Các phương pháp điều trị bệnh cường giáp
Wednesday, January 8, 2014 10:34:54 AM
cuong giap là một hội chứng, có thể do nhiều bệnh khác nhau gây ra. Đa số trường hợp cường giáp là do bệnh Basedow gây ra (tên gọi khác là bệnh<st1:place style="margin: 0px; padding: 0px; color: rgb(0, 0, 0); font-family: 'Times New Roman'; font-size: 16px; line-height: 20px; text-align: justify;" w:st="on">Graves</st1:place>).
Các triệu chứng phổ biến nhất của bệnh cuong giap được liệt kê dưới đây:
-Tăng tiết mồ hôi.
- Không chịu được nóng.
- Tăng nhu động ruột.
- Run.
- Lo lắng, kích thích.
- Nhịp tim nhanh.
- Sụt cân.
- Mệt.
- Giảm tập trung.
Ở bệnh nhân trẻ, nhịp tim nhanh, không đều và suy tim có thể xảy ra. Có một số trường hợp nặng, nếu không điều trị kịp thời sẽ đưa đến cơn “ bảo giáp”, bao gồm cao huyết áp, sốt, suy tim.
xét nghiệm máu giúp chẩn đoán bệnh cường giáp, nhưng nó không giúp chỉ điểm đặc hiệu nguyên nhân gây ra cường giáp. Biểu hiện ở mắt gần như chắc chắn để chẩn đoán bệnh <st1:place style="margin: 0px; padding: 0px; color: rgb(0, 0, 0); font-family: 'Times New Roman'; font-size: 16px; line-height: 20px; text-align: justify;" w:st="on">Graves</st1:place> ( còn gọi là bệnh Basedow). Chụp CTscan tuyến giáp kết hợp với tìm kháng thể giúp chẩn đoán nguyên nhân gây cường giáp. Các phương pháp này được lựa chọn tuỳ trường hợp.
Dieu tri cuong giap như thế nào?
Các phương pháp dieu tri cuong giap bao gồm :
- Điều trị triệu chứng.
- Thuốc kháng giáp.
- Iodine phóng xạ.
- Mổ.
Điều trị triệu chứng
Đó là những thuốc có thể dùng ngay để điều trị triệu chứng do tăng hormon tuyến giáp quá mức, cũng như thuốc điều trị nhịp tim nhanh. Một trong những loại thuốc chính được sử dụng để điều trị triệu chứng này là thuốc ức chế bêta (inderal, Tenormin, Lopressor). Các thuốc này có tác dụng chống lại sự tăng chuyển hoá do hormon tuyến giáp gây ra. Bác sĩ là người quyết định đưa ra phác đồ điều trị dựa trên một số thay đổi bao gồm nguyên nhân của cường giáp, tuổi người bệnh, kích thước tuyến giáp và các bệnh lý phối hợp.
Thuốc kháng giáp
Có 2 loại thuốc kháng giáp chính có thể được sử dụng : methimazole (Tapazole), propylthiouracil ( PTU). Những thuốc này sẽ tích tụ ở mô tuyến giáp và ức chế bài tiết hormon tuyến giáp. Ngoài ra PTU còn ức chế sự chuyển T4 thành T3 hoạt động. Nguy cơ chính có thể có khi dùng các loại thuốc này là làm giảm bạch cầu của tủy xương (mất bạch cầu hạt ). (Bạch cầu là loại tế bào máu rất cần thiết cho cơ thể chống lại bệnh nhiễm trùng ). Người ta không thể khẳng định được khi nào có phản ứng phụ xảy ra. Vì vậy việc xét nghiệm thuốc trong máu thường không có lợi. Điều quan trọng đối với người bệnh là phải biết khi nào bị sốt, đau họng và bất kỳ triệu chứng nào xuất hiện khi đang dùng thuốc thì lập tức đến khám bác sĩ. Nguy cơ giảm bạch cầu hạt dưới 1%. Thường người bệnh sẽ phải theo đuổi việc điều trị kháng giáp hàng tháng, người bệnh được theo dõi cho đến khi tuyến giáp về bình thường. Một khi lượng hormon giáp trong máu ổn định, bệnh nhân có thể đến khám bác sĩ mỗi 3 tháng một lần, nếu đã có kế hoạch điều trị.




