Skip navigation.

Agonboy's notebook

Bạn bè quý ở hiểu nhau, chỉ cần y thật lòng kết giao, mình còn thắc mắc gì đến việc y dùng tên thật hay tên giả.(Cổ Long)

Kinh Tiên-ni, linh hồn và Thành Phật Pháp

* Tựa đề do Agonboy đặt, nội dung dưới đây giới thiệu bài giảng đặc biệt tháng 4 năm 2009 của Đại Tăng Chính Kiriyama Seiyu, Quản Trưởng A Hàm Tông.


A.KINH TIÊN-NI[9]

(Tạp A Hàm tập 5, Kinh số 105, Thích Đức Thắng dịch)

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, tại thành Vương xá.

Bấy giờ có một ngoại đạo xuất gia tên là Tiên-ni[10] đến chỗ Phật, cung kính thăm hỏi, rồi ngồi qua một bên, bạch Phật:

“Ngày hôm qua, có các Sa-môn, Bà-la-môn, Giá-la-ca[11], cùng nhau tập trung tại giảng đường Hy hữu[12], khen ngợi như vầy: ‘Phú-lan-na Ca-diếp[13], là người lãnh đạo đồ chúng, có năm trăm đệ tử vây quanh trước sau. Trong số họ có người cực thông minh, có người đần độn, nhưng đến khi họ chết đi, không được xác nhận[14] là họ sẽ tái sanh ở đâu. Lại có Mạc-ca-lê Cù-xá-lợi Tử[15] là người lãnh đạo đồ chúng, có năm trăm đệ tử vây quanh trước sau. Trong số họ có người cực thông minh, có người đần độn, nhưng đến khi họ chết đi, không được xác nhận là họ sẽ tái sanh ở đâu. Cũng vậy, Tiên-xà-na Tỳ-la-chi Tử, A-kỳ-đa Xí-xá-khâm-bà-la, Ca-la-câu-đà Ca-chiên-diên, Ni-kiền-đà Nhã-đề Tử[16] v.v… mỗi người đều có năm trăm đệ tử vây quanh trước sau, như đã nói trên.’

“Sa-môn Cù-đàm lúc bấy giờ cũng được thảo luận trong đó, rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm là thủ lãnh của đại chúng. Trong số đệ tử của Ngài nếu có ai mạng chung thì liền được ghi nhận là sẽ sanh vào chỗ này, sẽ sanh vào nơi kia. ‘Trước đây tôi có sanh nghi, vì sao Sa-môn Cù-đàm đạt được pháp như vậy[17]?’”

Phật bảo Tiên-ni:

“Ông chớ sanh nghi ngờ. Vì có mê lầm nên sanh ra nghi hoặc. Tiên-ni nên biết, có ba hạng tôn sư. Những gì là ba? Có một hạng tôn sư thấy đời hiện tại chân thật là ngã, rồi theo chỗ biết ấy mà thuyết, nhưng không thể biết những việc sau khi chết. Đó là hạng thầy thứ nhất xuất hiện ở thế gian. Lại nữa, này Tiên-ni có một hạng tôn sư, thấy đời hiện tại chân thật là ngã, sau khi chết cũng thấy là ngã, rồi theo chỗ biết ấy mà thuyết. Lại nữa, này Tiên-ni có một hạng tôn sư, không thấy đời hiện tại chân thật là ngã, sau khi mạng chung cũng lại không thấy chân thật là ngã.

“Này Tiên-ni, hạng tôn sư thứ nhất thấy đời hiện tại chân thật là ngã, rồi theo chỗ biết ấy mà thuyết, thì đó gọi là đoạn kiến. Hạng tôn sư thứ hai, thấy đời hiện tại và đời vị lai chân thật là ngã, rồi theo chỗ biết ấy mà thuyết, thì đó gọi là thường kiến. Hạng tôn sư thứ ba, không thấy đời hiện tại chân thật là ngã và sau khi chết cũng không thấy ngã, thì đó là Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác nói, hiện tại cắt đứt ái, ly dục, diệt tận, chứng Niết-bàn.”

Tiên-ni bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, tôi nghe những gì Đức Thế Tôn nói càng thêm nghi ngờ.”

Phật bảo Tiên-ni:

“Càng nghi ngờ thêm là đúng. Vì sao? Vì đây chính là chỗ sâu xa khó thấy khó biết, cần phải quán chiếu sâu xa, vi diệu mới thấu đáo được, chỉ có bậc thông tuệ mới hiểu rõ, còn loại chúng sanh thường tình thì chưa có khả năng biết được. Vì sao? Vì chúng sanh lâu đời có những kiến giải dị biệt, nhẫn thọ dị biệt, sự mong cầu dị biệt, những ước muốn dị biệt.”

Tiên-ni bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, con đối với Thế Tôn có lòng tin thuần tịnh, xin Đức Thế Tôn vì con mà nói pháp, để ngay nơi chỗ ngồi này tuệ nhãn của con được thanh tịnh.”

Phật bảo Tiên-ni:

“Nay Ta sẽ tùy thuộc vào chỗ ưa thích của ông mà nói.”

Phật bảo Tiên-ni:

“Sắc là thường, hay là vô thường?”

Đáp:

“Là vô thường.”

Đức Thế Tôn lại hỏi:

“Này Tiên-ni, vô thường là khổ chăng?”

Đáp:

“Là khổ.”

Đức Thế Tôn lại hỏi Tiên-ni:

“Nếu vô thường, khổ là pháp biến dịch, vậy đa văn Thánh đệ tử ở trong đó có thấy ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?”

Đáp:

“Bạch Thế Tôn, không.”

“Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”

Lại hỏi:

“Thế nào, Tiên-ni, sắc có phải là Như Lai không?”

Đáp:

“Bạch Thế Tôn, không.”

“Thọ, tưởng, hành, thức có phải là Như Lai không?”

“Bạch Thế Tôn, không.”

Lại hỏi Tiên-ni:

“Ngoài sắc có Như Lai không? Ngoài thọ, tưởng, hành, thức có Như Lai không?”

Đáp:

“Bạch Thế Tôn, không.”

Lại hỏi Tiên-ni:

“Trong sắc có Như Lai không? Trong thọ, tưởng, hành, thức có Như Lai không?”

Đáp:

“Bạch Thế Tôn, không.”

Lại hỏi Tiên-ni:

“Trong Như Lai có sắc không? Và trong Như Lai có thọ, tưởng, hành, thức không?”

Đáp:

“Bạch Thế Tôn, không.”

Lại hỏi Tiên-ni:

“Phi sắc, phi thọ, tưởng, hành, thức có Như Lai không?”

Đáp:

“Bạch Thế Tôn, không.”

Phật bảo Tiên-ni:

“Các đệ tử của Ta nghe những gì Ta đã nói mà không hiểu nghĩa lý để khởi vô gián đẳng[18] đối với mạn. Vì phi vô gián đẳng nên mạn không bị đoạn trừ. Vì không dứt trừ được mạn, nên khi bỏ ấm này thì ấm khác tiếp nối sinh. Do vậy, này Tiên-ni, Ta ký thuyết cho các đệ tử, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào chỗ này hay chỗ kia. Vì sao? Vì mạn còn sót lại.

“Này Tiên-ni, các đệ tử của Ta đối với những gì Ta đã nói, có khả năng hiểu rõ, thì đối với các mạn mà đạt được vô gián đẳng. Nhờ đạt được vô gián đẳng nên các mạn dứt trừ; vì các mạn được dứt trừ nên sau khi thân hoại mạng chung sẽ không còn có tương tục. Này Tiên-ni, những người đệ tử này, Ta không bảo là khi bỏ ấm này rồi, họ sẽ sinh vào chỗ này hay chỗ kia. Vì sao? Vì không có nhân duyên để có thể ký thuyết. Nếu muốn Ta ký thuyết, Ta sẽ ký thuyết rằng, họ đã đoạn trừ các ái dục, vĩnh viễn xa lìa kết sử hữu, chánh ý giải thoát, tận cùng mé khổ. Từ xưa tới nay và ngay trong hiện tại, Ta thường nói, mạn quá, mạn tập, mạn sanh, mạn khởi; nếu đối với mạn mà thường xuyên quán sát thì các khổ sẽ không sanh.”

Khi Phật nói pháp này, Tiên-ni Sa-môn ngoại đạo[19] xa lìa trần cấu, được mắt pháp trong sạch. Bấy giờ, Tiên-ni thấy pháp, đắc pháp, đoạn trừ các nghi hoặc, không do người khác mà biết, không do người khác để được độ thoát. Ở trong Chánh pháp, tâm đạt được vô sở úy. Ông từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, con có được phép ở trong Chánh pháp xuất gia tu phạm hạnh không?”

Phật bảo Tiên-ni:

“Ông có thể xuất gia, thọ giới Cụ túc, được làm Tỳ-kheo ở trong Chánh pháp.”

Sau khi Tiên-ni đã được phép xuất gia rồi, một mình ở nơi vắng vẻ tu tập không buông lung, tự suy nghĩ về lý do nào mà người có dòng họ quý cạo bỏ râu tóc, chánh tín xuất gia học đạo, sống không gia đình, tu hành phạm hạnh, thấy pháp, tự biết đã chứng đắc: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Đã đạt được quả A-la-hán.

Sau khi đã nghe những gì Đức Phật đã nói, hoan hỷ phụng hành.


Chú thích :

[9]Pāli, S. 44. 9. Kutūhalasālā.

[10]. Tiên-ni 仙尼. Bản Pāli: Vacchagotto paribbājako, du sĩ (phổ hành Sa-môn) dòng họ Vaccha.

[11]. Già-la-ca 遮羅迦. Pāli: caraka, du hành tăng, hay phổ hành sa-môn. Bản Pāli: paribbājaka, đồng nghĩa.

[12]. Hy hữu giảng đường 希有講堂. Pāli: kutūhala-sālā.

[13]. Phú-lan-na Ca-diếp 富蘭那迦葉. Pāli: Pūraṇo Kasapo.

[14]. Bản Pāli nói ngược lại: được xác nhận: upapattīsu vyākarati.

[15]. Mạt-ca-lê Cù-xá-lợi tử 末迦梨瞿舍利子. Pāli: Makkhali-Gosāla.

[16]. Tiên-xà-na Tỳ-la-chi Tử 先闍那毘羅胝子, Pāli; Sañjaya-Belaṭṭhiputta. A-kỳ-đa-xí-xá-khâm-bà-la 阿耆多翅舍欽婆羅, Pāli: Ajita-Kesakambala. Ca-la-câu-đà Ca-chiên-diên 迦羅拘陀迦栴延, Kakudha-Kaccāyana. Ni-kiền-đà Nhã-đề Tử 尼揵陀若提子, Pāli: Nigaṇṭha-Nātaputta.

[17]. Bản Pāli hơi khác: kathaṃ nāma samanassa gotamassa dhammo abhiññeyyo, pháp của Sa-môn Cù-đàm cần được thấu hiểu như thế nào?

[18]. Vô gián đẳng 無間等, Quốc dịch chú: Pāli là abhisamaya, thường được dịch là hiện quán 現觀hay hiện chứng 現証; có nghĩa là lý giải, thấu hiểu thông suốt.

[19]. Trong bản Hán: Tiên-ni xuất gia 仙尼出家, chỉ ngoại đạo xuất gia, hay du sĩ (Pāli: paribbājaka) hay tu sĩ ngoại đạo.



Nguồn: http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-aham-tap/tap05.htm#_ftnref9

B. Bài giảng
1)
"Thành Phật Pháp" ở đây được định nghĩa là "(phương )pháp (tu để) thành Phật"


2)Trong Phật giáo,con người là tập hợp hình thành bởi năm yếu tố "Sắc (vật chất), Thọ(cũng đọc là "Thụ", cảm giác), Tưởng(tư duy, trực giác), Hành(ý chí), Thức(ý thức)". Năm yếu tố này được gọi là "ngũ uẩn"("uẩn" có nghĩa là tập hợp, cũng gọi là "ấm"), theo cách diễn đạt đặc trưng của Phật giáo là "ngũ uẩn giả hợp mà thành con người (tự ngã/linh hồn)" ( Hiểu đơn giản là năm yếu tố vừa kể nương lẫn vào nhau mà hình thành nên cái gọi là bản ngã, linh hồn - Agonboy chú thích)

Như vậy, sau khi chết thì con người đi về đâu? Phật giáo tại Nhật Bản phần lớn cho rằng Thế Tôn phủ nhận sự tồn tại của "linh hồn". Chết là mọi thứ sẽ triệt tiêu. Đây là lầm lẫn lớn. Việc cho rằng chết là triệt tiêu hoàn toàn không phải là tư duy của Phật giáo. Điều này xảy ra do việc không học hỏi và tu tập thấu đáo các kinh A Hàm do Thế Tôn trực tiếp giảng thuyết. Thế Tôn tuyệt không phủ nhận sự tồn tại của linh hồn, Ngài khẳng định nữa là đằng khác. Tuy nhiên, Ngài không dùng danh từ "linh hồn" mà diễn đạt bằng từ (được dịch ra tiếng Hán là )"dị uẩn". Trong kinh Tiên ni (đoạn được in đậm bên trên- Agonboy chú thích), Ngài giảng rằng: "Vì không dứt trừ được mạn(ngã chấp, chấp có cái "tôi") , nên khi bỏ ấm này(tức là chết đi) thì ấm khác tiếp nối sinh." "Ấm khác(dị uẩn)" có nghĩa là là có sự tồn tại dưới dạng thức khác của "ấm(uẩn= tập hợp)" sau khi chết.
Trong kinh "Thân mạng" (Tạp A Hàm tập 34, kinh 957, Thích Đức Thắng dịch http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-aham-tap/tap34.htm ), Ngài dùng từ "ý sanh thân" để nhắc đến sự tồn tại sau cái chết ( dĩ nhiên, đây là khái niệm đã dịch sang tiếng Hán ). "Ý sanh thân" đây tức là thân hình thành do ý thức(tâm).
Như vậy, Thế Tôn dạy rằng con người sau khi chết, chừng nào cái gọi là "ngã chấp phiền não" (tangha)còn tồn tại thì còn có cái gì đó (dị uẩn, ý sanh thân) tiếp tục tồn tại. Thể tồn tại sau cái chết này chính là "linh hồn". Sau khi đi qua thế giới của sự chết, linh hồn mang ngã chấp này sẽ tái sinh và nếu không gặp được Thành Phật Pháp trong khi sống thì chắc chắn sẽ liên tục luân hồi, chuyển thế. Trong trường hợp ngã chấp quá mạnh thì linh hồn sẽ trở thành âm hồn lạc lõng không tái sinh được và sóng rung động của những âm hồn này tác động mạnh mẽ đến con cháu.
Thế Tôn phủ nhận sự tồn tại một "tiểu ngã (atman) thường hằng, bất biến không bao giờ mất đi" theo định nghĩa của đạo Bà La Môn nhưng Ngài thừa nhận có sự "tồn tại sau cái chết" dựa trên pháp Duyên khởi rằng do do duyên mà sinh, do duyên mà diệt.
Nghĩa là không có cái "tiểu ngã(atman) mãi mãi không thay đổi" mà có "tiểu ngã(atman)cấu thành do duyên khởi trong vô thường(thay đổi)". Tức có sự tồn tại của "tự ngã(linh hồn)" và thông qua tu tập mà tự ngã này nhập vào Niết Bàn (Nirvana).
Không "bất biến" mà là "thường biến" do duyên nên sau khi chết thì linh hồn nếu gặp được duyên hợp với nó sẽ chuyển sinh. Nếu đó là duyên với Thành Phật Pháp thì linh hồn sẽ giải thoát và sinh về cõi Phật. Chết không có nghĩa là thành ra hư không, mọi suy nghĩ theo hướng đó đều phản lại phép duyên khởi do Phật thuyết.

Thành Phật Pháp tức là phép tu để thành Phật gồm 7 khoa, 37 phẩm. Người sống có thể tu theo các pháp này để tịnh hóa mình, nâng cao tâm linh, dứt bỏ các nghiệp xấu, nhân xấu và bước vào hàng ngũ Thánh nhân ( Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm) và cuối cùng đạt đến "A La Hán" (tức Phật Đà).Người tu theo Thành Phật Pháp nếu kiếp sống này chưa giải thoát được thì trong kiếp sống sau đó sẽ tiếp tục tu theo Thành Phật Pháp cho tới khi thành Phật.
Người chết không thể tự mình tu tập như vậy được nên cần phải nương nhờ vào bậc Thánh nhân đã thành tựu trên đường tu tập Thành Phật Pháp, nhờ năng lực của vị này để được giải thoát. Tuy nhiên, giải thoát ở đây không có nghĩa là hoàn toàn ra khỏi các nhân, nghiệp xấu và phiền não mà chỉ là nhờ vào năng lực của vị Thánh nhân kia mà thoát ra khỏi sự khổ đau do bị ràng buộc bởi sự mê lầm, chấp nhất của mình để có thể đi vào sự an lạc của thế giới người chết.Đây chính là pháp của Thế Tôn.

Thế giới ngày nay đang đứng trước nguy cơ hủy diệt bởi có quá nhiều âm hồn oán hận, truyền những xung động xấu đến tầng ý thức thâm sâu của người sống. Kết quả, con người càng ngày càng trở nên quá khích, hung hãn, phản đạo đức, kết quả chung cuộc sẽ là sự tự hủy diệt chính bản thân. Đầu tiên, gia đình sẽ đổ vỡ. Nếu không đưa được những linh hồn đã chết đến được sự yên nghỉ thực sự thì sẽ không bao giờ có sự yên lành đến với người sống. Chỉ có Thành Phật Pháp của Thế Tôn mới có thể cứu được những linh hồn đang đau khổ này và đưa họ đến với sự an lạc.

(Agonboy lược dịch)

You Can Become Buddha Lâm cơ ứng biến

Comments

Anonymous 4. May 2009, 15:24

Anonymous writes:

Hình như ngã là vấn đề then chốt của những triết thuyết từ cổ chí kim,và xem ra khó mà ngã ngũ..:) vì phụ thuộc vào cái ngã của mỗi người và khó mà diễn đạt bằng ngôn từ..
Entry này cũng khá là độc đáo đó!
Đã lâu,NGOTHI chúc AGONBOY mọi điều tốt lành nhe1

Anonymous 4. May 2009, 15:26

Anonymous writes:

Thỉnh thoảng bạncũng ghé qua YH nhé!

How to use Quote function:

  1. Select some text
  2. Click on the Quote link

Write a comment

Comment
(BBcode and HTML is turned off for anonymous user comments.)

If you can't read the words, press the small reload icon.


Smilies

January 2010
M T W T F S S
December 2009February 2010
1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31