Subscribe to RSS feed

Một Bông Hồng Cho Cha

Truyện này tôi đọc khi còn nhỏ xíu. Nhân Ngày của Cha, xin chia sẻ với bạn bè nơi đây, và mong ai cũng có những giây phút bình yên khi nghĩ về cha mẹ yêu thương của mình.

Tác Giả: Võ Hồng




Trong thời hồng hoang của lịch sử, con người chỉ biết có mẹ. Khỏi cần tìm hiểu đâu xa, cứ nhìn các con vật thì biết: gần gủi và hiền lành là con chó, con gà, xa xôi và hung bạo như con beo, con cọp. Sinh ra và lớn lên chỉ biết có mẹ, lúc thúc quanh mẹ. Bởi một lẽ đơn giản: khi biết mình mang thai, con cái thường sống cách ly con đực, thậm chí còn cắn đuổi con đực không cho lại gần.


Con người sau này thì không. Cha săn sóc mẹ khi mẹ mang thai, cha đỡ đần mẹ, cha giúp tay mẹ pha bình sữa, giặt giũ tã lót khi cha mẹ cùng nghèo. Khi cúng đầy tháng, cha châm hương đốt đèn thành kính cầu xin Mụ Bà và tham lam cầu khắp thần linh phù hộ cho con mau ăn, chóng lớn. Có lẽ đó là lần đầu tiên, lần trọng đại nhất trong đời mà cha trọn lòng nghĩ đến những vị thần linh. Vì con mà tin, mà khấn, mà cầu... cho dẫu mang tiếng mê tín cũng xin sẵn sàng vui nhận.


Con lên hai tháng, ba tháng, nằm ngửa huơ tay huơ chân, mở to đôi mắt ngơ ngác, xoay đầu nhìn vu vơ sang trái sang phải. Rồi con biết hé miệng cười, cái cười vô nghĩa nhưng đủ cho cả nhà mừng rỡ reo vui. Rõ ràng là nụ cười của con làm nở những nụ cười xung quanh, làm rạng rở những khuôn mặt, xóa mờ những nếp nhăn nơi trán. Lần lượt biết lật, biết bò... rồi con ngồi vững, rồi vịn tay đứng được, rồi bước những bước rụt rè. Tiếng reo vui, tiếng khuyến khích vang lên rộn ràng đầm ấm, trong đó có lẫn tiếng của cha.


Cha được phân công ngồi bón cho con những muỗng cơm đầu tiên, cha phải la: "Ùi ùi! Coi chừng con chuột kìa. Ăn mau chớ nó ăn hết," rồi thừa lúc con đưa mắt tìm, cha đút nhanh muỗng cơm vô miệng. Hỡi ơi, từ ngày có con, cha trở thành nhảm nhí đáng thương. Con mới mở miệng ngáp, đôi mắt mới khép hờ mà cha đã vội vàng ru, ru cái kiểu nửa ngâm, nửa hát vụng về và chọn những câu nhảm nhí phù hợp với trạng thái tâm hồn của cha lúc đó.


À ơi, con gà cục tác lá chanh...


Có thể cha giỏi nhạc, cha hát hay nhưng cha ngượng không dám nghiêm trang cất giọng sợ người khác nghe biết cha đang tràn trề niềm vui, no nê hạnh phúc. Vả chăng mặt con ngây ngô thế đó thì cha biểu diễn nghệ thuật để làm chi? Cha phải ngây ngô theo, con duỗi chân thì cha nói: "Chà! Bộ định về thăm ngoại hả?" Rờ cái đít nung núc thịt, cha bế chạy vừa nói nựng: "À, con heo ú đây? Ai ra mua!" Quả là những giây phút hân hoan cực độ. Nhưng phải chợt dừng lại. Sợ người khác nghe. Phải che giấu hạnh phúc để tỏ rằng mình không tầm thường. Khi có học, cha thường phải tạo vẻ mặt nghiêm trang. Dưới thời Nho giáo, cha được gọi là nghiêm đường. Hai mươi tuổi đậu cử nhân, đậu tiến sĩ thì phải mang bộ mặt lạnh lùng của một ông quan. Chỉ có người cha quê mùa mới thong dong cõng con bốn, năm tuổi đi chơi nghêu ngao khắp xóm, bứt lá chuối quấn kèn. Lớn lên cha con cùng làm lụng cạnh nhau trên sân lúa, giữa rẫy khoai. Xã hội hôm nay trí thức hơn, văn minh hơn, trong cuộc sống cha một nghề, con một nghề, ai lo phần nấy, rốt cuộc tình thương cha con trở nên lợt lạt. Tình quấn quýt cha con chỉ thể hiện khi con còn nhỏ: quá bậc tiểu học, con bắt đầu lớn, bắt đầu chọn bạn là bắt đầu xa cha. Từ đó cha chỉ đóng vai nguồn cung cấp tiền cho con ăn học, may sắm, nguồn kinh nghiệm khôn dại đưa lời chỉ bảo khuyên răn. Tất cả đều là lý trí lạnh lùng.


Chớ mẹ thì không. Nghĩ đến mẹ là một chuỗi hình ảnh êm ái hiện ra: mẹ mang nặng đẻ đau, vạch vú cho bú, mẹ bồng ru ngủ, mẹ ôm hôn nựng, mẹ tập đứng tập đi. Khỏi cần lý luận, khỏi nhìn đâu xa, cứ nghĩ đến mẹ là như thấy rõ hồi nhỏ mình nằm như thế nào trong vòng tay mẹ, ỉa đái tự do trên mình mẹ và me lo giặt, lo thay, quen thuộc với mùi khai, mùi thúi. Với cha thì phải suy nghĩ mới thấy, bởi mọi sự thương yêu chỉ hiện rõ khi mình còn nhỏ. Bây giờ nếu may mà biết được là nhờ ngẫu nhiên thấy một người cha nào đó đang thương yêu săn sóc đứa con nhỏ của họ.


Tìm trong văn chương thì thường chỉ gặp loại:
Công cha như núi Thái Sơn


Núi này nhất định là phải lớn lắm, và công cha cũng lớn như vậy. Không thấy ghi một nét cảm động về người cha mà chỉ phác qua một hình ảnh uy nghi, nhưng xa cách, gợi sự tôn sùng. Mọi người đều thuộc, đều đọc làu làu, nhưng mà thản nhiên như đọc khẩu hiệu.


Người cha quen thuộc, cha của Mẫn Tử Khiên, thì được vẽ là một người biết làm bổn phận: bổn phận cưới vợ kế khi vợ cả chết và bổn phận đuổi kế thiếp vì Mẫn Tử Khiên bị ngược đãi. Mà cũng ngẫu nhiên mới biết được con khổ khi thấy con mặc áo rách run rẩy đẩy xe cho mình.


Người cha trong cuốn Luân Lý giáo khoa thư dễ thương hơn. Truyện kể: Mẹ đi chợ mua về cho con trái cam. Con nghĩ đến cha làm lụng nắng nôi, liền cầm trái cam chay ra đồng tặng cha. Cha nghĩ đến mẹ đầu tắt mặt tối ở nhà, liền cầm trái cam đem về tặng mẹ. Trái cam đi một vòng, dài và rộng hơn sợi dây tình cả con thương cha, rộng gấp ba lần vì thêm tình mẹ thương con, tình chồng thương vợ.


Cổ văn thường nặng nghĩa lớn, nhẹ tình riêng. Phạm Trọng Yểm, tể tướng đời Tống, sai con là Thuần Nhân chở năm trăm thùng thóc về quê. Ðến Ðan Dương, Nhân gặp Thạch Man Khanh là bạn cũ của cha đang khốn quẫn vì bị ba cái tang dồn dập. Nhân đem tặng hết năm trăm thùng thóc. Lại nghe hai cô gái đến tuổi mà đang ế chồng, liền tặng luôn cái thuyền. Về kể lại chuyện cho cha nghe. Nghe tới chỗ hai cô gái của bạn ế chồng. Phạm liền ngắt lời hỏi: "Sao con không cho luôn cái thuyền?"


Cuộc sống bắt cha hướng mắt ra ngoài đời, nhìn đời, lăn lộn với đời. Mẹ thì nhìn vào trong nhà, nhìn vuông sân chái bếp, con gà con chó, cây ổi, cây xoài và bầy con của mẹ. Cha lặng lẽ đi làm kiếm tiền, con đâu biết bao nhiêu gian lao cực nhọc, lo toan đối phó làm mệt mỏi gân cốt và trí óc cha. Về đến nhà tìm sự yên nghỉ, nhiều khi mang cái bực bội, cái cáu gắt từ ngoài xã hội về theo. Con phải len lén bỏ ra sau nhà, im lặng, càng xa càng tốt, gần như muốn xóa bỏ cái hiện hữu của mỉnh. Sự cách xa giữa cha con thường bắt đầu nhẹ nhàng như vậy. Càng thêm xa cách bởi sao cạnh mẹ con thấy êm đềm. Ai làm ra tiền không cần biết, chỉ muốn nhai viên kẹo, muốn cắn trái ổi là chỉ cần thỏ thẻ với mẹ. Mua cây viết mới, sắm đôi dép mới... thảy thảy mẹ đóng vai bà tiên. Tội thân cha, cạnh bà tiên hiền, cha thành Thiên Lôi; bà tiên càng hiền, cha càng thành La Sát.


Không, cha không muốn vậy. Cha thương con nhưng cuộc sống phân công mỗi người mỗi việc. Mẹ như cọng mảnh, nhánh thấp cành gần để trái non xúm xít bâu quanh. Cha như thân vững chắc, bám rễ thật chặt, hút nhựa nuôi lá, nuôi hoa, nuôi trái. Thân chĩa từng cành lớn đâm ngang, thân vươn những nhánh cao phủ trên đầu che mưa che nắng. Cha cân nhắc lời nói, chỉ nói khi cần, con lờn mẹ thì cha cần phải nghiêm. Mẹ là tình cảm, cha là lý trí, mẹ lạt lòng, cha phải giữ kỷ cương. Mẹ chín bỏ làm mười, cha phải cầm cân nảy mực. Ði vào bước trưởng thành từ mười ba, mười bốn tuổi, con càng ngày càng ngại cha, tránh cha rồi xa cha là vậy.


Nhưng đừng đơn giản bất công, quên cái thời ta lên năm, lên mười, kẻo thành bội bạc. Hãy nhìn những đứa ba tuổi làm nũng với cha. Bắt cha bế chạy nhong nhong. Bắt phải dắt ra cổng đứng nhìn xe cộ. Bắt phải có cha nằm cạnh quạt cho mới ngủ. Lên tám, lên chín thì hay chạy tới nơi cha làm việc để đón cha cùng về. Trên đường đi phải nắm tay cha, thỉnh thoảng nhìn lên mặt cha, dẫu là khuôn mặt tầm thường hay xấu xí.


Tuổi già chiếc bóng, mẹ dễ sống theo con, dâu, rể. Lúc thúc sớm hôm, chăm chút tỉ mỉ, mẹ uốn mình theo nếp sống, mềm mỏng ung dung như nước. Thường cha thì không, cha ít cam khuất phục rể dâu. Chịu sống hắt hiu, thiếu thốn, cố tránh trước cái giả bộ nặng tai của dâu, cái im lặng cố ý của rể. Mẹ biết ý nên khi nhắm mắt vĩnh biệt, mẹ thường thổn thức dặn dò: "Anh ở lại nuôi con. Gắng kiếm một người hiền lành giúp đỡ. Chớ đàn ông không chịu khổ được lâu."


Phải, tuổi càng cao, khổ càng chồng chất, dâu rể không ăn hiếp thì có con muỗi, con kiến ăn hiếp thay. Cứ cắn, cứ chích, nạn nhân nghe đau đâu đập đấy, chớ mắt mờ đâu còn thấy rõ. Nhìn lên bầu trời đâu còn thấy chòm Bắc Ðẩu mà mới ngày nào lững thững dắt con đi trong sân cha chỉ cho con nhìn.


Con nay đang tuổi trung niên, bận theo quyền lực, vui với vợ con, bè bạn, việc báo hiếu cho cha thường tỏ ra bủn xỉn. Nếu có ai trách hững hờ chểnh mảng thì thiếu chi lý lẽ dẫn ra: "Ðược vậy còn đòi gì nữa?... Trời ơi, thì giờ đâu!"


Phải thì giờ đâu? Người xưa hay nhắc phận con kíp lo báo hiếu bởi "tử dục dưỡng nhi thân bất đãi" con muốn nuôi mà cha mẹ không chờ.


Khi con ở tuổi trung niên thì cha vào giai đoạn già yếu. Bề ngoài ngó dẫu phương cương nhưng nội tạng thường rệu rã. Dễ hiểu thôi mà: một đồ vật dùng đã sáu chục năm rồi thì dẫu lạc quan đến đâu cũng chỉ có thể tạm nói: "Cũng còn khá." Cha thỉnh thoảng cảm thấy hơi đau nơi này, chợt nghe có cái nhéo nơi kia. Ðôi hồi bỗng mệt vô cớ. Nhưng cha thường im lặng không nói. Những câu nói không còn cần thiết, êm ái cho con nữa như khi con còn nhỏ. Bây giờ, những câu nói đều quấy rầy con. Ðành âm thầm nghĩ đến câu Vạn vật vô thường.


Sách xưa dạy: "Hôn định thần tỉnh," ta dịch: "Tối viếng sớm thăm," lạt lẽo nghèo nàn nếu không có người giảng cụ thể rằng cha mẹ già thường cần đôi mắt và bàn tay con, trước và sau giấc ngủ. Ðã nằm trong mùng thì lười đứng dậy để khép bớt cánh cửa, để lấy cái mền, để tìm lọ dầu. Ngủ một đêm sáng dậy, trong mình có gì thay đổi, đó là lúc con cần hỏi han mẹ cha mới dám giãi bày.


Gần như mọi người con, cuối cùng đều âm thầm tự trách, lặng lẽ xót xa. Cha biết trước tâm trạng đó, phòng xa ngày nào mình từ trần con mới chợt ân hận muộn màng, nên trong mỗi bức thư gửi con, cha đều kết thúc bằng sự bằng lòng, rằng con đã học hành thành đạt và cha mãn nguyện, cha vui. Lòng vị tha, lòng hy sinh cho con kéo dài mãi sau khi nhắm mắt.


Báo hiếu đâu chỉ món quà, mà có thể đôi tháng gởi một bức thư. Nội dung đâu đòi hỏi cao siêu, chỉ cần mươi dòng lược kể một chuyện đã nghe, một điều vừa thấy. Thì cũng như bè bạn gặp nhau, chào nhau một câu rất nhảm mà vẫn rất cần: "Ði đâu đó? Mạnh giỏi?" Sinh nhật cha, tặng một cành hoa. Nếu ở thành phố xa, hai ba đứa con gởi về hai, ba bức điện chúc mừng, tốn không bao nhiêu mà tạo được sự rộn ràng tới tấp. Niềm vui tinh thần đâu thua bữa tiệc cao lương?


Ngày Vu Lan, nhiều chùa tổ chức lễ hội Bông hồng cài áo. Hoa hồng tượng trưng cho mẹ. Ðể tỏ lòng thương nghĩ đến cha, nhiều nơi buộc thêm dải nơ tượng trưng cho cha. Cha còn: nơ xanh. Cha mất: nơ trắng. Lễ đường xếp thành bốn dãy, dãy cha me song toàn: hoa hồng nơ xanh. Mẹ còn, cha mất: hoa hồng, nơ trắng. Mẹ mất, cha còn: hoa trắng, nơ xanh. Mẹ cha đều mất: hoa trắng, nơ trắng. Người dự lễ đứng theo hoàn cảnh của mình.


Có lần, một em nhỏ tuổi chừng lên tám đứng trong hàng hoa trắng nơ trắng. Em nhìn quanh, tủi thân khóc òa và cả lễ đường cùng khóc òa theo.


Cha cũng như mẹ, rồi một ngày: "Ðỉnh hoa biểu từ khơi bóng hạc" (Cha mẹ mãn phần) nên mỗi người con đều phải vội vàng. Trả hiếu không bao giờ đủ, không được coi là dư bởi tình cha thương con là "cho" chớ không phải "cho vay" để có thể gọi là trả đủ.


PN&HĐ: Mỏ vàng lớn nhất VN và thông điệp của một Bộ trưởng

, ,

Một tuần đã trôi qua với những phát ngôn đáng xếp vào diện bất hủ và những hành động ấn tượng qua lăng kính của nhà báo Trực Ngôn.

"Tôi yên tâm"... nhưng "tôi nhân dân" không yên tâm

Cho đến bây giờ, dự án xây dựng đường sắt cao tốc vẫn chưa làm cho nhiều đại biểu QH tâm phục, khẩu phục. Theo kết quả lấy ý kiến các đại biểu QH về vấn đề này thì chỉ có khoảng 1/3 đại biểu đồng ý hoàn toàn với dự án do Chính phủ đề xuất cho dù Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng tuyên bố chắc như đinh đóng cột gỗ lim: "Tôi yên tâm".

Xin thưa lại với Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng rằng: không ai nghi ngờ quyết tâm của ông trong việc xây dựng đường sắt cao tốc. Nhưng với số tiền đầu tư cho dự án quá khổng lồ và hiệu quả kinh tế của dự án này lại cho đến nay vẫn chưa rõ ràng thì đúng là "tôi yên tâm" mà dân thì không yên tâm tí nào.

Khát vọng về tương lai của đất nước của những nhà lãnh đạo đất nước là vô cùng quan trọng. Nếu những nhà lãnh đạo không có khát vọng thì đất nước làm sao mà "bay" lên được. Nhưng khát vọng phải dựa trên hiện thực mang tính khoa học cao nếu không khát vọng sẽ trở thành ảo vọng.

Để bảo vệ luận thuyết "Tôi không lo", Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng có đề cập đến một số lý do trong đó có 2 lý do được dư luận xã hội liên tục nhắc đến. Nhưng cả 2 lý do này lại làm dân... lo. Có lẽ dân chưa hiểu hết hay chưa hiểu đúng ý của Phó Thủ tướng chăng (?)

Lý do thứ nhất: Phó Thủ tướng khẳng định: "Chúng ta không thể không làm đường sắt cao tốc". Cho đến bây giờ, người dân nghĩ nát óc vẫn chưa tìm ra luận chứng để thấy không thể không làm đường sắt cao tốc. Không thể không làm nghĩa là không có con đường nào khác hoặc không làm là chết. Cũng như người ta thường nói không thể không ăn, không thể không uống, không thể không thở chứ không ai nói không thể không ở nhà 5 tầng.

Nhân dân thực sự muốn được nghe những người có trách nhiệm, đặc biệt là Phó Thủ tướng nói cho dân một cách rành rõ vì sao nước ta không thể không làm đường sắt cao tốc. Và nếu không làm đường sắt cao tốc thì Việt Nam sẽ phải đứng trước những nguy cơ gì?

Lý do thứ hai: Theo báo VNN, Phó Thủ tướng đưa ra lý do "phải làm" đường sắt cao tốc "vì không có nước nào có diện tích dài như Việt Nam". Thưa Phó Thủ tướng, nếu nói như Phó Thủ tướng thì phải hiểu cho đúng là Việt Nam là nước có chiều dài dài nhất so với tất cả các nước trên thế giới. Theo tìm hiểu của tôi thì đây là thông tin hoàn toàn sai. Nhưng chuyện sai này không hề quan trọng một tí nào vì Phó Thủ tướng chứ đâu phải giáo viên dạy địa lý. Điều quan trọng nhất là: cứ cho Việt Nam là một trong những nước có chiều dài dài nhất thế giới đi chăng nữa thì có bắt buộc phải làm đường sắt cao tốc không? Không ít nước có chiều dài hơn Việt Nam nhưng không có đường cao tốc.

Còn một điều nữa người dân không dám khẳng định nhưng cứ thấy mơ hồ mặc dù ai cũng mong cuộc sống của mình sẽ đến ngày như thế. Đó là việc ông dự tính đến năm 2050 thu nhập bình quân đầu người là 20.000 USD/ năm (khoảng gần 1.700 đôla/tháng = 32.300.000 đồng). Theo dự tính của các nhà nghiên cứu xã hội thì 40 năm nữa (năm 2050 ), tỉ lệ nông dân ở nước ta có thể chỉ chiếm khoảng 60 phần trăm. Thu nhập đầu người ở nông thôn Việt Nam hiện nay khoảng 600.000 đồng/tháng (khoảng 30 đô la).

Năm 2050, dự tính thu nhập bình quân đầu người là 1.700 đôla (32.300.000 đồng) đồng/tháng thì cứ cho là nông dân sẽ thu nhập khoảng 700 đôla (13.000.000 đồng). Vậy làm thế nào để những người nông dân tăng thu nhập của họ từ 600.000 đồng lên cứ cho là 13.000.000 đồng khi mà đất canh tác của nông dân mỗi ngày một thu hẹp. Và chúng ta không thấy một dấu hiệu nào khả quan về một cuộc Cách mạng xanh với sự đổi thay phương tiện sản xuất và tư duy sản xuất nông nghiệp. Hay phép tính thu nhập bình quân này chứa đựng bên trong sự chênh lệch giàu nghèo đến khủng khiếp? Ví dụ một bên có tài khoản hàng chục triệu đôla và một bên chỉ có mấy bồ thóc, mươi con gà, mươi con vịt và một hai con lợn?

Xin thưa, đây cũng chỉ là những tư duy đơn giản nhưng chứa đựng sự "không hề yên tâm" của người dân mà thôi. Chúng ta hãy cùng nhau làm cho người dân được thực sự yên tâm. Vì đó chính là sứ mệnh của những người có trách nhiệm với đất nước. Và hơn nữa, với sự tin tưởng vào Chính phủ, cái gì dân chưa hiểu thì dân hỏi cho dù chưa chắc người dân đã được trả lời thấu đáo.

Có một mỏ vàng nhân tạo lớn nhất ở Việt Nam

Ba Vì, một nơi cách đây mươi năm chỉ là chốn "sơn lâm thăm thẳm" trong ký ức của những người Hà Nội. Nhưng đến một ngày, khi người dân thức dậy, họ thấy một thứ ánh sáng chói loà hắt lên từ những mảnh vườn lơ thơ mấy luống rau muống, rau dền, từ những khu đất nhiều đá sỏi với cây dại, từ những ngôi nhà nghèo nàn mà chủ nhân muốn rời bỏ để đến thành phố lập nghiệp làm ăn...

Ánh sáng gì vậy? Cuối cùng người ta phát hiện đó là ánh sáng do vàng lá, vàng miếng... hắt lên. Mỏ vàng lớn chăng? Đúng. Nhưng không phải mỏ vàng thiên nhiên mà mỏ vàng nhân tạo. Đấy chính là giá đất ở Ba Vì.

Ôi, mọi chuyện ở trên đời này đều có thể và chẳng ai lường trước được. Nghe nói có người dân đã bán rẻ như bèo hàng nghìn mét đất trước khi Ba Vì được "vàng hóa" (xin lỗi không phải là hóa vàng) giờ tiếc của quá mà sinh ốm nặng. Lại nghe nói có người đã bán đất trước kia giờ tiếc quá đâm lẩn thẩn. Thế là đêm về lẻn đến mảnh đất xưa của mình bốc trộm mấy cục đất bỏ vào túi mang về nhà giấu kín vì bị ảo giác nên nhìn đất sỏi lại thấy đó là những cục vàng lấp lánh.

Ba Vì sẽ trở thành Trung tâm hành chính quốc gia. Đó có phải là một tin đồn không? Không. Người dân tin đó là một dự án có thật vì Chính phủ, Quốc hội, các chuyên gia, các phương tiện truyền thông đã và đang bàn luận rầm rộ từ lâu nay. Thế nhưng ngày 15/6, Bộ trưởng Xây dựng Nguyễn Hồng Quân khẳng định trước Quốc hội là không có chuyện dời đô lên Ba Vì.

Bộ trưởng Bộ xây dựng tất nhiên là thành viên của Chính phủ mà lại là thành viên vô cùng quan trọng vì phụ trách việc xây dựng đã khẳng định như thế. Không có chuyện đó sao lại bàn luận công khai và bàn luận một cách nghiêm trọng như thế? Vậy đây là cái gì và vì sao lại thế?

Những người dân kém cỏi và ít năng lực như Trực Ngôn đây đang rơi vào một "trận đồ bát quái" của thông tin mà chẳng biết thực hư thế nào. Đã có những đại biểu QH nói vì nhiều cán bộ có đất ở đó nên tạo ra "tin đồn" này để nâng giá đất (phát biểu của ông Phạm Quốc Anh - Chủ tịch Hội Luật gia VN). Than ôi! Chẳng lẽ những người làm ra "tin đồn" kia lại có thể "lừa được" cả Quốc hội à? Có thể qua mặt được người phụ trách toàn bộ việc xây dựng của đất nước à?

Người dân như tôi không dám bàn đến những điều lớn lao hay bàn đến chuyện tâm linh hay phong thủy nếu xây dựng Trung tâm hành chính quốc gia tại đó. Người dân chỉ hoang mang chạy vòng quanh như gà mắc tóc hay như một người loạn thị vì thấy người có trách nhiệm này bảo có, người có trách nhiệm kia bảo không... chẳng biết đâu mà lần.

Rồi lại trục Thăng Long nữa chứ. Có quá nhiều chuyện mà tôi không thể nào kể hết ra đây. Tôi chỉ muốn nói đến một việc thôi. Đó là việc tôi chưa bao giờ nghe nói đến một cái đường rộng mà chúng ta gọi với một thuật ngữ cao siêu là TRỤC lại có thể kết nối vùng (hoặc nền) văn hóa này với vùng (nền) văn hóa khác. Và tôi xin lỗi được nói rằng: tôi sẵn sàng tiếp chuyện những ai có quan niệm về sự kết nối các vùng văn hoá như vậy.

Đấy là tôi chưa nói đến việc "đô thị hóa" một cách sai lệch chính là thuốc độc bảng A giết chết những vùng (nền) văn hóa. Trên thực tế, chúng ta đã và đang giết chết nhiều vùng văn hóa bằng những cuộc "xâm lược" thô bạo của nhiều dự án. Tôi đồng ý với ý kiến của đại biểu QH Vũ Hồng Anh khi ông khẳng định: "Trước nay trên thế giới không nước nào và không ai chỉ bằng một trục đường thẳng mà có thể kết nối văn hóa giữa các vùng miền".

Quan niệm một con đường hay một cái TRỤC lại có chức năng kết nối các vùng văn hóa là một quan niệm hoàn toàn sai lầm và không hiểu một chút gì về bản chất văn hoá. Nếu cứ làm một cái TRỤC mà kết nối được những điều như thế thì có vấn đề gì mà người Việt Nam chưa làm được thì cứ làm một con đường hay một cái TRỤC là xong. Như thế, chúng ta sẽ có TRỤC kết nối Nhà nước với nhân dân, kết nối người giàu có với người nghèo để san sẻ cho nhau, môi trường sạch và môi trường nhiễm độc, kết nối Vedan với dân cư hai bờ sông Thị Vải, kết nối các nước cùng biên giới để hoá giải những bất đồng, kết nối...

Thông điệp của một Bộ trưởng

Trả lời chất vấn của đại biểu Nguyễn Minh Thuyết, Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng khẳng định việc đồng bào đu dây qua sông Pôkô là "một sáng tạo không ai ngờ tới".

Tôi rất tiếc không được trực tiếp nghe câu trả lời này của Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng để xem biểu cảm trên gương mặt của ông khi nói câu này. Bởi với suy nghĩ của tôi và của rất nhiều người dân thì khi nói câu đó gương mặt của Bộ trưởng là một gương mặt dày vò, xót xa. Bởi với vị trí và trách nhiệm của ông, ông không thể nào yên lòng khi để những đứa trẻ tuổi con cháu ông phải đu trên một cái ròng rọc qua sông đi học mà bất cứ lúc nào cái dây kia cũng có thể đứt.

Đây không phải là sự sáng tạo. Đây là sự cùng cực. Chỉ riêng việc người ta chi phí cho việc đào đường lên lấp đường xuống và vô vàn cái vô lý trong xây dựng đã thừa tiền để xây dựng cả trăm chiếc cầu bắc qua sông như sông Pôkô. Nếu việc túm vào dây ròng rọc để "bay" qua sông là "một sáng tạo không ai ngờ tới" thì Việt Nam là một đất nước ngập tràn những sáng tạo không ngờ tới. Đó là sáng tạo leo qua dải phân cách để sang đường, sáng tạo những cái thuyền quái gở để đi trên phố của thủ đô mênh mông nước ngập chỉ sau một cơn mưa , sáng tạo xây những ngôi nhà siêu mỏng, sáng tạo chôn ảnh kỷ niệm, chôn báo chí, chôn cả điện thoại di động của nước người xuống đất trong thời gian là 1000 năm để các hậu duệ của chúng ta kỷ niệm... 2000 năm Thăng Long cho thêm nhiều ý nghĩa.

Nhiều người dân đã phản ứng câu nói này của Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng. Nhưng tôi xin làm luật sư bào chữa cho ông. Bởi tôi tin, một đồng chí bộ trưởng nói câu đó chắc phải có thông điệp sâu sắc. Vậy thông điệp ấy là gì? Tôi xin tạm dịch là: Thưa Quốc hội, việc những đứa trẻ phải đu trên dây qua sông đến trường mà chúng có thể rơi xuống sông bất cứ lúc nào và có thể bị cướp đi tính mạng trong lúc chúng ta đang bàn đến đường sắt cao tốc và trục Thăng Long của 50 năm sau là một câu chuyện đau lòng không ngờ...

Sau khi nghe tôi dịch nội dung bản thông điệp của câu nói ấy, con trai tôi cười khanh khách nói: "Bố dịch khá đấy, 9,5... 9,5 và 9,5". Nhưng trước khi đợi Nhà nước xây chiếc cầu không đáng bao nhiêu tiền nhưng lại vô giá về lòng nhân ái, yêu thương thì báo chí đã kêu gọi các nhà hảo tâm nhanh chóng xây chiếc cầu đó. Bởi cứ thủ tục giấy tờ... v.v... thì những đứa trẻ đu dây kia có lẽ quên mất thói quen đi trên mặt đất và trở thành những Tarzan vùng sông Pôkô.

Những cuộc "di tản" trong bóng tối


Đã có một thời, người dân gọi Sở điện là Sở "điên nặng" (đánh vần tiếng Việt: đờ iên điên nặng điện). Cho dù đấy là cách nói hài hước nhưng cũng cho thấy tình trạng của ngành điện Việt Nam.

Theo sơ đồ của ngành điện thì 20 năm nữa vẫn còn thiếu điện. Một trong những nguyên nhân mà người có trách nhiệm liên quan giải thích là vì chúng ta vẫn dùng thiết bị lạc hậu hao tổn năng lượng và vì người dân vẫn chưa biết tiết kiệm điện.

Có người có trách nhiệm lại đổ tại trời. Chắc là vì trời ít mưa và ông trời không biết điều phối có kế hoạch các cơn mưa của mình chăng. Tôi đã từng ở Pakistan nhiều ngày. Đó là một đất nước khô cằn đến mức người dân ở đó nói có thể đổi mạng người lấy một cái cây xanh. Nhưng người dân ở đó cũng chưa bao giờ rơi vào "thảm kịch" cắt điện như ở Việt Nam.

Những lý do này có tác động đến hao tổn điện nhưng chỉ là một trong những lý do rất phụ mà thôi. Theo một số nhà nghiên cứu thì Việt Nam là nước cắt điện nhiều nhất ở khu vực châu Á. Nó cho thấy năng lực của ngành điện quả có vấn đề gì đó rất "nặng".

Mấy ngày nay, Hà Nội nóng kinh khủng. Cùng với sự tấn công của thiên nhiên là cuộc tấn công "từng phần" nhưng dai dẳng của ngành điện. Nghĩa là điện cứ cắt từng buổi sáng, từng buổi chiều, từng buổi tối và từng đêm ở nơi này và nơi kia. Cùng với cái nóng khủng khiếp đó là lúc những fan hâm mộ bóng đá đang "điên lên" vì World Cup.

Chính vì thế mà những đêm này ở Hà Nội, người ta bắt đầu thấy những cuộc "di tản" trong bóng tối. Đó là cuộc "di tản" từ nhà mình đến các nhà nghỉ. Nhà nghỉ, trong con mắt của những người theo chủ nghĩa đạo đức học chỉ là nơi giành cho những đôi tình nhân và những kẻ ngoại tình. Thế nhưng bây giờ họ thấy xuất hiện cả trẻ con và các ông bà già cũng "âm thầm" đến đó để chạy trốn những cơn nóng đến "nhão óc" và để thoả mãn cơn ghiền bóng đá. Nhiều nhà nghỉ trong khu vực họ cũng mất điện nhưng các nhà nghỉ này đã rút kinh nghiệm từ nhiều năm nay nên đã chuẩn bị máy phát điện chạy dầu, chạy xăng.

Một trong những nguyên nhân cắt điện quá nhiều trong dịp này là người ta làm lại hệ thống điện gì gì đó cho Đại lễ 1000 năm Thăng Long. Lẽ ra, mọi việc "làm mới" cho Hà Nội phải được kết thúc cơ bản vào cuối năm 2009. Chứ bây giờ đã là giữa tháng 6 rồi mà bộ mặt thành phố vẫn chưa đâu vào đâu. Thế là để lấy thành tích người ta sẽ làm vội làm vàng, bôi bôi trát trát, đào bới lung tung, điện đóm mịt mùng. Hơn nữa, những người phụ trách ngành điện thừa biết tháng 6 là tháng World Cup đến nỗi có Bộ trưởng phát biểu ở QH là trả lời ngắn vì để xem khai mạc World Cup cơ mà.

Vậy người dân rất cần điện trong những ngày này. Tôi có người quen ở gần Ba La, Hà Đông nói rằng từ lúc khai mạc World Cup đến giờ gần như không được xem ở nhà mình vì cắt điện mà phải vào nhà nghỉ đèn đỏ đèn xanh ảo mờ để... xem World Cup.

Những người có trách nhiệm ngành điện giải thích việc cắt điện là do ưu tiên phục vụ Đại lễ 1000 năm Thăng Long. Nghe thật lạ lùng phải không các vị. Lẽ ra bây giờ, người dân thủ đô phải được hưởng những gì đó trong cái năm vô cùng đặc biệt mà có lẽ 1000 năm mới có thì họ lại đang phải đương đầu với bao mệt mỏi như đường xá đào lấp, vỉa hè bới tung, điện cắt liên tục, bụi bặm mịt mù...

Người dân sẽ phải chịu đựng cho đến một đêm nào đó chợt thấy trống đánh vang, pháo hoa bắn lên trời... mới biết Đại lễ 1000 năm Thăng Long đã đến. Nhiều người già thở dốc vì nóng tới 40 độC mà không có điện bỗng ao ước: "Giá mà họ để đến 2000 năm làm Đại lễ thì sướng biết bao".

Một văn bản cổ xưa vừa tìm thấy

Với 2.400 chữ của ông Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo với tựa đề "Bốn năm giáo dục qua các con số", năm người bạn tôi đều là giáo viên ở các cấp từ PTTH đến Đại học đều cười và nói: "Bài viết này giống một bản báo cáo thành tích cách đây nhiều năm của ngành giáo dục". Còn tôi, tôi gọi đó là "văn bản cổ xưa vừa tìm thấy trong... máy vi tính".

Những gì ngành giáo dục đã làm thiết nghĩ nhiều người đều biết cả, đặc biệt những người công tác trong ngành giáo dục. Tôi không hiểu ông Thứ trưởng kia viết bài báo này và gửi bài báo này để in lên báo làm gì???

Có quá nhiều vấn đề trong bài báo này cần phải được bàn đến nơi đến chốn. Nhưng tôi chỉ nói qua một hai điều mà thôi. Ông Thứ trưởng viết rằng các vụ việc vi phạm đạo đức nhà giáo đã giảm rõ rệt. Xin thưa ông Thứ trưởng, có thể số lượng giáo viên vi phạm đạo đức bị ngành giáo dục phát hiện ít hơn trước kia. Nhưng mức độ vi phạm đạo đức thì kinh hoàng mà tôi không muốn kê khai những vụ việc ấy ra nữa.

Trong bản báo cáo của một Thứ trưởng về nền giáo dục đang bị xã hội lên tiếng như những hồi chuông báo động gấp mà ông lại nói về mấy em đi thi không bị tai nạn xe máy, xe đạp. Vấn đề đi xe máy, xe đạp có va chạm hay bị tai nạn cho dù có em học sinh đã mất đi mạng sống thì cũng không thuộc về những yếu tố cơ bản của một nền giáo dục mà Nhà nước và nhân dân đang đau đầu tìm cách giải quyết.

Ông viết: "Phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" có sức lan toả mạnh mẽ, đã tạo nên những chuyển biến rõ nét về cảnh quang trường lớp, về môi trường giáo dục nhân văn, về chất lượng dạy và học, về giáo dục kỹ năng sống, về gìn giữ và phát huy truyền thống lịch sử văn hoá dân tộc".

Đoạn báo cáo trên quá cũ, quá sáo mòn mà chúng ta đã phải nghe lâu lắm rồi. Trường học đang ngày càng mất đi bản chất "mái trường thân yêu" của nó và học sinh càng ngày càng trở nên tự do một cách bất cần. Tôi nói những lời lẽ này với ông cho dù nặng nề thế nào thì ông vẫn là Thứ trưởng và tôi vẫn là dân thường. Nhưng chúng ta không còn cách nào là phải nhìn vào sự thật.

Ông đưa cả mấy buổi truyền hình trực tiếp coi như thành tích trong 4 năm qua của ngành giáo dục thì những phụ huynh như tôi không biết nói gì nữa đây. Một trong những hoạt động tốn phí tiền của và nhiều phù phiếm là các buổi truyền hình trực tiếp cho dù không phải là tất cả các buổi truyền hình trực tiếp. Nhưng đối với ngành giáo dục thì có đến triệu buổi truyền hình trực tiếp cũng chẳng có ý nghĩa gì về bản chất của nó.

Quả thực, một trong những hội chứng thời công nghệ hiện đại ở nước ta là "hội chứng truyền hình trực tiếp". Liệu ông có thể bớt một buổi truyền hình trực tiếp để làm một cái cầu tre thôi cho những học sinh thân yêu của ông ở Pôkô không phải đu ròng rọc như "khỉ đu dây" qua sông đi học không?

Ông viết: 61/63 tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS. Tôi cam đoan với ông rằng: ngay cả những nước có nền giáo dục tiên tiến nhất thế giới cũng không dám tuyên bố gần 100% hệ thống giáo dục THCS của họ đạt CHUẨN. Hay ở Việt Nam, CHUẨN của chúng ta khác CHUẨN của họ? Thay mặt bạn đọc, xin ông viết cho một bài có thể là 10 kỳ cũng không sao để nói rõ chúng ta đã đạt CHUẨN như thế nào.

Rồi những hội thảo, những bài báo hay là lượng truy cập của Báo điện tử của ngành giáo dục mà ông đưa ra trong bài viết như thành tích của nền giáo dục quả thật làm các phu huynh buồn quá, thất vọng quá. Nó chẳng nói lên điều gì về bản chất của bất cứ nền giáo dục nào trên thế giới. Đó chỉ là những hoạt động phụ trợ không hẳn cần thiết cho một nền giáo dục yếu kém như nền giáo dục chúng ta. Vì Bộ GD-ĐT không phải là đơn vị tổ chức sự kiện (hội thảo) hay là một tờ báo cần phải tăng lượng hit.

Không, không... tôi sẽ không tiếp tục nói nữa. Bởi nếu nói tiếp tôi sẽ bị rơi vào tình trạng rối loạn bởi những con số trong bài viết của ông. Nếu thấy cần thiết, chúng ta sẽ tổ chức diễn đàn bàn luận về những con số đó. Có không ít các giáo sư danh tiếng và đông đảo những người quan tâm đến nền giáo dục chúng ta sẵn sàng luận bàn về những con số này.

Bất công hay vô cảm

Có một sự kiện đáng lẽ truyền thông phải nói đến rất nhiều thì nó chỉ được thể hiện như một mẩu tin ngắn và đầy vô cảm trên một tờ báo trong nước. Đó là sự kiện một lái xe taxi tìm cách trả lại một chiếc túi của hành khách bỏ quên trên xe của anh có đựng số tiền gần 500 triệu đồng.

Số tiền ấy đối với tôi là quá lớn và đối với một người lái taxi thì là một số tiền khổng lồ. Người lái taxi đó tên là Đoàn Thanh Xuân, 24 tuổi, thuộc Công ty Dịch vận tải Cửu Long Petrol Gas JSC. Người lái taxi có một ngàn linh một cách để giữ số tiền ấy. Nhưng anh đã tự nguyện mang trả lại. Hành động của anh làm lòng tôi run lên vì xúc động trong lúc cái nắng đang đổ xuống với nhiệt độ 40 độ C.

Cái tin đó đưa lên và ngay sau đó nó bị nhấn chìm trong những mối quan tâm sôi sùng sục của xã hội về giá vàng, giá đất, giá chứng khoán, giá căn hộ cao cấp... Cái tin đó giống như một phép thử về nhân cách sống của một xã hội. Một triết gia đã viết: "Một con người chỉ biết săn lùng vật chất để hưởng thụ chẳng khác gì một con vật lùng kiếm thức ăn. Chỉ khi con người kiếm tìm những ý nghĩa nhân văn thì con người mới bắt đầu tách ra khỏi đời sống của hoang thú". Đấy là chân lý.

Chúng ta đã từng chứng kiến hành động nhân văn của bà Tim nuôi chim và ông Ái nhặt đinh, rồi người chèo bè ở Thác Bản Giốc và bây giờ đến anh Xuân trả lại gần 500 triệu đồng. Tôi đã nói nhiều lần và bây giờ nói lại là hàng tuần tôi cùng các đồng nghiệp luôn luôn có ý thức tìm kiếm những hành động nhân cách như của những con người nói trên mà khó như xuống biển tìm chim, lên trời tìm cá vậy.

Nhưng cho dù xã hội có lúc tao loạn, trắng đen lẫn lộn thì những con người sống nhân cách vẫn còn. Nếu không thì thế giới loài người đã bị diệt vong lâu rồi. Nhưng tại sao chủ yếu những người có nhân cách lại là những người ngèo khổ. Lẽ ra những người ngèo khổ thì dễ sinh lòng tham. 500 triệu đồng đối với một người lao động bình thường quả là một số tiền thường là cả đời họ cũng không tích cóp đủ.

Nhưng thực tế dù công khai hay che đậy vẫn cho chúng ta thấy có quá nhiều những kẻ luôn luôn rao giảng về nhân cách nhưng trong lòng lại chứa đựng sự tham lam vô độ. Tiền bao nhiêu cũng không làm lòng họ bớt điên cuồng vì tiền. Họ sẵn sàng vứt đi lợi ích của nhiều người để cho lợi ích cá nhân họ.

Nhưng điều đắng cay và thất vọng hơn cả là những hành động nhân văn bây giờ đã và đang trở thành một thứ phù phiếm trong xã hội mang tên con người.


Theo Tuanvietnam.net

Hồng đậu sinh nam quốc (Tương Tư)



红豆生南国,
是很遥远的事情.
相思算什么,
早无人在意.
醉卧不夜城,
处处霓虹.
酒杯中好一片滥滥风情.
最肯忘却古人诗,
最不屑一顾是相思.
守着爱怕人笑,
还怕人看清.
春又来看红豆开,
竟不见有情人去采,
烟花拥着风流真情不在.

Hồng đậu sinh nam quốc,
Thị ngận diêu viễn đích sự tình.
Tương tư toán thậm yêu,
Tảo vô nhân tại ý.
Túy ngọa bất dạ thành,
Xứ xứ nghê hồng.
Tửu bôi trung hảo nhất phiến lạm lạm phong tình.
Tối khẳng vong khước cổ nhân thi,
Tối bất tiết nhất cố thị tương tư.
Thủ khán ái phạ nhân tiếu,
Hoàn phạ nhân khán thanh.
Xuân hựu lai khán hồng đậu khai,
Cánh bất kiến hữu tình nhân khứ thải,
Yên hoa ủng trước phong lưu chân tình bất tại.

Hồng đậu mọc ở nước Nam,
Là chuyện rất xa xôi
Tương tư tính là gì,
Sớm không người để ý.
Say nằm Bất Dạ thành,
Nơi nơi mờ ánh lung linh sáng.
Rượu trong ly tràn một tấm phong tình.
Rất muốn quên đi thi thơ người cũ,
Rất không muốn quay đầu nhìn lại tương tư.
Nâng niu tình yêu này mà sợ nụ cười của người,
Vẫn sợ người nhìn thấu.
Xuân lại tới, nhìn hồng đậu nở,
Cuối cùng vẫn không thấy kẻ hữu tình đến hái,
Yên hoa ủng trước phong lưu, chân tình bất tại.

----

Hồng đậu sinh trưởng ở miền Nam Trung Quốc, phân bổ nhiều tại các tỉnh như Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam, Vân Nam… hạt của nó nhỏ xinh có thể chế tạo thành đồ trang sức cài lên tóc hay kết thành dây chuyền, vòng tay, hoa tai.

Theo truyền thuyết, Hồng đậu trở thành tín vật của tình yêu bắt nguồn từ câu chuyện tình chung thủy: “Ngày xưa, có đôi vợ chồng vừa lấy nhau thì người chồng phải tòng quân đi chinh chiến chốn sa trường. Người vợ ngày ngày đứng tựa cửa mỏi mắt mong đợi chồng về. Cô càng mòn mỏi đợi chờ thì bóng dáng người chồng càng chẳng thấy đâu. Cứ như vậy, người thiếu phụ chờ đợi và hy vọng trong những giọt nước mắt. Cho đến khi những giọt lệ của cô trở thành những giọt máu nhỏ xuống đất. Từ mảnh đất ấy, cây hồng đậu được sinh ra”.

Hồng đậu được sinh ra từ nỗi khổ tương tư, từ những nhớ thương khôn xiết. Nhưng nỗi nhớ tương tư cũng là dư vị đẹp mà chỉ có những người yêu nhau sâu sắc và chân thành mới có được. Cũng từ đó, Hồng đậu trở thành tín vật tình yêu của người Trung Quốc. Sau này Hồng đậu càng nổi tiếng hơn nữa nhờ bài thơ “Tương tư” của nhà thơ Vương Duy (701 – 761) đời Đường.

Hồng đậu sinh nam quốc
Xuân lai phát kỷ chi
Nguyện quân đa thái biệt
Thử vật tối tương tư.

Hồng đậu ban đầu là để tượng trưng cho sự thương nhớ, tương tư dần dần nó trở thành tín vật của tình yêu. Nhờ hồng đậu người ta gửi gắm tình yêu đến đối phương. Vào mỗi độ xuân về đôi lứa yêu nhau lại dành tặng nhau những hạt hồng đậu để tượng trưng cho tình yêu của mình. Cũng có khi thương nhớ, người ta lại nghĩ đến hồng đậu, lại muốn cùng nhau đi nhặt hồng đậu để nếm thử cảm giác tương tư.

---

Hồng đậu sinh ở Lĩnh Nam - đây là địa phận nước Nam Việt ngày xưa (cũng là nơi Hai Bà Trưng khởi nghĩa), cho nên gọi là Nam quốc.

( Lời dịch từ lamthien.byethost24.com)

My homepage

Đây là nhà của mình. Mọi người nếu có thời gian thì ghé qua xem và cho ý kiến với nha chef
Click vao` đây ne`: VietnamWays ^^



All alone..

(VietnamWays) Bài nhạc mở đầu bằng tiếng guitar và piano rất dịu dàng. Giai điệu thật chậm, thật đều, như từng nhịp bước thầm lặng. Văng vẳng như có tiếng vilon lê lết phía sau, như tăng thêm cái não nề, u ám.

Dường như có một cơn mưa đang chuyển dần, tiếng sấm văng vẳng xa xôi, mơ hồ nhưng chẳng thấy dòng người hối hả, chỉ có nhịp bước đều và chậm rãi. Rồi đến một khoảng lặng, không nghe tiếng bước nữa. Và rồi một giọng nói - giọng nói thì đúng hơn giọng hát - thật trầm, thật chậm cất lên.



'm standing here
Watching the clouds float by

Thoạt nghe thấy hao hao giống giọng Trí Quyền mà mấy năm về trước tối Chủ nhật nào cũng thao thức để nghe chương trình nhạc bất hủ của anh. Giọng nói thật ấm. Và truyền cảm nữa. “Tôi đứng lặng yên nhìn mây bay”. Cảnh chưa hẳn đã buồn. Nhưng giọng đọc thật buồn! Vốn dĩ người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Và con người có chất giọng buồn đó đang đứng lặng. Cách nhập đề hết sức kinh điển. Tôi đứng đây. Và như để giải thích, lặng lẽ thêm vào ngắm mây bay, giữa âm vang tiếng sấm… và suy tư… nhưng không thừa nhận. Tôi chỉ đang ngắm mây bay thôi! Để rồi một khoảng lặng kế tiếp, nỗi niềm dâng lên:

Wondering why the pain never deserted me
The sadness, sorrow, bewilderness that never… left

Dẫu biết rằng “the pain inside is the worst pain”. Ko phải nỗi đau về thể xác. Một kẻ vạn lý độc hành tuy rất muốn tránh, không thích dùng/nghe những chữ như left, away, gone… nhưng không thể trốn chạy, không còn cách diễn đạt nào khác. Phải dùng, nên ngập ngừng, như sau sự cân nhắc cũng buộc lòng phải nhìn nhận.

I'm flying away

Chỉ một khoảng ngắt nhưng chất chứa những suy tư, như có sự đắn đo, lựa chọn cách thể hiện khác. I’m flying vốn là một cảm giác bồng bềnh hư ảo, đầy đam mê phiêu lãng, nhưng chỉ thêm vào away, sự tình đã khác. Không còn là cảm giác lâng lâng, mà là sự trốn chạy, tránh xa. Tránh xa một nơi, một thứ, một người, hay mọi người? Tất cả đều rất dễ dàng. Nhưng trốn chạy đi đâu để tránh xa chính nỗi đau nội tại? Thực tế vốn không thể chối bỏ. Thực tế vốn phải nhìn nhận. Và từng bước chân, từng giai điệu lại tiếp tục chậm rãi buông ra từng lời tâm sự.

Holding hands with myself
Sharing life with myself

Dĩ vãng ngày xưa holding hands. Lời thề mai sau sharing life. Tất cả giờ đây chỉ còn me and myself. Không còn ai khác. Tất cả chỉ với myself. Không còn hơi ấm, không còn những nồng nàn, không còn… tất cả. Tất cả còn lại chỉ là nỗi cô đơn. Gieo gió gặt bão. Gieo loneliness, ngày ngày chăm sóc, để rồi giờ đây, một cánh đồng đang chờ thu hoạch.

Reaping the loneliness I've sown
In these fields I've always grown

Có lẽ đau đớn nhất chính là sự màu mỡ của cánh đồng, của một mùa bội thu những gì đã ươm trồng. Để rồi đắm chìm trong những suy tư, có một linh hồn đang giãy chết trong CÔ ĐƠN!

Digging the blackness from my mind
I will die all…
ALONE!!!

Tiết tấu dồn dập ngay khi tâm tư vừa dứt, sự thừa nhận thực tế cuối cùng cũng phơi bày, như quá sức chịu đựng. Cũng là những giai điệu như nhịp bước đó nhưng dồn dập hơn, mạnh mẽ hơn, ồn ã hơn với tiếng lead réo rắt trên nền trống vang dội thay cho sự lặng lẽ, chậm rãi, một lần nữa như sự trốn chạy, sự bức phá cuối cùng của một tâm hồn túng quẫn. Để rồi kết thúc lại trở về với tiếng guitar nhẹ nhàng. Trốn chạy mãi cũng chẳng được, cũng chồn chân, cũng phải đứng lại, đứng lại mà đối mặt với nỗi bế tắc không thể cởi bỏ.. Alone!

Theo Nhacrockonline

Vị quê giữa phố thị

, ,

(VietnamWays)- Với những người trong độ tuổi từ 50 trở lên, củ khoai lang nướng dễ làm họ liên tưởng tới ngôi làng nho nhỏ, có lũy tre, những mái tranh với một bầy trẻ con bao quanh cái bếp đang âm ỉ cháy, trong đó có những củ khoai tỏa mùi thơm lừng.

Hiện nay, nếu ở Sài Gòn và có một công việc ổn định với đồng lương kha khá, bạn có thể xuống phố mỗi cuối tháng, hoặc mỗi tuần, thậm chí mỗi cuối ngày để giải trí bằng cách mua sắm, ăn uống và tham dự nhiều trò vui từ bình dân đến cao cấp. Thực tế cho thấy, khi đã chán những thứ cao cấp, người ta thường tìm về những gì mộc mạc, dân dã. Trong ẩm thực cũng vậy và khoai lang đang lên ngôi ở Sài Gòn.

Bạn có bao giờ bạn thưởng thức món khoai lang lùi tro chưa nhỉ? Lần cuối cùng bạn được ăn một củ khoai lang nướng hay lùi tro là khi nào? Nếu bạn đang sống ở nước ngoài thì hẳn là lâu lắm rồi. Có khi đã vài mươi năm và nhắc lại món ăn này khác gì khơi gợi lại hoài niệm về quá khứ.

Về Sài Gòn bạn sẽ thấy những món ăn vặt quen thuộc như: bắp nướng xối mỡ hành, bắp xào tôm khô, khoai mì luộc, khoai lang luộc, khoai lang nướng... đang đầy dẫy ở trung tâm thành phố .

Ảnh: panoramio.com

Với những người trong độ tuổi từ 50 trở lên, củ khoai lang nướng dễ làm họ liên tưởng tới ngôi làng nho nhỏ, có lũy tre, những mái tranh với một bầy trẻ con bao quanh cái bếp đang âm ỉ cháy, trong đó có những củ khoai tỏa mùi thơm lừng. Khi những củ khoai đã chín, có những bàn tay vội vã phủi tro, bẻ nhỏ củ khoai, những cái miệng chút xíu ngốn ngấu cắn nhai bất kể tro than bám đầy miệng...

Ngày nay, khó mà có thể thấy lại những hình ảnh đó. Cho nên lúc nhìn và ngửi mùi khoai lang nướng tỏa ra trên mấy chiếc xe ba gác cọc cạch, tôi thấy chúng thật thú vị, những chiếc xe đó dường như không chỉ chở khoai lang, mà còn chở cả ký ức về tuổi thơ của nhiều thế hệ người Việt. Đó có phải là một trong những lý do khiến khoai lang nướng càng ngày càng đắt khách?

Nhân dạng người đẩy xe ba gác đi bán khoai lang nướng đi bán thường khác hẳn với những thị dân quanh họ. Tôi nhận ra rằng họ thường có một nét chung: ngoài làn da đen sạm khói bụi thành phố, chất nông dân ở họ vẫn còn đậm đà. Cái nón lá trên đầu, bộ áo quần giản dị và nhất là ở giọng cũng như cách nói. Chúng toát ra chất hồn hậu như những củ khoai của họ.

Phương tiện hành nghề khoai lương nướng rất đơn giản. Một chiếc xe ba gác hoặc một chiếc xe ba bánh đẩy tay, một ngọn đèn nê ông thắp bằng bình ắc qui, một cái cân, một bao than nhỏ, một lò than nóng, đống khoai lang được chất trong thùng xe và quan trọng nhất là một đôi chân dẻo dai để có thể đi suốt 5, 6 giờ qua nhiều đường phố. Họ lấy khoai từ những vựa ở Hóc Môn. Chúng được chở từ Đà Lạt về. Khoai lang trồng ở Đà Lạt được chuộng hơn cả vì nhiều bột và vị ngọt thanh. Ngoài khoai lang là món chính, đôi khi người ta còn bán thêm bắp nướng xối mỡ hành.

Cứ khoảng sau 4 giờ chiều, những chiếc xe bán khoai nướng trên các con đường như Trần Quốc Thảo, Nguyễn Thị Minh Khai, Lý Tự Trọng... luôn đông nghẹt người mua. Đông khách chờ nên người bán luôn tay dùng kẹp trở khoai mà hiếm khi kịp.

Khoai lang nướng hình như là món ăn dành cho khoảng thời gian từ chiều tới tối, buổi sáng, không thấy ai đẩy xe đi bán khoai lang nướng. Ăn khoai lang nướng ngon nhất là lúc vừa nướng xong, khoai còn đang nóng. Khi nhận củ khoai từ người bán, người ta cầm lấy, rồi vội vàng thảy từ tay này, qua tay kia cho đỡ nóng, vừa phủi tro, vừa xuýt xoa lột vỏ, rón rén bỏ từng chút một vào miệng. Nếu có tình nhân thì còn thêm màn người này lau mép cho người kia vì chút tro than bám trên khóe miệng.

Món khoai lang nướng chỉ mới xuất hiện ở Sài Gòn chừng vài năm nay. Chị Lan - một trong những người đầu tiên bán khoai lang nướng cho biết quê chị ở Trà Vinh, lên thành phố để bán khoai lang nướng. Ban đầu chị chỉ dám bán món ăn “nhà quê” này trong các con hẻm, dần dà xe khoai tiến dần vào trung tâm Sài Gòn. Mỗi ngày chị bán khoảng 50 ký khoai. Cùng hoàn cảnh với giới buôn gánh, bán bưng, chị luôn lo sẽ bị các ông cảnh sát và thanh niên xung phong đi dọn dẹp lòng, lề đường. Củ khoai lang về phố cũng trôi nổi như nàng Kiều thuở xưa, phải xem “đời nhẹ như củ khoai lang” mới mong có cơ may tồn tại ở chốn thị thành.

Anh Lam - một người đàn ông xấp xỉ năm mươi tuổi, vừa sắp khoai lên vỉ vừa nói: Nếu tui biết dân Sài Gòn mê món này thì tui đã nghỉ trồng khoai lang từ lâu để đi mua khoai đem lên đây bán từ lâu rồi. Trồng cấy cực nhọc, mà dưới quê ít nhìn thấy ai ăn khoai ngon lành như người ở đây. Mỗi ngày, tui bán được vài chục ký, vào mùa mưa, trời lạnh, khách ăn nhiều lắm.

Giá một củ khoai chỉ từ 2.000 đến 5.000, tùy lớn hay nhỏ, nên bất kỳ ai cũng có thể mua mà không cần băn khoăn về tiền, mỗi ký khoai thường từ 7.000 đến 8.000. Nhiều người dừng xe mua một bọc lớn để cả nhà cùng nhấm nháp thay cho món bắp rang trộn bơ, vừa xa xỉ, vừa nhiều chất béo, không tốt cho sức khỏe. Một ông khách cho biết: Ăn mãi các thứ thịt thà, dầu mỡ rồi cũng ngán, khi ăn trở lại món ăn đầy “bản sắc dân tộc” này, tôi thấy thật ngon. Nó bình dân nhưng cứ nghĩ đến lại thèm có ngay một củ. Cũng là miếng ăn thôi nhưng có khi nó làm cho lòng mình nhẹ nhõm, mộc mạc lạ thường.


Ảnh: wondertourism.com

Khoai lang là loại nông sản tầm thường, được trồng rất nhiều tại các vùng nông thôn. Trong những năm đói kém vì mất mùa, người ta thường dùng khoai lang để ăn độn hay thay hẳn cơm gạo. Vì khoai lang dễ trồng, không tốn nhiều công chăm bón nên không được xếp vào loại lương thực quí. Ngoài việc dùng làm thực phẩm, người ta còn lấy khoai lang chữa bệnh, có người đã gọi nó là “sâm nam”. Theo Đông y, khoai lang có nhiều tên như: cam thử, phiên chử. Muốn chống béo phì, người ta có thể luộc củ và lá rau lang để ăn, hoặc độn chung với cơm, cháo. Khoai lang tính bình, vị ngọt, có tác dụng bồi bổ cơ thể, ích khí, cường thận, kiện vị, tiêu viêm, thanh can, lợi mật, sáng mắt. Nó còn được dùng để chữa vàng da, ung nhọt, viêm tuyến vú, kinh nguyệt không đều, nam giới di tinh, trẻ em cam tích, kiết lỵ. Chưa kể, củ và lá khoai lang còn được kết hợp với các vị thuốc khác để chữa nhiều căn bệnh như: say tàu xe, thấp khớp, vọp bẻ,... Tuy nhiên trong khoai lang có chất đường, ăn nhiều khi đói sẽ bị nóng ruột, ợ chua.

Khoai lang bị sâu, bị hà ăn thì gọi là khoai sùng. Nhà thơ Trang Thế Hy (còn ký là Minh Phẩm) có bài thơ “Quán Bên Đường”, nhắc đến món khoai lang sùng này, sau được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc. Bài thơ kể lại câu chuyện tình của hai đứa bé quê, nhà nghèo, thường chia nhau củ khoai sùng lượm mót. Lớn lên cuộc đời đưa đẩy mỗi người một ngả, thằng bé trở thành nhà văn kiếm sống bằng nghề viết mướn, cô bé thành gái làng chơi. Tình cờ họ gặp lại nhau trong một buổi chiều mưa, ăn miếng bánh ngọt mà nhớ lại củ khoai sùng lượm mót.

Theo viendongdaily.com