Skip navigation.

December 2007

( Monthly archive )

Nguyễn Thái Bình, (Trí thức Tiêu biểu Sài gòn (1945-1975)


NGUYỄN THÁI BÌNH (1948 - 1972)

Nguyễn Thái Bình, sinh ngày 14-1-1948 tại Trường Bình, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, trong một gia đình lao động. Người cha là phu khuân vác tại Cảng Sài Gòn.
Theo cha lên Sài Gòn kiếm sống, Nguyễn Thái Bình vốn thông minh, thi đỗ vào trường Trung học Petrus Ký. Đỗ Tú tài năm 1966, sau đó anh vào Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc, với hy vọng trở thành một chuyên gia nông học có khả năng giúp nhân dân lao động nông nghiệp đỡ vất vả .
Học giỏi, Nguyễn Thái Bình được cấp học bổng du học tại Mỹ năm 1968. Cơ quan Viện trợ của Mỹ USAID bảo trợ cho anh sang học tại trường Cao đẳng Fresno với mưu đồ đào tạo Nguyễn Thái Bình trở thành người phục vụ tận tụy cho chính sách thực dân mới của chúng. Chỉ một năm sau, Nguyễn Thái Bình thi đỗ vào Trường đại học Washington, ngành thực phẩm và ngư nghiệp.
Trong những năm cuối thập niên 60, phong trào phản đối chiến tranh rầm rộ, sôi nổi ở Mỹ, đặc biệt là trong giới thanh niên và sinh viên. Giới trẻ Mỹ Phản đối các đời Tổng thống Mỹ lừa dối nhân dân nước họ, gây ra cuộc chiến tranh thảm khốc ở Đông Dương, không chỉ tàn phá giết chết nhân dân bản địa mà còn hy sinh sinh mạng của hàng vạn thanh niên Mỹ trong đội quân xâm lược, vì quyền lợi của các giới tài phiệt Mỹ. Nguyễn Thái Bình nhanh chóng hoà vào phong trào đấu tranh ấy, bởi chính anh và dân tộc anh đang là nạn nhân của cuộc chiến tranh xâm lược bạo tàn này. Nguyễn Thái Bình hoạt động tích cực trong trường Đại học, diễn thuyết tại nhiều cuộc hội thảo, mít tinh của các tổ chức chống chiến tranh ở Mỹ. Anh là đồng sáng lập tờ Thời Báo Gà (cơ quan ngôn luận của Trung tâm Tài liệu Việt Nam, tổ chức phản đối chiến tranh của người Việt ở Mỹ ). Anh còn viết bài tố cáo tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam trên các báo chí của Hội người Việt Nam ở Mỹ, Canada, Pháp..la2tMua2 hè năm 1970, Nguyễn Thái Bình được về nước thăm gia đình. Nhân dịp này, một người Mỹ, giám đốc một hãng thực phẩm lớn đề nghị anh ký trước một bản hợp đồng để khi ra trường làm việc cho hãng ông ta. Một số nhà gia thế ở Hoa Thịnh Đốn Việt Kiều có, tài phiệt Mỹ có... muốn gả con gái cho anh kể cả công chúa Thái Lan cũng giành cho anh những tình cảm đặc biệt , theo bạn bè nếu anh chỉ tiến thêm vài bước nữa là có thể trở thành "phò mã"của Vương quốc Thái Lan. Song anh nói :" Tôi chỉ muốn làm một người Việt Nam bình thường sống trên quê hương tôi thanh bình, độc lập".
Ngày 10-2-1972, Nguyễn Thái Bình và 9 sinh viên đồng hương Việt Nam chiếm toà đại sứ Nguỵ quyền Sài Gòn ở Quảng trường Liên hợp quốc -New York, phân phát truyền đơn lên án chính sách xâm lược đẫm máu của người Mỹ ở Việt Nam và bọn Ngụy quyền tay sai của chúng.
Tháng 5-1972 cùng với việc được trao văn bằng tốt nghiệp hạng danh dự của Đại học Wasihington là lệnh trục xuất của chính quyền Hợp chủng quốc. ngày 1-7-1972, Nguyễn Thái Bình rời Mỹ trở về quê hương, trên chuyến bay Washington - Honololo - Sài Gòn.
Mật vụ Mỹ đã được giao nhiệm vụ bẩn thỉu như chúng từng thực hiện với ngay "đồng bào da đen" trên nước Mỹ, bắn chết anh ngay trên máy bay khi vừa hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhất, rồi chúng vứt xác anh xuống đường băng.
---
* Trí thức Sài Gòn-Gia định, 1945-1975, Nxb Chính trị quốc gia, 2001, tr.442



Nguyễn Thái Bình, bút hiệu Nguyễn Thái Bình, Việt Thái Bình, sinh ngày 14-1-1948 tại Cần Giuộc tỉnh Long An. Anh đã tốt nghiệp ngành công nghiệp thực phẩm và ngư nghiệp hạng danh dự (tháng 5-1972) tại Mỹ. Anh đã hoạt động chống chiến tranh Việt Nam trên đất Mỹ dưới nhiều hình thức: Xuống đường, viết báo, diễn thuyết đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam. Anh đã công bố bài "Nợ máu" trong buổi lễ trao bằng tốt nghiệp lần thứ 97 của Đại học Washington: "Hôm nay, hàng trăm vụ ném bom bằng B52, hàng ngàn tấn bom napan, bom lân tinh, chất khai quang, tất cả đều đổ lên đầu trẻ thơ vô tội và những người già cả, tàn phá trường học, nhà thờ, chùa chiền, bệnh viện tại Việt Nam. Tôi tin rằng lương tâm nhân loại vẫn còn ở mỗi con người . Tôi kêu gọi tất cả các bạn hãy lên tiếng vì hoà bình , đứng về phía công lý và giúp đỡ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam nhằm kết thúc cuộc chiến tranh phi nghĩa, phi nhân và tàn bạo này".
Trong thư ngỏ gửi Tổng thống Hoa Kỳ R.Nixon, Nguyễn Thái Bình viết:
"...Chúng tôi tự nguyện giữ vững lời thề độc lập:
Không có gì quí hơn độc lập tự do (Hồ Chí Minh). Trải qua hơn hai mươi năm chiến tranh, nhân dân Việt Nam khao khát hoà bình tha thiết hơn bất cứ ai khác. Nhưng nền hoà bình đó phải là một nền hoà bình thực sự, một nền hoà bình trong độc lập và tự do cho người Việt Nam, chứ không phải là một thứ hoà bình giả dối, một thứ hoà bình "Mỹ".
Đáp lại tiếng gọi của Tổ quốc thân yêu, tôi quyết tâm đấu tranh bằng mọi cách chống lại bất cứ thứ ngoại xâm nào xâm lăng Việt Nam, thứ ngoại xâm đó lúc này chính là đế quốc Mỹ xâm lược.
Trở về Việt Nam để đứng trong hàng ngũ nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc". (*)
Trên đường về nước, Nguyễn Thái Bình bị giặc Mỹ sát hại khi máy bay vừa hạ cánh ở phi trường Tân Sơn Nhất (ngày 2-7-1972). Chúng gán cho anh là không tặc, song chỉ vài ngày sau, hàng chục tờ báo ở Sài Gòn và Mỹ đã đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy đây là vụ mưu sát. Anh không phải là người sinh viên Việt Nam đầu tiên bị giặc Mỹ ném qua cửa sổ. Trước Bình, đã có tiền lệ cái chết của anh Trần Quốc Chương, sinh viên đại học Y khoa Sài Gòn, Chương là cơ sở cách mạng, bị địch tình nghi là Việt Cộng cho tay sai lẻn vào Trường Đại học Y Khoa, trói chặt tay chân của Chương rồi ném từ lầu 3 xuống đất (Trần Quốc Chương là con trai thẩm phán Trần Thúc Linh). Cái chết của hai anh đã nói lên tội ác dã man của đế quốc Mỹ đối với những người trí thức yêu nước chống lại chúng. Các anh thà "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", đã chết mà tên tuổi không bao giờ chết.
------
(*) Tiếng hát những người đi tới, Nxb Trẻ, 1993, tr.436.

Chân dung: GS Trần Văn Khê, (Trí thức tiêu biểu SG 1945-1954)

GS. Trần Văn Khê

Giáo sư Trần Văn Khê sinh năm 1921 trong một gia đình 4 đời nhạc sĩ. Ông cố Trần Quang Thọ, nhạc công cung đình Huế , ông nội Trần Quang Diệm, chuyên đàn tỳ bà và nguyệt, cha Trần Quang Triều thường được gọi là ông Bảy Triều chuyên đàn kìm, đàn cò, đàn độc huyền đã chế ra dây Tố Lan mà giời tài tử miền Nam đều biết. Lớn lên trong tiếng nhạc, nhưng 9 tuổi mồ côi mẹ, 10 tuổi mồ côi cha, được cô thứ ba là bà Trần Ngọc Viện dưỡng nuôi dạy dỗ trong thời kỳ sơ học, may mắn được học chữ Hán với nhà thơ Thương Tấn Thị, tác giả khuê phụ thán . Sau khi đậu bằng sơ học có phần Hán văn tại Vĩnh Long, ông vào học trường Trung học Pétrus trương Vĩnh Ký từ năm 1934 đến 1941 đậu tú tài Triết. Trong thời gian đó Trần Văn Khê được học Việt Văn, Hán Văn với giáo dư Phạm Thiều. Tại trường Pétrus Ký , Trần Văn Khê chỉ huy dàn nhạc của Trường, tổ chức lễ ông táo để trình diễn văn nghệ, chỉ huy dàn nhạc "Scola Club" của Hội SAMIPIC (Đức Trí, Thể dục).
Trần Văn Khê ra Hà nội học Trường Đại học Y khoa từ năm 1941 đến cuối năm 1943, ông theo phong trào "Xếp bút nghiên về Nam", cùng với các bạn Huỳnh Văn Tiểng, Hồ Thông Minh lập đoàn hát, mua gạo gởi ra ngoài Bắc cứu đói.
Lúc học ở Hà Nội, Trần Văn Khê cùng với các bạn Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng gây một phong trào thanh niên "Quay về nguồn, phụng sự xã hội". Ông chỉ huy dàn nhạc Đại học Hà nội và tham gia tổ chức đêm sinh viên. Cùng với Lưu Hữu Phước, dụng ca kịch Tục luỵ đầu năm 1943 tại trường Đồng khánh Hà Nội. Ở trong Nam ông tham gia trình diễn văn nghệ, hè năm 1943 tại Trường Áo Tím Nữ học đường, tham gia những đêm văn nghệ của sinh viên.
Trần Văn Khê tham gia phong trào thanh niên Tiền phong, ông cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước, Phan Huỳnh Tấng, Quách Vĩnh Chương, Nguyễn Mỹ Ca thành lập nhóm Hoàng Mai Lưu . Trong thời kỳ kháng chiến ông giữ chức vụ Nhạc trưởng Quân đội Nam bộ do Ủy ban kháng chiến giao phó, sau đó ông hoạt động trong thành phố dưới sự chỉ đạo của kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát , Trần Văn Khê sang pháp đầu năm 1949.
Ông tốt nghiệp Trường Khoa học chính trị Balê (Sciencespolitiques) trong ngành Giao dịch quốc tế năm 1951, được tuyến vào Liên hợp quốc với chức Thu ký chuyên viên Luật Quốc tế; không kịp nhận chức, ông bị bệnh nặng vào bệnh viện từ tháng 8 năm 1951, bị 4 lần giải phẫu và đến tháng 10 năm 1954 mới hoàn toàn xuất viện. Trong thời kỳ bị bệnh dài hạn, ông đã bắt đầu thu thập tài liệu và đọc sách sử Việt Nam để chuẩn bị luận án Tiến sĩ Văn chương khoa Nhạc học của Đại học Sorbonne Pháp. Ông bảo vệ luận án chính với đề tài "Âm nhạc truyền thống Việt Nam" và luận án phụ "Khổng Tử với âm nhạc" năm 1958. Từ năm 1959 ông thành lập Trung tâm Nhạc học Đông Phương và điều khiển Trung tâm ấy đến năm 1988, giảng dạy nhạc Việt Nam, Trung Quốc, Ba Tư, Ả-Rập, với sự cộng tác của nhiều chuyên gia nhạc Châu Á. Ông được cử vào Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp - Khoa nghiên cứu Âm nhạc. Từ cuối năm 1959 đến năm 1988 ông về hưu với cấp bậc Giám đốc nghiên cứu biệt hạng.
Ông là giáo dư nhạc học dân tộc tại Đại học Sorbonne từ năm 1967 đến năm 1988, chỉ đạo nghiên cứu cho sinh viên thi cao học, tiến sĩ, làm giám khảo hơn 40 cuộc thi cao học và tiến sĩ nhạc học. Giáo sư đã thỉnh giảng 18 đại học trên thế giới, được mời giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam trên 40 nước, tham dự hơn 200 hội nghị quốc tế về âm nhạc trên 60 nước, đã viết ba quyển sách về âm nhạc truyền thống Việt Nam, một quyển sách về múa rối nước và trên 200 bài đăng các tạp chí chuyên môn Âu Mỹ, thực hiện 17 đĩa hát về âm nhạc truyền thống Việt Nam.
Giáo sư là cộng tác viên của nhiều Bách khoa Từ điển Larousse, La Plérade Fasquelles, Rets, Encyclopédie, Universales, Bach khoa Từ điểm các nước Ý , Anh, Mỹ, Thuỵ Điển...
Giáo sư là thành viên của nhiều hội quốc gia và Quốc tế về âm nhạc; cựu Phó Chủ tịch Hội đồng quốc tế Âm nhạc truyền thống, cựu Phó Chủ tịch Hội đồng quốc tế Âm nhạc (UNESCO); hiện là thành viên danh dự của Hội đồng quốc tế Âm nhạc;Ủy viên Ban chấp hành của Ủy ban Viết lại lịch sử âm nhạc Thế Giới; Viện sĩ thông tán Hàn lâm viên châu Âu về khoa học văn chương nghệ thuậ.
Giáo sư Trần Văn Khê đã nhận nhiều giải thưởng quốc tế về đĩa hát và âm nhạc như giải thưởng của đại học Pháp do Hàn Lâm viện của Pháp cấp, giải thưởng UNESCO của Hội đồng quốc tế Âm nhạc về âm nhạc năm 1981; giáo sư là tiến sĩ danh dự Đại học Ohawa 1975, Đại học Moneton (Canada) 1999; Giải thưởng Quốc tế về nhạc dân tộc của cơ quan Nhật Bản Kovzumi Funvd năm 1995; Bội tinh văn hoa nghệ thuật của Bộ Văn hoá Thông tin Chính phủ Pháp năm 1991 (cấp bậc Offraier tức là trên Chevalier một bậc) và năm 1999 được nhận huân chương Lao động hạng nhất của nhà nước ta.
Giáo sư giảng dạy nhạc học dân tộc và nhạc truyền thống Việt Nam, giới thiệu nhạc truyền thống Việt Nam tại nhiều nhạc hội quốc tế, trên các đài truyền thanh, truyền hình của nhiều nước khắp năm châu, và ông thường về nước giảng dạy tại Nhạc viện Hà Nội, Viện nghiên cứu Âm nhạc và Múa tại thành phố Hồ Chí Minh, tại Đại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm và trong ba năm nay giảng dạy về âm nhạc truyền thống Việt Nam tại Đại học dân lập Hùng Vương.
----
TS Hồ Hữu Nhựt viết theo tài liệu của đồng chí Huỳnh Văn Tiểng.




Mừng thọ GS-TS Trần Văn Khê 85 tuổi
(SGGP>Văn hóa văn nghệ )


Ngày 20-11, Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc, Tạp chí Văn Hiến Việt Nam đã tổ chức lễ mừng thọ 85 tuổi và lễ trao giải thưởng Đào Tấn cho GS-TS Trần Văn Khê.
Đến dự, có đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư Đảng; Nguyễn Khoa Điềm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương.

GS-TS Trần Văn Khê là nhà dân tộc nhạc học nổi tiếng trong nước và trên thế giới. Sau 50 năm sinh sống, nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp và nhiều nước khác, nay ông trở về sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam.

Hiện ông là thành viên Hội đồng khoa học của Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc và Hội đồng biên tập Tạp chí Văn Hiến Việt Nam.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Khoa Điềm đã ghi nhận những đóng góp to lớn của GS-TS Trần Văn Khê trong việc nghiên cứu đào tạo, giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới.

GS-TS Trần Văn Khê xúc động nói lên cảm tưởng của mình trước sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đồng nghiệp đã tạo điều kiện cho ông được cống hiến sức lực, tài năng cho Tổ quốc.

Tiểu sử : NGUYỄN VĂN LINH, (Trí thức Tiêu biểu Sài gòn)

Tiểu sử :NGUYỄN VĂN LINH

Nguyễn Văn Linh tên thật là Nguyễn Văn Cúc. Ông sinh ngày 1-7-1915 tại xã Giai Phạm, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên.
Năm 1929, Nguyễn Văn Linh tham gia Học sinh Đòan do Việt Nam Thanh niên cách mạng Đồng chí Hội tổ chức.
Ngày 1-5-1930, trong khi rải truyền đơn chống đế quốc, ông bị địch bắt tại Hải Phòng, sau đó bị chúng kết án tù chung thân và bị giam giữ tại nhà tù Côn Đảo.
Năm 1936, do thắng lợi của Mặt trận Bình dân Pháp, Nguyễn Văn Linh được thả tự do và sau đó ông được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Là một đảng viên, Nguyễn Văn Linh tham gia hoạt động tích cực trong giai cấp công nhân lao động ở Hải Phòng, Hà Nội. Tại đây, Nguyễn Văn Linh đã tham gia xây dựng được nhiều cơ sở Đảng, nhiều chi bộ, đặc biệt là tham gia thành lập Thành ủy Lâm thời Hải Phòng.
Năm 1939, Nguyễn Văn Linh được tổ chức Đảng điều vào Sài Gòn hoạt động cách mạng và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Sài Gòn.
Cuối năm 1939, Nguyễn Văn Linh ra miền Trung công tác và ông được tổ chức Đảng phân công lập lại Xứ ủy Trung Kỳ. Đến năm 1941, ông bị bắt ở thành phố Vinh, bị kết án 5 năm tù và bị đày ra Côn Đảo lần thứ hai .
Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, sau khi được đón về đất liền, Nguyễn Văn Linh hoạt động cách mạng ở miền Tây Nam Kỳ và sau đó, ông được điều lên Sài Gòn – Chợ Lớn trực tiếp lãnh đạo kháng chiến với các chức vụ Bí thư Thành ủy, Bí thư Đặc Khu ủy Sài Gòn – Gia định.
Năm 1947, ông giữ chức vụ ủy viên Xứ ủy Nam Bộ. Năm 1949, ông giữ chức vụ Thường vụ Xứ ủy Nam bộ cho đến năm 1954.
---
Theo Trí thức Nam Bộ (1945-1954) NXB Đại học Quốc gia TP.HCM

Tiểu sử TRẦN VĂN GIÀU, (Trí thức Tiêu biểu Sài gòn)

Tiểu sử TRẦN VĂN GIÀU

Trần Văn Giàu sinh năm 1911 tại xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tân An (nay là tỉnh Long An).
Năm 1928, sau khi tốt nghiệp Trường trung học Chasseloup Laubat ở Sài Gòn, Trần Văn Giàu được gia đình cho sang Pháp du học tại Đại học Toulouse.
Tháng 3 năm 1929, Trần Văn Giàu xin gia nhập và trở thành Đảng viên Đảng CS Pháp. Là một người CS yêu nước đầy nhiệt huyết, ông được anh em du học sinh và thợ thuyền Việt Nam ở thành phố Toulouse cử làm đại biểu lên Paris tham dự cuộc biểu tình đòi xóa an tử hình cho 13 thủ lĩnh Quốc dân Đảng bị Pháp bắt trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Do vậy, ông bị cảnh sát bắt giam tại nhà tù Loa Roquillis và sau đó, ông bị Chính phủ Pháp trục xuất về nước.
Sau khi về nước, Trần Văn Giàu tham gia dạy học tại Trường tư thục Huỳnh Công Phát , đồng thời tham gia hoạt động cách mạng ở Sài Gòn – Chợ Lớn. Cũng trong thời gian này, ông được tổ chức Đảng kết nạp và trở thành đảng viên Đảng CSĐD, đồng thời ông được phân công cùng Hải Triều phụ trách Ban Học sinh và Ban Phản đế của Xứ ủy Nam Kỳ
Sau cao trào Xô viết Nghệ tĩnh, được tổ chức Đảng đồng ý, Trần Văn Giàu sang Liên Xô học tại Trường Đại học Đông Phương. Năm 1933, khi bảo vệ thành công đề tài tốt nghiệp “Vấn đề ruộng đất ở Đông Dương”, Trần Văn Giàu nhận bằng Đại học Đông Phương rồi rời Matxcơva về nước.
Trở về Sài Gòn, Trần Văn Giàu tiếp tục hoạt động cách mạng, đặc biệt ông tham gia tổ chức lại Xứ ủy Nam Kỳ, đồng thời tham gia xuất bản tờ báo Cờ đỏ và bộ sách ###### Tùng thư. Là một người ###### yêu nước, uy tín của ông ngày càng tăng trong giới nhân sĩ trí thức Nam Kỳ, chính vì thế , ông bị thực dân Pháp bắt giam nhiều lần, kể cả bị biệt giam tại Côn Đảo, Tà Lài… năm 1941, Trần Văn Giàu lãnh đạo anh em tù chính trị tổ chức vượt ngục Tà Lài (Đồng Nai) thành công. Đến năm 1943, Trần Văn Giàu được cử làm Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ.
Ngày 25-8-1945, Cách mạng tháng Tám thành công, tại Sài Gòn, Chính quyền cách mạng được thành lập, Trần Văn Giàu được cử làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Lâm thời nam bộ. Ngày 23-9-1945 , khi tiếng súng kháng chiến ở Nam Bộ bùng nổ , Ủy ban kháng chiến Nam Bộ được thành lập và Trần Văn Giàu được cử giữ chức Chủ tịch.
Từ năm 1946 đến năm 1954, Trần Văn Giàu giữ chức Tổng giám đốc Nha Thông tin Nam Bộ và sau đó, ông được điều động ra chiến khu Việt Bắc tham gia xây dựng, phát triển giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp.
---
Theo Trí thức Nam Bộ (1945-1954) NXB Đại học Quốc gia TP.HCM

Tiểu sử TRẦN BẠCH ĐẰNG, (Trí thức Tiêu biểu Sài gòn)

Tiểu sử TRẦN BẠCH ĐẰNG

Trần Bạch Đằng tên thật là Trương Gia Thiều sinh này 15-7-1926 tại huyện Giồng Riêng, tỉnh Rạch Giá. Hiện nay là Nhà nghiên cứu Khoa học thuộc Hội đồng khoa học thành phố Hồ Chí Minh.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình trí thức có truyền thống yêu nước, Trần Bạch Đằng sớm được thừa hưởng truyền thống yêu nước và hiếu học của gia đình. Khi còn nhỏ, Trần Bạch Đằng đã được chứng kiến và thấu hiểu nỗi nhục của Người dân mất nước sống dưới ách thống trị hà khắc của bè lũ thực dân, phong kiến. Khi trưởng thành , là một thanh niên yêu nước, có chí lớn, ông sớm tham gia cách mạng và năm 1943, ông được kết nạp ĐCS Đông Dương. Năm 1945, với tư cách là Đảng viên và là Bí thư Đảng bộ vùng , ông tích cực vận động lực lượng thanh niên, sinh viên và nhân sĩ trí thức Nam Bộ yêu nước tham gia xây dựng lực lượng kháng chiến, chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra. Trần Bạch Đằng là một trong những thành viên tích cực tham gia lực lượng quần chúng vũ trang tiến chiếm các công sở của Pháp ở Sài Gòn .
Tháng 9 năm 1945, khi thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai, Trần Bạch Đằng ra chiến khu tham gia kháng chiến chống Pháp. Cũng trong thời gian này, đồng chí Trịnh Đình Trọng, Nguyễn Mạnh Hòan được xứ Ủy tăng cường về xây dựng phong trào kháng chiến ở địa bàn Sài Gòn – Chợ Lớn. Tại đây Trịnh Đình Trọng đã mở lớp huấn luyện về Mặt trận Việt Minh, về công tác thông tin tuyên truyền… đồng thời tiến hành xuất bản tờ Thông tin kháng chiến… tiếng nói của Mặt trận Việt Minh Sài Gòn – Chợ Lớn. Tờ Thông tin kháng chiến sau đó đổi tên thành tờ báo chống Xâm Lăng và đã qui tụ được nhiều trí thức kháng chiến tham gia như Liểu Châu, Quê Lâm… trong đó Trần Bạch Đằng là cây viết chủ lực …
Năm 1946, Trần Bạch Đằng được chính quyền kháng chiến bổ nhiệm chức vụ Chính trị viên chi đội lực lượng vũ trang , đến năm 1947, ông là Thường vụ Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn và giữ chức vụ Tổng thư ký Mặt trận Việt Minh nam Bộ, Năm 1947, trong Đại hội thành lập Liên đòan Thanh niên thống nhất tòan Nam Bộ, Trần Bạch Đằng là đại diện cho Thanh niên cứu quốc được giới thiệu vào Ban chấp hành Liên đòan thanh niên Nam Bộ. Cuối năm 1947, Khi Liên đòan Thanh niên Nam Bộ chủ trương phát hành tờ báo Thanh Niên -0 cơ quan ngôn luận của Liên đòan thanh niên Nam Bộ, thì Trần Bạch Đằng và Hà Huy Giáp là những cây bút xuất sắc không thể thiếu của tờ Thanh Niên. Đặc biệt ông tham gia viết bài cho tạp chí Mác Xít – Cơ quan ngộn luận của Hội những người nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lê nin ở Nam Bộ. (Tờ Mác xít do giáo sư Nguyễn Văn Kỉnh làm Tổng Biên tập, đồng chí Lê Duẩn làm Chủ nhiệm. Tờ Mác xít hoạt động được một thời gian và sau đó được đổi tên thành tờ Thống nhất).
Đầu năm 1949, Trần Bạch Đằng được Đảng bộ Nam Bộ cử làm đại biểu đi dự Đại hội Đảng tòan quốc lần thứ hai. Trong đòan đại biểu có cả Phạm Hùng, Hà Huy Giáp và nhiều cán bộ đảng khác ở Nam Bộ. Khi đến Nha Trang, Phạm Hùng và Hà Huy Giáp chuyển sang đi đường biển, Trần Bạch Đằng phụ trách số cán bộ còn lại tiếp tục đi đường bộ. Ngày 8-4-1949, đòan cán bộ do Trần Bạch Đằng phụ trách rơi vào ổ phục kích của địch và bị chúng bắt. Sau nhiều tháng bị giam giữ tại nhiều nhà tù suốt từ giải đất miền Trung vào đến tận Nam Bộ như bót Catina, khám Gia Định, nhà giam Phú Lâm, khám Số Bảy, khám Gò Công, khám Đồng Sơn… Trần Bạch Đằng đã tổ chức lãnh đạo anh em tù chính trị vượt ngục thành công vào đêm 11-11-1949 trong khi bọn lính Pháp đang tổ chức nhậu nhẹt say sưa nhân kỷ niệm ngày chiến thắng Phát xít Đức.
Khi Trung ương cục Miền Nam được thành lập, Trần Bạch Đằng giữ chức vụ Phó Ban tuyên huấn Trung ương Cục Miền Nam. Lúc này ông thường xuyên viết bài cho tạp chí Nghiên cứu. Một thời gian sau, tờ báo Nhân Dân miền Nam – cơ quan ngôn luận của Trung ương Cục miền Nam chính thức được thành lập, Trần Bạch Đằng và các nhà báo khác như Nguyễn Văn Nguyễn, Lưu Quí Kỳ thay hau làm chủ bút từ 1951 đến 1954.
Là một người thông minh, đặc biệt có năng khiếu văn học, nên suốt từ năm 1945 đến nam 1954, ngòai công tác chuyên môn mà Đảng và Chính quyền cách mạng giao phó, ông còn sáng tác nhiều tác phẩm, kịch bản văn học có giá trị, trong đó có kịch bản Trần Hưng Đạo bình nguyên nổi tiếng và đã được nhiều đòan kịch, nhiều gánh hát cách mạng chọn làm tiết mục “ruột”.
---
Theo Trí thức Nam Bộ (1945-1954) NXB Đại học Quốc gia TP.HCM

Chân dung : Nguyễn Hữu Ba, (Trí thức Tiêu biểu Sài gòn)




Tiểu sử Nhạc sư Nguyễn Hữu Ba
(1914-1997)


Tên thật của ông là Nguyễn Hữu Tửu, sinh năm 1914 tại Đạo Đầu, tỉnh Quảng Trị, Nguyễn Hữu Ba có tự là Đạo Tâm
Ông say mê nhạc từ lúc còn nhỏ, học và biết chơi đàn nhị từ lúc lên 8 tuổi. Năm 1932, ở tuổi 18, ông đã tìm ký âm pháp Việt Nam. Năm 1938 ông đoạt giải nhất đàn nhị huyền tại Hội chợ Huế.Năm 1940, ông viết cuốn "Tự học đàn nguyệt". Ông tiếp tục nghiên cứu và từng bước hoàn chỉnh ký âm pháp Việt Nam. Ngày nay, những nghiên cứu của ông được dùng giảng dạy ở các nhạc viện và được phổ biến ở nhiều nước .
Là người yêu nước, Nguyễn Hữu Ba ra vùng căn cứ sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ hai. Một thời gian sau, ông được phép trở lại nội thành Huế, tiếp tục hoạt động âm nhạc . Năm 1948 ông thành lập "Tỳ bà Viện" và được bổ nhiệm làm Giám đốc Trung tâm phục hưng Quốc nhạc Việt Nam.
Ở Huế, ông dùng nhạc phẩm làm vũ khí đấu tranh và động viên lòng yêu nước của nhân dân vùng bị giặc chiếm. Bài Thu khói lửa, tiếp theo là một loạt bài , trong đó có bài Tình người miền Nam tiễn đưa người ra Bắc tuyên truyền động viên và kêu gọi đồng bào miền Nam đấu tranh đòi nguỵ quyền thi hành Hiệp định Gene2ve, hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước. Vì những bài hát "Tuyên truyền cho Ngụy" ông bị kẻ thù bắt vào nhà tù hai lần (1952 và1955).
Nguyễn Hữu Ba vào Sài gòn và tham gia phong trào hoà bình ở sài gòn - Chợ Lớn do các trí thức Nam Bộ thành lập.
Tại Sài Gòn, ông là Trưởng khoa ngành Quốc nhạc tại Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn (1957), hợp tác với nhạc sĩ Trần Văn Khê thực hiện đĩa nhạc dân tộc Việt Nam cho UNESCO (1969). Ông giảng dạy lý thuyết âm nhạc tại các Viện Đại học Huế, Sài gòn, Vạn Hạnh.
Trong thời kỳ chống Mỹ, ông là Ủy viên Ủy ban Trung ư ơng mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (với tên là Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tứ). Năm 1966, ông là thành viên Ban Chủ tịch Lực lượng Bảo vệ văn hoá dân tộc, giảng dạy âm nhạc tại Nhạc viện Thành phố cả sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng. tổ quốc thống nhất. Ông là cố vấn của Ban Khoa giáo Thành uỷ về giáo dục âm nhạc trong trường học. Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba được nhà nước tặng thưởng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú.

Nhà nghiên cứu cổ nhạc và là bậc nhạc sư về ngành cổ nhạc Việt Nam, bút hiệu Đạo Tâm, quê làng Đạo Đầu, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị thuộc miền Trung nước Việt.

Thuở nhỏ ông học ở Huế, đến năm 8 tuổi bắt đầu học đàn. Năm 16 tuổi (1930), ông đã hoà nhạc cổ truyền vào dĩa hat Beka của Đức phát hành rộng rãi tại Việt Nam thời đó. Năm 1932, ông lại áp dụng hệ thống ký âm pháp Tây phương vào cổ nhạc Việt Nam được giới âm nhạc tại Huế rất tán thưởng.

Năm 1938, ông đậu Thủ khoa về đàn nhị, được triều đình Huế tặng thưởng Huy chương Long Bội Tinh và vinh tặng Hàn Lâm viện Đãi chiếu vào năm 1950.

Sau Việt Minh lên nắm chính quyền vào tháng 8-1945, ông đã lui về sống ở Quảng Trị cho đến năm 1950 thì vào lại Huế lập Viện Tỳ Bà nhằm phục hưng nền quốc nhạc Việt Nam. Sau năm 1954, ông ra làm việc với chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Từ năm 1960, ông giảng dạy tại trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn, khoa trưởng Lý thuyết âm nhạc tại các Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, Huế.

Nguyễn Hữu Ba là một vị nhạc sư bậc thầy, một nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Việt Nam sắc nét, ông đã sử dụng nhuần nhuyễn 2 loại tân nhạc và cổ nhạc, tác phẩm của ông đều có giá trị nghệ thuật sâu sắc.

Ông mất ngày 14-7-1997, thọ 83 tuổi. Các tác phẩm chính của ông có thể được liệt kê như sau:

-Tự học đàn nguyệt (tự xuất bản 1940);
-Bản đàn tranh (cổ nhạc), Viện Tỳ Bà xuất bản, 1951;
-Vài thiên kiến về âm nhạc (lý thuyết), Viện Tỳ Bà xuất bản, 1950;
-Nhạc pháp Quốc học, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1960;
-Bản đàn tranh, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
-Đàn Tỳ Bà, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
-Đàn độc huyền, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
-Đàn nhị huyền, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
-Bài ca Huế, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
-Phương pháp học đàn tranh, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
-Dân ca Việt Nam, BQGGD xuất bản, 1961;
-Dĩa nhạc Việt Nam I, UNESCO thu âm và phát hành, 1969;

Loại tân nhạc:
-Quãng đường mai, tự xuất bản, 1940;
-Xuân xuân, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1947;
-Lửa rừng đêm, Viện Tỳ Bà xuấn bản, 1947;
-Thu khói lửa, Tinh Hoa xuất bản, 1950;
-Tiếng hát quân Nam, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1950;
-Ánh dương trời Nam, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1951
..........................


Một trong những hoạt động của những đoàn thể học sinh, sinh viên, thanh niên, hướng đạo... Khi đi cắm trại với nhau, là được tham dự những đêm họp mặt quanh đống lửa. Không có gì thích hơn, tất cả anh chị em tụ họp với nhau ca hát, ngâm thơ, kể chuyện, bàn luận...

Thường những trại lửa là một dịp để mọi người quây quần:

Bạn cùng ta, nắm tay múa ca
Cho đời bừng sống dưới màn sương đông
Máu nồng thêm hăng, bên lửa đêm bập bùng
Tùng tùng tịnh tùng
Bình bùng bình bùng, tang tình tang tình tình...

Ðó là phần mở đầu của bài hát Lửa Rừng Ðêm viết theo điệu Rumba của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba. Cách đây hơn một nửa thế kỷ, nhạc sĩ Ba đã sáng tác những bài Tân Nhạc kêu gọi lòng yêu nước, dấy động ý chí quật cường, khuyến khích hoạt động thanh niên Việt Nam.

Tiến, một bản Tân Nhạc khác của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba, được viết như một câu chuyện. Vào đoạn mở đầu là tiếng kèn thúc quân, qua đoạn giữa với lời người chỉ huy và đoạn cuối cùng khi quân dân cùng tiến bước ra sa trường.

Một bản nhạc khác, Tiếng Hát Quân Nam, nguyên là bài Liên Hườn, một khúc hành quân xưa trầm, hùng được ông Ba đặt lời mới và thêm vài cung cho hợp với nhạc cụ Tây Phương.

Ða số những người Việt Nam biết đến Nguyễn Hữu Ba vì Quảng Ðường Mai (lời của Sơn Tùng) và Lửa Rừng Ðêm, hai bản Tân Nhạc nổi tiếng nhất của Nguyễn Hữu Ba. Hai bản nhạc này đã được ghi âm vào đĩa hát 78 vòng ở Paris, do hãng đĩa ORIA phát hành ở Sài Gòn thập niên 1950. Ca sĩ Hải Minh tức nhạc sĩ Trần Văn Khê, người sau trở thành giáo sư tiến sĩ âm nhạc của trường Ðại Học Sorbonne ở Paris, đã trình diễn hai bản nhạc của nhạc sĩ Ba.
Nhưng di tặng (legacy) lớn lao của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba lại ở Cổ Nhạc Việt Nam.

Thông thạo nhạc cổ truyền, Nguyễn Hữu Ba có tiếng về tiếng đàn nhị tại Huế. Thêm nữa, ông chuyên cả độc huyền cầm và đàn tỳ bà. Chính nhạc sĩ Ba đã dùng tài nghệ trình diễn những loại đàn dân tộc này, để mưu sinh trong một thời gian ở Ðất Thần Kinh.

Ðộ một năm sau Hiệp Ðịnh Genève 1954, ông vào miền Nam trở thành giáo sư Cổ Nhạc ở trường Quốc Gia Âm Nhạc ở Sài Gòn, cho đến khi ông quay lại miền sông Hương núi Ngự làm giám đốc viện Âm Nhạc Huế. Tỳ Bà Trang của Nguyễn Hữu Ba có tàng trữ rất nhiều cây đàn cổ nhạc Việt Nam quý giá và những tài liệu thu thanh, cũng như sách vở về âm nhạc.

Giáo sư nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba có công rất lớn trong việc bảo lưu nhạc cổ truyền dân tộc nhất là nhạc Miền Trung và Dân Ca Việt Nam. Công trình về Cổ Nhạc Việt Nam của ông có thể chia thành sáu phương diện khác nhau: trình diễn, khảo cứu, sáng tạo, cổ động và giáo dục. Học trò âm nhạc của ông rất nhiều và rất nhiều nhiều người ngày nay đã thành danh như các nữ nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan (Sài Gòn), Phương Oanh (Paris), Quỳnh Hạnh (Paris)...

Những nét đại cương về thành quả của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba như sau:
1940: xuất bản quyển sách Tự Học Ðàn ở Huế.
1950: xuất bản quyển Vài Thiển Kiến Về Âm Nhạc tại Huế. Quyển sách này viết về sự thành lập Tỳ Bà Trang và quan niệm, hoài vọng cùng lý tưởng đối với tiền đồ nhạc Dân Tộc.
1956: viết quyển Ca Huế Cổ Truyền có ghi ký âm cho 10 bài Ngự, còn gọi là Thập Thủ Liên Hoàn, theo ký âm nhạc Tây Phương trên khuôn nhạc 5 dòng.
1961: viết quyển sách Nhạc Pháp Việt Nam.
1963: xuất bản các tập nhạc nhỏ về bài bản đàn tranh, bài tập cho đàn độc huyền, đàn nhị và tập nhạc Pháp cùng nhạc Việt Nam.
1966: thu thanh tài liệu Nhạc Huế (các loại Nhạc Cung Ðình và Nhạc Phật Giáo), Ca Huế để giao cho cơ quan UNESCO thực hiện thành đĩa 33 vòng VIETNAM 1. Ðĩa nhạc này kèm theo bài viết do giáo sư Trần Văn Khê khảo cứu biên soạn bằng 3 thứ tiếng Pháp Anh Ðức chú trọng về phân tích âm nhạc đã được hãng đĩa Barenreiter Musicanhon phát hành năm 1969. Ðĩa nhạc VIETNAM 1 đoạt giải thưởng Deutscher Schallplatten Preis và thêm giải Academie du Disque Francais.
1971: đĩa VIETNAM 2 xuất bản, cũng do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba cung cấp tài liệu.
1998: cả hai đĩa VIETNAM 1 và VIETNAM 2 được hãng đĩa Rounder Records ở Hoa Kỳ tái bản dưới hình thức CD.
Hai đĩa nhạc VIETNAM là công trình rất to tát, rất có giá trị của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba.

Giáo sư Nguyễn Hữu Ba, người nhạc sĩ đã hiến dâng gần như trọn cuộc đời mình cho Cổ Nhạc Việt Nam, đã âm thầm từ giã cõi đời, vài năm trước năm 2000.


Theo Phạm Anh Dũng (dactrung.net)

Bác sĩ: Phạm Ngọc Thạch, Chân dung trí thức Sài Gòn




Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch
1909-1968

Sơ lược tiểu sử:

Bác sĩ Phạm ngọc Thạch sinh ngày 7 tháng 5 năm 1909, học Đại học Y Hà Nội từ năm 1928, tốt nghiệp bác sĩ ở Paris năm 1934.

Tham gia hoạt động cách mạng ở Sài Gòn từ thời kỳ Mặt trận Bình dân (1936-1939), vào Đảng CS Đông Dương tháng 3 năm 1945.

Từ tháng 3 năm 1945, là một thủ lĩnh của tổ chức Thanh niên Tiền phong, tham gia cướp chính quyền tháng 8 năm 1945.

Từ 27 tháng 8 năm 1945 là Bộ trưởng Y tế đầu tiên của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ủy viên ủy ban Nhân dân Nam Bộ, rồi lần lượt Thứ trưởng Phủ Chủ tịch, Trưởng phái đoàn chính phủ tại Nam Bộ (1948-1950), Chủ tịch ủy ban Kháng chiến Hành chính Đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn, Trưởng ban Y tế của Đảng, Thứ trưởng Y tế (1954-1958), từ 1958 là Bộ trưởng Y tế. Hy sinh trên chiến trường Miền Nam ngày 7 tháng 11 năm1968.

Bộ Trưởng Phạm Ngọc Thạch với ngành Y tế nhân dân:

Năm 1958 khi ông trở về phụ trách ngành y tế, sức khỏe của nhân dân ta suy giảm rất nhiều, nhất là ở những vùng mới được giải phóng tình hình bệnh tật rất nghiêm trọng: bệnh lao chiếm tới 4 % dân số, bệnh sốt rét lan tràn ở miền núi với tỷ lệ người mắc 80-90% làm rất nhiều người chết, người phong lang thang khắp nơi thiếu nơi chạy chữa, bệnh mắt hột làm hàng triệu người mù loà, chưa có cơ sở y tế chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em, tỷ lệ trẻ em chết bệnh rất cao, nạn hữu sinh vô dưỡng phổ biến trong xã hội, các dịch bệnh như dịch tiêu chảy, thổ tả, thương hàn, đậu mùa, sởi, ho gà, bạch hầu..., các bệnh lây theo đường tình dục như giang mai, lậu, hoành hành khắp nơi với tỷ lệ người mắc và người chết rất cao, tuổi thọ trung bình của người dân chưa tới 40...

Ngành y tế nước ta đã phát triển mạnh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đáp ứng có hiệu quả yêu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân trong các vùng tự do, nhưng trước nhiệm vụ mới nặng nề hơn phải quản lí và chăm sóc sức khỏe cho cả nửa đất nước hoàn toàn giải phóng thì còn yếu và thiếu.

Quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng, dựa vào sự ưu việt của chế độ ta, vào điều kiện thực tế của ta, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã tìm ra con đường thích hợp nhất, hiệu quả nhất, xây dựng nền y tế nhân dân, xây dựng 5 phương châm nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng và phát triển ngành kết hợp chặt chẽ chính trị và chuyên môn, tư tưởng và tổ chức, phòng bệnh và chữa bệnh, quán triệt phương châm phòng bệnh là chính, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại, đông y và tây y, kết hợp y và dược... trong công tác phòng và chữa bệnh, xây dựng mạng lưới y tế từ trung ương đến xã và hợp tác xã, xây dựng y tế nông thôn, tổ chức và thực hiện có hiệu quả công tác phòng chống dịch bệnh, sản xuất vaccin, tiêm chủng toàn dân, dấy lên trong cả nước phong trào \"vệ sinh yêu nước\", vệ sinh phòng bệnh, xây dựng các công trình vệ sinh - giếng nước, hố xí, nhà tắm, tổ chức và triển khai các cuộc vận động thực hiện phong trào bảo vệ bà mẹ trẻ em, đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ, tổ chức sản xuất thuốc men, dụng cụ trang thiết bị y tế... giải quyết hàng loạt những vấn đề cơ bản của sự nghiệp y tế, thanh toán những bệnh tật, dịch bệnh do chế độ cũ để lại, bảo vệ, chăm sóc và tăng cường có hiệu quả sức khỏe nhân dân. Chỉ trong vòng 3 năm, đến năm 1958 chúng ta đã chiến thắng được hai dịch bệnh lớn tồn tại đã bao đời là đậu mùa và dịch tả. Chưa đầy 10 năm sau mọi dịch bệnh lớn đã bị đẩy lùi: sởi, ho gà, bạch hầu, uốn ván... giảm hẳn, sốt rét, thương hàn không còn phát triển thành dịch nữa, mắt hột được thanh toán, bại liệt được giảm thiểu, người bệnh phong, bệnh lao được tập trung trong các nhà điều dưỡng, các bệnh viện chuyên khoa để chạy chữa và phục hồi chức năng, các bệnh giang mai, lậu... được ngăn chặn để không phát sinh trường hợp mới, các ổ dịch, ổ lây nhiễm bị triệt phá, người mắc bệnh cũ được điều trị tích cực, khắc phục các di chứng, mạng lưới y tế phát triển rộng khắp từ trung ương xuống đến các bản làng hẻo lánh nhất, tổ chức y tế cơ sở được thành lập có từ 3-5 cán bộ y tế bao gồm nữ hộ sinh, thầy thuốc đông y, y sĩ hoặc y tá do dân nuôi, xã hoặc hợp tác xã đảm nhiệm, chi trả mọi chi phí, thuốc men, trang thiết bị, mạng lưới y tế nông thôn, niềm tự hào lớn của sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành y tế, được tạo lập, hoạt động có hiệu quả, nhờ đó công tác chỉ đạo phong trào vệ sinh, phòng chống dịch bệnh, tiêm chủng phòng dịch có thể tiến hành rất kết quả ngay tại cơ sở. Trên cơ sở mạng lưới y tế chung đó, mạng lưới chống lao, mắt hột, sốt rét, ba tai họa xã hội lớn nhất của đất nước cũng đã được xây dựng, hệ thống bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh được phát triển, từng bước lớn mạnh, các bệnh viện tuyến trung ương được mở rộng, nâng cao năng lực kĩ thuật, nhiều viện, bệnh viện chuyên khoa được thành lập là cơ sở cho những thành tựu về công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trong các lĩnh vực này.

Công việc xây dựng ngành đang tiến hành rất tốt đẹp thì cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước bùng nổ, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch lại cùng Đảng đoàn và lãnh đạo Bộ Y tế tổ chức lại ngành phù hợp với điều kiện khó khăn, ác liệt của cuộc chiến đấu mới, tiếp tục các sự nghiệp trên, xây dựng ngành trong điều kiện mới của cuộc chiến tranh, đa khoa hóa, ngoại khoa hóa cán bộ, đào tạo và bồi dưỡng không ngừng về mọi mặt đội ngũ cán bộ y tế. Bất cứ nơi nào địch đánh phá, nơi đó tổ chức y tế có thể giải quyết mọi vấn đề của công tác cấp cứu chiến thương, xây dựng 4 tuyến điều trị, phát triển mạnh mẽ mạng lưới y tế, đưa kỹ thuật xuống tuyến dưới, giải quyết một cách tốt đẹp nhất mọi mặt của công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân và các lực lượng vũ trang, hết lòng hết sức chi viện cho y tế Miền Nam.

Năm 1968 hệ thống y tế ở miền Bắc cơ bản đã vững chắc. ở Miền Nam chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai chuyển sang giai đoạn mới ngày càng ác liệt hơn, hi sinh tổn thất nhiều hơn nhưng chiến thắng cũng nhiều hơn, vang dội hơn. ở tuổi 59, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch lại thiết tha xin vào chiến trường Miền Nam xây dựng và phát triển ngành và đã hy sinh anh dũng trong khi làm nhiệm vụ.

Đánh giá những đóng góp to lớn của Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch trong việc xây dựng và phát triển nền y học, y tế nhân dân, nhà nước ta đã nêu: đứng trước rất nhiều vấn đề khó khăn và phức tạp của việc bảo vệ sức khỏe của nhân dân và bộ đội, đồng chí Phạm Ngọc Thạch, thấm nhuần những tư tưởng và tình cảm lớn của Đảng và phát huy sức mạnh vĩ đại của quần chúng đã cố gắng giải quyết những vấn đề đó một cách cơ bản, có hiệu quả và kịp thời với khả năng và phương tiện hiện có của chúng ta. Đồng chí Phạm Ngọc Thạch đã đã nhìn thấy tất cả những bệnh tật hiểm nghèo, di sản của chế độ phong kiến và thực dân cần thanh toán nhanh chóng và tận gốc; đồng chí đã tìm tòi và ra sức phát huy vốn cổ truyền rất quí của dân tộc về y và dược, đã cố gắng vận dụng những hiểu biết, những thành tựu mới nhất của y học thế giới, của y học các nước XHCN cũng như y học các nước khác... Cùng với tập thể lãnh đạo Bộ và đông đảo cán bộ, nhân viên trong ngành, đồng chí Phạm Ngọc Thạch đã tổ chức tiêm chủng nhằm bài trừ và phòng ngừa các bệnh tật, di sản của thời trước; tổ chức phong trào vệ sinh yêu nước rộng khắp ở Miền Bắc; tổ chức mạng lưới y tế từ trung ương cho đến hợp tác xã, khu phố, xí nghiệp và mạng lưới cứu thương rất có hiệu quả trong cuộc chiến tranh chống Mỹ; tổ chức cuộc vận động bảo vệ bà mẹ và trẻ em với những thành tích tốt đẹp ngay trong thời chiến; tổ chức việc đào tạo và không ngừng bồi dưỡng về mọi mặt đội ngũ cán bộ y tế đủ sức giải quyết những vấn đề quan trọng nhất và cấp bách nhất của việc bảo vệ sức khỏe cho nhân dân và lực lượng vũ trang trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh cực kì dã man, tàn bạo của đế quốc Mỹ. Đó là những thành tựu rất quí báu và đẹp đẽ trong biết bao thành tựu, bông hoa của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc mà nhân dân ta rất tự hào và nhiều bè bạn ta khắp nơi hết lòng khen ngợi.\\\\\\\" (Phạm Văn Đồng).

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch với chuyên ngành Lao và Bệnh phổi:

Phạm Ngọc thạch là một trong những thầy thuốc chuyên khoa lao đầu tiên ở Việt Nam. ông đã sớm đi sâu vào chuyên khoa này trong thời gian học cũng như khi đã ra là việc ở Pháp cũng như ở Sài Gòn, là hội viên độc nhất ở Đông Dương của Hội Nghiên cứu về Lao của Pháp từ 1936, là người sáng lập và Viện trưởng đầu tiên của Viện Chống Lao Việt Nam, ủy viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp Chống Lao Thế giới, là người có công lớn nhất xấy dựng chuyên khoa, là người thầy lớn nhất của chuyên khoa lao-bệnh phổi.

Sau kháng chiến chống Pháp, chúng ta tiếp quản một xã hội dầy rẫy bệnh tật trong đó bệnh lao có tỷ lệ mắc tới 4% dân số. Chế độ cũ không hề quan tâm tới việc phòng chống bệnh lao. Công tác chống lao trong xã hội cũ gần như phó mặc cho các tổ chức từ thiện, các bà sơ, người bệnh tự lo. Trong cả nước chỉ có 3 dispensaire (trạm chống lao) để làm công tác tuyên truyền nhiều hơn làm công tác chống lao. Về chữa bệnh, cả miền Bắc chỉ có một chuyên khoa lao nhỏ ở Bệnh viện Bạch Mai là cơ sở giảng dạy của trường đại học y khoa (không kể 2 phân viện 71 và 74 do ta mới xây dựng). Tỷ lệ lao chết rất cao, năm 1942 lên đến 560/100 000 dân, bằng tỷ lệ chết của các nước châu Âu thời trung cổ, cao hơn cả tỷ lệ chết thời kỳ Nga hoàng (300 trong 100 000 người). Đến năm 1954 tỉ lệ này cũng chưa thay đổi được bao nhiêu. Hàng năm khi đó cả nước có hàng trăm nghìn người chết vì bệnh lao. Đội ngũ cán bộ chuyên khoa lao lại quá ít ỏi, cả nước vẻn vẹn không quá 10 người. Riêng Viện Chống Lao khi đầu thành lập chỉ có 3 bác sĩ, 1 dược sĩ, 1 phòng xét nghiệm nhỏ với 2 kính hiển vi cổ. Trên cái nền vô cùng khó khăn đó bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã bắt đầu công tác chống lao với việc thành lập Viện Chống Lao từ ngày 24 tháng 6 năm 1957, trở thành trung tâm nghiên cứu và tổ chức chống lao trong nước, trung tâm đào tạo huấn luyện bổ túc cán bộ, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, tuyên truyền giáo dục phòng lao. Bộ chỉ đạo công tác chống lao qua hoạt động của Viện do ông trực tiếp làm viện trưởng. Ông đã xây dựng cho chuyên khoa một đường lối chống lao đúng đắn, đường lối nghiên cứu khoa học thực tiễn, phong phú, đa dạng, một hệ thống tổ chức, chỉ đạo, một mạng lưới chống lao hoàn chỉnh dựa vào mạng lưới chung của toàn ngành y tế, đã chăm lo đào tạo một đội ngũ những người làm công tác chống lao đông đảo, có nhiệt tình và có khả năng, tạo nên những nhân tố quyết định cho sự thành công của công tác chống lao ở nước ta đến tận ngày nay.

Từ năm 1960, công tác chống lao đã đến được các cơ sở y tế ở nông thôn, thành thị cũng như miền núi, đến hầu hết mọi xã, thôn, bản. ở các xã đã hình thành tổ bệnh nhân, một hình thức sinh hoạt của bệnh nhân để quản lí bệnh nhân, giúp đỡ nhau và kiểm tra lẫn nhau trong điều trị lâu dài dưới sự quản lí của trạm chống lao (xana) xã. Xana xã có nhiệm vụ chữa bệnh lao tại trạm hay tại nhà, kiểm tra việc thực hiện tiêm phòng BCG, theo dõi và tiêm phòng BCG cho các gia đình bệnh nhân, quản lí toàn diện việc chữa cũng như phòng bệnh lao cho cả bệnh nhân và gia đình họ. ở những nơi làm tốt chỉ trong vòng 4 năm hiệu quả của công tác phòng chống bệnh lao do các xana mang lại thấy rất rõ. Các trạm xá xã cũng là nơi tập trung và cách ly được những thể lao nặng khỏi gia đình, tách nguồn lây lao ra xa cộng đồng, từng bước khống chế bệnh lao và bước đầu giảm thiểu lao trẻ em.

Hệ thống mạng lưới chống lao huyện cũng được xây dựng vững chắc với trạm chống lao hay tổ chống lao huyện. Các tỉnh có trạm chống lao tỉnh. Tại những tỉnh lớn trạm chống lao tỉnh có các bộ phận X quang, vi trùng, điều trị ngoại trú và một bệnh viện từ 100-500 giường. Tại những tỉnh nhỏ máy X quang dùng chung với bệnh viện đa khoa nhưng trạm vẫn có riêng 10-20 giường để điều trị cấp cứu và phục vụ công tác nghiên cứu theo dõi. Mỗi trạm chống lao tỉnh có kế hoạch chống lao cho tỉnh mình, bao gồm những chỉ tiêu về tiêm phòng lao bằng BCG cho sơ sinh, trẻ em và người lớn, về số lượng bệnh nhân điều trị ngoại trú tại các trạm trong tỉnh cũng như trong bệnh viện, một chương trình nghiên cứu khoa học chủ yếu về dịch tễ học.

Từ 1961-1968 đã tiêm BCG phòng lao và BCG tái chủng cho 20triệu lần/18 triệu dân. Như vậy hầu như đại đa số nhân dân miền Bắc đã được phòng lao. Việc điều trị chủ yếu tổ chức tại nhà. Năm 1964 hơn 11 vạn bệnh nhân lao đã được điều trị ngoại trú với hồ sơ, sổ sách theo dõi chặt chẽ. Năm 1964 toàn miền Bắc có 6 bệnh viện lao, 55 trạm chống lao tỉnh, thành phố, thị trấn, 240 trạm chống lao xã, 61 trạm an dưỡng tại các xí nghiệp, cơ quan, trường học. Tổng số giường cho bệnh nhân lao lên đến 6444 giường.

Nhờ xây dựng được mạng lưới chống lao rộng khắp đến tận cơ sở, công tác tiêm phòng lao rộng rãi, tỷ lệ lao tiền nhiễm giảm rất nhiều, số trẻ lao màng não và chết vì lao màng não ít hẳn đi, tỉ lệ chết lao từ 400-500/100000 dân xuống còn 20-40/100000 dân, tỉ lệ lao chung trong vòng 3-5 năm giảm ít nhất 50%. Hiệp hội Chống Lao Thế giới đã đánh giá tổ chức chống lao của Việt Nam là \"một mẫu mực tổ chức chống lao cho những nước có nền kinh tế thấp\". Chuyên ngành lao đã có thể từ công tác phòng chống lao là chủ yếu triển khai từng bước sang lĩnh vực các bệnh phổi khác ngay trong mấy năm cuối của 10 năm xây dựng chuyên ngành lao trong thời kỳ Phạm Ngọc Thạch lãnh đạo chuyên ngành này. Đánh giá cao những thành tựu và những đóng góp của ông trong công tác phòng chống lao, tại Đại hội liên hoan Anh hùng Chiến sỹ thi đua Toàn quốc lần thứ nhất, năm 1958, ông đã được nhà nước tuyên dương là một trong hai Anh hùng Lao động đầu tiên của ngành y tế.

Phạm Ngọc Thạch và sự nghiệp khoa học:

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch là một nhà khoa học của nhân dân, vì nhân dân, người có tài về khoa học quản lí - quản lí ngành y tế, quản lí sức khỏe cộng đồng, quản lí chuyên ngành lao và bệnh phổi.

Trong khoa học quản lí, điều quan trọng nhất là có đường lối, quan điểm đúng, có cách thức tiến hành phù hợp, có đội ngũ cán bộ đủ số lượng, chất lượng để có thể thực thi công việc, có mạng lưới rộng khắp ở mọi nơi, mọi tuyến. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã làm được điều đó cả về mặt lí luận cũng như về thực tiễn.

Quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng về công tác y tế, ông đã xây dựng nên 5 phương châm nguyên tắc chỉ đạo, quản lí ngành: kết hợp chặt chẽ chính trị với chuyên môn, tư tưởng với tổ chức, phòng bệnh với chữa bệnh, y với dược, đông y với tây y; luôn luôn nêu cao phương châm phòng bệnh, coi phòng bệnh là chính trong công tác bảo vệ sức khỏe. Ông đã xây dựng được mạng lưới y tế từ trung ương tới xã, hợp tác xã, vấn đề quyết định nhất cho sự thành bại của khoa học quản lí, gây dựng và phát động rộng rãi các phong trào vệ sinh yêu nước, vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch, tiêm chủng có tính chất quần chúng, phong trào bảo vệ bà mẹ trẻ em, công tác đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ, sản xuất thuốc men, trang thiết bị y tế... nghĩa là trong khoa học quản lí ngành y tế ông đã có quan điểm, cách tiến hành rất khoa học, bài bản, đầy đủ, sáng tạo. Những điều ông đã làm thực sự đã đóng góp lớn cho khoa học quản lí ngành y tế không những giai đoạn đó mà cả sau này.

Trong khoa học quản lí, ông còn là người có tầm nhìn xa mang tính chiến lược về nhiều mặt trong y học và y tế dự phòng, phòng chống dịch bệnh, vấn đề y tế nông thôn, tiêm chủng, vệ sinh phòng bệnh, phòng chống lao, phong, mắt hột, sốt rét, bướu cổ, bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em, các bệnh lây lan theo đường tình dục, vấn đề dinh dưỡng... và đã có những chủ trương đúng, giải pháp đúng, chương trình khoa học giải quyết những vấn đề này như trong công tác chăm sóc sức khỏe lấy phòng bệnh làm chính, trong y học dự phòng tổ chức tốt phong trào tiêm chủng rộng rãi, nghiên cứu phương pháp tiêm trong da tiết kiệm và có hiệu quả cao, y tế nông thôn tập trung vào vấn đề phân, nước, rác, nghiên cứu và tổ chức triển khai rộng rãi việc dùng hố xí hai ngăn, ủ phân tại chỗ, đẩy mạnh phong trào xây dựng hố xí, giếng nước, nhà tắm, giải quyết nạn mù loà do mắt hột bằng cách vận động dùng nước sạch, nước giếng, giải phóng kĩ thuật, cho mổ quặm tại huyện, xã, giải quyết tình trạng thiếu dinh dưỡng bằng cách nghiên cứu và khuyến khích sử dụng mọi loại đạm động vật, thực vật, tổ chức tẩy giun bằng các dược phẩm sẵn có trong dân, nghiên cứu các bài thuốc dân gian...

Trong khoa học quản lí, một đóng góp đáng lưu ý nữa là việc cho thành lập các viện, bệnh viện chăm lo công tác bảo vệ sức khỏe cho nhiều chuyên ngành: Viện Bảo vệ Sức khỏe Trẻ em, Viện Bảo vệ Sức khỏe Bà mẹ và Trẻ sơ sinh, Viện Sốt rét Ký sinh trùng và Côn trùng y học, Viện Nghiên cứu Đông y... có vai trò đầu ngành, các viện và bệnh viện này đã là điểm tựa, là nơi xuất phát cho những bước tiến về công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trong các lĩnh vực này.

Trong khoa học lâm sàng ông đã tìm ra phương pháp tiêm chủng phòng lao bằng BCG chết sau khi đã tiến hành nghiên cứu cùng các cộng tác viên của mình trên môi trường nuôi cấy, trên thực nghiệm và trên lâm sàng. Thành công của nghiên cứu này đã khiến việc phòng bệnh lao vượt qua được khó khăn lớn lao khi đó vì nếu dùng BCG sống thì phụ thuộc vào tủ lạnh, vào nguồn điện bảo quản lạnh vaccin, làm cho việc tiêm chủng phòng lao có thể tiến hành rộng rãi, bảo vệ sức khỏe nhân dân đặc biệt là trẻ em khỏi các dạng lao nặng, giảm tỉ lệ nhiễm lao ở trẻ em, giảm được số trẻ em bị các thể lao kê, lao màng não, giảm tử vong lao ở trẻ. Hơn 20 triệu lượt người trên tổng số 16-18 triệu dân miền Bắc được tiêm chủng, tái chủng tức là hầu hết nhân dân được bảo vệ chống lây nhiễm lao.

Kết hợp đông tây y trong công tác chữa bệnh, ông đã nghiên cứu dùng filatov tiêm vùng huyệt phổi kết hợp với các thuốc chống lao để điều trị bệnh lao. Trong điều tra dịch tễ bệnh lao ông đã đề ra chương trình nghiên cứu các kĩ thuật thuần nhất đờm đơn giản có thể áp dụng cho mọi tuyến, đặc biệt cho các cơ sở lưu động, nghiên cứu và tìm ra các môi trường có thể sản xuất bằng các nguyên liệu trong nước để nuôi cấy vi trùng lao có thể phổ biến dễ dàng cho các địa phương. Một đóng góp khoa học rất lớn khác của ông là đã đề ra và tổ chức thực hiện ở nước ta việc phát hiện lao trong điều tra dịch tễ lao bằng đờm ngay từ năm 1956, một vấn đề khoa học đi trước thời đại mấy chục năm khi Tổ chức Y tế Thế giới còn đang chủ trương phát hiện lao bằng chụp huỳnh quang rất tốn kém và ít hiệu quả. Vấn đề này đã được trình bày tại Hội nghị quốc tế chống lao ở New Delhi 1957. Hàng chục năm sau Hiệp hội Chống Lao Quốc tế đã thấy rõ giá trị của phương pháp này, phương pháp mà ngày nay Tổ chức Y tế Thế giới coi là quan trọng nhất, đặc hiệu nhất trong việc điều tra phát hiện lao.

Về các bệnh phổi ông cũng tiến hành nghiên cứu nhiều bệnh ở nước ta còn ít hoặc chưa hề được nói đến như các bệnh bụi phổi, bệnh nhiễm bụi than, nhiễm bụi silic, nấm phổi, sán lá phổi, viêm phế quản mạn tính, giãn phế quản khô chảy máu, hen, ung thư phổi, thâm nhiễm phổi mau bay, xơ phổi, các vấn đề về miễn dịch... những nghiên cứu đã mở ra nhiều chương mới trong bệnh học phổi ở nước ta.

Không kể đến những bài nghiên cứu đăng trong các tạp chí chuyên môn nước ngoài từ những năm 1937-1938, chỉ tính trong vòng 10 năm từ 1957 khi ông làm Viện trưởng Viện Chống Lao, ông đã công bố hơn 60 công trình nghiên cứu, bài báo khoa học đăng trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước hoặc được trình bày tại các hội nghị quốc tế. Nhiều công trình đã được đánh giá cao, được trao đổi rộng rãi và giới thiệu lại trên các tạp chí khoa học nước ngoài.

Có thể kể tới một số công trình nghiên cứu, bài báo khoa học của ông:

- Phòng lao cho người đã có dị ứng bằng BCG chết,

- Về giá trị các môi trường VCL1 và VCL2 trong nuôi cấy vi trùng lao.

- Điều trị bệnh nhân lao ngoài bệnh viện, vaccin BCG chết trong công tác chống lao trẻ em ở Việt Nam.

- Về bệnh nhiễm trùng do Mycobacteria ở Việt Nam.

- Nghiên cứu về tình hình sơ nhiễm ở trẻ em do trực trùng không điển hình.

- Vấn đề phục hồi chức năng phổi trong việc điều trị lao phổi mạn tính.

- Bệnh viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp.

- Cơ chế kích sinh chất filatov trong điều trị lao phối người lớn tiêm ở vùng huyệt phổi phối hợp với uống INH...

Các sách khoa học đã xuất bản của ông:

- Cơ sở lý luận y học Việt Nam.

- Quán triệt phương châm phòng bệnh trong công tác bảo vệ sức khỏe.

- Mười năm xây dựng y tế nông thôn.

Đánh giá những thành tựu đóng góp của ông trong nghiên cứu khoa học, nhà nước ta đã nhận định \"Đồng chí Phạm Ngọc Thạch đã nêu một tấm gương về cách nhìn, cách nghĩ, cách nghiên cứu để giải quyết một cách sáng tạo và độc đáo những vấn đề khó khăn và phức tạp của việc thanh toán những bệnh tật do chế độ cũ để lại, trong việc vệ sinh phòng bệnh và bảo vệ sức khỏe nhân dân và đồng chí đã thành công trong nhiều công trình nghiên cứu quan trọng\"(Phạm Văn Đồng). Năm 1997, ông đã được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh ngay từ đợt đầu tiên.

Tiểu sử: Hồ Biểu Chánh, Chân dung trí thức Sài Gòn

Tác giả: Hồ Biểu Chánh
Trang Nhà: http://hobieuchanh.com
HỒ BIỂU CHÁNH (1885 - 1958)

Tiểu Sử:

·Nhà văn Việt nam. Sinh ngày 01/10/1885. Tên thật là Hồ văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên.

·Xuất thân trong một gia đình làm ruộng. Quê quán ở làng Bình thành, huyện Kiến hòa, tỉnh Ðịnh tường, nay là tỉnh Long an.

·Chín tuổi, học chữ Nho, năm sau chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ tho và Sài gòn.

·Năm 1905, sau khi đậu thành chung, thi vào ngạch ký lục của Sóai phủ Nam kỳ; trải qua nhiều thuyên chuyển, cuối cùng làm Ðốc phủ sứ (1936).

·Tháng 08/1941, sau khi về hưu, được Pháp mời làm cố vấn với danh hiệu Nghị viện Hội đồng liên bang Ðông dương và Phó Ðốc lý thành phố Sài gòn, đồng thời làm Gíam đốc những tờ báo tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp Việt.

·Sau CMTT, thực dân Pháp lập \"Nam kỳ quốc\", Hồ biểu Chánh được mời làm cố vấn cho chính phủ bù nhìn Nguyễn văn Thinh. Nhưng chỉ được mấy tháng, Nam kỳ quốc thất bại, ông lui về quê ở ẩn.

·Ông mất ngày 04/09/1958 tại Phú nhuận, Sài gòn.

·Hồ Biểu Chánh sở trường về viết văn xuôi tự sự. Ðề tài phần lớn là cuộc sống Nam bộ từ nông thôn đến thành thị những năm đầu thế kỷ XX với những xáo trộn do chủ nghĩa thực dân mang lại. Cách diễn đạt nôm na, bình dị. Ông đã có những đóng góp nhất định vào sự hình thành thể lọai tiểu thuyết trên chặng đường phôi thai. Ông để lại một khối lượng sáng tác không nhỏ: 64 tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn và truyện kể, 12 vở hài kịch và ca kịch, 5 tập thơ và truyện thơ, 8 tập ký, 28 tập khảo cứu-phê bình. Ngòai ra, còn có các bài diễn thuyết và 2 tác phẩm dịch.

Tác phẩm chính:

Tiểu thuyết:
·\"U tình lục\" (truyện dài đầu tay-1909)
·\"Ai làm được\" (1912-1922)
·\"Chúa tàu kim quy\" (1922, phỏng theo \"Bá tước Monte Cristo\" của A. Dumas bố).
·\"Cay đắng mùi đời\" (1923, phỏng theo \"Không gia đình\" của H. Malot)
·\"Tỉnh mộng\" (1923)
·\"Một chữ tình\" (1923)
·\"Nhân tình ấm lạnh\" (1925)
·\"Tiền bạc bạc tiền\" (1925) *
·\"Thầy thông ngôn\" (1926)
·\"Ngọn cỏ gió đùa\" (1926, phỏng theo \"Những người khốn khổ\" của V. Hugo)
·\"Chút phận linh đinh\" (1928) *
·\"Kẻ làm người chịu\" (1928)
·\"Vì nghĩa vì tình\" (1929)
·\"Cha con nghĩa nặng\" (1929)
·\"Khóc thầm\" (1929)
·\"Nặng gánh cang thường\" (1930)
·\"Con nhà nghèo\" (1930)
·\"Con nhà giàu\" (1931)
·\"Cười gượng\" (1935)
·\"Thiệt giả giả thiệt\" (1935)
·\"Nợ đời\" (1936)
.\"Vợ già chồng trẻ *
·\"Ðóa hoa tàn\" (1936)......

http://www.hue.vnn.vn/vanhocvn/van_hoc_vie..._bieu_chanh.htm
Download Opera, the fastest and most secure browser
December 2007
M T W T F S S
November 2007January 2008
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31