Let's listen to the life!

Pháp luân đại pháp hảo- Chân thiện nhẫn hảo. http://www.falundafa.org/Vietnamese/home.html

Subscribe to RSS feed

Lợi ích sức khoẻ

Lợi ích sức khoẻ

http://khaitam.minhhue.net/khaitam/health/start

BA CUỐN SÁCH HAY
● Cuộc sống và hy vọng đã quay trở lại: Khả năng trị bệnh và đề cao sức khỏe của Pháp Luân Đại Pháp.
● Đạo đức và tâm tính đã được đề cao trở lại: Học viên Pháp Luân Đại Pháp kể về sự trưởng thành về tâm tính của mình.
● Sư Phụ của chúng tôi: Kỷ niệm về những ngày Sư Phụ đi truyền Pháp.

Khả năng trị bệnh của Pháp Luân Đại Pháp đã được kiểm chứng qua hàng trăm triệu học viên trên thế giới. Chúng tôi dẫn ra ở đây những câu chuyện, những trường hợp điển hình do chính các học viên kể lại.

Khỏi bệnh Lupus và ung thư thận giai đoạn cuối một cách kỳ lạ

Một bệnh nhân ung thư tụy đã khỏi bệnh sau khi thành tâm đọc nhẩm “Pháp Luân Đại Pháp hảo”

Đại Pháp đã cứu sống người sắp chết

Từ một người bị tàn phế nặng trở nên đi xe đạp được là nhờ Pháp Luân Đại Pháp

Đại Pháp đã cứu con tôi

Sau khi đọc nhẩm “Pháp Luân Đại Pháp Hảo”, một người không phải là học viên cũng đã khỏi bệnh đau lưng mãn tính

Nghệ thuật thần vận VIDEO


Performing Arts

Sứ mạng của Đoàn Nghệ thuật Thần Vận là làm sống lại và trình diễn những tinh tuý của một nền văn hoá thuần tuý và đưa nghệ thuật đến thế giới để ca ngợi những giá trị đẹp đẽ và lành mạnh. Các diễn viên đều là học viên Pháp Luân Đại Pháp. Xin giới thiệu cùng các bạn trang Web của đoàn nghệ thuật Thần Vận: http://www.bestchineseshows.com/
http://clip.vn/watch/Highlights-Divine-Performing-Arts,Wh-S




Một số địa điểm tập Pháp Luân Công hoàn toàn miễn phí tại HCM

CV Tao Đàn (Q1
C.Thảo : 01213604772
Công viên Phú Lâm Q6
C. Lan : 0918509730
CV Lê Thị Riêng Q1
C.Thảo : 01213604772
CV Gia Định Gò Vấp
C.Sương : 0906498956
CV Lê Văn Tám Q3
Nghĩa : 0908294132
CV Sơn Kỳ Q. Bình Tân
Nam : 0983089220
CV Đầm Sen Q1
C. Lan : 0918509730
Công viên Q 7
Thiện ; 0975262230
Các công viên khác
C.Thảo : 01213604772

Có thể tự học qua liên kết dưới đây :

Sách :

http://phapluan.org/book/index.html

Video hướng dẫn tự tập :

http://phapluan.org/audiovideo.html




Chứng kiến sự tốt đẹp và thần kỳ của Pháp Luân Đại Pháp
Bản in Bản in
Bản PDF

Bài của đệ tử Đại Pháp, Châu Chính

[MINH HUỆ 19-9-2010] Ngày 14 tháng 9 năm 1994, chắc chắn là một ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời tôi, cũng chính là ngày tôi thoát khỏi ma ốm, là một ngày tôi hiểu được ý nghĩa thật sự của đời người. Ngày hôm đó, tôi bắt đầu tiến vào hàng ngũ Pháp Luân Đại Pháp. Cho dù Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) điên cuồng bức hại hơn 10 năm, tôi nhiều lần bị bắt cóc, giam vào trại tạm giam, trại giáo dục lao động, nhà tù, bị bức hại chẳng những mất đi chức phó phòng, công việc, thậm chí còn bị bức hại đến tàn phế; tôi vẫn dứt khoát kiên định tín ngưỡng Pháp Luân Đại Pháp, vĩnh viễn không từ bỏ, từ trước đến nay cũng không hề một chút hối hận.

Sau khi cuộc bức hại bắt đầu, bởi vì lúc ấy tôi là trạm trưởng trạm phụ đạo; nên quản lý đơn vị, thị uỷ, người đứng đầu Cục Công an thành phố xem tôi như là một trọng điểm, chọn sử dụng các loại cám dỗ, đe doạ v.v.. mưu đồ thủ đoạn ép buộc tôi bỏ tín ngưỡng, nhưng đều thất bại.

Rồi một ngày, có một tổ chức điều tra đến đơn vị tôi, trưởng ban là một cán bộ nghỉ hưu cấp bậc rất cao, ông ấy tìm tôi nói chuyện, hỏi: Anh tốt nghiệp khoa học tự nhiên, lại có bằng cấp khoa văn, còn nhiều lần học trường đảng, tại đơn vị vừa là chuẩn bị chức Cục phó, rất có tư tưởng, rất có tổ chức, lời nói biểu đạt là người kiên cường mạnh mẽ, tại sao là một người từ chủ nghĩa vô thần trở thành người hữu thần nhỉ? Anh nói sự thật đi, tôi tin tưởng anh nhất định hiểu đạo lý này.

Thế là tôi hướng về ông ta giảng đạo lý, tôi đã chứng kiến sự tốt đẹp và thần kỳ của Pháp Luân Đại Pháp:

Chứng kiến hiệu quả trừ bệnh khỏe thân thần kỳ của Pháp Luân Đại Pháp, ai tu luyện cũng đều được lợi

Trước đây tôi thực sự chỉ tin vào chủ nghĩa vô thần, mọi thứ khác đều không tin, sau khi tu luyện Đại Pháp, tôi đã giải được tất cả các câu hỏi của kiếp người mà không thể giải thích được, có một quãng thời gian tôi đã rơi lệ, tôi hối hận tại sao tôi không biết điều này, bị ĐCSTQ lừa gạt nhiều năm như vậy, nó nói không có Thần, tôi đã tin tưởng như vậy. Khi đó mẹ tôi thì tin Phật, tôi từng muốn bán đi tượng Phật mà bà thờ.

Trước khi tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, tôi mắc bệnh thiếu máu, sau khi tiếp máu rồi lại bị viêm gan B, thiếu máu tim lại đập quá nhanh, có lúc còn ngừng đập trong mấy giây, mấy bệnh viện lớn đều nói bệnh tôi không có thuốc trị. Tại đơn vị, một mặt tôi không có mối quan hệ quyền thế trong xã hội, thăng cấp được cấp phó phòng đều là dựa vào năng lực của bản thân từng bước từng bước đi lên; hàng ngày đối diện đều là công việc nặng nhọc, trong mắt người khác, họ là hâm mộ tôi có năng lực, có tiền đồ và có tương lai tươi sáng; thế nhưng chỉ có bản thân tôi biết tình trạng cơ thể tôi, khó có thể hãnh diện với tiền đồ của mình. Tại đơn vị, tôi thiết lập riêng cho mình một chiếc giường, bất cứ lúc nào cũng có thể nằm trên giường trị liệu. Để tăng cường lực miễn dịch, để có một liệu trình tiêm thuốc phù hợp cần phải có hơn 5.000 nhân dân tệ, chế độ lúc ấy là chữa bệnh do nhà nước trả, lãnh đạo đơn vị cũng rất khó xử; hơn nữa vợ, cha mẹ đều có bệnh. Mỗi lúc nghĩ tới đều rất tuyệt vọng.

Tháng 9 năm 1994, tôi có một bạn cùng nghề, học khí công có thể trừ bệnh, thúc giục tôi cũng phải học khí công để chữa bệnh cho vợ và gia đình, ngay lúc đó đồng nghiệp cho tôi một cuốn sách nhỏ, là giới thiệu về Pháp Luân Công; như vậy tôi bắt đầu đi trên con đường tu luyện Pháp Luân Công. Tại điểm luyện công khi đó chỉ luyện 2 tuần, vợ tôi phát hiện tôi đã không uống thuốc nữa, hỏi tôi: “Mấy hôm rồi sao không thấy anh uống thuốc?“, tôi cũng rất kinh hoàng, đúng vậy, tôi không thấy khó chịu đựng nữa rồi, công pháp này quá thần kỳ! Cho đến lúc đó là không đầy một tháng, tất cả các bệnh tật của tôi đều không cánh mà bay. Tiếp tục tới vợ, cha mẹ, gia đình em gái họ đều bắt đầu tu luyện; tử cung của vợ tôi; bệnh tim phổi của mẹ tôi, bệnh thấp khớp, đau đầu, bệnh đau bụng; bệnh xơ cứng động mạch của cha tôi, bệnh gút v.v…; bệnh viêm gan B của em gái họ đều không trị mà khỏi hẳn.

Tôi bảo với người điều tra: Nếu những việc này nảy sinh trên thân thể người khác, tôi cũng sẽ hoài nghi đây không phải là sự thật; nếu như cá nhân tôi được lợi, tôi sẽ nghĩ phải chăng bệnh viện chẩn đoán sai. Thế nhưng tất cả những việc này không chỉ là tự thân tôi trải qua mà là cả gia đình tôi đều như vậy.

Bởi vì qua tu luyện Pháp Luân Công mà thấy được hy vọng, ngoại trừ làm tốt công việc của đơn vị, thì toàn bộ thể xác và tâm hồn tôi đều dồn vào tu luyện, khi ấy trạm trưởng trạm phụ đạo và phó trạm trưởng đều đích thân tham gia lớp do Sư Phụ truyền dạy, họ được Hội Nghiên cứu Khí công thành phố và người phụ trách trạm phụ đạo Pháp Luân Đại Pháp thành phố phê thẩm, chỉ có cá nhân tôi chưa từng được tham gia lớp truyền dạy của Sư Phụ. Chính là mẫu người này, các đồng tu bảo tôi hồng Pháp và truyền Công, trong quá trình từng bước phục vụ học viên, đã chứng kiến rất nhiều người tu luyện Đại Pháp đem lại biến đổi thần kỳ. Tại điểm luyện công của chúng tôi có giáo sư Vương, chúng tôi đều gọi là dì Vương; năm 1992 dì Vương bị bệnh ung thư ác tính tuyến giáp trạng, đồng thời lan rộng đến hạch bạch huyết. Đã làm phẫu thuật chữa tận gốc tại bệnh viện Hiệp Hòa ở Bắc Kinh, tháng 6 năm 1993 phát hiện bên cổ phải nổi cục hạch như quả trứng gà lớn, đã ngăn dì nói không ra lời; lần thứ 3 đến bệnh viện Hiệp Hòa chẩn đoán chính xác là ung thư đột biến, đè lên dây thần kinh cổ họng. Họ quyết định mổ ngực kiểm tra, tiến hành làm sạch hạch bạch huyết. Do sau thống khổ lần mổ thứ nhất, lại hy vọng bệnh ung thư có mấy thứ điều trị được, bởi vậy dì kiên trì đi theo trị liệu. Uống lượng lớn thuốc Đông y, nào là thuốc chống ung thư của Vua, mật gấu “bát linh bát hòa” Trung Hoa v.v.. Sau này đã học Pháp Luân Đại Pháp, đã tham gia lớp truyền dạy của Sư Phụ Lý tại Quảng Châu, tế bào ung thư hoàn toàn không còn. Ví dụ giống như dì Vương tại điểm luyện công của chúng tôi cũng không phải là một hay hai trường hợp, có thể nói là nhiều lắm.

Nói đến chỗ này, người điều tra hỏi tôi: Nghe nói Sư Phụ các anh còn làm cho lưng gù vỗ thành thẳng, việc này có thật không? (*) Tôi bảo ông ta, kỳ thật Sư Phụ đều không cần vỗ bằng tay, Ngài chỉ cần nghĩ nó thẳng thì nhất định nó sẽ thẳng; Sư Phụ chúng tôi vỗ một cái là để cho người thường mà không tin nhìn thấy. Phật Pháp vô biên người thường không thể lý giải nổi. Tại điểm luyện công của chúng tôi, một buổi sáng sớm; tôi cùng với một đồng tu dạy động tác luyện công cho hơn 10 học viên mới, khi đang dạy đến bài thứ 3 Quán Thông Lưỡng Cực Pháp, tay trên và dưới, cánh tay “quán thông” phải duỗi thẳng; tôi phát hiện một cụ bà hơn 60 tuổi nhắm mắt, tay phải hướng lên vọt đến mặt thì kéo xuống, tôi chạy đến trước mặt bà nâng cánh tay phải lên, bà sợ hãi kêu lên một tiếng “trời ơi”, lúc đó học công có hơn 10 người đều giật thót mình, bà mở mắt nhìn tôi nói: “Hơn 10 năm tôi đều dùng tay trái làm việc, thường xuyên chải tóc bằng tay trái, phải chăng tôi không thể học công được nhỉ?” Tôi vội vàng nói: “Thành thật xin lỗi bác, cháu cũng cho rằng bác không như thế, phải chăng cánh tay phải bác bị hỏng?” Bà nói: “Không sao“. Tôi nói: “Bác có thể học, bác làm được đến mức độ thế này là gắng hết sức rồi, trong tâm bác biết cần phải làm như thế nào là được rồi”. Sau đó chúng tôi lại tiếp tục dạy luyện công, nhưng khi dạy lần thứ 2, thì nghe được bà la: “A, trời ơi! A, trời ơi! Là ai đã cầm tay tôi kéo thẳng!” Khi đó chúng tôi lại nhìn, cánh tay phải của bác đã có thể luyện công bình thường. Lúc đó mọi người đều chứng kiến sự thần kỳ của Đại Pháp, đều rất xúc động.

Còn có một người cũng là một dì nhiều tuổi, một mắt dì đã mù hơn 40 năm, y học giám định đáy mắt đã teo, bởi ảnh hưởng của mắt này, thị lực của mắt kia cũng nhanh chóng giảm xuống. Sau khi học Pháp Luân Công, hai mắt dì đều có thể nhìn được đồ vật, trong giao lưu tâm đắc thể hội, dì chảy nước mắt nói hết nhận thức của bản thân. Mỗi lần mời học viên học Pháp, tâm đắc thể hội về tu luyện, rất nhiều người đã nghe ví dụ xúc động lòng người này, hầu như đều rơi giọt nước mắt cuối cùng.

Pháp Luân Đại Pháp đã cải biến con người ích kỷ của tôi, khiến cho đạo đức xã hội năng cao trở lại

Tôi nói với người điều tra: Trong xã hội hiện nay, thuận theo khai mở cải cách, phát triển kinh tế hàng hoá, đặc biệt là ảnh hưởng của tư tưởng “Cho phép một bộ phận người giàu có lên, ai kiếm được nhiều tiền thì là vinh quang”, con người hướng vào tiền. Trước khi học Pháp, tôi còn thấy mình đặc biệt tốt hơn so với người khác, tối thiểu tôi cũng không mất tư cách công chức; sau khi học Pháp, tôi mới biết được, toàn bộ nếp sống xã hội không chính, tôi cũng bắt đầu trượt xuống theo, chỉ có chưa trượt xa so với người khác. Tôi dựa theo yêu cầu của Đại Pháp mà làm, mọi nơi đều lo nghĩ cho người khác. Càng lúc càng cảm thấy quan niệm sống của tôi đều nảy sinh biến hoá, làm việc tốt vì người khác đã trở thành niềm vui thú của tôi. Có lúc đơn vị tôi phát tiền thưởng chuyên môn cho lãnh đạo các nơi, tôi cũng nghĩ công việc là mọi người làm, nên tôi chia phần thưởng cho một bộ phận hay là toàn bộ cấp dưới; đơn vị xây nhà ở cho lãnh đạo cấp phòng các nơi, các lãnh đạo cấp phòng đều được phân, tôi cũng nghĩ có rất nhiều đồng nghiệp già còn khó khăn hơn tôi, mặc dù nơi tôi ở tầng thượng bị dột mưa, tôi cũng không đòi hỏi gì, mọi người đều ước ao được đơn vị phân nhà cho.

Nói đến chỗ này, đến lượt người điều tra nói: “Cùng là đảng viên, cũng không cần anh dấu giếm tôi phải không?” Tôi nói: “Chỉ là nói một chút đó, không có ai muốn làm kẻ ngu như vậy, tại đơn vị tôi, cán bộ cỡ tôi có 30-40 người, cũng chỉ có tôi là người làm như vậy, chúng ta đều là đảng viên, sự khác nhau giữa tôi và họ chính là: Tôi là đệ tử Đại Pháp, mà họ thì không phải. Nếu như tôi không học Đại Pháp, tôi cũng không làm được”.

Ở quê nhà của tôi, tất cả các học viên Đại Pháp mức độ đề cao cảnh giới tư tưởng là không giống nhau; em họ tôi vốn là người mê cờ bạc nổi tiếng trong thôn, vợ đã nhiều lần đề cập ly hôn, thời khắc mấu chốt rạn nứt gia đình, cả nhà đắc Pháp, em họ đã từ bỏ thói xấu đánh bạc, gia đình từ ấy về sau hòa thuận; em họ tôi còn chiếm nhiều đất trong cải cách ruộng đất, về sau đều trả lại. Vào mùa đông năm 1997, có một trận tuyết lớn nhiều năm không gặp. Toàn bộ đường quốc lộ đều bị lấp kín, chính phủ buộc phải cứu tế lương thực, bí thư thôn kêu gọi trên hệ thống truyền thanh: Đảng viên ĐCSTQ, đoàn TNCS hãy ra ngoài và làm sạch tuyết! Kêu gọi cả buổi sáng không có một ai ra, sau đó mấy đệ tử Đại Pháp bàn bạc, mọi người đều tình nguyện chủ động quét sạch tuyết đọng. Từ 1,5 đến 2km đường được một cụ già hơn 70 tuổi và đệ tử Đại Pháp thiếu nhi hơn 10 tuổi quét sạch, bí thư lại nói trên hệ thống truyền thanh: “Đảng viên ĐCSTQ cái quái gì, thật không bằng người luyện Pháp Luân Công, tương lai có tiền, tôi sẽ xây cho họ một trường luyện công”.

Sau khi bức hại năm 1999, phụ đạo viên thôn tôi cũng bị bắt vào trại tạm giam, thôn này cùng nhau viết thư yêu cầu thả người.

Tại điểm luyện công chúng tôi có chàng trai họ Nhậm, trước đây chuyện xấu gì cũng từng làm, trước khi học Pháp Luân Công còn ăn trộm đồ. Sau khi học Pháp, những đồ vật trước đây ăn trộm của người khác, tự anh kiếm tiền bằng sức lao động, mua đồ mới gửi trả lại cho mọi người. Khi trả đồ vật cho mọi người, anh đều để lại cho mọi người một bức thư, nói với mọi người: Trước đây tôi không hiểu biết gì, bây giờ đã học Đại Pháp, tôi phải làm một người tốt, trả lại mọi người những thứ đã trộm, xin các ông, các bà tha thứ. Ví dụ giống như vậy cũng là có nhiều vô số kể.

Chúng tôi đã từng Hồng Pháp tại một thôn trấn, năm ấy có một cụ bà 70 tuổi, ai cũng nói tâm tính bà tốt, cần phải giúp bà học công, thế nhưng có làm thế nào bà cũng không học, bà nói: “Tôi từ bé đã ngậm tẩu thuốc, liên tục cho đến bây giờ, nghe nói luyện công không được hút thuốc lá, tôi có thể không ăn cơm, không uống nước, nhưng thuốc lá thì không thể không hút.” Sau này mọi người đều nói, trước tiên bà xem thử băng video giảng Pháp của Sư Phụ Lý, ban đầu thực sự là bà vừa xem băng video giảng Pháp vừa bàn tán rằng Sư Phụ này giảng thật hay. Nghe một lát thì đã muốn bỏ hút thuốc, khi bà hút lại thuốc, hút một hơi thì khạc một cái, bà la to: Bài giảng này quá thần kỳ, tôi xem xong thì không thể hút thuốc, từ đó về sau bà cai được thói quen nghiện thuốc lá từ hơn 10 năm trước.

Ngày hôm đó, chúng tôi nói chuyện trong thời gian gần buổi sáng, cuối cùng người đứng đầu nhóm điều tra cầm tay tôi nói: “Anh thật tốt, kiên trì tu luyện thêm đi, tôi chúc anh sớm công thành viên mãn”.

Đối diện với ĐCSTQ điên cuồng đàn áp và bức hại, vì sao những người tu luyện vẫn kiên trì buông bỏ sinh tử như vậy, vì sao ĐCSTQ tà ác bức hại Đại Pháp hơn 10 năm mà không làm cho đệ tử Đại Pháp khiếp sợ, trong đó có rất nhiều nguyên nhân, nhưng mà tất cả những người tu luyện đều là những người được hưởng ích lợi, phần lớn đã chứng kiến sự thần kỳ và tốt đẹp của Pháp Luân Đại Pháp. Tôi hy vọng đồng bào của tôi từ trong những lời bịa đặt của tà đảng mà bước ra, tối thiểu nhất cũng phải biết Chân, Thiện, Nhẫn và giả (giả dối), ác (độc ác), bạo (tàn bạo), cái nào là tốt. Một người nói dối nhất cũng không mong muốn người khác lừa gạt mình; một người ác nhất cũng hy vọng người khác đối xử thiện với mình; một người không nhẫn nại nhất cũng mong muốn người khác nhẫn nại với mình. Ý nghĩ thần thánh của đệ tử Đại Pháp truyền đạt cho thế nhân, hy vọng những người trên thế gian lựa chọn cho mình và người nhà một tương lai tốt đẹp trước khi đại nạn đến.

Lịch sử qua ảnh « Falun Dafa

http://chanthiennhanhao.wordpress.com/lich-su-qua-anh/
Chồng của một học viên Pháp Luân Công đã nói với vợ mình rằng: "Nếu mà trứng mọc quai thì tôi sẽ tin Pháp Luân Đại Pháp". Vào ngày hôm sau, một con gà trong sân nhà họ đã đẻ một quả trứng có quai.
ngày 25 tháng 7 lúc 10:31 sáng · Bình luận ·ThíchBỏ thích · Xem các Phản hồi (8)Ẩn các Phản hồi (8) · Chia sẻ

http://vn.360plus.yahoo.com/jw!_cTfM1eGGB6thYmW6PkfFKwRZXE-/article?mid=149

Nguồn gốc của cuộc đàn áp Pháp Luân Công tại Trung Quốc

Nguồn gốc của cuộc đàn áp Pháp Luân Công tại Trung Quốc
Bản in[Trung tâm thông tin Pháp Luân Đại Pháp]

Chúng tôi tin rằng, khi sự thật về cuộc bức hại Pháp Luân Công ở Trung Quốc bị phơi bày toàn bộ, cuộc bức hại sẽ chấm dứt, bởi một lẽ đơn giản là thế giới không thể nào dung thứ nó được. Việc những nhà lãnh đạo của cộng sản Trung Quốc đã đi xa tới mức này trong việc che đậy, giấu giếm những hành động của họ kể từ năm 1999 cho thấy rằng họ cũng tin vào điều này.

Hướng tới sự chấm dứt cuộc đàn áp này, dưới đây là một loạt bài được xây dựng để vạch trần và sử ký lại một cách toàn diện hơn nữa về mọi phương diện của cuộc bức hại Pháp Luân Công ở Trung Quốc. Xin mời quý đọc giả cùng chúng tôi trong tháng này hàng ngày cùng kiểm chứng lại thêm những bài biên lại tội ác chống lại nhân loại mà Đảng cộng sản Trung Quốc đã gây ra trong hơn 11 năm bức hại Pháp Luân Công vừa qua.

Bài viết trước trong loạt bài:

“Tổng quan về cuộc bức hại” (http://www.clearwisdom.net/html/articles/2010/7/1/118272.html)
“Các câu hỏi và trả lời về cuộc đàn áp” (http://minhhue.net/news/18228-Cac-cau-hoi-thuong-gap-ve-cuoc-dan-ap-Phap-Luan-Cong-tai-Trung-Quoc.html)
“Cuộc đàn áp: Các mốc thời gian” (http://minhhue.net/news/18232-Cuoc-dan-ap-Cac-moc-thoi-gian.html)

***************************

“Tại sao Pháp Luân Công vẫn bị đàn áp ở Trung Quốc?” “Tại sao Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) cấm Pháp Luân Công?” “Tại sao chính phủ Trung Quốc xem Pháp Luân Công như là một mối đe dọa?” Dưới đây là một số câu trả lời. Mặc dù chúng được giới thiệu ở đây như những giải thích nhất định, nhưng tất nhiên những lý do khác được liên hệ với nhau theo nhiều cách.

Giải thích về mặt số lượng
* Giải thích về mặt kiểm soát
* Giải thích theo lỗ hổng ý thức hệ
* Giải thích theo nhân tố cá nhân
* Giải thích bằng cách xem lại chính ĐCSTQ
Tại cuối của trang này, một số giải thích thường được trích dẫn nhưng có lý do phụ cũng được xem xét một cách ngắn gọn.
* Giải thích theo hướng mối đe dọa
* Giải thích theo kiểu sốc
* Giải thích theo trí nhớ tập thể

Giải thích về mặt số lượng: Pháp Luân Công trở nên quá phổ biến và phổ biến quá nhanh

Pháp Luân Công, được truyền ra công chúng lần đầu vào năm 1992, chỉ trong 7 năm sau đã có số lượng người theo vượt quá 70 triệu ở Trung Quốc theo các ước tính của chính phủ Trung Quốc (nguồn- http://faluninfo.net/article/517/?ci=5). Pháp Luân Công đã trở thành, như tờ Tin Tức Hoa Kỳ và Báo cáo Thế giới đã đưa ra vào năm 1999, “Tổ chức tự nguyện lớn nhất ở Trung Quốc, thậm chí lớn hơn cả Đảng cộng sản”, lúc đó Đảng cộng sản có số thành viên khoảng 65 triệu. Đảng cộng sản đã bị đe dọa bởi sự tăng lên nhanh chóng và phổ biến của nhóm và sợ rằng nó có thể gặp phải sự cạnh tranh với Pháp Luân Công.

Các bằng chứng thêm rằng việc Đảng sợ sự phổ biến của Pháp Luân Công đến từ thực tế rằng khi các sách của Pháp Luân Công trở thành những cuốn sách bán chạy nhất vào năm 1996, ngay lập tức các sách này đã bị cấm xuất bản.

Giải thích về mặt kiểm soát: Pháp Luân Công đã phát triển quá độc lập đối với mong muốn của Đảng

Một số lãnh đạo Đảng cộng sản cũng xem sự độc lập của Pháp Luân Công là một mối đe dọa. Sự độc lập của Pháp Luân Công đã thể hiện ra theo khả năng của các học viên, những người có thể tìm thấy ở khắp Trung Quốc và ở mọi tầng lớp xã hội, nay có thể liên lạc với nhau và tổ chức các hoạt động của riêng mình (bao gồm cả một cuộc tụ tập lớn để thỉnh cầu chính phủ phản đối những lạm dụng). Đảng độc tài, cho tới tận ngày nay vẫn tiếp tục trực tiếp kiểm soát các phương tiện truyền thông, tòa án, hệ thống giáo dục, và các học viện tín ngưỡng, đã xem sự độc lập và khả năng phối hợp các hoạt động của các học viên Pháp Luân Công là một tiền lệ nguy hiểm.

Thực tế là trong số các học viên Pháp Luân Công có nhiều Đảng viên tận tâm không làm thỏa mãn chế độ; trái lại, điều này càng làm Đảng sợ rằng mình đang cạnh tranh với Pháp Luân Công.

Giải thích theo lỗ hổng ý thức hệ: Pháp Luân Công đề xướng một bộ các giá trị khác với những thứ Đảng đề xướng

Bất chấp việc Trung Quốc đã chuyển sang nền kinh tế thị trường trong những thập kỷ gần đây, Đảng Cộng Sản vô thần vẫn không chỉ bám vào hệ thống chính quyền kiểu Lê nin, mà còn bám vào ý thức hệ Mác xít một cách chính thống (mặc dù chỉ có vài quan chức thực sự tin vào ý thức hệ này). Điều này được minh họa vào năm 2006 bằng chiến dịch “gìn giữ bản chất tiến bộ của ĐCSTQ” của Hồ Cẩm Đào.

Một số lãnh đạo Đảng đã thấy Pháp Luân Công, với niềm tin của Pháp Luân Công vào Phật, Đạo và Thần, và sự tin chắc của Pháp Luân Công rằng bất kỳ ai cũng có thể đạt tới một cảnh giới tuyệt diệu thông qua tự tinh luyện, như thế là xung đột với ý thức hệ của Đảng.

Trong khi điều này đúng với bất kỳ tôn giáo nào ở Trung Quốc, nó cũng đúng là mọi tôn giáo ở Trung Quốc đã bị đàn áp bởi ĐCSTQ, và trong nhiều trường hợp vẫn tiếp tục bị đàn áp. Những khác biệt nằm ở mức độ đàn áp, số người liên quan, và nỗ lực mà Đảng sử dụng để đàn áp mỗi nhóm riêng tại bất kỳ một thời điểm đưa ra xem xét.

Tân Hoa Xã, cơ quan phát ngôn chính thức của ĐCSTQ, thừa nhận nhiều về điều này vào năm 1999. Tân Hoa Xã đã hãnh diện tuyên bố “Thực tế, cái gọi là nguyên tắc ‘chân, thiện và nhẫn’ được giảng bởi ông Lý Hồng Chí [người sáng lập Pháp Luân Công] chẳng có gì chung với sự phát triển văn hóa và đạo đức xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang cố gắng đạt được”.

Trớ trêu thay, Tân Hoa Xã đã chạm phải những gì ĐCSTQ đang lúng túng trong thực tế: Pháp Luân Công là môn luyện tập theo Chân, Thiện, và Nhẫn, trong khi đó qua hơn nửa thế kỷ Đảng Cộng sản đã thống trị bằng lừa dối, áp bức và bạo lực.

Giải thích theo nhân tố cá nhân: Sự ghen tị của Giang Trạch Dân và các thủ đoạn của những người theo cơ hội chủ nghĩa đã đóng một vai trò quyết định.

Quyết định của Giang Trạch Dân khởi động chiến dịch chống lại Pháp Luân Công đã nhận được một số ít ủng hộ thật từ các lãnh đạo cao nhất của Đảng. Khi ấy thủ tướng Chu Dung Cơ đã thực hiện một giải pháp hòa giải đối tới Pháp Luân Công, và một số bằng chứng cho thấy rằng lãnh đạo hiện tại Hồ Cẩm Đào cũng không xem Pháp Luân Công là một vấn đề (xem báo cáo của CNN- http://faluninfo.net/article/465/?ci=5).

Nhưng với một số ít người ủng hộ, dẫn đầu là Lưu Cán, Giang đã tuyên bố lập trường chống Pháp Luân Công bằng cách diễn đạt nhóm Pháp Luân Công như là một đe dọa lớn nhất đối với Đảng, gán nhãn Pháp Luân Công là một “tổ chức tà giáo” (xem phân tích- http://faluninfo.net/article/521/?ci=5), lập ra Phòng 6-10, và ép buộc luật pháp để biện hộ một cách có hiệu lực cho lệnh cấm Pháp Luân Công. (xem báo cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân Quyền- http://faluninfo.net/article/523/?ci=83).

Tại sao Giang lại làm một việc như thế? Vì hai nguyên nhân. Đầu tiên, rất có vẻ buồn cười là, hầu hết bằng chứng cho thấy rằng Giang đã ghen tị sâu sắc với sự phổ biến của Pháp Luân Công và xem việc đàn áp Pháp Luân Công như là một sự bỏ giá có lợi hơn trong cuộc đấu thầu của chính Giang nhằm đi vào lịch sử như là một lãnh đạo tối cao thứ ba của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (tiếp theo sau Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình).

Thứ hai là, như nhà phân tích Willy Lam và những người khác đã cho thấy, Giang đã thấy một cơ hội – bằng cách tấn công Pháp Luân Công và tạo ra một chiến dịch kiểu của Mao cùng với trạng thái khủng hoảng đi kèm với nó, Giang có thể lợi dụng chiến dịch này để “tăng cao lòng trung thành với chính Giang” và dùng thủ đoạn để đạt được lợi ích về mặt chính trị (xem bản tin của CNN- http://faluninfo.net/article/465/?ci=5)

Mặc dù Giang đã chính thức bắt đầu chuyển giao quyền lực cho Hồ Cẩm Đào vào cuối năm 2002, những thành viên của bè phái chính trị của Giang vẫn ở trong những vị trí cáo bên trong Bộ Chính trị và bộ máy an ninh Đảng. Những người này, như phó chủ tịch Tăng Khánh Hồng và lãnh đạo Ủy ban Hợp Pháp Chính trị Lưu Cán, đã có thể duy trì và thậm chí đẩy chiến dịch tăng cao lên. Tuy nhiên các báo cáo không định kỳ từ bên trong nội bộ Trung Quốc đã để lộ những căng thẳng giữa bè phái của Giang và Hồ Cẩm Đào về chính sách đối với Pháp Luân Công.

Giải thích bằng cách xem lại chính ĐCSTQ: Để tồn tại, chế độ của nó đã nhiều lần liên tiếp nhắm vào các nhóm khác

Như cuốn sách Chín Bài bình luận về Đảng cộng sản (Cửu Bình) minh họa, qua gần sáu thập kỷ nắm quyền lực, ĐCSTQ đã thực hiện hết chiến dịch này đến chiến dịch kia nhắm vào nhiều nhóm khác nhau. Cửu Bình giải thích Đảng đã áp dụng lặp đi lặp lại luật 95-5 như thế nào: Nó bảo với nhân dân Trung Quốc rằng chỉ một nhóm kẻ thù nhỏ đang bị nhắm tới; 95 phần trăm tốt sẽ không bị ảnh hưởng chừng nào họ tự phân tách rõ ràng khỏi 5 phần trăm xấu còn lại. Theo cách này, nhóm bị nhắm vào nhanh chóng bị xa lánh. Bạn bè, đồng nghiệp, bạn học, thậm chí cả những thành viên trong gia đình cũng vội vàng đi theo “nhóm tốt” đa số để thoát khỏi nỗi sợ bị đàn áp.

Thủ đoạn bịp bợm nằm ở chỗ 5 phần trăm “nhóm xấu” kia liên tục thay đổi, đầu tiên đó là những người giàu có và gia đình của họ, sau đó là những người có liên hệ với hải ngoại, sau đó là những nhóm tín ngưỡng, rồi trí thức, rồi ủng hộ dân chủ, và tiếp tục…bây giờ đó là Pháp Luân Công.

Trong khi sự thực là những chiến dịch này đã trở lên ít quan trọng hơn kể từ cái chết của của Mao Trạch Đông vào năm 1976, chiến dịch của Đảng chống lại Pháp Luân Công từ năm 1999 trở đi đã quay lần ngược lại thời đại chủ nghĩa Mao Trạch Đông, thể hiện qua việc sử dụng bộ máy tuyên truyền, các buổi xét xử, các buổi học, và các trại lao động của nó.

Qua tiến trình nhiều thập kỷ, hiếm có người Trung Quốc nào không có họ hàng hoặc bạn bè thân thiết nào bị đàn áp nghiêm trọng vào lúc này hay lúc khác. Trong khi sống cuộc đời bình thường của mình, toàn bộ dân chúng vì thế sống với một nỗi sợ kín đáo. Đảng có thể nhanh chóng dùi vào nỗi sợ này bất kỳ khi nào nó cần để tăng cường kiểm soát.

Các giải thích khác mà đôi khi được trích dẫn nhưng ít có tính thuyết phục hơn:

Giải thích theo hướng mối đe dọa: Pháp Luân Công là một sự nguy hiểm đối với xã hội

Đối với các quan chức trong Bộ Ngoại giao, các đại sứ quán và các tòa lãnh sự, cũng như là đối với các nhà báo và học giả Trung Quốc đứng về phía Đảng, sự giải thích rất đơn giản: Đầu tiên, không có đàn áp nào diễn ra cả, tất cả cái gọi là “bằng chứng” đơn giản chỉ là những lời đồn thổi và bịa đặt bị khuấy động lên bởi những lực lượng thù địch chống Trung Quốc. Thứ hai, Pháp Luân Công bị cấm bởi vì nó là một mối đe dọa với xã hội và bất kỳ chính quyền có lý trí nào cũng sẽ làm tương tự.

Sự thật là chỉ có chính quyền của Đảng cộng sản mới cấm Pháp Luân Công, ngoài ra Pháp Luân Công được tập luyện tự do trên khắp thế giới ở hơn 70 nước (hiện nay là 140 quốc gia – chú thích thêm). Đảng cũng không thể giải thích làm thế nào hàng chục ngàn người luyện tập Pháp Luân Công ở Đài Loan, chỉ cách Trung Quốc 100 dặm, mà không bị chính quyền hay các phương tiện truyền thông phàn nàn rằng Pháp Luân Công là một mối đe dọa. Thực tế, ở Đài Loan nơi có sự tương tự về phương diện văn hóa, tình hình khá trái ngược – các quan chức Đài Loan ca ngợi Pháp Luân Công, học sinh học Pháp Luân Công để tính điểm thêm, và nó được dạy trong nhà tù cho các tù nhân như là một phần của chương trình cải tạo của họ (báo cáo- http://faluninfo.net/article/519/?ci=79).

Giải thích gây sốc: Cuộc tập trung ngày 25 tháng 4, năm 1999 đã dẫn tới lệnh cấm

Một số người đã tranh luận rằng Pháp Luân Công đã bị cấm vì nó đã tính toán sai khi tổ chức một cuộc biểu tình lớn ngay trước nơi ở tại khu Trung Nam Hải của các lãnh đạo Đảng tại Bắc Kinh vào ngày 25 tháng tư, năm 1999.

Không nghi ngờ rằng cuộc tập trung vào ngày 25 tháng 4 (xem báo cáo- http://faluninfo.net/article/518/) là một diễn biến then chốt, nhưng thực tế cuộc tập trung này là hướng vào Văn phòng Kháng cáo của Hội đồng Nhà nước, chứ không phải khu liên hợp Trung Nam Hải của chính phủ. Đáng kể nhất là cuộc tập trung đã đánh dấu mốc mà dựa vào đó Giang Trạch Dân đã đi đến việc chính thức chỉ đạo chính sách chống Pháp Luân Công.

Tuy nhiên, bên cạnh sự hợp pháp được quy định trong hiến pháp Trung Quốc, cuộc tập trung là một phản ứng lại các hình thức đàn áp đã diễn ra sớm hơn trước đó. Nó xảy đến sau 3 năm khi các sách của Pháp Luân Công bị cấm xuất bản, sau 2 năm bị chỉ trích trên các phương tiện thông tin của nhà nước và bị an ninh nhà nước quấy rối, và đó là một phản ứng ngay lập tức trước sự bắt giữ và đánh đập những học viên ở vùng Thiên Tân gần đó. Nếu không có sự đàn áp nào diễn ra trước đó, tại sao 10 ngàn người lại phải khiếu nại lên chính quyền để ngừng đàn áp họ?

Giải thích theo trí nhớ tập thể: Các lãnh đạo Đảng sợ sự nổi loạn tôn giáo khác

Theo sự giải thích này, các lãnh đạo Đảng đã nhìn thấy Pháp Luân Công có những sự tương đồng với các cuộc vận động tôn giáo trong quá khứ mà đã trở thành bạo lực và lật đổ các triều đại, ví dụ như Khăn Vàng thời nhà Hán, các giáo phái Bạch Liên, và Thái Bình và Nghĩa Hòa Đoàn nổi lên vào triều đại nhà Thanh. Tuy nhiên sự so sánh là rất giới hạn. Không giống những nhóm đó trong quá khứ, Pháp Luân Công không có quan tâm tới giành lấy quyền lực chính trị và hoàn toàn từ chối việc sử dụng bạo lực.

Thậm chí nếu có người sợ rằng Pháp Luân Công có thể chuyển sang bạo lực và đi đến chỗ giống với những cuộc nổi loạn trong quá khứ đó, thì sự phản ứng hoàn toàn bất bạo lực của Pháp Luân Công đáp lại cuộc đàn áp này từ ngày đầu tiên của cuộc đàn áp tới tận ngày nay đã từ rất lâu xua tan những nỗi sợ như vậy.

Cuối cùng, Pháp Luân Công đã trở lên đối lập với Đảng cộng sản chỉ trong những năm sau khi có cuộc đàn áp. Các hoạt động của các học viên Pháp Luân Công đơn giản nhằm mục đích kết thúc cuộc đàn áp những người vô tội này. Các tác phẩm của ông Lý (http://phapluan.org/book/index.html) và những quan điểm được bày tỏ bởi các học viên Pháp Luân Công ở Trung Quốc và hải ngoại đã làm sáng tỏ rằng Pháp Luân Công không quan tâm tới việc giành lấy quyền lực chính trị ở Trung Quốc.

Tài liệu gốc: http://faluninfo.net/print/219/
________________________________________
Bản tiếng Anh: http://clearwisdom.net/html/articles/2010/7/4/118331.html
Đăng ngày 27-07-2010; bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Thần Vận

Thần Vận tại Nhật Bản: Nữ diễn viên nổi tiếng địa phương nói “Tôi cảm thấy sức mạnh của đức tin của họ ” (Ảnh)
Bản in Bản in

[MINH HUỆ 10 – 03 – 2010] TOKYO–Bà Muriel Jovilet, một học giả, nhà văn, giáo sư đại học nổi tiếng chuyên gia so sánh văn hóa Nhật – Pháp, đã tham dự buổi diễn của Đoàn Nghệ thuật Thần Vận (Shen Yun Performing Arts) ở Hội trường âm nhạc U-Port của Tokyo vào tối ngày 6 tháng 3 năm 2010.

Bà Jovilet đã sống ở Nhật hơn 30 năm. Bà nói bà đã ấn tượng sâu sắc với tiết mục Thời kỳ rực rỡ của Hoàng Đế. “Chúng tôi không thấy điều này trong văn hóa Nhật Bản. Mặc dù Nhật Bản có nhiều hòa thượng, chúng tôi chưa bao giờ thấy Phật trên sân khấu. Điều này khiến tôi cảm thấy Thần Phật rất gần với chúng ta. Việc đó thật sự tuyệt vời.”

350.0.1.0.16777215.0.stories.large.2010.03.09.1003061152542120--ss.jpg
Bà Muriel Jovilet, là học giả và nhà văn nổi tiếng.

Nữ diễn viên: “Tôi cảm thấy sức mạnh của niềm tin của họ”

Nữ diễn viên nổi tiếng Nhật Bản Asaka Mitsuyo đã xem buổi diễn cuối cùng của Thần Vận (Shen Yun) ở Tokyo ngày 7 tháng 3. Bà để ý thấy vở diễn rất đẹp mắt và mang đến một sự ấn tượng tổng thể thật mạnh mẽ. Bà đã đặc biệt xúc động trước màn múa Không gì Có thể Ngăn cản Con đường Thần Thánh, diễn tả sự thiếu tự do về tinh thần ở đất nước Trung Quốc hiện đại.

“Còn nữa khi tôi xem người mẹ và con gái đã biểu lộ sự tôn kính của họ hướng về các vị Thần, tôi cảm thấy sức mạnh của niềm tin của họ. Ác vẫn hoàn ác. Cuối cùng, thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo,” bà Asaka nói.

350.0.1.0.16777215.0.stories.large.2010.03.08.1003071512112120.jpg
Nữ diễn viên Asaka Mitsuyo lần đầu tiên xem Thần Vận

Thành viên Hạ viện Nhật : “Thần Vận là nghệ thuật thần thánh”

Ông Nakatsugawa Hirosato, thành viên Hạ viện Nhật Bản, xem Thần Vận lần thứ hai hôm 7 tháng 3. Ông nói với vẻ hào hứng ngạc nhiên: “Mặc dù hai từ “Thần Vận” tương đối xa lạ với cả đất nước Nhật Bản, nhưng Thần Vận là nghệ thuật thần thánh. Tôi hy vọng mọi người dân Nhật Bản đều hiểu biết về Thần Vận và tôi hy vọng Thần Vận có thể diễn khắp Nhật Bản, đến với mọi tầng lớp xã hội Nhật Bản.”

350.0.1.0.16777215.0.stories.large.2010.03.09.1003072236582120--ss.jpg
Thành viên Hạ viện Nhật Bản, ông Nakasugawa Hirosato

“Điều đó làm tôi thêm kinh ngạc trước sự huy hoàng của nền văn hóa cổ truyền Trung Hoa”

Ông Noguchi Kataka, một bậc thầy về trà đạo Nhật Bản và nghi lễ dâng hương, nói: “Tôi tin tưởng vào sức mạnh của thần thánh. Chương trình miêu tả cái tốt và cái xấu đều có sự báo ứng tương xứng gây cho tôi ấn tượng nhất. Tôi đã xúc động sâu sắc trước vở diễn. Nó chân thực hơn những gì bạn tôi vốn là một diễn viên Kabuki ( một môn nghệ thuật biểu diễn cổ truyền Nhật Bản ) nói. Nó cực kỳ đẹp. Điều đó làm tôi thêm kinh ngạc trước sự huy hoàng của nền văn hóa cổ truyền Trung Hoa.”

Nghệ sĩ trang điểm : “Việc sử dụng màu sắc hòa thiên đàng và con người thành một”

Bà Itako Kiyomi là một nghệ sĩ trang điểm đặc biệt yêu thích vẻ đẹp và sự phối hợp màu sắc. Bà ngạc nhiên: “Cách mà người Trung Hoa sử dụng màu sắc thật là tuyệt diệu, nó không thể diễn tả bằng lời. Ở Nhật Bản chúng tôi hiếm khi sử dụng màu sắc giống như vậy. Một loại sắc màu gần gũi với thiên đàng, với sự huy hoàng của thần thánh. Quá đẹp và quá lộng lẫy.”
Nguồn:
http://www.theepochtimes.com/n2/content/view/31017/
http://www.theepochtimes.com/n2/content/view/30967/
http://www.theepochtimes.com/n2/content/view/31036/
Bản tiếng Anh: http://www.clearwisdom.net/html/articles/2010/3/10/115242.html
Đăng ngày 21-03-2010: Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.

Câu chuyện chưa kể trong lịch sử: Lão Tử, Khổng Tử và Thích Ca Mâu Ni

Câu chuyện chưa kể trong lịch sử: Lão Tử, Khổng Tử và Thích Ca Mâu Ni
Bản để in Bản để in

Tác giả: Bất Danh

[Chanhkien.org] Sau khi thời Xuân Thu đã đi qua được 2500 năm, ngoại trừ Phật gia không có học phái nào có thể ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa Trung Hoa bằng Nho gia và Đạo gia. Bởi vậy, ông tổ của 3 gia phái này là Thích Ca Mâu Ni, Khổng Tử và Lão Tử được người đời sau ngưỡng mộ và sùng bái.

Thật trùng hợp ở chỗ, ngày tháng 3 vị ấy ra đời chênh nhau không quá 20 năm. Theo góc nhìn lịch sử, thì 3 vị ấy là người của cùng một thời đại. Năm 571 Trước công nguyên, ngày 15 tháng 2 Lão Tử giáng sinh tại nước Sở, huyện Khổ (nay là huyện Lộc Ấp, Hà Nam). 5 năm sau, ngày 8 tháng 4 năm 566 Trước công nguyên Thích Ca Mâu Ni giáng sinh ở Kim Ni Bạc Nhĩ. 15 năm sau, vào ngày 27 tháng 8 năm 551 Trước công nguyên, Khổng Tử ra đời tại Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông.

3 vị Thánh giả giáng sinh vào cùng một thời đại, ấy là sự trùng hợp của lịch sử hay là Ý Trời đã an bài như vậy?

Lão Tử

“Lão Tử” tên thật là Lý Nhĩ, tên tự là Bá Dương. “Lão” là ý gọi người tuổi cao Đức lớn. “Tử” là cách gọi bày tỏ lòng tôn kính đối với người khác. Tương truyền Lão Tử bẩm sinh có khí chất phi phàm, am hiểu chuyện xưa, giỏi việc lễ chế, từng đảm nhiệm chức quan “Thủ tàng thất sử” (tương đương với giám đốc thư viện quốc gia hoặc là giám đốc viện bảo tàng quốc gia) và chức Trụ hạ sử (tương đương với chức quan Ngự sử thời Tần, Hán). Lão Tử ở lại Lạc Dương nước Chu thật lâu, thấy rõ sự suy sụp của nhà Chu. Năm 500 trước công nguyên, trong hoàng tộc nhà Chu phát sinh cuộc nội chiến tranh giành ngôi vị, Lão Tử bị liên lụy và bị bãi quan. Lão Tử cảm thấy nhân thế hiểm ác, bèn rời đi. Ông lưu lạc khắp 4 phương trời nhưng không để ai biết danh tính của mình.

Ngày 1 tháng 9 năm 478 trước công nguyên, Lão Tử 93 tuổi đi về nước Tần. Lúc đi qua cửa Hàm Cốc, quan Lệnh tên là Doãn Hỷ ở đó xem bói đã biết trước là sẽ có một Thần nhân đi qua đây, bèn sai người quét dọn sạch sẽ 40 dặm đường để nghênh đón. Quả nhiên Lão Tử tới. Doãn Hỷ nói: “Tiên sinh Ngài muốn ẩn cư, sau này không còn được nghe Ngài dạy bảo nữa, kính xin tiên sinh viết sách để truyền lại cho hậu thế!”. Lão Tử tại Trung Nguyên chưa từng truyền thụ lại điều gì. Ông biết Doãn Hỷ trong mệnh đã định là sẽ đắc Đạo, bèn tạm dừng lại nơi này một thời gian ngắn, viết lại cuốn sách nổi tiếng ngàn đời: “Đạo Đức kinh”. Sau đó, Lão Tử ra khỏi cửa Hàm Cốc đi về phía Tây, vượt qua vùng Lưu Sa… Lưu Sa là chỉ vùng sa mạc lớn ở Tân Cương. Không ai biết cuối cùng ông đã đi về nơi đâu.

Khổng Tử từng đến kinh đô nước Chu, thỉnh giáo Lão Tử về Lễ chế. Một ngày, Khổng Tử cưỡi một chiếc xe cũ do trâu kéo, lắc la lắc lư tiến vào thành Lạc Dương – kinh đô của nước Chu. Ông đi lần này mục đích là để tham quan “Các nguyên tắc trị nước mà các vị Tiên vương đã dùng”, khảo sát “Nguồn gốc của Lễ Nhạc”, học tập “Các quy phạm đạo đức”, bởi vậy việc ông tới viếng thăm Lão Tử, vị quan tinh thông chế độ Lễ nghi và quản lý thư viện hoàng gia, ấy là an bài tối quan trọng [của Thiên thượng]. Khổng Tử sau khi hoàn thành việc khảo sát lần đó, đã nói một câu lưu truyền đời sau rằng: “Trong số rất nhiều học thuyết trên đời, ta chọn theo [học thuyết của] nhà Chu”. Chế độ Lễ nghi thời đại nhà Chu là phỏng theo Lễ chế thời đại nhà Hạ và nhà Thương làm cơ sở mà đặt định ra, và Khổng Tử chủ trương sử dụng Lễ chế của thời đại nhà Chu. Có thể thấy chuyến đi lần ấy của ông thu được ích lợi không hề nhỏ.

Khổng Tử bái kiến Lão Tử. Lão Tử hỏi Khổng Tử đọc sách gì, ông trả lời là đọc “Chu Dịch”, và Thánh nhân đều đọc sách này. Lão tử nói: “Thánh nhân đọc sách này thì được, còn ông vì sao cần phải đọc nó? Tinh hoa của quyển sách này là gì?”.

Khổng Tử trả lời: “Tinh hoa của nó là tuyên dương Nhân Nghĩa“.

Lão Tử nói: “Cái gọi là nhân nghĩa, đó là một thứ mê hoặc lòng người, giống như như muỗi rận ban đêm cắn người, chỉ có thể làm người ta thêm hỗn loạn và phiền não mà thôi. Ông xem, con chim Thiên nga kia không cần tắm rửa mà lông vũ tự nhiên vẫn trắng như tuyết, Quạ đen hàng ngày không nhuộm lông mà tự nhiên vẫn đen. Trời vốn là cao, đất vốn là dày, mặt trời mặt trăng từ trước tới nay đã phát ra ánh sáng rực rỡ, tinh thần từ trước tới nay chính là đã được an bài có trật tự, cây cỏ từ lúc sinh ra thì đã khác nhau. Nếu như ông tu Đạo, vậy cũng thuận theo quy luật tồn tại của tự nhiên, tự nhiên là có thể đắc Đạo. Tuyên dương những thứ nhân nghĩa để làm gì đây? Chẳng phải điều đó cũng đáng tức cười như việc vừa đánh trống vừa đi tìm một con dê thất lạc hay sao?”

Lão Tử lại hỏi Khổng Tử: “Ông cho rằng tự mình đắc Đạo rồi chưa?”.

Khổng Tử nói: “Tôi đã tìm cầu 27 năm rồi, vẫn chưa đắc được”.

Lão Tử nói: “Nếu như Đạo là một thứ hữu hình có thể tìm kiếm và dâng hiến cho con người, thì người ta sẽ tranh giành nó đem dâng tặng cho quân vương. Nếu như Đạo có thể đem tặng cho người khác, thì người ta sẽ đem tặng nó cho người thân. Nếu như Đạo có thể giảng rõ ra được, người ta sẽ đem nó giảng giải cho anh em của mình. Nếu như Đạo có thể truyền thụ cho người khác, thì người ta đều sẽ tranh nhau truyền nó cho con cái mình. Song những chuyện như thế là không thể được. Nguyên nhất rất đơn giản, Đạo ấy chính là thứ mà một người bình thường không thể nhận thức một cách chính xác được, Đạo tuyệt đối sẽ không thể nhập vào tâm của người thường được”.

Khổng Tử nói: “Tôi nghiên cứu ‘Thi Kinh’, ‘Thượng Thư’, ‘Lễ’, ‘Nhạc’, ‘Dịch’, ‘Xuân Thu’, giảng nói đạo lý trị quốc của các vị tiên vương, hiểu rõ con đường thành công của Chu Công, Triệu Công. Tôi đã lấy đó để bái kiến 70 quân vương, nhưng họ đều không chọn dùng chủ trương của tôi. Xem ra người ta thật là khó thuyết phục được!”.

Lão Tử nói: “Ông nói ‘Lục Nghệ’ ấy tất cả đều là những thứ xưa cũ của thời đại các tiên vương, ông nói những thứ đó để làm gì đây? Thành tựu tu học mà ông đạt được hôm nay cũng đều là những thứ xưa cũ rồi”.

Khổng Tử thỉnh giáo xong Lễ chế nhà Chu, liền quyết tâm trở về nước Lỗ khôi phục lại nguyên xi Lễ nghi của nhà Chu. Lão Tử đối với việc này vẫn bảo lưu ý kiến. Bởi vì Lễ tuy là cần phải có, nhưng muốn khôi phục toàn diện Lễ nghi nhà Chu, e rằng không thể làm được. Thời thế thay đổi, chút Lễ nghi nhà Chu ấy cũng không thích hợp với tình huống đương thời nữa. Vì vậy Lão Tử nói với Khổng Tử: “Ông theo lời những người đó, xương cốt của họ đều đã mục nát cả rồi, chỉ là những lời bàn luận của họ là còn tồn tại mà thôi. Hơn nữa quân tử gặp được thời cơ chính trị 1 thì liền theo chính, thời cơ không thích hợp thì cũng như cây cỏ bồng kia gặp sao yên vậy. Tôi nghe nói: Người giỏi kinh doanh đem cất giấu của cải hàng hóa, không cho người thác trông thấy, mặc dù giàu có nhưng dường như cái gì cũng không có. Người quân tử Đức cao thường bề ngoài cũng giống như người ngu độn, không để lộ chân tướng ra ngoài. Ông cần phải vứt bỏ tâm kiêu ngạo và dục vọng, vứt bỏ tâm thái và thần sắc mà ông đang có kia đi, vứt bỏ chí hướng quá truy cầu kia đi, bởi vì những thứ này đối với ông chẳng có chỗ nào tốt cả. Đó chính là những gì mà tôi muốn cho ông biết”.

Khổng Tử không biết nên trả lời ra sao, nhưng vẫn không buông bỏ chí hướng của mình: Đại trượng phu “biết rõ những việc không thể làm mà vẫn làm”. Tham quan xong các địa phương khác, Khổng Tử cáo từ Lão Tử, mang theo trong lòng những nỗi niềm phấn khởi xen lẫn với thất vọng mà rời kinh đô Lạc Dương của nhà Chu. Phấn khởi là vì học hỏi lễ giáo đã thành công, thất vọng là vì những lời khuyến cáo của Lão Tử. Phía sau lưng ông, một bia đá được dựng lên ghi lại mấy chữ: “Khổng Tử đến đất Chu học hỏi lễ nghi”.

Khổng Tử trở về, 3 ngày không nói chuyện. Tử Cống thấy kỳ lạ, bèn hỏi thầy chuyện là thế nào. Khổng Tử nói: “Chim, ta biết nó có thể bay; cá, ta biết nó có thể bơi; thú, ta biết nó có thể chạy. Có thể chạy thì ta có thể dùng lưới giăng bắt nó, có thể bơi thì ta có thể dùng dây tơ mà câu, có thể bay thì ta có thể dùng cung tên bắn được nó. Còn như con rồng, ta không biết nó làm sao có thể lợi dụng sức gió mà bay tới tận trời cao. Ta hôm nay gặp mặt Lão Tử, ông ấy cũng như con rồng kia thâm sâu không thể đo lường nổi!”.

Đó chính là sự khác nhau cơ bản giữa một Giác Giả độ nhân và một nhà tư tưởng của nhân gian. Cái gọi là “Đạo bất đồng bất tương vi mưu” (Tạm dịch: không cùng một trình độ tu Đạo thì tâm cảnh cũng khác nhau xa), chính là tình huống như thế này. Đạo lý của Lão Tử vi diệu khó có thể hiểu nổi, bởi vì ấy là lời giáo huấn của Thần. Lời của Khổng Tử chẳng qua chỉ là học vấn của con người, là quy phạm đạo đức và hành vi của loài người mà thôi.

Khổng Tử

Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tên tự là Trọng Ni, sinh vào nước Lỗ năm 551 trước công nguyên.

Khi lớn lên, Khổng Tử từng làm một chức quan nhỏ chuyên quản lý kho tàng, xuất nạp tiền lương công bằng chuẩn xác. Ông cũng từng đảm nhiệm chức quan nhỏ chuyên quản lý nông trường chăn nuôi, súc vật sinh trưởng rất tốt. Nhờ vậy ông được thăng chức lên làm quan Tư không, chuyên quản lý việc xây dựng công trình. Khổng Tử thân cao 9 xích 6 tấc (xích là đơn vị đo lường cổ Trung Hoa = 1/3 mét), mọi người đều gọi ông là “Người cao lớn”, cho rằng ông là người phi thường.

Sau khi Khổng Tử tới đất Chu học hỏi Lễ nghi trở về lại nước Lỗ, các học trò theo ông học tập dần dần đông lên. Có thể nói Khổng Tử là người thầy tư nhân chuyên thu nhận học trò đầu tiên trong lịch sử giáo dục Trung Quốc. Trước thời ông, trường học hoàn toàn là của nhà nước. Khổng Tử sáng lập ra trường học tư, thu nhận nhiều đồ đệ, đưa giáo dục mở rộng cho bình dân, đem tri thức văn hóa truyền bá cho dân gian, có cống hiến thật to lớn đối với giáo dục thời cổ đại.

Lúc Khổng Tử 35 tuổi tới nước Tề. Tề Cảnh Công thỉnh giáo Khổng Tử về đạo trị nước. Khổng Tử nói: “Quân vương cần phải có phong thái của quân vương, bề tôi cần phải có phong thái của bề tôi, cha cần có phong thái của người cha, con cần có phong thái của con”. Cảnh Công nghe xong nói: “Cực kỳ đúng! Nếu quân vương không ra quân vương, bề tôi không ra bề tôi, cha không ra cha, con không ra con, thì cho dù có rất nhiều lương thực, ta làm sao có thể ăn được đây!”. Ngày khác Cảnh Công lại thỉnh giáo Khổng Tử về Đạo lý trị quốc, Khổng Tử nói: “Quản lý quốc gia cần nhất là tiết kiệm chi tiêu, ngăn chặn lãng phí từ gốc rễ”. Cảnh Công nghe xong rất phấn khởi, định đem đất Ni Khê phong thưởng cho Khổng Tử.

Yến Anh khuyên can nói: “Loại nhà Nho này, có thể nói đạo lý, không thể dùng pháp luật mà ràng buộc được họ. Họ cao ngạo tùy hứng, tự cho mình là đúng. Họ coi trọng tang lễ, dốc hết tình cảm bi thương, an táng trọng thể mà không ngại bị khuynh gia bại sản. Họ đi khắp nơi du thuyết, cầu xin quan lộc. Bởi vậy không thể dùng họ để quản lý quốc gia được. Hiện nay Khổng Tử nói về dung mạo phục sức, đặt định lễ tiết thượng triều hạ triều rườm rà, chính là mấy đời người cũng học tập không xong được, cả đời cũng làm không được thông. Nếu Ngài muốn đem bộ những thứ này để thay đổi phong tục của nước Tề, e rằng không phải là biện pháp tốt để dẫn dắt trăm họ”.

Yến Anh khuyên can có hiệu quả. Sau đó Tề Cảnh Công tiếp đãi Khổng Tử rất có lễ độ, nhưng không còn hỏi về những vấn đề có liên quan đến Lễ nữa. Trong số các quan đại phu nước Tề có người muốn mưu hại Khổng Tử. Cảnh Công nói với Khổng Tử: “Ta đã già rồi, không thể bổ nhiệm quan tước cho ông được nữa”. Thế là Khổng Tử rời Tề trở về Lỗ.

Tại nước Lỗ, Khổng Tử tuy về mặt chính trị có rất nhiều thành tích, cũng từng làm một vài chuyện lớn, nhưng con đường làm quan không hề trôi chảy. Có lần nhà Vua chủ trì một đại lễ tế Trời, quan đại phu Tam Hoàn cố tình không chia cho ông một khối thịt tế nào. Đó là loại hình phạt nghiêm khắc nhất trong Chế độ Lễ nghi của nhà Chu. Khổng Tử biết con đường làm quan của mình không có hy vọng gì, bèn rời quê nhà đi dạy học bốn phương trời, tuyên truyền những chủ trương chính trị của mình.

Lúc đó Khổng Tử khoảng chừng 50 tuổi. Ông không nề hà khổ nhọc, dùng 13 năm để dẫn dắt học trò chu du các nước, đi du thuyết khắp nơi. Nhưng các nước đều không chấp thuận chủ trương của ông. Năm 63 tuổi, Khổng Tử trở lại nước Lỗ. Cuối cùng nước Lỗ cũng không trọng dụng Khổng Tử, mà Khổng Tử cũng không muốn ra làm quan nữa.

Tuy là một người tuổi đã gần đất xa trời, nhưng ngọn lửa tư tưởng trong 9 năm cuối đời đã phát huy được thành tựu rực rỡ. Khổng Tử dốc lòng thu nhận học trò, biên soạn điển tịch, tạo thành một hệ thống tư tưởng Nho học trong 9 năm cuối đời mình.

Thời đại Khổng Tử, nhà Chu đã suy, Lễ nhạc đã phôi pha, ‘Thi’, ‘Thư’ cũng không còn toàn vẹn nữa. Khổng Tử tìm tòi nghiên cứu chế độ lễ nghi của 3 thời đại Hạ, Thương, Tây Chu, biên định “Thượng thư”, “Lễ ký”. Khổng Tử sau khi từ nước Vệ trở về nước Lỗ, thì bắt đầu đính chính lại Thi Nhạc, khiến cho “Nhã”, “Tụng” đều khôi phục lại được nhạc điệu ban đầu. “Kinh Thi” vốn có 3000 bài được truyền lại từ thời cổ đại. Đến thời Khổng Tử, ông cắt bỏ những chỗ trùng lặp, lựa chọn trong đó những bài phù hợp cho việc dạy bảo Lễ Nghĩa.

Lúc về già Khổng Tử thích nghiên cứu “Chu Dịch”. Ông giải thích về “Thoán từ”, “Hào từ”, “Quái”, “Văn ngôn”. Khổng Tử đọc Chu Dịch rất siêng năng, đến nỗi sợi dây da trâu buộc sách đã nhiều lần bị mòn đứt. Ông nói: “Để ta sống lâu thêm vài năm nữa, ta có thể nắm vững và giải thích rõ ràng nội dung và đạo lý trong từng câu văn của “Chu Dịch””.

Khổng Tử nói: “Quân tử lo lắng nhất chính là sau khi chết không lưu lại được tiếng thơm. Chủ trương của ta không thể thực thi, ta lấy gì để cống hiến cho xã hội và lưu danh hậu thế đây?”. Bèn căn cứ vào các sách lịch sử của nước Lỗ biên soạn ra bộ “Xuân Thu”, trên từ năm Lỗ Ân Công đầu tiên (722 TCN) xuống tới năm Lỗ Ai Công thứ 14 (481 TCN), tổng cộng 12 đời vua nước Lỗ. Lấy nước Lỗ làm trung tâm để biên soạn, tôn thờ Hoàng tộc nhà Chu làm chính thống, lấy sự tích Ân Thương làm tham khảo, mở rộng và phát triển truyền thống các thời đại từ đời Hạ, Thương, Chu, lời văn súc tích uyên thâm.

Cuối cùng Khổng Tử biên soạn xong “Lục Nghệ” là Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân thu. Khổng Tử dùng Thi, Thư, Lễ, Nhạc làm tài liệu giảng dạy học trò, đến học có ước chừng tới 3000 đệ tử, trong đó hiền nhân quân tử có 72 người. Chưa kể nhiều học trò chưa chính thức nhập tịch ở khắp nơi nữa.

Lúc Khổng Tử lâm bệnh, Tử Cống đến thăm viếng thầy. Khổng Tử thở dài, nói ngay: “Thái Sơn sắp đổ rồi, rường cột sắp gãy rồi, người trí tuệ sắp chết rồi!”. Nước mắt chảy dài, nói với Tử Cống: “Thiên hạ từ lâu đã mất đi đạo lý thông thường, không có ai tiếp nhận chủ trương của ta cả …”. 7 ngày sau Khổng Tử qua đời, hưởng thọ 73 tuổi, nhằm vào ngày Kỷ Sửu, tháng 4 năm 479 trước công nguyên.

Sách “Luận Ngữ” chính là do đệ tử của Khổng Tử căn cứ theo lời nói và việc làm của ông mà biên soạn thành. Đó là tư liệu trực tiếp nhất để cho chúng ta hôm nay hiểu biết về Khổng Tử. Khổng Tử cho người ta biết thế nào là “Trung dung”, vì đời sau mà đặt định ra quy phạm làm người theo “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”. Ảnh hưởng của ông đối với văn hóa Trung Quốc và cả vùng Đông Nam Á là rất to lớn.

Tư Mã Thiên nói: “Trong kinh “Thi” có câu nói như thế này: “Cái giống như núi cao khiến người ta chiêm ngưỡng, cái giống như đại Đạo khiến người ta tuân theo”. Từ xưa tới nay trong thiên hạ, Quân Vương và người tài đức thì có cũng nhiều. Họ khi đang còn sống đều vinh hoa quý hiển, nhưng chết đi rồi thì chẳng còn lại chút gì. Khổng Tử là một người bình dân, nhưng những người đọc sách đều tôn ông làm thầy. Từ Thiên tử, Vương Hầu đến nhân dân cả nước, những ai nói về “Lục Nghệ” thì đều xem học thuyết ấy của Khổng Tử là chuẩn tắc cao nhất. Có thể nói Khổng Tử là một Thánh nhân chí cao vô thượng”.

Tư Mã Thiên đã đánh giá rất đúng.

Thích Ca Mâu Ni

Trong lúc Đại Đạo Trung Quốc đang được lưu truyền tại mảnh đất Thần Châu, thì đồng thời tại Ấn Độ – cũng là quốc gia có nền văn minh lâu đời tại phương Đông – Phật Pháp mà Thích Ca Mâu Ni đã được truyền rộng.

Thích Ca Mâu Ni giáng sinh tại Kapilavastu (Ca tỳ La vệ), một đất nước tại vùng đất Ấn Độ xưa kia. Mẹ của ông là Hoàng hậu Mayadevi (hoàng hậu Ma Da) sinh hạ ông tại Lumbini (nằm ở Nam Nepal ngày nay) trên đường trở về nhà mẹ đẻ của bà. Người ta đồn rằng khi Thích Ca Mâu Ni giáng sinh, liền bước đi 7 bước, mỗi bước đi sinh ra một đóa hoa sen. Một tay chỉ lên trời, một tay trỏ xuống đất ông nói “Phía dưới Thiên Đàng và bên trên mặt đất, chỉ có ta là nhất”. Đây thực ra là chuyện đơm đặt của hậu thế. Trong vũ trụ này, có vô số Thần Phật của vô số Thiên Đàng, có ai dám kiêu căng khoác lác như thế không? Thích Ca Mâu Ni không bao giờ làm như vậy. Câu chuyện này thực sự chỉ là kết quả của những tình cảm tôn giáo cuồng tín của người đời sau mà thôi. Một vị Phật chỉ muốn người đời tu luyện theo lời dạy bảo của họ, chứ không muốn người ta dựng chuyện lên để mà tâng bốc.

Thích Ca Mâu Ni từ thuở nhỏ đã có tấm lòng từ bi thương xót chúng sinh và luôn đi tìm ý nghĩa chân chính của đời người. Năm ông 19 tuổi, Thích Ca Mâu Ni rời bỏ ngai vàng, rời khỏi hoàng cung đi tu luyện. Ấn Độ thời bấy giờ có đủ loại tông phái và đường lối tu luyện khác nhau. Đầu tiên Thích Ca Mâu Ni tu theo pháp “vô tưởng định” (Samadi) 3 năm và cuối cùng đã đạt tới cảnh giới này. Nhưng ông cho rằng đó không phải là Đạo, không phải là chân lý tột cùng, cho nên ông từ bỏ nó. Sau đó ông lại tu theo “Phi tưởng – phi phi tưởng định” 3 năm, thành công rồi nhưng ông thấy rằng đó cũng không phải là Đạo, nên cũng từ bỏ. 2 lần, Thích Ca Mâu Ni từ bỏ những điều mà ông biết chắc ấy không phải là Đạo. Ông không thể tìm thấy một vị chân sư nào cả, cho nên ông tự mình tới một ngọn núi băng giá phủ đầy tuyết trắng để tu hành khổ hạnh. Mỗi ngày ông chỉ ăn một ít hoa quả khô và chịu đói đến mức toàn thân khô héo. Ông khổ tu như vậy để tìm chân lý. Nhưng 6 năm trôi qua, ông nhận ra rằng khổ hạnh cũng không phải là Đạo, bèn xuống núi.

Thích Ca Mâu Ni đi tới bờ sông Hằng. Vì quá gầy yếu xanh xao, ông ngã xuống hôn mê bất tỉnh. Một người phụ nữ làm nghề chăn dê tình cờ đi qua, và cho ông một ít váng sữa. Thích Ca Mâu Ni ăn và phục hồi sức lực. Nhưng ông không có cách nào tìm thấy một vị chân sư có thể hướng dẫn cho mình, nên ông vượt qua sông Hằng, tới dưới một tán cây Bồ Đề, ngồi xuống và thiền định. Ông thề rằng nếu không trở thành một bậc “Vô thượng chính đẳng chính giác” thì ông thà chết tại nơi này.

Thích Ca Mâu Ni thiền định dưới tán cây Bồ Đề ấy trong 49 ngày. Buổi sáng ngày thứ 49, ông ngẩng đầu lên nhìn trời, và nhìn thấy được những ngôi sao sáng trên bầu trời. Cũng trong một cái nhìn ấy, thần thông và các quyền năng siêu phàm của ông lập tức nổ tung, và tư tưởng của ông khai mở. Ông lập tức nhớ lại mọi điều mà ông đã từng tu luyện trước kia, hiểu được kiếp sống hiện tại và nhiều kiếp trước của mình, và tất cả những điều khác nữa mà ông cần phải biết sau khi khai ngộ. Bởi vì năng lượng phóng ra trong quá trình khai công khai ngộ, một chấn động lớn xuất hiện trong phạm vi địa lý rộng lớn xung quanh ông. Người ta cho rằng ấy là một trận động đất nhẹ, núi đổ hay sóng thần, nhưng thực ra đó là do sự khai ngộ của Thích Ca Mâu Ni. Đương nhiên năng lượng của Phật là từ bi và không làm hại ai cả. Sau 12 năm tu luyện vô cùng gian khổ, Thích Ca Mâu Ni rốt cuộc đã ngộ Đạo. Sau đó, Phật Thích Ca Mâu Ni liền bắt đầu cuộc đời truyền Pháp 49 năm của mình.

Đặc điểm của pháp môn tu luyện mà Thích Ca Mâu Ni truyền dạy là Giới, Định, Huệ. Giới chính là cấm tất cả dục vọng và tâm cố chấp, định là nói về người nhập định tu hành, huệ là nói về người khai ngộ khai huệ. Đại tạng kinh có mấy vạn quyển, đều không lìa xa 3 chữ này. Đương nhiên, hình thức biểu hiện của nó rất phong phú phức tạp, nhưng thực chất chính là 3 chữ này.

“Mọi người đều biết rằng Bà La Môn giáo là Thích Ca Mâu Ni phản đối nhiều nhất. Ông cho rằng [nó] là một tà giáo, nó cùng với Phật Giáo của Thích Ca Mâu Ni là đối lập [với nhau] nhất. Kỳ thực tôi cho chư vị biết rằng: Thích Ca Mâu Ni chống đối Bà La Môn giáo chứ không phải chống đối Thần của Bà La Môn giáo. Thần mà Bà La Môn giáo tin theo vào thời kỳ nguyên thủy nhất đều là Phật, [họ] tin theo chính là các vị Phật trước thời Thích Ca Mâu Ni. Nhưng qua thời gian quá lâu dài, con người không còn tin Phật nữa, khiến cho tôn giáo này trở thành tà giáo, thậm chí [họ] sát sinh để tế lễ Phật. Cuối cùng, Thần mà họ tin tưởng và tôn thờ kia cũng không còn là hình tượng Phật nữa, [họ] bắt đầu tin theo và thờ phụng yêu ma quỷ quái có hình tượng quái vật. Con người đã làm cho tôn giáo trở thành tà”. (Giảng Pháp tại Pháp hội Houston).

Lời nói và việc làm của mọi người đều trái với những điều mà các vị Phật thời tiền sử dạy bảo. Như vậy, Bà La Môn giáo tiến vào thời Mạt pháp. Trong thời gian ấy, Phật Pháp của Thích Ca Mâu Ni bắt đầu truyền rộng ra tại Ấn Độ. Bởi Pháp mà Thích Ca Mâu Ni truyền chính là chính Pháp, trong quá trình truyền Pháp, Thích Ca Mâu Ni không ngừng bác bỏ các giáo lý của các tôn giáo khác, cho nên không ngừng có những người rời bỏ ngoại đạo đến quy y Phật giáo. Như một trong những đồ đệ của ông, người mà sau này trở thành Xá Lợi Phất ban đầu là người của Bà La Môn giáo. Ông cùng Thích Ca Mâu Ni tranh luận, biết Phật Thích Ca Mâu Ni đang truyền chính pháp, bèn rời bỏ Bà La Môn giáo và trở thành người đệ tử có trí tuệ cao nhất của Phật Thích Ca Mâu Ni. Như vậy, Phật Pháp mà Thích Ca Mâu Ni truyền càng lúc càng cường thịnh, còn các tôn giáo kia càng lúc càng suy tàn. Phật Pháp dần dần bị các tôn giáo kia kỳ thị và phản đối. Trong thời gian mâu thuẫn tôn giáo lên đến đỉnh điểm, xuất hiện sự kiện các đệ tử Phật giáo bị sát hại một cách công khai. Người đệ tử có Thần thông nhất là Mục Kiền Liên bị những kẻ ngoại đạo lăn đá từ trên núi xuống đè chết, trở thành đệ tử đầu tiên của Phật Thích Ca Mâu Ni chết vì lý tưởng của Phật giáo. Ngoại đạo còn bắt bớ đệ tử của Phật Thích Ca, ném họ vào hầm lửa, hoặc trói vào cột rồi dùng cung tên bắn chết. Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni không còn tại thế, 500 đệ tử của Phật từng bị người ta chém đầu. Sự kiện bức hại ấy khiến người ta vô cùng đau xót!

Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni không còn trên thế gian, các tôn giáo khác bắt đầu hưng thịnh trở lại. Phật giáo ở Ấn Độ trải qua nhiều lần cải tổ, cuối cùng đã kết hợp với những thứ của Bà La Môn giáo, biến thành một loại tôn giáo mới là Ấn Độ giáo. Ấn Độ giáo không còn tin Thích Ca Mâu Ni, cũng không thờ phụng một vị Phật nào cả. Do vậy, Phật giáo sinh ra tại Ấn Độ, cuối cùng lại dần dần bị tiêu biến ở Ấn Độ. Song tại Đông Nam Á, tại Trung Quốc, Phật Pháp đã truyền rộng khắp nơi, ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa của những quốc gia này.

Tài liệu Tham khảo
1. Giảng Pháp tại Pháp hội châu Âu
2. Chuyển Pháp Luân
3. Giảng pháp tại Pháp hội Houston

Dịch từ:

http://www.zhengjian.org/zj/articles/2006/5/7/37440.html
http://www.pureinsight.org/pi/index.php?news=4004

Một ông lão 78 tuổi bình phục từ ngưỡng cửa của tử thần, gia đình ông bắt đầu tập luyện Pháp Luân Công

Một ông lão 78 tuổi bình phục từ ngưỡng cửa của tử thần, gia đình ông bắt đầu tập luyện Pháp Luân Công
Bản in Bản in

Theo Tuệ Minh ở Trung Quốc

[MINH HUỆ 1-3-2010] Một ông lão 78 tuổi sống ở Thị xã Kiều Hương, Thành phố Du Thụ tại Tỉnh Cát Lâm. Vào tháng 11 năm 2009, ông thình lình bị đột quỵ. Các con trai và con gái ông gửi ông tức thời đến Bệnh viện thứ nhì của Đại học Cát Lâm. Trong lúc ông nằm viện, các bác sĩ xác định rằng ông cũng đã đến giai đoạn cuối của ung thư phổi.

Tình trạng của ông không tiến triển sau 10 ngày trị bệnh, mà thực sự còn trở nên tệ hơn. Ông không thể cử động phần bên trái của cơ thể, bị sốt cao, bất tỉnh, tiêu tiểu không kiềm được, và các triệu chứng khác. Các bác sĩ cho biết rằng họ không còn có thể giúp được ông, vì vậy các con ông mang ông về nhà. Một tháng sau, tình trạng của ông tệ hơn; ông không thể ngủ suốt đêm và trở nên rất nóng nảy, dễ giận, và bắt đầu đánh và chửi rủa người khác. Ông thậm chí không thể nhận ra gia đình mình. Gia đình rất buồn, và cảm thấy rằng ông đã đến lúc cuối đời rồi.

Gia đình rất buồn khổ. Một học viên biết được tình trạng của họ, và đi đến nhà ông lão vào ngày 26 tháng 12. Cho dù người học viên không biết ông, ông lão hình như biết được rằng người học viên có thể giúp đỡ mình. Ông cố gắng để ngồi dậy trên chiếc xe lăn của mình, và cố bắt tay với người học viên. Hành động của ông làm cả gia đình ngạc nhiên.

Người học viên làm sáng tỏ sự thật và giải thích sự vĩ đại của Pháp Luân Công cho họ. Sau đó, người đó bảo ông niệm, “Pháp Luân Đại Pháp Hảo,” và “Chân-Thiện-Nhẫn Hảo.” Người học viên cũng đưa cho họ một đĩa DVD Nghệ thuật Thần Vận.

Sau năm mới, người học viên cho ông nghe bài nhạc Phổ Độ và Tế Thế (nhạc Pháp Luân Công). Người đàn ông lớn tuổi nói rằng ông cảm thấy thoải mái trong khi nghe nhạc. Vì ông không sáng suốt lắm, vợ và các con ông đều dạy cho ông và nhắc nhở ông thành tâm niệm, “Pháp Luân Đại Pháp hảo,”và “Chân Thiện Nhẫn hảo.”

Hai tuần lễ sau, tình trạng của ông đã tiến triển rõ ràng. Gia đình ông rất vui mừng và cám ơn nhiều lần người học viên. Người học viên nói với họ nên cám ơn Sư Phụ từ bi, vì đó thật sự là Sư Phụ đã cứu họ.

Người học viên đi viếng thăm người đàn ông lớn tuổi lần thứ ba, và mang đến loạt bài giảng “Giảng Pháp tại Đại Liên”. Anh ta giải thích rằng Pháp Luân Đại Pháp là để cứu người. Vì họ chứng kiến sự mầu nhiệm của Đại Pháp và cảm thấy được sự từ bi của Sư Phụ, người đàn ông, vợ ông và người con gái lớn của họ đều quyết định tập luyện Pháp Luân Công.

Qua ngày thứ hai, họ bắt đầu nghe băng thâu “Giảng Pháp tại Đại Liên”, mỗi ngày một bài. Sau này, người học viên viếng thăm nhà họ nhiều lần để chỉ cho họ cách tập năm bài công pháp như thế nào.

Vào tháng Giêng 2010, ngay trước năm Tết Nguyên Đán, ông lão đã bỏ ống thông tiểu, tạm biệt chiếc xe lăng và tự bước đi một mình. Mỗi khi vợ ông và con gái ông chuẩn bị tập công, ông đến nơi sớm, chờ họ để bắt đầu. Nghe theo tiếng nhạc, ông cố hết sức để tập công. Ông thậm chí nói rằng ông sẽ giúp đỡ vợ mình làm những công việc nhà sau một vài ngày.

Nghe được rằng tôi sẽ viết xuống câu chuyện của ông, ông ta liên tục nhắc tôi nói cám ơn Sư Phụ đã từ bi cứu ông. Vợ ông và con gái ông cũng rất hãnh diện trở thành các học viên. Họ nói rằng họ sẽ nói với mọi người về Pháp Luân Công, và họ cũng cám ơn Sư phụ.
Bản tiếng Anh: http://www.clearwisdom.net/html/articles/2010/3/14/115331.html
Bản tiếng Hán: http://minghui.org/mh/articles/2010/3/1/219038.html
Đăng ngày 16-03-2010; Bản dịch có thể được hiệu chỉnh trong tương lai để sát hơn với nguyên bản.