VŨ ĐẠI DƯƠNG

Ngày đầu tiên viết blog 29/3/2009

Subscribe to RSS feed

Gioan Bosco (1815 - 1888)


Gioan Bosco hay còn gọi là Thánh Don Bosco(tên đầy đủ là Giovanni Melchiorre Bosco) sinh ngày 15 tháng 8 năm 1815, tại phía Bắc nước Ý. Cha của Don Bosco là ông Phanxicô Bosco sớm qua đời lúc người chỉ mới hai tuổi nên trong suốt thời niên thiếu, người sống trong cảnh khó khăn, nghèo túng. Ngay từ những năm tháng đầu đời Don Bosco đã nhận ra tiếng gọi của Chúa và người mong muốn được đi học để tương lai trở thành một linh mục, nhưng con đường người chọn đã gặp rất nhiều gian nan, trắc trở. Anh trai của Gioan Bosco tên là Giuse, là người rất ủng hộ con đường của em nhưng cũng không giúp ích được nhiều vì cũng còn quá nhỏ. Anthony là anh cả cùng cha khác mẹ, lớn hơn Gioan Bosco những mười tuổi, nhưng anh ta lại tìm bất kỳ mọi cách để chống đối việc Gioan Bosco đi học.

Một hôm nọ có vị linh mục về hưu già đã gặp và trò chuyện với Gioan Bosco khi cậu đang trên đường từ một ngôi làng về nhà mẹ của mình là bà Margaret. Ðó là cha Colosso, cha rất kinh ngạc vì trí nhớ tốt sắc bén của cậu bé Gioan Bosco. Cha tự xin làm thầy dạy kèm riêng tư cho Gioan Bosco. Mọi sự vừa mới dần trở nên êm đẹp được một thời gian thì cha Colosso qua đời. Với tuổi đời mới được mười hai, Gioan Bosco đã phải sống và làm việc tại một nông trường ở trong một ngôi làng gần đó. Khi lên 15 tuổi, Gioan Bosco đến thành phố Chieri, ở đây cậu đã được đến trường học. Sau giờ học cậu bé đã làm mọi công việc mà cậu ta có thể tìm được, cậu đã học một số nghề buôn bán như: nghề may, thợ mộc, thợ rèn, người hầu bàn - bất cứ điều gì để có thể kiếm được một số tiền nho nhỏ để mua đồ ăn hoặc quần áo. Vào năm 1835, cậu bé Gioan Bosco đã được gia nhập vào đại chủng viện Torino và 6 năm sau đó (1841) được thụ phong linh mục.

Công việc của cha Bosco Don dành cho giới trẻ bắt đầu vào ngày 8 tháng 12 năm 1841. Trong lúc cha Bosco đang đi vào nhà thờ để chuẩn bị dâng Thánh Lễ thì nghe thấy tiếng ồn ào nơi phòng áo. Ở đó cha thấy người trông coi phòng áo đang đánh liên tục một cậu con trai nghèo với một cây roi, cha Bosco đã lập tức ngăn chặn và đuổi ông ta ra khỏi nhà thờ. Tên của cậu bé bị đánh đập ấy là Garelli Bartholomew, một trẻ mồ côi 16 tuổi làm nghề gạch ngói. Ba ngày sau, Bartholomew rủ theo tám người bạn của cậu ấy đến với cha Bosco. Chỉ một việc đơn giản của cha Bosco như thế đã bắt đầu công cuộc giúp đỡ cho em vô gia cư, vô nghề nghiệp, mồ côi...

Vạn sự khởi đầu bao giờ cũng gặp lắm khó khăn cực nhọc, cha Bosco và những cậu thanh thiếu niên của cha đã phải đi lang thang trên đường phố để tìm một chỗ thứ nhất là để dạy giáo lý, để dâng lễ, giải tội, đồng thời là nơi để cho các cậu bé chơi đùa. Công việc của cha đã bị các tu sĩ khác và một số chức trách an ninh tại địa phương hiểu nhầm, họ đã nhìn công việc của cha với cặp mắt hoài nghi. Ðã có những lần cha bị những người khác nói xấu và thậm chí cả lăng mạ, xỉ nhục người. Nhưng giấc mơ của cha Bosco và lòng tin vững chắc của người không bao giờ ngừng nghỉ. Người đã nhận được nhiều khuyến khích từ cha Borel John, vị ân nhân đã giúp đỡ nhiều trong công việc của cha Bosco, đồng thời cha cũng nhận được nhiều khuyến khích nâng đỡ từ cha Cafasso Joseph, người bạn và là người cha tinh thần của cha Bosco. Giấc mơ mà cha Bosco có khi lên 9 tuổi: trong giấc mơ ấy một phu nhân đẹp đã bày cho cậu bé Bosco biết dùng yêu thương như một phương tiện để đến với giới trẻ, giấc mơ này thường quay trở lại với cha Bosco để người cảm thấy vững tâm hơn.

Ngôi trường học được cha Bosco thành lập đầu tiên cho giới trẻ là một túp lều lụp sụp tại Valdocco, một khu phố ổ chuột tại Turin. Ngày nay ở đó có một cung điện khá đồ sộ kính Ðức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu, một trung tâm cho giới trẻ, một trường học và một ngôi biệt thự là nhà xuất bản báo chí. Giấc mộng của Don Bosco đã thành sự thật. Những người cười nhạo người trước kia giờ đây nhìn cha Bosco với sự hâm mộ cao độ. Tên "Don Bosco" đã trở nên nổi tiếng khắp nước Ý. Số em lang thang, không nhà mỗi lúc một tăng khiến cha rất vất vả để lo cho các em. Công việc càng lúc càng nhiều, cha bị sưng phổi nặng nhưng như một phép lạ bệnh đã tự lành mà không cần bác sĩ mà chỉ qua sự chăm sóc của mẹ của cha. Cha chủ trương giáo dục các em thiếu nhi, luôn khích lệ, thúc giục các em siêng năng cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích. Ngày 25/11/1856 mẹ của cha Bosco qua đời để lại nhiều sự nuối tiếc cho cha cũng như những thanh thiếu niên trong gia đình của cha.

Theo lời khuyên của Ðức Giáo Hoàng Pius thứ 9, cha Don Bosco đã viết lên Hiến Chương thành lập dòng của người, và ngày 18 tháng 12 năm 1859, mười tám thanh niên mà xưa từng là những chú bé được cha Bosco coi sóc đã trở nên những thành viên đầu tiên của Hội Dòng Salesian. Cha Don Bosco gọi họ là "gia đình Salesian" theo tên của thánh Francis de Sales, là một vị thánh và cũng là giám mục của Geneva lúc bấy giờ, nguời đã làm cha Bosco say mê sùng mộ vì lòng tốt và nhiệt thành sùng đạo của người.

Trong năm 1872, cha Gioan Bosco cùng với nữ tu Mary Mazzarello sáng lập Dòng Salesian nữ mang danh Những Người Con Của Ðức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu. Trong năm 1876, cha Bosco thành lập và phát triển một hiệp hội cho các tín hữu có nhiệt tâm chia sẻ và quan tâm đến giới trẻ. Ðây là những người độc thân, lập gia đình, hoặc giáo sĩ liên kết với các thành viên Salesian để làm việc với và cho giới trẻ.

Cha Don Bosco sống trọn 72 năm đầy những cố gắng, khó khăn cực nhọc dành cho Thiên Chúa và cho giới trẻ. Thậm chí trong những ngày cuối cùng của người, cho dù mắt đã yếu gần như mù, đầu cúi thấp với dáng vẻ mệt nhọc, khó khăn trong việc đi lại, cha vẫn đã giữ được liên hệ với tất cả các thành viên Salesians của cha. Cha đã hết mực lo lắng, khuyên nhủ, và động viên họ.

Ngày 31 tháng Giêng năm 1888, cha Bosco giã từ cuộc đời về với Chúa. Lời trăn trối cuối cùng của cha là đã thể hiện tất cả cho cuôc đời của cha: "Hãy nói với những giới trẻ của ta rằng: Ta sẽ đợi chờ chúng trên Thiên Ðàng!".

Lễ Chúa Nhật Phục Sinh năm 1934, người đã được Ðức Giáo Hoàng Pius XI phong lên làm một vị thánh trong Giáo Hội. Sơ Mary Mazzarello được phong thánh do Ðức Giáo Hoàng Pius XII.

Theo chân cha thánh Don Bosco là một đội ngũ những thành viên Salesians, các linh mục, các sơ, các thầy, và những người Salesian đã và đang hiến dâng cuộc sống của mình cho việc phụng sự Chúa Kitô như những người bạn, những vị linh mục và những nhà giáo dục cho giới trẻ. Hôm nay những thành viên Salesians đang phục vụ giới trẻ trên 108 quốc gia. Riêng Dòng Salesian Don Bosco đã hiện diện tại Việt-nam từ năm 1952 cho đến nay.

sưu tầm từ internet, vinhanonline.com

Ueshiba Morihei (1883-1969)

Tổ sư Ueshiba Morihei sinh ngày 14/12/1883 tại một thành phố nhỏ tên Tanabe (1) gần Osaka. Tổ sư đại hoàn nguyên vào ngày 26/04/1969. Khi đó Hombu dojo là một toà nhà ba tầng lớn và môn Aikido được hàng trăm ngàn người theo học ở khắp năm châu.

Từ một cậu bé gầy còm bệnh hoạn
Tổ sư Ueshiba Morihei sinh ngày 14/12/1883 tại một thành phố nhỏ tên Tanabe (1) gần Osaka. Ông là con trai thứ tư của một tiểu điền chủ tên Ueshiba Yoroku, với một sản nghiệp gần 20 sào đất. Cụ Ueshiba Yoroku có chân trong hội đồng thị chính, đồng thời cũng là một nhân vật có tên tuổi trong thành phố Tanabe.

Thuở thiếu thời, Tổ sư Ueshiba Morihei là một cậu bé thể chất yếu đuối, hay bệnh hoạn và dễ xúc cảm. Năm 7 tuổi, cậu học chữ với một vị sư Phật giáo tên Fujumoto Mitsujo. Vào giai đoạn này thường có những chuyện hoang đường được lưu hành trong vùng Kumano. Những câu chuyện này do Kobodaishi từ Trung Quốc về thuật lại và chúng gây ấn tượng sâu sắc vào tâm trí của cậu Morihei khiến cậu miên man trong những mộng tưởng vô tận. Cha cậu rất lo lắng vì khuynh hướng mơ mộng của cậu bé, và cũng để tăng cường thể lực cho cậu nên bắt Ueshiba Morihei tập sumo (2) và bơi lội. Trong những năm đầu tiên học tiểu học, cậu Morihei còn nhận được ảnh hưởng đào tạo của thầy giáo mình là Nasu Tasaburo, trên cả hai phương diện thể xác và tinh thần. Vị này về sau trở thành một nhân vật quan trọng trong lĩnh vực tôn giáo.

Năm lên 13 tuổi cậu vào trường trung học Tanabe nhưng chỉ lưu lại ở đó một năm vì sở thích của cậu là học soroban (3). Ueshiba Morihei có năng khiếu đặc biệt trong môn này và chỉ không đầy một năm sau, cậu tiến bộ đến mức trở thành phụ tá giảng viên. Sau đó cậu vào làm cho nhân viên sở thuế Tanabe. Tại đó, cậu phụ trách về thuế điền thổ. Trong lúc làm công việc thu thuế cậu cũng lưu tâm đến các vấn đề của nông dân và ngư dân và cảm thấy bất bình vì những điều kiện làm việc của họ. Cậu tham gia vào những cuộc biểu tình đòi cải tổ, thay đổi một sắc luật mới về ngư nghiệp. Sau những đàn áp gắt gao, cậu xin từ nhiệm và lên thủ đô Tokyo. Thoạt tiên, cậu làm một chân chạy việc trong một cửa hiệu bán sỉ. Vào mùa xuân 1902, Ueshiba thuê một gian hàng tại Asakusa dưới bảng hiệu Ueshiba Shokai (4) để bán văn phòng phẩm cho các học sinh, sinh viên, trong khu vực.

Vào thời điểm này, sự lưu tâm của Ueshiba đối với võ đạo ngày càng tăng. Sau giờ đóng cửa tiệm, chàng chú tâm nghiên cứu các kỹ thuật xưa của Jujutsu, đặc biệt là kỹ thuật môn phái Kyto với võ sư Tozawa; đồng thời chàng cũng tập Kenjutsu (5) tại một đạo đường của phái Shinkage (6). Sau ít tháng, Ueshiba Morihei bị bệnh phù thủng và phải trở lại Tanabe, nơi làng quê của chàng. Tại đó, Ueshiba Morihei kết duyên với một cô bạn thời niên thiếu là Itokawa Hatsu.

Từ lúc trở về quê, Ueshiba Morihei thề quyết tạo cho mình một thân hình cường tráng, lực lưỡng. Chàng khổ công theo đuổi một chương trình huấn luyện khắc nghiệt và tiệm tiến, dựa trên điều kiện sức khoẻ và lực cơ bắp. Lúc hai mươi tuổi, dù có một chiều cao nhỏ bé (1m54), Morihei có một sức mạnh trên người bình thường rất nhiều. Nhưng sức mạnh thể xác thuần tuý vẫn không làm chàng thoả mãn, do đó chàng đến Sakai (7) để học hỏi kiếm thuật của môn phái Yagyu (8) với thầy Nakai.

Năm 1903, tình hình giữa Nga và Nhật trở nên căng thẳng, Ueshiba đăng ký vào trung đoàn bộ binh 61 đồn trú tại Osaka. Chẳng bao lâu, chàng trở thành vô địch trong tất cả các môn luyện tập và đặc biệt là môn Ju ken jutsu (9).

Trung đoàn của Ueshiba Morihei được gởi đến mặt trận Mãn Châu. Tại đó, tác phong gương mẫu của chàng khiến cấp trên lưu ý và chàng được thăng cấp trung sĩ. Khả năng chiến đấu của chàng kỳ diệu đến nỗi các chiến hữu đặt cho chàng biệt danh là “Heitai no kami sama” (10). Lúc chàng được giải ngũ, vị chỉ huy của chàng khuyên chàng vào trường huấn luyện sĩ quan để theo nghiệp binh. Ueshiba Morihei từ chối đề nghị này và về quê nhà để lo việc đồng áng. Trong suốt bốn năm chiến tranh, chàng không ngừng tập luyện võ thuật và vẫn tiếp tục liên lạc với võ sư Nakai, thuộc môn phái Yagyu. Sau đó chàng nhận được bằng của môn phái vào năm 1908.

Trong thời gian này, Ueshiba Morihei tràn đầy sinh lực và chú tâm đến các vấn đề chính trị, xã hội trong vùng. Chàng thiết lập một cơ sở tương tự như một câu lạc bộ sinh hoạt thanh niên. Tại đây chàng thiết lập một võ đường để tập luyện Judo với một võ sư tam đẳng vừa mới đến cư ngụ trong thành phố. Vị này, tên Kiyoichi Takagi, sau này trở thành cửu đẳng huyền đai nhu đạo.

Trở thành Vua “Shirataki”
Năm 1910, chính phủ Nhật muốn khai thác và di dân đến vùng Hokkaido nên kêu gọi những người tình nguyện đi di dân lập nghiệp, Tổ sư Ueshiba Morihei nhận thấy chương trình đó bổ ích nên tập họp một nhóm 80 người để lên đường như những kẻ tiên phong. Sau một cuộc hành trình dài hai tháng, họ đến Hokkaido và hạ trại tại một nơi mà sau này trở thành ngôi làng Shirataki. Sau hai năm khai hoang và lao động vất vả, và họ bắt đầu gặt hái thành quả và quyết định định cư tại đó. Tổ sư Ueshiba Morihei là một người rất dồi dào sáng kiến: ông nghĩ ra việc trồng cây bạc hà, thiết lập một cơ sở khai thác lâm nghiệp. Ông cũng đầu tư vào việc chăn nuôi bò, ngựa và dựng lên tổ hợp chế biến sữa. Với sự thúc đẩy của ông người ta đã dựng lên một trung tâm thương mại, một ngôi trường và một bệnh xá. Ông cũng đã đóng góp vào việc mở mang ngôi chùa Shirataki.

Tháng 2/1925, trong chuyến du hành đến Engaru, ông gặp vị đại sư của môn phái Daito tên Takeda Sokaku tại khách sạn Kubota. Đại sư Takeda nhận ra ngay ở chàng thanh niên này một nhân cách phi phàm và ông quyết định truyền thụ lại tất cả các bí quyết của môn phái Daito Ryu (11). Dù thoạt tiên chỉ ghé qua đây, Tổ sư Ueshiba Morihei quyết định kéo dài thời gian và lưu lại một tháng để luyện tập với vị thầy mới của mình.

Sau khi trở lại Shirataki, người mở một đạo đường và mời thầy Takeda đến dạy. Người xây cả một ngôi nhà cho thầy mình và chu cấp mọi nhu cầu cho ông ta. Khi nhận được văn bằng đặc biệt của trường phái Daito Ryu thì Tổ sư đã chỉ học với đại sư Takeda vỏn vẹn có một trăm ngày. Thời gian còn lại dành cho việc luyện tập cá nhân.

Tháng 6/1918, người ta đề nghị ngài ra ứng cử vào Hội đồng thành phố và ngài đắc cử chức uỷ viên. Cũng vào dạo đó, do sáng kiến của ngài, người ta bắt đầu xây dựng đường xe lửa Hokkaido.

Tháng 11/1919, ngài nhận được tin xấu về tình trạng sức khoẻ của thân phụ. Rất xúc động, ngài quyết định bỏ lại tất cả của cải và cùng với gia đình trở về Tanabe.

Trên đường về, ngài nghe đồn tại vùng Ayabe có một vị đại sư có nhiều quyền lực tinh thần tên là Deguchi Onisaburo, Tổ sư Ueshiba Morihei quyết định tạt lại thăm đại sư Deguchi để xin ông ta cầu an cho thân phụ mình. Người cảm thấy cần phải có cuộc gặp gỡ này trong lúc đang trải qua thử thách, vì nhận thức rằng dù mình võ nghệ và khí lực tuyệt luân nhưng sức mạnh tinh thần thì vẫn mơ hồ và yếu đuối và dễ bị chao đảo khi gặp một thử thách tâm lý.

Thân phụ của người mất ngày 2/1/1920 và người chỉ về đến nhà ở Tanabe hai ngày sau đó.

Cái chết của thân phụ làm Tổ sư Ueshiba Morihei rất phiền não, ngài trải qua nhiều tháng trầm tư và quyết định đến cư ngụ tại Ayabe trong ngôi đền của giáo phái Omotokyo để học hỏi với sự hướng dẫn của ngài Deguchi Onisaburo.

Omotokyo là một giáo phái thuộc Thần đạo được bà Deguchi Nao sáng lập. Sau khi tiếp nhận được những mặc khải thần linh, giáo phái đã phát triển mạnh khi người rể của bà là Ueda Kitasabuno (sau đổi tên thành Deguchi Onisaburo) trở thành vị thủ lĩnh. Đối với Omotokyo, theo như lời nhận định của giáo sư Jean Herbert thì “Thượng đế là tinh thần thấm nhuần toàn cõi vũ trụ và con người là người quản gia cai trị trời đất. Một khi con người đã hợp nhất được với Thượng đế thì nó có được một quyền năng vô tận. Con người là đền thờ của Thượng đế và Thượng đế cũng là thành luỹ của con người. Con người và Thượng đế liên lập với nhau”.

Omotokyo truyền cho các tín đồ của mình tuân theo ba giới luật để có thể đến gần Thượng đế:
1. Hãy quan sát các hiện tượng thực của thiên nhiên và bạn sẽ suy nghiệm được bản thể của chân Thượng Đế.
2. Hãy quan sát sự tuần hoàn tuyệt hảo của vũ trụ và bạn sẽ suy nghiệm được năng lực của chân Thượng Đế.
3. Bạn hãy quan sát tâm trí của các sinh vật để nhận thức được linh hồn của chân Thượng Đế.

Phù Tang đệ nhất kiếm

Deguchi Onisaburo bị chính quyền nghi ngờ và đã nhiều lần bị tống ngục vì nhiều lý do, trong đó có lý do phạm thượng đối với Thiên Hoàng và vi phạm luật báo chí. Dù vậy, ông đã hoạt động một cách hăng say trong lĩnh vực xã hội cho những người già yếu, mồ côi, khốn cùng cũng như trong lĩnh vực chữ viết. Là một người chủ trương hoà bình, ông thành lập hiệp hội bảo vệ tình thương và tình huynh đệ thế giới vào năm 1925. Ông liên lạc với nhiều tôn giáo trên thế giới và góp phần sáng lập liên đoàn các tôn giáo thế giới.

Ngày 13/2/1924, mặc dù vẫn còn bị chỉ định cư trú do tội khi quân, ông đã lặng lẽ rời nước Nhật để qua Mông Cổ cùng với một số đệ tử, trong đó có Tổ sư Ueshiba Morihei. Họ nuôi mộng xây dựng một vương quốc của hoà bình tại Mông Cổ - nơi các đội quân của Trung Quốc và Nhật đang đánh nhau - bằng cách tạo ra một sự liên minh giữa hai phe đang xâm chiếm và dựa vào thế lực của các tôn giáo mới.


Họ thất bại trong sự cố gắng của mình và bị người Trung Quốc bắt giam. Sau nhiều tháng tù đày và hơn một lần thoát chết trong gang tấc, họ bị giải giao về cho chính quyền Nhật. Khi được đưa về Nhật Bản, một đám đông vĩ đại đã đến hoan nghênh khi họ đặt chân lên cảng Moji vào cuối tháng 6/1925.

Trở lại Ayabe, Tổ sư Ueshiba Morihei càng nỗ lực nhiều hơn trong việc nghiên cứu về võ đạo và sống một cuộc sống khắc khổ. Chính vào thời điểm này, người tiếp một sĩ quan hải quân vốn là một võ sư Kendo (kiếm đạo) đến thăm, vì được nghe danh của ngài. Trong câu chuyện trao đổi, do bất đồng ý kiến về một số điểm, vị khách đề nghị Tổ sư Ueshiba Morihei tỉ thí. Tổ sư trao cho viên sĩ quan một thanh kiếm gỗ và nói với ông ta là ngài không cần kiếm. Viên sĩ quan liên tiếp tấn công, nhưng vẫn không đụng được ngài. Thấm mệt, ông ta dừng tay và Tổ sư giải thích cho ông là ngài cảm nhận trước những đòn tấn công ngay trước khi ông động thủ. Ngài thấy một loé sáng thoáng chốc trước khi thanh kiếm chạm vào người, nhờ vậy ngài có thể tránh né một cách dễ dàng. Ngài đã có những kinh nghiệm tương tự tại Trung Hoa. Đặc biệt một hôm, một binh lính Trung Hoa bắn ngài và bỗng chốc bị ngạc nhiên không mấy thích thú thấy ngài đang đứng sau lưng mình, ngay sau khi anh ta vừa bóp cò súng.

Ít lâu sau cuộc tỉ thí với viên sĩ quan Hải quân, Tổ sư Ueshiba Morihei ra sau vườn đến bờ suối để rửa mặt. Chính vào lúc đó người đã được giác ngộ. Một cảm nhận đột ngột khiến ngài không thể chủ động được và nhận thấy thân mình bỗng trở nên thanh khiết. Đồng thời ngài cảm nhận trời đất bắt đầu rung chuyển. Từ dưới đất như có một nguồn ánh sáng óng ánh vàng toả ra, khi chạm vào thân thể ngài thì nó biến đổi và tự thân toát ra một hào quang uy nghi. Ngài nghe tiếng chim kêu và tự thấy mình linh cảm được những bí mật của đấng tạo hoá.Chính vào lúc đó ngài hiểu được cội nguồn của võ đạo chân chính là tình yêu và tinh thần, chân võ đạo là không nhằm chiến thắng đối phương bằng sức mạnh mà giữ được bình an của thế giới, cảm nhận và giúp phát triển mọi loài, mọi vật. Ngài hiểu là việc luyện tập sẽ đưa con người đến chỗ sung mãn đó, đến tình trạng ân sủng, trong đó con ngưởi cảm nhận được sự hoà hợp của thế giới vật chất và thế giới tinh thần.

Nếu sự tham gia tinh thần hiện hữu trong tất cả các môn võ thuật Nhật Bản thì trong thực tế chưa hề có người nào đào sâu nó đến độ bao gồm các tình thương nhân loại như mục đích của chân võ đạo. Tình thương thì không đố kỵ, tình thương không có thù địch. Đó là lý do khiến Tổ sư Ueshiba Morihei quyết định gọi võ đạo của ngài là Aikido.

“Môn võ đạo lý tưởng”: Aikido (lời của Tổ sư Judo)

Từ năm 1926, tên tuổi của Tổ sư Ueshiba Morihei được nhiều người biết đến và nhiều võ đạo gia lừng danh cũng như những nhân vật chính trị, quân sự đều đến tham kiến ngài.

Năm 1927, theo lời mời của đô đốc Takeshita (12) Tổ sư Ueshiba Morihei lên Tokyo và bắt đầu dạy cho các sĩ quan cao cấp và các nhà quí tộc. Ngài cũng tổ chức các lớp huấn luyện đặc biệt 21 ngày cho các sĩ quan của đội cận vệ Hoàng gia mà phần lớn đều mang tối thiểu ngũ đẳng trong các môn Judo và Kendo.

Ngài còn dạy ở nhiều nơi khác tại Tokyo. Sau đó, ngài được Hoàng tử Shimazu dành một phòng lớn để làm đạo đường. Chẳng bao lâu, căn phòng trở nên quá chật hẹp và sau nhiều cố gắng, ngài thiết lập tại Wakamatsu một đạo đường hoàn toàn mới mang tên Kobokan.

Chính tại đây, một hôm vị sáng lập môn phái Judo - Tổ sư Kano Jigoro đến thăm ngài vì được nghe danh môn phái mới của ngài. Khi nhìn Tổ sư Ueshiba Morihei thi triển đòn thế Aikido ở trên sân, đại sư Kano Jigoro đã nói: “Đây chính là môn võ đạo lý tưởng”. Ngay ngày hôm sau, ngài phái các đại đệ tử đến Kobukan để học Aikido.

Vào dạo đó, việc thâu nhận đệ tử rất khắc khe, việc luyện tập rất kham khổ, đến độ người ta đã từng mệnh danh nơi đó là “địa ngục trần gian”.

Trong những năm chiến tranh, đạo đường chỉ hoạt động cầm chừng và phần lớn là do võ sư Ueshiba Kisshomaru (con trai Tổ sư) phụ trách huấn luyện. Về phần mình, Tổ sư Ueshiba Morihei lui về ở Iwama cách Tokyo 120 km, nơi hiện nay có ngôi đền Aikido.

Vào năm 1946, người Mỹ cấm mọi việc luyện tập võ thuật trên khắp nước Nhật và đạo đường tại Tokyo được dùng làm chỗ tạm trú cho những gia đình chiến nạn. Cho đến năm 1948, trụ sở đó được gọi là Hombu Dojo (Bản bộ đạo trường). Aikido là môn võ đầu tiên được phép hoạt động trên đất Phù Tang nhờ ở tinh thần hoà hiếu của nó.

Ngày 09/02/1948, tổ chức Kobukai trở thành Aikikai và được bộ giáo dục công nhận như là một hội công ích. Từ đó, số võ sinh không ngừng gia tăng và một số võ sư Aikido hiện nay từ bát đẳng trở lên đã bắt đầu công việc luyện tập của họ ở đây. Vào những năm 50, Tổ sư Ueshiba Morihei - sắp bước vào tuổi thất tuần - đã nhường công việc giảng dạy lại cho con và các cao đồ của mình phụ trách. Trong số họ, có nhiều người lên đường ra ngoại quốc và truyền bá Aikido trên toàn thế giới.

Năm 1960, Chính phủ Nhật Bản đã trao cho Ueshiba Morihei Huân chương Danh dự cao nhất với dải lụa tím nhằm mãi mãi tôn vinh ông.

Khi Tổ sư đại hoàn nguyên vào ngày 26/04/1969 thì Hombu dojo là một toà nhà ba tầng lớn và môn Aikido được hàng trăm ngàn người theo học ở khắp năm châu.

Tổ sư có bốn người con, một gái và ba trai. Hai người con trai đầu mất lúc còn nhỏ và người con trai còn lại là vị đạo chủ kế tục Tổ sư. Hiện nay người lãnh đạo Trung tâm Aikido thế giới là võ sư Ueshiba Moriteru (cháu nội Tổ sư).

Từ dạo đó, ngôi nhà của Aikikai lại được nâng cao lên hai tầng và ngoài 5 lớp luyện tập thường xuyên mỗi ngày còn có những lớp dành cho các môn sinh hoặc các nhóm đặc biệt. Từ 6 giờ sáng đến 8 giờ tối, hàng trăm người đến tập tại Đạo đường Trung ương để đi theo con đường kỳ diệu mà Tổ sư Ueshiba Morihei đã vạch ra.

Chú thích:
1. Tanabe: một thành phố cảng ở quận Wakayama trước thuộc tỉnh Kii.
2. Sumo: môn vật cổ truyền kỳ cựu của Nhật.
3. Soroban: một loại bàn toán của Nhật, tương tự bàn toán Trung Hoa.
4. Shokai: Thương hội, công ty thương mại.
5. Ken jutsu: kiếm thuật.
6. Shinkage: “tấm ảnh”, một môn phái võ thuật lâu đời của Nhật.
7. Sakai: một thị trấn lớn gần thành phố Osaka.
8. Yagyu: tên của một gia tộc Samourai lừng danh và là tên của một môn phái võ thuật Nhật.
9. Ju ken jutsu: phương pháp đánh lưỡi lê.
10. Heitai no kami sama: vua của các chiến binh.
11. Daito ryu: Đại đông lưu, môn phái Ju jutsu cổ. Hiện do Takeda Tokimune làm đạo chủ.
12. Takeshita Isamu (1869-1949): Thuỷ sư đô đốc, nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu võ học. Ông đã ghi lại hàng trăm trang các chi tiết những lời dạy của Tổ sư Ueshiba Morihei trong việc thành lập đạo đường đầu tiên tại Tokyo và dàn xếp cho cuộc biểu diễn rất đặc biệt của Tổ sư trong cấm thành trước mặt Hoàng gia Nhật.

sưu tầm từ internet, vinhanonline.com

“NỮ THÁNH GIỮA ĐỜI THƯỜNG”

Đó là nhận định của hầu hết các tờ báo lớn trên thế giới khi viết về mẹ Teresa, bề trên Dòng nữ tu thừa sai bác ái, vừa qua đời hôm 5-9-1997 ở thành phố Calcutta (Ấn Độ) vì cơn đau tim đột ngột, thọ 87 tuổi.

Mẹ Teresa tên thật là Agnes Goinxha Bojaxhiu, sinh ngày 27-8-1910 trong một gia đình người Anbani. Bà lớn lên tại thành phố Skopje, nay thuộc Macedonia. Năm 18 tuổi, bà đi tu và vào nhà tập tại tu viện Loreto ở Dublin( Ailen), sau đó qua Ấn Độ dạy học. Tại đây, trong 15 năm bà dạy địa lý và lịch sử tại một trường ở Bengal. Bà trở thành hiệu trưởng và thành lập một tổ chức được biết dưới tên “Những chị em gái của thánh Anne” với trang phục sari hai màu xanh trắng. Năm 1950 tại Calcutta, bà thành lập Dòng nữ tu thừa sai bác ái với tôn chỉ là phục vụ người nghèo. Dòng có đến hơn 4.000 nữ tu, và từ khi thành lập cho đến nay mỗi năm dòng giúp nuôi 50.000 gia đình nghèo, dạy dỗ cho 20.000 trẻ em và săn sóc 90.000 người mắc bệnh phong trong các bệnh viện riêng ở mười quốc gia. Khi còn sống, mẹ Teresa thường kể lại nguyên nhân thúc đẩy bà đến với các hoạt động nhân đạo : “Một hôm tôi gặp một phụ nữ đang hấp hối trong một thùng rác, thân thể bị kiến và chuột gặm nhấm. Người phụ nữ này kêu lên: Con trai tôi đã bỏ rơi tôi! Trước tình cảnh thương tâm ấy, tôi và các cộng sự đã đem người phụ nữ này về chăm sóc. Nhưng chỉ vài giờ sau bà ta đã qua đời…”. Nhớ lại câu chuyện này, mẹ Teresa thường khóc và tâm sự : “Đối với tôi, điều hạnh phúc nhất là có thể giúp cho người ta chết một cái chết xứng đáng với phẩm giá con người”.

Trong thời gian làm y tá ở các khu ổ chuột tại thành phố Calcutta, mẹ Teresa đã vượt qua tất cả những rào cản về bệnh tật, tôn giáo, địa vị xã hội… để đến với những con người bất hạnh. Tấm lòng nhân ái của mẹ đã gây xúc động lớn cho một sinh viên Pháp khi đó đang thực tập một tháng ở trại tiếp nhận người già ở Calcutta như sau này anh ghi lại : “Trại có thể tiếp nhận khoảng 100 người, nuôi ăn và chăm sóc cho họ. Mùi hôi thối ở trại này ngửi đến lợm giọng. Nó tổng hợp đủ thứ từ phân người, thuốc men, thân xác con người và hàng trăm thứ khác, cộng với khí trời oi bức. Nhưng chính trong bối cảnh nghèo đói ấy người ta mới cảm nhận hết tấm lòng nhân ái bao la của mẹ Teresa”. Năm 1979, mẹ Teresa được trao tặng giải thưởng Nobel hòa bình nhưng mẹ Teresa đã tuyên bố ngay “mình không xứng đáng với giải thưởng này”. Mẹ cũng được Tổng thống Mỹ Bill Clinton trao tặng danh hiệu công dân nước Mỹ. Chính phủ Anh tặng cho mẹ bằng vinh dự quốc gia – phần thưởng cao nhất của nước này…Không chỉ hoạt động ở các nước Thế giới thứ ba, các nước trong khối tư bản, hoạt động nhân đạo của mẹ Teresa còn lan rộng sang các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Trung Quốc và Cuba. Năm 1986, theo lời yêu cầu của nhà lãnh đạo Liên Xô lúc ấy là ông Mikhain Goocbatrôp, mẹ Teresa đã vận động thành lập một viện dưỡng lão ở Matxcơva và là người đầu tiên có mặt ở thành phố Yerevan (Cộng hòa Acmênia) sau trận động đất dữ dội năm 1988.

Trong suốt cuộc đời hoạt động từ thiện, mẹ Teresa luôn nói bà không muốn danh vọng mà chỉ làm việc vì tình yêu của Thiên Chúa. Mẹ sống giản dị, không có của cải và thường thức dậy sớm để cầu nguyện. Năm 1964, khi viếng thăm Ấn Độ, giáo hoàng Phao lô VI có ngỏ ý tặng mẹ một chiếc xe hơi sang trọng hiệu Limousine. Mẹ Teresa đã không ngần ngại đem bán chiếc xe để lấy tiền chữa trị cho các bệnh nhân bệnh phong. Mẹ nói : “Đi xe hơi sang trọng để làm gì trong khi vẫn còn biết bao người phải lội bộ hàng trăm cây số tìm đến mình để mong sự giúp đỡ”.

Đức hi sinh, lòng tận tụy của mẹ đối với những người già cả, ốm đau… đã tạo được một sự kính trọng lớn từ phía các nhà lãnh đạo, chính khách trên thế giới. Nữ hoàng Anh Elizabeth II, công nương Diana, cựu thủ tướng Anh Margaret Thatcher đã từng đến thăm mẹ Teresa. Cố thủ tướng Ấn Độ Indira Ghandhi có lần nói : “Khi gặp mẹ Teresa, người ta hoàn toàn cảm thấy mình nhỏ bé lại vì cảm nhận được sức mạnh của lòng nhân ái nơi mẹ”.
Có một câu chuyện vui mà khi nhắc lại, hầu hết người dân Ấn Độ đều cảm thấy tự hào về sự nổi tiếng cũng như đức độ của mẹ Teresa. Vào năm 1994, trong một chuyến công tác tại Calcutta, xe hơi chở chủ bút tờ Telegraph ( Anh) chẳng may bị xe hơi chở mẹ Teresa va chạm làm vỡ đèn xinhan phía sau. Anh tài xế đã đến một trạm cảnh sát gần đó để phân trần thì nhận được câu trả lời : “Không ai được kiện cáo mẹ Teresa. Ai lại đi kiện một vị thánh sống bao giờ?”.

Từ năm 1989, sức khỏe của mẹ Teresa đã suy sụp nhiều. Mẹ đã bị chứng đau tim và phải trải qua một ca phẫu thuật đặt qủa tim nhân tạo. Năm 1991 và 1993, mẹ Teresa lại tiếp tục trải qua hai ca phẫu thuật vì tắc động mạch vành. Từ tháng 8-1996 đến nay, mẹ đã ba lần nằm viện vì đau tim do biến chứng các trận tấn công của bệnh sốt rét và dịch tả (hậu qủa của những năm tháng tiếp xúc với các bệnh nhân ở Calcutta).

Tháng 3-1997, sau nhiều lần mẹ xin từ chức bề trên dòng do mẹ sáng lập, dòng đã đồng ý mẹ thôi giữ chức và bầu xơ Nirmala thay thế mẹ. Những năm cuối đời, mẹ Teresa dành sự quan tâm nhiều hơn cho các bệnh nhân AIDS…

Tin mẹ Teresa qua đời hôm 5-9-1997 đã gây nên một cú sốc lớn cho mọi tầng lớp nhân dân trên thế giới, tiếp sau cái chết của công nương Diana. Nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới đã bày tỏ lòng thương tiếc sâu sắc. Giáo hoàng Gioan Phao lô II đã làm lễ cầu hồn cho mẹ tại Roma (Ý). Tổng thống Mỹ Bill Clinton nói : “Mẹ là người luôn gây kinh ngạc, một trong những bậc vĩ nhân của thời đại này”. Tại Anh, nhiều nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo –trong đó có nữ hoàng Anh Elizabeth II– đã nêu ra những điểm tương đồng giữa mẹ Teresa và cái chết trước đó của công nương Diana. Trong một thông điệp gửi đến Dòng nữ tu thừa sai bác ái, nữ hoàng Elizabeth nhấn mạnh : “Mẹ Teresa và công nương Diana mỗi người một cách đã nêu lên tấm gương: là con người hãy đối xử với nhau trong lòng nhân ái”. Tại Châu Á, Chính phủ Inđônêxia cũng bày tỏ nỗi thương tiếc. Còn tại Xingapo, Thủ tướng Goh Chok Tong nói mẹ Teresa là một trong những người phụ nữ nổi bậc nhất của thế kỷ 20. Tổng thống Hàn Quốc Kim Young Sam cũng nói : “Nhân loại sẽ mãi mãi ghi nhớ sự hi sinh cả cuộc đời của mẹ Teresa cho những người bần cùng trên thế giới”…

Thủ tướng Anbani, Fatos Nano, nói rằng đất nước Anbani quê hương thương tiếc mẹ vô vàn, và muốn đưa thi hài mẹ về an táng tại đó. Nhưng ý nguyện này không đạt được, Anbani để tang mẹ trong ba ngày. Riêng tại Ấn Độ, hàng ngàn người dân thuộc mọi tầng lớp bất chấp mưa gió đã xếp hàng dài 3km trước trụ sở Dòng nữ tu thừa sai bác ái ở Calcutta để được vào viếng mẹ lần cuối. Báo chí Ấn Độ đã không ngớt lời ca ngợi công đức của mẹ Teresa. Tờ India Express so sánh mẹ Teresa với thánh Mahatma Gandhi, vị cha già của Ấn Độ. Tờ báo viết : “Nếu thánh Gandhi là người tạo dựng nên Ấn Độ thì mẹ Teresa là người có công giúp Ấn Độ trở thành một thành phần của thế giới”.

Theo lịch trình của văn phòng thủ tướng Ấn Độ, lễ mai táng mẹ Teresa được cử hành vào ngày 13-9-1997 tại sân vận động quốc gia New Delhi. 12.000 người gồm các nhà lãnh đạo, chính khách, các nhân vật… nổi tiếng trên thế giới- trong đó có phu nhân tổng thống Mỹ Hillary Clinton- cùng hàng triệu người khác đến tiễn đưa lần cuối mẹ Teresa.

“Vị thánh của người cùng khổ” không còn nữa…

từ internet, trang Nguyễn Trọng Đa

MỘT CỬ CHỈ ĐẸP

Bà Foreman dừng chiếc xe hơi của mình ngay ở một trạm thu phí giao thông trên xa lộ cao tốc. Liếc mắt qua kính chiếu hậu, bà thấy cả một dãy dài xe hơi sau mình. Bà chợt nẩy ra một ý vui vui, bà quay kính xe xuống, đưa ra cho người bán vé một tờ 5 đô-la và bảo: “Bác ơi, tôi mua một vé cho tôi, còn lại tôi mua thêm 5 vé nữa cho 5 chiếc xe sau tôi, chỗ tiền dư tôi xin biếu hết cho bác nhé !”

Không kịp để cho người bán vé thắc mắc vì quá sức ngạc nhiên, bà Foreman quay kính xe, đạp ga và lái xe đi ngay. Bà hình dung ra trong đầu cũng sự ngạc nhiên đầy thú vị ấy nơi 5 người lái xe theo sau mà bà không hề quen biết. Bà không cần những lời cám ơn, chỉ là một “cử chỉ đẹp” nho nhỏ thôi mà, có đáng gì đâu !

Về đến nhà, bà Foreman vừa làm bếp vừa tủm tỉm cười một mình vì nhớ lại chuyện sáng nay trên đường. Ông chồng già để ý thấy, lấy làm lạ, đến bữa ăn trưa ông lựa lời hỏi, bà mới kể lại đầu đuôi. Đến phiên ông cũng cảm thấy vui lây niềm vui nho nhỏ ấy...

Buổi chiều, đến trường dạy môn Giáo Dục Công Dân, ông Foreman quyết định làm một “cử chỉ đẹp” bằng cách dùng chính câu chuyện về “cử chỉ đẹp” của bà vợ để dẫn nhập vào bài học. Các học sinh trung học của ông lặng đi một thoáng rồi đồng loạt vỗ tay hoan hô sau lời kết thúc của thầy giáo: “Các em hãy nhớ niềm vui sống khởi đi từ những chuyện bình thường nho nhỏ như thế, mỗi ngày ước gì mỗi người trong chúng ta đều làm được ít nhất một “cử chỉ đẹp” tương tự, các em nhé !”

Ở lớp hôm ấy, có cô bé Mary, vốn là một học sinh cá biệt, luôn bướng bỉnh lì lợm, cũng như là một đứa bé lười biếng trong gia đình. Cô về nhà trong tâm trạng hết sức hân hoan phấn khởi và quyết định sẽ làm một “cử chỉ đẹp” với cha mẹ. Cô lặng lẽ thu dọn, lau chùi, quét tước nấu nướng và giặt giũ xong xuôi mọi việc trước khi mẹ cô ở xưởng thợ và cha cô ở tòa báo trở về. Xập tối, hai ông bà bước vào nhà và hiểu ra ngay đã có một sự đổi thay kỳ lạ nơi đứa cô con gái đang tuổi dậy thì ! Hỏi mãi cô bé mới kể lại câu chuyện về “cử chỉ đẹp” cô đã nghe thầy giáo Foreman kể ở lớp. Cô hứa với bố mẹ tất cả mọi chuyện hôm nay cô đã làm ở nhà sẽ không phải là một “cử chỉ đẹp” duy nhất cô sẽ cố gắng thực hiện.

Sau bữa cơm chiều thật vui và đầm ấm, ông Alfonse, cha của Mary, vốn là một phóng viên của tờ báo địa phương, khoan khoái ngồi vào bàn làm việc. Ông quyết định phải viết ngay một bài báo về câu chuyện “cử chỉ đẹp”... Chỉ đến chiều ngày hôm sau thôi, cả miền đều xôn xao rộn rã khi đọc được bài báo. Người ta bảo nhau, ít nhất mỗi ngày, hãy nhớ làm một “cử chỉ đẹp” nho nhỏ cho nhau, cho cuộc sống...

Cha xứ đưa câu chuyện vào bài giảng Thánh Lễ Chúa Nhật kế đó. Một diễn giả chọn câu chuyện làm chủ đề chính cho một buổi mạn đàm ở hội trường lớn của thị trấn. Một bà mẹ kể lại cho đứa con như một truyện cổ tích để ru nó vào giấc ngủ ngon. Một đôi bạn trẻ đang yêu nhau cùng thỏa thuận từ nay sẽ dành cho nhau những “cử chỉ đẹp” thay vì những trò giận dỗi nhau vô bổ. Ngoài đường phố, người ta thôi không vứt bã kẹo cao-su bừa bãi.

Những người lái xe cố gắng tránh không làm tạt những vũng nước trên đường lên khách bộ hành. Một cậu Sói Con bước ra khỏi nhà, thắt một chiếc nút nhỏ ở chéo đuôi khăn quàng trên ngực, tự nhủ sẽ làm một “cử chỉ đẹp” trên đường đến công viên họp bạn Hướng Đạo. Trong nhà giam, viên cai ngục bẳn tính quyết định sẽ có những “cử chỉ đẹp” đối với các tù nhân. Người đi mua hàng ở tiệm tạp hóa nói một lời cám ơn lịch sự, còn cô bán hàng thường hay cau có thì đã biết mỉm một nụ cười khả ái để đáp lại. Một cầu thủ bóng đá vốn nổi tiếng là chơi xấu, giờ đây, trong trận đấu cuối tuần, đã chạy lại đỡ một cầu thủ đội bạn bị ngã với một lời xin lỗi...

Một “cử chỉ đẹp”, vâng, chỉ một “cử chỉ đẹp” nho nhỏ mỗi ngày thôi, cũng đủ để làm cho cuộc sống thêm ý nhị đậm đà, và niềm vui bởi sự quan tâm đến nhau trong yêu thương được nhen nhúm, rồi bừng cháy, lan tỏa đến tất cả mọi người...

Ghi lại từ một bài giảng của Linh Mục TIẾN LỘC, Dòng Chúa Cứu Thế

CHÚA NGUỒN BÌNH AN


Lạy Chúa, Nguồn Bình An muôn thuở,
Xin đưa tay mà che chở đời con,
Từ nẻo chết đưa về theo sinh lộ,
Đến yêu thương, rời xa chỗ hận thù,
Tìm ánh sáng, bỏ thâm u tăm tối...
Lạy Chúa, Nguồn Bình An muôn thuở,
Xin đưa tay mà dắt lối đời con,
Từ tuyệt vọng đến với giòng suối mát,
Sạch hoài nghi để hy vọng ân cần,
Chọn chân lý, bỏ sai lầm lạc bước...
Lạy Chúa, Nguồn Bình An muôn thuở,
Xin đưa tay mà ban Nước Trường Sinh,
Thôi chinh chiến, hát bình ca trong sáng,
Nở nụ cười thay khăn trắng tóc tang,
Ruộng vườn xanh, thay cằn khô bụi cát...
Lạy Chúa, Nguồn Bình An muôn thuở,
Đổ an bình chan chứa cả tim con,
Cho thế giới, nhân loại còn bạo loạn,
Được giao hòa thay nứt rạn chia tan,
Khát khao hoài, ôi lạy Chúa, Bình An...
Lead me from despair to hope, from fear to trust,
Lead me from death to life, from falsehood to truth,
Lead me from hate to love, from war to peace,
Let peace fill our heart, our world, our universe.


Mẹ TÊ-RÊ-XA CALCUTTA, MK LÊ QUANG diễn ý thành thơ.

TÀI KHOẢN VÔ GIÁ

Có một ngân hàng, mỗi buổi sáng, cung cấp vào tài khoản của bạn 86.400 giây.

Số dư trong tài khoản không được phép chuyển từ ngày này qua ngày khác.

Mỗi buổi chiều, ngân hàng sẽ hủy bỏ hết số dư còn lại mà bạn đã không dùng hết trong ngày.

Bạn sẽ phải làm gì ?
Sử dụng hết số tiền đó, dĩ nhiên !Mỗi người trong chúng ta đều có một ngân hàng như vậy.



Tên ngân hàng là THỜI GIAN.

Mỗi buổi sáng, ngân hàng này cung cấp cho bạn 86.400 giây.
Vào mỗi buổi tối, ngân hàng sẽ xóa bỏ, coi như bạn mất,
thời gian mà bạn không đầu tư được vào các mục đích tốt.
Ngân hàng không cho phép bạn được để lại số dư trong tài khoản.
Cũng không cho phép bạn bội chi.

Mỗi ngày, ngân hàng lại mở một tài khoản mới cho bạn.
Mỗi tối nó lại hủy hết những gì còn lại trong ngày.
Nếu bạn không dùng được hết thời gian mà bạn có trong ngày,
người bị mất chính là bạn.
Không có chuyện quay lại ngày hôm qua.
Không có chuyện tiêu trước cho "ngày mai"
Bạn phải sống bằng những gì bạn có trong tài khoản ngày hôm nay.
Hãy đầu tư vào đấy bằng cách nào đó,
để bạn có thể nhận được nhiều sức khỏe, hạnh phúc, và thành công nhất !
Đồng hồ vẫn đang chạy.
Hãy cố thực hiện thật nhiều trong ngày hôm nay.

Để biết được giá trị của MỘT NĂM,
hãy hỏi một học sinh bị ở lại một lớp.

Để biết được giá trị của MỘT THÁNG,
hãy hỏi một người mẹ sinh con thiếu tháng.

Để biết được giá trị của MỘT TUẦN,
hãy hỏi biên tập viên của một tuần báo.

Để biết được giá trị của MỘT GIỜ,
hãy hỏi những người yêu nhau đang mong chờ được gặp nhau.

Để biết được giá trị của MỘT PHÚT,
hãy hỏi một người bị lỡ chuyến tàu.

Để biết được giá trị của MỘT GIÂY,
hãy hỏi một người vừa thoát khỏi một tai nạn.

Để biết được giá trị của MỘT PHẦN NGÀN GIÂY,
hãy hỏi người vừa nhận được huy chương bạc trong kỳ thi Olympic.

Hãy quý trọng từng giây phút mà bạn có !
Và hãy nên quý thời gian hơn nữa
bởi vì bạn đang chia sẻ thời gian đó với ai đấy thật đặc biệt đối với bạn,
đủ đặc biệt để có thể chia sẻ thời gian của bạn.

Và hãy nhớ rằng thời gian chẳng chờ đợi ai cả.
Ngày hôm qua dã là lịch sử. Ngày mai là một bí ẩn.
Hôm nay là quà tặng. Cũng vì vậy mà nó được gọi là PRESENT !
( có nghĩa là HIỆN TẠI, mà cũng có nghĩa là QUÀ TẶNG ).

Bạn bè thật sự là một loại nữ trang quý hiếm.
Họ khiến bạn mĩm cười và khuyến khích bạn thành công.
Họ lắng nghe bạn, họ chia sẻ với bạn những lời khen tặng,
và họ luôn muốn mở trái tim ra với chúng ta.

Hãy gởi những lời này đến với ai mà bạn xem như BẠN MÌNH,
Và nếu những dòng này lại trở về với bạn,
bạn ắt biết rằng bạn đang có một vòng tròn bạn hữu.


sưu tầm qua Internet

NGHỊCH LÝ CỦA THỜI ĐẠI CHÚNG TA

Nghịch lý của thời đại chúng ta trong lịch sử là:
Chúng ta có những tòa nhà cao hơn, nhưng tính cách những người cư ngụ trong đó thì lại nhỏ hơn; Những con đường cao tốc rộng hơn, nhưng quan điểm của con người thì lại hẹp hòi hơn.

Chúng ta chi dùng nhiều hơn, nhưng lại sở hữu ít hơn; Chúng ta mua sắm nhiều hơn nhưng thụ hưởng thì lại ít hơn.

Chúng ta có những căn hộ to hơn, nhưng gia đình thì lại nhỏ hơn; Nhiều tiện nghi hơn, nhưng lại ít thời gian hơn.

Chúng ta có nhiều bằng cấp hơn, nhưng lại kém ý thức hơn; Nhiều kiến thức hơn, nhưng lại kém suy xét hơn; Nhiều chuyên gia hơn nhưng cũng lắm vấn nạn hơn; Nhiều thuốc men, nhưng lại kém sức khỏe hơn.

Chúng ta uống quá nhiều, hút quá mức, chi quá lố, cười quá ít, lái xe quá nhanh, giận quá mau, thức quá muộn, dậy quá mệt, đọc quá ít, xem ti-vi quá nhiều.

Chúng ta tăng số của cải, nhưng lại giảm những giá trị của bản thân mình đi.

Chúng ta nói quá nhiều, yêu quá ít và ghét quá thường xuyên. Chúng ta học cách kiếm sống chứ không phải là xây dựng cuộc sống.

Chúng ta chỉ biết chồng chất thêm mỗi năm vào cuộc đời, mà chẳng biết bổ sung cuộc đời vào mỗi năm.

Chúng ta đã đi lên mặt trăng và quay trở về, nhưng lại cảm thấy phiền hà khi băng qua đường để gặp người hàng xóm mới dọn đến.

Chúng ta đã chinh phục không gian bên ngoài là vũ trụ, chứ không phải là không gian bên trong.

Chúng ta đã làm những việc to lớn hơn, chứ không phải là tốt hơn. Chúng ta làm trong sạch không khí, nhưng lại gây ô nhiễm tâm hồn của nhau.

Chúng ta đã phân tách được hạt nhân nguyên tử, chứ không hề động đến óc thành kiến của mình.

Chúng ta viết lách nhiều hơn, nhưng học hành thì ít hơn. Chúng ta dự tính nhiều hơn, nhưng thực hiện thì ít hơn. Chúng ta chỉ biết vội vã, mà không biết chờ đợi.

Chúng ta có thu nhập cao hơn, nhưng đạo đức thì lại thấp hơn. Chúng ta có nhiều thức ăn hơn, nhưng vẫn không giảm bớt được những cơn đói.

Chúng ta có nhiều máy tính hơn để lưu trữ nhiều thông tin hơn, để có thể cung cấp nhiều bản sao hơn bao giờ hết, nhưng chúng ta lại ít liên lạc với nhau hơn.

Chúng ta trở nên thừa về số lượng, nhưng lại quá thiếu về chất lượng.

Đây là thời của thức ăn nhanh ( fast-food ) nhưng tiêu hóa thì chậm; Lưng dài thêm mà chí thì ngắn đi; Lợi nhuận quá cao nhưng các mối quan hệ với nhau thì hời hợt vô cùng.

Chúng ta có thêm nhiều thời gian rảnh rỗi hơn, nhưng ít thú vui lành mạnh hơn; Nhiều món ăn hơn, nhưng toàn là những thứ kém dinh dưỡng hơn.

Đây là thời của hòa bình thế giới, nhưng nội chiến thì triền miên.

Đây là thời có tới hai nguồn thu nhập từ cả hai vợ chồng trong gia đình, nhưng ly dị thì nhiều hơn; Thời của những căn nhà sang trọng, nhưng tổ ấm thì lại tan vỡ.

Đây là thời của những chuyến du hí chớp nhoáng, của những loại khăn vệ sinh dùng một lần rồi bỏ, của sự buông trôi đạo đức, của những chỗ dừng lại qua một đêm dọc đường, của những cơ thể béo phí và của những loại thuốc để kích thích, để an thần, và để... giết người ! [/SIZE][/ALIGN]


INTERNET, báo TUỔI TRẺ CHỦ NHẬT 25.7.1999

ĐỨC GIÊ-SU RỬA CHÂN CHO CÁC MÔN ĐỆ (Gio-an 13,1-20)

Trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng. Ma quỷ đã gieo vào lòng Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt, ý định nộp Đức Giê-su. Đức Giê-su biết rằng: Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa, nên trong một bữa ăn, Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.

Vậy, Người đến chỗ ông Si-môn Phê-rô, ông liền thưa với Người: "Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?" Đức Giê-su trả lời: "Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu". Ông Phê-rô lại thưa: "Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!" Đức Giê-su đáp: "Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy." Ông Si-môn Phê-rô liền thưa: "Vậy, thưa Thầy xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa." Đức Giê-su bảo ông: "Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!" Thật vậy, Người biết ai sẽ nộp Người, nên mới nói: "Không phải tất cả anh em đều sạch."
Khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giê-su mặc áo vào, về chỗ và nói: "Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không? Anh em gọi Thầy là 'Thầy', là 'Chúa', điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em. Thật, Thầy bảo thật anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi. Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em! Thầy không nói về tất cả anh em đâu. Chính Thầy biết những người Thầy đã chọn, nhưng phải ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: Kẻ đã cùng con chia cơn sẻ bánh lại giơ gót đạp con. Thầy nói với anh em điều đó ngay từ lúc này, trước khi sự việc xảy ra, anh em tin là Thầy Hằng Hữu. Thật, Thầy bảo thật anh em: ai đón tiếp người Thầy sai đến là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy."
June 2012
S M T W T F S
May 2012July 2012
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30