Tổng hợp: Nguyễn Vân Hương - mehaicongchuaA. Lược sử về Hà Nội xưa – Tên gọi và lịch sử:Hà Nội đã trải qua nhiều tên gọi khác nhau trong lịch sử.
Tống Bình: Hà Nội đã trải qua nhiều tên gọi khác nhau trong lịch sử. Trong thời kỳ cai trị của người Trung Quốc nó từng có tên là huyện Tống Bình, xuất hiện trong sử sách từ những năm 454-456 thời Nam Bắc triều của Trung Quốc.
Đại La: Năm 545, Lý Bí đánh thắng quân nhà Lương lập nên nước Vạn Xuân độc lập. Ông tự xưng Lý Nam Đế, định đô ở miền cửa sông Tô Lịch, Hà Nội. Ông cho lập điện Vạn Thọ là nơi họp bàn việc nước. Lý Nam Đế cũng cho dựng một ngôi chùa lớn ở phường Yên Hoa (Yên Phụ) tên là Khai Quốc, tiền thân của Chùa Trấn Quốc ngày nay.
Thời kỳ bị phương Bắc độ hộ: nhà Tùy (581-618), nhà Đường (618-907), trị sở ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay), tới đời Tùy chúng mới chuyển đến Tống Bình, tức Hà Nội.
Thành cũng còn có tên là Đại La. Sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục có viết:
"Thành này do Trương Bá Nghi đắp từ năm Đại Lịch thứ 2 (767) đời Đường; năm Trinh Nguyên thứ 7 (791), Triệu Xương đắp thêm; năm Nguyên Hòa thứ 3 (808), Trương Chu lại sửa đắp lại; năm Trường Khánh thứ 4 (824), Lý Nguyên Gia dời phủ trị tới bên sông Tô Lịch, đắp một cái thành nhỏ, gọi là La Thành; năm Hàm Thông thứ 7 (866), Cao Biền đắp ngoại thành bao quanh "kim thành", cũng gọi tên là La Thành."Đại La, hay Đại La thành, nguyên là tên vòng thành ngoài cùng bao bọc lấy vòng thành nhỏ hơn ở trong, gọi là Kinh Đô hay Kim thành. Theo kiến trúc xưa, Kinh Đô thường có "Tam trùng thành quách": trong cùng là Tử Cấm thành (tức bức thành màu đỏ tía) nơi vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoài cùng là Đại La thành. Năm 866 Cao Biền bồi đắp thêm Đại La thành rộng hơn và vững chãi hơn trước. Từ đó, thành này được gọi là thành Đại La. Thí dụ trong Chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ viết năm 1010 có viết:
"... Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương (tức Cao Biền) ở giữa khu vực trời đất..." (Toàn thư, Tập I, H, 1993, tr 241).
Long Đỗ (rốn rồng) cũng là một tên gọi của Hà Nội, nhưng không phải tên gọi chính thức, tên gọi này xuất hiện từ thời Cao Biền. Truyền thuyết kể rằng, vào năm 866, khi Cao Biền mới đắp thành Đại La, thấy thần nhân hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ. Do đó trong sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long Đỗ.
Thăng Long: Khi Việt Nam giành được độc lập, Hà Nội lúc đó trở thành thủ đô của Đại Việt từ thế kỷ thứ 11, với tên gọi Thăng Long (昇龍, có nghĩa là "rồng bay lên"), sau khi Lý Công Uẩn ra chiếu dời đô năm 1010 từ Hoa Lư. Đây được xem là mốc son đánh dấu sự phát triển của thủ đô Hà Nội Việt Nam. Thăng Long là thủ đô cho đến năm 1397,
Đông Đô: khi thủ đô được di chuyển về Thanh Hóa, (tức Tây Đô). Thăng Long khi đó có tên gọi là Đông Đô. (thời triều đình nhà Hồ)
Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết:
"Mùa hạ tháng 4 năm Đinh Sửu (1397) lấy Phó tướng Lê Hán Thương (tức Hồ Hán Thương - TM) coi phủ đô hộ là Đông Đô" (Toàn thư Sđd - tr 192).
Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sử thần nhà Nguyễn chú thích:
"Đông Đô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hoá là Tây Đô, Thăng Long là Đông Đô" (Cương mục - Tập 2, H 1998, tr 700).
Đông Quan: Năm 1408, nước Đại Ngu của cha con họ Hồ bị quân đội của nhà Minh xâm chiếm và Đông Đô bị người Minh đổi tên thành Đông Quan.
Đông Kinh (Tonkin):[/U] Năm 1428, sau khi quân đội của Lê Lợi giải phóng đất nước thì Đông Quan được đổi tên thành Đông Kinh - tên gọi này người châu Âu phiên âm thành Tonkin. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết sự ra đời của cái tên này như sau:
"Mùa hạ, tháng 4 năm Đinh Mùi (1427), Vua (tức Lê Lợi - TM) từ điện tranh ở Bồ Đề, vào đóng ở thành Đông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Đại Việt đóng đô ở Đông Kinh. Ngày 15 vua lên ngôi ở Đông Kinh, tức là thành Thăng Long. Vì Thanh Hóa có Tây Đô, cho nên gọi thành Thăng Long là Đông Kinh" (Toàn thư - Sđd. Tập 2, tr 293).
Bắc Thành:[/U] Thời Tây Sơn, vì kinh đô đóng ở Phú Xuân thành còn có tên là Bắc Thành.
Thăng Long: Năm 1802, khi nhà Nguyễn chuyển kinh đô về Huế, nó lại được đổi tên thành Thăng Long, nhưng lần này chữ "Long" (隆) biểu hiện cho sự thịnh vượng, chứ không phải là rồng, với lý do rằng rồng là tượng trưng cho nhà vua, nay vua không ở đây thì không được dùng chữ "Long" là "rồng" (Trần Huy Liệu (chủ biên), Lịch sử thủ đô Hà Nội, H. 1960, tr 81).
Sau đó vua Gia Long còn hạ lệnh phá bỏ hoàng thành cũ, vì vua không đóng đô ở Thăng Long, mà hoàng thành Thăng Long lại rộng quá.
Hà Nội: Năm 1831 vua Minh Mạng lập ra tỉnh Hà Nội: tỉnh nằm trong (Nội) hai con sông (Hà) là sông Hồng và sông Đáy.
Khi Việt Nam tiếp xúc với phương Tây, tên Hán-Việt của Hà Nội Đông Kinh, được viết thành Tonkin và được người châu Âu dùng phổ biến. Năm 1873, người Pháp bắt đầu tiến đánh Hà Nội và 10 năm sau thì chiếm toàn bộ. Từ năm 1887, Hà Nội trở thành thủ phủ của Đông Dương thuộc Pháp.
Bản đồ Hà Nội 1890
Năm 1940, thành phố bị phát xít Nhật xâm chiếm và đến năm 1945 Hà Nội được giải phóng và là nơi đặt các cơ quan của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ 1946 đến 1954, Hà Nội là chiến địa ác liệt giữa Việt Minh và quân đội Pháp. Sau khi được giải phóng vào ngày 10 tháng 10 năm 1954, Hà Nội trở thành thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Hà Nội còn có nhiều các tên gọi không chính thức khác, chủ yếu xuất hiện trong văn thơ và dân gian:
Trường An[/U] hay
Tràng An (lấy theo tên gọi của kinh đô của Trung Quốc thời kỳ nhà Hán và nhà Đường);
Phượng Thành hay
Phụng Thành[/U] (trong bài phú của Nguyễn Giản Thanh);
Long Thành, Long Biên, Kẻ Chợ (trong dân gian);
Thượng Kinh, Kinh Kỳ, Hà Thành, Hoàng Diệu, ngay sau Cách mạng tháng Tám - 1945, đôi khi trong các báo chí của Việt Nam sử dụng tên này để chỉ Hà Nội.
B. Sự hình thành của vườn Bách Thảo:I. Lịch sử vườn Bách ThảoBên cạnh vườn bách thú hay còn gọi là công viên Thủ Lệ, người dân Hà Nội còn quen gọi khu vực gần kề khu di tích Phủ Chủ tịch và Quảng trường Ba Đình là vườn Bách Thảo, nơi có rất nhiều loại cây xanh rợp bóng mát.
Vườn Bách Thảo ngày nay nằm trong vùng Ngọc Hà xưa.
1. Lược sử về vùng Ngọc Hà:Để truyền thuyết, chính sử và địa lý được dung hòa, có thể lý giải về vùng đất này như sau:
Kể từ năm 866, Tiết Độ Sứ Cao Biền đã đắp hoàn chỉnh thành Đại La. Đến thời vua Lý Thái Tổ về Thăng Long thì khu vực Cấm Thành mới chỉ giới hạn ở phía đông, mà sử sách ghi “Điện Kính Thiên được xây trên núi Nùng” (Long Đỗ) thì vùng Ngọc Hà lúc này chỉ là ngoại vi, nhưng vẫn trong vùng Hoàng Thành. Phía đông là khu vực cung vua, bắc và tây có vòng Hoàng Thành. Phía nam có đê Hoàng Thành che chắn từ đầu phố Phùng Hưng ngày nay đến tận vùng Cầu Giấy. Đất đai có lẽ hoang hóa nên mới có truyền thuyết về ông Hoàng Lệ Mật. Nhưng vùng đất này lúc ấy chưa bao hàm cả Ngọc Khánh và Giảng Võ.
Theo tư liệu, thời Trần Anh Tông, khu Bách Thảo đã có “Ngũ bách hoa viên”, sưu tập 500 loài lan từ Chiêm Thành, Chân Lạp, Trung Hoa, Xiêm...
Sang thời hậu Lê, Cấm Thành nới rộng về phía tây. Bản đồ Thăng Long thời Hồng Đức 1490 vẽ tường phía này giới hạn từ Liễu Giai vuông góc với Cống Đõ (làng Hồ Khẩu). Vòng Hoàng Thành khuôn cả vùng Giảng Võ – Ngọc Khánh, cho thấy trong Cấm Thành và Hoàng Thành có Ngọc Hà, tất nhiên dân không thể ở, khu vực thành khu Giảng Võ.
Sang cuối thời Lê Trung Hưng, Ngọc Hà gọi phường Khán Xuân, Thuộc huyện Vĩnh Thuận . Khán Xuân Phường Cổ, do nhập 2 thôn. Hậu Khán Sơn và Xuân Sơn ( sinh ra bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, có chợ đêm nổi tiếng).
Ngụ lại, chắc chỉ là tướng lĩnh, quan lại và binh sĩ.
Khán Xuân là một làng ở bên bờ phía Nam hồ. Đời chúa Trịnh Giang lập một ly cung và những dãy nhà như quán hàng ở xung quanh, hàng năm mùa hè ra đó nghỉ mát. Đêm đến, bọn nội thần và cung nữ mở chợ bày hàng mua bán, hát xướng làm vui. Những đêm mở chợ, làng Khán Xuân lại sáng rực một góc thành vì đèn nến thắp sáng trưng. Chính vì vậy mà chợ đêm Khán Xuân trở thành một hoạt cảnh đẹp trong kinh thành Thăng Long.
1805 nhà Nguyễn phá thành Thăng Long mà các triều trước xây, thu hẹp lại theo hình vuông nhô ra 8 góc, mỗi chiều khoảng hơn cây số. Giới hạn tường phía tây chỉ đến giáp đường Hùng Vương ngày nay. Kể từ đấy, trên vùng đất mênh mông phía tây từ Ngọc Hà đến Cống Vị sang Giảng Võ, dân cư Thập Tam Trại đông đúc dần...
2. Lược sử về Vườn Bách Thảo• Thời nhà Lê (Lê Thánh Tông):Vườn Bách Thảo nằm trong khu vực Giảng Võ của triều Lê trước kia. Thời vua Lê Thánh Tông, vua cho dựng một quả núi đất (mà hiện nay vẫn còn) là nơi duyệt võ đài để mọi người đứng đó xem quân sĩ thao luyện. Vì thế người người xưa mới đặt tên núi ấy là Khán Sơn.

Bách Thảo xưa là nơi có Cổ Nguyệt Đường của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
• Thời Pháp Thuộc (từ năm 1887 – 1945)Năm 1873, người Pháp bắt đầu tiến đánh Hà Nội và 10 năm sau thì chiếm toàn bộ. Từ năm 1887, Hà Nội trở thành thủ phủ của Đông Dương thuộc Pháp.
Vào năm 1890, sau khi phá thành Thăng Long, trên đất NH thuộc phường Khán Xuân cũ, chiếm thêm một phần lớn đồng ruộng làng Thanh Bảo, một phần ruộng làng Ngọc Hà và một cái đầm thuộc làng Khán Xuân.
Trong địa phận phường Khán Xuân ngày xưa, cạnh phủ Tây Hồ, lợi dụng nơi có một hồ nước đẹp, người Pháp đã cho xây dựng ở đây một quần thể màu xanh kỳ diệu: đó là vườn Bách Thảo. Trước đây, khi mới thành lập vào năm 1890, vườn có diện tích trên 33ha, bao quanh và sân sau của tòan bộ quần thể các dinh phủ và biệt thự của người Pháp.

Người Pháp di dân để làm vườn Bách Thảo, gọi là vườn Thảo Mộc (jardin botanique), còn người ta vẫn gọi là trại Hàng Hoa hay vườn Bách Thú.

Trong vườn có trồng nhiều loại cây, mở nhiều lối đi, ở giữa dựng một cái lầu bát giác gọi là nhà kèn.

Tuy gọi là một công viên trong thành phố nhưng vườn lại được mở ngay sát phủ Toàn quyền của Pháp nên mục đích chính vẫn là để làm nơi dạo chơi cho bọn thực dân và quan lại. Nhân dân ít khi qua lại hay dạo chơi tại nơi đây vì thái độ kỳ thị của bọn chúng và đặc biệt là sự đối xử hỗn xược của tên thực dân coi vườn.

Bản đồ Hà Nội 1936
• Thời kỳ Việt Nam Dân chủ cộng hòa (1945 – 1975)Vườn bách thảo bị thu hẹp sau khi nhường một phần khá lớn diện tích đất để xây dựng Khu di tích lịch sử Ba Đình, chỉ còn diện tích trên 10 ha nằm trong địa phận phường Ngọc Hà, Q.Ba Đình.
Năm 1973, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nằm trên đất vùng Ngọc Hà khởi công từ tháng 9-1973, đến tháng 8-1978 thì khánh thành, là di tích đón khách đông vào bậc nhất nước.
• Thời kỳ Việt Nam xã hội chủ nghĩa (từ 1975 đến nay)Năm 1975, toàn bộ chim thú được đi chuyển lên công viên Thủ Lệ (nay là Vườn thú Hà nội), Vườn Bách thảo được xây dựng tường bao quanh, diện tích bị thu làm nơi tập kết đồng bào về thăm viếng Lăng chủ tịch Hồ Chí Mình. Sau này, không sử dụng làm điểm tập kết nữa, Vườn Bách thảo lại được giao cho công ty công Viên cây xanh hà nội quản lý.

Vườn Bách Thảo trở lại tên xưa VƯỜN BÁCH THẢO
II. Những đặc điểm của Bách Thảo:[/I]
1. Diện tích, địa điểm:Công viên Bách Thảo nằm phía sau lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Phủ Chủ tịch.. Có hai lối vào, một lối ở đầu phố Hoàng Hoa Thám, một lối ở giữa phố Ngọc Hà.
Tổng diện tích tự nhiên hiện nay của vườn là 10,730 hecta, trong đó diện tích thảm cây xanh là 7 hecta, diện tích mặt hồ nước là 1,9 hecta, đường giao thông nội bộ 1,1 hecta và núi Sưa gần 0,5 hecta.
Bách Thảo còn được một vùng tự nhiên rộng lớn bao quanh hỗ trợ, như phía Bắc và Đông Bắc có Hồ Tây, hồ Trúc Bạch, phía Tây là dải đất phù sa dọc sông Hồng với làng hoa Ngọc Hà, và phía Đông và Đông Nam tập trung một quần thể di tích lịch sử đồ sộ: quảng trường Ba Đình và khu lưu niệm Hồ Chủ Tịch. Không gian bao quanh của vườn Bách Thảo trở thành thóang đãng và văn hóa nhất của Thủ đô, du khách đến vườn Bách Thảo được đắm mình trong khu vực tự nhiên và lịch sử đẹp của Hà Nội.
2. Địa danh Núi Nùng (hay Núi Sưa):Tên gọi núi được chuyển qua nhiều thời kỳ:
Khán Sơn: Thời vua Lê Thánh Tông, vua cho dựng một quả núi đất (mà hiện nay vẫn còn) là nơi duyệt võ đài để mọi người đứng đó xem quân sĩ thao luyện.
- Khán Sơn là ngọn núi nằm ở phía ngoài gần cổng Tây Bắc của Cấm thành. Điều đó được ghi nhận qua bản đồ Đông Kinh trong Bản đồ Hồng Đức. Nhưng sau khi xây thành Hà Nội thì Khán Sơn lại nằm bên trong thành Hà Nội ở góc Tây Bắc[2]. Khán Sơn nằm ở bên trong, vào góc Tây Bắc[3] của thành Hà Nội, tức khoảng gần góc Phan Đình Phùng - Hùng Vương hiện nay.
- Sau đó, tại đây người ta xây lại thành đền thờ Lê Thánh Tông. Vào khoảng thế kỷ 17, người ta lại tô tượng vua Lê Thánh Tông thờ trong đền để kỷ niệm việc diễn võ. Đến cuối đời Lê, trong những cuộc biến động trong thành Thăng Long giữa các thế lực vua Lê chúa Trịnh, đền bị phá hủy, tượng vua Lê Thánh Tông được đem về thờ ở chùa Huy Văn.
Núi Sưa:Trên núi Sưa (Sư Sơn) trong Bách Thảo cũng có đền thờ Ngài Thần hoàng là Huyền Thiên Hắc Đế, có công phò trợ Lý Thánh Tông đánh giặc Chiêm Thành. Đền dựng bao giờ, không biết, nhưng ghi được trùng tu tháng 10-1898, thời Nguyễn.
Núi Nùng:Sự kiện 1945 gắn với núi Nùng - Cuộc đối mặt ngày 17/6/1945 tại núi Nùng, vườn Bách Thảo (Hà Nội). Việc phá cuộc míttinh ngày 17/6/1945 là cuộc tập dượt đấu tranh công khai với địch để ngày 17/8/1945, anh chị em Việt Minh toàn thành Hoàng Diệu đã phá tan cuộc míttinh của “Tổng hội Viên chức” trước Nhà hát Lớn với lá cờ đỏ sao vàng khổ rất lớn, treo từ nóc Nhà hát thành phố xuống gần tới lễ đài, để từ đó có người lên diễn thuyết kêu gọi toàn dân đứng lên làm cuộc khởi nghĩa lịch sử 19/8/1945.
3. Cây cối thực vậtVườn bách thảo Hà Nội do người Pháp chính thức xây dựng bo vào năm Lúc đầu vườn có diện tích rộng 33 ha, đất đai không bằng phẳng, có gò núi, ao hồ do vun đất cao lên hay khơi sâu xuống. Cây cối rậm rạp được phát quang để mở thêm đường đi lại với các công trình liền kề như phủ toàn quyền Đông dương. Giám đốc vườn bách thảo thời đó là Lơ Ma-riê đã du nhập nhiều cây nhiệt đới để làm vườn ươm.
Một thời gian sau vườn đã có thảm cây xanh tốt, có chim thú, hai hồ nước và gò Sưa.
Khi mới tạo dựng, vườn có diện tích trên 33ha, bao quanh và sân sau của toàn bộ quần thể các dinh phủ và biệt thự của người Pháp. Nơi đây ngoài các loại cây sẵn có, các nhà khoa học còn sưu tập trồng các giống cây bản địa quý hiếm từ Bắc đến Nam, và dẫn giống nhập trồng thí nghiệm các loài cây cỏ lạ từ nhiều vùng trên thế giới. Để tăng thêm sự hấp dẫn và tham quan thưởng ngoạn, rải rác dọc theo lối đi, dưới những rặng cây, người ta cho xây các những chuồng, lồng để nuôi chim thú như hươu, khỉ, hổ, gấu… Trong vườn lại có trồng hoa và có người thường đem hoa bán ở đấy cho nên trước kia người ta vẫn gọi là vườn Bách thú hay Trại hàng hoa.
Trong thời kỳ đại chiến thế giới thứ hai, do suy thoái kinh tế nên nhiều loài chim thú đã bị chết hoặc bị chuyển vào Sài Gòn, chỉ còn lại rất ít thảm thực vật. Suốt trong khoảng thời gian sau đó vườn cũng không được bổ xung thêm được nội dung gì mới.
Công viên Bách Thảo Hà Nội được cấu thành bởi một cảnh quan thu nhỏ bao gồm núi, rừng và hồ nước. Trên mảnh đất tuy nhỏ hẹp của công viên Bách Thảo nhưng có mặt nhiều loài cây gỗ quý hiếm đặc trưng cho các cánh rừng ẩm nhiệt đới phương Nam. Số loài địa phương chiếm trên 2/3 các loài cây hiện hữu, còn lại 1/3 là các loài cây nhập nội từ nhiều châu lục trên thế giới: Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Đại Dương. Các loài cây cũng đại diện cho các họ, bộ của hệ thực vật bậc cao có mạch, nổi bật là các loài cây thuộc ngành thực vật hạt trần và thực vật hạt kín. Vào vườn Bách Thảo khách tham quan có dịp chiêm ngưỡng các loài cây thân gỗ có đường kính 2, 3 người ôm; các loại cây thân cột khổng lồ của họ cau dừa; các cây gỗ có bộ rễ phụ buông dài của nhóm si, đa, đề; các loài cây leo thân gỗ, các giò phong lan khoe sắc và các cây cảnh sặc sỡ.
Đặc sản của Bách Thảo là sưa, thứ cây quý đang bị lùng đẵn gần đây. Gần trăm cây lớn nhỏ mọc tập trung, chưa kể gốc chen giữa loài khác. Riêng núi Sưa có 40 gốc, và vùng phía tây cũng ngần ấy cây chen chúc. Hai cây sát tường phía bắc rất cao, gốc tới 60 cây đường kính. Vào giữa xuân, hoa sưa nở chi chít đầy cành, những đóa nhỏ xinh, trắng muốt, bay lả tả trong gió. Đứng xa mà nhìn, cây hình như rất ít lá. Không gian ngồn ngộn sức sống, hoa sưa nở chen giữa nhiều loài hoa đem lại cảm giác lạ lùng giữa chốn người xe chen chúc. Hoa sưa là “thổ sản” hay cây du nhập, vào từ bao giờ, không biết. Nhưng hẳn là phải lâu lắm rồi, thế nên núi Xuân mới có tên khác là Sưa.
Độ cao trung bình: 8 m
Núi Sưa: 17,86 m
Hệ thực vật:
Ngành hạt trần: 01 họ
Ngành hạt kín: 37 họ
Họ thực vật thân gỗ: 38 họ
Loài thực vật thân gỗ: 120 loài
Cá thể thân gỗ: 2.377
Số cây có đường kính < 10cm: 1.525 cá thể (32 loài)
Số cây có đường kính > 10cm: 825 cá thể (90 loài)
Số cây có đường kính < 50cm: 428 cây
Số cây có đường kính > 100cm: 997 cây
Số cây có nhiều cá thể
Từ 10-20 cá thể: 13 loài
Từ 10-20 cá thể: 07 loài
Từ 10-20 cá thể: 06 loài
Cây nội địa chiếm 75% tổng số cây của vườn .
Cây nhập nội chiếm 25%
Thuật ngữ 'Botanical Gardens' thông thường được áp dụng cho khu vườn có một số lượng lớn các cây được sắp xếp cẩn thận và tài liệu để tiến hành các nghiên cứu khoa học.
Để giữ gìn các giá trị của công viên Bách Thảo, các nhà khoa học thuộc trung tâm Công nghệ sinh học phục vụ đời sống và sản xuất (liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam) đã đề xuất ý tưởng xây dựng khu trưng bày tiêu bản sinh vật tại công viên này, phục vụ hoạt động nghiên cứu của các nhà khoa học và việc tìm hiểu học tập của học sinh và người dân.
Trước mắt, sẽ có hai phòng lưu trữ được xây dựng trong công viên Bách Thảo. Mỗi phòng trưng bày khoảng hai trăm hộp tiêu bản mẫu động thực vật quý của Việt Nam. Khách thăm công viên Bách Thảo sẽ được xem các bộ tiêu bản sinh với các thuyết minh sinh động có tranh ảnh và băng hình minh hoạ. Các bộ tiêu bản được giới thiệu theo chủ đề gắn liền với các địa danh, hay với các danh nhân. Hoa, lá, cành… của những loại cây đặc trưng Hà Nội như cây hoa sữa, sấu, sao đen cũng sẽ được lấy để xây dựng bộ tiêu bản đặc biệt về thực vật Hà Nội.
THE END