Skip navigation

Lost password? | Help

Máy ảnh Kỹ Thuật Số SLR

Thông tin và bài viết này được cập nhật và sao chép từ Interne

STICKY POST

Ghi chú về Blog này



Tôi muốn sử dụng blog này như một kho lưu trữ thông tin cá nhân, những thông tin trong blogs là do tôi tải, copy từ các diễn đàn nhiếp ảnh trên net, với mục đích bổ sung kiến thức cho cá nhân mình.
Tôi chỉ là Newbie trong lĩnh vực này và đang dò dẫm học hỏi, vì vậy, tôi đưa các Blog ra public với hy vọng nhận được nhiều comments từ các đàn anh và chia sẻ với các Newbies như tôi.

No title

Macro Photography for Beginners - Part One

by Tom Hicks

Part One Part Two Part Three


What is Macro?
Macro, by definition, is photography at 1x magnification and above. Anything less would be defined as "close-ups" rather than "macro". 1x magnification or life-size, is usually written as 1.1. Life-size means that the subject you are photographing appears the exact same size on film as it does in real life. Therefore if a fly is 15mm long, then the image of the fly on film will also be 15mm long. 35mm film is 24mm x 36mm, or approximately this size:

1:1, or life-size
Part One of this series is how to take macro or close-up shots with non-dedicated macro lenses. I will try to cover lenses that you may already have in your bag. This series will not go into a lot of depth, but will take a no-nonsense approach to capturing the shot.

Lenses
The first lens to be addressed will be the 50mm f/1.4 or f/1.8. This lens is probably one of the most-used lenses ever made and is a must-have for photographers of all types. The 50mm lens is capable of Macro shots with the help of both close-up lenses (diopters) and extension tubes.

Diopters or close-up lenses are simply magnifying glasses that you can screw onto the front of a lens to increase object size. These type lenses shorten the minimum focus distance for the lens in use and are available in many different powers: -1x, 2x, 3x, 4x, 5x,-10x. They are offered in both single and double element. The double-element type will give you the best reproduction simply because of superior optical quality.

Canon's 77mm close-up lens, the 500D
Canon's 77mm close-up lens, the 500D
Hoya
Hoya

Extension Tubes
Extension tubes are simply spacers that you put between the camera and lens to move the lens farther away from the film plane, thus increasing magnification. The more extension, the closer you are able to focus and the more you increase image size.

Here is a set of Kenko tubes, one of the more popular brands:
Individual extension tubes
Individual extension tubes

Extension tubes stacked for storage
Extension tubes stacked for storage

Examples
Let's first take a look at an image that was captured with the 50mm with no extension or close-up filters used. This image was taken at the lens' minimum focusing distance.
50mm lens alone


In this next image you will see the same subject captured with the Canon 500D close up lens or diopters attached. Lens to subject working distance is 8".
with close-up lens or diopters attached


For this next image we will add a 12mm extension tube to the above combo. This will give you a working distance of 4" this is getting close to the bare minimum distance where you can still use natural light without too many shadows created by your presence or the interference of the lens creating the shadows. If one wishes to get closer by adding more extension, then a flash will be helpful in getting light to the subject.
adding a 12mm extension to the combo


In the last example the 50mm lens used with the close-up lens and tubes is capable of Macro type photographs.

This next image was taken with the 12mm tube attached to the camera then the 50mm lens and finally the 500D on the front.
12mm tube attached to the camera then the 50mm lens and finally the 500D on the front.


The last image was taken with a Canon 1.4x teleconverter attached to the camera, then the 12mm tube, the lens, and lastly, the 500D on the front of the lens.
Canon 1.4x teleconverter attached to the camera, then the 12mm tube, the lens, and lastly, the 500D on the front of the lens.

"nhìn theo con mắt của máy ảnh" Author : Lekima/photovn

Tại sao lại là "nhìn theo con mắt của máy ảnh" bởi một điều rất đơn giản là máy ảnh nhìn mọi vật theo cách của chúng, khác với chúng ta:

Máy ảnh có thể nhìn thấy vật chuyển động rất nhanh, nhưng chúng ta thì không thể;

Máy ảnh có thể nhìn với những góc lớn, trong khi mắt ta chỉ nhìn đến góc khoảng 46độ (đây là góc cho ống kính tiêu chuẩn);

Máy ảnh chỉ có 1 ISO nhưng trên mắt chúng ta có thể có nhiều ISO tại cùng một thời điểm;

Máy ảnh chỉ nhìn được mọi thứ ở không gian 2 chiều, còn mắt lại nhìn đời ở không gian 3 chiều...

Chủ để này tôi xin phép được trình bày những vấn đề cơ bản về nhiếp ảnh từ cầm máy, bấm chụp, cho đến khẩu độ,tốc độ, ISO,đo sáng,Dof... cho những thành viên mới bắt đầu. Hy vọng sẽ giúp ích cho mọi người khi cầm máy. Do kiến thức có hạn nên cũng rất cần các thành viên khác cùng tham gia để chủ đề thực sự hữu ích cho tất cả mọi người.

1.Sơ bộ về lịch sử nhiếp ảnh:

Từ rất xa xưa(có tài liệu ghi trước công nguyên khoảng 3 thế kỷ) con người đã phát hiện ra nguyên lý thu hình: Một lỗ thủng bé ở tường nhà cho ánh sáng bên ngoài lọ vào trong phòng tối đã đem theo hình ảnh đối diện nó.

Nguyên lý này đã được Leona De Vinci (Nhà bác học nổi tiếng nhiều lĩnh vực, mà hiện nay quyển sách viết về ông Mật mã De vinci đang bán chạy) nhắc đến năm 1519 khi nói về cách quan sát bầu trời những khi có nhật thực.

Cùng thế kỷ 16 nhà vật lý Morolico đã rút nhỏ không gian buồng tối trên thành hộp tối. Chiếc hộp tối này được làm bằng một cái hộp kín, một mặt ngắn tạo lỗ thủng nhỏ cho ánh sáng đi vào. Mặt đối diện là tâm kính mờ để quan sát.

Vào năm 1568 ông Danielo Barbaro đã sáng chế ra một hộp tối có một thấu kính và một lỗ có thể thay đổi đường kính để tăng độ nét của ảnh. Trước đó mọi người còn biết đến hộp Porta được các hoạ sĩ dùng để vẽ ảnh phóng tranh...

Cái hộp kiểu này vẫn còn chụp ảnh ngon Very Happy . Các bạn có thể nhìn thấy khi xem triển lãm ảnh “Hà Nội nhìn qua một cái hộp” ngày 12-1-2005 tại sảnh triển lãm của Trung tâm văn hóa Pháp L’ Espace (24, Tràng Tiền, Hà Nội). Do hai nhà nhiếp ảnh Francois Perri và Philippe Masson hướng dẫn các em trẻ mồ côi làm quen với kỹ thuật chụp ảnh bằng hộp tối sténopé.

Đó là một công cụ nhiếp ảnh đơn giản, làm từ vỏ đồ hộp, không có bất kỳ chi tiết cơ khí nào, không có thấu kính. Nó giúp các em quan sát, sáng tạo hình ảnh, học cách làm thời gian ngừng lại, giúp các em hiểu rõ hơn về thời gian và ánh sáng.

Một hiện tượng ngẫu nhiên như quả táo của Niwton đã đến với nhiếp ảnh đó là vào năm 1727,một nhà khoa học người Đức tên là Schulet khi phơi tờ giấy có tráng muối bạc AgNO3, chẳng may cái lá cây rơi xuống. Một lúc sau thì in rõ hình chiếc lá... Sau đó các nhà Khoa học đã khẳng định nguyễn lý nhiễm hình.

Và năm 1824 khi Nicéphore Niépce nhaf khoa học người Pháp - người đặc biết chú ý đến các chất nhiễm hình, cộng tác với Daguerre, dùng hộp tối Porta để chụp ảnh. Sự kiện này được coi như đánh dấu sự khai sinh của Nhiếp ảnh, năm đó bức ảnh đầu tiên của Nghệ thuât nhiếp ảnh với thời gian chụp mất 8 tiếng đồng hồ về "nóc phố" được ra đời.

Khoảng năm 1833 khi Nicéphore Niépce mất. Daguerre đã sáng tạo ra máy chụp lấy tên là Daguerreobtypes, đây được coi như là chiếc máy ảnh hoàn chỉnh đầu tiên.
. Sơ bộ về hoạt động của máy ảnh:

Từ Nhiếp ảnh do một người Anh gọi đầu tiên, theo nghĩa gốc La tinh có nghĩa là : Vẽ bằng ánh sáng. Chính vì vậy mà mọi bộ phận của máy ảnh chỉ phục vụ cho ánh sáng mà thôi Very Happy .

Còn chụp ảnh được hiểu là sự tổng hợp của các biện pháp về hoá học, vật lý, quang học, thẩm mỹ, tâm lý.. kết hợp lại với nhau để thành một sản phẩm hoàn chỉnh.

Máy ảnh và mắt chúng ta đều có sự hoạt động tương đồng. Chủ đề cần chụp nhờ ánh sáng phản chiếu qua hệ thống dẫn sáng (ống kính, đối với mắt đó là thuỷ tinh thể), lượng ánh sáng vào nhiều hay ít được điều khiến bởi khẩu độ (như chấm đen con ngươi trên mắt người). Qua màn chập (cửa chớp) để điều khiển tốc độ vào của ánh sáng nhanh hay chậm (đối với mắt đó là bờ mi nó chỉ khác máy ảnh là nó lại nằm ngoài). Cuối cùng hiện lên phim (lấy nét sai thì hình ảnh sẽ hiện đằng trước hoặc sau phim, đôí với mắt đó chính là võng mạc). Mắt chung ta tự điều tiết được con máy ảnh thì không... Ba yếu tố độ nhậy (Iso), khẩu độ (f) , tốc độ (s) là ba yếu tố quan trọng bậc nhất để quyết định tính chất kỹ thuật của ảnh. Các yếu tố khác như đo sáng, cân bằng trắng... cần nắm vững để phục vụ, phối hợp tốt cho 3 yếu tố đầu tiên...

- Cảnh vật nhìn được là do chúng phản chiếu ánh sáng.
- ống kính để truyền ánh sáng.
- Khẩu độ điều khiển khiển về lượng của ánh sáng.
- Màn chập để điều khiển thời gian vào của ánh sáng.
- Phim (cảm biến) là nơi tiếp nhận ánh sáng.

Trước khi xác định các chỉ số máy ảnh những động tác sau đây cũng rất cần lưu ý:

3.1. Cầm máy:

Đối với cách cầm dọc hay ngang thì động tác truyền thống vẫn là một tay đỡ ống kính một tay cầm máy. Chỉ lưu ý đừng che các "Mắt thần" của máy.
Bác nào cho em cái ảnh minh hoạ nhé vì không tự chụp mình được Very Happy Nhưng cũng rất cần chắc chắn vì nó không chỉ là tài sản lớn mà là đồ nghề yêu quý.

- Đeo dây vào cổ hoặc tay nếu có thể.
- Tránh để va chạm hay bụi đầu ống kính

3.2. Lấy nét:

Riêng lấy nét phải đọc kỹ hướng dẫn của từng máy. Chỉ lưu ý là có loại ống kính zoom lệch nét. Nghĩa là nếu ta đã lấy nét ở 35mm khi zoom lê 70mm nó bị lêch nét phải lấy lại chứ không khoá lấy nét được.

Đối với trường hợp thao tác bằng tay (M). Chỉ áp dụng cho Ống kính không có Af (lấy nét tự động) hoặc có cả Af và M. Chụp theo cách này phụ thuộc vào dự đoán của bạn về khoảng cách đến đối tượng chụp. Tuy nhiên cần lưu ý:

- Khi đã lấy nét đối tượng chụp cần kiểm tra lại bằng cách lấy nét quá (thấy đối tượng chụp hơi mờ) rồi lại vặn trở lại.

- Ống kính có cả Af thì khi sử dụng chế độ này xong hãy chuyển ngay về chế độ Af và phải kiểm tra lại trước khi chụp tiếp, không có thể cả bộ ảnh của bạn sẽ tan theo mây khói.

Vậy phải kiểm tra mọi thông số của máy trước khi chụp

Các máy đều cho phép ta lấy nét và khoá bằng cách bấm nhẹ vào nút chụp. Nên đừng bấm một cách vội vàng nhất là đối với chân dung và Macro..
4.Khẩu độ và xác định khẩu độ:

4.1. Khẩu độ (Aperture):

Cái van điều tiết lượng sáng vào máy ảnh này dược gọi là cửa điều sáng, độ mở ống kính và giá trị đo nó được gọi là khẩu độ. Ánh sáng cũng như thời gian nó hình như "vô hình" với con người. Nên đôi khi chúng ta quên nó, không hình dung rõ về nó. Vì vậy để minh hoạ tôi cứ ví như cái vòi nước.

Cửa thoát nước cấu tạo như cửa điều sáng (f nhỏ (1;1.4;2.Cool là cửa mở to và ngược lại). Chúng ta mở to của thoát nước, nước sẽ vào nhiều (tương đương f nhỏ (1.4;2.Cool thì ánh sáng vào nhiều) nhưng lại nước chảy ngay trước vòi (tương đương với Dof ngắn). Còn để lỗ nhỏ nước vào ít (f lớn (16;22) ánh sáng vào ít) nhưng sẽ bắn ra xa hơn (tương đương Dof dài), đây chính là cách để hình dung trực quan nhất về Vùng ảnh rõ (dof)

Khẩu độ ống kính tức là độ mở tương đối của cửa điều sáng.Theo quy ước của hội nghị Nhiếp ảnh quốc tế năm 1909 thì khẩu độ cho máy ảnh từ mở hết cỡ đến đóng hết cỡ như sau:

f/1.4, f/2, f/2.8, f/4, f5.6, f/8, f/11, f/16, f/22, f/32.

[IMGLEFT=]

Cơ cấu chỉnh khẩu độ chính là một loại cửa điều tiết ánh sáng đặt trong ống kính, cấu tạo bởi các lá thép mỏng chồng so le với nhau, ở giữa mở ra một lỗ tròn đồng tâm với các thấu kính.

Các cánh thép này có thể trượt trên nhau khi ta điều chỉnh để tạo ra độ mở lớn hay nhỏ cho ánh sáng đi qua. Hoạt động bóp nhỏ/mở rộng khẩu độ khẩu độ của ống kính giống như sự điều tiết của con ngươi mắt. Độ mở lớn hay nhỏ sẽ cho ánh sáng đi vào phim nhiều hay ít. Trị số khẩu độ được sắp xếp theo chuỗi lớn dần gọi là f-number.

Công thức tính:

f-number = độ dài tiêu cự ống kính (focal length) / đường kính lỗ xuyên sáng (đường kính lỗ xuyên sáng do các lá thép mở ra.).

Focal length = khoảng cách từ tâm ống kính tới mặt phim của nó

1-----1.4-----2.0-----2.8-----4.0-----5.6-----8.0-----11-----16-----22
---1.2-----1.8----2.5----3.5------4.5-----6.7-----9.1----13-----19

Trên cùng một dãy ngang, các trị số liền kề chênh lệch nhau một khẩu (f-stop). Ví dụ từ 1.4 sang 2.0 hay 2.5 sang 3.5 (hàng dưới).

Xoay sang trái là mở mọt khẩu, xoay sang phải là đóng một khẩu. Ví dụ Xoay vòng chỉnh từ 2.8 sang 4.0 là đóng một khẩu, về giá trị 2.0 là mở một khẩu.

Theo chiều từ trái qua phải, trên một hàng ngang, lượng ánh sáng đi qua mỗi khẩu độ sẽ giảm còn một nửa.

Hàng số bên dưới hiển thị các giá trị lệch nửa khẩu so với hàng trên. Ví dụ: từ 2.5 sang 2,8 là đóng hẹp lại nửa khẩu, nhưng khi chuyển từ 2,5 sang 3,5 tức là đóng một khẩu.

Lưu ý:

- Tuy chức năng chính của cơ cấu chỉnh khẩu độ là điều chỉnh lượng ánh sáng đi vào phim, nó còn có tác dụng chi phối độ nét sâu (depth of field) trên hình ảnh cuối cùng ghi vào phim . Độ mở càng nhỏ thì ảnh càng nét sâu, độ mở càng lớn thì vùng ảnh rõ càng cạn (như hình dung về vòi nước đã nêu trên).

- Những máy ảnh kỹ thuật số ngày nay cửa điều sáng luôn ở trong trạng thái mở lớn nhất để hỗ trợ ánh sáng cho việc canh nét. Chỉ khi có trập nhấn xuống thì cơ phận chỉnh khẩu độ mới đóng các lá thép lại theo thông số xác định trước.

Điều này lại dẫn đến một nhược điểm là khung cảnh hiện ra trong kính ngắm luôn ở tình trạng nét nông nhất và không phản ánh đúng chiều sâu ảnh trường thực tế sẽ được ghi hình.

Nhược điểm này được khắc phục bằng nút bấm xem trước vùng ảnh rõ(depth of field preview button). Khi nút này được nhấn, máy sẽ điều chỉnh các lá thép đóng lại theo khẩu độ định trước để người chụp thấy chiều sâu ảnh thực tế sẽ được ghi vào phim. Chụp macro không nên bỏ qua nút này

4.2. Tác dụng của Khẩu độ:

Việc đóng hẹp hay mở rộng khẩu độ sẽ ảnh hưởng tới độ sáng của vật chụp, góc chụp và độ nét sâu (hay còn gọi là chiều sâu rõ nét của ảnh trường) theo các quy luật sau:

- Càng đóng nhỏ khẩu độ (trị số f càng lớn) càng làm giảm độ sáng của vật chụp.

- Càng mở rộng khẩu độ thì góc chụp càng nhỏ.

- Khẩu độ càng đóng hẹp thì vùng ảnh rõ càng dài.

Các Nhiếp ảnh gia thường điều chỉnh khẩu độ để phục vụ cho độ nét nông hay sâu của ảnh.

Các bạn có thể xem hai ảnh dưới đây, thông qua độ rõ nét của hàng ghế để thấy sự ảnh hưởng của khẩu độ tới độ nét nông hay sâu.

[IMGLEFT=][IMGLEFT=]
Ảnh 1: Với khẩu độ F/2.8 **************Ảnh 2: Với khẩu độ F/22
.3. Những gợi ý tham khảo về khẩu độ:

- Đối với chụp phong cảnh (landscape) người chụp luôn mong muốn sẽ lấy được sắc nét toàn bộ khung cảnh từ điểm gần nhất cho tới điểm xa nhất vì vậy mà độ mở ống kính thường được để ở độ mở nhỏ nhất.

- Khi chụp chân dung, người chụp thường mong muốn có được bức ảnh trong đó mặt người được chụp sẽ sắc nét nhất trong khi hậu cảnh sẽ mờ hơn nhằm làm nổi bật chủ đề chụp lúc này độ mở ống kính càng lớn càng tốt.

- Ống kính có độ mở càng lớn thì càng dễ chụp trong ánh sáng yếu cũng như các chủ đề chụp chuyển động nhanh.

-Đối với chụp ảnh bắn pháo hoa, bạn sẽ có được những tấm ảnh đẹp khi đứng xa nơi bắn pháo hoa. Đứng xa nơi bắn, bạn cũng sẽ không bị những người khác che khuất máy ảnh. Nên mang theo chân máy vì sẽ phải mất vài giây pháo hoa mới phóng lên bầu trời được. Hãy chụp nhiều kiểu ở nhiều góc độ để kết hợp trên máy tính.

Để có những tấm hình đẹp, nên đặt độ sáng làm sao khi chụp lên bầu trời sẽ có màu đen thẫm hoặc xanh đen thẫm. Cụ thể, bạn hãy để độ mở ống kính là f/11 đến f/22. Máy cơ với tốc độ B.

-Chụp ánh trăng thì thời điểm thích hợp nhất là trăng tròn và không bị mây che phủ. Thông thường nên để độ mở ống kính f/5.6 trong 15-30 giây. Bạn cũng nên chụp thử vài kiểu trước. Để máy ảnh ở chế độ “B” (Đối với máy cơ) để bạn có thể mở ống kính và chờ trong một thời gian. Thời gian chụp ánh trăng tốt nhất là một vài giờ sau khi trăng mọc, nên tránh chụp quá nhiều khoảng trời.

-Chụp toàn cảnh thành phố về đêm thì hãy tập trung vào các đường phố với xe cộ nối đuôi nhau để tạo thành những vệt sáng kéo dài. Hãy để ISO ở 100 (nếu có thể)và độ mở ống kính f/11, có thể thay đổi một chút tùy thuộc vào tốc độ giao thông trên đường. Đặc biệt, nếu có thể chụp được cả các tòa nhà xung quanh thì bức ảnh của bạn sẽ còn đẹp hơn nữa nhờ sự cộng hưởng của các ánh sáng hắt xuống từ các tòa nhà này lên đường phố. Bạn có thể bổ sung màu sắc vào các bức ảnh của mình nhờ vào đèn chiếu màu.

- Cảnh phố xá sáng đèn về đêm, nếu mặt đường mưa càng hay cho việc phản chiếu ánh sáng có thể chọn f2.8 với ISO 400 hoặc f 4 với ISO 1000.

- F4 cùng được sử dụng nhiều trong chụp lửa trại, với dân báo chí là chụp cháy nhà về đêm, nhà hát các khu vui chơi ban đêm các bảng hiệu quảng cáo với ISO trung bình là 400.

- Nếu chụp bóng đá về đêm nên dùng F2.8

- Chụp sân khấu, biểu diễn xiếc, múa rối nước, bơi nghệ thuật, hay trong nhà thi đấu thể thao f2.8 và f4.0 được dùng thchs hợp nhất ISO từ 200 đến 800 tuỳ theo ánh sáng và tốc độ tác giả muốn thể hiện.

- Ánh nến sinh nhật thì f2 hay 2.8 là điều nên nghĩ đầu tiên.

- À còn Noel sắp tới, bà con có chụp cây noek cần lưu ý là thông thường với f2 ISO lên 1000 mới có thể cầm tay được không phải dùng chân máy nhé, f2.8 1/8 ISO 400 hoặc f5.6 1/1 ISO 200 cũng có thể là một sự gợi ý

....

Lưu ý: f 8 dược coi là khẩu độ "pede" Very Happy , có nghĩa là nó nằm giữa hai vùng DOF cạn và sâu.
5.Vùng ảnh rõ (Depth of field).

5.1.Khái niệm:

Khi chúng ta nhìn xung quanh- quyển sách cầm ở trên tay, cái ghế trong phòng hay bất cứ vật thể nào đều sắc nét. Chúng ta có được khả năng này do mắt người luôn tự động chỉnh tiêu cự (điều chỉnh thấu kính trong mắt) mỗi khi chúng ta “nhìn” làm ảnh của chủ đề luôn hiện lên võng mạc.

Tuy nhiên hình ảnh chúng ta thu được khi chụp không phải lúc nào cũng giống với hình ảnh chúng ta nhìn thấy. Để hiểu rõ điều này chúng ta cần hiểu về hệ thống canh nét của máy ảnh và khái niệm vùng ảnh rõ. Khi chụp ảnh bạn đã xác định chủ đề cần chụp (Chẳng hạn như anh chàng bán xăng ), sau đó điều chỉnh lấy nét (canh nét) - đây lại là yếu tố sống còn quyết định vùng nào trên hình ảnh sẽ sắc nét nhất- vùng này thường được gọi là mặt phẳng rõ nét (plane of critical focus) - thực chất là điều chỉnh thấu kính trong ống kính để chủ đề hiện lên mặt film mà thôi.
[IMGLEFT=]
Vật thể nào nằm trên mặt phẳng rõ nét sẽ có hình ảnh sắc nét nhất khi được chụp. Đối với máy ảnh canh nét tự động, mặt phẳng rõ nét này sẽ di chuyển ra xa hoặc vào gần mỗi khi hướng máy ảnh vào chủ thể ở xa hoặc ở gần hơn.

Về mặt lý thuyết chỉ có các vật, chủ thể nằm trên mặt phẳng rõ nét là có hình ảnh rõ nét nhất bởi được hội tụ chính xác trên mặt phẳng tiêu cự, nhưng trên thực tế sẽ dễ dàng nhận thấy có một khoảng không gian nhất định vẫn có hình ảnh rõ nét ở mức chấp nhận được, vùng này được gọi là vùng ảnh rõ (depth of field). Chủ thể nằm trong vùng ảnh rõ luôn có hình ảnh sắc nét tuy nhiên nếu càng ở xa mặt phẳng rõ nét thì mức độ sắc nét càng giảm.
[IMGLEFT=]
Khoảng không gian từ A đến C được gọi là vùng ảnh rõ, B là mặt phẳng rõ nét.

5.2.Các yếu tố ảnh hưởng đến vùng ảnh rõ:

5.2.1. Độ mở ống kính (Aperture):

Nếu như muốn tăng thêm khoảng không gian sẽ hiện ra rõ nét trên bức ảnh người chụp chỉ việc tăng vùng ảnh rõ thông qua việc giảm độ mở ống kính.

Nếu như muốn giảm khoảng không gian sẽ hiện ra rõ nét trên bức ảnh thì chỉ cần giảm vùng ảnh rõ thông qua việc tăng độ mở ống kính (thường áp dụng khi chụp chân dung hay những trường hợp muốn làm nổi bật chụp đề chụp hạn chế yếu tố gây mất tập trung được tạo ra bởi hình ảnh của các chủ thể xung quanh).
Mà độ mở ống kính được chúng ta biết đến thông qua khẩu độ (f 2.8, f5.6, f11, f16...) nên từ nay để thống nhất tôi sẽ chỉ nói về khẩu độ. Vậy bạn hãy nhớ nguyên tắc:

- Giá trị khẩu độ càng nhỏ (giá trị f nhỏ) thì vùng ảnh rõ càng cạn (small f-numbers = less depth of field).

- Giá trị khẩu độ càng lớn thì vùng ảnh rõ càng nhiều (big f-numbers = more depth of field.)

Mẹo nhỏ:
- Để kiểm soát vùng ảnh rõ chỉ cần chuyển máy sang chế độ chụp ưu tiên độ mở ống kính (Aperture priority- trên máy ảnh chế độ chụp này thường có ký hiệu là Av...) sau đó tăng hoặc giảm độ mở ống kính để giảm hoặc tăng vùng ảnh rõ, tốc độ trập tương ứng sẽ do máy ảnh tự tính toán lựa chọn giúp người chụp.

Khi nắm vững cách thức điều khiển vùng ảnh rõ, người chụp sẽ hoàn toàn thoải mái tự tin trong việc quyết định vùng không gian nào sẽ hiện rõ trên bức ảnh và vùng nào sẽ không hiện rõ.

5.2.2.Tiêu cự của ống kính (focal length):

Tiêu cự ống kín là khoảng cách từ tâm của ống kín đến mặt phim (hoặc mặt phẳng có chứa cảm biến (sensor) đối với máy ảnh số (Focal Plane)).
Khoảng cách này được tính bằng mm. Bạn sẽ thấy có ống kính chỉ ghi 35mm, 50mm hoặc lại ghi 24-85mm, 80-200mm. Đó chính là hai loại ống kính, một là loại có tiêu cự cố định, hai là loại có zoom.


Ví dụ ống kính 70-300mm của Nikon

Tiêu cự của ống kính ảnh hưởng đến vùng ảnh rõ theo quy luật:

- Tiêu cự càng bé thì vùng ảnh rõ càng sâu.
- Tiêu cự càng lớn thì vùng ảnh rõ càng nông.

Nếu như zoom ra xa (zoom out) thì độ sâu của vùng ảnh rõ sẽ tăng lên. nếu như zoom lại gần (zoom in) thì vùng ảnh rõ sẽ cạn đi. Hạn chế sử dụng zoom ở mức tối đa bởi chất lượng của hình ảnh thường bị giảm do hạn chế về đặc tính kỹ thuật cũng như hiện tượng máy bị rung (rung tay) cũng sẽ tăng lên rõ rệt (do quy tắc tốc độ an toàn tối thiểu nhé Laughing ).

Từ quy luật trên ta có thể rút ra một hệ quả là:

- Cùng một khẩu độ chụp với ống kính tiêu cự ngắn sẽ có độ nét sâu hơn ống kinh tiêu cự dài. Hệ quả này được minh họa như ảnh dưới đây:



5.2.3. Khoảng cách từ máy ảnh tới đối tượng chụp (distance to the subject):

- Khoảng cách từ máy ảnh tới đối tượng chụp tỷ lệ nghịch với vùng ảnh rõ. Có nghĩa là:

Nếu như tăng khoảng cách từ máy ảnh tới chủ đề chụp thì vùng ảnh rõ càng “sâu”. Nếu như di chuyển càng gần tới chủ thể chụp thì vùng ảnh rõ sẽ “cạn” đi.

Di chuyển lại gần chủ đề chụp luôn là một cách hay giúp chủ đề chụp hiện rõ hơn trên bức ảnh, kích thước của hình ảnh chủ đề chụp càng lớn trên khung hình càng giúp người xem định hướng dễ dàng hơn cũng như thông điệp về chủ đề càng rõ ràng hơn.

Đến đây chắc nhiều bạn sẽ tự hỏi vậy nếu để f4 chụp cách 2m hay 4m thì vùng ảnh rõ nó sẽ chênh nhau là bao nhiêu? Hay cụ thể là có công thức tính độ dài của vùng ảnh rõ trong mỗi trường hợp tiêu cự, khẩu độ, khoảng cách tới vật chụp không?

Hay Dof còn phụ thuộc vào gì nữa không? Có bí mật gì lý thú thêm về Dof?

Tất cả sẽ được trình bày trong phần tiếp theo về Dof...
ùng ảnh rõ (dof) còn phụ thuộc vào

5.2.4. Độ mở tương đối của ống kính:

Nó ảnh hưởng đến vùng ảnh rõ theo quy luật: Độ mở tương đối (F) càng nhỏ, vùng ảnh rõ càng dài và ngược lại.

F chính là tỷ lệ giữa tiêu cự chia cho đường kính lớn nhất của cửa điều sáng, túm lại nếu chụp ống kính 50mm f 1.4 thì vùng ảnh rõ sẽ ngắn hơn 50mm f1.8 với các yếu tố khác không đổi...

Ngoài ra các bác nhớ đến hệ quả:

Cùng một ống kính với chung độ mở và khoảng cách tới vật chụp, cho cùng khung ảnh. Máy ảnh nào có "film" (hay Sensor) bé hơn, thì vùng ảnh rõ sẽ ngắn hơn và ngược lại.Ví dụ như so con D70 với Canon 20D nếu cùng được các yếu tố kể trên thì vùng ảnh rõ của D70 dài hơn một tẹo, do kích thước Sensor của D70 lớn hơn.

Lưu ý: Thông thường AB < BC
Đến đây chắc các bạn sẽ hỏi là có công thức, cách để tính Dof không nhỉ? Vâng câu trả lời là có, một số loại ống kính cũ là nó đã có sẵn ngay trên ống kính, người ta gọi là thước đo vùng ảnh rõ. Bây giờ vì đã có nút xem trước vùng ảnh rõ như tôi đã nêu trên hoặc có cả chế độ Depth Program, máy sẽ giúp ta tính toán khẩu độ khi canh nét vào điểm gần nhất và xa nhất cần lấy nét nên cũng rất tiện rồi.

Công thức tính kiểu biểu diễn bằng một hàm số nào đó thì tôi không có ở đây Very Happy . Nhưng tôi để dưới đây đường dẫn vào một trang web có thể tính toán DOF trực tuyến, ngoài ra còn có thể tải phần mềm về máy hay các thiết bị cầm tay để chạy. Một công cụ thật tiện lợi: Thông số các bạn cần phải điền là loại film gì bạn đang sử dụng:từ APS, 35mm, 6x6, 6x7 hay cả D70, D100, Canon 20 D vân vân và vân vân, tiêu cự đang sử dụng là bao nhiêu mm, khẩu độ mở là bao nhiêu và cuối cùng là bạn đang đứng cách "con mồi" bao nhiêu (đơn vị do ta tuỳ chọn). Chương trình sẽ tự động tính toán cho chúng ta. Hãy tham khảo một trong hàng trăm trang có nhé Very Happy.

www.dofmaster.com/dofjs.html

www.andrewmishura.com/...030309.xls

doug.kerr.home.att.net...ulator.xls

Việc quản lý các bảng tính hay sử dụng như thế nào phụ thuộc vào trí nhớ, kinh nghiệm, hay thiết bị cầm tay nếu bạn có, và cả trí thông minh nữa đấy Very Happy .

5.3. Vùng ảnh rõ cực đại:

Trong toán học đó là Min và Max, min của dof thì chẳng thấy ai quan tâm nhiều? Very Happy Mà Max thì lại được quan tâm nhiều hơn, cách ứng dụng Max của vùng ảnh rõ chính là việc áp dụng các công thức trên kết hợp với mẹo lấy nét, cái này thường áp dụng cho ảnh phong cảnh.

Cái "lày" được sử dụng như sau: Khi ống kính hội tụ ở vô cực (tức là khi điều chỉnh bằng tay cho canh nét ở cái số 8 "đi ngủ" đấy). Ta sẽ có thông số về khoảng cách đếm mặt phẳng rõ nét gần nhất - được gọi là mặt phẳng vượt tiêu - Lúc này quay trở lại ta lại lấy nét đúng vào mặt phẳng vượt tiêu khi đó ta sẽ có Vùng ảnh rõ tối đa tại mỗi khẩu độ, một hiệu quả cũng khá bất ngờ Very Happy

Ví dụ:

Nếu để ống kính hội tụ ở vô cực, lúc này vùng ảnh rõ từ cái cây thứ 3 (từ trái sang) đến vô cực.

Khi đó ta lấy nét tại đúng cái cây thứ ba đó, vùng ảnh rõ sẽ dài tối đa, mặt phẳng rõ nét sẽ bắt đầu từ cái cây thứ nhất

Chúc các bạn thành công với Khẩu độ và Vùng ảnh rõ, buổi sau chúng ta sẽ học tiếp về tốc độ và kỹ thuật lia máy

About D-SLR

Có lẽ một trong những câu hỏi hay được nhiều người đặt ra trước khi quyết định từ giã cách chụp ảnh bằng phim truyền thống để bước vào thế giới của kỹ thuật số là: máy ảnh kỹ thuật số (DSLR) khác máy ảnh Cơ (SLR) ở chỗ nào?

Có lẽ cũng khỏi cần phải nói tới những tiện dụng và những khả năng kỳ diệu của kỹ thuật số đang mang lại cho cuộc sống của chúng ta hàng ngày nữa. Riêng trong lĩnh vực nhiếp ảnh thì bước đột phá này cũng rất ngoạn mục.

Nhìn thoáng qua tấm hình trên đây chắc bạn cũng đã nhận ngay ra sự khác biệt của kỹ thuật số rồi nhỉ. Thay vào vị trí quen thuộc của phim âm bản hay dương bản là một mạch điện tử cảm quang nom rất...đơn giản. Ta cũng không cần phải mở nắp máy phía sau ra để lắp phim nữa mà một mảnh nhựa nhỏ với những mạch điện tử ly ti đã khẽ khàng lách vào bên sườn máy ảnh thay cho những cuộn phim cồng kềnh làm nhiệm vụ lưu giữ ảnh. Còn một bộ phận cực kỳ quan trọng nữa mà chúng ta không nhìn thấy ở đây, một yếu tố mang tính quyết định cho sự khác biệt giữa các đại gia máy ảnh về chất lượng, đó là phần mềm xử lý ảnh - như một bộ xử lý nhỏ của máy tính - nằm ngay trong thân máy ảnh.

Trước khi quay lại với cấu trúc của các loại mạch điện tử cảm quang thì có lẽ chúng mình cũng nên đề cập một chút tới cái mà gần như ai cũng biết, đó là PIXEL. Nó là chữ viết tắt nhằm thể hiện PIcture ELement - yếu tố cấu thành của ảnh kỹ thuật số. Ta hãy gọi nôm na là Điểm ảnh. Mỗi một bức ảnh được tạo nên bởi vô số Điểm ảnh. Mỗi Pixel mang một số thự tự riêng từ 0 tới 255 (giống như phổ màu căn bản của AutoCAD vậy) Tuỳ thuộc vào hơn 16 triệu cách kết hợp khác nhau giữa các pixel của 3 kênh mầu Red - Green - Blue (Đỏ - Xanh lá cây - Xanh da trời) mà sẽ tạo nên vô số màu khác nhau. Nếu nói theo ngôn ngữ của tin học thì mỗi một mầu tương đương với 8 Bit (Byte) và mầu của mỗi một pixel được tạo nên bởi 3 mầu kết hợp RGB. Ta vẫn hay nghe nói tới các tấm ảnh kỹ thuật số có "độ sâu" khác nhau như 16 bit (8 bit x2), 24 bit (8 bit x3), 36 bit (12 bit x3), 48 bit (16 bit x3).


Hiểu rõ kỹ thuật tạo hình ảnh của máy kỹ thuật số có lẽ là cách hay nhất để nhận ra sự khác biệt với máy ảnh cơ.

Như ta đã nói ở trên về cấu tạo, khi ánh sáng đi qua ống kính máy ảnh sẽ gặp một mạch điện tử cảm quang với hệ thống lọc mầu ánh sáng, chuyển thành tín hiệu điện tử. Hiện tượng này tương đương với phản ứng hoá học của phim âm bản hay dương bản. Tiếp theo đó máy ảnh sẽ xử lý những tín hiệu điện tử này để tái tạo lại mầu sắc trung thực của hình ảnh (quá trình này tương đương với việc làm trong phòng rửa ảnh cổ điển) và bạn có thể lưu trữ hình ảnh nguyên gốc hay được nén gọn lại trên các thiết bị lưu trữ (ta vẫn gọi là Memory Card).

Trên thị trường hiện tại tồn tại hai loại mạch điện tử cảm quang là: CCD (Charge-Coupled Devices) và CMOS (Complementary Metal-Oxide Semiconductor). Hãng Nikon mới nghiên cứu thành công một loại thứ 3 kết hợp được những ưu điểm của cả hai loại trên là LBCAST (Lateral Burried Change Accumulator and Sensing Transitor Array). So với CCD và CMOS thì LBCAST dùng tốn ít năng lượng hơn, ít lỗi hạt ảnh hơn, đồng thời nó góp phần làm tăng tốc độ xử lý ảnh, làm tăng độ nhạy, độ tương phản và tái tạo màu sắc trung thực hơn.

Nhưng cũng chính tại thiết bị đặc biệt này mà ta thấy rõ ràng sự khác biệt giữa phim cổ điển và kỹ thuật số. Loại phim mà chúng ta vẫn hay dùng (thường được gọi là phim 35mm hay 135) có kích thước chiều rộng 36mm x chiều cao 24mm, tỉ lệ hai cạnh thường được quy gọn thành 3:2. Đa phần thì các máy ảnh cơ kỹ thuật số có cùng tỉ lệ này nhưng các máy Digital Compact Camera thường hay có tỉ lệ 4:3 giống như tỉ lệ của màn hình máy tính. Điều này gây ra sự khó chịu nhỏ khi bạn muốn in ảnh kỹ thuật số được chụp với tỉ lệ 4:3 ra giấy vì nếu giữ đúng tỉ lệ tấm ảnh của bạn sẽ là 115mm x 150mm, còn nếu bạn muốn giữ nguyên chiều cao 100mm thì chiều rộng của ảnh sẽ bị ngắn lại. Surprised

Với hệ thống máy Digital Compact bạn thường hay gặp các Sensor với kích thước nhỏ như: 1/2.7" hay 1/1.8". Đối với loại máy dSLR thì kích thước của Sensor lớn hơn, ví dụ như Nikon D2H là 23,1mm x 15,5mm, so với phim 24mm x 36mm thì tỉ lệ chênh lệch là 1,5.


[IMGLEFT=]

Đến đây ta có thể dễ dàng hiểu ngay tại sao trên các máy Digital Compact ống kính zoom thường có các tiệu cự rất nhỏ (ví dụ như máy Minolta Z1 có zoom x10: 5,8mm - 58mm tương đương 38 - 380mm với phim 35mm) Để quy đổi sang tiêu cự tương đương 24x36 ta phải nhân tiêu cự gốc của máy ảnh kỹ thuật số với tỉ lệ chệnh lệnh. Chẳng hạn như ở đây tỉ lệ chênh lệch của môt CCD 1/2.7" là 38/5,8 = 6,55 lần.

Sự khác biệt khá quan trọng này khiến cho các ống kính vẫn được coi là góc rộng của phim 35mm bỗng trở thành....télé! Ta lấy ví dụ của máy Nikon D2H, tỉ lệ chênh lệch là 1,5 thì tiêu cự 28mm x 1,5 = 42mm, nghĩa là gần bằng ống kính tiêu chuẩn (Ống kính mà ta vẫn hay "gọi" là 50mm thực ra chỉ có 45mm mà thôi) Từ đó phát sinh ra nhu cầu dùng các ống kính góc siêu rộng, thậm chí ống kính mắt cá để chụp với thân máy ảnh kỹ thuật số. Chẳng hạn một loại ống kính mới của Nikon: AF-S DX Zoom-Nikkor 17-55mm f/2.8G IF-ED (3.2x) khi dùng với Nikon D2H sẽ trở thành 25,5 - 82,5mm.


Nếu như với các phim phổ thông ta hay nói về nhiệt độ mầu thì tương đương trong kỹ thuật số ta có khái niệm Cân bằng trắng (White Balance). Thường thì trong các máy ảnh kỹ thuật số Cân bằng trắng được chỉnh tự động tuỳ theo ánh sáng môi trường để đạt tới độ trung thực cao nhất của màu sắc nhưng bạn vẫn hoàn toàn có thể lựa chọn các chế độ ánh sáng theo ý của mình như ánh sáng ban ngày, ánh sáng đèn dây tóc vàng, ánh sáng đèn nê-ông....

Khác với phim âm bản hay dương bản, với kỹ thuật số bạn có thể lựa chọn cấu trúc của ảnh để lưu trữ. Có rất nhiều hình thức khác nhau: RAW, TIFF, JPEG...Ở hai loại đầu tiên thì hình ảnh được lưu trữ nguyên thể, không bị nén hoặc được nén với tỉ lệ thấp để đảm bảo tính trung thực và chất lượng hình ảnh (để xử lý sau này trên máy tính), còn ở dạng JPEG thì ảnh có thể sẽ được nén gọn lại tới 40 lần, tiện lợi cho việc gửi qua internet.

Cuối cùng là các loại Memory Card phổ biến và thông dụng hiện hành: CF, MS, SD, MMD, XD,....ưu điểm của chúng là sau khi chụp xong ảnh và lưu trữ thì bạn có thể ung dung xoá hết ảnh đi và chụp lại từ đầu. Razz Còn ký hiệu tốc độ X12 chẳng hạn thì có nghĩa là 12 x 150 kb/s = 1800 kb/s.

Điều đầu tiên là cần hiểu thật đúng tất cả các thông số kỹ thuật và các ký hiệu trên máy.

TYPE OF CAMERA - Kiểu máy ảnh

Compact digital still camera with built-in flash - Trong cả câu này thì bạn hoàn toàn có thể an tâm mà bỏ qua từ "still" vì nó đơn giản chỉ là một cách viết để phân biệt chính xác giữa kỹ thuật số hình ảnh động và tĩnh (Still) mà thôi.

IMAGE CAPTURE DEVICE - Mạch điện tử cảm quang
Có 3 loại tất cả: CCD, CMOS, LBCAST.
Total Pixels Approx. - Đây là tổng số điểm ảnh (tính tương đối) của máy ảnh

LENS - Ống kính
Focal Length - Tiêu cự
35mm film equivalent: - Tính tương đương với máy ảnh cơ.
Digital Zoom - Zoom kỹ thuật số, một khả năng mới nhưng chất lượng hình ảnh thường rất...xấu.
Focusing Range Normal AF - Khả năng đo nét với tiêu cự tự động ở chế độ bình thường. Bạn sẽ thấy một khoảng cách tối thiểu và vô cực.
Macro AF - chụp ảnh cận cảnh với tiêu cự tự động. Thường sẽ có hai khoảng cách, một dành cho vị trí ống kính góc rộng (thường sẽ chụp được sát hơn) và một cho vị trí télé.
Autofocus 1-point AF - Đây là số lượng điểm tiêu cự tự động dùng để canh nét. Thường thì với loại máy Compact dCam thì sẽ có 1 điểm.


VIEWFINDERS - Khuôn ngắm
Optical Viewfinder - khuôn ngắm bằng quang học
LCD Monitor - Màn hình tinh thể lỏng để quản lý chụp và xem lại hình ảnh.
LCD Pixels Approx. Độ phân giải của màn hình LCD càng cao thì chất lượng càng đẹp.
LCD Coverage - Phần trăm (%) góc "nhìn" trường ảnh thực.



APERTURE AND SHUTTER - Khẩu độ sáng và Tốc độ chụp
Maximum Aperture - Bạn sẽ có 2 giá trị tối đa, một cho vị trí ống kính góc rộng (W) và một cho vị trí télé (T)
Shutter Speed - Tốc độ chụp
Slow shutter - Tốc độ chụp chậm, thời gian phơi sáng lâu.


EXPOSURE CONTROL - Đo sáng
Sensitivity -Các độ nhạy của máy tính bằng ISO
Light Metering Method - Các phương pháp đo sáng: Evaluation (Đo sáng tổng hoà)/ Center-weighted average (Đo sáng trung tâm)/ Spot (Đo sáng điểm)
Exposure Control Method - Các chương trình đo sáng tự động được lập trình sẵn: Program AE (Tự động hoàn toàn), Shutter-Priority AE (ưu tiên Tốc độ chụp), Aperture-Priority AE (ưu tiên khẩu độ ánh sáng), Manual (chụp bằng kỹ thuật cá nhân)
AE Lock - Đây là tính năng giúp bạn ghi nhớ chỉ số đo sáng của một điểm đặc biệt ưu tiên.
ND Filter - Kính lọc trung tính, có thể được gắn luôn trong máy rồi.

WHITE BALANCE - Cân bằng trắng
White Balance Control Auto (Chế độ tự động), Pre-set chương trình đặt sẵn:(Daylight (ánh sáng ban ngày), Cloudy (trời nhiều mây), Tungsten (ánh sáng vàng của đèn dây tóc), Fluorescent (đèn nê-ông), Fluorescent H (đèn nê-ông mầu), or Flash), or Custom (thường đây là các vị trí bạn có thể cá nhân hoa cân bằng trắng theo ý mình)


FLASH
Built-in Flash Operation Modes - Các chế độ hoạt động của đèn gắn sẵn trong máy: Auto, Red-Eye Reduction On/ Off - chống mắt đỏ.
Flash Range : Cự ly hoạt động hiệu quả của đèn sẽ được tính theo ống kính góc rộng (WIDE) và Télé, thường tính theo độ nhạy 100 ISO.
Recycling Time Approx. - thời gian để đèn nạp điện và hoạt động bình thường giữa hai lần chụp.
Terminals for External Flash - Đây là chỗ để gắn thêm đèn Flash bên ngoài.
Automatic E-TTL: Đèn flash hoạt động bằng chế độ đo sáng qua ống kính (TTL = through-the-lens)
Flash Exposure Compensation - Đây là khả năng hiệu chỉnh cường độ sáng của đèn flash, tăng hay giảm tính bằng khẩu độ sáng +/-EV (exposure value)


SHOOTING SPECIFICATIONS - Các chế độ chụp ảnh
Shooting Modes Auto, Creative (P (tự động hoàn toàn), Av (Ưu tiên khẩu độ sáng), Tv (ưu tiên tốc độ chụp), M (chỉnh theo kỹ thuật cá nhân), Custom 1, Custom 2 (cá nhân hoá)), Image - Các chế độ chụp đặt sẵn trong máy(Portrait (chân dung), Landscape (phong cảnh), Night Scene (chụp buổi tối), Stitch Assist (chụp ảnh quang cảnh rộng với chức năng ghép nhiều hình ảnh để tạo nên một ảnh duy nhất), Movie (quay phim))
Self-Timer - Chụp ảnh tự động
Wireless Control - Điều khiển không dây từ xa.
Continuous Shooting High Speed:Chụp ảnh liên thanh, thường thì sẽ có thông tin về số lượng hình ảnh có thể chụp được trên 1 giây.
Photo Effects - Hiệu quả đặc biệt: Vivid (mầu sắc sống động), Neutral (màu trung tính), Low Sharpening (đường nét mềm mại), Sepia (màu giống như ảnh cũ)and Black & White (đen trắng)


IMAGE STORAGE - Thiết bị lưu trữ ảnh
Storage Media - Ở đây bạn sẽ có thông tin đầy đủ về loại "card" tương thích, kích thước ảnh, trọng lượng ảnh...

Bây giờ chúng ta sẽ cùng vào chi tiết.

1. Cân bằng trắng (White Balance)

Đây là yếu tố quan trọng bậc nhất của kỹ thuật số để có thể chụp được một bức ảnh mâu sắc như ý. Thường thì trong các máy dCam chế độ WB được mặc định ở tự động (Auto). Nếu bạn để ý một chút thì khi chụp ảnh ở Auto WB thì máy ảnh luôn có xu hướng chỉnh màu theo nhiệt độ sáng trung bình và như thế bạn sẽ có một tấm ảnh chụp hoàng hôn nhợt nhạt hay trong những cảnh khác thì ánh sáng thiếu tự nhiên và tông màu chủ đạo thường là đỏ ánh mầu da cam.

May mắn thay bên cạnh đó bạn còn có khả năng chỉnh WB theo các điều kiện ánh sáng khác nhau, có độ chính xác cao hơn. Như thế bạn hoàn toàn có thể tái tạo lại ánh mặt trời buổi chiều một cách trung thực với chế độ "Daylight" hay làm cho tông màu trở nên ấm áp hơn trong những ngày mây mù bằng việc lựa chọn "Cloudy". Với ánh sáng nhân tạo thì chế độ "Tungsten" thường hay bị thiên sang màu xanh do máy ảnh lọc màu vàng quá mạnh và trong các điều kiện nguồn sáng phức hợp như ngoài đường thì chế đọ này không thể đáp ứng được. Trong trường hợp này giải pháp hay nhất là tự cân bằng sáng bằng một mảnh giấy trắng và như có một phép màu nhiệm tất cả các tông màu khó chịu sẽ biến mất khỏi tấm ảnh của bạn. Điều duy nhất cần nhớ là luôn bỏ trong túi một mảnh giấy mầu trắng. Wink

2. Độ nhạy sáng ISO

Chế độ tự động chỉnh độ nhạy sáng theo điều kiện ánh sáng lại không phải là một giải pháp tốt cho độ mịn màng của những tấm ảnh đơn giản vì bạn không biết khi nào mình đang chụp ở 200, 400 hay thậm chí 800 ISO! Vì lẽ đó bạn nên đặt độ nhạy ISO của máy thường trực ở 50 hoặc 100 ISO nếu không đủ sáng thì đèn tín hiệu cạnh khuôn ngắm sẽ nhấp nháy báo động. Trừ khi là bạn muốn cố tình tạo những hạt ảnh một cách nghệ thuật thì việc lựa chọn ISO tối đa 200 ISO là cần thiết. Trên thị trường hiện tại đang có bán rất nhiều loại chân máy ảnh nhỏ và nhẹ dùng cho máy kỹ thuật số, một thiết bị như thế sẽ giúp bạn luôn có những tấm ảnh đẹp với độ mịn màng cao nhất.

3. Hiệu chỉnh Bão hoà mầu sắc và Nét căng

Với các máy dCam thì tính năng này không phải là tuyệt hảo. Bạn cần sử dụng chúng một cách cẩn trọng và tốt hơn hết là nên thử nghiệm trước vài lần để biết kết quả. Khi chụp ảnh phong cảnh thì bạn có thể chọn chế độ bão hoà mầu sắc và nét căng hơn để khắc phục nhược điểm của chất lượng ống kính thế nhưng khi chụp ảnh chân dung hay cận cảnh thì sự mềm mại của đường nét lại đòi hỏi bạn giảm độ nét căng đi đấy nhé.

4. Hiệu quả đặc biệt

Đa phần các dCam có rất nhiều chức năng này nhưng NTL có thể nói ngay với bạn rằng không nên sử dụng chúng vì chất lượng không cao. Thêm vào đó với máy tính và PhotoShop thì bạn hoàn toàn có thể áp đặt các hiệu quả này với chất lượng hoàn hảo nhất.

5. Tối ưu hoá chất lượng ảnh kỹ thuật số.

Thường thì bạn hay nghe nói tới việc dùng Photoshop để xử lý thêm hình ảnh sau khi chụp nhưng với đa số các bạn nghiệp dư thì lĩnh vực này hay đẫn đến...ngõ cụt vì chất lượng ảnh không như ý. Vậy cần phải làm thế nào?

- Chỉnh ánh sáng và độ tương phản
Với các máy dCam thì khả năng nhạy sáng của các mạch điện tử cảm quang thường rất kém do đo chúng ta cần xử lý thêm để lấy lại độ cân bằng của ánh sáng. Thay vì sử dụng một cách "tự nhiên" chức năng "Light/Contrast" mà tính hiệu quả của nó thường không ổn định thì bạn nên dùng chức năng chỉnh "Level" có tác dụng trực tiếp vào "History" của hình ảnh. Với PhotoShop CS bạn có thể hiệu chỉnh bằng nhãn quan trực tiếp từng lớp màu RGB (Đỏ-Xanh lá cây-Xanh da trời) bằng cách điều chỉnh 3 con trỏ biểu thị cường độ hay tác động vào điểm đầu và cuối của mỗi đồ thị mầu.
- Chỉnh màu sắc
Trức khi chỉnh màu sắc bạn cần phải chắc chắn là màn hình của mình đã được "căn" đúng theo mầu sắc thực bằng tiện ích của chính Photoshop "Adobe Gamma" (NTL sẽ nói lại vấn đề này trong một bài khác) và cần để cho màn hình "nóng" ít nhất 30 phút trước khi bắt đầu công việc. Bạn có thể lựa chọn giữa việc hiệu chỉnh mầu sắc đồng loạt hay từng mầu đơn lẻ. Cửa sổ hiển thị kết quả trước và sau khi có tác động rất dễ hiểu và tiện lợi.
- Hiệu chỉnh độ nét
Đa số các dCam cho bạn hình ảnh rất nhẹ nhàng và như thế đôi khi tăng cường độ nét lại là cần thiết. Không nên chọn tính năng tăng cường đường viền mà bạn nên sử dụng chế độ chỉnh nét dần từ thấp đến cao.

6. Lọc mầu và ảnh đen trắng
Với kỹ thuật số bạn có thể an tâm để bộ kính lọc mầu đắt tiền và dễ vỡ ở nhà vì tất cả những kỹ thuật tinh tế theo kiểu cổ điển giờ đây đều có thể đạt được dễ dàng bằng máy tính.
Bạn cũng không phải lo lắng nếu như muốn chụp ảnh đen trắng nữa nhưng nên lưu ý rằng chức năng chuyển tùa ảnh mầu sang đen trắng sẽ làm chuyển một bức ảnh hàng triệu mầu của bạn thành 256 cấp độ đen trắng mà thôi. Giải pháp haòn hảo nhất là xoá bỏ các thông tin về mầu sắc trong ảnh của bạn.

Ưu điểm của thể loại máy dCam là gọn nhẹ, chất lượng ảnh tốt nhưng nhược điểm của nó là tự động hoàn toàn, bạn không thể can thiệp được vào các chức năng mặc định của máy và tầm hoạt động của nó cũng chỉ giới hạn thật sự trong ảnh sinh hoạt gia đình. Mình đã dùng S400 khá nhiều khi di du lịch để chụp ảnh phong cảnh nhưng chất lượng không được như ý, nói chung là vẫn phải dùng anh Nikon SLR. Wink

Thao tác chụp

1. Nút bấm chụp ảnh có 2 nấc:

Khi bạn bấm nhẹ xuống một chút (nấc 1) đó là lúc bạn bật hệ thống đo sáng và chỉnh nét tự động của máy. Khi động tác này hoàn tất thì bên cạnh khuôn ngắm sẽ hiện đèn mầu xanh (hoặc da cam trong trường hợp chụp với Flash) cố định. Đây là thời điểm bạn có thể hoàn toàn tự tin và nhấn nốt nửa quãng đường còn lại để chụp ảnh (nấc 2). Lỗi hay thấy là lúc chụp ảnh bạn bấm máy rất nhanh một lần, hệ thống cơ học và điện tử của máy thao tác không kịp nên tính sai lượng ánh sáng cần thiết cũng như điểm nét dẫn tới chất lượng ảnh kém.
2. Chọn điểm đo sáng:

Nếu bạn chụp cảnh sinh hoạt gia đình đơn giản thì nên chọn điểm ngắm lấy sáng và nét vào vị trí có ánh sáng trung bình nhất, không quá tối, tránh để lọt vào trong khuuon hình các nguồn sáng phía sau lưng mạnh như đèn chẳng hạn. Sau khi đèn hiệu đã bật sáng, vẫn giữ nguyên nút bấm ở vị trí "nấc 1" bạn có thể khuôn lại hình theo ý mình rồi bấm máy. Chắc chắn bạn sẽ thành công.

3. Tầm chụp của đèn flash:

Với loại máy dCam thì bạn không nên sử dụng flash ngoài cự ly 2,5m. Trong trường hợp ánh sáng không gian tốt thì bạn có thể chụp flash ngoài 3m. Khi làm "fill-in" ngoài trời thì cự ly đến chủ thể thích hợp là nhỏ hơn 2m.

Digital Noise: nhiễu ảnh đến từ đâu?, hôm nay mình xin được tiếp tục với một câu hỏi khác không kém phần nhạy cảm và thời sự: "Digital Noise: có thật đáng sợ?"

Cũng xin được nói luôn rằng trong lĩnh vực này thế giới nhiếp ảnh chia làm 2 phe: một bên nhìn nhận "noise" như một sự ám ảnh, một điều tồi tệ...còn phía bên kia thì tìm cách thích nghi với nhược điểm mới của kỹ thuật số này. Như thế "Noise" không hẳn chỉ có hại mà nó cũng còn có những điểm thú vị. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu.

Trong kỷ nguyên của nhiếp ảnh dùng phim cổ điển thì "Noise" hay "Grain" - hạt ảnh được coi như một yếu tố không thể thiếu, nó giống như "chứng minh thư" của phim vậy. Hạt ảnh góp phần tạo nên chất nghệ thuật trong ảnh cho dù sự xuất hiện rõ hay không rõ của chúng phụ thuộc vào dòng phim và cách xử lý của người chụp. Ngoại trừ những lĩnh vực chụp ảnh chuyên sâu rất nhà nghề ra thì thông thường các nhiếp ảnh gia nghiệp dư hoàn toàn hài lòng với những phim có độ nhạy ISO 50 đến ISO 800. Ai cũng biết rằng dùng phim càng nhạy cũng đồng nghĩa với việc xuất hiện rõ hơn hạt ảnh. Thế nhưng ta cũng nên biết rằng các phim ISO 400 và ISO 800 hiện đại nhất bây giờ có độ mịn tương đương với các phim ISO 200 và ISO 400 trước đó. Khả năng cảm nhận mầu sắc cũng như chịu chênh sáng của phim rất tốt, nhất là với phim âm bản. Trong giới nhiếp ảnh Pro của châu Âu thậm chí còn có người đề xuất dùng phim ISO 400 như một tiêu chuẩn...Nói về phim đơn giản vì kỹ thuật số hiện tại được nghiên cứu và phát triển dựa trên những kinh nghiệm đã thu được trong gần 180 năm của lịch sử nhiếp ảnh. Nếu bạn đang dùng chiếc dSLR Fuji S3 thì sẽ nhận thấy ngay tông mầu của nó rất giống với các gam phim Fuji nổi tiếng. Kodak cũng không ngoại lệ...

Vậy thì ta nên nhìn nhận "vấn đề" NOISE như thế nào?
Rất đơn giản, NTL xin trả lời bạn như sau: yếu tố đầu tiên mà bạn cần lựa chọn với máy ảnh số là ISO trước khi tiến hành các thao tác khác. Việc làm này sẽ giúp bạn tránh khỏi nhầm lẫn khi dùng ISO 800 chụp ảnh dưới trời nắng chẳng hạn. Sau đó nó cũng quyết định về chất ảnh sẽ thể hiện của bạn: mịn màng hay nổi hạt? Điều này cũng giống như dạo trước, khi đi du lịch bạn thường mua phim ISO 100 và ISO 200 chứ có mấy người toàn mua ISO 800? Các bạn thông thạo về nhiếp ảnh chắc chắn sẽ chọn dòng phim Pro bán một lô 5 cuộn hay phim dương bản ISO 50...Điều này nói lên cái gì? Thực tế cho thấy khi không có nhu cầu đặc biệt thì không cần phải mua phim có độ nhạy cao. Điều này hoàn toàn đúng với kỹ thuật số.

Một trong những ưu điểm không thể phủ nhận của kỹ thuật số, mặc dù nó chưa thật sự hoàn hảo, là việc cho phép bạn tự do lựa chọn độ nhạy ISO cho từng kiểu ảnh. Chức năng này giúp bạn đơn giản hoá rất nhiều thứ chẳng hạn như việc phải mang nhiều thân máy khác nhau để lắp nhiều phim có ISO khác nhau hay bỗng dưng cảm thấy tuyệt vọng khi cuộn phim đang chụp dở trong máy có ISO không phù hợp với điều kiện thực tế và mục đích bạn muốn thể hiện. Thế nhưng bên cạnh đó nó cũng tạo một tâm lý dễ dãi thậm chí có thể nói là sử dụng một cách vô ý thức các độ nhạy này. Không ít người dùng máy ảnh kỹ thuật số hễ thấy trời tối là tăng ISO rồi than vãn là ảnh xấu! Hoặc có không ít người vô tư đến mực chả thèm kiểm tra xem ISO hiện tại trong máy là bao nhiêu rồi cứ thế mà...than vãn. Những chuyện thế này kể mãi không hết, nó cũng giống như các thợ ảnh "vườn" nhà ta đi chụp ảnh đám cưới không đánh dấu các cuộn phim mới và phim đã chụp nên lúc đi tráng ảnh lại mang cuộn mới cứng đi còn cả cuộn chụp phòng cưới của người ta lại đem đi chụp tiếp...đám cưới khác!

Kinh nghiệm thực tế cho thấy với các nhu cầu thông dụng, có lẽ đến 80% các mục đích chụp ảnh, ta hoàn toàn có thể hài lòng với ISO từ 50 tới ISO 400. Bạn nên lưu ý rằng kỹ thuật chụp ảnh đóng một vai trò rất quan trọng cho một tấm ảnh đẹp chứ không phải chỉ đơn giản là giá tiền của chiếc máy ảnh "xịn". Thế ai cần ISO cao? Như NTL đã nói ở trên, ISO cao phục vụ cho những nhu cầu rất đặc biệt và chuyên dụng chẳng hạn như chụp ảnh biểu diễn trên sân khấu, ảnh thi đấu thể thao trong nhà...và nhiếp ảnh gia Pro trong trường hợp này cũng được trang bị những thân máy và ống kính chuyên dụng phù hợp với mục đích sử dụng. Lợi thế của các thân máy dSLR cho phép sử dụng độ nhạy cao với "noise" thấp là không thể phủ nhận nhưng không phải ai cũng cần đến nó. Để có thể quan niệm đúng đắn về lợi ích và tác hại của "noise" bạn cần tự hiểu rõ cách thể hiện của mình cũng như cách tiếp cận vấn đề. Chẳng hạn như khi chụp ảnh một vũ công, tốc độ cao sẽ cho phép bắt cứng một khoảnh khắc của chuyển động, tạo một tư thế đẹp nhưng đó lại không phải là...chuyển động; trái lại một tốc độ chậm sẽ cho ta cảm giác mượt mà và tốc độ của chuyển động cùng với những cảm xúc thật sự. Cách đặt vấn đề trong sáng tạo là rất quan trọng, riêng bản thân thiết bị "xịn" không làm nên nghệ thuật.

Vậy thì có nên đặt "noise" lên vị trí hàng đầu để đánh giá hay lựa chọn một chiếc máy ảnh kỹ thuật số?
NTL xin trả lời bạn rằng "noise" là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá khả năng thao tác của một chiếc dSRL nhưng nó không phải là tất cả. Các gam máy ảnh dSLR hiện tại trên thị trường có độ "noise" ít nhiều tương đương nhau trong khoảng ISO 50 tới ISO 400. Thêm nữa "noise" chỉ thật sự gây khó chịu khi bạn xử lý ảnh chưa tốt và phóng to tới khổ 60x40cm mà thôi. Khi bàn về "noise" không ít người chỉ mang các đồ thị kỹ thuật điện tử ra để so sánh mà quên mất rằng khả năng phân biệt của mắt người không giống như máy móc. Yếu tố này rất quan trọng với việc cảm nhận độ sắc nét cũng như độ nhiễu của ảnh.
Như thế bạn hãy dùng "noise" làm tiêu chuẩn lựa chọn máy ảnh khi thật sự có nhu cầu chuyên dùng ISO cao hơn 800. Nếu không thì trong tất cả các gam máy dSLR hiện tại từ Canon tới Pentax...chất lượng "noise", tới ISO 400, là hoàn toàn có thể hài lòng với khổ ảnh 30x40xm (mà ai hay phóng to hơn nhỉ?)

NTL xin được nhắc lại mấy điều cần chú ý khi sử dụng máy ảnh kỹ thuật số để tránh "noise" không cần thiết:
- Dùng ISO thấp nhất có thể trong mọi trường hợp có thể, nếu bạn sợ rung tay thì hãy dùng thêm chân máy ảnh.
- Tránh thể hiện các khuôn hình có độ chênh sáng quá cao giữa tối/sáng
- Bạn nên chọn WB thích hợp với ánh sáng
- Khi chụp ảnh với thời gian thao tác lâu bạn nên sử dụng chế độ giảm "noise" của máy
- Khi phải chụp ảnh với ISO cao thì nên tránh các vùng ánh sáng quá thấp, nên tập trung khuôn hình chặt các vùng ánh sáng cao
- Cuối cùng là các phần mềm khử "noise" rất phổ biến và hiệu quả có ở khắp nơi...

Chiếc máy ảnh đầu tiên

Sau khi đã cho đi chiếc PDA ( T-mobile MDA Pro) và chiếc máy quay Sony DVD cam, tôi đã có thể hài lòng với những gì mình có.

Tài sản hiện tại của tôi gồm :

1. Canon 350D, đã chụp hơn 5000 bức mua của anh GDD,
2. Canon EOS 10QD (film)
3. Canon AF 58mm 35-105
4. Canon AF 58mm 100-300
5. Sigma AF 55-58mm 28-80
6. Filters ( 6 chiếc )

Hi hi thêm một chiếc balô Minitrekker nữa


Có thể nói rằng Canon luôn đáp ứng kịp thời sự mong mỏi của người tiêu dùng về những đột phá trong kỹ thuật cũng như sản phẩm mới. Với một số người thì đây chỉ đơn thuần là một chiến thuật marketing còn với một số người đó lại là những cải tiến thật sự. Thị trường BCam 8 Mpix trong năm nay được dự đoán sẽ phải nhường chỗ cho các máy dSLR 8 Mpix với giá càng ngày càng rẻ hơn. Với sự tấn công ồ ạt vào như cầu kỹ thuật số này không ít người tiêu dùng đã lúng túng khi nhận thấy tuổi thọ của một gam máy dSLR trung bình chỉ khoảng 12 tháng. Đã hết thời trước khi mua một chiếc SLR người ta dự tính trước cho nhu cầu của vài năm sau đó, máy ảnh dSLR đáp ứng ngay lập tức nhu cầu thực tế hiện tại và lỗi mốt một cách nhanh chóng (mặc dù chất lượng của chúng vẫn hoàn toàn đáp ứng được các nhu caùa sử dụng ban đầu). Kỹ thuật số đang ở thời kỳ sung sức nhất và ít nhiều bắt đầu ổn định về các chuẩn kỹ thuật, các đối thủ cạnh tranh cũng bắt đầu đồng đều hơn về chất lượng sản phẩm. Như thế để lựa chọn một chiếc dSLR vào thời điểm hiện tại là dễ dàng hơn cách đây 1 năm trước rất nhiều. Không để mất thời gian và tiền bạc vô ích thì ta cần xem xét nhu cầu sử dụng của chính mình phù hợp với loại máy nào nhất chứ không phải xem loại máy nào...tốt nhất - đắt tiền nhất!


Canon 350D và một tên gọi khác của nó được dùng tại châu Mỹ: Canon Digital Rebel XT.

Theo Test của RP #158

Gần như đã thành một thói quen của Canon, vài tháng sau khi cho xuất xưởng chiếc 10D, Canon đã cho ra phiên bản "light" có tính chất phổ cập thị trường: chiếc 300D. Nguyên tắc rất đơn giản. Lấy toàn bộ hay một phần thiết kế của một thân máy Prosumer và hiệu chỉnh nó theo cấu trúc của gam máy nghiệp dư. Cùng với sự xuất hiện của chiếc 20D là tin đồn về chiếc dSLR sẽ thay thế 300D để đối mặt với đối thủ truyền kiếp đồng thời cũng là để cập nhật những kỹ thuật mới nhất cho một thân máy nghiệp dư. Với công thức như vậy chiếc 350D gần giống với một chiếc 20D bé hơn là một chiếc 300D được tăng lực. Các tính năng của 350D khá mạnh, không ai còn ngạc nhiên về sự có mặt của mạch cảm quang điện tử 8 Mpix (có gốc từ 20D), hệ thống xử lý tín hiệu ảnh Digic II của các thân máy Pro, kỹ thuật đèn flash mới nhất E-TTL II...



Tại châu Âu thì mầu "champagne" có vẻ không được ưa chuộng như tại Mỹ nên nó đã nhường chỗ cho một thân máy mầu đen, hơi bóng rất nhẹ, lịch lãm hơn. Hoàn thiện bề mặt khá chất lượng nhưng nó lại rất dễ bị bẩn và hay bị các vệt sáng khi ta quệt tay vào. Một vài vị trí trên thân máy có bề mặt cao-su làm tăng khả năng tiếp xúc giống như trên grip. Lẽ dĩ nhiên là chiếc 350D bắt buộc phải lùi bước về thiết kế trước đàn anh 20D của nó rồi. Nhìn chung "ergonomie" của 350D giống với 300D. Có một vài thay đổi mang tính thẩm mỹ nhưng với những ai đã từng dùng dòng máy EOS sẽ dễ dàng trong việc sử dụng chiếc 350D.

Ngoài những thiết kế căn bản giống như 300D thì đáng tiếc là màn hình LCD trên thân máy vẫn chỉ có chất lượng giống như trước. Chiếc "Pad" đa năng sau lưng máy có thêm khả năng lựa chọn trực tiếp AF, chế độ đo sáng, cân bằng trắng WB và độ nhạy ISO. Thế nhưng ta lại không thể tiếp lời khen ngợi với vị trí mới của nút đặt chế độ chụp tự động: quá dễ dàng bị bấm nhầm khi thao tác hay rơi đúng vào vị trí chạm mũi của những ai thuận bên trái. Thử hình dung ta đã bấm nhầm vào nút này trong khi đang khuôn hình để chộp một khoảnh khắc đặc biệt. Lúc bấm máy, thay vì tiếng động của gương lật sẽ là tiếng bíp bíp bực mình của của chế độ "count down"! Giống như những chiếc EOS trước, các nút chức năng trên lưng máy được phân chia bằng mã số mầu: các chức năng chụp ảnh có mầu trắng, các chức năng xem ảnh có mầu xanh. Hay hơn nữa là một số nút chức năngc ó thể kiêm nhiệm những việc khác tùy thuộc vào việc ta đang thao tác chụp ảnh hay xem lại ảnh. Mặc dù các chức năng của 350D nhiều hơn rõ rệt nhưng việc sử dụng chúng rất dễ dàng, thậm chí không cần phải dùng đến cả sách hướng dẫn.

Một chiếc máy dSLR quá...nhỏ gọn?

Về cấu trúc của thân máy ảnh, Canon một lần nữa lại thay đổi kích thước mà căn bản là việc dùng một loại pin mới, nhỏ hơn, cũng khiến phần tay cầm của máy nhỏ lại. Với những ai có bàn tay to thì việc thay đổi này không tiện dụng lắm, tuy nhiên với người châu Á thì lại không có vấn đề gì cả. Một điều đáng tiếc nữa là khuôn ngắm vẫn là loại đã dùng trên 300D, mặc dù nó đủ sáng, dễ nhìn nhưng quá bé và vẫn thiếu các thông tin kỹ thuật quan trọng như độ nhạy ISO, WB, cấu trúc ảnh. Cùng với sự thay đổi kích thước thì trọng lượng của 350D, đặc biệt khi dùng với ống kính EFS 18-55, là rất nhẹ đến mức nó làm ảnh hưởng tới sự ổn định của thân máy khi thao tác. Chiếc Grip BG-E3 có thêm một tác dụng là làm ổn định hơn thân máy, hạn chế chuyển động lúc bấm máy. Grip của 350D sử dụng 2 chiếc pin NB-2LH là loại vẫn dùng cho thân máy 350D.

Nhanh hơn cả...bóng mình!

Ngay từ lúc bật máy ta đã có thể nhận thấy rằng 350D nhanh hơn rất nhiều so với 300D. Canon đã nhận ra khiếm khuyết không thể tha thứ với cặp 10D/300D là ở tốc độ phản ứng của máy (thà rằng tắt máy đi rồi bật lại còn nhanh hơn là đợi máy thoát ra khỏi chế độ standby). Không nhưng chỉ rút ngắn thời gian "chờ" khi bấm máy mà Canon còn tăng thêm bộ nhớ đệm "Buffer" cho phép 350D chụp ảnh nhiều hơn trong một loạt liên thanh: với 3 ảnh/giây nó có thể chụp tới 14 kiểu với cấu trúc Jpeg và 5 kiểu với RAW. Và tất cả những thứ này được bổ trợ thêm bởi một hệ thống AF không hề "nghiệp dư" chút nào hết. Không chỉ giới hạn trong tốc độ mà AF của 350D còn có khả năng thật sự ngay trong điều kiện ánh sáng yếu. Đây chính là một điểm trội của 350D so với 300D. Chiếc 350D cho phép người sử dụng lựa chọn các chế độ tiêu cự "One Shot, Ai Focus, Ai Servo" hay các chế độ đo sáng "Evaluative 35 vùng, đo sáng trung tâm, đo sáng với diện 9% của khuôn ngắm, chỉ bằng một nút bấm trên lưng máy.

Không có nút "Multicontronler"

Cải tiến vô cùng tiện dụng của 20D đã không được dùng cho 350D, thật đáng tiếc. Mặc dù các thao tác lựa chọn điểm canh nét AF có thể được tiến hành với các nút của "Pad" nhưng nó kém tiện dụng hơn nhiều so với nút "Multicontroler". Tất nhiên việc lựa chọn chế độ AF lại tùy thuộc vào thói quen của người sử dụng. NTL nhận thấy rằng việc sử dụng 1 điểm canh nét trung tâm, ghi nhớ AF-AE rồi khuôn lại hình vẫn là nhanh và tiện nhất. [IMGLEFT=][IMGLEFT=]
January 2010
S M T W T F S
December 2009February 2010
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30