Psychologi

Subscribe to RSS feed

The Homecoming " Tặng Chuột Núi "

Luôn cố gắng, làm việc tốt, học tốt, lo cho mẹ và các em.

http://www.mediafire.com/?lzinwzmgzhz



It's the way of a cosmic sailor, in a boat in the night,
But the wolves are not scaring him, he is alright.
Just the day, just the day away, I can feel it sometimes,
But the wolves are not scaring me, I long for twilight.

Then with the morning comes
The sun that finds them all,
So divides the night and they die.
And with the morning sun
A lonely teardrop falls down from my eye... and I die.

But where, where did all the cosmic sailors come from
Far away, from across the sea ?
And where, where have all the cosmic sailors now gone ?
And the night that showed them all to me ?

On the waves of this silver ocean, for a while there he smiles...
As he sails with the other ones, the wind dies.
So a cry, so a cry is calling all the wolves among the night

As I sail with the other ones I find them alright.

Then with the morning comes
The sun that finds them all,
So divides the night and they die.
And with the morning sun
A lonely teardrop falls down from my eye... and I die.

And I die... (then with the morning comes)
Then with the morning comes
The sun that finds them all,
So divides the night and they die. (and with the morning sun)
And with the morning sun
A lonely teardrop falls down from my eye... and I die.

... And I... die...

...Đến từ hôm qua

Và rồi ta hứa sẽ quay trở lại
vào một ngày mai như hai người bạn
Một ngày đã quên tấc cả lại nhớ về nhau
cùng năm tháng còn ấu thơ

Và ngày hôm nay anh như đứa trẻ
của ngày hôm qua xa xôi tìm về
lời thề tựa như ánh lửa sưởi ấm lòng anh
như chính em, cô gái đến từ hôm qua!

Tình yêu dù trôi xa dư âm ở lại
Và nếu thuộc về nhau em sẽ trở lại
Và anh được thấy hoa rơi giữa cơn mưa
Tươi thắm những con đường

Dường như là như thế em không trở lại
Mãi mãi là như thế anh không trẻ lại
Dòng thời gian trôi như ánh sao băng
Trong khoảng khắt giữa chúng ta

Nhiều năm xa hạnh phúc anh muốn bên em
Cuộc đời này dù ngắn nỗi nhớ quá dài
Và cũng đã đủ lớn để mong trẻ lại
Như ngày hôm qua...

Decode document CIA

MỸ VỚI Ý ĐỊNH NÉM BOM NGUYÊN TỬ VIỆT NAM VÀ LÀO

Theo tài liệu mới được giải mật, Không lực Hoa Kỳ từng muốn sử dụng vũ khí hạt nhân để tấn công Việt Nam vào năm 1959, 1968 và Lào năm 1961.

Năm 1959, tham mưu trưởng Không lực Hoa Kỳ, tướng Thomas D White đã chọn nhiều mục tiêu ở miền bắc Việt Nam, nhưng đã bị các tướng lĩnh quân sự khác ngăn chặn khi ông yêu cầu tấn công bằng vũ khí hạt nhân....
“Tướng White muốn loại bỏ lực lượng du kích và các con đường tiếp tế của họ bằng việc tấn công những mục tiêu đã được lựa chọn ở miền bắc Việt Nam, hoặc bằng vũ khí thông thường hoặc bằng vũ khí hạt nhân”, một bản tài liệu của Không lực Mỹ mới được giải mật cho biết.

“Mặc dù tướng White kêu gọi đưa ra cảnh báo trước cho người dân miền bắc Việt Nam, nhưng các tướng lĩnh quân sự khác đã phản đối kế hoạch, có thể là do kế hoạch bao gồm cả vũ khí hạt nhân. 7 tháng sau, đề xuất bị rút lại”, bản tài liệu cho biết.

Những thông tin trên nằm trong bản tài liệu dài 400 trang, có tiêu đề “The United States Air Force in Southeast Asia: The War in Northern Laos 1954-1973” (Tạm dịch là: Không lực Hoa Kỳ tại Đông Nam Á: Cuộc chiến ở miền bắc Lào 1954-1973) được Trung tâm lịch sử không quân ở Washington và “nhiều nguồn tin khác” viết vào năm 1993.

Bản tài liệu, cùng với nhiều tài liệu mật từ thời chiến tranh khác của Không lực Hoa Kỳ, đã được Cơ quan lưu trữ an ninh quốc gia tại Washington giải mật vào ngày 9/4 vừa qua. Nó được công bố theo luật tự do thông tin của Mỹ. Cơ quan lưu trữ an ninh quốc gia là một viện nghiên cứu độc lập, phi chính phủ của Đại học George Washington.

Tướng White “đã yêu cầu bộ tham mưu liên quân bật đèn xanh gửi một phi đội máy bay ném bom chiến lược B-47 tới Căn cứ không quân Clark ở Philippines” để chuẩn bị cho cuộc tấn công vào Việt Nam. Cũng theo tài liệu được giải mật yêu cầu mở kho vũ khí hạt nhân của tướng White có thể là do bị tác động bởi một bản tài liệu nghiên cứu của Không lực Mỹ, bản tài liệu có tên: “Vũ khí hạt nhân trong các cuộc chiến giới hạn ở Đông Nam Á”.

Bản tài liệu “tập trung nghiên cứu việc sử dụng vũ khí hạt nhân để “kiểm soát tình hình” ở vùng rừng rậm, các con đường tiếp tế trong thung lũng, những vùng núi đá vôi và các hẻm núi để chặn đứng hoạt động của kẻ thù và triệt tiêu nơi ẩn nấp”. Đó là những thông tin được ghi chú trong bản tài liệu mới được giải mật, nhằm nói rõ chiến lược của tướng White.

Cũng theo bản tài liệu, một năm sau, trong khoảng thời gian từ 12/1960-1/1961, máy bay Liên Xô đã chở “lương thực, nhiên liệu và vũ khí” cung cấp cho các lực lượng thân Mátxcơva ở Lào thông qua Hà Nội. Vào tháng 3/1961, Bộ tham mưu Mỹ “đã đối phó bằng kế hoạch triển khai tới 60.000 quân, sẵn sàng cho các cuộc không kích và các cuộc tấn công bằng vũ khí hạt nhân”.

Ngoài ra, năm 1968, ngay trước cuộc tấn công Tết Mậu Thân, quân đội Việt Nam đã tấn công lực lượng Mỹ ở miền trung. Cũng để ứng phó, tướng William Westmoreland, chỉ huy lực lượng Mỹ ở Việt Nam, đã nghĩ tới chiếc nút hạt nhân.

Một bản tài liệu dài 106 trang mới được giải mật khác cho biết, “cuối tháng giêng, tướng Westmoreland đã cảnh báo nếu tình hình gần khu phi quân sự (ranh giới chia cắt miền bắc và miền nam Việt Nam khi đó) và Khe Sanh xấu thêm, có thể sẽ phải dùng đến vũ khí hạt nhân hoặc vũ khí hóa học”. Bản tài liệu tối mật này có tiêu đề: “Không lực Mỹ tại Đông Nam Á: Tiến tới một đợt ngừng ném bom, 1968” (The Air Force in Southeast Asia: Toward a Bombing Halt, 1968) do Phòng lịch sử không quân Mỹ viết năm 1970.

Trong suốt cuộc chiến sai lầm của Mỹ tại Việt Nam, Mỹ đã thả rất nhiều bom, cùng với napalm xuống Việt Nam, Lào và Campuchia. Mặc dù đã lên kế hoạch ba lần nhưng ý tưởng ném bom hạt nhân cuối cùng đã bị rút lại.
Theo Asia Times

============================================================


" Hồng Y Spellman và Giáo Hoàng Pius XII vận động chính quyền Mỹ bỏ bom nguyên tử lên đầu quân Việt Minh năm 1954. Trái bom nguyên tử dự định dùng có sức công phá bằng 3 lần trái bomb ở Hiroshima." http://www.mosquitonet.com/%7Eprewett/vietwhygo.html

The Pius-Spellman-Dulles Secret Scheme

Theo đạo có gạo mà ăn
Có tiền tiêu vặt, có đằng thăng quan
Mưu Pius - Dulles - Spellman
Diệm là con tốt mở mang nước Trời
----------------------------------------
Những mục tiêu tối thượng của chiến dịch, ngoài những cái đã được miêu tả, là:

1. Tạo ra một cộng đồng Công Giáo đồng nhất mà dựa vào đó Diệm và Mỹ có thể tin cậy để tiến hành cuộc chiến tranh chống lại miền Bắc, và chống lại những đơn vị du kích miền Nam.

2. Dựng lên một quốc gia do Công Giáo điều khiển, mà từ đó Vatican có thể điều khiển hoạt động của những chi nhánh tôn giáo ở Châu Á.

Mỹ, đồng minh chính của Vatican, ủng hộ cả hai mục tiêu trên đến mức nước này xem chúng là những công cụ cần thiết mà qua đó nó có thể thực hiện chiến lược chính của mình. Vào giai đoạn này, điều cần phải làm là: gấp rút chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam, bình định trong tương lai và ổn định cả khu vực sau đó.

Trong khi đối với Vatican, những mục tiêu này, trong khía cạnh chính trị và quân sự, thì đáng được ủng hộ, nhưng đằng sau và xa hơn nữa, Vatican còn có một ý đồ quan trọng hơn nhiều so với cả hai, có thể bao quát trong chính sách tôn giáo toàn cầu dài hạn. Kế hoạch này có thể tóm tắt trong việc xếp đặt một quốc gia Công Giáo kiểu mẫu ngay trung tâm Đông Nam Á. Sự hình thành của nó đòi hỏi một chính quyền hoàn toàn Công Giáo, được phát xuất từ một hạt nhân của người Công Giáo, mà 100% tin cậy được, về tinh thần tôn giáo cũng như ý thức hệ, bỏ qua thực tế là họ phải cai trị một đại đa số người theo Phật Giáo. Để đạt được mục tiêu này, việc cần thiết trước hết là phải trung hòa những đối tượng có thể là trở ngại của kế hoạch này; sau đó là trừ khử những người công khai chống đối; và cuối cùng là loại bỏ bất cứ ai hay bất cứ cái gì không chịu chấp nhận việc Công Giáo Hóa miến Nam.

Kế hoạch này là con đẻ của Giáo Hoàng Pius XII, và đã được ủng hộ bởi Hồng Y Spellman, được tiếp tay bởi John Foster Dulles. Nó đã được chấp thuận bởi những quan chức nhỏ trong đám thân cận của những người vận động hành lang Công Giáo ở Washington, không kể đến một số thành phần nhất định trong CIA, mà nhiều người trong số họ không phải là người Công Giáo. Nó cũng được chấp nhận bởi một số nhà chiến lược chính trị ở Lầu Năm Góc, mà quan tâm chímh của họ là, chỉ cần kế hoạch đó phục vụ những mục tiêu chiến lược của người Mỹ, thì muốn làm gì cũng được cả.

Chiến dịch tái định cư được tiến hành trong sốt sắng. Những cơ quan đủ loại được lập nên cho mục đích đó. Chính phủ Diệm lập thêm chúng mỗi ngày. Những cơ quan làm việc có hiệu quả cao và kết quả tốt nhất là những cơ quan được lo liệu bởi Mỹ, hay đúng hơn là bởi tiền thuế của người Mỹ, mà đa số là người Tin Lành. Tiền của Mỹ đổ vào ngay lập tức. 40 triệu đô-la để tái định cư người Công Giáo. Điều này có nghĩa là mỗi người Công Giáo rời Bắc Việt vào Nam, đã được đài thọ 89 đô-la bởi người Tin Lành Mỹ để tăng cường sức mạnh cho chính quyền Diệm. Ở đây, phải nhớ rằng, thu nhập trung bình của một người Phật Giáo ở nước này chỉ có 85 đô-la một năm.





jpg




Hồng Y Spellman, một trong những người có khả năng nhất trong các hồng y Mỹ. Ông ta là một người điều hành tài chính khéo léo và một chính trị gia xông xáo. Ông ta đã trở thành một trong những tác nhân chính của Chiến Tranh Lạnh vì ông ta tin rằng chủ nghĩa bônsêvíc, hình thành ở nước Nga Sô Viết, có bản chất quỉ quái và phải được ngăn chận hay có thể được thì tiêu diệt luôn. Ông ta là một người bạn gần gũi của của Giáo Hoàng Pius XII từ những ngày mà Pius còn là Papal Nuncio ở Đức và đã giúp Đức Quốc Xã thành lập một chính quyền hợp pháp vào tháng Giêng, 1933. Pius XII dùng Spellman như một người phát ngôn cho Vatican ở Mỹ để ảnh hưởng những chính trị gia, doanh nhân, lãnh đạo quân sự, và nhóm vận động hành lang Công Giáo. Ông ta tích cực trong việc thuyết phục nước Mỹ chọn Diệm và ủng hộ ông ta làm tổng thống Nam Việt Nam. Ông ta được phong Vicar General của Các Lực Lượng Vũ Trang Mỹ và gọi những người lính Mỹ là "Chiến Sĩ của Ki-tô" trong những chuyến thăm thường xuyên đến tuyến đầu của cuộc chiến Việt Nam. Ông ta tin rằng cuộc chiến đó là một cuộc chiến tranh chính nghĩa để cứu nền văn minh Ki-tô.

Người đóng thuế Mỹ hỗ trợ những người Công Giáotrong hơn hai năm. Ngoài chuyện đổ vào hàng triệu đô-la, họ còn gửi hàng tấn thực phẩm, đồ dùng và dụng cụ nông nghiệp, xe cộ và nhiểu loại vật phẩm khác, mọi thứ đều được chi trả và bù đắp bởi "Chương Trình Cứu Trợ" Mỹ. Sự tiếp tế không ngừng của người Mỹ này được phân phối và từ đó được điều khiển bởi "Dịch Vụ Cứu Trợ Công Giáo", một chi nhánh của bộ máy Diệm. Chính quyền và hệ thống Công Giáo làm việc tay trong tay.

Nhân viên nhà nước tham khảo linh mục Công Giáo về chuyện hàng cứu trợ Mỹ hoặc tiền sẽ được chuyển đi chỗ nào, hoặc cho ai. Kết quả là người Công Giáo được mọi thứ, trong khi những người ngoài Công Giáo nếu may mắn thì được một bữa ăn hay vài xu


jpg

ius XII luôn có một tình cảm sâu đậm cho Hồng Y Francis Spellman, Tổng Giám Mục New York, người mà ông ta đưa lên hàng Hồng Y vào tháng 2/1946. Hai người này kiên trì vận động cho Chiến Tranh Lạnh, không bao giờ lên án kế hoạch của Mỹ dùng bom nguyên tử, ngay cả khi TổngThống Truman tuyên bố rằng "hình như Chiến Tranh Thê Giới Thứ III đã gần kề".

Pius XII tiếp tục ủng hộ nhóm vận động Mỹ chủ trương "một cuộc chiến tranh nguyên tử để phòng ngừa". Khi vào năm 1954 quân đội Mỹ lên kế hoạch dùng bom hạt nhân tấn công người Việt đang bao vây Pháp ở Điện Biên Phủ, cũng nhóm vận động của Vatican đó đã chấp nhận đề nghị này. Trong thời chính quyền Truman, khi anh em Dulles, Spellman và sau đó là Pius XII đã giúp thiết lập những chính sách của Mỹ, quân đội Mỹ dự định thả từ một cho đến sáu trái bom 31 kiloton trên lực lượng Việt Nam. Những trái bom này mạnh gấp ba lần trái bom ở Hiroshima. Kế hoạch dùng bom hạt nhân này được biết đến từ tài liệu giải mật trong tập đầu của 17 tập lịch sử Chiến Tranh Việt Nam chính thức xuất bản năm 1984 bởi văn phòng lịch sử Quân Đội.

Điều này ngược lại với những cộng đồng Công Giáo được lĩnh phần lớn đồ quyên góp từ Mỹ. Những cá nhân hay làng Phật Giáo thực tế bị làm lơ, cho dù họ từ Bắc vào hay người miền Nam cũng vậy. Kết quả là viện trợ Mỹ, đồ ăn, chuyên viên và những phụ giúp chung gần như được cho riêng người Công Giáo. Những người này còn tranh thủ cảm tình của Lãnh Đạo Quĩ Cứu Trợ Mỹ bằng cách tổ chức những nhóm dân quân của chính họ "để chiến đấu chống Cộng Sản và những người ủng hộ Cộng Sản", có nghĩa là người Phật Giáo.

Những nhóm vũ trang Công Giáo này được khuyến khích bởi nhân viên Mỹ, với sự trợ giúp của những giám mục Việt Nam. Những giám mục này xúi giục và che chở cho vô số những nhóm tự vệ Công Giáo địa phương. Những nhóm này trở thành "Những Đơn Vị Công Giáo Cơ Động, Bảo Vệ Nước Ki-tô" - có nghĩa là bảo vệ Giáo Hội Công Giáo. Họ mọc lên khắp nơi và sau đó được gọi là "Én Biển".

Thêm vào đó, Diệm coi sóc việc dân Công Giáo di cư được đưa vào những vị trí quan trọng trong chính quyền, quân đội chính qui, cảnh sát, từ vị trí cao nhất cho đến cấp tỉnh và quận. Cho đến khi nhiều viên chức và sĩ quan không phải là người Công Giáo đều bị thay thế hoặc giáng chức, nếu không phải là bị sa thải luôn. Việc Công Giáo Hóa bộ máy chính quyền đã được xúc tiến trong thời gian kỷ lục, với sự ủng hộ tích cực của Mỹ.

Mỹ đứng đằng sau chiến dịch chia bè phái lạ thường này được biểu lộ bằng việc chính ngoại giao Mỹ đã dựng lên Văn Phòng Điều Tra Việt Nam. Đơn vị bán vũ trang này được hỗ trợ bởi dân quân tự vệ Công Giáo nông thôn bao gồm khoảng 40.000 người.

Mỗi cấp bậc của chính quyền mới của Diệm đều được giữ bởi một người Công Giáo. Để chắc chắn rằng chỉ có người Công Giáo nắm những vị trí trọng yếu, Diệm dẹp bỏ thông lệ 500 năm bầu người trưởng làng và đặt vào vị trí này những người Công Giáo di cư từ Bắc vào. Khẩu hiệu của ông ta là: "Đặt viên chức Công Giáo vào những vị trí nhạy cảm. Họ có thể tin tưởng được."

Để thêm sức nặng vào cấu trúc phản dân chủ đó, Diệm giao nhiệm vụ cho linh mục Công Giáo cai quản đất của Giáo Hội làm chủ, điều này có nghĩa là trong gần như mỗi làng, ông linh mục địa phương hầu như trở thành một công chức, với quyền lực tôn giáo, quản lý và sức mạnh chính trị. Bên cạnh đó, Diệm thúc đẩy viện trợ của chính phủ cho đủ loại các tổ chức Công Giáo. Ông ta trợ giúp thêm - những đơn vị Công Giáo - vì những việc làm tốt. Những ban trật tự và những nhóm bán vũ trang, cộng thêm những đơn vị quân đội được huy động để xây dựng và sửa chữa những công trình Công Giáo. Những chương trình tuyên truyền Công Giáo được phát sóng trên radio quốc gia. Người Công Giáo được nhanh chóng thăng chức lên những vị trí cao nhất trong quân đội và hệ thống chính quyền. Những giám mục được tiếp đãi như những bộ truởng chính phủ trong những lễ lạc công cộng.

Kết quả to lớn của sự thiên vị trắng trợn cho bất cứ cái gì hay bất cứ ai là người Công Giáo này đã làm cho nhiều người quyết định theo Công Giáo. Hơn 33.000 người trở thành người Công Giáo vào cuối 1954. Viên chức trong chính quyền địa phương và quốc gia chọn cải đạo, để không bị ảnh hưởng đến sự nghiệp. Những người có tham vọng cũng làm như vậy. Những người khác nữa theo Công Giáo, và đã khám phá ra rằng người Công Giáo được đồ ăn ngon nhất, quần áo và tiền bạc, thật sự tìm ra rằng ngay cả khi Mỹ gửi cứu trợ - thực phẩm cho toàn bộ dân chúng Việt Nam, chỉ có người Công Giáo chắc chắn nhận được trợ giúp, người Phật Giáo thường là không được gì cả.

Sự thiên vị thái quá này cuối cùng đã được biết đến ở Mỹ khi có người khám phá ra rằng viện trợ được gửi đến Việt Nam phần lớn được phân phối bởi "Dịch Vụ Cứu Trợ Công Giáo" trong hai năm, đã được cố ý dùng để thuyết phục người Phật Giáo cải đạo. Chứng minh được sự sai lạc này, viên chức Mỹ cuối cùng đã từ chối gửi thêm viện trợ cho tổ chức trên.

Nội bộ bè phái Công Giáo và quân đội ở Nam Việt Nam và trong nước Mỹ tạo áp lực lên Quốc Hội Mỹ đến mức quyết định trên bị dỡ bỏ. Mặc dù đã bỏ sang một bên cố gắng của họ để dấu diếm vụ bê bối đó vì sợ phản ứng của người Tin Lành Mỹ, nhưng cũng bị lộ ra rằng hàng trăm ngàn tấn thực phẩm được gửi sang cho khoảng 700.000 người - "thuộc mọi thành phần" chỉ được chia cho 270.000 cá nhân.

ột ông tướng Mỹ tham gia trong việc yêu cầu thực phẩm phải được đưa cho Dịch Vụ Cứu Trợ Công Giáo, không ai khác hơn là Tướng William Westmoreland. Lạ lùng là, chính ông tướng đầu đàn này đã trở thành tín đồ Công Giáo La Mã trong khi tiến hành hoạt động quân sự ở Việt Nam, một nạn nhân điển hình của chiến dịch Công Giáo Hóa của Diệm. Người ta cũng tìm ra rằng trong khi người Công Giáo lĩnh được thực phẩm hoàn toàn miễn phí, người Phật Giáo phải trả tiền. Việc này không chỉ được áp dụng với viện trợ có nguồn gốc từ những tổ chức Công Giáo Mỹ mà còn cho những viện trợ từ chính phủ Mỹ để cứu trợ tất cả không phân biệt tôn giáo.

Kết quả của những việc kỳ thị cố ý này là hàng ngàn cá nhân, hoặc gia đình và thực tế là trong nhiều trường hợp là nguyên cả nhiều làng, trở thành người Công Giáo, được khuyến khích bởi lãnh đạo Công Giáo, hoặc bởi chính quyền Diệm. Nhiều người cải đạo không những để giữ công việc, mà còn để tránh bị thuyên chuyển, hay còn gọi là tái định cư. Tái định cư thường hay dẫn đến việc mất nhà, hay mất đất. Nếu bị thuyên chuyển đi chỗ khác, họ phải bỏ lại tất cả những tài sản, hoặc quan hệ xã hội, gia đình hay tôn giáo.

Mục tiêu chính của Diệm là một mục tiêu căn bản cho cả chính sách ngắn và dài hạn. Ông ta muốn củng cố sức mạnh của những cộng đồng Công Giáo bằng những cộng đồng Công Giáo mới, biến họ thành những trung tâm tin cậy được để từ đó xúc tiến những mục tiêu tôn giáo cũng như chính trị.

Hiệu ứng tâm lý Rosenthal

BTV: nguyenhai
Mức độ viếng thăm : 1%
Nhà tâm lý học Mỹ kiệt xuất Robert Rosenthal có lần đến nghiên cứu việc giảng dạy ở một trường tiểu học nọ. Một hôm ông tuyên bố với lãnh đạo nhà trường là ông sẽ làm một cuộc “Trắc nghiệm xu thế phát triển trong tương lai”. Rồi ông đưa cho hiệu trưởng và các giáo viên liên quan một bản danh sách “Những học sinh có triển vọng học giỏi nhất” và nói với giọng tán thưởng cứ như thật về các em học sinh có tên trong bản danh sách đó. Ông dặn họ giữ kín chuyện này, nhằm tránh ảnh hưởng tới tính chính xác của kết quả trắc nghiệm.

Kỳ thực Rosenthal chỉ tung ra một “Lời dối trá có tính quyền uy” mà thôi, vì các học sinh trong danh sách ấy đều do ông tùy tiện nhặt ra mà không qua sự lựa chọn nào cả.

Tám tháng sau, chuyện thần kỳ xuất hiện: tất cả các học sinh trong danh sách của Rosenthal đều có tiến bộ rõ rệt trong học tập, đạt thành tích xuất sắc trên tất cả các mặt.

Thành công của Rosenthal là ở chỗ các kết luận có tính quyền uy của ông đã khiến cho các em học sinh tự nhận thấy mình là người giỏi giang xuất chúng, qua đó chúng vô cùng phấn khởi và tự tin; trong học tập xuất hiện phong trào sôi nổi ganh đua, thúc đẩy các em phát huy tiềm năng của mình, ai cũng cố giành phần thắng.

“Bản chất của giáo dục là khích lệ, cổ vũ, thức tỉnh” – ai đó từng nói như vậy. Người nào biết cách cổ vũ và khích lệ học sinh thì người đó sẽ thành công. Rosenthal chẳng qua cũng chỉ làm đúng như thế mà thôi, nhưng vì ông là nhân vật có quyền uy trong giới học thuật nên lời nói của ông có sức nặng hơn người, do đó tạo ra hiệu quả người ta gọi là “Hiệu ứng Rosenthal” hoặc hiệu ứng Pygmalion [1]. Hiệu ứng nói trên thông thường được gọi là “Hiệu ứng do mong mỏi của thày giáo” (teacher-expectancy effect), khi đó các học sinh học tốt hơn trước đơn giản chỉ vì chúng thấy mình được thày cô mong đợi làm như thế.

Robert Rosenthal là giáo sư của hai trường đại học California và Harvard, từng được tặng rất nhiều giải thưởng cao quý. Năm 1968/1992, ông cùng với Lenore Jacobson tiến hành các thực nghiệm phát hiện hiệu ứng trên.

Nguyên Hải


[1] Theo thần thoại Hy Lạp, Pygmalion là vua đảo Síp (Cyprus), giỏi điêu khắc, yêu mê mệt bức tượng thiếu nữ do chính mình tạc ra. Thấy thế, nữ thần tình yêu Aphrodite đã thổi hồn cho bức tượng sống dậy để hai người thành vợ chồng. (NH)
June 2012
M T W T F S S
May 2012July 2012
1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30