Một thời để nhớ
Friday, January 11, 2008 6:19:51 AM
.Tôi lớn lên trong thời Pháp thuộc, nghe nói đến “thầy thông”, “thầy phán”, “nhà dây thép” là oách lắm, dân làng ai cũng nể! Mãi đến năm 1948 được cơ quan cho đi học lớp vô tuyến điện, chẳng hiểu gì nhưng cũng mừng, một phần vì làm liên lạc phải băng đồng bưng ban đêm, đôi khi cũng thấy rất sợ. Thế là nốp với..viết, mang lên vai lên Giồng Ông Bạn dự lớp VTD do Bộ tư lệnh Khu 7 mở ở trong rừng tràm. Đêm đêm nhìn những ngọn đèn đỏ thoi thóp ở các cột ăn ten Phú Thọ mà lòng nhớ Sài Gòn da diết. Thỉnh thoảng tiếng “ô -bút” băng…đồng..bưng làm hoảng hốt các con le le ăn đêm vụt bay kêu oắc.. oắc.., xé tan cái đêm tĩnh mịch của bưng biền...
Tuổi 20 sôi nổi được nhà trường cất kỹ ở trong rừng cho yên tâm học tập, chỉ còn có những buổi chiều thầy trò ra bìa rừng, lên gò nhìn ra đường xuồng, nếu thấy bóng hồng chống xuồng thì cùng cất lên tiếng hò A..ah (theo kiểu tạch tà của chữ A) cho thỏa chí, để dịu bớt những khao khát trong lòng!..
Thế là hơn 6 tháng, đã đến thời kỳ “hạ sơn”, vui lắm ! Từ giã rừng tràm,.. từ giã những bữa cơm với lươn, rắn, rùa, cá nấu khoai mì suốt tháng, lòng rộn rã vui được gặp lại bà con… Chiến khu Đ - qua suy nghĩ mộng mơ thuở học trò và bài hát “Suối mơ”- có suối, có rừng già, đẹp hùng vĩ , hoang dại như trong phim “Tazan”.
Hôm Đài được Bộ tư lệnh ZCO về Biên Hòa chiến khu Đ, tôi thích lắm: Thế là tận mắt được nhìn thấy vùng đất thơ mộng với câu thơ nổi tiếng lãng mạn hòa khí anh hùng của Tướng Hùynh Văn Nghệ:
Chiều nay bên dòng sông xanh buộc ngựa
Kiếm gối đầu theo gió thả hồn cao
Thế nhưng, ngày tháng dần qua là mộng mơ ngày càng tan biến. Đầu tiên là làn da: đen dần thành xanh, vì Đài được cất kỹ ở rừng già, ánh nắng mặt trời là thứ hiếm, chỉ có ở “Trảng”, suốt ngày chỉ có tiếng “ve kêu”; kế đến là những cơn sốt rét rừng không có ký ninh, lạnh quá đành phơi nắng, cuốc đất cho đỡ lạnh và sau đó bụng to (bán số 3 mà người dân bảo là: ở chiến khu D đàn ông đều có chửa) rồi tiếp đến là thân người nứt nẻ và ghẻ chóc, nước vàng rỉ ra phải lót giấy khi nằm ngủ, sáng ra phải nhờ nước suối gỡ hộ vì giấy cứng lại như mo cau dán vào người… Những chú “Tắc kè bông” ngồi tắm bên suối bất giác có suy tư: không biết ngày trở lại Sài thành có còn lọt vào mắt xanh của ai không .. Cô bạn gái thân Paulette cùng trường Chasseloup Laubat ngày xưa sẽ còn nhận ra nữa không !? Hay là mình phải thốt lên "Đây là Albert (tên của tôi hồi còn bé) mà "
Quân trang thì “nhất bộ”, khi nào đi họp trung đoàn mới “diện” còn thui thủi trong rừng một mình thì chỉ có “xà lỏn” và những “chén mủ đựng cao su” làm bằng nhôm, cứ hai chén ghép lại thành một bi đông đựng nước luôn bám theo người. Khẩu phần chỉ có một chén cơm mà “một hột gạo lãnh đạo nhiều miếng khoai”. Những lúc tự túc, săn bắn, gài bẫy không được thì chỉ ăn với “thịt cọp” rau tàu bay, măng le… có những lúc phải ăn gùi trừ bữa. Lâu lâu nhận được tiếp tế mua được một miếng khô tra và vài lít gạo là khẩu phần đãi khách quý lâu ngày mới gặp, còn bữa nào có mắm ruốc kho “tóp mỡ khối” ăn với rau muống luộc là thịnh soạn lắm. Đôi khi được bữa khoai mì bở quấy thành cháo, có rau, có mắm ruốc nêm là gọi nhau í ới, là mời cả trong các phiên liên lạc. Trong cái khổ, bù đắp lại có những có thú riêng của rừng sâu: đó là những ngày đi thăm bẫy được mồi hay đêm đi săn được thịt để cải thiện..; đêm đêm ngồi canh đài dưới ánh trăng ngắm những những chú thỏ, chồn, mễng đi tìm nước; tiếng những đàn “bù chao” kêu đàn inh ỏi gọi bình minh; thỉnh thoảng rừng lại nổi lên những cơn giông ào ào bởi những đàn heo kéo nhau chạy thành đàn làm mình phải nhảy thót lên bàn…
Rồi chín năm qua nhanh. Mau thật! Hiệp nghị Giơnevơ đã đưa tôi từ rừng già ra thành thị. Tập kết ra Bắc, tôi thật ngỡ ngàng từ sinh hoạt cho đến xã hội sau chín năm xa cách…
Họ nhà “Dê” là dân “tạch-tạch-xè” được lựa chọn cho đi học vì phần lớn đã qua “cetifica” mới được học nhưng ra đến Sầm Sơn thì người ta chỉ chọn cho ngành phải là thành phần cơ bản nên nhiều anh em phải ngậm ngùi “hạ sao”, ra đi làm nghề khác. Chia tay thật buồn nhưng anh em vẫn tự an ủi với nhau là thoát khỏi nghề : “ Thối tai, chai đít; khen ít, chê nhiều”.
Một thời của những “ông phán nhà dây thép” của thời chiến là thế đấy. Nửa thế kỷ qua bao đổi thay, bây giờ thì ngành Bưu điện thật sự là “oách” lắm...
Băng ..đồng ..bưng: tiếng mọoc- chê bắn
ZCO: là code Z: mật mã dời chỗ ở
Thịt cọp: là muối giã với ớt (nghe “cộp, cộp” )
Họ nhà “Dê”: là cách đọc tắt của Vê-tê-đê “VTD”
Tạch- tạch- xè: là cách đọc tắt của Tiểu-tư-sản







