án ở tù nhiều chừng nào, tốt chừng ấy. Đó là phương pháp “khổ nhục kế” mà tình báo tự cổ chí kim ai ai cũng đều áp dụng. Chúng tôi và cộng sản đều áp dụng rất nhiều. Chiêu nầy nó rất cũ rích, nhưng vẫn rất hiệu nghiệm trong quá khứ, bây giờ, và mãi mãi. Mong mọi người phải vô cùng cảnh giác. Việc dàn dựng lên các đảng phái chống cộng để bắt người mưu đồ chống cộng là điều đương nhiên cục tình báo CS quốc nội và hải ngoại bắt buộc phải làm. Chúng tôi, những người làm nghề tình báo, rất thuần thục trong vấn đề cài người và sử dụng khổ nhục kế, dễ dàng kiểm chứng và nhận thấy hiện nay có ít nhất 3 đảng chống cộng trong và và ngoài nước là do Công An Cộng Sản cò mồi dựng nên. Cha Lý, Công Nhân và Nguyễn văn Đài đã rớt vào cái rọ. Trong phạm vi bài viết này, tôi không thể phân tích đầy đủ tại sao tôi kết luận như thế. Xin hẹn dịp khác.

- Bửu Chỉ là ai?.

Đó cũng là một chuyện thấy vậy mà không phải vậy. Vì là bà con trong Hoàng Tộc nên tôi có thể nói rất nhiều về Bửu Chỉ, và Bửu Chỉ cũng đã mất vào ngày 14 tháng 12 năm 2002, nên xem như mọi việc làm của Bửu Chỉ phải được bạch hóa để trả lại danh dự, công bằng và những đóng góp của ông đối với quốc gia.

Đầu tiên xin nói về cá nhân Bửu Chỉ: Bửu chỉ thuộc dòng Tuy Lý Vuơng. Phụ thân của Bửu chỉ là Cụ Ưng Thuyên, cháu nội ngài Tuy Lý Vưong, chú ruột là thầy Ưng Quả, một người bạn rất thân với phụ thân của tôi. Cậu ruột là Nguyễn Dương Đôn, Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục thời Đệ I Cộng Hòa.

Nói về cá tính và thói quen của Bửu Chỉ, cán bộ điều khiển NPLH hiện đang trú ngụ tại Cali, U.S.A. đã cho tôi biết như sau:

Sau 1975, Bửu Chỉ hút thuốc, uống rượu nặng, ham mê nữ sắc, nhưng lại thích sống cô độc. Mệ vì vậy mà sau 1975 đã ăn ở với vợ của Hoàng Phủ Ngọc Tường là Lâm thị Mỹ Dạ. Bửu Chỉ rất ghét xu nịnh.

Bửu Chỉ học hội họa, không phải học luật. Tranh Bửu Chỉ đẹp, bán rất đắt. Đã từng triễn lãm tại Pháp vào 1989. Vốn thuộc dòng dõi có truyền thống quốc gia yêu nước, Bửu Chỉ ý thức được tai họa của chủ nghĩa cộng sản, chúng tôi lại là họ hàng rất thân nhau, nên chuyện cộng tác vì lý tưởng chung là chuyện tự nguyện. Điều thuận tiện của Bửu Chỉ là bạn thân TCS, Đinh Cường và rất nhiều thành phần tranh đấu và đám SV cộng sản nằm vùng, lại tài giỏi, nên Bửu Chỉ đã dễ dàng thành công trong nhiệm vụ của một điệp viên quốc gia cài đặt trong mạng lưới nằm vùng. TCS và Đinh Cường cũng như những thành phần hoạt động nằm vùng cho đến nay đều nghĩ 100% Bửu Chỉ là đồng bọn của họ. Thân với TCS và đám nằm vùng tranh đấu chỉ là để thực hiện nhiệm vụ.

Bửu Chỉ là người quốc gia chân chính, đã đóng góp rất nhiều cho ty CSQG Thừa Thiên Huế trong việc phát hiện và theo dấu rất nhiều cơ sở nằm vùng, trong đó có những hoạt động CS của TCS. Chính Bửu Chỉ là một trong nhiều nhân chứng quan trọng đã khai và xác nhận là Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ngồi ghế ông tòa, chủ trì cái gọi là “tòa án nhân dân” tại trường Gia Hội. Ông Tòa Tường đã ban lệnh xử tử 204 đồng bào vô tội bằng cách đập đầu bằng vật cứng sau đó chôn sống tại một hầm tập thể cũng ngay tại trường Gia Hội. Sáng ngày 26/2/1968 chúng tôi phát hiện ra hố chôn tập thể này. Tất cả điều mà Bửu Chỉ khai đều phù hợp với rất nhiều nhân chứng, trong đó có nhiều người là thân nhân là vợ con của ngụy quân ngụy quyền, ngụy cảnh sát bị hắn tuyên bố có nợ máu với nhân dân, đã có mặt tại phiên tòa hôm đó, và cũng hoàn toàn phù hợp với báo cáo của thiếu úy Trọng, trưởng toán tình báo khu vực quận 2, và lời khai của trung tá tình báo CS Hoàng Kim Loan mà chúng tôi bắt sau đó vào mùa hè 1972.

Không như TCS, không như đám bạn bè Việt Cộng nằm vùng, trái tim của Bửu Chỉ hoàn toàn dâng hiến cho quốc gia và lý tưởng tự do chân chính. Bửu Chỉ chết đi, không thẹn với tổ phụ, với non sông.

Liên Thành

(còn tiếp)

Liên Thành Trả Lời Chất Vấn Trong Bài Trịnh Công Sơn (2)




Tại sao không bắt đám nằm vùng và Trịnh công Sơn?

Điều mà tôi bị chất vấn, hay đúng hơn là bị kết án nhiều nhất là: tại sao TCS và nguyên một danh sách dài đám trí thức nằm vùng không bị bắt! Tôi có thể khẳng định một cách đơn giản như thế này: “Nếu ông thân sinh tôi làm CS thì tôi cũng bắt!”.

Và cũng để trả lời câu hỏi trên, tôi xin được hỏi ngược lại một câu: Chúng ta cần trốc cho tận gốc, hay chỉ cắt đi lớp cỏ bên ngoài? Để cho đám nằm vùng sinh sôi nẫy nỡ đến cỡ nào? lúc nào, và khi nào thì cần tóm gọn. Nên tóm những tên nào? Tên nào thì phải để lại cho nó thu hút những con ong chúa mới? Đó mới là việc mà giới tình báo chúng tôi phải suy tư tính toán.

Bài viết “TCS và những hoạt động nằm vùng” chỉ một bài viết ngắn, nói đến những hoạt động nằm vùng của đương sự và đồng bọn mà thôi. Cho nên chúng tôi không tiện trình bày diễn tiến sự việc, kết cục ra sao, như trong cuốn sách BĐMT. Ngắn gọn là, qua theo dõi nhóm nằm vùng này, chúng tôi đã tóm gọn trên 1500 cơ sở nội thành quan trọng và gần 60 cơ sở kinh tài, trong đó có những cơ sở rất quy mô, đưa đi Côn Đảo ngay, không thể cho ở lại Huế mà hòng mong ngụy tạo một vụ kiểu Chín Hầm thứ 2, trong biến động 1966. Điều tối quan trọng là, nếu Huế thất thủ, thành phần này sẽ tắm máu Huế lần nữa, chúng trả thù còn hơn cả Mậu Thân. Chiến dịch thần tốc này có tên là “Chiến dịch Bình Minh”. Chiến dịch thật sự bắt đầu vào lúc 6 giờ sáng ngày 6 tháng 5 1972, nhưng trước đó 2 tiếng, để bảo đảm thành công trọn vẹn, chúng tôi đã quyết định bắt tên điệp viên chủ chốt nguy hiểm nhất, kiến trúc sư trưởng của toàn mạng lưới nằm vùng tại Huế và Miền Trung: Trung tá điệp viên CS Hoàng Kim Loan. Loan rất thông minh, hành tung xuất quỷ nhập thần. Chúng tôi tuyệt đối không thể để mất tên này. Hắn là cán bộ trực tiếp điều khiển Đôn Hậu, Trí Quang, thiết kế thành công nên một mạng lưới nằm vùng tinh vi và chặt chẽ, dưới vỏ bọc rất tôn giáo: Phật tử tiểu thương chợ Đông ba, Học sinh sinh viên Phật tử, chiến đoàn Phật tử, cảnh sát Phật tử, quân nhân Phật tử v.v . Rất nhiều lần Hoàng Kim Loan đã bí mật đến chùa Linh Mụ, Từ Đàm, gặp gỡ Đôn Hậu, Trí Quang. Chúng tôi theo dõi hắn và một số đồng bọn từ lâu. Và dĩ nhiên, chúng tôi muốn bắt hắn lúc nào mà chả được! Nhưng nếu làm như thế thì chỉ một vốn một lời. Chúng tôi muốn một vốn mười lời. Chúng tôi cần bắt trọn ổ, chứ không phải là vài ba tên tép riêu, đụng đâu bắt đó. Muốn đạt được điều này, chúng tôi theo dõi cặn kẽ, dài ngày và một kế hoạch cài người tinh vi mà phải tốn rất nhiều thời gian để có thể tạo được sự tin tưởng của bọn CS. Điều này đòi hỏi kiên nhẫn, công sức, nguy hiểm, và sự hy sinh rất lớn lao, ngay cả tính mạng, nhưng rất âm thầm đơn độc của biết bao nhiêu nhân viên CSĐB cài vào những cơ sỡ nằm vùng Huế.

Tại sao chúng tôi chọn thời điểm ngày 6/5/1972? Sở dĩ như vậy là vì tình hình Huế lúc đó đang hết sức nguy ngập. Chúng tôi đánh giá là kể từ ngày 6/5/72 trở đi, Việt Cộng có thể khởi động một cuộc tổng nổi dậy như tết Mậu Thân một lần nữa, bất cứ lúc nào, để tạo sức ép lên Hiệp Định Paris. Nên điều tối cần thiết là phải ra tay tóm ngay những thành phần nguy hiểm này, trước khi chúng dấy loạn. Để khỏi bị lộ, chiến dịch Bình Minh đã được tính toán chi li, cố không bỏ sót tên nào. Tôi đã ký sẵn trên 2000 lệnh bắt. Chiến dịch được thực hiện khẩn cấp và ráo riết trong vòng 12 ngày, trên toàn lãnh thổ Thừa Thiên, Huế. Nhóm không quan trọng như đám Trịnh Công Sơn, chúng tôi tiếp tục để chúng sinh sôi nẫy nỡ chờ các “vụ mùa” tiếp. Xin kể một vài cái tên “lớn” rất nổi cộm tại Miền Nam mà chúng tôi, rất đau lòng khi khám phá ra trong chiến dịch Bình minh:

Đó là Trung tướng Trần văn Trung, Thiếu tướng Lê văn Nghiêm, dược sĩ Nguyễn Cao Thăng.

Hai vị tướng kia quý vị đã biết tiểu sử và chức vụ, xin nói về chủ nhân Pharmacy Tràng Tiền : thuộc cơ sở cục tình báo chiến lược, với 2 nhân vật bí mật là dược sĩ Nguyễn Cao Thăng và Nguyễn Thúc Tuân. Năm 1951, Nguyễn Cao Thăng được cơ quan quân báo CS bố trí từ chiến khu về đầu thú với chính quyền quốc gia. Sau đó y lập gia đình với bà Nguyễn thị Ngọc Diệp, con gái ông Nguyễn văn Nghi, tức Hội Nghi. Ông Hội Nghi là bác ruột ông Nguyễn văn Ấm, chồng bà Ngô đình thị Hiệp, em gái TT Ngô đình Diệm. Con trai đầu ông Hội Nghi là ông Nguyễn văn Lễ, lấy bà Ngô đình thị Hoàng. Nhờ thế lực bên vợ, Nguyễn Cao Thăng đắc cử dân biểu nhiệm kỳ 1 đơn vị Quảng Trị. Sau khi có thế lực, Nguyễn Cao Thăng ly dị vợ.

Nguyễn Cao Thăng trở thành tỷ phú năm 1963, tổng giám đốc công ty dược phẩm OVP. Hắn ta leo đến chức phụ tá Tổng Thống thời đệ nhị Cộng Hòa.

Trở lại Trường hợp TCS, chúng tôi đã thảo ra một phương án theo dõi tinh vi bí mật mà bọn này đến chết cũng không thể ngờ. TCS đến giờ này, ở suối vàng, cũng không thể ngờ nhân viên tình báo chịu trách nhiệm theo sát y lại là X, một trong những người bạn thân ra vào gần gủi với y. Cũng như vậy, đó là trường hợp Lê Khắc Cầm, cán bộ điều khiển TCS. Chúng tôi giả lơ như không bao giờ để ý LKC, không bao giờ biết y là CS, và y đã tự do tung hoành. Cầm cứ tưởng những thông tin mà y chuyển qua những chuyến bay quân sự là an toàn số một. Ai dám đụng tới máy bay các ông tướng, ông tá? Thật ra các thư từ tin tức đó đều bị chúng tôi đọc và phối kiểm trước khi đến tay người nhận. Cho nên, tôi, Liên Thành, khẳng định lời của Lê Khắc Cầm nói rằng, tác giả của “Thư gởi Ngô Kha” là TCS, là sự thật 100%. Người nhận cuối cùng của lá thư này là Lê Khắc Cầm. Khi cái “thư gởi Ngô Kha” của TCS được đưa ra công luận của CS gần đây, thì liền bị tranh cãi kịch liệt. Gậy ông đập lưng ông. CS nói dối quá nhiều, cho nên kỳ này nói thật thì thiên hạ lại nghĩ ngược lại. Khi đọc qua bút tích này, những người hâm mộ nhạc TCS đều không tin nỗi. Lẽ nào một người siêu thực như TCS mà lại ham muốn quyền lực như vậy? Điều này là thực hay hư? Chính quyền CS muốn nổi tiếng, nên ăn có theo TCS? Con người đầy tính “triết và thiền” của TCS không thể là chủ nhân của lá thư đầy ham muốn quyền lực trần tri như thế! Dĩ nhiên, nhiều tranh cãi đã xãy ra giữa nhóm bạn văn nghệ mới cũ , trên chính báo chí của CS, đến nỗi,“nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân” phải cất công đi “nghiên cứu” với Lê Khắc Cầm, để xác nhận xem TCS có thật là chủ của nó không. Cái bề ngoài đeo kính rất trí thức, đượm chút bất cần đời, lời nhạc thi khó hiểu như triết học, đã giúp TCS rất nhiều trong việc dư luận dễ dàng phủ nhận lá thư này là của đương sự. Hoàng Tá Thích, chồng Trịnh Vĩnh Tâm, em rễ TCS, em ruột của đại tá cộng sản Hoàng Xuân Tùy , cũng nhảy vào ăn có. Ông em rễ Hoàng Tá Thích cam đoan là TCS không màng danh vọng chính trị gì sất!

Tội nghiệp Lê Khắc Cầm. Ai không tin anh ta, nhưng tôi thì có thể làm nhân chứng cho anh ta, vì đó là sự thật. TCS là tác giả chính hiệu con nai vàng của cái ”Thư gởi Ngô Kha”, mà cơ quan CSĐB chúng tôi đã đọc qua.

Cơ quan CSĐB của chúng tôi đã giảo nghiệm nét chữ, và sau đó có nhờ cơ quan tình báo bạn phối kiểm. Kết quả đều khẳng định là của chính hắn. Trong bức thư này, TCS đã nguyền rủa đời sống tại Miền Nam thậm tệ, và ao ước có ngày được nối vòng tử sinh với Hà Nội. Anh ta cũng khẳng định mình là một nhân vật của “đám đông” được đám đông thần tượng, nên anh ta phải có bổn phận với đám đông này. Đám đông đó là ai? Một đám thanh niên bạc nhược, chống chiến tranh trốn lính? Một đám thanh niên học sinh của thời thượng? chuyên nghe nhạc Trịnh, đọc sách Phạm công Thiện? Bổn phận của TCS đối với đám đông của đương sự là gì? Nối vòng tay lớn của chế độ cực kỳ tàn bạo và man rợ, điển hình qua các vụ Cãi Cách Ruộng Đất, vụ Quỳnh Lưu, vụ Nhân Văn Giai Phẩm, cho cái gọi là “đám đông” của hắn tại Miền Nam? Lá thư này đuợc viết vào mùa thu 1974. Xin quý vị tìm đọc lá thư này ở www.damau.org để hiểu rõ thêm về TCS. Xin cho tôi miễn lời bình về nhân cách của TCS qua những lời mà y đã thóa mạ Miền Nam.

Một giai thoại giữa tôi với TT Nguyễn văn Thiệu, xin kể ra, để quý vị có thể tự trả lời câu hỏi tại sao chúng tôi không bắt TCS và nhóm nằm vùng Huế. Chúng tôi nhận được tin bọn CS sẽ đặt chất nổ ở quán cơm Âm Phủ, khi Tổng Thống và các yếu nhân đến ăn ở đó. Tôi trình Đại Tá Tỉnh Trưởng, Ông không quyết định được mà muốn tôi cùng đi với ông vào trình tổng thống chuyện này, vì khi đó Tổng Thống đang nghỉ đêm tại Tòa Đại Biểu, lòng vô cùng băn khoăn lo lắng. Sau khi nghe tôi thuyết trình xong, ông cười tỉnh bơ và nói chỉ đúng hai chữ: “Cho nổ!”. Tôi tròn mắt ngó ông. Cái mà tôi chờ đợi không phải là 2 chữ đó, tôi chờ đợi 2 chữ khác, đó là “cho bắt”. Hiểu vẻ mặt sững sốt và hai con mắt đang trố ra của tên trưởng ty trẻ người non dạ, ngó thẳng vào tôi, ông điềm nhiên nói “Không biết mới sợ, biết thì còn sợ gì? Cho nổ!” “ tổng thống cho lệnh em đó!” Và chúng tôi đã cho nổ tại quán cơm Âm Phủ. Tiếng nổ long trời lở ất kèm theo sự mừng rỡ của nhóm MTGPMN, bọn nằm vùng, và CS Bắc Việt, dĩ nhiên. Nhưng có điều, phía chính phủ VNCH không có ai bị giết như ý chúng mong muốn. Một thời gian sau, nhóm hoạt động khủng bố này đã bị chúng tôi tóm gọn.

Riêng nhóm hoạt động chung với TCS, gần 5 năm sau, thời điểm tháng 6 năm 1972, chúng tôi đã bắt khi chúng đang chuẩn bị tiếp một cuộc tắm máu thứ 2 như tết Mậu Thân. Chúng vẫn chọn lại cái tên quen thuộc sặc mùi tuyên truyền bịp bợm và đầy máu là “cuộc tổng nổi dậy”. Vào ngày 6/5/1972 và 11 ngày tiếp theo sau đó, chúng tôi bắt gọn 1500 sơ sở quan trọng của VC đưa đi côn đảo. Trong số đó có cả các viên chức VNCH, sĩ quan, quân nhân VNCH như thiếu ta Lê Cảnh Thâm, trưởng ty CSQG tỉnh Quảng Trị, năm 1966, chi khu phó chi khu Hương Trà tỉnh Thừa Thiên mùa hè đỏ lửa 1972, có anh ruột là thiếu ta quân báo CS móc nối từ khi y còn là trung sĩ, CS đã dùng tiền bạc chạy chọt cho học khóa sĩ quan đặc biệt rồi tiếp tục dùng tiền để lọt vào các chức vụ quan trọng. Y đang chờ lệnh thuyên chuyển tới trung tâm hành quân của BTL tiền phương quân đoàn I, để lấy tin tức hành quân của Trung Tuớng Ngô quang Trưởng, đang cố đánh bại 10 ngàn quân CS, tái chiếm cổ thành Quảng Trị. Việc sắp thành thì bị SCQG Thừa Thiên Huế phát hiện trong chiến dịch Bình Minh. Y bị bắt. Bác sĩ Lê Khắc Quyến, khoa trưởng ĐH y khoa Huế, thành viên phong trào Hòa Bình. Nhà của Lê Khắc Quyến là căn cứ lõm, từng chứa chấp Phạm văn Nhân, em của thủ tướng CS Phạm văn Đồng. Nguyễn khoa Phẩm, chủ tịch hội đồng tỉnh Thừa Thiên, hoạt động trong tổ tôn giáo vận, em y là Nguyễn khoa Diệu Hồng, con nuôi Hồ Chí Minh, chủ tịch hội phụ nữ Việt Nam. Phẩm và Hồng là bà con với Nguyễn khoa Điềm, Ủy viên Trung uơng Đảng, đặc trách văn hóa giáo dục. Nghị viên hội đồng tỉnh Lê Quang Nguyên,…

Trong khuôn khổ một bài viết ngắn, tôi không thể trình bày chi tiết như trong cuốn BĐMT. Xin thông cảm. Riêng TCS , chúng tôi chưa bắt vội, hơn nữa, khả năng y đang làm việc cho cơ quan tình báo ngoại quốc rất cao, chuyện bắt rất rắc rối, chưa chắc đã là hay. Tốt nhất là cứ để tình trạng như vậy mà khai thác cả hai phía. Thêm vào câu hỏi này là ý kiến cho là nhạc TCS gây nguy hại cho đất nước, lại hoạt động nằm vùng, tại sao chính quyền không bắt? tôi xin nhắc lại câu chuyện của tên nhà báo nằm vùng CS Vũ Hạnh. Sau khi chính quyền bắt tên CS Vũ Hạnh, liền bị một số rất đông các nhà văn nhà báo tên tuổi trong hàng ngũ quốc gia làm yêu sách chống đối kịch liệt. Họ đã gây không ít sóng gió cho chính quyền đương thời, kết án chính quyền bịt miệng báo chí, đàn áp đối lập. Cuối cùng, chính phủ đành nhượng bộ, thả Vũ Hạnh. Sau 1975, Vũ Hạnh hiện nguyên hình là tên cộng sản, hắn thản nhiên giáng tội cũng như tham gia tố cáo tội ác Mỹ Ngụy phản động cho chính những “nhà” báo nhà văn, mà đã nằng nặc đòi chính phủ VNCH phải thả hắn ra. Có lẽ, đó chính là lúc các nhà văn bút tên tuổi này mới thấm sâu hai chữ cay đắng. Và tôi cũng tự hỏi, nếu như giới hữu trách lúc ấy cho lệnh bắt TCS, liệu nhóm nhà văn nhà báo “quốc gia thứ thiệt” này sẽ không làm chuyện đất bằng dậy sóng?

Tóm lại, âu đó cũng là điều đáng cho chúng ta suy gẫm về hai chữ “tự do”, nhất là những ai đã ký tên yêu sách thả các tên VC. Tục ngữ mình có câu “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe” Họ không biết gì hết, nhưng không muốn dựa cột. Họ bù trớt như vịt nghe sấm, nhưng miệng họ to. Họ to miệng đến nỗi tự cho mình thành lập nhóm cái bang, có tên rất nổi một thời là Ký Giả Ăn Mày. Họ có công bằng không, với những nhân viên công lực không tên không tuổi, hy sinh cả mạng sống mình, ngày đêm cố gắng truy tìm từng tên CS một, để bảo vệ nền Cộng Hòa? để rồi các nhà văn, báo, bút này đòi thả ra? Các nhà văn nhà báo kiểu đó, có bao giờ họ tự nhận phần nào trách nhiệm với lịch sử ?

Sự vụ lệnh của Trịnh công Sơn
-
-Có trách cứ rằng tại sao tôi cấp Sự Vụ Lệnh cho TCS trốn lính trong khi đó lại chẳng nhận được gì đáng kể từ đương sự, cho nên, tôi cũng đáng chết theo TCS lắm lắm! Tôi hiểu sự bực tức này. Nghề của tôi là tình báo, nói trắng ra, tôi là một gã buôn tin tức. Những gì tôi cho TCS là một, thì tôi phải lấy lại ít nhất cũng là sáu bảy. Việc chúng tôi nói TCS chỉ cung cấp cho chúng tôi 1/10 tin tức mà đương sự biết, có nghĩa là chúng tôi đã biết tỏng 10/10 rồi. Không biết hết thì làm sao chúng tôi xác định là 1/10 được? Nói ra đây, chỉ là để công luận đánh giá tấm lòng của TCS có biết quay lại với lương tri con người hay không mà thôi. Nhất là sau khi chính đương sự đã biết rõ cảnh đồng bào Huế của hắn bị trói lại từng xâu dài, bằng dây kẽm, dây điện thoại, dây thừng, từng xâu người, lần lượt bị đập đầu, kẻ sống người chết, đều bị chôn vùi trong những hầm tập thể. Đau cho Miền Nam, là hắn vẫn chọn phía tội ác! Dù hắn chỉ cung cấp cho chúng tôi 1/10 những gì hắn biết, thì 1/10 đó cũng đủ cho chúng tôi phát hiện rất nhiều các tay CS nằm vùng liên hệ quanh hắn, chúng tôi cũng “lời bộn” rồi! Có người lại cho rằng Sự Vụ Lệnh mà tôi cấp cho TCS chỉ có giá trị tại Huế mà thôi, trong khi đó, đa phần là TCS lại ở Sài Gòn, thế thì tại sao TCS không bị bắt lính tại Sài Gòn? và như thế, có nghĩa là toàn bộ chuyện mà tôi nói ra chỉ là “ láo”. Thưa, hãy bình tĩnh, chuyện gì mà phải nóng nãy kết luận hồ đồ như thế? Muốn vạch lá tìm sâu nhưng mà lại không có một tí kiến thức gì về luật pháp cũng như giá trị của cái SVL rất ngon lành này, nên sâu làm sao mà bắt cho có? Nếu Cảnh Sát hoặc Quân Cảnh Sài Gòn hay của bất cứ tỉnh nào bắt TCS chẳng hạn, thì chỉ cần TCS xuất trình cái SVL này ra, cơ quan bạn phải gọi ngay cho Ty Cảnh Sát Thừa Thiên Huế. Chỉ cần chúng tôi xác nhận đó là người của chúng tôi, thì cơ quan bạn phải lập tức thả TCS ra vô điều kiện, mà không có quyền tra vấn gì thêm cả. Đó là luật của VNCH và cũng là luật của nhiều nước khác. Ở Mỹ cũng thế thôi! Như vậy, nó mới làm cho gã trốn lính TCS này thèm muốn mà phải cộng tác với chúng tôi chứ!?

Riêng vấn đề TCS có hoạt động cho tình báo ngoại quốc hay không, và là ngoại quốc nào, tôi biết rõ 100%. Nhưng điều này tôi không thể viết rõ. Khi chúng tôi đã mở hồ sơ theo dõi, thì con ruồi bay qua chúng tôi cũng biết. Cũng như rất nhiều chuyện đời thường của đương sự mà nói ra thì quả thật khó tưởng tượng nỗi. Nếu tôi viết rõ TCS hoạt động cho tình báo ngoại quốc nào, điều chắc chắn là sẽ ảnh hưởng đến an nguy của những người còn ở lại, và ngay cả chính cá nhân tôi. Và như tôi cũng đã nói, việc công bố những hoạt động tình báo 3 mang của TCS khi đương sự còn sống thì chẳng khác nào đưa một bản án tử hình cho đương sự và cho những người khác, đã âm thầm theo dõi những hoạt động nằm vùng của TCS trước kia, mà nay còn bị kẹt lại ở quê nhà. Ai có thể đoan chắc là công an CS không tìm ra manh mối được? Tôi lập lại, tình báo có luật của tình báo, đó là lương tâm, là đạo đức dành cho các cộng sự viên của mình. Tôi chỉ có thể viết đến thế là cùng. Điều này nó cũng gián tiếp trả lời cho câu hỏi ‘Tại sao tôi lại đưa tên nằm vùng TCS đi Mỹ?!” Tất nhiên, chuyện này đã gây nhiều phẫn nộ, và nó có vẽ rất mâu thuẫn, thậm chí gây ngờ vực đối với tôi. Tại sao một kẻ “diệt cộng” như tôi lại rủ một tên nằm vùng đi Mỹ?

Thưa đâu có gì mà khó hiểu? Trước đây, tôi là “cán bộ” điều khiển TCS. Tôi cũng là chỉ huy trưởng trung tâm Phụng Hoàng Huế. “Ai đó”, họ biết chứ! Và vì vậy, họ đã yêu cầu tôi làm việc này. Tôi chỉ là một kẻ trung gian cho “ai đó”( xin quý vị tự hiểu),“ mời” TCS đi Mỹ mà thôi, cũng như ông Đỗ Ngọc Yến vậy,ông ta cũng đã phải “rủ” TCS đi Mỹ ! Chuyện đơn giản có thế !

Tôi cũng xin minh định một điều, tôi, lúc TT Ngô Đình Diệm bị thảm sát, chỉ mới 20 tuổi, còn là sinh viên, chưa hề giữ một chức vụ gì trong chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa. Tôi sinh vào tháng cuối cùng của năm 1942. Từ đó đến nay, tôi chưa hề tham gia bất kỳ một đảng phái chính trị nào.Tôi quý trọng nhân cách và tài năng của TT Ngô Đình Diệm, nhưng tôi cũng ủng hộ tinh thần chống cộng và đánh giá cao khả năng của TT Nguyễn văn Thiệu, trong số những người có tiềm năng lãnh đạo còn lại của Miền Nam. Điều này nghe ra, sẽ có một số người cho là nghịch lý, là ba phải. Vì “pro”TT Diệm mà sao lại còn ủng hộ cả Nguyễn văn Thiệu? kẽ đã bị kết án là một trong những thành viên tham gia đảo chánh, nhận 100 ngàn của Conine, có chứng từ chữ ký hẳn hoi!

Thưa, quan điểm của tôi rất rõ: tôi không bao giờ mù quáng yêu thương hay đập đổ một chính quyền nào cả. Tôi chỉ hết lòng bảo vệ Thể Chế Việt Nam Cộng Hòa, mà qua thể chế đó, quyền làm người được luật pháp minh định và thực thi, thông qua một chính quyền do dân bầu hợp pháp. Đó là nguyên tắc bất di bất dịch của tôi. Tôi không thể đang tâm đập phá một thể chế, một chính phủ đang điều hành đất nước, khi mà chưa có một chính phủ khác tốt hơn để thay thế. Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đã có tham gia đảo chánh phá đổ nền đệ nhất cộng hòa, nhưng sau đó, nếu chúng ta không chọn ông thì chúng ta chọn ai? Dương văn Minh? Trần Thiện Khiêm? Vũ văn Mẫu, Nguyễn cao Kỳ?

… Dù sao đi nữa, thì ông cũng là “cái tốt nhất” còn lại mà chúng ta có được. Nhất là ông đã được dân bầu, và nhất là khi quốc gia với nền dân chủ còn non trẻ, lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh ghê khiếp nhất trong lịch sử loài người, đó là cuộc chiến tranh chống lại Chế Độ Cộng Sản. Kết quả thì người Việt Nam từ Nam chí Bắc đều thấy rồi đó! Cái mà lịch sử đã thế vào, sau khi một thiểu số ngông cuồng say sưa đập đổ chính phủ VNCH, là cái thể chế Cộng Sản!

Tôi sẽ không bao giờ là người đập đổ bất cứ chính phủ VNCH nào do dân bầu lên, cho dù vị Tổng Thống đó tôi có ghét cay ghét đắng, nhất là lúc quốc gia đang trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng. Tôi chỉ muốn góp phần gìn giữ và làm cho nó tốt đẹp hơn, qua lá phiếu, theo sự suy nghĩ, theo cách của tôi. Vì nếu không làm như thế, thì tôi đã mặc nhiên giúp sức cho CS thanh toán chính quyền non trẻ VNCH, mà lại còn hợm hĩnh ngu xuẫn cho mình là có công với quốc gia dân tộc!

Tôi không có ý định viết sử. Tôi chỉ muốn cung cấp cho lịch sử những vấn đề mà tôi biết, chuyện gì tôi đã làm, đã thấy. Để lịch sử phải đúng là lịch sử: Đó là, lịch sử phải là sự thật.

Điều gì biết rất rõ thì tôi mới viết. Những gì còn mù mờ thì không bao giờ tôi đề cập đến. Đó là bản chất của tôi, để ngày nào gặp lại tổ tiên tôi, ông tôi, cha tôi, tôi không thẹn với các ngài là tôi đã không dám nói lên sự thật.

Nhân tiện đây, với tư cách là thành viên trong Hoàng Tộc Nguyễn Phúc, tôi có lời chia xẽ với bất cứ ai mang dòng máu Nguyễn Phúc là, dòng họ, tổ tiên chúng ta đã có công lớn trong việc mỡ mang, khai hoang lập ấp, giữ gìn phát triễn bờ cõi quốc gia. Ngày hôm nay, quê hương chúng ta không còn như khi các ngài còn tại thế. Lãnh thổ và lãnh hải đã mất, Cao Nguyên Trung phần Việt Nam cũng đang mất. Đến khi nào thì quốc gia mà đức Cao thế tổ Hoàng Đế Gia Long đã đặt tên là Việt Nam hoàn toàn rơi vào tay Bắc Kinh? Ai làm chuyện bán nước này? Nếu không phải là Cộng Sản Hà Nội? Và ai trong hoàng tộc đã và đang tiếp tay, cộng tác, phò tá cho bọn bán nước cộng sản tàn bạo này? Xin thưa, quý vị đã bán lương tâm, bán linh hồn, bán đi danh dự, làm đau lòng các bậc tiên đế dòng họ Nguyễn phúc! Phủ phục bọn bán nước CSVN, quý vị đã làm nhục các ngài!

Tôn Nữ Thị Ninh là một trong những điển hình cho việc làm nhục anh linh tiên đế. Đề nghị Hoàng Tộc khai trừ tất cả các thành viên đã ít nhiều bắt tay giúp sức cho bọn CS bán nước.

Thần quyền và thế quyền
-
Bài viết này, tôi riêng tặng tất cả những chiến sĩ quốc gia của lực lượng CSQG Thừa Thiên Huế, đặc biệt là những anh linh tử sĩ đã nằm xuống, đã bỏ mình âm thầm lặng lẽ trong mặt trận tình báo cực kỳ nguy hiểm trong lòng địch, để diệt trừ họa cộng sản. Tôi cũng dành tặng cho những ai yêu chuộng sự thật, và muốn thẳng thắn nhìn vào sự thật. Tôi không viết cho những kẻ muốn vạch lá tìm sâu, những kẻ chạy tội, những kẻ mù quáng phạm thượng đánh đồng tôn giáo với những người “lãnh đạo tôn giáo”, những kẽ cố tình đánh đồng những bậc chân tu với những tên cộng sản mặc áo tu hành.

Tôi xin chia xẻ vài suy nghĩ về vấn nạn thần quyền lũng đoạn thế quyền mà trong đó cá nhân tôi đã là một nạn nhân.

Cuối tháng 12/1969, chúng tôi nhận được tin tức từ cơ quan tình báo quân sự Hoa Kỳ CID tại Phú Bài cho biết có điện đài đang phát sóng tại địa điểm X, mà sau đó, chúng tôi xác định được là chùa Trà Am. Hai tháng sau, 4 tấm không ảnh chụp về đêm được nhận diện rất rõ có 3 tên VC vũ trang xuất hiện tại hậu trai của chùa. Tôi và đại úy Trương Công Ân trưởng phòng CSĐB liền thiết lập một trạm bí mật theo dõi. Chưa đầy 6 tuần lễ sau, chúng tôi phát giác một số đối tượng CS mà chúng tôi vẫn đang theo dõi lên chùa hội họp vào những ngày thứ bảy chủ nhật, khi mà có đông thiện nam tín nữ đến lễ chùa. Vào trung tuần tháng 5/1970 sẽ có phiên họp của cơ sở nội thành diễn ra tại đây. Lúc 6giờ 30 sáng ngày 19/5 chúng tôi đổ 2 trung đội CSDC và 20 CSĐB đến vây chùa, bắt được một phụ nữ dưới 30 tuổi tên là Lê Thị Út, cán bộ an ninh thành ủy Huế, năm thanh niên khác, cùng thầy Thích Như ý. Tang vật gồm có một số tài liệu của CS gồm một nghị quyết mới nhất của trung ương đảng CS. Sau đó, qua khai thác 7 người này, chúng tôi biết được buổi họp tối hôm đó là để bố trí công tác cho 5 cơ sở nội thành, thực hiện một số mục tiêu phá hoại khủng bố, đặt chất nổ tại các cơ quan quan trọng của chính quyền và hai rạp Ciné Tân Tân và Châu Tinh.

Khi chúng tôi rời chùa Trà Am 9 giờ sáng ngày 19/5/1970 thì 3 giờ chiều cùng ngày, Phật Giáo bắt đầu biểu tình. Đoàn biểu tình rầm rộ kéo xuống tòa Hành Chánh Tỉnh phản đối chính quyền đàn áp Phật Giáo, yêu cầu thả người! Nghĩ mà cay đắng. Tất nhiên, chúng tôi không thể thả CS mà trong đó bao gồm ông Thích Như Ý. Ngày 20/5 lực lượng phật Giáo tiếp tục biểu tình rầm rộ hơn, phản đối chính quyền đàn áp Phật Giáo, yêu cầu thả người. Tình hình càng lúc càng trầm trọng. Cùng ngày, chúng tôi nhận được 2 công điện khẩn, một từ văn phòng tư lệnh CSQG thiếu tướng Trần Thanh Phong và một của đại tá trưởng khối CSĐB yêu cầu giải thích nội vụ chuyện bắt Thích Như Ý. Tất nhiên tôi lập tức phúc trình nội vụ. Chung quy cũng vì cái chữ “Thích” của ông ta mà ra, nếu ông ta không mang họ “Thích” như mấy tên VC kia thì chính quyền địa phương, trung ương, và anh em chúng tôi đâu phải khốn đốn đến vậy. Và chuyện dĩ nhiên không dừng tại đó. Chúng tôi tiên liệu chuyện sẽ nổ lớn, vì Thích Như Ý có liên hệ gia đình với Tượng Tọa Thích Trí Thủ, Tổng Thư Ký viện Hóa Đạo Sài Gòn. Khả năng một biến động về phật Giáo lại xảy ra chỉ là chuyện thời gian. Ban tham mưu chúng tôi không còn giải pháp nào hơn là nhanh chóng lập hồ sơ đưa ra hội đồng an ninh tỉnh hoặc giải tòa, cùng lúc thương lượng với phía Phật Giáo. Tối 21/5, tôi đích thân đến chùa Linh Quang, gặp thượng tọa Mật Nguyên. Là một người cao tăng đức độ, phật tử hay bất cứ ai gặp ông đều nể trọng, ông giữ chức chánh đại diện GHPGVNTN miền Vạn Hạnh sau khi Đôn Hậu thoát ly ra bắc. Mặc dù phải đương đầu với những áp lực nặng nề từ những tín đồ quá khích và đám cơ sở VC đội lốt tăng ni, ông luôn luôn chủ trương tìm cách hòa giải với chính quyền bằng tấm lòng ngay thẳng từ bi. Ông tiếp tôi tại nhà hậu trai. Sau khi tình cho ông những bằng chứng, bốn tấm không ảnh, lời khai của Thích Như Ý và đồng bọn. Tôi cho Thượng Tọa biết là chúng tôi sẽ đưa ra hội đồng an ninh tỉnh, hoặc ra tòa, có thể mở họp báo để công luận suy xét.

Và tôi cũng đã hỏi ông: “ Bạch thầy, cứ mỗi lần lực lượng CSQG phá vỡ và bắt giữ một số cơ sở nội thành, thì giáo hội tại Huế lại tổ chức biểu tình, cho là chính quyền đàn áp Phật Giáo, bắt bớ tăng ni phật tử. Vậy những người biểu tình đó là ai? Họ ở bắc hay nam vĩ tuyến 17?” Trầm ngâm một lúc, cuối cùng, ông nói với tôi:

“Con biết trong giáo hội Huế, người của bên kia cũng nhiều, khó mà kiểm soát được họ. Nhưng thôi, thầy không muốn đề cập đến chuyện này. Các cuộc biểu tình vừa rồi không phải là giáo hội hành động, mà là do một nhóm Phật giáo đồ. Khi nghe tin chùa Trà Am bị lục soát và thầy Như Ý bị bắt, họ hấp tấp biểu tình phản đối. Họ chẳng cần xin lệnh của giáo hội, chẳng có lệnh của Thầy. Mọi chuyện có thể trầm trọng hơn, thôi thì mỗi bên nhường nhịn nhau một tí. Thầy sẽ cho họ biết rõ nội vụ, yêu cầu họ chấm dứt biểu tình. Phần con cũng nên tha cho thầy Như Ý và mấy người đó đi, mọi chuyện hóa giải tất cả”. Tôi không đồng ý.

“Bạch thầy, thật khó cho con. Thầy Thích Như Ý và mấy người kia là cơ sở và cán bộ an ninh nội thành Việt Cộng. Họ đang mưu toan và đã có kế hoạch đặt chất nổ phá hoại, giết hại dân lành. Họ phải bị truy tố ra tòa” Thượng tọa ngắt ngang lời tôi:

“Thôi được, mấy người kia là chuyện ngoài đời, thế tục, thầy không muốn nhúng tay vào. Riêng thầy Như Ý, con tha cho ông ta. Con có muốn thầy đứng ra bảo lãnh cho thầy Như Ý không?” tôi trả lời ông:

“Dạ, không dám. Con chỉ có thể hứa với thầy là con sẽ đưa ra Ủy Ban An Ninh tỉnh, với đề nghị thật nhẹ. Nhưng với 6 người kia thì con vẫn lập thủ tục giải tòa. Và lời hứa thứ 2 là sẽ không họp báo công bố nội vụ, nhưng với điều kiện sẽ không có cuộc biểu tình nào nữa vào ngày mai”.

“ Con yên tâm đi. Thôi con về. Xe để ở đâu? Con ra cửa sau, cẩn thận đừng để ai thấy, kẻo thiên hạ lại tung tin thầy có quan hệ với ông Liên Thành, với Mỹ. Ngoại trừ có chuyện khẩn cấp, bình thường con cứ nói thằng Bích lên đây gặp thầy là được rồi”.

Ngày 22/5 hồ sơ Thích Như Ý và đồng bọn được chuyển qua hội đồng an ninh tỉnh truy tố với đề nghị: Thích Như Ý: 3 tháng. Sáu đồng bọn: 2 năm tái xét. Và cuộc biểu tình chấm dứt lúc 10 giờ sáng ngày 22/5/1970.

Mọi chuyện tưởng đã ổn, nhưng không. Ba ngày sau, 26/5, viên cố vấn CSĐBN gặp tôi:

“Đại Úy Thành, ông gặp rắc rối rồi”. Ông ta cho biết, nội trong ngày, khoảng 2 hay 3 giờ chiều, thiếu tướng Nguyễn Thanh Phong, tư lệnh CSQG và một phái đoàn cao cấp của chính phủ gồm đại tá Nguyễn Khắc Bình, giám đốc phủ Đặc Ủy Trung Uơng tình báo, một đại tá thuộc cục an ninh quân đội, nếu tôi nhớ không lầm là đại tá Nhuận và 4 sĩ quan cao cấp thuộc khối CSĐB/BTL sẽ gặp tôi điều tra việc bắt Thích Như Ý và lục soát chùa Trà Am. Như thế, “chuyện đã lớn” tôi lẩm bẩm...

Từ phi trường Phú Bài, đích thân tướng Phong gọi cho tôi, yêu cầu tôi trình diện ông ta tại phòng khách danh dự của phi trường. Biết là chuyện không lành, một mất một còn, tôi cố gắng thu gom tất cả tài liệu, tang chứng, kể cả khối chất nổ gồm 6kg chất nổ TNT và 8 ngòi nổ chậm, mà Lê thị Út đã chuyển từ mật khu về chùa Trà Am, sau đó đem cất giấu ở vùng nghĩa trang gần núi Ngự Bình, tôi để ở ngoài xe, cùng hình chụp tang vật.

Sau gần 30 phút thuyết trình diễn tiến và kết cục của sự việc, tôi kết thúc bằng câu nói “Trình Thiếu Tướng và quý vị trong phái đoàn, khối 6kg chất nổ TNT và 8 ngòi nổ chậm hiện đang để ngoài xe, quý vị muốn xem tôi mang vào?”.

“Không cần đâu Liên Thành. Thiếu Tướng muốn hỏi em một câu nữa, Tại sao Phật Giáo ngưng biểu tình?”

Tôi thuật lại cuộc gặp gỡ và những thỏa thuận giữa Thượng Tọa Mật Nguyên và tôi cho ông nghe.

Tôi hiểu phần trình bày của tôi đến đây là quá đủ. Tôi xin phép ra ngoài, để cho phái đoàn thảo luận và quyết định số phận của mình. Vả lại, tôi cũng đã quá mệt, quá chán.

Rời phòng khách danh dự, tôi đứng ở cửa dành cho hành khách ra phi cơ, ngước nhìn trời xanh mây trắng, lòng thanh thản vì đã chấm dứt được sự căng thẳng hơn tuần nay. Lúc đầu, đối đầu với chùa Trà Am, nay thì phải đối đầu với BTL/Cảnh Sát, Phủ Đặc Ủy tình Báo trung Uơng, Cục An Ninh quân đội. Tôi phó mặc cho định mạng, ra sao thì ra, tới đâu thì tới! Tự hỏi, không ngờ vụ này đụng chạm một hệ thống các thầy bên trên quá lớn? Quyền lực của hệ thống này trên cả phép nước? Như vậy, liệu có chống nổi Cộng Sản không?

Một lúc sau, một thiếu tá đến mời tôi vào gặp lại Thiếu tướng Nguyễn Thanh Phong. Không khí phòng khách lúc này có vẽ bớt căng. Ông nói:

“Liên Thành, thiếu tướng và phái đoàn phải trở lại Sài Gòn bây giờ. Vụ trà Am, Thiếu tướng và phái đoàn đã rõ”.

Tôi đưa Thiếu tướng và phái đoàn ra phi cơ. Trước khi bước lên phi cơ, ông nói với tôi;

“Huế khó lắm. Em chu toàn công việc như vậy là tốt rồi. Gắng lên! Về ông Như Ý, cũng nên nhẹ tay cho ông ta phần nào.”

Mọi người lần lượt bắt tay tôi rồi bước lên máy bay. Đại Tá Nguyễn Khắc Bình siết chặt tay tôi. Tôi hiểu ông muốn biểu lộ sự thấu hiểu và chia xẻ nào đó. Tôi nói nhỏ, vừa đủ ông nghe: “Cảm ơn Đại Tá”.

Phi cơ cất cánh, để lại làn khói trắng phía sau giữa bầu trời trong xanh, và cũng để lại lòng tôi một nỗi cay đắng, mãi cho đến bây giờ.

Sau đó, một cố vấn, hay đúng hơn là một người bạn bên cơ quan tình báo Hoa Kỳ cho tôi biết là trước đó, trung uơng đã có lệnh bắt tôi làm con dê tế thần, để xuống nước với phía Phật Giáo. Nhưng bên cơ quan tình báo bạn, kẻ đã báo và giúp cho tôi tìm ra ổ hoạt động phá hoại khủng bố, đã can thiệp. Tôi chỉ im lặng, tôi chỉ muốn là kẻ điếc và câm. Tôi tìm hiểu đúng sai chi cho thêm đau lòng. Cứ cho là đế quốc Mỹ đã cứu tôi vậy. Rồi tôi lại nghĩ, nếu chúng tôi không bắt ông Như Ý và đồng bọn, bao nhiêu máu dân lành sẽ đổ ra dưới sức phá hoại của 6 kg chất nổ TNT? trong 2 rạp hát Châu Tinh và Tân Tân? Trong các cơ quan công quyền? Có lẽ, chỉ có ông Như Ý và những ai bao che, hoặc vì sợ mà bao che cho ông tu sĩ Việt Cộng này, mới trả lời được cho lịch sử.

Tiếp đó, vào tháng 7/1970, chúng tôi phá vỡ tổ chức an ninh nội thành, bắt giữ tên huyện ủy viên Hồ Ty, tự Sơn Lâm. Tháng 8 sau đó, chúng tôi phá vỡ tổ chức biệt động thành, bắt giữ Lê viết Kiểu, huyện ủy viên, tổ trưởng đặc công và thêm hai tổ viên của y tại thôn Vỹ Dạ, quận Phú Vang. Cuối tháng 8/1970, chúng tôi bắt giữ thêm Nguyễn Thăng, cán bộ kinh tài tại thôn Vân Dương, quận Hương thủy, trong một căn hầm bí mật. Qua thẩm vấn điều tra dõi 3 tên này, ty CSQG TT/Huế phát hiện rất nhiều cơ sở kinh tài Việt Cộng trong nội thành, đem lại lợi tức hàng năm khoảng 30 triệu đồng cho Việt Cộng tại Huế. Trong đó, có ba cơ sở kinh tài lớn nhất là Lê hữu Trí, chủ tiệm sản xuất đồ gỗ, Nguyễn Hải, chủ nhân khách sạn Hương Bình, Nguyễn Xin, em Nguyễn Hải. Cơ sở của Nguyễn Xin quan trọng nhất, đem lại lợi tức khoảng 1/3 tổng thu nhập của CS tại Huế. Nguyễn Xin là chủ hảng khai thác gỗ tại vùng rừng núi Thừa Thiên bao gồm Ashau, A Lưới, Tà Bạt, Khe Lụ, Khe Đá Mài, Khe Trai, Động Chuối, thượng nguồn sông Bồ, sông Hữu Trạch.

Đây là những nơi mà lực lượng chính quy CS và cơ quan Tỉnh Ủy, Thành ủy thường xuyên trú đóng dưỡng quân. Năm Mậu Thân, CS đã dùng các nơi này để tập trung quân, thiết lập sa bàn thực tập để tấn công Huế. Ngoài nhiệm vụ kinh tài, Nguyễn Xin còn giữ nhiệm vụ rất quan trọng nữa, đó là cán bộ đường dây liên lạc: chuyên chở vú khí đạn dược, cán bộ bí mật từ các vùng trên về nội thành Huế và ngược lại. Cả ba tên này đều có vỏ bọc rất tốt, đó là cả 3 đều là khuôn hội trưởng phật Giáo, đều mặc chiếc áo tu hành màu xám tro đạo mạo tu tại gia. Sau khi tôi ký lệnh câu lưu 3 tên này, thì liền lập tức 4 giờ tiếp đó, chúng tôi bị phản ứng dữ dội từ trung tâm quyền lực Từ Đàm. Lệnh miệng của đại tá tỉnh trưởng Lê văn Thân, yêu cầu chúng tôi lập tức thả 3 tên kinh tài này ra. Đại tá Thân là một chính trị gia cơ hội. Ông hết sức lấy lòng các thầy khối Ấn Quang. Huế có trên 100 ngôi chùa lớn nhỏ, nhưng ông trung úy chánh văn phòng của ông tỉnh trưởng rất tận tâm chu đáo. Ông có một danh sách dài các ngày viên tịch của các thầy trụ trì chùa, để hàng năm, “đến hẹn lại lên”, đem đồ cúng giỗ. Vì vậy, Đại úy Trương Công Ân, trưởng khối CSĐB, cũng là một trợ lực tài ba của tôi, đã thầm kín tặng cho ông Lê văn Thân cái tên khá mỹ miều, khá chính xác, là Nhạc Bất Quần. Chỉ cần các thầy khẽ ho là ông đã sợ xanh mặt. Ông sợ các thầy biểu tình còn hơn là sợ Việt Cộng Tấn công Huế. Chỉ cần quý thầy hăm biểu tình là ông thỏa mãn mọi yêu sách của quý thầy.

Nghe tin buộc phải thả 3 tên kinh tài nguy hiểm này, anh em CSQG Thừa Thiên hết sức tức giận. Chúng tôi phải bỏ bao nhiêu công sức và nhiệt tâm để phá vỡ mạng lưới kinh tài tiếp máu cho CS, mà nay ông tỉnh trưởng nhu nhược này buộc chúng tôi phải phóng thích mà không đưa ra được bằng cớ nào là bọn chúng vô tội. Hoàn toàn không thể chấp nhận được, tôi quyết định trực tiếp gặp ông ta phản đối. Sau hơn mấy tiếng đông hồ trưng bày bằng cớ, ta thán rằng anh em CSQG bỏ rất nhiều công sức, vui mừng chưa hết, huy chương chưa có, bây giờ lại thả chúng ra, sẽ gây thất nhân tâm trong giới Cảnh Sát, trong dân chúng, rồi những tác hại khó lường nếu thả hổ về rừng v.v..tôi dùng hết khả năng hùng biện và tâm huyết ra để thuyết phục ông Nhạc Bất Quần rút lại quyết định vô trách nhiệm này. Ông ta đã để tôi nói cho hả cơn, khi tôi ngưng, giọng ông nhẹ nhàng nhưng cương quyết:

“Chú Thành, ông đại úy trưởng ty CS, đại úy trình bày tôi đã hiểu, nhưng tôi không muốn vì chuyện này mà xảy ra một vụ biến động chính trị nào trong thời gian tới tại Thừa Thiên Huế. Sẽ có ảnh hưởng đến trung ương. Sang năm là mùa bầu cử Tổng Thống, chắc chú biết. Tôi không muốn mất lòng giáo hội Phật giáo lúc này”.

Sau đó tôi yêu cầu thay vì lệnh miệng, cho tôi bằng văn bản giấy trắng mực đen. Ông ta nhìn tôi như chực ăn tươi nuốt sống. Về lại văn phòng, chúng tôi đánh giá là sẽ chẳng bao giờ có cái văn bản đó từ ông họ Nhạc này đâu. Chúng tôi quyết định kết thúc hồ sơ nhanh chuyển lên hội đồng an ninh tỉnh, đề nghị 2 năm tái xét. Hai ngày sau, BCH/CSQG chúng tôi nhận được công điện khẩn từ trung tá Tiếp, chỉ huy trưởng CSQG vùng I, nội dung như sau:

“Yêu cầu trả tự do cho Lê Hữu Trí, Nguyễn Xin, Nguyễn Hải trong thời hạn sớm nhất. Báo nhận và thi hành”.

Ông là một người miền nam, tính tình khá bộc trực, nóng tánh, ngang tàng, từng có quá trình dài tham gia chỉnh lý và đảo chánh, ông cũng có thế lực, Phật giáo Huế khó lòng mà áp lực ông, nhưng vì sao nên nỗi này? Ông ta là niềm hy vọng của tôi để chống lại lịnh miệng của tỉnh trưởng Nhạc Bất Quần kia mà? Chẳng lẽ bọn kinh tài thừa tiền lắm bạc đã dùng Đức thánh Trần mua ông? Tôi lẩn thẩn đọc đi đọc lại công điện thả VC không biết bao nhiêu lần, rồi quyết định gọi điện thoại cho ông. Tôi hết lời, nhưng ông vẫn giữ nguyên ý định. Bây giờ, ông đã mất, ước gì tôi có thể hỏi ông tại sao như thế? Đến bây giờ, tôi vẫn chưa có câu giải đáp. Sáng ngày 11/8/1970, tôi họp toàn Ban Tham Mưu ty CSQG, trình bày toàn bộ sự việc. Đại úy Trương Công Ân và trung úy Hồ Lang, trưởng trung tâm thẩm vấn là 2 sĩ quan chống đối kịch liệt nhất. Bàn cãi, chửi bới, chửi thề toán loạn, đến 8 giờ tốí cùng ngày, chúng tôi đi đến quyết định trình toàn bộ sự việc cho trung tá trưởng khối SCĐB/BTL/CSQG tại Sài Gòn bằng một công điện, sau khi đau đớn ngậm ngùi ký lịnh thả 3 tay VC ra.

Câu chuyện tuởng đến đó là xong, ngày 13/8 tôi nhận tin từ phòng CSĐB là sáng ngày 14/8 sẽ có biểu tình bởi một đoàn thể chính trị, phản đối việc thả Việt Cộng của đại tá tình trưởng. Người lãnh đạo cuộc biểu tình này là Giáo sư đại học khoa sử Lê Đình Cai. Lê Đình Cai là khoa bảng trí thức, một khuôn mặt chính trị trẻ, ngoài học vị giáo sư đại học, ông còn là nghị viên hội đồng thị xã Huế, và là Thị bộ trưởng của một đảng phái chính trị lớn tại Huế. Hiện nay ông định cư tại Hoa Kỳ. Mặc dù trong bụng rất hả hê và đồng tình với việc làm của giáo sư Cai, nhưng lại là một nhân viên và cũng là một quân nhân thi hành luật pháp quốc gia, tôi không thể ủng hộ hay tiếp tay cho bất cứ chuyện biểu tình nào cả. Vả lại, cánh của ông tỉnh trưởng Lê văn Thân và của trung tá Tiếp chỉ huy trưởng CSQG vùng một sẽ nghĩ tôi giựt dây hoặc chủ mưu vụ này. Và nếu như thế, tôi kẹt cứng giữa hai lằn đạn. Tôi đành chọn giải pháp thương thuyết với giáo sư Cai tại nhà riêng của đại úy Trương Công Ân. Tôi và GS Cai là chổ quen biết, nhưng ông thẳng thắn chối từ thương lượng với đại tá Lê văn Thân. Ông nói, việc anh anh làm, việc tôi tôi làm. Tôi phúc trình đầy đủ việc thương lượng thất bại này lên cho cả 3 tòa quan lớn trên đầu tôi, để tránh văng miểng, nhưng sau đó miểng cũng có văng, nhưng đỡ được. Riêng ông tỉnh trưởng Thân, ông vẫn bổn củ soạn lại, đó là, khi nào có biến là ông đi thanh tra các quận. Sáng ngày 14 /8 ông đi thanh tra: “Tôi đi thanh tra các quận miền bắc, chiều tôi về, mọi diễn biến chú gọi máy trình tôi. Có phải chú đứng sau lưng cuộc biểu tình này không?”

Tôi thật sự phẫn nộ vì câu nói này của ông Thân, tôi trả lời rằng, mặc dầu tôi rất bất mãn với quyết định thả 3 tay kinh tài CV dựa thế chùa của ông, nhưng tôi hiểu luật pháp và không làm chuyện đó, yêu cầu ông cứ điều tra.

Giáo sư Cai tổ chức biểu tình trong ôn hòa khoảng 45 phút với nhiều biểu ngữ đã đảo ông tỉnh truởng thả kinh tài VC. Sau đó, báo chí Sài Gòn đăng tin này. Sự việc lại tiếp tục. Ngày 16/8, một phái đoàn của BTL/CSQG tại Sài Gòn do đại tá Nguyễn Mâu cầm đầu, ra điều tra xem 3 tên Lê Hữu Trí, Nguyễn Hải, Nguyễn Xin có phải là kinh tài VC hay không, tại sao tỉnh trưởng cho lệnh thả, Liên Thành trưởng ty CSQG có đứng đằng sau vụ biểu tình hay không.

Tôi một lần nữa phải đương đầu. Sau khi mọi việc phân minh, trung tá Nguyễn Mâu nói với tôi “ Trung tá đã giải thích với ông tỉnh trưởng rồi. Huế là một khối lửa đang cháy ngầm, chỉ cần có một cơn gió nhẹ là bùng cháy lớn. Tình hình nội chính ở đây thật là khó. Cố gắng lên!” Tôi lại nhớ câu nói của thiếu tướng Trần Thanh Phong trước đây, khi tôi lục soát chùa Trà Am, bắt Thích Như Ý. Cũng nói“Cố lên!”.

Tôi cảm thấy hụt hơi rồi!.

Mọi chuyện cũng vì cái vỏ bọc tôn giáo mà ra. Sau biến động miền trung, chùa Từ Đàm vẫn liên tục làm mưa làm gió. Vụ thả 3 tên kinh tài khuôn hội trưởng Phật Giáo từ từ đi vào lãng quên trong lòng người dân Huế. Nhưng lực luợng CSQG Thừa Thiên Huế thì không, chúng tôi vẫn theo bám sát bọn chúng. Hai năm sau, trong chiến dịch Bình Minh, chúng đã bị bắt đưa đi Côn Đảo ngay, Lần này xếp lớn tôi là Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình đã đỡ đần mọi chuyện, không ai can thiệp cho chúng được. Danh sách chúng ở hàng đầu.

Thêm một chuyện nữa xảy ra cho tôi sau chiến dịch Bình Minh mà trên 1500 cơ sở nội thành, luôn cả những cơ sở kinh tài trọng yếu đã bị cơ quan chúng tôi bắt giữ. Đó là tôi bị “Phái đoàn Quốc hội VNCH” hỏi thăm sức khỏe, vì cái chiến dịch này.

Nói là phái đoàn, nhưng thật ra chỉ có 4 dân biểu đối lập thuộc khối Ấn Quang, trong đó có Bà Kiều Mộng Thu. Hai trong bốn người đó là gà nhà của Thích Thiện Siêu, chùa Từ Đàm. Họ đắc cử là do quý thầy lo cho. Chuyện là họ là thường trú nhân tại Sài Gòn nhưng lại ứng cử và đắc cử đơn vị thừa Thiên Huế, thế mới là hay! Họ đến Huế trên danh nghĩa là thăm chiến trường Trị Thiên, nhưng lại không ra chiến trường hoặc vào bệnh viện thăm viếng thương bệnh binh, mà lại đòi vào tù thăm VC nằm vùng mà chúng tôi vừa mới bắt, theo lệnh của “thầy” Thiện Siêu. Mục đích nhằm tạo niềm tin cho các cơ sở VC rằng, đừng lo, đừng lo khai báo gì, sẽ có ô dù bảo lãnh ra thôi. Sau khi gặp đại tá tỉnh trưởng Tôn Thất Khiên, họ được đại tá chuyển lệnh cho tôi, đề nghị hướng dẫn phái đoàn viếng thăm tù nhân. Theo lẽ thông thường, tôi thuyết trình tình hình địch, tình hình bạn cho khách v.v..Nhưng vì đã biết rõ mục đích của họ, tôi không muốn phí thời giờ với họ. Sau khi an vị, bà dân biểu vào đề ngay:

“Chúng tôi đã gặp đại tá tỉnh trưởng sáng nay, và được đại tá chấp thuận. Mong rằng thiếu tá trưởng ty cho chúng tôi được thăm viếng một số đồng bào đã bị thiếu tá bắt giữ trong mấy ngày vừa qua. Đây là danh sách những người mà chúng tôi muốn gặp và muốn trực tiếp nói chuyện với họ” Vừa nói vừa đưa cho tôi một danh sách dài những tên nằm vùng.

Tôi nhìn vào một danh sách có khoảng 20 người, gồm: Bửu Chỉ, Nguyễn Hữu Đính kỹ sư canh nông, Hoàng thị Thọ học sinh, Nguyễn khoa Phẩm chủ tịch hội đồng thừa Thiên, Lê phước Á, giáo sư, Lê quang Nguyên, nghị viên hội đồng tỉnh v.v. Tôi cười, liếc mắt chỗ tên Bửu Chỉ, tôi nói thầm, “ráng chịu một thời gian nghe!”, rồi thì tôi trả lại bản danh sách cho bà dân biểu.

“Thưa bà và quý vị dân biểu, tôi không thể thỏa mãn yêu cầu của quý vị được. Bởi lẽ, những người này là cơ sở nội thành của trung tá CS Hoàng Kim Loan. Hơn nữa, họ đang trong thời gian thẩm vấn, không thể gặp gỡ thăm viếng được. Sau khi thẩm vấn quý vị sẽ được quyền gặp”.

Bốn dân biểu này đổi sắc mặt, giận dữ. Một ông người Huế nói, xin tạm dấu tên:

“Ông trưởng ty nói chi? Chúng tôi là dân biểu, những người đại diện cho dân, chúng tôi có quyền thăm viếng những người dân lành vô tội bị ông bắt bớ bừa bãi”. Tôi yêu cầu ông ta đưa bằng chứng chúng tôi bắt bớ dân lành vô tội, nếu không ông ta vu khống nhân viên công lực. Ông ta yêu cầu cho xem hồ sơ. Chúng tôi từ chối vì ông ta tuy có nhiều quyền, nhất là quyền bất khả xâm phạm. Nhưng ông ta không có quyền xem hồ sơ đó. Ông ta đe dọa đưa ra quốc hội chuyện tôi bắt trên một ngàn “dân lành vô tội” và sẽ cắt ngân sách của bộ TL Cảnh Sát. Ông còn chửi tôi là một tên trưởng ty cảnh sát du đảng, không xem luật pháp ra gì. Tình hình mỗi lúc một gây cấn, bà Kiều Mộng Thu xuống nước, chỉ xin thăm “dân lành” một tí thôi là xong ngay. Nhưng tôi vẫn giữ nguyên quyết định ban đầu. Ra lệnh cho tôi không xong, các ông bà con trời này đòi xông thẳng vào trung tâm thẩm vấn. Tôi nói với giọng rất từ tốn, nhưng chắc nịch:

“Tôi nhắc lại với ông dân biểu, Huế đang trong tình trạng chiến tranh, kẻ nào có mưu toan hoặc hành động xâm phạm cơ quan công quyền, nhất là trung tâm thẩm vấn, nơi đang giam giữ tù nhân Việt Cộng, tôi sẽ cho lệnh lính gác bắn hạ ngay, ông dân biểu nghe rõ chưa?”.

Hai ngày sau, ông dân biểu họp báo tại Sài Gòn, báo chí thân ông đăng tải những loạt bài bêu riếu, bôi nhọ tôi tàn tệ, nói rằng tôi vi phạm luật pháp, bắt bớ dân lành bừa bãi, đề nghị cách chức trưởng ty Liên Thành, truy tố ra tòa, đòi cắt ngân khoản của CSQG. Chỉ có một điều duy nhất mà ông không tố tôi được, đó là tham nhũng. Tôi biết, ông đã cố hết sức để moi móc bới lông tìm vết, nhưng ông đành bó tay. Tôi chờ đợi bàn giao cho vị tân trưởng ty, lòng buồn nhưng không hề hối tiếc. Nhưng xui cho ông dân biểu, lần này Đại Tá Nguyễn khắc Bình đã nắm rõ vấn đề, nên tôi bình yên vô sự. Ông dân biểu nay cũng đã già, và cũng là người tỵ nạn CS đang ở Cali, tôi không nỡ nhắc tên ông. Nhưng không biết có bao giờ ông nghĩ rằng, một trong những nguyên nhân làm ông phải mang thân xứ người, là hậu quả của những hành động như ông đã từng làm?

Qua vài mẩu chuyện mà chính tôi đã là nạn nhân, tôi muốn gióng lên một tiếng chuông, kêu gọi chúng ta hãy suy nghĩ về tương lai lâu dài của dân tộc. Giai đoạn từ 1963 đến 1966 là giai đoạn mà thần quyền đã lũng đoạn thế quyền trầm trọng. Di hại của nó không chấm dứt hẳn mà vẫn kéo dài sau đó. Cá nhân tôi cũng đã từng là một nạn nhân sống của vấn nạn này.

Cái gọi là “Pháp nạn” đã làm sụp đổ một thể chế và kéo theo những hệ lụy khủng khiếp của nó. Bắt buộc chúng ta phải tránh vết xe đổ này. Lúc nào, thời đại nào cũng có những kẻ bất lương đội áo mũ tu hành để mưu đồ quyền lực tiền bạc. Cần có luật pháp nghiêm minh, mà trong đó mọi người đều bình đẳng như nhau trước pháp luật và công luận, không kể là đại tu sĩ hay phó thường dân. Cần có một sự suy nghĩ sáng suốt. Trong mọi tình huống, mỗi công dân đều phải có bổn phận đặt quyền lợi quốc gia lên trên tôn giáo, để tránh những di hại cho dân tộc và đất nước. Một số lớn các nước trong hệ thống Hồi Giáo vùng trung đông là một ví dụ rõ ràng nhất trong việc thần quyền điều khiển thế quyền. Các giáo sĩ đã lợi dụng quyền lực và lòng tín ngưỡng mù quáng của tín đồ để điều khiển chính quyền, nhào nặn ra các chính trị gia, rồi giật dây họ để phục vụ cho các mưu đồ riêng của mình, gây rối loạn xã hội và chính trị, bất chấp tương lai và sự phát triển lâu dài của đất nước, mà trong đó, dân chủ là một điều kiện tối cần để một xứ sở, một dân tộc có thể đi lên.

Tại các nước phương tây, thần quyền không còn và không thể lũng đoạn thế quyền được nữa. Nhưng tại rất nhiều quốc gia khác, thần quyền đen vẫn là một uy lực khủng khiếp. Khi thần quyền lũng đoạn thế quyền, chuyện tất yếu là quốc gia sẽ trở thành miếng mồi ngon cho độc tài hoành hành, nhất là độc tài cộng sản. Và quốc gia sẽ phá sản.
“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, câu nói rất quen cửa miệng, nhưng bao giờ thì mỗi người chúng ta thực hiện được?

Liên Thành

Trịnh Công Sơn & Tham Vọng Chính Trị (1) - Bài viết của Trịnh Cung

Đã 8 năm kể từ ngày mất của Trịnh Công Sơn, 01-4-2001. Đã có rất nhiều bài và sách viết về người nhạc sĩ tài hoa xuất chúng này. Tất cả đều chỉ nói về 2 mặt: tình yêu (con người, quê hương) và nghệ thuật ngôn từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn, tuyệt nhiên không thấy ai đề cập đến vấn đề Trịnh Công Sơn có hay không tham vọng chính trị.

Phải chăng như Hoàng Tá Thích, ông em rể của người nhạc sĩ “phản chiến” huyền thoại này đã minh định trong bài tựa cuốn sách Như Những Dòng Sông của mình nói về âm nhạc và tình người của ông anh rể Trịnh Công Sơn, do nhà Xuất Bản Văn Nghệ và Công Ty Văn Hoá Phương Nam ấn hành năm 2007: “…Anh không bao giờ đề cập đến chính trị, đơn giản vì anh không quan tâm đến chính trị”? Hay như nhận định của một người bạn không chỉ rất thân mà còn là một “đồng chí” (trong ý nghĩa cùng một tâm thức về chiến tranh VN) của Trịnh Công Sơn, hoạ sĩ Bửu Chỉ (đã mất) đã viết: “Trong dòng nhạc phản chiến của mình, TCS đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả” (Trích bài viết: “Về Trịnh Công Sơn và Những Ca Khúc Phản Chiến Của Anh”, in trong Trịnh Công Sơn, Cuộc Đời, Âm Nhạc, Thơ, Hội Hoạ & Suy Tưởng do Nhà Xuất Bản Văn Hoá Sài Gòn ấn hành năm 2005)?

Sự thực có đúng như câu khẳng định chắc nịch ở trên của ông Hoàng Tá Thích và hoạ sĩ quá cố Bửu Chỉ? Chắc chắn là sai 100% rồi nếu như Trịnh Công Sơn không là tác giả của 3 tập nhạc phản chiến (Ca Khúc Da Vàng, Kinh Việt Nam và Ta Phải Thấy Mặt Trời), và cũng chưa từng tham gia vào Phong trào Đấu tranh Đô thị của Thanh niên Sinh viên Học sinh để chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn mà chính cuốn sách của Hoàng Tá Thích và bài viết của Bửu Chỉ vừa nhắc đến ở trên đã có nhiều tiết lộ. Mặt khác, trong bài viết “Có Nghe Ra Điều Gì” Trịnh Công Sơn gửi cho bác sĩ Thân Trọng Minh tức nhà văn Lữ Kiều năm 1973 có đoạn như sau: “…Chưa bao giờ tôi có ý nghĩ tự đề nghị với mình một trách nhiệm quá lớn, nhưng khi đã lỡ nhận chịu những cảm tình nồng hậu từ đám đông, thì những tình cảm kia phải được đền bồi…”. Và trong thư TCS gửi cho Ngô Kha - người bạn cùng chí hướng chính trị và cũng là người em rể, đồng thời là lãnh tụ của Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức này đã bị Công An Huế bắt (1972-1974) - chúng ta sẽ dễ nhận ra ý thức làm chính trị chống chế độ Sài Gòn của Trịnh Công Sơn. Nhất là trong đoạn Lê Khắc Cầm nói về mối quan hệ giữa TCS và tổ chức cơ sở thành uỷ Huế do Lê Khắc Cầm bí mật phụ trách trước 1975 như thế nào, thì không thể nói là TCS không có toan tính chính trị như nhận định của hoạ sĩ Bửu Chỉ (Xin xem thêm Thư TCS gửi Ngô Kha và đoạn trao đổi về lá thư này giữa Nguyễn Đắc Xuân và Lê Khắc Cầm trong phần tư liệu đính kèm bài).



Thủ bút Trịnh Công Sơn trong bài “Có Nghe Ra Điều Gì” gửi cho bác sĩ Thân Trọng Minh tức nhà văn Lữ Kiều năm 1973.

Trước khi nêu thêm những dẫn cứ quan trọng hơn để chúng ta có cái nhìn rõ hơn về thái độ chính trị của TCS thời chiến tranh VN, và cũng nhằm cung cấp thêm tư liệu để làm rõ các mối quan hệ có tính dính líu vào hoạt động chính trị phản chiến thân Cộng của TCS, tác giả xin kể một kỷ niệm với Ngô Kha và vì sao Ngô Kha lấy tên cho lực lượng đấu tranh của mình là Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức.

Vào năm 1971, tôi có mời Ngô Kha tới dự bữa cơm đầy năm Vương Hương, con đầu lòng của tôi tại nhà ở Phú Nhuận. Sau tàn tiệc, tôi đưa Ngô Kha ra về. Chúng tôi đi bộ từ ngã tư Phú Nhuận về hướng cầu Kiệu, khi gần đến chân cầu, Ngô Kha nói với tôi: “Cậu vào chiến khu với mình đi, có người dẫn đường đang chờ”. Tôi không ngờ lại bị Ngô Kha đưa vào thế kẹt. Lúc này, tôi đang là Trung Úy biệt phái dạy tại Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế, vừa bị Nha Mỹ Thuật Học Vụ trả về lại Bộ Quốc Phòng vì được Mỹ cấp học bổng tu nghiệp mỹ thuật tại Trung Tâm Đông và Tây, Hawaii, Hoa Kỳ (Sau 1975 tôi mới biết ông Nguyễn Văn Quyện, kiến trúc sư, Giám đốc Nha Mỹ Thuật Học Vụ, người ký quyết định không cho tôi đi Mỹ và trả tôi lại quân đội theo đề nghị của hoạ sĩ Vĩnh Phối - Hiệu trưởng Trường CĐMT Huế, cả 2 đều là Việt cộng nằm vùng), và Ngô Kha đang là em rể của Trịnh Công Sơn, cũng mang cấp bậc thiếu uý Quân lực VNCH có tư tưởng phản chiến, nhưng tôi không biết gì về hoạt động ly khai của anh cho tới lúc này. Thật bất ngờ và căng thẳng, làm sao tôi có thể đi về phía bên kia chiến tuyến? Tôi không hề tham gia vào phong trào phản chiến, tôi chơi với Trịnh Công Sơn, Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đinh Cường khi họ chưa là người chống lại chế độ Việt Nam Công Hoà. Ngay cả tại “túp lều cỏ” Tuyệt Tình Cốc ở Huế, nơi mà nhà văn Thế Uyên trong một bài viết của anh có tên “Cuộc Hành Trình Làm Người Việt Nam Qua Trịnh Công Sơn” đã tự bạch anh từng đến dự những cuộc họp bàn về đấu tranh chính trị do nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Nguyễn Đắc Xuân và Trịnh Công Sơn đứng ra tổ chức, tôi cũng chưa bao giờ đặt chân đến đó và thậm chí không hề biết có những việc như thế. Đơn giản vì tôi rời Huế vào sống ở Sài Gòn sau khi tốt nghiệp Mỹ thuật năm 1962, mối quan hệ giữa tôi và họ chỉ là một tình bạn văn nghệ thuần tuý. Để thối thác lời đề nghị ghê gớm này của Ngô Kha, tôi dừng lại trong bóng đêm bên này cầu Kiệu và nói với anh:”Ông thấy con mình vừa đầy năm, bà xã còn quá trẻ và yếu đuối, làm sao mình bỏ nhà đi vào căn cứ với bạn được. Hơn nữa mình không đồng ý cách giết người của họ ở Huế hôm Tết Mậu Thân… thôi chúc bạn lên đường may mắn!”. Thế nhưng, sự việc sau đó lại đưa Ngô Kha đến một hoàn cảnh khác. Anh không đi vào rừng mà về Huế rồi bị bắt và chịu một cái chết bi thảm.

Về Nguyễn Đại Thức là ai mà Ngô Kha dùng đặt tên cho lực lượng đấu tranh của mình?
Theo Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Đại Thức nguyên là một hạ sĩ quan quân lực VNCH ly khai đã bắn hụt tướng Huỳnh Văn Cao khi ông dùng trực thăng kiểm soát tình hình Phật giáo xuống đường ở Đà Nẵng và Huế, và đã bị lính Mỹ bắn hạ. Hành động và cái chết của Nguyễn Đại Thức đã đưa Ngô Kha đến sự chọn lựa Nguyễn Đại Thức là tên và biểu tượng cho nhóm quân nhân ly khai đấu tranh chống Mỹ Nguỵ do anh tổ chức. Sau đây là đoạn viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong Căn Nhà Của Những Gã LangThang: “…Theo tin tức quân báo của Kha nhận từ đoạn Đà Nẵng, thì lực lượng thuỷ quân lục chiến của Kỳ sẽ chĩa mũi nhọn vào những người của phong trào mà họ cho là nguy hiểm, ngay từ lúc họ đặt chân đến Huế để tránh hậu hoạ. Ngô Kha cùng đi với chiến đoàn ly khai của anh sẽ kéo dài cuộc cầm cự trên đèo Hải Vân, để tạo điều kiện cho tôi thoát…”. Đối với cá nhân tôi, nhờ tiết lộ kinh khủng này của Hoàng Phủ Ngọc Tường, những năm gần đây, tôi mới biết mình đã từng bị Ngô Kha dùng tình bạn để đưa vào cái gọi là Chiến đoàn ly khai Nguyễn Đại Thức mà không biết khi anh rủ tôi đi vào cứ như đã nói ở trên. May mà tôi đã từ chối.

Với bao nhiêu sự việc gắn kết với nhau, hoà quyện, ăn khớp, như thế mà chúng ta vẫn còn hoài nghi, vẫn biện bạch đây chỉ là một thứ tình cảm hồn nhiên hay hoa mỹ hơn, đấy là ý thức về thân phận dân tộc, tiếng nói đòi hoà bình đậm tính nhân bản cho quê hương của một người nghệ sĩ tài hoa như TCS, thì chi tiết sau đây đã được Nguyễn Đắc Xuân tiết lộ và đã xác nhận lại với tác giả bài viết này như sau: “Vào đêm ngày 29-5-1966, trên đường Trần Bình Trọng-Đà Lạt, Trần Trọng Thức (nhà báo), Nguyễn Ngọc Lan (linh mục, đã chết), Nguyễn Đắc Xuân và Trịnh Công Sơn đã cùng nhau bàn về một giải pháp chính trị cho trí thức yêu nước và người đưa ra sự chọn lựa rất quyết đoán và hợp ý với 3 bạn đồng hành với mình: “Không có con đường nào khác cho anh em mình ngoài Mặt trận Giải Phóng Miền Nam!”.

Vậy là đã quá rõ về khuynh hướng chính trị của Trịnh Công Sơn!

Từ Chính Trị Phong Trào đến Chính Trị Cầm Quyền?

Vỡ mộng chính trị cầm quyền
Những ngày trước 30-4-75, Sài Gòn rơi vào tình trạng hỗn loạn. Người thân cộng thì hí hửng, người quốc gia thì lo âu và tìm đường bỏ nước. Mọi thứ sinh hoạt đều tê liệt, tôi nằm trong số người chịu trận, bế tắc, no way out. Trong thời điểm tinh thần sa sút này, tôi thường ghé qua nhà TCS để tìm một thông tin tốt lành vì anh có nhiều mối quan hệ, nhưng cũng không được gì vì TCS từ chối ra đi và cho biết sắp nhận chức Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hoá trong chính phủ Dương Văn Minh lên thay Thiệu-Kỳ, em trai TCS là đại uý Trịnh Quang Hà sẽ được giao làm Cảnh sát Trưởng quận 2 (nay là quận 1). Thế là xong, TCS sẽ tham gia chính quyền được chuyển từ tay Nguyễn Văn Thiệu để thương lượng hoà bình với quân GP đang bao vây Sài Gòn và doạ sẽ tắm máu Sài Gòn nếu VNCH không buông súng.

Thế nhưng, TCS và người em không có tên trong thành phần chính phủ Dương Văn Minh khi các hệ thống thông tin quốc gia công bố ngày 27-4-75 và cũng không có tên kiến trúc sư Nguyễn Hữu Đống trong vai đệ nhất Phó Thủ Tướng - người bạn chính trị không lộ diện của TCS từ trước sự kiện Tết Mậu Thân 1968, một cố vấn chính trị, một công trình sư cho sự nghiệp chính trị của TCS, đã vận động cho TCS vào chính phủ này như là đại diện của phe Phật giáo. Và với kết quả này, nhà hoạt đầu chính trị trẻ tuổi Nguyễn Hữu Đống đã phải rời khỏi nhà TCS ngay sau đó, sau khi đã ăn ở trong nhà TCS nhiều tháng trước như một người em rể.

Sau này, trong thời Lý Quí Chung còn sống, tôi có hỏi về sự việc này. Với tư cách là một Bộ trưởng Thông Tin và người rất thân cận với tướng Dương Văn Minh, Lý Quí Chung đã xác nhận: không hề có một đề cử nào cho TCS và Nguyễn Hữu Đống vào chính phủ Dương Văn Minh cả. TCS và gia đình đã bị Nguyễn Hữu Đống lừa rồi! Và từ đó TCS đã coi Nguyễn Hữu Đống là kẻ ghê tởm.

Một chút về Nguyễn Hữu Đống
Nguyễn Hữu Đống tốt nghiệp thủ khoa Trường Kiến Trúc Sài Gòn khoảng năm 1964 nhưng không hành nghề kiến trúc sư, bắt đầu chơi thân công khai với Trịnh Công Sơn vào khoảng 1970. Tôi không được biết gì nhiều về nhân vật này ngoài việc chứng kiến sự xuất hiện thường xuyên trong nhà TCS những tháng trước 4/1975 với tư cách em rể TCS, giữa lúc Sài Gòn liên tiếp nhận những thông tin về các tỉnh Tây Nguyên thất thủ, và cũng được biết từ TCS vào những ngày cuối của tháng 4/1975 là: chính quyền mới sẽ vẫn giữ nguyên chiếc ghế Đệ nhất Phó Thủ Tướng của chính phủ đầu hàng Dương Văn Minh (tức ghế của Nguyễn Hữu Đống). Sau đó, Nguyễn Hữu Đống đã vượt biên và định cư ở Pháp.

Thế nhưng, vào khoảng năm 1992, Nguyễn Hữu Đống về Sài Gòn và tìm thăm tôi. Tôi tiếp anh tại nhà và cùng ăn trưa. Thật ra, giữa tôi và Nguyễn Hữu Đống không đủ thân để anh tìm thăm, chẳng qua là chỗ để anh trút hết những gì TCS và gia đình không tiếp khi anh tìm đến thăm họ sau hằng chục năm ly gián từ ngày ấy. Trong những thổ lộ của Nguyễn Hữu Đống có 2 chi tiết đáng chú ý: Một là: Ý tưởng và mô hình kiến trúc Ngôi Đền Tình Yêu có hình quả trứng (lấy từ truyền thuyết Âu Cơ đẻ ra 100 trứng) để TCS chủ trì như một giáo đường là của Nguyễn Hữu Đống; Hai là: để Ngôi Đền Tình Yêu này mang đậm sắc thái TCS, Nguyễn Hữu Đống lập ý cho TCS viết Kinh Việt Nam. Dự án này tôi đã được TCS cho biết trước năm 1975 và sẽ xây dựng trên ngọn đồi của Bác sĩ Bùi Kiện Tín ở Thủ Đức, nằm đối diện với nghĩa trang quân đội Sài Gòn cũ. Xét về mặt tài năng kiến trúc và con người đầy tham vọng làm chính trị của Nguyễn Hữu Đống cũng như mối quan hệ mang tính chính trị giữa anh và TCS thì thông tin này đáng tin hơn là gần đây có nghe dư luận từ Phạm Văn Hạng là dự án này của Phạm Văn Hạng và TCS được ông Võ Văn Kiệt ủng hộ?

(Để biết thêm mối quan hệ chặt chẽ giữa TCS và Nguyễn Hữu Đống, xin độc giả đọc thêm đoạn trích dẫn trong phần ghi chú cuối bài viết này, câu Lê Khắc Cầm trả lời phỏng vấn Nguyễn Đắc Xuân về TCS).

Bài Học Lớn Cho Người Làm Chính Trị Tự Phát Trong Xã Hội CSVN
Những Gáo Nước Lạnh Ngày “anh em ta về”
Tuy nhiên, sau sự thất bại ấy, TCS lại đứng lên vui mừng vì Sài Gòn của anh trong ngày 30-4-75 đã xuất hiện: “Cờ bay trăm ngọn cờ bay” và“anh em ta về mừng như bão cát quay cuồng…”. Từ sự kiện tại Đà Lạt mà Nguyễn Đắc Xuân đã nhắc đến ở trên cho đến ngày 30-4-75 không có một chỉ dấu nào cho thấy có mối liên lạc về mặt tổ chức giữa Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Trịnh Công Sơn. Thậm chí khi anh được kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái đưa đến Đài Phát Thanh Sài Gòn để hát bài Nối Vòng Tay Lớn mừng chiến thắng lịch sử 30-4-75, TCS, tác giả của ca khúc có tính dự báo cho ngày huy hoàng này của quân Giải phóng và bi thảm cho phía VNCH, cũng bị Tôn Thất Lập, một nhạc sĩ chủ chốt trong phong trào Hát Cho Đồng Bào đã thoát ly đi theo MTGPMN, đuổi ra khỏi phòng thu: ”Mày có tư cách gì mà hát ở đây!”…

Bị bất ngờ với cú ra đòn khá tàn nhẫn này của người “anh em”, TCS thật sự choáng váng và sợ hãi, mọi niềm hân hoan trong anh về giấc mơ hoà bình cho đất nước của mình nay đã thành hiện thực bỗng chốc tan thành mây khói. Niềm vui tưng bừng reo ca “…Mặt đất bao la / anh em ta về / Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng/ Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam…” (Nối Vòng Tay Lớn) hôm ấy không thuộc về TCS, và thay vào đó là nỗi ám ảnh sắp bị thủ tiêu và phải làm thế nào chạy trốn khỏi “người anh em” càng sớm càng tốt.

Thật ra, tai nạn chính trị này đã có nguồn gốc từ quan điểm chính về tính hai mặt trong âm nhạc và con người TCS của Ban Văn Hoá Tư Tưởng-Trung Ương Cục Miền Nam do Ông Trần Bạch Đằng phụ trách. Chính nhạc sĩ Trần Long Ẩn đã kể lại rằng đã có một cuộc họp kiểm điểm TCS trong Cứ trước 1975 với thành phần tham dự gồm có hầu hết các văn nghệ sĩ thoát ly theo MTGPMN như: Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn,… dưới sự chủ trì của ông Trần Bạch Đằng.

Và Cuộc Chạy Trốn Khỏi Sài Gòn
Sự sợ hãi càng tăng cao khi TCS nhận được tin mình sẽ bị thanh toán. Chỉ vài ngày sau, TCS đã âm thầm cùng mẹ rời khỏi Sài Gòn bằng xe đò, trực chỉ ra Huế, nơi anh cũng đang có những ”người anh em” thân thiết cũ vừa chiến thắng trở về như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Thái Ngọc San,… hy vọng chắc được yên thân.

Trở lại sống trong căn hộ cũ 11 Nguyễn Trường Tộ - Huế, TCS quây quần với bạn bè cũ và mới không được bao lâu thì cả thành phố Huế lên cơn sốt đả đảo TCS và Phạm Duy. Các biểu ngữ được giăng ở các trường đại học và TCS phải lên Đài truyền hình Huế đọc bài tự kiểm điểm. Sự cố lần này cũng lại do một nhạc sĩ tổ chức, nhạc sĩ Trần Hoàn, Giám đốc Sở VH&TT tỉnh Bình Trị Thiên. Thế là TCS đã tránh được vỏ dưa SG nay lại găp vỏ dừa Huế! Sự bé cái lầm lần này, có lẽ do TCS đã kỳ vọng ở bạn mình quá nhiều nhưng thực tế vai trò trong lực lượng tiếp quản Huế của Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân rất khiêm tốn, chính họ cũng đang phải cố gắng phấn đấu để được kết nạp vào đảng thì làm sao bao che cho tác giả của 2 ca khúc từng bị người CSVN kết án (Ca khúc Gia Tài Của Mẹ với câu: “Hai mươi năm nội chiến từng ngày” đã xúc phạm đến đại cuộc chống Mỹ cứu nước của người CSVN và ca khúc Cho Một Người Nằm Xuống để thương tiếc Lưu Kim Cương - đại tá không lực VNCH chết bởi đạn của quân GPMN - người bạn một thời đã từng dùng máy bay không quân đưa TCS lên Đà Lạt thăm Khánh Ly hoặc ngược lại, đón Khánh Ly về hát với TCS) tại Sài Gòn?

Lần này ở Huế, tính tẩy chay TCS nghiêm trọng và công khai hơn hẳn vụ ở Đài Phát Thanh SG vừa qua. Tình bạn cũ trong trái tim TCS sụp đổ đã đành mà giấc mơ “Khi đất nước tôi thanh bình/Tôi sẽ đi thăm…” tưởng dễ thực hiện của anh cũng bị dập tắt. Những tháng ngày tiếp theo ở Huế, TCS sống như một con tin trong Hội Văn Nghệ Bình Trị Thiên, thường xuyên được tổ chức bố trí đi lao động thực tế trên những cánh đồng vào mùa khô cũng như mùa lụt, không hơn gì một người phải chịu cải tạo.


(còn tiếp)


Trịnh Cung


Trịnh Công Sơn & Tham Vọng Chính Trị (2) - Bài viết của Trịnh Cung

(tiếp theo)



Cuộc Chạy Trốn Lần Thứ 2

Tuy nhiên, đang kẹt trong cái thế “tiến thoái lưỡng nan” này ở tại chính quê nhà, nơi mình từng tham gia hoạt động đấu tranh chống Diệm rồi chống Mỹ-Thiệu trong Phong Trào Đô Thị Huế với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ng K, Nguyễn Đắc Xuân,… cũng không xong mà về lại Sài Gòn thì càng nguy hiểm thì một vị cứu tinh kịp xuất hiện, ông Võ Văn Kiệt - nhà lãnh đạo công sản cao cấp tiếp quản Sài Gòn lúc bấy giờ. Một cuộc vượt biên nội địa đưa TCS vào lại Sài Gòn sau khoảng 1 năm anh phải “đi thực tế” tại các vùng quê tỉnh Bình Trị Thiên được bí mật tổ chức do ông Kiệt uỷ thác cho nhà văn cộng sản Nguyễn Quang Sáng thực hiện thành công. Từ đây, dưới sự ưu ái của ông Kiệt và nhà văn Nguyễn Quang Sáng được uỷ nhiệm của thượng cấp chăm sóc TCS, cái hạn bị hăm doạ hay trù dập với người nhạc sĩ lãng mạn cách mạng này đã kết thúc.

Qua những “sự cố” như thế, có thể thấy TCS đã mắc những sai lầm với người CS như sau:

- Thiếu minh bạch trong suy nghĩ về chiến tranh VN và tính hai mặt trong quan hệ xã hội.

- Không ở trong một đường dây của tổ chức và chịu sự lãnh đạo của tổ chức đó.

- Không dám thoát ly đi theo MTGPMN.

Và những sai lầm của TCS với phía VNCH:

- Kêu gọi phản chiến nhưng chỉ nhằm vào phía VNCH.

- Thiên về phía người CSVN ngay cả sau khi bị họ giết hụt trong vụ Tết Mậu Thân ở Huế.

- Chống lại phía đã tạo cho mình điều kiện học hành và tự do sáng tác, kể cả tự do tư tưởng dù có bị chế độ SG hạn chế và kiểm duyệt, nhưng không quyết liệt tiêu diệt như đã được thổi phồng (dùng giấy của Hoàng Đức Nhã cấp để đi đường do Phùng Thị Hạnh trung gian, nhiều sĩ quan VNCH che dấu,…) để có một nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tồn tại lừng lẫy như thế cho đến ngày 30-4-75. Dù ý thức chính trị ra sao, Trịnh Công Sơn vẫn là sản phẩm của chế độ VNCH đúng như Đặng Tiến đã nhận định trong một bài viết ở đâu đó mà tôi không còn nhớ tên.

Bước Ngoặt “Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”
Sa Lầy vào Rượu và Xu Nịnh
Cuối tháng 5-1978, tôi ra khỏi trại cải tạo, gặp lại TCS. Lần nào đến nhà anh ở 47c Phạm Ngọc Thạch-Sài Gòn, sáng hay chiều, cũng thấy TCS ngồi nhậu rượu Ararat, một loại cô-nhắc Nga (sau “đổi mới” chuyển qua rượu chát đỏ của Pháp, và sau cùng là Whisky Chivas) với Nguyễn Quang Sáng và một số bạn “mới”. Tôi cảm thấy có một điều gì đó không ổn, hình như tôi, một thằng sĩ quan Nguỵ đi tù về, không còn được TCS và gia đình coi là người thân như ngày xưa. Thái độ khó chịu của tôi mỗi lần ngồi trước mặt những người bạn “mới” này của Sơn đã khiến tôi bị TCS và gia đình tẩy chay ngầm.

Thực ra, tôi đã bị TCS và nhóm bạn Huế cũ loại ra từ những năm tháng tôi đi lính VNCH mà tôi không hề biết. Sau này, hoạ sĩ Tôn Thất Văn (đã chết) đã kể lại cho tôi rằng có những cuộc họp ở Huế vào những năm 60-70, TCS và những người mà tôi đã coi là bạn thân tình đã đem tôi ra để phê phán, tẩy chay vì tôi đã không trốn lính và đứng về phía Quốc Gia. Rất tiếc, trong số này lại có cả Đinh Cường, người đã từng học cùng trường mỹ thuật, ở cùng nhà, và do tôi giới thiệu làm quen với TCS, do tôi kết nối với anh bạn Thọ giàu có ở Đà Lạt để có những tháng ngày cùng TCS rong chơi thơ mộng khi lưu lại căn phòng anh Thọ đã thuê cho tôi tại biệt thự số 9 đường Hoa Hồng hay ở trong căn nhà sàn gỗ thơ mộng bên một dòng suối róc rách trong một hóc núi của thị trấn Đơn Dương từ trước khi tôi rời Đà Lạt về Sài Gòn năm 1964 theo giấy gọi vào quân trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức khoá 19. Và cả những tháng ngày nhàn nhã làm sinh viên sĩ quan tại đây vào năm 66 hay 67, lúc này tôi là sĩ quan huấn luyện CTCT và phụ trách một phần nguyệt san “Bộ Binh”. Sau ngày 30-4-75, với cấp bậc Trung uý ngành Công binh VNCH, Đinh Cường trở lại Trường Mỹ Thuật Huế và được miễn đi học tập cải tạo nhờ vào việc đã tham gia các hoạt động đấu tranh chống VNCH của nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân, TCS,.., nhiều năm trước.

Có một kỷ niệm đặc biệt với Đinh Cường mà tôi cũng muốn nói ra luôn sau bao nhiêu năm cố giữ chặt trong lòng, để lòng mình thôi nặng trĩu và cũng minh chứng cho một tình bạn không hề có thật mà anh ấy đã dành cho tôi, mà tôi đã hằng chục năm cố nghĩ khác đi, cố không tin. Sự việc xảy ra như thế này: Ngày 1-5-75, 8g sáng tôi đến nhà Đinh Cường ở đường Nguyễn Đình Chiểu cũ, gần chợ Tân Định để xem tình hình như thế nào. Như thường lệ tôi vẫn đến đây dễ dàng như người trong nhà nên rất tự nhiên bước lên cầu thang dẫn lên căn gác của bạn mình. Thế nhưng chị TN, vợ Đinh Cường đã chặn tôi lại ở giữa cầu thang và nói Đinh Cường đi khỏi rồi. Tôi không tin và nói lớn là có hẹn trước, lúc đó Đinh Cường mới nói vọng xuống để tôi lên. Khi lên tới nơi thì đã có mặt của Bác sĩ Trương Thìn, Nhạc sĩ Miên Đức Thắng cùng ngồi đó. Tôi gượng gạo ngồi xuống và Đinh Cường nói với 2 vị khách kia như hỏi ý: “Mình cấp cho TC cái giấy chứng nhận thuộc Thành Phần Thứ 3 nhé!”. Lập tức tôi đứng lên và từ chối: “Không, hãy để tôi chịu trách nhiệm với họ, và Thành Phần Thứ 3, Thứ 4 gì họ cũng dẹp sạch thôi!”…

Với TCS, gia đình cùng các “đồng chí” rượu của anh, tôi lúc này là một kẻ xa lạ, một người lạc hướng, môt cái gai khó chịu, một con kỳ đà làm cho cuộc vui hoan lạc của họ không được hoàn hảo, tôi nên biến đi. Nhưng tôi lại là một gã ngoan cố, tự cho mình nhiệm vụ phải ngồi lại để làm Sơn tỉnh táo hơn, để những tiếng nói bớt đi những lời xu nịnh. Ý thức được rượu, phụ nữ và xu nịnh là một loại ma tuý tổng hợp đang nhấn chìm TCS được nguỵ danh dưới khẩu hiệu “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui” nên tôi cố chiụ đựng sự khó chịu của họ và vẫn không tìm cách lấy lại chỗ đứng thân thiết vốn có với TCS thủa còn trai trẻ ở Huế bằng rượu chè, quà cáp đắt tiền và những tán tụng nuông chìu. Tôi vẫn đứng trên đôi chân liêm sỉ và theo đuổi một thứ nghệ thuật tri thức, đó là chỗ mà TCS, trong thâm sâu của tâm hồn anh, không thể loại bỏ tôi cho dù có khác nhau về quan điểm chính trị và cách sống. Đó cũng là điều mà TCS trong những lúc cô đơn nhất đã đến gõ cửa nhà tôi bất kể đêm khuya hay khi bình minh vừa ló dạng để hàn huyên hoặc khoe và hỏi ý kiến tôi về bức tranh mà anh vừa vẽ.

Điều Đáng Tiếc
Trong thời buổi sống như một kẻ bên lề của một Sài Gòn đã bị đổi tên và những người bạn thân một thời hồn nhiên như thế nay cũng đã cúi mình, ngoan ngoãn làm những con rối của chế độ mới, quay lưng lại với thân phận khốn đốn của đồng loại, tự huỷ tri thức, lương tâm, thứ một thời nhờ nó đã làm nên những ca khúc tranh đấu cho thân phận và tự do con người, nay chọn cho mình con đường sa lầy vào rượu, thuốc và phụ nữ, tôi thấy mình thật sự cô độc và bất lực trước sự sụp đổ từng ngày của một người bạn tài hoa nhất mà tôi từng yêu quí. Nhiều khi tôi muốn nói với bạn mình: “Tại sao cậu lại sa đà vào những cuộc chơi phù phiếm? Tại sao cậu không viết những ca khúc cho thân phận VN 2 đang bị một thứ xiềng xích vô hình nhưng vĩnh cửu, vì nó được khoá bởi chính người VN chứ không phải ngoại bang? Hay ít ra thì cậu nên sống yên lặng như một cái bóng, một hòn đá tảng vì cái giấc mơ hoà bình, thống nhất quê hương của cậu dù không phải nguyên nhân chính gây ra sự sụp đổ hoàn toàn nền Cộng Hoà trẻ tuổi MNVN, nhưng về mặt tâm lý cũng đã ít nhiều làm lợi cho phía bên kia, vô tình đồng loã với kẻ đã gây ra cái bi kịch thảm khốc cho hằng triệu người Việt từng ái mộ, tôn thờ cậu nay phải bỏ nước ra đi bằng giá của cái chết không được chôn cất, bằng sự tật nguyền tinh thần, nếu may mắn đến được bờ tự do thì bạn cũng đáng được cảm thông… Vì tôi biết chắc chắn một điều là tất cả những trí thức thiên tả VN như cậu cũng đều không chờ đợi một kết cuộc cho đất nước theo cách như đang diễn ra…”. Nhưng có lẽ trực giác của tôi đã mách bảo rằng điều ấy nằm ngoài khả năng của TCS, cứ để cuộc sống của anh phụ thuộc vào bản năng, đã tiêu vong rồi một TCS mạnh mẽ dấn thân, mạnh mẽ ca hát cho hoà bình đất nước, cho dân tộc ấm no, bình đẳng, tự do và hạnh phúc như ngày nào. Thời cuộc làm ra TCS đấy thôi, anh không phải là người làm ra thời cuộc, nên tôi đã nghẹn họng.

Ảo Tưởng Cuối Cùng
Dần dà rồi TCS cũng tìm lại cho mình một phần phong độ sáng tác nhờ hấp thụ những ngọn lửa nhỏ từ những nhan sắc phụ nữ và sự trân trọng (theo chủ trương) của những nhạc sĩ thuộc Hội Âm Nhạc TP HCM như Xuân Hồng, Hoàng Hiệp, Thanh Tùng, Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn,… và một nhóm nhạc do họ tổ chức có tên “Những Người Bạn” ra đời khoảng thập niên 90, và TCS được coi là đầu đàn. Anh trở thành nhân tố quan trọng nhất trong việc thu hút sự chú ý của công chúng mỗi khi anh có mặt trong các show diễn của nhóm. TCS cũng là một tiếng nói có trọng lượng nhất đối với nhiều tên tuổi hàng đầu của nhạc cách mạng VN như Văn Cao, Trọng Bằng, Hồng Đăng,… trừ ông nhạc sĩ Bộ Trưởng Bộ VH&TT Trần Hoàn (đã nghĩ hưu), người từng mở chiến dịch đả đảo anh một thời ở Huế, là vẫn tiếp tục nhìn TCS như một kẻ xấu.

Dù gì thì thế đứng chính trị của TCS cũng đã được tốt hơn trước rất nhiều, có phải vì thế mà anh đã chủ quan nghĩ mình là người đến lúc nên đứng vào hàng ngũ của đảng?

Sơn đem ý định này nói với tôi, tôi liền can:“Không nên Sơn ơi, cậu đang là một nhân vật âm nhạc lớn, người ta nể trọng vì ảnh hưởng của cậu đối với công chúng rất lớn cũng như quốc tế. Nay cậu trở thành đảng viên mới tò te còn ai coi trọng nữa. Nếu ông Hoàng Hiệp chống lại là may cho cậu lắm đó!”. Tôi đã nói với TCS như thế và TCS im lặng. Tuy nhiên không phải nhờ sự phân tích ấy mà TCS không trở thành đảng viên Đảng CSVN, mà bởi sự ngăn cản của nhạc sĩ Hoàng Hiệp, người giữ vai trò chính trị của Hội Âm Nhạc TP HCM và cũng là cán bộ có trách nhiệm quản lý TCS. Trong một lần bất bình vời Hoàng Hiệp về việc bị kiểm điểm, TCS đã chửi thẳng vào mặt Hoàng Hiệp ngay tại trụ sở Hội Âm Nhạc TP HCM:”Mày là thằng mặt ***!”.

Đã không những không được vào đảng, TCS còn được cho về hưu để vĩnh viễn kết thúc giấc mơ - ảo tưởng cuối cùng của anh.

Cái Chết - Vinh Quang Đích Thực
Nếu con đường chính trị đối với TCS là một con đường dẫn anh xuống vực thẳm thì cái chết là một kết thúc hoàn hảo. Hay nói một cách khác, nó đã giải cứu và trả lại vinh quang đích thực cho anh - vinh quang dành cho di sản ca khúc TCS.

Không chỉ niềm vinh quang này bừng sáng huy hoàng bởi hàng chục ngàn người yêu âm nhạc của anh ở trong nước tiễn đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng, mà người Việt trên khắp thế giới cũng nhỏ lệ tiếc thương, nhất là người Việt ở Mỹ, nơi mà Trịnh Công Sơn lúc sinh tiền không dám đặt chân đến dù không ít lời mời. Một lễ tưởng niệm long trọng được tổ chức tại Hội trường báo Người Việt với sự tham dự đông đảo của nhiều giới khác nhau trong cộng đồng ở cả Nam và Bắc California ngay trong đêm 1-4-2001, điều mà trước đó không ai dám nói công khai về tình cảm của mình với TCS ở chỗ đông người tại Mỹ.

Lời Kết
Sau 8 năm Trịnh Công Sơn ra đi, mọi cảm xúc thương tiếc sau cái chết của anh trong mỗi chúng ta cũng đã phần nào chìm lắng, hôm nay, tôi quyết định và chọn lựa thời điểm này để viết về một góc khác, một phương diện khác của Trịnh Công Sơn mà chưa ai viết hoặc viết một cách có hệ thống.

Bài viết này chắc chắn sẽ gây ra sự mất mát tình cảm, sự đổ vỡ các mối quan hệ vốn có của tôi, vì một số những nhân vật được đề cập nay đang còn hiện diện trong cuộc đời. Sự thật bao giờ cũng gây mất lòng, tôi đã tự hỏi mình nhiều lần trong nhiều năm qua: có nên viết nó ra, giải thoát cho nó khỏi ngục tù trong tôi suốt hơn 30 năm qua? Sự quằn quại của nó trong cái nhà tù ký ức cũng làm tôi đau buồn đến không chịu nổi. Giải phóng cho nó là giải phóng cho chính tôi, dù có phải bị trả giá.

Đó là về phần cá nhân tôi, còn đối với TCS, bài viết này tôi muốn bổ sung thêm những điều mà trong các cuộc nói chuyện về TCS ở Mỹ tôi đã không thể nói hết được. Một nửa sự thật cũng chưa phải là sự thật. Tôi tin vào điều tốt đẹp của sự thật. Nó có thể sẽ làm tan đi hình ảnh một TCS được tô vẽ bởi những huyền thoại và ảo ảnh lấp lánh trong lòng ai đó, nhưng sẽ trả lại một TCS thiên tài đích thực của âm nhạc như nó vốn có, để mọi người nếu đến với nhạc Sơn thì sẽ có được cơ may yêu mến trọn vẹn một con người có thực, chứ không phải một thứ tượng đài được nhào nặn, tô vẽ và dựng lên vì một mục đích riêng. Đã đến lúc sự thật đó cần được trả lại cho những người Việt đã, đang và sẽ mãi còn coi nhạc Trịnh là lẽ sống của mình, mang nó theo mình như một thứ tài sản vô giá dù đi đến bất kỳ đâu, dù ở chiến tuyến nào.

Tất nhiên, những lập luận và lời kể trong bài viết này dựa vào những gì tôi đã trải qua, những tư liệu riêng và những tư liệu của những người bạn cũ của TCS mà họ đã công khai phổ biến trên các phương tiện truyền thông, và vì thế chắc chắn còn thiếu sót tất yếu, vì tôi biết còn nhiều sự thật đang được cất dấu bởi những người có quan hệ cận kề với TCS trong từng giai đoạn của lịch sử VN từ 1954 đến hôm trước khi TCS qua đời mà họ vì những lý do nào đó chưa tiện nói ra. Tôi xin cám ơn những ai sẽ đóng góp thêm những gì giúp cho bài viết này được hoàn hảo hơn, kể cả những phản biện.

Sau cùng, mỗi con người Việt Nam đã trải qua và sống sót sau cuộc chiến tranh khốc liệt vừa qua đều giữ trong mình những sự thật riêng, một gốc nhân chứng riêng, xin quí vị hãy trả lại nó cho lịch sử, nếu được như thế thì tấm gương lịch sử VN mới trong sáng được. Cũng vì điều này, cho tôi xin lỗi những gì mà bài viết có làm tổn thương đến một ai đó cũng là vì không còn sự lựa chọn nào khác.

Sài Gòn 29/3/2009
TRỊNH CUNG

Tư liệu tham khảo:
1. Như Những Dòng Sông, Hoàng Tá Thích, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ 2007.
2. Trịnh Công Sơn, Cuộc đời, Âm nhạc, Thơ , Hội hoạ & Suy tưởng, Nhà Xuất Bản Văn Hoá Sài Gòn, 2005.
3. Thư TCS gửi Ngô Kha, nguồn: http://www.gio-o.com
4. Sự thực Thư Gửi Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân, phần phỏng vấn Lê Khắc Cầm, nguồn: http://www.gio-o.com
5. Có nghe ra điều gì, Thủ bút của TCS nói về trách nhiệm của mình với đám đông (Tư liệu của Bác sĩ, nhà văn Thân Trọng Minh - Lữ Kiều).


http://www.take2tango.com/?display=6551

Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng (Bài viết của Liên Thành) (1)



Trong mấy tuần qua, tôi có đọc 2 bài viết của Trịnh Cung, tức Nguyễn Văn Liễu, và bài của anh Bằng Phong Đặng Văn Âu, viết về nhạc sĩ TCS

Trịnh Cung viết: “Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị.”

Bằng Phong Đặng Văn Âu viết:“Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn. Một thiên tài đồng lõa với tội ác”

Hai tác giả với hai bài viết nói về TCS, nội dung khác nhau, nhưng hầu như cả hai đều đưa ra chỉ một vài dữ kiện, hoặc khách quan, hoặc chủ quan, qua tình bạn của họ đối với nhạc sĩ TCS. Để rồi, Trịnh Cung và Bằng Phong Đặng Văn Âu đều không kết luận được, hoặc là không muốn kết luận, một điều quan trọng nhất: Trịnh Công Sơn bên nào? Bên này ? Bên kia? Hay nói trắng ra là: Trịnh công Sơn là ai? Quốc gia hay cộng sản?

Đã bao năm qua, kể từ sau 1975, và mãi đến những ngày gần đây, tôi vẫn giữ thái độ im lặng. Nhưng sau khi đọc xong bài của Trịnh Cung, cũng như của Bằng Phong Đặng văn Âu, tôi quyết định lên tiếng về những gì, mà vì lý do nghề nghiệp, tôi đã phải nắm rất tường tận về TCS. Lý do thì cũng đơn giản, quý vị có thể hiểu được khi đọc xong bài này.

Cuối cùng thì giờ đã điểm. Qua bao nhiêu ca ngợi, bao nhiêu tranh cãi, lý luận, có lẽ, đã đến lúc TCS nên trở lại với những gì của TCS. Đó là SỰ THẬT VỀ CON NGƯỜI TCS. Trong một bối cảnh mà đất nước đang nghiêng ngả tang thương bởi nhiều vấn nạn, cộng với một thảm họa tày trời: SỰ XÂM LĂNG CỦA TOÀN BỘ LỰC LƯỢNG CS QUỐC TẾ, ĐẶC BIỆT LÀ TRUNG CỘNG, QUA BÀN TAY CS HÀ NỘI, Trịnh Công Sơn đã cống hiến gì cho quốc gia?

Giữ nhiệm vụ trưởng cơ quan an ninh tình báo Thừa Thiên-Huế từ 1966 đến đầu 1975, tôi có bổn phận phải chịu trách nhiệm chính về vấn đề gìn giữ an ninh trật tự, bảo vệ sinh mạng và tài sản cho đồng bào trong tỉnh. Và trên hết mọi chuyện, là đối phó với cục Tình Báo chiến lược Bắc Việt, lồng vào đó là một mạng lưới tinh vi và dày đặc CS nằm vùng tại Huế. Thật không sai khi nói Huế là một ổ nằm vùng. Do vậy, có lẽ chúng tôi là người “may mắn”(?!) PHẢI có bổn phận “BIẾT” rất “kỹ” về TCS và toàn bộ những phần tử hoạt động CS khác của Huế. Tôi biết TCS và nhóm người nối giáo cho giặc này, dưới tất cả các khía cạnh khác nhau.Từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn, từ thói quen đến phẩm hạnh, đến tiểu sử, đến gia đình, thậm chí, nếu cần, thì cả gia phả vv, tôi đều có bổn phận phải biết. Và tôi sẽ lên tiếng một cách thẳng thắn, về những sự việc, thông tin, dữ kiện mà chúng tôi có được về đương sự trong bài viết này. Hy vọng, sẽ cung cấp cho lịch sử, và cho những ai quan tâm đến vấn đề TCS, cũng như các hoạt động chung của đương sự với các phần tử nằm vùng khác tại Huế, mà dù yêu, dù ghét, dù hận thù, dù ngưỡng mộ tôn sùng, dù căm phẫn.... những thông tin chính xác và cần thiết, để quý vị có thể tự mình thẩm định, lại một cách đúng đắn, về con người TCS. Bởi vì, mỗi con người chúng ta, dù thế nào đi nữa, không ai muốn bị BỊP cả!

Trịnh Công Sơn bên nào: Bên này ? hay bên kia ? Quốc Gia?, Cộng Sản?

Trước khi xác nhận cũng như công bố nhiều chuyện liên quan đến TCS, xin được phác họa lại tình hình an ninh và nội chính của Thừa Thiên-Huế, sau ngày 1/11/ 1963:

Sau đảo chánh, ảnh hưởng và thế lực chính trị của PG Ấn Quang, và đặc biệt Trí Quang, Đôn Hậu đối với chính quyền trung ương cũng như địa phương, và trong hàng ngũ tín đồ Phật giáo tại miền trung, nhất là tại Huế, QUÁ MẠNH!

Chùa Từ Đàm trở thành Dinh Độc Lập II, đó là trung tâm quyền lực thật sự cho cả Miền Nam VN. Tại miền trung, chùa Từ Đàm là tàn cây cổ thụ đầy bóng mát, che chở cho mọi hoạt động của các cơ quan dân vận, tôn giáo vận, trí thức vận, tổ chức học sinh, sinh viên “Giải Phóng” thành phố thuộc Đại Học Huế và các trường Trung học. Tất cả đều nằm dưới sự điều động của tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế và Thành Ủy Việt cộng.

Hầu như không có một cơ quan an ninh nào của chính phủ VNCH dám sờ vào các ổ nằm vùng gần như công khai này. Họ chỉ lấy vải thưa để che mắt thánh, nhưng thật tình không ai dám đụng đến họ cả. Nếu đụng đến họ, sẽ bị lu loa là “tàn dư Mật Vụ Nhu Diệm”, là “đàn áp Phật Giáo”, là TÀN ĐỜI! Mọi tổ chức, mọi cơ sở nội thành của Việt Cộng được phát triển hết năng xuất. Tất cả là nhờ tài điều binh khiển tướng của Trung Tá điệp Viên Hoàng Kim Loan, thuộc Cục Tình báo Chiến lược Bắc Việt. Trung gian liên lạc là bí thư thân tín của Thích Trí Quang: Nguyễn Khắc Từ. Sau 1975, Nguyễn Khắc Từ lộ diện là viên đại tá Việt Cộng. Hổ trợ tận tình cho Hoàng Kim Loan là Trí Quang, Đôn Hậu.

Có thể nói từ 1963, sau đảo chánh, đến 1966, là thời gian nổi loạn Miền Trung của Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu. Ba năm oan nghiệt này là thời đại mạt vận của tất cả các cơ quan tình báo dân sự cũng như quân sự của chính phủ VNCH. Trí Quang, Đôn Hậu và hệ thống rất lớn các “thầy tranh đấu” của họ, đã xóa sổ các cơ quan tình báo xuất sắc của chính phủ, tại nhiều nơi. Đặc biệt thảm hại nhất là tại Thừa Thiên- Huế. Hủy diệt các cơ quan tình báo có nghĩa là mở đường cho CS tự do ra vào, có nghĩa là sinh mạng Miền Nam đang hấp hối!

Trước 1963, Đoàn Công Tác Đặc Nhiệm Miền Trung là do ông Dương Văn Hiếu làm trưởng đoàn. Nhưng, người chỉ huy thật sự bên trong lại là ông Ngô Đình Cẩn. Ông là một người có năng khiếu thiên phú về tình báo, dù chưa hề qua một trường lớp đào tạo chính quy nào. Có thể nói đây là một năng khiếu bẩm sinh kỳ lạ của ông, đặc biệt là năng khiếu chống du kích chiến và chống dấy loạn trong thành phố. Cơ quan tình báo tinh nhuệ này đã phá vỡ và bắt giữ hầu như toàn bộ các cán bộ tình báo cao cấp của Bắc Việt gởi vào miền Nam. ĐCTĐNMT đã bẽ gãy mọi mưu toan của Hà Nội về chính trị cũng như quân sự, nhất là mục đích phá rối chính trị để làm suy sụp Miền Nam. Xin dẫn chứng tài năng và công lao rất lớn của ông Ngô đình Cẩn, qua lời nói của đối thủ: đại tướng CS Văn Tiến Dũng: “ Dưới thời Diệm, ta đã gởi vào Miền Nam 60 ngàn cán bộ, cuối cùng chỉ còn 5 ngàn, như vậy là thiệt hại đến 90%”. Sau khi ông anh là TT Diệm bị đảo chánh, bị đám tướng lãnh phản loạn bất chấp luật pháp, bất chấp kỷ cương phép nước, bất chấp đạo lý, bất chấp tình người, giết, thì ông em út cũng bị cùng chung số phận! Tòa án gì đây? Luật pháp gì đây? Luật của Trí Quang? Luật của Đôn Hậu? Luật của cái gọi là“ Phật Giáo đấu tranh”?? Tội gì thưa quý vị? Tội bắt nhiều CS! Ông Dương văn Hiếu, nhờ có ông Cẩn thế mạng rồi, nên quý thầy hơi khó làm áp lực giết thêm nữa. Sau đó, nhờ “đế quốc Mỹ xâm lược” can thiệp, nên chỉ bị tù.

Một cơ quan tình báo tinh nhuệ, đặc biệt, và bí mật khác, do ông Phan Quang Đông chỉ huy cũng bị xóa sổ. Cơ quan này hoàn toàn chỉ liên quan đến những điệp vụ quan trọng ngoài bắc mà thôi. Họ không hề dính dáng gì đến chuyện đàn áp Phật Giáo cả, cũng bị Thích Trí Quang vu vạ rồi giết. Theo lệnh Hà Nội, Trí Quang áp lực, yêu cầu chính phủ đương nhiệm, qua trung gian Nguyễn Chánh Thi, tử hình Phan Quang Đông, một viên chức chỉ huy tình báo tài ba xuất sắc, với tội “ Mật vụ Nhu Diệm”!

Cơ quan tình báo thứ 3 hoạt đông rất hữu hiệu tại Huế, là Ty Công An Thừa Thiên của chính phủ VNCH. Số phận cơ quan này cũng bi thảm không kém. Ông Lê Văn Dư Trưởng ty bị bắt giữ.

Hầu hết nhân viên phụ trách tình báo của 3 cơ quan này, hoặc bị sa thãi, hoặc bị bắt, hoặc bị thuyên chuyển khỏi các chức vụ trọng yếu. Tất cả cũng với tội danh tương tự: “ Mật vụ Nhu-Diệm, đàn áp Phật Giáo, thủ tiêu quý thầy v,v…”

Sau khi loại trừ sạch các thành phần “Mật vụ Nhu Diệm ác ôn”, các thầy liền thay vào cái bình cũ là cơ quan tình báo của VNCH, loại rượu mới do quý thầy bào chế ra, đó là “rượu nằm vùng”!!

1. Nguyên Quận Trưởng Cảnh Sát Nguyễn Văn Cán, một cơ sở tình báo rất quan trọng của Trung tá điệp viên CS Hoàng Kim Loan, được phong làm truởng ty CSQG Thị xã Huế. Ngoài ra, Nguyễn Văn Cán còn là cơ sở nuôi dưỡng tên Phan Nam, Thành ủy viên thành ủy Việt Cộng Huế, đặc trách an ninh của cơ quan thành ủy VC, trú ngụ thường xuyên trong nhà của Nguyễn văn Cán. Sau 1975 Phan Nam làm Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Huế.

2. Trần Văn Cư, đệ tử thân tín của Ông Đôn Hậu, được phong làm trưởng ty Công An Thừa Thiên. Trần văn Cư chính là người thẩm vấn thụ lý nội vụ ông Phan Quang Đông. Thừa lệnh CS Hà Nội, Đôn Hậu, và Trí Quang ngầm ra lệnh cho chính quyền, xử bắn Phan Quang Đông tại Sân Vận Đông Tự Do, thuộc quận III thị Xã Huế, với tội danh : ” Mật vụ Nhu Diệm, đàn áp Phật Giáo thủ tiêu quí thầy,v.v…”

Đau đớn và cười ra nước mắt, là từ 1966 đến 1968, hai ty Cảnh Sát lại giao cho hai tay nội tuyến Việt Cộng: Ty CSQG tỉnh Quảng Trị thì Trưởng ty lại là Đại Úy Lê Cảnh Thâm, làm việc cho cơ quan Quân Báo của VC. Ty CSQG Thừa Thiên-Huế thì Trưởng ty là Đoàn Công Lập, nhân viên thuộc cấp của Trung tá điệp viên CS Hoàng Kim Loan.

Khoảng thời gian dài này là thời hoàng kim tuyệt đỉnh của các hoạt động CS nằm vùng. Chỉ cần dán nhãn hiệu “ Mật vụ Nhu Diệm đàn áp Phật Giáo, thủ tiêu quý thầy” cho kẻ thù, là mọi việc xong ngay! Cả Miền Nam hoang mang, lo sợ, điêu đứng, biết bao thân phận bị vùi dập, cũng vì cái khẩu hiệu này.

Sau khi 3 cơ quan tình báo trọng yếu và vô cùng hữu hiệu này bị “các thầy” xóa sổ, các tổ chức cơ sở Việt Cộng trong thành phố Huế sinh sôi nẩy nở, phát triển tự do như rạ, như nấm . Chính quyền tuy biết, nhưng không dám đụng đến, vì sợ đụng chạm đến Phật Giáo. Sợ đến kinh hoàng mấy chữ “ Mật thám Nhu Diệm, đàn áp Phật Giáo”. Quý thầy đã thật sự thành công trong việc tự tôn, tự đồng hóa “CÁC THẦY LÀ PHẬT GIÁO”. Nói đến đây tôi không khỏi không bật cười, nhớ đến chuyện cũng tương tự như vậy. Đó là chuyện trên 30 năm nay, đảng CSHN cũng đã tự đồng hóa mình là tổ quốc! Và CS cũng đã thành công! Quý thầy cũng thành công!

Đại đa số các tổ chức CS như thế và hầu hết những kẻ tham gia trong các tổ chức đó, đều đã được Trí Quang, Nguyễn Khắc Từ, Hoàng Kim Loan bọc cho cái vỏ tôn giáo. Tỷ dụ như Liên Đoàn Học sinh, Sinh viên Phật tử, công chức Phật Tử, Quân nhân Phật tử, Cảnh sát Phật tử, Tiểu thương Phật Tử chợ Đông Ba v..v...

Thành phố mọc lên như rạ những địa điểm hội họp, tiếp xúc, của nhiều trí thức, giáo sư , sinh viên, học sinh, hoạt động cho các tổ chức trí thức vận, tôn giáo vận của Thành ủy Huế. Những địa điểm nầy trong danh từ chuyên môn chúng tối gọi là những “căn cứ lõm” của địch, tỷ như:

1- Quán Café “Bạn Tôi.”

Ở đường Đào Duy Từ , tại vùng Đập Đá thuộc quận III thị xã Huế.

Thành lập bởi Lê Văn Sâm, SV luật khoa, chủ quán. Có Ngô Kha, vợ chồng Giáo sư Đỗ Long Vân ở Pháp về, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Hữu Ngô, nhà văn Túy Hồng, Phan Duy Nhân, Trần Quang Long.

2- Lực lượng giáo chức tranh đấu tại Huế:

Chủ tịch kiêm chủ bút diễn đàn báo Dân là Hoàng Phủ Ngọc Tường. Phó chủ tịch là Giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm.

Ngoài ra còn có tờ Sinh Viên Huế của tổng hội SV Huế, và tờ Lập Trường của nhóm trí thức đại học Huế, do giáo sư Tôn Thất Hanh làm chủ nhiệm. Chủ trương: Chống lại cái gọi là “Chế độ Diệm mà không Diệm”.

Quý vị độc giả, ai là người uyên thâm, xin hãy diễn giải và dẫn chứng rành rẽ, cụ thể, chứng minh dùm tôi, cụm từ “ Diệm mà không Diệm” này! Tôi chịu thua. Những lộng ngôn này là do ai làm ra? Ai sáng tác? Ai nghe theo? Mục đích là gì? Phá nát tất cả các chính quyền Miền Nam? Bất kể là ai lãnh đạo?

Tổng thống Ngô Đình Diệm đã bị họ gián tiếp giết, phong cho danh hiệu mang đầy tính tội ác, rùng rợn, răn đe: “Mỹ Diệm”, “Mật vụ Nhu Diệm, đàn áp Phật Giáo, thủ tiêu quý thầy”. Đất nước sau đó tang thuơng đổ vỡ, chính trị rối loạn, nhưng vẫn chưa vừa lòng. Thừa thắng xông tới, họ răn đe các chính quyền kế tiếp khác bằng khẩu hiệu mang tính bình mới rượu cũ: “ Diệm mà không Diệm”. Chỉ đơn giản vậy, nhưng buồn cười thay, một loạt các chính quyền sau đó đều xếp re, không dám hó hé với nhóm “ Phật Giáo Đấu Tranh” này

3- Tuyệt Tình Cốc.

Nằm tại hẻm Âm Hồn thuộc quận I thị xã Huế. Nguyên là ngôi nhà của cha mẹ Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan. Sau khi hai ông bà dời nhà ra gần cửa Đông Ba, anh em Tường, Phan biến nơi nầy thành trung tâm hội họp hoạt động của đám sinh viên, trí thức cơ sở thành ủy VC Huế.

Tuyệt Tình Cốc là một ngôi nhà tranh, trong một khu vườn nhỏ có cây Ngọc Lan. Đến mùa hoa nở, hương thơm ngát.

Nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tuờng, Ngọc Phan đã đặt tên cho cây ngọc lan này là “Cây hoa tình”, và ngôi nhà kia là “Tuyệt Tình Cốc, vay mượn trong tác phẩm kiếm hiệp Thần Điêu Đại Hiệp của tác giả Kim Dung

Tuyệt Tình Cốc thường xuyên do anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ trì sau nầy còn có họa sĩ Đinh Cường.

Trịnh Công Sơn, nữ văn sĩ Túy Hồng, Ngô Kha, Trần vàng Sao, Trần Quang Long, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Xuân Kiêm, chủ tịch tổng hội sinh viên Huế, cũng đã xuất hiện nhiều lần tại đây. Hầu hết đám này là cơ sở sinh viên và trí thức vận của thành ủy Huế

Tuyệt Tình Cốc cũng là nơi xuất bản tờ báo Việt Nam Việt Nam của nhóm trên, trong khoảng thời gian phong trào tranh đấu Miền Trung của Thích Trí Quang, giai đoạn cao điểm vào đầu hè 1966.

4-Căn phòng của Lê Văn Hảo,

Giáo Sư nhân chủng học, Đại Học Huế cũng là nơi mà Hoàng phủ Ngọc Tường và đám sinh viên hoạt động cho Thành ủy VC dùng làm nơi viết và xuất bản báo chí.

Vô số những trí thức, học sinh, sinh viên hoạt động cho VC tại thành phố Huế. Họ tham gia sách động, trong vai trò lực lượng quần chúng: Cách Mạng đấu tranh của biến cố 1963, rồi cuộc tranh đấu bạo động 1966. Hãy nhìn, để phải giật mình tự hỏi: “Huế không mất vào tay CS trước Mậu Thân 1968 thì quả thật là một phép lạ”. Hãy nhìn danh sách một ổ việt cộng nằm vùng dưới đây:

- Nguyễn Thiết: Sinh viên Luật Khoa phụ trách Thanh niên Thành Ủy Huế, thoát ly lên mật khu 1965

- Trần Quang Long: SV Việt Hán Đại Học sư phạm, thoát ly năm 1968.

- Lê Minh Trường: Sinh Viên Mỹ Thuật: Vượt ngục lên mật khu, sau đó xâm nhập tái hoạt đông bị lực lượng CSĐB phục kích bắn chết tại làng Hải Cát Hạ, quận Nam Hòa.

- Vĩnh Kha. SV Văn Khoa: Chủ Tịch Tổng Hội SV , Đoàn trưởng đoàn SV Phật Tử.

- Hoàng Phủ Ngọc Tường: Giáo Sư.

- Hoàng Phủ Ngọc Phan: SV Y Khoa.

- Nguyễn Đính: SV Văn Khoa, bút hiệu Trần Vàng Sao.

- Phạm thị xuân Quế: Bác sĩ. Chủ Tịch Hội Phụ Nữ Thành Phố Huế.

- Thái Thị Ngọc Dư, sau này đậu Tiến sĩ Địa lý Học tại Pháp

- Trần Anh Tuấn: Tiến Sĩ Luật Khoa tại Mỹ

- Hoàng Văn Giàu: Phụ khảo đại học Văn Khoa Huế. Đoàn Trưởng đoàn SV Phật Tử Huế. Hiện ở Úc Châu

- Thái Thị Kim Lan: Sinh viên Văn Khoa , sau du học đậu Tiến Sĩ triết học tại Đức

- Nguyễn Đắc Xuân: SV Việt Hán, đại học Sư Phạm.

- Hùynh Sơn Trà: SV Y Khoa, thoát ly 1968

- Nguyễn Văn Sở: Đại học Sư Phạm Anh Văn. Thoát ly 1968

- Lê Thanh Xuân: Thoát ly 1968.

- Ngô Yên Thi: SV Văn Khoa. Thoát ly 1968.

- Nguyễn Hữu Ngô: SV Mỹ thuật

- Trần Hoài: SV Việt Hán: Đại học Sư Phạm. Thoát ly 1972

- Nguyễn Đức Thuận: SV đại học Sư phạm Anh Văn. Thoát ly 1968

- Trần Bá Chữ: SV đại học Sư Phạm Toán. Thoát ly 1968

- Nguyễn Thị Đoan Trinh, SV Dược Khoa Đại Học Sài gòn, sát thủ Mậu Thân 1968. Y thị trực diện đeo băng đỏ, nổ súng, hạ sát rất nhiều người. Thoát ly ngay sau CS bại trận Mậu Thân

- Lê Văn Tài: SV Mỹ Thuật, thoát ly 1968. Hiện ở Úc Châu.

- Nguyễn Văn Mễ: Học sinh lớp 12 Quốc Học. Thóat ly 1968

- Lê Phước Thúy: SV đại học Sư Phạm. Thoát ly 1968

- Lê Công Cơ: SV đại học khoa học. Thoát ly 1968

- Lê Khắc Cầm: SV, em giáo sư Lê Khắc Phò

- Lê Văn Hảo: Giáo sư nhân chủng học Đại Học Huế.

- Bà Đào Thị Yến, tức Bà Tuần Chi, nguyên Hiệu trưởng trường nữ trung học Đồng Khánh và cũng là tình nhân của Thích Đôn Hậu. Thoát ly ra bắc cùng với Thích Đôn Hậu, sau Mậu Thân, cùng với Giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm. Giáo sư Lê văn Hảo v…v…

- Bửu Chỉ: SV Mỹ thuật.

- Phan Duy Nhân: SV.

Và còn rất nhiều nữa….

Những cơ sở này, hiệp lực cùng với Thích Trí Quang, Thích Thiện Siêu, Thích Đôn Hậu, Thích Chánh Trực, bí thư thân tín của Thích Trí Quang là Đại Tá tình báo cộng sản Nguyễn Khắc Từ, Hoàng Kim Loan, Trung tá điệp viên cục tình báo chiến lược Hà Nội, như thế đủ để phá nát Huế chưa? Thưa, Quá đủ!……..

Vì thế, miền Trung, đặc biệt Huế, đang bị nhuộm đỏ cách mạng, vừa hồng vừa chuyên. Miền Trung đang sôi sục lửa đấu tranh căm thù giai cấp! Đang là địa ngục của một mạng lưới CS nằm vùng khổng lồ, bán mình cho quỷ.

Ngày 23-1-1965 Thích Trí Quang cho lệnh học sinh sinh viên, đồng bào biều tình kéo đến đốt tòa tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại số 4 đường Đống Đa. Sau đó đoàn biểu tình kéo đến đốt phòng Thông Tin Văn Hóa Hoa Kỳ (USIS) tại số 8 đường Lý Thường Kiệt, thuộc quân III thị xã Huế.

Ngày 27-2-1965 đám này họp báo ra mắt “Phong Trào Tranh Đấu Bảo Vệ Hòa Bình và Hạnh Phúc Dân Tộc” và “Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết”.

Chủ tịch là Thượng Tọa Thích Quảng Liên. Các thành viên: Bác sĩ Thú y Phạm Văn Huyến, thân sinh bà Phạm Thị Thanh Vân, tức bà Ngô Bá Thành. Nhà báo Phi Bằng, tức Cao Minh Chiếm, Luật sư Trịnh Đình Thảo. Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ. Bác sĩ Lê Khắc Quyến khoa trưởng Đại Học Y Khoa Huế cũng bí mật nằm trong tổ chức nầy.

Về Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết, chủ tịch là luật sư Nguyễn Long. Các đoàn viên chủ chốt là kỹ sư Hồ Văn Bửu, kỹ sư Tô Văn Cang.

Hai tổ chức nầy đều đòi hỏi:

* Quân đội Hoa Kỳ phải triệt thoái khỏi miền Nam Việt Nam.
* Vấn đề thống nhất của Việt Nam phải để cho người Việt Nam tự quyết.

Ngày 1-3-1965, Thủ Tướng Chính Phủ VNCH, bác sĩ Phan Huy Quát, ra lệnh cách chức gần 50 công chức và khoảng 30 người bị bắt giữ. Trong đó có Cao Minh Chiếm, giáo sư Tôn thất Dương Kỵ và thú y sĩ Phạm Văn Huyến.

Ba nhân vật nầy được giải ra Huế. Tướng Nguyễn Chánh Thi muốn thả dù nhóm này qua bên kia vỹ tuyến 17. Thủ Tướng Phan Huy Quát phản đối vì sợ báo chí và dư luận quốc tế xuyên tạc.

Ngày 19-3-1965, tướng Nguyễn Chánh Thi chủ tọa một buổi lễ ngay tại bên này cầu Hiền Lương, sau bài diễn văn, Cao Minh Chiếm, Tôn Thất Dương Kỵ và bác sĩ thú y Phạm Văn Huyến được dẫn từ phía bên nầy cầu, thuộc vùng chính phủ VNCH, sang đến giữa cầu, giao cho Cộng Sản Hà Nội. Cả ba lặng lẽ đi qua phía bên kia cầu phân chia biên giới Nam-Bắc.

Tình hình Huế mỗi ngày mỗi trầm trọng. Ngày 6-6-1966 lúc 12 giờ trưa, trên đài phát thanh tranh đấu tại Huế, Thích Trí Quang, tên cờ gian bạc lận, buôn thần bán thánh này, rút con bài cuối cùng: “Bàn thờ Phật”. Trí Quang chơi xã láng canh bạc cháy túi, không kể gì đạo đức tối thiểu: Đưa bàn thờ Phật xuống đường! Phật nào đồng ý cho hành động này?... Ngược lại, Phật đã độ trì người con trung nghĩa xứ Huế: Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan và lực luợng Đặc Nhiệm dẹp loạn miền Trung

Chỉ sau hai tuần lễ kể từ ngày 9-6-1966 toàn bộ lực lượng tranh đấu của Thích Trí Quang đã bị dẹp tan. Thích Trí Quang và đồng bọn, tướng Nguyễn Chánh Thi Tư Lệnh QĐI. Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận Tư Lệnh Sư Đòan I. Tất cả bị Đại tá Nguyễn Ngọc Loan bắt giữ.

Tôi liên tục mở các cuộc hành quân cảnh sát, bắt giữ toàn bộ đám cơ sở việt cộng nằm vùng cài trong Phật giáo, trong các tổ chức giáo chức, học sinh , sinh viên thuộc lực lượng tranh đấu của Thích Trí Quang. Một số lớn bọn chúng bị bắt giữ ngay, nhưng cũng có một số ít đã được trung tá điệp viên Hoàng Kim Loan gởi giao liên và đưa lên mật khu. Điển hình hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tuờng, Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân.

Chuyện khám phá ra TCS hoạt động nằm vùng, là do chúng tôi theo dõi anh em họ Phan. Cuộc đào thoát của hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan đã may mắn làm bộc lộ chân tướng của Trịnh Công Sơn.

Người đứng ra thi hành là giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm, và Lê Cảnh Đạm, lúc đó là Tổng Thư Ký Đại Học Y Khoa Huế. Tôn Thất Dương Tiềm và Lê Cảnh Đạm là cán bộ trí thức vận của cơ quan thanh ủy VC Huế.

Và tôi đã vô cùng bàng hoàng, buồn bả ngẩn người, khi thấy Trịnh Công Sơn dính trong vụ này.

Lực lượng CSĐB đã bám sát theo dõi hai mục tiêu Tường và Phan từ lúc bọn này ẩn trốn tại nhà sách Khánh Quỳnh tại ngã tư Anh Danh, thuộc Quận I thành phố Huế. Tiệm sách nầy là của gia đình Tôn Thất Dương Kỵ một cán bộ cộng sản gộc tại Huế.

Sau đó, bọn chúng di chuyển qua trốn tại số 66 đường Phan Chu Trinh, quận III thị xã Huế. Đây là nhà an toàn của cơ quan Thành ủy VC Huế. Chủ nhân cũng là cơ sở nội thành, tên là Nguyễn Chính. Số 66 Phan Chu Trinh nằm ngay ngã tư Phan Chu Trinh-Nguyễn Trường Tộ, ngay đầu cầu Phủ Cam. Bên này cầu Phủ Cam là nhà tên Chính, và bên kia cầu Phủ Cam là nhà Trịnh Công Sơn, nằm trên đường Nguyễn Trường Tộ, đối diện với tòa Tổng Giám Mục Huế.

Đó là một dãy chung cư. Căn của Trịnh Công Sơn và gia đình trú ngụ là: 11/3 Đường Nguyễn Trường Tộ, quận III, thành phố Huế.

Tôi nhớ không lầm thì đó là ngày 11/6/1966. Trời nhá nhem tối, tôi chỉ huy điệp vụ, đứng hơi xa hiện trường. Hai anh em Hoàng phủ Ngọc Tường từ nhà Chính, bên này cầu Phủ Cam, đi rất nhanh sang nhà Trịnh Công Sơn, bên kia cầu Phủ Cam. Trịnh Công Sơn đã có kế hoạch chuẩn bị trước cho hai tên này ăn cơm tối tại nhà. Sau đó, một chiếc xe hơi màu trắng đến đón Tường và Phan đi ngay.

Tài xế là Lê Cảnh Đạm. Hộ tống là giáo sư Tôn thất Dương Tiềm. Họ lên chùa Thiên Mụ, và sau đó đi bộ vượt Long Hồ, Ngọc Hồ, vượt nguồn tả sông Huơng đến mật khu sau núi Kim Phụng.

Chiếc xe hơi trắng đó là của bà Tuần Chi, tức Đào Thị Yến. Mậu Thân 1968, bà giữ chức vụ Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Huế. Vài ngày sau, đã cùng một phái đoàn đông đảo trí thức miền Nam và Thượng Tọa Thích Đôn Hậu, mà theo sự theo dõi ghi nhận của CSQG Thừa Thiên-Huế, cũng là người tình của bà, thoát ly ra Bắc.

Đó là lần đầu tiên mà lực lượng CSĐB thuộc BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế phát hiện hành động tiếp tay cộng sản của Trịnh Công Sơn.

Tôi sẽ không như Trịnh Cung hoặc anh Đặng Văn Âu chỉ nói thoáng qua về TCS. Vì “ méo mó nghề nghiệp”, tôi sẽ đi từng chi tiết một. Từ đời tư, gia đình, tình ái, sức khỏe, cá tính, tham vọng, đến những công tác tình báo mà TCS cộng tác với chúng tôi, những công việc mà TCS cộng tác với Cộng Sản, những công việc mà TCS cộng tác với Tình báo Ngoại Quốc. Kết quả và ảnh hưởng của những hành động của đương sự, đã gây tác hại như thế nào cho Miền Nam VN.

Đương nhiên sẽ đụng chạm và gây sóng gió. Và sóng gió không chỉ giới hạn riêng nhân vật TCS. Nhưng chỉ là sóng gió cho những ai trót đem lòng ngưỡng mộ tôn thờ nhân vật này một cách nhẹ dạ mù quáng. Còn những ai có chút bình tâm suy xét, biết yêu lấy quê hương khốn khổ này, thì những thông tin mà tôi đưa ra, sẽ chỉ là những xác tín. Nó rành rành như 2+2 là 4.

Với tất cả lương tâm và trách nhiệm của tôi đối với người dân Miền Nam VNCH và với lịch sử. Những gì tôi viết, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Tôi sẵn sàng đối chất với bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào về vấn đề TCS. Và đặc biệt tôi càng rất muốn đối chất với những ai cho rằng những thông tin mà tôi đưa ra là sai trái về TCS và bất cứ nhân vật nào hoạt động CS có tên trong bài này


Ngay sau đó, tôi cho lệnh mở hồ sơ TCS, điều tra lý lịch chi tiết, bám sát theo dõi đương sự. Công việc nầy được giao cho toán xâm nhập E-16, mà trưởng toán là anh Nguyễn Bá Sơn.

Một thời gian sau, nhiều phát hiện cho thấy, TCS từ lâu đã có quan hệ chặt chẽ với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Phan Duy Nhân, và đặt biệt với một cán bộ quan trọng của cơ quan Thành ủy VC. Cán bộ đó là Lê Khắc Cầm, em ruột của giáo sư Lê Khắc Phò. Y sống hợp pháp trong thành phố Huế, Trịnh Công Sơn rất thường xuyên liên lạc với y.

Ngoài ra, toán theo dõi cũng phát hiện được một số các cơ sở trong tổ chức trí vận thuộc tổ chức Học sinh-Sinh viên Giải Phóng thành phố Huế cũng có liên lạc chặt chẽ với TCS như:

Huỳnh Sơn Trà, SV Y Khoa. Đặng Văn Sở, Đại Học Sư Phạm. Lê Thanh Xuân SV Luật Khoa. Trần Hoài, Đại Học Sư Phạm Việt Hán. Giáo sư Ngô Kha, Đinh Cường, Trần quang Long, Trần Vàng Sao, Bửu Chỉ, và nhiều nữa….

Với những dữ kiện, tin tức, của trưởng toán xâm nhập Nguyễn Bá Sơn trình lên, tôi quyết định móc nối, ép TCS làm tình báo viên xâm nhập trong tổ chức trí vận và tổ chức học sinh, sinh viên giải phóng của cơ quan Thành Ủy VC Huế.

Công việc nầy không khó. Vì đã nắm rất vững vàng và có đầy đủ bằng cớ là TCS hoạt động CS, nên khi tôi bí mật tiếp xúc với TCS tại nhà an toàn của cơ quan tình báo Thừa Thiên-Huế, trong khoảng thời gian gần 4 tiếng đồng hồ, TCS, không còn cách nào khác, buộc phải cộng tác.

Và tôi có tin TCS không? Theo bản tính nghề nghiệp, dĩ nhiên, tôi phải nói chữ không. Ngay sau đó, tôi cài thêm một nhân viên tình báo xâm nhập tiếp cận vói TCS và những bạn bè cơ sở nội thành VC của TCS để có thể theo dõi và phối kiểm một số tin tức mà TCS cung cấp cho chúng tôi, cho đến tận ngày 29 tháng tư 1975.

Nhân viên này chính là một nhân chứng sống, để có thể xác nhận cho những ai còn thắc mắc rằng có phải TCS là nhân viên tình báo xâm nhập của lực lượng CSĐB thuộc BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế, gài trong tổ chức cơ quan trí vận của thành ủy VC Huế hay không. Chính anh ta là người mà tôi đã giao cho ba giấy chứng nhận để đưa tận tay cho ba người: TCS và 2 người khác, xin tạm dấu tên

Đó là ba “sự vụ lệnh công tác đặt biệt’ do tôi, với tư cách là Chỉ Huy Trưởng BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế và là Tổng Thư Ký điều hành Ủy Ban Phượng Hoàng Tỉnh Thừa Thiên và Thị Xã Huế, “yêu cầu mọi cơ quan Quân, Dân Chính, giúp đỡ người cầm giấy này đang thi hành phận sự”.

Sự Vụ Lệnh đặc biệt mà tôi cấp cho Trịnh Công Sơn là một lá bùa hộ mạng cực mạnh, bao bọc cho anh ta trong suốt nhiều năm. Nó đã giúp anh ta trốn quân dịch, khỏi bị bắt trong các cuộc ca hát phản chiến, hoặc biểu tình chống chiến tranh, chống chính phủ VNCH.

Vậy mà trong nhiều năm qua tại hải ngoại có một vài bài viết nói rằng trong thời gian chiến tranh, TCS phải trốn tránh cực khổ, nhọc nhằn để khỏi bị bắt đi quân dịch. Rõ là họ chỉ viết theo trí tưởng tượng, những hiểu biết mù mờ, hoặc theo lời kể vu vơ mơ hồ đâu đó.

Nhân viên giao sự vụ lệnh đặc biệt của tôi cho Trịnh Công Sơn hiện đang định cư tại vùng ngoại ô Washington D.C. Hoa Kỳ. Anh ta là một nhân chứng sống về vụ nầy.

1- Lý lịch ghi nhận tại cơ quan CSQG Huế

Sinh ngày 28/2/1939

Học lực: Tú tài I, tức lớp 11. Chương trình Pháp.

Tốt nghiệp trường sư phạm Quy Nhơn.

Giáo viên Tiểu học.

Nghiện rượu và thuốc lá nặng.

Sức khỏe trung bình.

Bị bệnh xuất tinh sớm, sau đó đến 1974 hoàn toàn bất lực.

Bản chất: Trầm lặng, kín đáo, khôn ngoan, giỏi che đậy ý nghĩ của mình.

Xem trọng tiền bạc, có tính phản bội, trọng phú khinh bần, sẵn sàng quay lưng với bạn bè hay ân nhân của mình trước kia, nếu như họ sa cơ lỡ vận

Gia đình:

Phụ thân của TCS là một quân nhân phục vụ trong quân đội Pháp, nghành tình báo, phòng 2. Ông bị tử nạn xe hơi do xe của quân đội Pháp gây ra.

TCS có một người cậu ruột tên là Lê Văn Tông, một thương gia giàu có tại đường Phan Bội Châu, Huế. Ông nầy có vợ lai Pháp hiện định cư tại Pháp. Ông ta là võ sư Nhu Đạo Judo Club Huế. Thật ra TCS không học nhu đạo ngày nào cả. Có lẽ Trịnh Cung không biết, nên đã viết TCS có tập nhu đạo. Trịnh Công Hà, em TCS mới học nhu đạo. Hà là người từng gây chấn thương cho Trịnh Công Sơn khi Trịnh Công Hà dùng một thế võ khóa chặt TCS giữa sàn nhà, trong lúc hai anh em giỡn chơi với nhau.

TCS là anh đầu trong một gia đình đông con.

Các em trai là:

1- Trịnh Công Hà.

Sĩ Quan Quân Lực VNCH

Cấp bậc cuối cùng: Đại úy

2- Trịnh Xuân Tịnh

Trốn quân dịch.

Các em gái:

1- Trịnh Vĩnh Thúy

Chồng là giáo sư Ngô Kha.

2- Trịnh Vĩnh Tâm.

Chồng là Đại úy QLVNCH Hoàng Tá Thích. Hoàng Tá Thích có anh ruột là Hoàng Xuân Tùy cấp bậc Đại Tá, Chính ủy Sư Đoàn Điện Biên Việt Cộng. Sau 1975 làm Thứ Trưởng Bộ Đại Học.

3- Trịnh Thị Hồng Diệu. Không có gì đặt biệt.

4- Trịnh Thị Vĩnh Ngân. Không có gì đặc biệt.

5- Trinh Vĩnh Trinh, em út. Theo ghi nhận, Trịnh Vĩnh Trinh cùng mẹ khác cha với những người trên.

Đã có quá nhiều tranh cãi về TCS, quá nhiều câu hỏi được đặt ra: ‘Trịnh Công Sơn bên mô? Bên Ni? Bên tê”.

Trong chức vụ và trách nhiệm của một Phó Trưởng Ty CSĐB và sau đó là Chỉ Huy Truởng BCH/CSQG/Tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế trong 9 năm, từ tháng 6/1966 đến đầu năm 1975, và là người đích thân áp lực, móc nối và sau đó điều khiển TCS trong chiến dịch xâm nhập vào các bộ phận trí thức vận, tôn giáo vận, học sinh sinh viên Giải Phóng Thành Phố Huế, qua những phong trào quần chúng đấu tranh tại đô thị của cộng sản, tôi có thể xác nhận rõ ràng và minh bạch về con người của Trịnh Công Sơn:

- Trịnh Công Sơn: Bên ni. Quốc Gia

- Trịnh Công Sơn cũng là: Bên tê. Cộng Sản Hà Nội

- Trinh Công Sơn còn có khả năng là : Bên nớ. Tình báo ngoại quốc

Hay nói một cách thẳng thắn, theo danh từ chuyên môn của ngành tình báo, thì Trịnh Công Sơn là điệp viên hai mang 100% và có khả năng mang thứ ba là làm cho cơ quan tình báo ngọai quốc. Nhưng vấn đề đuợc đặt ra là, mang nào là mang chính ?

I- Trịnh Công Sơn: Bên ni.

Có phần đúng, TCS bên ni. Chính tôi đã tổ chức TCS làm tình báo viên cho ngành Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Thừa Thiên và Thị Xã Huế. Mặc dầu trong khoảng thời gian từ 1966 đến ngày 28 tháng 4 năm 1975 cũng có lúc gián đoạn tạm thời vì anh ta không ở Huế. Nhưng chung chung thì anh ta đã hợp tác với chúng tôi trong khoảng thời gian không phải là ngắn.

Có người sẽ đặt câu hỏi, cái gì đã làm cho Trịnh Công Sơn hợp tác với Liên Thành, hay nói thẳng ra là chấp nhận làm tình báo viên cho CSĐB/ thuộc BCH/CSQG/Thừa Thiên- Huế:

1- Vì có máu phiêu lưu ưa mạo hiểm nuốn thành điệp viên?

Câu Trả lời: Không phải.

2- Vì tình cảm cá nhân giữa Liên Thành và Trịnh Công Sơn? Vì hai người quen biết với nhau từ lâu?

Câu trả lời: Cũng không phải.

3- Vì tinh thần ái quốc, tinh thần trách nhiệm của người quốc gia, tinh thần trách nhiệm của một người trẻ đối với hiện tình đất nước vào thời điểm đó?

Cậu trả lời: Lại càng không phải.

4- Vì quyền lợi bản thân, vì an ninh bản thân?

Câu trả lời: Đúng. Hoàn toàn đúng!

Khi tổ chức TCS, tôi đã dùng chiến thuật “Cây gậy và Củ rà rốt”:

Tôi đã đưa ra những bằng chứng rành rành hành động tiếp tay của TCS trong việc đào thoát của hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, do cơ quan B5 và thành ủy Huế trực tiếp tổ chức. Rồi việc một số cơ sở nội thành VC trong giới trí thức, sinh viên tiếp xúc thường xuyên với TCS, và nhất hạng là việc cán bộ Thành Ủy Việt Cộng Huế Lê Khắc Cầm, đã nhiều lần tiếp xúc vói TCS.

Tôi đã nói với TCS:

“Với chừng đó sự việc đủ cho tôi có thể ký lệnh bắt giữ anh, cho thẩm vấn, thiết lập hồ sơ, không đưa ra tòa, mà trong quyền hạn và chức vụ của tôi, ngoài Chỉ huy Trưởng CSQG, Tổng Thư Ký điều hành Ủy Ban Phượng Hoàng Tỉnh, tôi còn giữ chức vụ là Tổng Thư Ký Hội Đồng An Ninh Tỉnh, tôi có thể đề nghị vì tình hình an ninh, giữ anh hai năm tại Phú Quốc và sau hai năm lại tái xét. Cứ như vậy mỗi đợt 2 năm. Có bao nhiều lần hai năm tại đảo Phú Quốc trong đời người, Anh có chịu nổi không? “

Đó là cây gậy mà tôi dùng làm áp lực với TCS.

Vậy còn củ cà rốt?

Ngoài những giúp đỡ, phe lờ những việc không tiện nói ra, để gia đình TCS có thể kiếm sống, củ cà rốt rất ngọt là một Sự Vụ Lệnh đặt biệt đại khái:

“ Họ và tên…….

Người mang giấy nầy là Viên Chức Đặc Biệt thuộc BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế. Yêu cầu các cơ quan Quân, Dân, Chính giúp đỡ, trong khi thừa hành phận sự.

Huế , ngày….

Chỉ Huy Truởng CSQG TT-Huế

Kiêm Tổng Thư Ký Ủy Ban Phượng Hoàng Tỉnh.

Thiếu Tá Liên Thành. “

Bề mặt và bề trái của tấm giấy này chỉ để bảo vệ cho TCS trốn lính.

Để đổi lại, TCS cung cấp những tin tức địch mà chúng tôi cần. Tỷ như:

Danh tánh tổ chức, cá nhân các cơ sở nội thành VC trong các tổ chức trí vận, dân vận, tôn giáo vận của Thành Ủy VC. Các đường dây các trạm liên lạc nội thành của bọn chúng, kế hoạch hành động của bọn chúng v…v…Tóm lại những gì mà TCS biết được.

Nhưng những gì áp lực, những gì gượng ép, bắt buộc, thường kết quả không như mình mong muốn. Những gì TCS cung cấp cho chúng tôi chỉ là 1/10 những sự việc mà TSC biết được. Có nhiều việc rất quan trọng mà TCS đã tham gia, biết rõ ràng, tường tận, nhưng y vẫn giữ im lặng, không hề báo cáo. Trong khi đó, thì một đường dây nội tuyến khác của chúng tôi đã phúc trình sự việc lại cho chúng tôi. Xin đơn cử một vài trường hợp sau đây:

1-Tại bờ sông Hương thuộc vùng Gia Hội, đoạn đối diện với rạp Ciné Châu Tinh có một bến đò, thường xuyên có một chiếc đò neo tại đó, của một cặp vợ chồng nghèo, bán chè cháo độ nhật trên sông Hương về đêm. Người chồng là cơ sở nội thành của VC, nhưng thật ra lại là người của chúng tôi. Chiếc đò đó chúng tôi đã bỏ tiền ra mua và giao cho cơ sở sử dụng làm trạm liên lạc gặp mặt của cán bộ nội thành VC. Rất nhiều cán bộ, cở sở việt cộng trong tổ chức học sinh, sinh viên giải phóng thành phố Huế đến đó để hội họp, như: Bửu Chỉ, Ngô Kha, Trần Hoài, HoàngThị Thọ, Phạm Thị Xuân Quế… và ngay cả đương sự là TCS cũng đã đến đó hội họp một đôi lần. Nhưng tuyệt đối không bao giờ TCS cho chúng tôi biết trạm liên lạc này.

2-Cũng như vậy, trạm thứ hai là một quán café gần nhà Thượng Nghị Sĩ Trần Điền. Đây cũng là trạm liên lạc hội họp nội thành của bọn chúng. Chính TCS đã đi cùng Ngô Kha đến đây nhiều lần, nhưng đương sự vẫn tuyệt đối không báo cáo lên.

Chúng tôi cũng phát hiện rất nhiều thư từ, tài liệu VC từ nội thành Huế chuyển vào Saigon do TCS giao cho Nguyễn Hữu Đống chuyển đi. Lợi dụng những chuyến bay quân sự của một số bạn bè Không Quân, nên không bị ai soát hỏi.

II- Trịnh Công Sơn: Bên tê?

Những ai đã nghĩ rằng TCS là người Cộng Sản, hoạt động cho Cộng Sản điều đó đúng, đúng 100%. Tôi khẳng định như vậy .

Câu hỏi Trịnh Công Sơn: Bên tê?

Câu trả lời của tôi: Trịnh Công Sơn bên tê. Y hoạt động cho Cộng Sản.

Cán bộ điều khiển và chỉ đạo trực tiếp đương sự là: Lê Khắc Cầm.

Như đã biết trong một buổi họp mặt tại Tuyệt Tình Cốc của Hoàng Phủ Ngọc Tường, vào thời điểm cao trào tranh đấu Miền trung đang lên cao 1965-1966, trước sự hiện diện của Hoàng Phủ Ngọc Tường, HP Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Đinh Cường, nữ văn sĩ Túy Hồng, Trần Vàng Sao, Trần Quang Long, những tay sinh viên tranh đấu gộc và cũng là đám cơ sở của Thành Ủy Huế, Trịnh Công Sơn đã hát một ca khúc mới. Bài này chỉ nói lên nỗi bất hạnh của tuổi trẻ bị cuốn vào cơn bảo của cuộc chiến, nhưng hoàn toàn không nói gì đến nguyên nhân của cuộc chiến, di hại của nó, cũng như cách giải quyết vấn đề, như là nhạc của các nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, Anh Bằng, Phạm Duy vv. Bài hát đó là bài “Vết lăn trầm”:

“Bài ca dao trên cồn cát, trên ngai vàng quê nhà một thời ngủ yên tuổi xanh….rồi một hôm chợt thấy hoang vu quanh mình…”

Đó là bài nhạc phản chiến đầu tiên của Trịnh Công Sơn. Tác phẩm này được thai nghén trong một cái lò cộng sản nằm vùng, theo ý muốn của cộng sản HN, thì dĩ nhiên nó là con đẻ của CS. Trong khi bao nhiêu thanh niên cùng trang lứa với TCS đang cầm súng chiến đấu tất bật, thì TCS không làm gì cả. Chỉ ăn xổi ở thì, đến nỗi chợt thấy hoang vu quanh mình, nên đi làm cộng sản

Sau nầy TCS viết nhạc nói về cuộc chiến theo nhu cầu đấu tranh tại đô thị của đám SV, trí thức, hoạt động nằm vùng. Nhu cầu đó là làm tê liệt tinh thần bất khuất truyền thống của người VN, không muốn chiến đấu, bi quan nhu nhược, ỷ lại cầu an. Nhiệm vụ của TCS là chế ra những loại thuốc độc như thế!

Cũng đã có một vài phúc trình nói rằng, có một vài bài nhạc phản chiến của TCS, nhạc của TCS nhưng lời của Phan Duy Nhân. Phan Duy Nhân là một sinh viên, cán bộ cộng sản. Tôi nhớ không lầm thì y đã bị bắt và giam tại Côn Sơn từ sau Mậu Thân 1968

III- Trịnh Công Sơn: Bên nớ ? Tức cơ quan tình báo ngọai quốc

Tôi không muốn trả lời là YES, hay NO.

Không thể trả lời Yes vì chưa có thể công bố lúc này

Nhưng cũng không thể nói NO vì:

1- Có một số tin tức khá chính xác, cho rằng một số bài nhạc gọi là “Phản Chiến”, TCS đã viết theo đơn đặt hàng của tình báo ngọai quốc. Loại nhạc này được tung ra để tạo thêm chứng cớ là dân Miền Nam VNCH không muốn chiến tranh, muốn đầu hàng CS?. Bối cảnh phản chiến như thế, rất thích hợp và xác đáng cho việc “ Đồng minh tháo chạy”.

2- Như Trịnh Cung đã viết:

“ Ngày 30 tháng 4 thì Sơn ở lại. Tôi nhớ buổi chiều đó Đỗ Ngọc Yến đến đón Sơn với một nhà báo Mỹ, đề nghị Sơn là đã có máy bay đưa gia đình Sơn đi Hoa Kỳ”.

Đỗ Ngọc Yến là ai?

Ông Đỗ Ngọc Yến là nhân viên tình báo xuất sắc của chính phủ VNCH. Nhiệm sở phục vụ là Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình báo.

Tình báo ngoại quốc đã phát hiện được những hoạt động của ông Đỗ Ngọc Yến trong sinh viên hoặc báo chí tại Sài Gòn, như là một cán bộ nội thành VC. Họ đã không biết rằng Đỗ Ngọc Yến là nhân viên của phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo VNCH, được gài vào nằm vùng trong tổ chức địch, nên đã móc nối ông Đỗ Ngọc Yến. Là một người trung thành với đất nước, ông Yến trình sự việc nầy lên thượng cấp để xin chỉ thị. Ông đã được Phủ Đặc Ủy Trung Ương chấp thuận để ông làm việc cho tình báo ngoại quốc.

Tôi bạch hóa trường hợp của ông ĐNY, bởi lẽ, chính thể VNCH không còn, và ông ĐNY cũng đã yên nghĩ. Nhưng ông còn để lại một nỗi oan sai trên cõi đời phiền muộn này. Và những điều tôi nói ra không còn vi phạm an ninh cá nhân của ông nữa, cho nên tôi phải nói. Mục đích của tôi là chỉ muốn minh oan, hay đúng hơn là trả lại danh dự cho một nhà báo tài ba, yêu nước. Khi tấm hình ông Yến ngồi chung với tên Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng Chính Phủ Cộng Sản Việt Nam được tung ra, thì dư luận liền cho ông Yến là Cộng Sản. Mục đích của việc làm này chắc ai cũng hiểu.

Tấm hình đó, hơi giống truờng hợp tấm hình của nhiếp ảnh gia Mỹ Adam chụp Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn tên đặc công Cộng Sản Bảy Lốp, trong Mậu Thân 1968 tại Sàigon. Tấm hình đó chỉ có thể nói lên được một nửa những gì mà Adam muốn nói. Còn một nửa kia thì cần phải phân tích thật kỹ càng, rồi hãy kết luận về Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, cũng chưa muộn .

Cũng vậy, Đỗ Ngọc Yến ngồi chung với Nguyễn Tấn Dũng có thể vì nghiệp dĩ tình báo và mối dây vương vấn của ông ta chưa dứt. Bởi vì ngày xưa ông đã phải vì nhiệm vụ, tuân lệnh thượng cấp, là Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo VNCH, họat động cho tình báo ngọai quốc. Và con tằm lại phải tiếp tục nhả tơ. Đó cũng là chuyện bình thường của một người làm tình báo chuyên nghiệp như ông mà thôi. Còn trái tim ông vẫn để lại VNCH

Xin trả lại công bằng, công lý và danh dự cho ông Đỗ Ngọc Yến, một chiến sĩ tình báo xuất sắc của Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo VNCH

Vậy thì, chuyện Đỗ Ngọc Yến đi cùng nhà báo Mỹ đến, đề nghị đón Sơn và gia đình đi Mỹ vào ngày 30/4/1975 theo lệnh của ai?

- Phủ Đặc Ủy Trung uơng tình báo VNCH? Điều này không có

- Tình báo Việt Cộng?

- Tình báo Ngoại Quốc?

Chắc quí vị đã biết câu trả lời, là ai đã phái Đỗ Ngọc Yến và nhà báo Mỹ đến đưa TCS và gia đinh đi Mỹ, không cần tôi phải nói ra.

Những phân tích của CSQG Thừa Thiên Huế và suy nghĩ, ý kiến của tôi về Trịnh Công Sơn

Là một cán bộ điều khiển TCS trong chiến dịch xâm nhập vào hàng ngũ các tổ chức Cộng Sản tại Huế, trong một thời gian khá dài, BCH CSQG Thừa Thiên-Huế và tôi có những nhận xét sau đây.

1- Mặc dầu hợp tác với cơ quan tình báo quốc gia nhưng trái tim của TCS đã dành cho cộng sản.

2-Những xáo trộn chính trị, những cuộc biểu tình, đình công bãi thị, những ngày tuyệt thực, những đêm không ngủ, những màn văn nghệ đấu tranh phản chiến, đòi hòa bình (như đòi kẹo? nghe thật là dễ! thật là ngây thơ!), đòi người Mỹ rút quân, của đám trí vận nội thành, diễn ra triền miên tại Đại Học Huế, trên khắp ngỏ đường của cố đô. Công khai , hoặc bí mật, TCS đều góp tay vào.

3- Nỗi sợ lớn nhất trong đời TCS là sợ đi lính. Vì thế, bằng mọi giá, chấp nhận mọi điều kiện, để y được bao che trốn lính. Ngoài ra, để chắc ăn, TCS còn quyết tâm ve vãn các giới chức cao cấp của chính quyền VNCH thích nhạc của y, để cho y dễ dàng trốn lính. TCS đã trở thành con người hèn hạ thiếu tư cách

Trịnh Cung nói:

“TCS sai lầm với người Cộng Sản như sau:

Không ở trong đường dây của một tổ chức và chịu sự lãnh đạo của một tổ chức đó.”

Phát biểu của Trịnh Cung hoàn toàn dựa trên cảm tính, không dựa trên sự kiện. Phát biểu này hoàn toàn sai sự thật.

Ông Trịnh Cung, theo ghi nhận của CSQG, đã đổi tên từ Nguyễn Văn Liễu ra thành Trịnh Cung, không chỉ bởi tình bạn với TCS, mà còn bởi quan hệ tình cảm với cô em gái TCS là Trịnh Vĩnh Thúy. Có thể vì mối ràng buộc tình cảm nhiều mặt đã che mờ sự sáng suốt, nên Trịnh Cung đã không biết rằng ông anh rể hụt đang hoạt động cho cộng sản.

Tôi xin xác định: Trịnh Công Sơn nằm trong tổ chức trí vận của cơ quan Thành Ủy Việt Cộng Huế hẳn hoi. Và cán bộ lãnh đạo chỉ huy TCS là Lê Khắc Cầm

TCS đã nằm trong tổ chức nằm vùng tại Huế. Từng nhúng tay phối hợp giải thoát Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, theo chỉ thị của B5 và Thành Ủy. Sau này, những tên đại ác đó trở thành đao phủ thủ Tết Mậu Thân. TCS nghĩ gì khi viết và hát: “Chiều đi qua bãi dâu, hát trên những xác người, tôi đã thấy, những hố hầm, đã chôn vùi thân xác anh em…”

Xin hỏi vong hồn TCS, ai chôn xác anh em? Ai đã đập đầu anh em? Và ai đã giúp giải cứu những đại đồ tể này, để trở về giết dân lành Huế? TCS có trách nhiệm trong chuyện này hay không? Xin hỏi vong hồn ông?

Biết rất rõ ai gây ra chuyện thảm sát rùng rợn tại quê hương của chính mình, nhưng TCS sau đó vẫn tiếp tục hoạt động nằm vùng. TCS còn có trái tim không? Có tình nguời không? Rồi TCS vẫn viết nhạc phản chiến, mục đích phản đối chiến tranh một chiều. Có nghĩa là TCS chỉ phản đối cuộc chiến đấu của người đang phải tự vệ. Còn thì TCS ủng hộ và tiếp tay cho sự xâm lăng bằng vũ khí của CS đối với người dân Miền Nam. Như vậy, thử hỏi TCS có lương thiện không? Những lời lẽ mang tính triết lý về thân phận con người, trong nhạc TCS có thật sự từ trái tim anh ta? Nó có chút tình người nào không? Hay chỉ là những giai điệu vay mượn dối trá, phục vụ cho ác quỷ?

Trịnh Công Sơn phối hợp thường xuyên với lực lượng Sinh Viên Giải Phóng Thành Phố Huế của Trường Đại Học Huế, nhằm thi hành công tác dân vận, trí vận, qua những hội thảo, ca nhạc phản chiến. Tên tuổi đám CS nằm vùng có liên hệ chặt chẽ với y tôi đã viết ở phần trên.

Theo Trịnh Cung, Trịnh Công Sơn:

“Không dám thoát ly theo MTGPMN”. Điều này hoàn toàn không đúng, bởi lẽ:

Vai trò và trách nhiện của TCS rất quan trọng trong việc gây suy sụp tinh thần yêu nước của nhiều tầng lớp thanh niên Miền Nam Việt Nam. Qua những bản nhạc phản chiến, TCS đã tạo được một tình trạng tâm lý ươn hèn chủ bại cho một số người Miền Nam. Một số khác phản ứng chống chính quyền, gây bất lợi về mặt chính trị cho quốc gia. Như vậy, TCS đã và đang thực hiện được sứ mạng mà CS rất cần thời bấy giờ

Nếu TCS thoát ly, thì nhạc TCS sẽ bị chính quyền cấm. Và như thế thì làm sao có những buổi hội thảo chống chiến tranh? Làm sao TCS có thể đích thân tham dự, phổ biến nhạc phản chiến? Làm sao trở thành thần tượng, lôi cuốn đông đảo giới trẻ tham dự tại các trường Đại Học Huế, Saigòn, Đà Lạt?

Về phương diện nầy, ta thấy ngay, MTGP đã khôn ngoan để TCS ở lại hậu phương địch, có lợi nhiều hơn là rút TCS ra mật khu.

Hơn nữa nếu TCS thoát ly ra mật khu, thì không phải tự ý y quyết định được, mà do Thành Ủy Huế. Y không gặp nguy hiểm như Tường và Phan, thì tại sao phải điều y ra mật khu? Trong khi nhu cầu hiện diện của y tại các đô thị, để hổ trợ cho các tầng lớp quần chúng đấu tranh, rõ ràng có lợi cho MTGP nhiều hơn.

Có một vài sự việc liên quan đến TCS tôi vẫn thuờng nghe trên một số báo chí, diễn đàn tranh cãi bàn luận:

1- Trịnh Cung và một vài người đã nói trong Mậu Thân 1968 Trịnh Công Sơn bị cộng sản giết hụt.

Ai giết hụt TCS? Hoàng Phủ Ngọc Tường? Hoàng Phủ Ngọc Phan? Nguyễn Đắc Xuân?

Ba tên ác quỷ này khi đó đang ở cánh Bắc của trận đánh Huế. Tức vùng chiến trận Quận I và Quận II. Cả ba đang say sưa lấy máu tươi, giết đồng bào vô tội, làm gì có thì giờ để mà sang quận III, nơi TCS trú ngụ? Mà nếu có qua được Quận III chăng nữa, thì cũng chỉ để ôm nhau vui mừng, cùng hát bài: “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Vì TCS với bọn này “vừa là đồng chí, vừa là anh em mà”

Tôi khi đó là Phó Trưởng Ty CSĐB, và là Quận Trưởng quận III, vùng TCS trú ngụ. Vì vậy tôi biết rõ chuyện nầy lắm, xin đừng bịa đặt.

2-Ngày 30/4/1975 TCS cùng gia đình đã vào phi trường Tân Sơn Nhất để đi cùng Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, nhưng TCS và gia đình đã bị ông Kỳ bỏ rơi. Lại một chuyện bịa đặt nữa.

Ngày 28 tháng 4/ 1975 tôi gặp TCS tại một địa điểm đã hẹn trước, tại thành phố Saigon. Tôi nói với TCS:

- “Tôi là người sẽ đưa anh đi. Đã có phương tiện cho anh và gia đình. Mỗi người chỉ mang một xách tay nhỏ mà thôi”.

TCS đã trả lời tôi:

- “Cám ơn Liên Thành, nhưng mình quyết định ở lại. Người cần đi là Liên Thành, nên đi gấp đi”.

Tôi chia tay TCS khoảng 11 giờ trưa ngày 28 tháng 4 năm 1975.

Sáng 30 tháng 4 năm 1975 khi tôi đang ở trên tàu ngoài vùng biển Vũng Tàu, thì TCS hát bài “Nối Vòng Tay Lớn” trên đài phát thanh Saigòn. TCS đón những người anh em đồng chí của TCS vào thành phố, để nối vòng tay lớn của quỷ, của lạc hậu, nghèo đói, cơ cực. Người chở TCS đến đài phát thanh Saigon sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngoài Nguyễn Hữu Đống còn có Nguyễn Hữu Thái. Nguyễn Hữu Thái là tên đặc công thuộc Thành Ủy Saigòn, thủ phạm tung lựu đạn giết chết Giáo sư Nguyễn Văn Bông Viện Trưởng Học Viện Quốc Gia Hành chánh

Cuộc chiến đã chấm dứt hơn 34 năm qua, nhưng vòng tay của quỷ mà TCS đã mơ uớc để “Nối Vòng Tay Lớn” vẫn còn siết chặt vận mệnh dân tộc. Hẳn TCS dưới suối vàng vẫn còn vui lắm, vì có nhiều người vẫn còn ngưỡng mộ bài hát “Nối Vòng Tay Lớn” này!

Cái phi lý của hồi kết thúc của cuộc chiến này, mà một người thuộc thế hệ một rưỡi như Bác sĩ Châu An Huy Thành, trong một bài viết, đã phải ngậm ngùi:

“ Kể từ ngày 30/4/1975 đến nay, trong tâm khảm của tất cả người Việt Nam đều không nguôi câu hỏi: Tại sao Miền Nam VNCH lại thua? Tại sao cái đúng lại thua cái sai? Tại sao cái ác lại thắng cái thiện? Câu hỏi này không những đối với người Việt ở Miền Nam VNCH mà còn là câu hỏi cho cả thế hệ thanh niên lớn lên sau cuộc chiến tranh trong cả nuớc. Và mãi mãi sẽ là câu hỏi đau thuơng cho lịch sử việt Nam muôn đời sau”.

Tôi đã phải cúi mặt khi đọc câu hỏi này

Phải, đúng, thế hệ của chúng tôi đã có lỗi với quê hương, với đồng bào. Chúng tôi đã để cho “Cái đúng thua cái sai. Cái ác thắng cái thiện”.

Thế nhưng chúng tôi đã thua vì không còn súng đạn, để chống lại súng đạn của toàn bộ lực luợng CS quốc tế. Chúng tôi có lỗi, nhưng chúng tôi cũng đã tận lực.

Ai đã gây ra chuyện không còn súng đạn này? Truy nguyên câu hỏi, chúng ta phải nhận thấy rằng, cái đau của Miền Nam VNCH là đã có những kẻ thờ ma CS, nối giáo cho giặc. Đã giúp tạo ra những biến động chính trị tại Sài Gòn và tại Miền Trung. Lửa của những cuộc xuống đường, tự thiêu, đấu tranh bạo động, đã là nguyên nhân cho phong trào phản chiến quốc tế và tại Mỹ. Cuối cùng, một số kẻ phản chiến tại Mỹ trở thành những vị dân cữ, nghị sĩ.. thẳng tay cắt viện trợ cho Miền Nam, một xu cũng chẳng! CS đã đi bộ vào Miền Nam, ngồi xổm lên ngôi vị thống trị, gây bao tàn hại cho đất nước, bán đứng tiền đồ non sông cho Bắc Kinh.

Trong suốt chiều dài cuộc chiến, Quân Lực VNCH, lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia, đã chế ngự được cái sai, họ đã bóp nát được cái ác. Họ đã bảo vệ được bờ cõi, bảo vệ được sinh mạng và tài sản của đồng bào. Thế nhưng, bên cạnh đó, là những kẻ lãnh đạo quân sự cũng như hành chánh, các vị gọi là “ chính trị gia” đã ươn hèn xu nịnh, đã bợ đỡ những thế lực tôn giáo đen tối để được vinh thân. Họ nhắm mắt làm ngơ, mặc dầu biết rõ rằng, những kẻ lãnh đạo tôn giáo mà họ đang dựa vào, là những tên Việt Cộng nằm vùng. Như Trí Quang, Thiện Siêu, Đôn Hậu, Chánh Trực, Như Ý v..v… họ không dám cuỡng, dám chống lại bọn chúng. Vì chống lại, họ sẽ mất hết danh vong tiền tài chức tước. Họ thuần phục Trí Quang, Đôn Hậu, Thiện Siêu, Chánh Trực như thuần phục thần linh.

Ngoài những tên Cộng Sản đội lốt tu hành mà tôi vừa kể trên, còn có một đám trí thức khoa bảng, sinh viên, đã được ông bà cha mẹ của bọn chúng dùng tiền bạc, dùng lúa gạo, dùng thực phẩm, dùng tinh hoa lễ nghĩa, đạo đức của miền nam nuôi nấng dạy dỗ, đào tạo chúng nên người, để rồi, một sớm một chiều, chúng quay lại phản bội ông bà, cha mẹ, anh em, bạn bè, đi theo Cộng Sản. Chúng đem AK về thành phố bắn phá, sát hại đồng bào. Bọn này là ai? Bọn chúng là đám VC nằm vùng, là đám thành phần thứ ba, là đám giáo sư và sinh viên tại Huế mà tôi đã nêu tên họ nhiều lần ở phần trên. Và tôi sẽ lập đi lập lại những cái tên này cho đến mãn đời tôi. Điển hình là: Lê Văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tuờng, Ngô Kha, Trịnh Công Sơn, Nguyễn Đắc Xuân, Phan Duy Nhân, Phạm Thị Xuân Quế. Và quá nhiều....

Từ sau 1963 đến 1972 đám VC đội lốt tu hành phối hợp với đám trí thức, SV cơ sở nội thành VC, đã phá nát miền Nam, đặt biệt là Huế. Hậu quả của những vụ tranh đấu của Trí Quang 1966, vụ tàn sát đồng bào Huế trong Mậu Thân 1968, vụ mưu toan tổng nỗi dậy tại Huế vào 5/1972 để chiếm Huế làm thủ đô cho MTGPMN, trước khi ký hòa đàm Paris 1973, tất cả chính là con đường dẫn tới hậu quả đau thương của ngày 30/4/1975.

Sau 30/4/1975, TCS đã không đuợc sử dụng. Tình trạng này là chung cho tất cả nhóm chính trị thuộc cái gọi là MTGPMN, chứ không riêng gì TCS. Cũng may cho TCS, sau này gặp bà Phan Lương Cầm, vợ thứ hai của Võ Văn Kiệt. Bà Phan Luơng Cầm là con nuôi của thiếu úy Phan Tử Lăng trong quân đội L H Pháp tại Huế. Sau này Phan Tử Lăng trở thành đại tá trong quân đội Nhân Dân của Võ Nguyên Giáp. Bà Cầm say mê nhạc Trịnh Công Sơn, và nhờ đó, Trịnh Công Sơn được Sáu Dân, tức Võ Văn Kiệt cứu vớt. Đời TCS bắt đầu sang một trang mới. Cất cánh giàu sang phú quí, quay lại hất hủi đám Trịnh Cung, Nguyễn Hữu Đống và đám bạn bè tranh đấu cũ tại Huế, mà đã một thời tận sức, tận lòng giúp đỡ TCS và gia đình y.

Giấc mộng cuối đời của TCS là mong muốn trở thành đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đúng như Trịnh Cung đã viết trong bài “TCS và tham vọng chính trị”. Khi giấc mộng vàng này bị Hoàng Hiệp, chính trị viên của Hội Âm Nhạc Thành Phố HCM, và cũng là cán bộ trách nhiệm quản lý TCS ngăn chận, bóp nát, thì TCS tức giận, phản ứng bắng những lời lẽ tục tĩu mà tôi không dám lập lại. Nhưng tôi không hề ngạc nhiên là TCS đã nói như vậy. Xin đọc bài của TC để biết TCS đã nói gì với Hoàng Hiệp


Liên Thành;
(Nguyên Trưởng Ban An Ninh Tình Báo Thừa Thiên-Huế)

(còn tiếp)

Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng (Bài viết của Liên Thành) (2)



TCS muốn trở thành đảng viên CS chẳng phải vì lý tưởng hoặc thiết tha gì với đảng CS Việt Nam lúc đó nữa, mà vì quyền lợi của một đảng viên được hưởng khi còn sống và ngay cả khi đã chết.

Những ngày bệnh họan, gần kề cái chết, mong ước của TCS là được an nghỉ trong nghĩa trang dành cho những đảng viên cộng sản.

Ngày 1/4/2001 TCS trút hơi thở cuối cùng. Gia đình TCS và nhất là Trịnh Xuân Tịnh, người em trai thứ hai của TCS đã vất vả chạy chọt, để cho TCS đuợc an nghỉ tại nghĩa trang dành cho đảng viên CS trong thành phố Sài Gòn, nhưng đã thất bại.

TCS bị chôn tại nghĩa trang Gò Dầu Hạ. Đó là nghĩa trang bình thuờng, không như uớc muốn. Nơi an nghỉ của những người mà bọn cộng Sản thường gọi là Ngụy Quân , Ngụy Quyền, Ngụy dân của chính quyền cũ.

Ba mươi bốn năm đã trôi qua, nhiều tranh luận về “thiên tài” TCS, hắn là ai? là Quốc gia hay Cộng sản?

Là người, vì lý do nghề nghiệp, cùng thế hệ, tuổi đời suýt soát nhau, TCS là bạn của anh tôi, thành phố Huế lại nhỏ, nên tôi biết rất rõ và sâu về TCS. Nhưng tôi vẫn im lặng. Không phải vì sợ khi phải đụng đến “Thiên tài” Trịnh Công Sơn của một số không nhỏ những người đã và đang hết lòng xuýt xoa ngưỡng mộ, mà thật tình vì trong lòng xem thường TCS.

Bất hạnh thay quê hương xứ Huế và đất nước Việt Nam lại có “thiên tài” kiểu này. Đã từ lâu rồi, ít khi tôi muốn nhắc đến tên TCS. Rất nhiều người hỏi tôi về TCS, vì họ biết là tôi biết tận kẻ răng chân tóc toàn bộ nhóm nằm vùng Huế. Họ muốn tôi xác nhận TCS là ai? Có hoạt động CS không? Tôi chỉ cười mà không nói. Thật ra thì cũng có phần muốn chờ xem có ai đó ngoài tôi ra, nói lên điều này. Bởi vì tôi tin rằng, tôi không phải là nguời duy nhất biết con người thật của TCS

Nhưng sau hai bài viết của Trịnh Cung, và anh Bằng Phong Đặng Văn Âu, gây tranh luận giữa hai phe chống và bênh TCS, tôi quyết định nói ra toàn bộ sự thật. Vì bản thân hai bài viết cũng như rất nhiều ý kiến về TCS đều thiếu sót, mù mờ. Cũng dễ hiểu, vì cả hai tác giả trên có lẽ đều không biết nhiều, biết sâu về TCS, thì làm sao độc giả có thể tìm cho mình một thái độ, một lý do nào đó để tiếp tục, hoặc yêu, hoặc hận. Vì thế tôi đã phải nói ra những gì mà tôi biết, rồi quý vị và lịch sử tùy nghi suy nghĩ. Yêu vẫn cứ yêu, ghét vẫn cứ ghét. Không sao cả!.

Hay là quý vị có thể bình tĩnh hơn, để đánh giá và chọn cho mình một thay đổi tình cảm nào đó?

Đương nhiên, những gì tôi vừa trình bày trên sẽ gây sóng gió đụng chạm. Con người bình thường ai cũng muốn sóng yên biển lặng, tôi cũng không khác. Nhưng vì là người mang bản chất đương đầu, thấy việc sai trái khó thể làm ngơ, thì giữa sự thật và sóng gió, tôi chọn sự thật.

Tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm những gì tôi nói về TCS . Tôi sẵn sàng tranh luận với bất kỳ cá nhân nào, tổ chức nào muốn cùng tôi tranh luận về TCS ở bất cứ nơi nào, ngày giờ nào, trên các diễn đàn công luận. Nhưng tôi sẽ không tranh luận với bất cứ ai chỉ dùng bút danh, bút hiệu mà không có tên tuổi lý lịch thật, cũng như những ai không có những quan hệ ràng buộc tuơng đối với TCS, để có thể đưa ra những thông tin khả tín. Bởi vì nếu như thế, thì tôi xin trả lời như thế này: Tục ngữ VN mình có câu: “ Nói chuyện với cái đầu gối còn sướng hơn”.

Có một điều làm tôi áy náy. Đó là khi nghĩ đến người bạn, người đồng đội cũ, một người rất dễ thương, đại úy Trịnh Công Hà. Xin cho tôi gởi một lời xin lỗi độc nhất đến người bạn thân này

“Xin lỗi Trịnh Công Hà. Tôi không còn cách nào khác, tôi phải nói ra sự thật. Mất miền Nam VNCH là trách nhiệm của chúng ta. Tôi và bạn cùng chung lý tưởng và chiến tuyến. Nhưng bất hạnh thay, anh của bạn thì không. Anh của bạn đã nối giáo cho giặc, rồi thì giặc bán đứng giang sơn!. Tôi có còn chọn lựa nào không?, Trịnh Công Hà! Xin lỗi bạn".

Và có ai đó đặt câu hỏi cho tôi là sao không viết khi TCS còn sống? Sao không để TCS yên nghỉ. Thưa quý vị, tôi khó có thể viết khi TCS còn sống là bởi TCS có nhiều khả năng vẫn còn đang hoạt động cho tình báo ngoại quốc, có nhiều điều không thể bạch hóa. Còn câu hỏi sao không để TCS an nghỉ? Thưa quý vị, những tội lỗi với đất nuớc và dân tộc như thế, có chết ngàn năm cũng phải lôi ra….

Và lời cuối của tôi cho bài viết này, và cho TCS, đó là những nhận xét của Tố Hữu về những nhân vật nổi tiếng của miền nam, trong đó có TCS. Tố Hữu đã nhận xét về TCS như sau:

“TCS là thành phần không đáng tin cậy. Lý lịch xấu. Cha và nhiều người trong gia đình thời trước đã tham gia quân đội Pháp, làm phòng nhì của quân đội Pháp tại Huế. Thằng này sống ngã theo chiều gió”.

“TCS đã bị Trần Hoàn trù yểm thì cũng chẳng có gì lạ”.

Tôi không biết khi còn sống, Trịnh Công Sơn có biết Cộng Sản đã nhìn TCS như vậy không? Chẳng lẽ tôi còn biết mà TCS lại không biết? Phủ phàng và nhục nhã quá! Thật uổng công nô bộc tận tụy với chính quyền Cách Mạng.

Tủi nhục thay cho bất cứ ai mãi tìm danh vọng trong địa ngục, như đám nằm vùng Trịnh Công Sơn.

Liên Thành;
(Nguyên Trưởng Ban An Ninh Tình Báo Thừa Thiên-Huế).