Sống khôn, thác thiêng
Sunday, 27. September 2009, 10:12:04
Bài viết tặng blog friend Ngothi TT
A. Mở đầu
Khi nói chuyện gì đó là “vấn đề sống chết” thì ắt hẳn chuyện ấy rất quan trọng. Sống và chết được ví von đơn giản bằng hình ảnh hai mặt của một đồng xu nhưng sự thực, chúng phức tạp hơn hình ảnh ấy gấp nhiều lần. Tuy nhiên, con người ta nói về sự sống dễ hơn nói về cái chết bởi ai cũng cảm nhận được mình đang sống ra sao. Cái chết, ngược lại, tuy ai cũng công nhận là sự thực tất yếu không tránh khỏi cuối chuỗi ngày sống của chính bản thân nhưng chẳng ai dám khẳng định chuyện gì sẽ diễn ra với mình sau khi thể xác này ngừng hoạt động.
Chính từ sự sống của con người mà văn hóa, văn minh, khoa học, tôn giáo....ra đời, phát triển để rồi một phút giây nào đó, con người dừng lại đặt câu hỏi “tôi là ai? Tại sao tôi sinh ra? Sinh ra từ đâu? Khi chết tôi về đâu?” Và sau khi “vấn đề sống chết” được đặt ra như thế làm người ta trở nên quýnh quáng vì hóa ra mình hiểu biết về cuộc sống đã ít thì chớ, hiểu về cái chết còn ít hơn nữa. Một ai đó nói rằng tôn giáo ra đời bởi nỗi sợ chết của con người. Tôi nghĩ điều này đúng một phần với những gì tôn giáo hiện đang rao giảng nhưng không là tất cả. Trước tôn giáo có tín ngưỡng, có sự tôn kính nảy sinh trong lòng những con người thời sơ khai trước thiên nhiên uy vũ và mặc cho tôn giáo dưới hình thức nào đi nữa thì cốt lõi của chúng vẫn là tâm linh - phần không bị chi phối bởi hình thức.
Bài viết này thử tìm hiểu về sự Chết như một hiện tượng tâm linh dựa trên những kiến giải từ những bản văn cổ xưa và từ những lời giảng của những bậc thầy tâm linh.
B.Đề khởi
Một người bạn thắc mắc sau một đoạn chia sẻ viết trong “tháng cô hồn” rằng: “theo những gì tôi biết qua kinh sách Mật Tông thì bardo -trung ấm chỉ trong vòng 49 ngày, sao có những trường hợp lâu quá chưa siêu...”. Trước khi trả lời nội dung câu hỏi, ta phải nắm được một số nội dung tiền đề như :
1)Hồn là gì? Cô hồn là gì? Tại sao lại có “tháng cô hồn” ?
2)Bardo – trung ấm là gì? Kinh sách nào nói về trung ấm, viết gì trong ấy?
3)Siêu thoát là gì?
I.Hồn, cô hồn và tháng cô hồn
Chẳng cần phải là tín đồ tôn giáo thì con người ta cũng nghe nói rất nhiều đến hồn, linh hồn, hồn ma....và bắt gặp hoặc dùng những từ này trong câu chuyện đời thường nhưng nếu hỏi “hồn là gì?” thì không ít người sẽ lúng túng. Câu trả lời sẽ rất khác nhau tùy theo bạn theo tôn giáo nào. Nếu người được hỏi là một người không tin có thần thánh thì câu trả lời sẽ có thể là “ Ối giời, chết là hết, làm gì có hồn ma bóng quế gì ở đây, toàn là mê tín vớ vẩn”. Trong phạm vi bài viết này, xin hiểu hồn là năng lượng còn lại sau khi thể xác đã ngừng hoạt động. Định nghĩa này dựa theo Định luật bảo toàn năng lượng trong Vật lý rằng “năng lượng không sinh ra và mất đi, chúng chỉ biến đổi từ dạng này sang dạng khác”. Nếu xem con người là một khối năng lượng thì có thể xem sự chết là thời điểm tại đó năng lượng biến đổi sang dạng khác.
Trong tín ngưỡng dân gian, người Việt Nam (và một số dân tộc khác) tin có hồn và xác trong một cơ thể sống. Sau khi chết, xác bị hư hoại đi nhưng hồn thì còn tồn tại. Tùy theo lúc còn sống làm việc thiện hay việc ác (nghiệp)mà hồn người chết sẽ đầu thai làm người, động vật hoặc xuống địa ngục đền tội. Người ta cũng tin rằng người khi sống làm nhiều công đức thì sau khi chết sẽ sinh về cõi Trời (Thiên đàng), nơi không còn lo âu phiền não, mãi mãi hạnh phúc nhưng những người chết bất ngờ do tai nạn, chết oan thì lang thang không biết đi về đâu, vất vưởng. Những hồn lang thang ấy gọi là cô hồn. Vì tin có linh hồn, có cô hồn như vậy nên trong nếp sống người Việt có việc cúng cô hồn hoặc với ý nghĩa nhân đạo giúp những linh hồn khốn khổ, tội nghiệp hoặc để họ đừng quấy phá cuộc sống an lành của bản thân, của gia đình mình. Ở Việt Nam, việc cúng cô hồn thường gắn liền với lễ Vu Lan, dịp người ta nhớ đến ông bà tổ tiên đã qua đời. Vì lễ Vu Lan diễn ra vào rằm tháng Bảy Âm lịch nên dân gian gọi cả tháng ấy là “tháng cô hồn” mặc dù ý nghĩa của Vu Lan không đơn thuần chỉ là cúng cô hồn. Những tôn giáo xuất phát từ sa mạc như Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo và Hồi giáo không tin có sự đầu thai, tái sinh. Theo đó, sau khi chấm dứt cuộc sống trần thế, hồn người chết sẽ lên Thiên đàng hay xuống Địa ngục. Hồn nào khi sống không làm những chuyện quá xấu xa đến nỗi bị đày xuống Địa ngục thì được đưa vào một nơi gọi là Luyện ngục để chịu phạt tương xứng với tội lỗi mình đã gây ra rồi sau đó cũng được lên Thiên đàng. Những người theo các tôn giáo vừa kể tại Việt Nam tuy không tin thuyết tái sinh, đầu thai nhưng tham gia một cách thụ động vào dịp Vu Lan dưới tác động của văn hóa và tín ngưỡng dân gian.
Cô hồn theo Phật giáo Bắc tông ở Việt Nam được chia làm 12 loại từ vua quan cho đến hành khất như sau:
1/ Những vị vua chúa các triều đại chết do chính biến, soán chủ thay ngôi.
2/ Những tướng lĩnh anh hùng cái thế, lừng lẫy một thời, xông pha trận mạc, vào sinh ra tử nhưng rồi tử trận, máu nhuộm sa trường, thây phơi đồng nội.
3/ Các quan chức hành chánh huyện phủ, học hành đỗ đạt nhưng phụng mệnh phải nhậm chức xa nhà, chết nơi quê người đất khách.
4/ Hàng sĩ tử sinh viên học sinh, học hành nhiều, đêm ngày đèn sách nhưng khi công chưa thành, danh chưa toại nữa chừng đã yểu mạng.
5/ Một số vị Tăng sĩ, tuy ban đầu có chí xuất trần nhưng không đạt được mục đích của đời sống xuất gia. Chỉ đàm luận suông triết lý nhà Phật mà ít dụng công thực hành, không buông xả lại còn bám víu nên chẳng được siêu thoát.
6/ Những người luyện linh đơn, tiên đoán cát hung, thiên văn địa lý, đoán mệnh cho người mà mệnh mình mờ mịt nên khi chết vẫn bị đọa lạc.
7/ Các thương gia xuôi ngược buôn bán rồi bỏ mạng trên đường.
8/ Những binh sĩ tử nạn trong chiến tranh.
9/ Những sản phụ và con chết trong khi sanh nở.
10/ Những người bị báo chướng sanh nơi biên địa, đui điếc câm ngọng, chết vì tai nạn lao động, ghen tuông hay bị đầu độc.
11/ Những cung phi mỹ nữ, hàng khuê các giai nhân, các mệnh phụ phu nhân gặp lúc thất thế lâm vào khốn cùng, chết thảm.
12/ Những hành khất, các tử tội, những kẻ chết do tai nạn nước, lửa, bị thú dữ ăn thịt và những người chết bất đắc kỳ tử do vô số tai nạn khác như thiên tai, dịch bệnh, tai nạn giao thông v.v…
Sự phân chia kể trên thực chất chỉ là sự phân chia mang tính khái quát, hàm ý mọi thành phần trong xã hội. Với tâm từ bi, các vị Tăng sĩ Phật giáo lập những nghi thức gọi là Trai đàn Chẩn tế để giúp các cô hồn này không còn bị lạnh lẽo, đói khát và nương nhờ vào năng lực của Phật, Pháp, Tăng để được giải thoát khỏi tình trạng vất vưởng, đi đầu thai, tái sinh.
II. Khái niệm Trung Ấm và kinh sách về Trung Ấm
Khái niệm “hồn, linh hồn” thường gây tranh cãi trong lý luận Phật giáo bởi nhiều người cho rằng Đức Phật không công nhận có linh hồn. Đúng theo các kinh điển Phật giáo hiện được lưu hành thì quả thật người ta không tìm thấy chỗ nào Đức Phật dùng một danh từ tương đương với nghĩa là “soul, spirit” trong tiếng Anh hay “hồn, linh hồn” trong chữ Hán... Tuy nhiên, trong các kinh A Hàm là các kinh được cho là sát với những gì do chính Đức Phật thuyết ra thì Ngài có đề cập đến khái niệm được dịch ra chữ Hán là “dị uẩn”. “Uẩn” hay “Ấm” là từ Hán dịch của từ tiếng Phạn (Sanskrit) là Skandhas, tiếng Pali là Khandha, nghĩa là “nhóm, đống” (tiếng Anh dịch là “aggregate, heap, group”) và giáo lý Phật giáo cho rằng cơ thể con người hình thành bởi ngũ uẩn (năm nhóm yếu tố). “Trung ấm” hay có khi gọi là “trung hữu”, “thân trung ấm” là từ Hán dịch của chữ Phạn là “bardo” (tiếng Anh dịch là “intermediate”) ở đây hiểu là trạng thái trung gian sau khi chết và trước khi đầu thai, tái sinh vào cõi khác theo Phật giáo là một trong sáu cõi: Trời, người, Atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh tùy theo nghiệp của mỗi người. Trong sáu cõi trên thì địa ngục, ngạ quỷ (quỷ đói), súc sinh ( động vật) gọi là ba cõi ác (xấu); cõi Trời được hưởng phú quý nhưng không tu tập được, cõi Atula hình thể đẹp nhưng nhiều ganh ghét, chiến tranh, cõi người có cơ hội để tu thành Phật.
Kinh sách như Đại Thừa Nghĩa Chương, Đại Tỳ Ba Sa Luận...đều có nói đến trung ấm. Đại Thừa Nghĩa Chương có đoạn cho rằng một số người tu tập, sống đời đạo đức và những kẻ phạm tội ngũ nghịch ( giết cha, giết mẹ, giết A la hán, làm thân Phật đổ máu, phá hòa hợp Tăng) thì không qua giai đoạn trung ấm mà tái sinh ngay vào cõi tương ứng. Người lành vãng sinh Tịnh độ, cõi lành; kẻ ác xuống thẳng địa ngục hoặc thành ngạ quỷ. Một số kinh sách khác đề cập đến “cận tử nghiệp” ( nghiệp khi gần chết) theo đó người gần chết bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nghiệp phát sinh lúc ấy. Ví dụ lẽ ra được sinh vào cõi lành nhưng do thân nhân kêu khóc quá mức làm bịn rịn hoặc có những hành vi khiến người lâm chung nổi giận thì nghiệp sinh ra khi đó có thể kéo họ xuống cõi thấp hơn.
Trong số kinh sách nói về trung ấm thì nổi tiếng nhất phải kể đến “Tử thư Tây Tạng”(Bardo Thodol -The Tibetan Book of the Dead) trong đó miêu tả tỉ mỉ quá trình từng ngày một từ ngày thứ nhất đến ngày thứ bốn mươi chín là quãng thời gian từ khi chết đến khi tái sinh. Tên sách “Bardo Thodol” được dịch là “giải thoát nhờ sự nghe” theo đó mỗi ngày, trung ấm được đọc cho nghe một đoạn tương ứng để biết cách nhận ra đường tốt để đi đầu thai. Sách này đã có rất nhiều bản dịch(Anh, Việt, Pháp....), bản chú giải đăng ở Thư Viện Hoa Sen cũng như bày bán ở các hiệu sách, xin miễn vào chi tiết ở đây.
III. Siêu thoát
“Siêu” nghĩa là “xuyên suốt, vượt thoát”. Khi người thân qua đời, thân quyến phóng sinh, bố thí...để tạo phước cho người chết được sinh vào cõi lành hoặc mời tăng sĩ đến tụng kinh để trung ấm được nghe pháp, theo đó hóa giải phiền não, hận thù mà đi tái sinh. Nghi thức như vậy gọi là cầu siêu. Như vậy, người sống nguyện cầu cho người thân, người quá cố hay những cô hồn như kể bên trên được nương nhờ vào phước lành nhờ được hồi hướng mà vượt qua khỏi ba đường ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh) sinh vào cõi lành.
Đến đây, câu thắc mắc đề bài nổi lên rõ ràng hơn. Kinh sách đã nói như thế, người sống cũng không phải không cầu siêu, không cúng kiến, cùng với sự phát triển của xã hội có thể nói là trịnh trọng và … “hoành tráng” hơn xưa rất nhiều mà sao vẫn cứ nghe chuyện vong linh chưa siêu thoát? Không phải chỉ nghe mà có hẳn sự nghiên cứu của khoa học, của những nhà xã hội học về cái gọi là “tiềm năng con người” sau khi người ta thấy nổi lên những trường hợp “ngoại cảm” trong tìm mộ liệt sĩ, phong thủy, trừ tà trị quỷ chữa những căn bệnh mà khoa học hiện đại bó tay. Qua những miêu tả của những người trong cuộc (ở đây, hiểu là những người....thứ thiệt, không phải những hạng lợi dụng buôn thần, bán thánh), giữa thế kỷ 21 đầy máy móc tối tân và khoa học hiện đại này, người ta bán tín bán nghi về một “thế giới bên kia” và cũng không khác thế hệ cha ông là mấy, họ bắt đầu cuống cuồng đi tìm câu trả lời.
C. Bardo – Trung ấm qua kiến giải của một số đạo sư
Như trên đã nói, định nghĩa về Bardo - Trung ấm cũng như các bản dịch, bản chú giải Bardo Thodol có rất nhiều và nội dung đại khái tương tự nhau.Dưới đây xin nêu hai kiến giải cho thấy những điểm khác biệt lớn.
1) Kiến giải của Osho
Osho(1931 – 1990) là một đạo sư Ấn Độ nổi tiếng. Trong số rất nhiều bài giảng của ông về mọi thể loại, đề tài.... có một đoạn giải thích về Bardo Thodol (Tử thư Tây Tạng) dưới hình thức một câu trả lời dành cho đệ tử. Bài giảng kéo dài trong 26 phút này xuất hiện dưới dạng CD-Book và về sau được thêm phần hình ảnh cộng với các câu hỏi liên quan thành một DVD tựa đề “Between These Two Dreams” với độ dài 88 phút. Dưới đây là phần tóm lược đại ý:
“ Bardo Thodol là một phương pháp đơn giản nhưng có ý nghĩa hết sức to lớn. Phương pháp này chỉ những người đã thiền tập, đã từng bỏ thời gian để chiêm nghiệm về chính mình trong cuộc sống mới có thể thấu hiểu. Nếu thông qua thiền tập mà bạn không thể giác ngộ trong kiếp sống này, bạn cần đến Bardo Thodol.
Bardo Thodol có thể xem là một phương pháp như thể thôi miên trong đó, trung ấm được nhắc nhở hãy lặng yên, hãy buông xả, đừng cố nắm giữ cuộc sống, đừng chống chọi với cái chết bởi bạn không thể thắng sự chết. Khi trung ấm buông xả và chấp nhận sự chết như là đỉnh điểm của đời sống, tất cả những gì đang xảy ra rất tự nhiên, tất cả mọi thứ đã từng làm nên hình thức của một con người tan rã.
Điểm cốt lõi của Bardo Thodol là giúp trung ấm nhận ra cuộc sống vừa qua chỉ là một giấc mơ. Bạn có thể đã sống một cuộc đời 70 năm và đó chẳng qua chỉ là giấc mơ kéo dài trong 70 năm mà thôi. Giữa giấc mơ vừa chấm dứt đó và giấc mơ tiếp theo bắt đầu khi trung ấm đi vào một tử cung của người mẹ nào đó, trung ấm có một khoảng thời gian hết sức quý báu. Nếu trung ấm được nhắc nhở để tỉnh thức và đi vào tử cung kế tiếp một cách ý thức thì trong cuộc sống mới, kẻ ấy sẽ nhớ đến cuộc sống trước đó, sẽ không còn tham lam tìm tòi những hư vinh của đời mà chú trọng hơn đến thăng tiến tâm linh.
Khoảnh khắc quý báu ấy cũng như thể bạn đang trong một đêm dài và bạn cần một lama – một vị đạo sư nhắc nhở để đừng quên, luôn tỉnh thức trên con đường. Nếu bạn bỏ lỡ sự nhắc nhở và tỉnh thức, bạn sẽ phải mất nhiều năm, nhiều kiếp sống nữa. Vì vậy, Bardo Thodol chỉ có ý nghĩa nếu được đọc bởi một người – đạo sư, mà bạn tôn kính, yêu mến và tin tưởng. Một người bạn biết sẽ không gạt gẫm mình. Điều này rất quan trọng vì trong giai đoạn trung ấm, chỉ cần một nghi ngờ dấy lên thì toàn bộ quá trình sẽ hỏng. Nếu bạn chuẩn bị tốt để chết trong tỉnh thức, qua giai đoạn trung ấm một cách có ý thức và rồi sinh ra với ý thức đó thì sự giác ngộ trong đời sống sau đó đã được bảo chứng vì bạn đã mang trong mình hạt giống tỉnh thức. Vì vậy, Bardo Thodol chỉ mang lại lợi lạc cho những người đã thiền tập và có sự gần gũi với bậc minh sư.
Bardo Thodol là một cống hiến vĩ đại của Tây Tạng cho nhân loại. Ngoài Bardo Thodol ra, mảnh đất này không có gì đáng giá cả. Ngay cả thời hiện đại này, việc đến thăm Tây Tạng cũng còn nhiều khó khăn. Đó là một xứ nghèo, khí hậu khắc nghiệt, xa xăm vùng Hy Mã Lạp Sơn quanh năm tuyết phủ lạnh lẽo. Tuy nhiên, Tây Tạng đã từng là một xứ sở ở đó người ta sẵn sàng và được khuyến khích tu tập. Gia đình nào cũng chuẩn bị cho ít nhất là một người xuất gia tu tập. Người ấy vào trong một tu viện hoặc ở nơi nào đó, chuyên cần thiền tập. Những người dân Tây Tạng, những người hết sức bình thường cũng dành thời giờ cho tu tập. Thậm chí là chỉ để ngồi trầm tư, tĩnh lặng, không suy nghĩ gì cả. Người dân ở đó đã quá quen với thiền tập, cả xứ sở đầy năng lượng thiền định, tu viện ở khắp mọi nơi, các bậc thầy biết và có thể hướng dẫn Bardo Thodol có sẵn đó. Đáng tiếc là Tây Tạng ngày nay đã bị tàn phá, không còn nhiều tu viện nữa, vẻ đẹp tuyệt vời của sự yên tĩnh và tách biệt của nó cũng đã bị phá vỡ. Trung Quốc đã tàn phá tu viện ở đó, đưa quân đội chiếm đóng và một thời gian dài chỉ cần nói đến chữ “thiền” cũng có thể bị bỏ tù. Thời hoàng kim của Tây Tạng đã đi qua và không bao giờ có thể khôi phục lại như cũ nữa. Cũng không còn những vị thầy hiểu biết và sẵn sàng hướng dẫn Bardo Thodol. Bardo Thodol vẫn còn đó, qua những bản văn được dịch ra nhiều ngôn ngữ nhưng đó chỉ là bản văn với đầy những con chữ. Dĩ nhiên, ta có thể mài giũa Bardo Thodol, mở rộng thêm nhiều phương diện nữa dựa trên kinh nghiệm thiền tập. Tây Tạng xưa đã mất nhưng ta có thể tái hiện làm thăng hoa Bardo Thodol. Như người Nhật đã làm thăng hoa thiền tập Phật giáo thành Zen, người Tây Tạng đã làm thăng hoa Phật giáo qua Bardo Thodol. Một cuộc chiến tranh hạt nhân có thể hủy hoại tất cả nhưng không thể hủy hoại giá trị của Bardo Thodol.
2) Kiến giải của Motoyama Hiroshi
Tiến sĩ Motoyama Hiroshi sinh năm 1925, tốt nghiệp khoa Văn – Triết, đại học Tokyo. Ông là một nhà nghiên cứu tôn giáo nổi tiếng thế giới, đặc biệt là ở Anh và Mỹ. Bản thân ông vừa là giáo sư đại học vừa là thầy tư tế một phái Thần đạo tại Nhật. Năm 1974, ông được UNESCO chọn là một trong số những nhà khoa học tâm lý có uy tín trên thế giới, hiện là Trưởng khoa tại California Institute of Human Sciences. Ông là người đầu tiên chế tạo thành công chiếc máy kiểm tra năng lượng đi qua kinh mạch trên cơ thể người cũng như đo được năng lượng tại các luân xa. Ở tuổi 85, ông hiện vẫn mạnh khỏe, đi lại giữa các nơi trên thế giới để thuyết trình về tôn giáo, tâm lý học và các hiện tượng siêu nhiên...
Trong cuốn “Karma to Saisei” (Nghiệp và Tái sinh, 1987), sau phần trình bày về nghiệp và tái sinh, ông đưa ra các kiến giải như sau:
a) “Tử thư Tây Tạng” - Bardo Thodol
Bardo Thodol có nhiều dị bản tùy theo dòng phái và truyền thừa của từng dòng. Trong số 17 chương của tập “Bardo Thos-grol” mà người ta tin là hình thành từ nhiều bản của các tác giả khác nhau thì trong đó bao gồm 7 chương được gọi là “The Tibetan Book of the Dead” được giáo sư Evans Wenz, đại học Oxford Jesus, dịch ra tiếng Anh lần đầu năm 1927.
b) Bardo trong “Tử thư Tây Tạng”:
Nội dung trong “Tử thư Tây Tạng” được miêu tả như thể người viết nhìn thấy thế giới người chết bằng siêu thức của Đức Phật hoặc giả là người trải qua các giai đoạn đó và phục sinh. Quá trình 49 ngày cũng tương tự như quá trình thiền định và thành đạo của Đức Phật Thích Ca trong đó Ngài thấy các loại vong linh, địa ngục, ngạ quỷ, Atula, các ác thần ngăn cản Ngài giác ngộ rồi đến các vị thần, các Bồ Tát...Cuối cùng, Ngài nhìn thấy ánh sáng vô lượng ( Long Thọ gọi là Vô Lượng Thọ Quang). Đây là dấu hiệu cho thấy đã vượt qua mọi thần linh chứng ngộ tánh Không.
Đặc điểm của miêu tả trong “Tử thư Tây Tạng” là trung ấm ( hay trung hữu, trung uẩn) là dạng không thuộc về thế giới con người cũng không thuộc về thế giới nào khác. Nghĩa là lơ lửng, không giải thoát cũng chưa đọa lạc. Quãng thời gian này được cho là 49 ngày, sau đó trung ấm sẽ tìm được nơi để nhập vào, hoặc là giác ngộ hoặc là đầu thai vào cõi tương ứng với nghiệp đã tạo. Xem ra, “Tử thư Tây Tạng” đã lật ngược quá trình thành đạo của Đức Thích Ca trong miêu tả thế giới trung ấm.
c) Nhận xét từ kinh nghiệm của bản thân Dr. Motoyama về bardo
“ Trong khoảng mười lăm năm, tôi đã có rất nhiều cuộc tư vấn về tâm linh cho nhiều người và tận mắt chứng kiến rất nhiều trường hợp vong linh người chết không ý thức được rằng mình đã chết. Họ vẫn còn đau đáu những mối lo thế tục về con cháu, về tài sản và vướng mắc vào đó. Họ không thể trở về với thế giới người sống, cũng chẳng đi sang thế giới bên kia. Có những người chết trận, quá khổ đau đến nỗi trốn biệt vào hốc núi, xó xỉnh và mắc kẹt trong tình trạng không về, không đi này nhiều năm liền, có trường hợp hàng trăm năm. Vì vậy, việc cho rằng trung ấm sẽ đầu thai sau 49 ngày là điều không hợp lý, không khớp với hiện thực. Tôi cho rằng, người viết ra “Tử thư Tây Tạng” đã không dựa vào năng lực tâm linh của mình để viết những gì mình nhìn thấy, nghe thấy mà chỉ làm công việc là miêu tả lại quá trình ngộ đạo 49 ngày dưới gốc Bồ đề của Đức Thích Ca.”
(Sách đã dẫn, trang 184 – 185)
D. Kết luận
Theo Osho, Bardo Thodol là một phương pháp tận dụng khoảng thời gian giữa hai kiếp sống để đạt sự thăng tiến tâm linh. Theo ông, để vận dụng được cần phải có điều kiện cần và đủ là : (1) người vừa chết đã có kinh nghiệm thiền tập, đã chuẩn bị cho cái chết của mình (2) có một vị thầy có đủ khả năng và được tin cậy để hướng dẫn .
Theo Dr. Motoyama Hiroshi, Bardo Thodol là một miêu tả trong đó người viết lật ngược quá trình thành đạo của Đức Phật Thích Ca. Như vậy, con số 49 ngày vẫn được xem là số ngày trung ấm tái sinh không thể xem là tuyệt đối vì không khớp với những gì cá nhân ông trải nghiệm.
Xâu chuỗi tất cả những gì trình bày từ đầu đến đây, ta có thể tạm rút ra được một câu trả lời cho câu hỏi đề bài như sau rằng: Khi sống, nếu ta có tu tập và ý thức chuẩn bị cho cái chết và khi chết có một vị thầy đáng tin cậy để nhắc nhở dẫn đường, ta có thể tìm ra con đường tái sinh lên mức cao hơn. Con số 49 ngày rất có thể chỉ là con số tượng trưng.
Cuối cùng, xin dành vài hàng để trình bày thiển ý. Lịch sử Việt Nam gắn liền với chiến tranh. Suốt chiều dài lịch sử, có quá nhiều người đã nằm xuống. Nếu đọc lại 12 tiểu loại cô hồn trên kia, ai dám khẳng định trong gia đình mình không có người rơi vào một trong số ấy. Ngày nay, khi không còn người ngã xuống vì chiến tranh trên đất Việt, vẫn còn hàng trăm hàng ngàn trẻ em ngày ngày, tháng tháng gia nhập hàng ngũ cô hồn. Ấy là chỉ tính theo con số phá thai chính thức có trong sổ bộ ở các bệnh viện. Ngày nào cô hồn còn đó, người sống chưa thể hạnh phúc trọn vẹn. Linh hồn như định nghĩa ở trên là một dạng năng lượng nếu không tìm được nơi để chuyển hóa chắc chắn sẽ ứ đọng, gây ảnh hưởng xấu đến người sống. Có lẽ những vong linh lảng vảng ấy đang nỗ lực tìm kiếm phương cách để gợi sự chú ý của con cháu. Có lẽ vì vậy mà một số người được gọi là “nhà ngoại cảm” nổi tiếng hiện nay, có khả năng giao tiếp với vong linh, tìm mộ... không xuất thân từ gia đình tôn giáo, cũng không qua quá trình tu tập đặc biệt nào.
Khi nói cô hồn, người ta cảm thấy không liên quan đến mình nhưng nếu nhắc đến tổ tiên, người Việt không ai xa lạ. Ngay cả những người không tin vào tôn giáo nào cũng vẫn biết, vẫn nhớ ngày giỗ cha mẹ ông bà. Nếu thực lòng yêu kính ông bà, cha mẹ, biết ơn tổ tiên, lẽ nào ta không muốn họ được siêu thoát ? Bản thân họ biết đâu đang đau khổ vì vướng mắc, ta là con cháu không giúp đỡ, họ còn biết nương nhờ ai? Hồi hướng công đức không còn chưa đủ, phải tu tập để nhìn ra được họ đang vướng mắc nơi nào để thuyết phục họ, giải thoát họ khỏi sự khốn đốn, khổ đau ấy. Và cũng chính qua tu tập, ta chuẩn bị tinh thần để tỉnh thức, để không thành cô hồn làm khổ con cháu.
Tài liệu tham khảo
1. Between These Two Dreams . Osho Talk(DVD). 2007.
2. カルマと再生. Motoyama Hiroshi. 1987.
3. http://phatphap.wordpress.com (12 loại cô hồn)






