Posts tagged with "Hà Nội"
Sunday, 30. December 2007, 03:28:46
Hà Nội
* Là nơi ta ngược chiều với những đoàn xe đạp thồ lúc lỉu, tú hụ những màu xanh của rau cải, xu hào; màu đỏ hồng hào ướt mọng của cà chua, màu trắng của bắp cải, xúp-lơ... Đồng đất, vườn tược đang điểm tô cho phồn thịnh những chợ to, chợ nhỏ, chợ xanh, chợ cóc, chợ phiên, chợ tạm... của Thủ đô.
* Là nơi ta ngược chiều với sum sê, tròn trịa, xanh mướt, vàng rực những cây quất. Quả quất vàng ươm hay chớm vàng, hay còn xanh non xen lẫn với lá tươi mởn, với búp mượt mà với hoa trắng điểm tô. Trên một cây quất trù phú có cả lá, cả mầm, cả quả xanh, quả ương, quả chín, cả hoa và nụ, xòe cánh hay chúm chím nhưng đều trắng muốt một sự tinh khiết đến nao lòng.
* Và đào. Đào cành. Đào cây, đào thế. Đào đến với ngôi nhà lá nhỏ bé, đào ngự trong phòng khách rộng lớn. Đào tung tẩy theo xe lớn, xe bé, theo máy bay về khắp vùng đất nước. Đào nghễu nghện sau những chiếc xe đạp cũ kỹ, hay những chiếc xe máy bóng nhoáng. Đào ngấp nghé, chen chúc, ngàn ngạt khắp hai bên đường ven nội. Bích đào nồng thắm say sưa. Đào phai mịn màng, e lệ.
Đào và quất ào ạt ngược chiều ta mà tiến vào thành phố, đổ bộ mùa xuân bằng màu sắc và hình thế của hoa, quả, lá, cành.
Đào và quất đó là hai thứ cây biểu tượng của mùa xuân mà ngoại thành đã nâng niu, chăm bẵm, điểm xuyết rèn giũa, kèm cặp, bắt ne, bắt nét... sao cho đến đúng dịp Tết mới được phô phang hoa và nụ, mới được rực rỡ quả vàng.
Đào và quất không chỉ là hai thứ cây điểm tô ngày Tết, chúng còn là biểu tượng của may mắn cho suốt một năm trường. Đó là lời chúc mừng năm mới của đất đai, của người ngoại thành gửi tới khắp phố phường, ngõ xóm, tới mỗi căn nhà.
* Là nơi ta ngược chiều với vô vàn loại cúc, vàng và trắng, tím và da cam, cúc đại đóa, cúc mâm xôi, cúc bách nhật, cúc ngân tuyền, cúc ngũ sắc, cúc mốc, cúc chi... Cúc là thứ hoa không còn chỉ của mùa thu. Cúc tràn qua đông, đón xuân và sẽ rong ruổi cùng mùa hạ để tới thu sau, và chẳng nghỉ ngơi, lại tiếp tục một khúc luân vũ với thời gian. Rồi là hồng, thược dược, lay ơn, vi-ô-lét, phăng, đồng tiền, bươm bướm...
Nhiều nhiều loài hoa khác nữa, mà mỗi loài lại có không ít sắc màu, kiểu dáng. Tất cả đang rong ruổi như những dòng sông lộng lẫy trôi vào khắp nẻo ngang dọc phố phường. Không họa sĩ nào tài giỏi bằng thiên nhiên trong cách pha chế nên những màu sắc để nhuộm lên khắp những cánh hoa, mỗi độ xuân về. Đỏ thẫm đến thắt lòng. Đỏ tươi đến choáng váng. Đỏ hồng mơ màng. Nhạt chút nữa từ đỏ đã chuyển sang hồng tươi như phấn mịn, như màu da của xuân sắc đương thì. Nhạt thêm nữa đã là hồng bạch. Hồng đấy mà trắng đấy. Trắng ư, nhưng đã thoáng xen hồng? Rồi trắng mà nhuốm chút xanh, chút tím, chút vàng như gió thoảng, mây bay, như sương treo, nắng rọi...
Lạ thế, hoa có khắp bốn mùa; Vậy mà vẫn hoa ấy màu sắc ấy, nhưng được nở trong tiết xuân sao mà chúng hớn hở, đằm thắm đến vậy. Tất cả muôn vẻ đằm thắm, phởn phơ, nhuần nhụy ấy từ đất vườn tràn vào nội thành làm thành một cuộc lấn chiếm êm dịu, đầy hương sắc.
* Ngoại thành - cái vành đai xanh - vành đai trùng trùng màu sắc khi xuân về. Ta đi ngược chiều hương sắc ấy để đến với đất vành đai. Thứ đất bở tơi, mịn màng, hay đang còn rắn khô, đều chỉ một màu nâu quen thuộc. Nhiều người thủ đô đã quen đến mua đào, quất hay hoa ngay tại vườn. Nhiều người ngay trong phố cũng cố chăm chút cây và hoa trong mảnh vườn rất nhỏ bé may mắn có được, hoặc thường khi chỉ là những cây trồng trong chậu...
Nếu ai chưa từng như họ, hoặc đã quên thuở từng như thế, xin hãy một lần ngược dòng hoa lá ấy để đến với đất vườn, và để yêu quý hơn những hương sắc - vừa là vật chất, vừa là tinh thần của ngoại thành điểm tô cho cuộc sống của cả thành phố, của riêng từng ngôi nhà, nhất là khi xuân đến. Để giẫm chân lên đất. Để mắt nhìn tận đất. Để tượng tượng cùng đất thấy những giọt mồ hôi ẩn chìm trong từng hạt mịn, từng thớ ngang dọc của đất đai.
Không thể tưởng tượng nổi một mùa xuân không hoa, không cành đào, không cây quất... Cũng không thể tưởng tượng nổi một thành phố không có ngoại thành vậy.
* Ngoại thành - đấy là sự êm ả, trong lành, bình dị, thư giãn những nếp nhăn trên trán ta, xua tan những gợn mây trên bầu trời tâm hồn ta, dạy ta hiểu và yêu mến đất đai, dạy ta biết ơn, biết hưởng vẻ đẹp và biết làm việc tốt hơn, nhiều hơn.
Phạm Đức - Hà Nội mới
Sunday, 30. December 2007, 03:27:59
Hà Nội
Đêm dần buông. Bầu trời thăm thẳm đen đặc một màu huyền bí. Vài ánh sao lẻ loi yếu ớt sáng nơi góc trời. Từ trên cao nhìn xuống đêm Hà Nội như một dòng sao đang chuyển động với muôn vàn ánh đèn điện sáng nhấp nháy. Dãy đèn cao áp sáng thành những vệt dài màu vàng, màu trắng đan chéo vào nhau trên thành phố. Dòng người qua lại dưới lòng đường, mọi sự chuyển động hài hòa trong nhịp điệu đêm Hà Nội.
Không cuồng nhiệt sôi động như đêm Sài Gòn hoa lệ, không một nét buồn kín đáo, e dè như đêm cố đô bên dòng Hương Giang, không nhỏ bé như đêm hoa đăng trong phố cổ Hội An, đêm Hà Nội có một nét riêng rất quyến rũ. Khi chiếc đông hồ lớn ở Bờ Hồ chỉ 0 giờ, nhịp thở cuộc sống vẫn thức. Hà Nội không có thời khắc nào chìm vào giấc ngủ. Hàng triệu người dân Thủ đô đã thắp lên muôn ngàn ánh sáng, sắc màu lung linh trong đêm. Những con người xây dựng thành phố đang kéo dài thời gian làm việc. Đêm là sự tiếp nối của ngày. Cuộc đời của con người hữu hạn mà một phần ba thời gian ấy đã dành cho giấc ngủ. Sống, làm việc ban ngày chưa đủ, người ta phải sống cả về đêm. Khám phá sắc màu của đêm Hà Nội mới thấy đích thực giá trị thời gian là vàng. Đêm không ngủ của những người bảo vệ Thủ đô. Đêm miệt mài làm việc của những kỹ sư để ngày mai cho thành phố một ý tưởng sáng tạo. Sắc màu đêm Hà Nội xen lẫn giữa hiện đại và cổ xưa. Đêm ồn ã nơi vũ trường. Đêm mờ ảo nơi quán xá, trong ly cà phê đen đặc. Đêm lãng mạn nơi chợ hoa, chợ rau. Đêm nhọc nhằn của những người quét rác. Đêm sáng đèn của những người mải mê bên trang sách. Đêm nuôi dưỡng trí tuệ của con người. Những giọt mồ hôi thầm lặng nhỏ trong đêm. Đêm im lặng nơi góc phố có những đôi tình nhân ngất ngây trong nụ hôn không biết đến sương đang lặng lẽ rơi.
Không gian đêm được thanh lọc dịu dàng hơn, tinh khiết hơn. Hương của đêm là mùi hương của tự nhiên. Mùi hương của đất gửi vào cây, vào hoa. Mùi hương của trời tỏa xuống thành những ngọn gió nhẹ nhàng mơn man mái tóc. Đêm phố Nguyễn Du nồng nàn mùi hoa sữa, đường Thanh Niên thơm ngát hương ngọc lan. Và còn đó một mùi hương mơ hồ lãng đãng đâu đây khiến ta băn khoăn, hoài nghi và tự hỏi mình. Cũng đi trên những con phố ấy vào ban ngày, bao bề bộn của cuộc sống làm ta không nhận ra. Không gian đêm đánh thức dậy những mùi hương thiên nhiên ban tặng cho đất Thăng Long ngàn năm văn hiến.
Đêm Hà Nội nhạy cảm. Chút lạnh của đêm thu trùm xuống chợt làm cho ta nổi da gà. Giọt sương long lanh trên từng lá cây, ngọn cỏ. Sương ở xứ sở nhiệt đới hiền lành như nước mắt của bầu trời, những cơn gió thổi lá cuốn xào xạc dưới bước chân. Có những đêm, nằm trong nhà mà vẫn nghe tiếng lá khô rụng đầu hồi. Ta chợt cồn cào nhớ đến những món quà ẩm thực đêm. Khi Hà Nội còn nghèo thì văn hóa ẩm thực về đêm đã rất được thịnh hành. Hơn nửa thế kỷ trước, Thạch Lam trong cuốn "Hà Nội băm sáu phố phường" đã nói đến những món ẩm thực đêm của người Hà Nội. Đó là những hàng xôi hàng nước, "mìn páo", "giày vò", lục tàu xá, chè sen v.v... Văn hóa ẩm thực lại càng phát triển khi Hà Nội đã phồn vinh, giàu đẹp như ngày hôm nay. Trong khu phố cổ, phố ẩm thực với những hàng phở, cháo đêm, những món ăn đặc sản của Hà Nội. Bát phở đêm bốc khói tỏa mùi thơm của hương phở miền Bắc gia truyền. Rồi đánh thêm vào đó một lòng đỏ trứng gà trần qua nước sôi. Chao ôi, thú ẩm thực của người Bắc mình mới sành làm sao! Thảo nào có nhà thơ người miền Nam "nhắm mắt vẫn còn mơ phở Bắc". Nói "ăn Bắc, mặc Nam" quả là không sai chút nào. Và còn có những món quà đêm giản dị, rẻ tiền hơn của những người nghèo cần mẫn đạp xe bán rong khắp ngõ phố. Tiếng rao "sắn nóng đê... ê... ê" kéo dài trong đêm lan tỏa cả hơi ấm của củ sắn luộc được ủ trong lớp vải dày. Những chú bé bán bánh mì nóng giòn, những bà mẹ già bán bánh khúc, thứ bánh giã nhuyễn gạo nếp đồ với lá khúc xanh mọc ở ngoại thành. Đó là món quà dành riêng cho những cô cậu sinh viên, học sinh Hà Nội thức khuya học bài.
Du lịch đêm Hà Nội đã là một thú vui, một nguồn cảm hứng mà khách nước ngoài rất thích, còn người Hà Nội thì vẫn e dè. Không còn đâu cái nỗi ám ảnh ngày xưa mỗi lần có việc ra phố vào đêm vì ngày ấy mới 9 giờ tối đường phố đã vắng ngắt, vắng ngơ. Bây giờ đêm đã rất khuya, vẫn còn người qua lại, vẫn còn những quán nhạc với ánh đèn dìu dịu, tiếng nhạc mở nho nhỏ mà nghe rất rõ. Ban ngày quá ư náo nhiệt, có những âm thanh về đêm mới thưởng thức được trọn vẹn. Nghe những bản ghita không lời lãng mạn, âm nhạc đã chia sẻ tâm sự với chính mình. Đêm Hà Nội lãng mạn làm sao! Đêm Hà Nội như một cô gái dịu dàng trong cảm giác "em trở về đúng nghĩa trái tim em".
Đêm Hà Nội - đêm Thăng Long. Mặt Hồ Gươm đêm phẳng lặng thanh bình như từ nghìn năm trước. Nhìn về phía Tháp Rùa, những ngọn đèn lung linh soi bóng xuống mặt hồ. Trong ánh sáng đèn đêm mờ ảo đâu đây là bóng thuyền rồng của vua Lê đi thưởng ngoạn, đâu đây bóng rùa vàng ẩn hiện. Đêm trong truyền thuyết và hiện tại, những gì nhìn thấy trước mắt như thực, như mơ. Phiêu lưu vào cõi đêm Hà Nội như ngược vòng quay của thời gian. Vẫn còn nghe những âm thanh đồng nội: tiếng giun dế kêu, tiếng gió thổi, mơ hồ một tiếng trống điểm canh như trong văn Thạch Lam... Một Hà Nội hài hòa giữa cổ điển và hiện đại. Chiếc đồng hồ trên Bưu điện Bờ Hồ đánh dấu từng thời khắc của đêm, bước di của thời gian chầm chậm. Đêm dài... Đêm êm dịu trong khu phố cổ mơ màng. Đêm trầm mặc trong chùa Quán Thánh, tiếng gõ mõ vang lên đều đều như nhịp đập trường sinh của loài người. Đắm chìm trong đêm Hà Nội, trong mùi hương đêm huyền bí đến nao lòng. Nhớ về những kỷ niệm... Ta yêu em, Hà Nội ơi!
Hồng Thúy - Hà Nội mới
Sunday, 30. December 2007, 03:27:04
Hà Nội
Tiếng gọi từ sâu thẳm, nghe mơ hồ lắm. Nghe chênh vênh như bên bờ vực. Hoa dại trắng muốt triền đê. Ngôi chùa cổ cong đầu đao vẫn thế. Cảnh vật không mới mà cũng chẳng cũ đi. Ai gọi mình nhỉ? Hà Nội mưa dài qua đêm để sáng hôm sau trời loang màu ghi đục như giấy dó bị thấm nước. Bờ tường hoa ti gôn mang những trái tim trườn mê mải đi tìm tình yêu. Phải rồi! Đó là tiếng gọi của tình yêu. Sau đêm mưa mây trời yêu nhau dữ dội. Hoa dại bừng lên tươi tắn. Nghệ sĩ thích lang thang. Trời đã vào thu se se hơi gió heo may. Tôi nghĩ miên man. Thích đọc những câu thơ bật ra trên môi không vần điệu. Không gian mát dịu tinh khiết hợp cho hồn thơ đi bộ hoặc cà tàng trên chiếc xe đạp cũ. Tiếng gọi nhỏ nhẹ của cảm xúc len lén về vờn nhẹ trên mắt, môi rồi lách vào trong tim. Sợ lắm là khi đi mãi trong không gian thu ấy mà không xốn xang. Ta sợ mình chai sạn. Sợ xô bồ. Nghệ sĩ nên mau chóng rút nhanh ra khỏi những cuộc vui thì mới còn trong sáng mà làm việc được. Thật đơn điệu và cười đùa mãi không ngày tháng. Nỗi buồn đôi khi lấy lại thăng bằng cho anh kịp lắng sâu, nhìn ngắm xung quanh và định thần.
Hà Nội sau mưa - những ô cửa sổ như mắt ướt. Có mắt vui. Mắt buồn. Nhìn ô cửa sổ trơ khung gỗ màu ghi long sơn như mếu máo với thời gian. Văn chương nghĩ cho cùng cũng vậy. Lúc thì văn lai láng. Khi thì buồn nẫu ruột rồi lại dở chứng chẳng viết được câu nào. Nhiều khi trên trường đời chợt gặp những gương mặt, suối tóc, ánh mắt, nụ cười đẹp đến mê hồn mà ta không dám lại gần sợ gặp gỡ, trò chuyện sẽ làm tan đi cái cảm xúc ấy hoặc kéo theo nỗi thất vọng. Cái đẹp nên xa ta một khoảng cách. Nhiều khi ảo mờ lại hay.
Miên man, tôi đi hết một triền đê, hết vòng cong của một đoạn hồ. Cổ điển mái chùa, trầu cau truyền thống lùi vào trong lòng Hà Nội, gắn với làng xã. Cuộc sống hiện đại đôi khi lạm dụng truyền thống mới chỉ là "hớt váng" truyền thống, mới được cái vỏ truyền thống. Sự thực truyền thống ở trong con người, ở thói quen di truyền tín ngưỡng tâm linh. Đời cha từng nói: - "Các cụ ngày xưa bảo thế, làm thế" - là gì?
Văn chương, hội họa thèm cái đẹp đích thực. Một vẻ đẹp hiền thục thiếu nữ Việt Nam kể cũng khó tìm. Cánh đạo diễn phim và sân khấu nhiều lúc chợt nhìn thấy người đẹp ngoại đạo cứ xuýt xoa tiếc rẻ cho gương mặt ấy giá mà làm diễn viên thì sang trọng cho tác phẩm biết chừng nào. Hà Nội nhiều, nhiều lắm những gương mặt như thế. Đôi khi ở bên những khuôn mặt mỹ lệ, duyên thầm cũng làm cho giới nghệ sĩ dịu lòng, và khêu dần cảm hứng sáng tạo vu vơ mà hiệu quả. Sâu thẳm đấy là tình yêu cuộc sống mà không có nó mọi sáng tạo đều vô hồn.
Cuộc sống là sự có mặt của đất, trời, con người, tình yêu mà thiếu một thành phần nào thì kết quả sẽ nảy sinh sự mất cân bằng và vô nghĩa sống.
Qua đi những gì gian truân, vất vả mà nghĩ lại sao thấy hay thế bởi ta đã vượt qua được thử thách để dần dần hoàn thiện mình. Lan man đi tìm ý nghĩa của sự tồn tại. Với nghệ sĩ cuộc sống là ân huệ của đất trời. Ai càng yêu nó lại càng sáng tạo được nhiều. Sợ nhất là sự vô cảm lấp đầy con mắt nghệ sĩ. Đấy là bi kịch. Nhiều khi phải nói vu vơ, có lúc huyên thuyên hoặc thơ ngây như trẻ nhỏ để giữ mình, giữ cho tâm hồn thanh sạch không bị chai lì. Hà Nội nhiều góc đẹp đến rùng mình ở bàn tay khéo léo của tạo hóa, tài khéo của nghệ nhân, văn minh của kiến trúc Pháp, trầm ấm của khu nhà cổ. Ở đó kéo hồn ta về phiêu du với quá khứ và hiện tại. Lẩn quất đâu đây là mắt huyền thiếu nữ, mái tóc xổ dài, cặp môi hồng thơm không son phấn. Đấy là ân huệ trời sinh cho mảnh đất thiêng hội tụ nhiều người đẹp. Mà tuổi trẻ trước năm 2000 đẹp và ưa nhìn. Cái đẹp phương Đông, hiền dịu, lịch lãm không gào thét. Cái đẹp âm thầm tự tỏa sáng để đạt tới sự vĩnh cửu. Thời gian sẽ minh chứng cho thể loại tranh chân dung thiếu nữ thịnh hành ở thế kỷ tới, như những chiếm lĩnh và ưu ái ở những thế kỷ trước.
Lá mùa thu bắt đầu rơi buồn buồn trong mắt nhìn họa sĩ. Góc phố thanh sạch, tĩnh lặng để mặc heo may ùa về. Gió ào vào đôi mắt trong veo, nâng nâng sóng tóc. Người Hà Nội bình dị, kín đáo, nói bằng ánh mắt, cử chỉ, bằng những ngón tay ra hiệu. Người Hà Nội cười đấy, nói đấy mà vẫn bí ẩn. Có một cửa sổ đi vào để tìm chất người Hà Nội, đó là thiên nhiên. Thấp thoáng cây cảnh hoa lá ở mỗi nhà. Bàn tay thiếu nữ Hà Nội cắm hoa đẹp và tinh tế.
Mùa thu nắng hanh, gió se se lòng. Hà Nội ồn ào bên sự thâm trầm. Hà Nội tốc độ bên lề của sự chậm rãi. Thoắt ẩn hiện ánh nhìn con gái, rập rình bờ vai trôi nơi đường phố.
Sớm mai, vệt nắng qua màn cửa đổ dài trên bàn làm bật lên lớp bụi mờ li ti ở đồ vật khiến cho chúng có hồn.
Hà Nội - cảm thức giữa quá khứ và hiện tại, truyền thống và hiện đại cứ thế đan tết lại với nhau để làm nên người Hà Nội vừa cũ, vừa mới, vừa bình thản, vừa say đắm, lặng lẽ và nồng nàn đi hết đời này sang đời khác, đi dọc thời gian.
Nghiêm Nhan - Hà Nội tạp văn
Sunday, 30. December 2007, 03:25:38
Hà Nội
Có một đô thị mà vẻ đẹp kiến trúc không được tạo nên bởi những quần thể. Đường phố chưa thành đại lộ. Những khoảng không chưa khép thành những quảng trường. Một đô thị mà cả sự kỳ vĩ lẫn sự tráng lệ đều vắng bóng.
Cái đẹp cái chất, cái hồn và cái duyên của Hà thành ẩn khuất trong những dãy phố và những ngõ ngách, trên những mặt nhà già nua, dưới những bóng cây rậm rịt mà thiếu chúng, thân thể những con phố dễ bề bẽn lẽn. Và, nếu ta để mắt, để tâm lần dõi; ta không thể không nhận ra cái chất cùng cái duyên hàm chứa hơn cả trong cách ăn, cách ở, cách ứng xử, cách kiến tạo những lưu vực văn hóa của từng nhánh sông dân cư chốn thị thành.
Sát kề Hồ Gươm, ngõ Hàng Hành - có "Hàng" như ai mà thực chất chỉ là ngõ chứ không là phố, nối liền với ngõ Bảo Khánh bởi một khúc ngoặt - cũng là một nét duyên khó hiểu của Hà Nội. Dài không quá 300m, rộng 5 - 6m, là con phố thì bé, là cái ngõ thì to. Nghe đâu, xưa kia trú ngụ nơi đây là những người thợ làm đồ da. Đến nay, ở chỗ ngoặt - mối nối giữa hai ngõ - vẫn đứng đó ngôi đình thờ ông tổ nghề.
Đầu thế kỷ 20 (đã là thế kỷ trước rồi!) nghề tiện gỗ thịnh hành ở đây. Sau năm 1954, qua nhiều biến động lịch sử, có nhiều chủ nhân mới đến đây. Những nếp nhà cũ, ít nhiều đã bị khuôn đúc nên nền nếp ăn ở, cứ thế biến thành những tổ người theo nghĩa đen: xa lạ, hòa thuận, đối kháng, cam chịu. Hệt như việc sàng sàng sảy sảy, mãi thì cũng phải lắng đọng xuống, cát với cát, sỏi với sỏi... cũng phải tạo thành cái chất liệu cộng sinh xã hội đô thị, mà dần dà, hóa thành cái "hiện tượng văn minh sống đô thị". Có đi dạo qua, ngõ Hàng Hành thu nép mình, lãnh đạm trong sự tối thiểu hóa. Cả dãy phố, thoi thóp đơn côi một quán cà phê Nhân, vang bóng từ mấy chục năm trước, dưới mái lá gồi, tỏa hương lan vị đậm quện của những tách cà phê đen với những chiếc thìa nhôm đục lỗ ở giữa. Nghe hương vị ấy, lòng cồn cào, dù chưa uống, nhớ về cái thời mà ta chưa hề sống, cái thời Hà thành đồng nghĩa với sự tao nhã, sự phong lưu. Phong lưu, với người Hà Nội, không hẳn là sự giàu sang. Đó là những năm tháng ngõ Hàng Hành cùng Bảo Khánh thầm lặng và nhẫn nại theo cách người Hà thành, hóa thành con phố - mảnh đất Giời quên.
Bẵng đi một độ, ngõ phố Giời quên hóa thân thành chốn người nhớ. Như có một luồng gió vô hình, quạt phắt đi cái nghèo, cái tẻ, bám rêu, bám rễ vào ngõ ngách xưa. Giờ thì san sát những khách sạn mini, những café và billiard. La liệt những quán bia hơi, những tiệm computer, những quán quà tạm bợ trên vỉa hè và một cái chợ cóc xôm xả mỗi ban mai...
Người ta gọi phố Hàng Hành - Bảo Khánh là phố cà phê, phố điểm tâm, phố sinh viên, phố Tây... Sáng sáng, đi trên ngõ phố, pha quện những vị xôi gà, bún thang, bún măng, phở bò tái chín, cà phê, thuốc lá nước hoa... Kiến trúc tưởng như cũng có mùi.
Rơi vào cái chốn mà người và xe máy có số lượng bằng nhau, nhà, vỉa hè - mặt phố là một, kiến trúc - cuộc đời - đám đông là một thể, bỗng dưng có nhu cầu định vị lại mình trong những dòng chảy nhanh - chậm - róc rách - tuôn trào của ngõ phố. Đình Phả Trúc Lâm dẫu bị dồn ép vẫn còn đây, chốn thờ tự trở nên đơn côi, thoi thóp như cà phê Nhân thuở nào. Khánh Thụy Linh từ, dựng trên nền lầu công chúa ngày xưa, được ngăn cách khỏi phố xá trần tục bởi bức tường thô thiển đã kịp phủ rêu. Dưới chân tường và gốc xà cừ già cỗi, chị bún ngan kê dúi vào mấy cái gọi là bàn ghế, chất đầy những đĩa thịt ngan chặt rõ to, ăn cho bổ bã. Đình và miếu lấy quạt che mặt, để cho thị trường quay hẳn ra, chiếm lĩnh tuốt tuột mặt phố. Còn sót lại đó đây, như một sự kỳ diệu, những mảnh tường rào cũ kỹ mà không rõ vì sao, người ta chưa đục phá nốt.
Thế nhưng, ngắm nhìn chậm rãi, ta lại ngỡ ngàng nhận ra một điều: Vẫn còn đó bóng hình những ngày qua, vẫn còn đó hình ảnh của cái xóm Việt trong đô thị, cái ngõ phố của Thăng Long - Hà Nội, cái cung cách sống tiểu tư sản ăn ngấm sâu từ thuở nào vào ta, cái sự hiện diện của nền kinh tế thị trường kiểu tiểu thương. Hơn thế nữa, mặc dù diện mạo kiến trúc phố xá đã thay da đổi thịt, nhà cửa đa phần đã cải tạo hoặc xây mới, vẫn hữu hiệu cái cấu trúc đô thị là sản phẩm trực tiếp và đích thực của cuộc sống, với sự pha trộn và trung hòa muôn vàn những quyền lợi, những nhu cầu, những khát vọng, những thời đại và năm tháng. Hình hài kiến trúc kết tụ bởi những cái đó, là cái tổ người sống chung. Cái cấu trúc tổ người - ngôi nhà, dãy phố đó luôn luôn mềm mỏng, sẵn sàng ứng biến và thích ứng về cách sử dụng, thay đổi về chiều cao và chiều rộng, về hình dáng và kiểu cách. Không cần thì thu vào, cần thì nống ra. Cái khung, cái vỏ kiến trúc, lẽ ra phải cứng đọng, hóa ra lại mềm mại, uyển chuyển. Do đó bộ mặt phố phường Hà Nội không chỉ biểu lộ dấu ấn thời gian, vật liệu cùng chất liệu xây dựng, công năng, sự giàu sang hoặc cái nghèo. Mạnh mẽ hơn, kiến trúc phố phường Hà Nội cổ truyền bộc lộ cuộc đời không che giấu như nó có. Đôi khi muốn so sánh chân dung, diện mạo phố cũ Hà Nội với những chiếc áo lộn trái... Khuôn mặt những con phố Hà Nội của tôi, nói đẹp thì e quá lời, nói xấu thì e tủi thân, không để cho người ta thờ ơ. Nó gợi, nó cuốn ta vào câu chuyện tay đôi với những cuộc sống - tổ người và kiên trúc hoà quyện, động mà xem chừng muôn thuở.
Diệu Trang - Hà Nội tạp văn
Sunday, 30. December 2007, 03:24:33
Hà Nội
Nhắc đến những cây cầu ở Hà Nội, hẳn bạn sẽ nghĩ ngay đến những cây cầu lớn như Long Biên, Thăng Long hay Chương Dương. Tuy nhiên bài viết này sẽ đưa bạn đến với những cây cầu khác của Hà Nội, nhỏ bé hơn nhiều nhưng lại là những nét chấm phá không thể thiếu trong không gian kiến trúc xinh đẹp của Hà Nội.
Vốn được xây dựng bên bờ sông Cái, thiên nhiên đã ban tặng cho Hà Nội một nét đặc sắc mà hiếm thành phố nào có được, đó là những dòng sông nhỏ chảy uốn lượn trong lòng thành phố, là vô số những hồ lớn nhỏ mà phần lớn đều có đảo và bán đảo được tạo bởi thiên nhiên hoặc do công sức lao động của người dân thành phố qua các thế hệ, chúng như những viên ngọc tô điểm cho bộ mặt đô thành. Có thể nói sông, hồ đã trở thành một bộ phận hữu cơ tạo nên Hà Nội của chúng ta. Với sự thông minh sáng tạo, người Hà Nội đã phát hiện, nắm bắt được nét đẹp đặc trưng đó của thành phố mình và như để điểm xuyết thêm cho nó, người Hà Nội đã tạo nên những cây cầu nối những bờ sông, nối liền bờ - đảo với những sắc thái khác nhau theo từng hoàn cảnh. Đặc sắc nhất có lẽ phải nói đến cầu Thê Húc, khi nhắc đến thắng cảnh Hồ Gươm không thể không nhắc tới cây cầu này. Được dựng từ năm 1865 theo ý tưởng của Phương đình Nguyễn Văn Siêu - nhà văn hóa lớn của nước Việt, đây chính là một phần không thể thiếu của cụm công trình văn hóa liên hoàn nổi tiếng "Đền Ngọc Sơn - Cầu Thê Húc - Tháp Bút - Đài Nghiên" đã làm tăng lên sự lung linh huyền diệu của khu "Linh Địa" Hồ Gươm. Hà Nội có ca dao rằng:
Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn
Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn
Hỏi ai gây dựng nên non nước này.
"Thê Húc" có nghĩa là "nơi hội tụ ánh sáng ban mai", được làm hoàn toàn bằng gỗ với 13 nhịp uốn cong mềm mại, giữa không gian xanh của nước hồ, của hoa lá cây cỏ, của trời biếc, cây cầu tựa như một chiếc cầu vồng đưa du khách từ Tháp Bút đi vào đền Ngọc Sơn. "Thần Siêu" đã chú giải trên văn bia dựng trong đền: "Cột (Tháp Bút) dựng làm tiêu biểu mở lối cho người ta đi, đưa người đời qua cầu đến chỗ giác ngộ, tức là hiểu được đạo làm người", vậy là "Thê Húc" không chỉ còn là một kiến trúc đẹp mà đã được nâng lên tầm văn hóa rồi phải không bạn.
Năm 1890, những nghệ nhân tạo vườn người Pháp đã dựng lên Bách Thảo Hà Nội, một khu vườn cảnh mang đậm phong cách châu Âu giữa lòng một thành phố phương Đông; những bài trí kiến trúc khéo léo đã làm cho Non - Nước - Cây cỏ trong khu vườn như hòa quyện vào nhau, trong không gian kiến trúc đó, cây cầu sắt mảnh mai được bắc sát mặt hồ, nối liền chân núi Nùng ra đảo giữa hồ tạo nên một nét huyền cho khung cảnh nên thơ, lắng dịu, đầy ắp tiếng chim của Bách Thảo. Những ngày thu Hà Nội, trong làn sương nhẹ, xa xa ngắm nhìn những thanh nữ Hà Nội thướt tha trong tà áo dài đi trên mặt cầu, bỗng tưởng như gặp được tiên nữ ở chốn bồng lai.
Còn nữa, trên những mặt hồ Bảy Mẫu trong công viên Lênin, hồ Thủ Lệ trong vườn thú Thủ Lệ, hồ Thuyền Quang bên phố Nguyễn Du, ta bắt gặp những cây cầu làm sau ngày Hà Nội được giải phóng, tuy bằng chất liệu xi măng cốt thép, nhưng những nhà kiến trúc của Hà Nội đã có những xử lý tinh tế về kiến trúc, mầu sắc nên chúng vẫn có được sự uốn lượn mềm mại của những chiếc cầu vòm mang đầy sắc thái của phương Đông, góp phần tô điểm thêm cho những "Lẵng hoa" của Hà Nội.
Trên các dòng sông Tô Lịch, Kim Ngưu lững lờ giữa lòng thành phố, đây đó lại có những cây cầu nối những bờ sông; cái bằng đá, cái bằng sắt, cái bằng bê tông; có chiếc mới được làm nhưng cũng có những chiếc đã có hàng trăm năm tuổi; có cầu ngang, có cầu vòm thật là phong phú, đa dạng. Những cây cầu này vừa nối mạch giao thông, vừa như gợi nhắc ta nhớ Hà Nội có những dòng sông nhỏ đã một thời từng đi vào thơ ca.
Cầu phao - loại cầu tạm bồng bềnh trên mặt nước, thường chỉ gặp trong thời chiến tranh, ấy vậy mà bây giờ bạn vẫn lại có thể được cảm nhận cái bồng bềnh, chông chênh đó ngay ở Hà Nội nếu bạn có dịp ra thưởng thức những món đặc sản bánh tôm, ốc hấp trên một số nhà hàng nổi ven Hồ Tây. Chúng gợi cho ai đó đã từng qua thời chinh chiến hay những người yêu lịch sử nhớ tới những thời khắc gian lao, vất vả nhưng vô cùng hào hùng của Hà Nội và đất nước trong những trận chiến anh dũng chống ngoại xâm.
Thế đó, Hà Nội của chúng ta đẹp lắm, nhất là với góc nhìn của văn hóa và lịch sử, xin hãy gạt sang một bên những ngổn ngang của cuộc sống để cùng chiêm ngưỡng, thưởng thức những nét duyên của Hà Nội mà trong đó có sự tạo bởi của những cây cầu nho nhỏ...
Mai Lâm
Sunday, 30. December 2007, 03:23:46
Hà Nội
Ngoài hai bữa cơm hàng ngày, thường tình ra ai mà chẳng thích ăn quà. Ở đâu mà chẳng có hàng quà ngon, món quà ngon.
Hà Nội có những món quà ngon và ăn quà cũng có cách riêng. Món nào ăn sáng thì không dùng ăn trưa. Món ăn trưa thì tối không ăn. Chiều, tối, khuya, mỗi thời điểm có món riêng. Xôi lúa không ăn chiều. Lạc rang ít ăn vào mùa nắng. Mùa rét ít ăn chè đỗ đen...
Bát bún riêu không cần đầy ụ. Lát rau chuối phải thái mỏng tang trông như vành trăng giữa nền xanh rau muống chẻ, rau xà lách. Ngổ ba lá như cánh hoa điểm xuyết, lát ớt đỏ tươi, ớt xanh là hỏng. Người ngồi bên cạnh cũng không hề nghe tiếng và xụp xoạp, tiếng nhai tóp tép, tiếng nuốt ừng ực... Người ăn cứ nhẹ nhàng như không, như vừa lắng nghe điều gì vừa ngẫm nghĩ vừa ăn.
Cái tủ kính con, đĩa xôi vò bát chè đường mới hấp dẫn làm sao. Bát chè (đúng ra phải gọi là chén) chỉ nhỉnh hơn cái chén quả hồng. Chè đường trong vắt. Những hạt đỗ xanh như hoa vàng chập chờn ẩn hiện. Còn xôi vò đựng trong cái đĩa nhỏ xíu, chỉ mấy nhúm ngón tay đã hết. Từng hạt xôi tưởng như rời rạc mà lại quyện vào nhau khi ta nhai với cảm giác ngọt ngào mềm ấm. Cái hạt xôi vò kỳ lạ, mềm mà không nát, khô mà không cứng, đỗ xanh phủ mỏng ngoài còn bên trong là hạt gạo nếp căng phồng như cái bụng con ong non. Một chút xôi chè ấy ăn vào buổi trưa, thật đúng là Hà Nội. Xôi xéo lại khác, từng cục to nhỏ khác nhau là món ăn sáng. Thật ra "vò" với "xéo" khác nhau lắm nhỉ? Còn con người, khi tấm lòng bị vò bị xéo, chắc cũng khác nhau lắm.
Món cốm cũng cần cách ăn hương hoa. Không thể dùng đũa và lùa cốm vào miệng. Nhìn các bà các chị nhúm một nhúm cốm đặt vào lòng bàn tay, ngửa cổ cho cốm rơi vào đầu lưỡi, như thả cốm rơi lơ đãng, người ngồi bên cạnh cũng cảm thấy hương thơm hạt cốm lây sang cả mình.
Phở đang là món ăn thông dụng. Phở cần ăn thật nóng, phải nóng đến miếng cuối cùng. Phở ngon phần lớn nhờ nước dùng. Có người ăn, cuối bát phở, còn nguyên nước, thật phí và không biết ăn.
Ngay như món ốc luộc. Ở Hà Nội cũng có nhiều cửa hàng chuyên bán. Chỉ một thứ thôi. Khách quen thì đến. Ốc nhồi, ốc bươu, ốc đá, loại nào ra loại ấy, bằng nhau chằn chặn. Bát nước chấm vàng nhạt, những miếng gừng vàng sẫm, lát ớt đỏ chói, con ốc giòn sần sật, nóng hôi hổi. Ăn để mà nhớ nó, ăn để thay đổi cảm giác, chứ không phải phục vụ cái dạ dầy cần đầy
Tấm mía là món quà phổ thông, ở đâu chẳng có. Người Hà Nội ăn mía cách riêng. Không vừa đi vừa tước mía như thổi sáo ngang, vừa ăn vừa hít, vừa dứt, vừa nhả bã dọc đường như Mỵ Châu rắc lông ngỗng. Tấm mía được rửa sạch, róc cẩn thận, tiện thành từng khẩu, để lên đĩa, hoặc để trong lòng bàn tay sạch, đưa từng khẩu lên miệng. Có người ớp hoa nhài, hoa bưởi một lát rồi mới ăn, vừa ăn cái ngọt, vừa ăn cái thơm.
Quả sấu chín không thể cắn mà phải gọt, phải biến nó thành cái vòng xoắn ruột gà, để nguyên thì hình tròn, nhấc lên nó như cái lò xo. Thật đẹp mắt.
Người Hà Nội ăn chuối không ai bóc tuột cả vỏ, cũng không cầm cả quả mà bóc. Phải bẻ đôi quả chuối rồi mới bóc bốn phía. Nửa quả chuối biến thành bông hoa bốn cánh, thịt chuối là cái nhuỵ hoa vậy.
Tháng sáu, mùa nhãn. Nhãn lồng sen ngâm trong nước đường trong vắt, dần dần biến thành màu trắng ngà... Nếu ăn nhãn quả cũng không đưa cả quả nhãn vào miệng, người Hà Nội ngắt một quả, lấy móng tay bóc một nửa vỏ nhãn, lộ cái cùi trắng, rồi nhằn hạt nhãn trong răng. Thật ngon lành, vệ sinh mà cũng thanh lịch.
Bắp ngô nướng đêm đông, ngô luộc buổi sáng đâu cứ cầm mà gặm nham nhở. Cầm trong lòng bàn tay, dùng ngón tay khẽ tẽ ra từng hạt theo từng hàng, hạt ngô như viên ngọc trai được nghiền khẽ khàng giữa hai hàm răng để cái ngọt thơm thấm dần vào vị giác. Thế mới là ngon, mới là ngọt, là thơm, là quý...
Còn bao thứ quà nữa của khắp vùng đất nước được chuyển về Hà Nội, người Hà Nội ăn không xô bồ, vội vã. Thanh cảnh, tao nhã, lịch sự, văn minh, ăn cho ngon, ăn thật đẹp... đã thành nếp sống thường xuyên hàng ngày, nó giống như dáng đi, nét mặc, lời nói, người Hà Nội đi đâu cũng không lẫn, và ở giữa lòng Hà Nội.
Sunday, 30. December 2007, 03:23:09
Hà Nội
Đông lặng lẽ lê chiếc gót sắt giá lạnh trườn trên những rặng cây, luồn qua đám lá vàng chao nghiêng trong gió, lượn quanh những cành cây trụi lá rồi đột nhiên đổ xuống quấn quýt lần giở vạt áo khách bộ hành tìm chốn sưởi. Khẽ rung mình xua cái lạnh mỗi lúc một ăn sâu vào da thịt, tôi hít một hơi thật sâu để xua đi cơn buồn ngủ. Sương xuống mỗi lúc một dày chòng chành trong ánh đèn pha vàng vọt, trong ánh trăng nhạt nhoà trung tuần tháng mười. Những ruộng ngô chậm rãi lùi dần toả dài như hai cánh đê trong nhịp lắc đều đều của chiếc xe cà khổ. Trong gió thoang thoảng mùi ngô nếp nướng tươi nguyên nơi đầu lưỡi.
Cô bạn cắm vào miệng tôi điếu thuốc lá nhàu nhĩ hiếm hoi còn sót lại, thọc tay vào tận đáy chiếc túi áo vét nông choèn choèn và nép sát vào người tôi cho đỡ rét. Mái tóc dài đậm hương đồng nội đẫm sương đêm dụi vào má lành lạnh buồn buồn… Con đường vắng trải dài, tôi lần giở ký ức. Những ngày tháng êm đẹp hiện về như một thước phim. Cuộc đời ẩn chứa bao điều oái ăm ngang ngược - kẻ yêu chẳng được yêu vẫn cố bám lấy một hình bóng hư ảo, một niềm ảo tưởng khôn nguôi để được mang cái tiếng chung tình. Rồi một ngày nào đó vội vàng vồ lấy một mối tình mới trả hận. Làm ra vẻ ta đây đâu phải loại kém cỏi và rồi cũng đến lúc giật mình đớn đau. Đằng sau, em đang thiu thiu ngủ để lại tôi một mình với đêm, với con đường vắng, với những ký ức đã gắng chôn vùi. Dường như trong cơn mơ em đang mỉm cười.
Xốc lại cổ áo ẩn cư chốn vũ khúc mùa đông nhớ về những ngày tháng rất xa. Những ngày còn cắp sách tới trường - ngôi trường làng trống tuềnh, trống toàng lại rung lên trong tiếng cười hả hê, ngạo mạn của gã mùa đông già xấu xí đáng ghét. Cả cô, cả trò môi ai cũng nứt nẻ, tím tái vì rét. Vài manh áo vá không đủ che cả mùa đông, vậy mà lúc ra chơi lũ trẻ vẫn rủ nhau ra hồ nước cạnh trường ngắm nhìn làn hơi nước bồng bềnh từ từ bốc lên. Mà cũng lạ, chẳng hiểu vì sao làn nước mát lạnh ngày hè nay lại trở nên ấm áp. Có lần mải vớt bóng lăn tùm xuống ao thế là cô lại phải đưa về nhà lấy quần áo của con cho mặc tạm. Lớn lên rồi đi xa quê nhưng tôi không thể nào được những mùa đông thơ ấu mỗi khi bắt gặp những đứa trẻ lang thang trên đường, mắt đau đáu nhìn chiếc áo rét, đôi mắt chúng chợt già đi cả chục tuổi rồi lại co ro cất bước.
Đêm đã về khuya, thành phố vẫn thức với bao điều quyến rũ. Ánh đèn vẫn sáng trên một vài ô cửa sổ của những khu tập thể, của những toà nhà cao tầng. Không hiểu đó là các ánh sáng của các sĩ tử đang dùi mài kinh sử hay đó là người vợ chong đèn chờ chồng, hay ánh đèn của những con người cặm cụi viết lách, nghiên cứu tìm tòi tinh hoa của cuộc sống rồi lại hiến dâng cho đời. Ẩn chứa đằng sau mỗi ô cửa sổ là bao con người, bao số phận, bao tâm trạng đang trằn trọc trong tiếng cười thoả thuê của gã đàn ông đang tán tỉnh những dàn ăng ten, những cây cột điện hờ hững… trước sự đời. Giờ này ở ngoài kia có kẻ đang dật dờ nép sau những gốc cây nuốt thầm giọt nước mắt ao ước một ngày mai hạnh phúc và ấm áp. Tiếng chổi tre loạt soạt trên mặt đường nhựa, tiếng càu nhàu giận dữ bởi kẻ nào đã kịp bày trên mặt đường nhựa vừa dọn sạch một đống rác mới. Có lẽ mỗi cuộc đời là một ẩn số ngay trong những niềm hạnh phúc vẫn chứa bất hạnh không ngờ.
Đông về không ngọt ngào như mùa thu, ấm áp như mùa xuân nhưng cũng nhờ đó mà người ta có thời gian suy ngẫm, trăn trở những điều mà trong no đủ vui vẻ đã quên đi mất. Có trải qua đói, rét, đau khổ con người mới hiểu cuộc sống và mới yêu những gì đang có. Trời lại bắt đầu mưa, mùa đông lâm thâm dai dẳng đến khó chịu. Mưa vẫn mỗi lúc một dày, trong ánh đèn đường, mưa như muôn vàn hạt ngọc đang tuôn rơi. Trong đêm lạnh vẳng tiếng rao: ”Ai bánh mì…đê” dài mà não nề. Đêm nào cũng vậy, cứ tầm này người đàn bà ấy lại qua đây với tiếng rao khàn khàn đục đục nhưng chẳng mấy khi được đáp lại. Nhớ những ngày lang thang, nhớ những đêm đông nơi xa vắng bên bếp lửa nhìn mưa rơi lại thêm yêu những ngày còn bé. Những đêm thức khuya học bài, vừa học vừa gà gật, vừa nhấm nháp củ khoai tứa mật - ngọt và thơm đến tận bây giờ. Và còn rất nhiều điều đáng phải nhớ lắm chứ.
Đông - một mùa đông nữa đang về, đêm đông dài càng ngẫm càng thấy mình nhỏ nhoi. Cảm ơn nhé, dạ khúc đông.
Trần Dương - Hà Nội tạp văn
Sunday, 30. December 2007, 03:22:22
Hà Nội
Hà Nội ba mươi sáu phố phường, mỗi phố là một phường hay mỗi phường là một phố? Không hẳn thế. Bởi mỗi nghề còn giữ lại trên tên phố Hà Nội nay đã qua bao thay đổi, còn đến hơn sáu mươi phố bắt đầu bằng chữ Hàng như Hàng Đào, Hàng Tre, Hàng Sắt, Hàng Mành, Hàng Bún, Hàng Bè... trong hơn ba trăm sáu mươi phố của Hà Nội hiện nay. Hà Nội lớn lên không ngừng. Gương mặt từng phố ngày mỗi đổi thay và hẳn trong lòng nó, trong lòng mỗi phố, trong lòng mỗi căn nhà và mỗi con người Hà Nội. Cuộc đời là một dòng sông chảy đi bất tận, mang lớp lớp phù sa mới bồi đắp vào cuộc đời mình. Có những phố nguyên có chữ Hàng nhưng đã được mang tên mới như Hàng Cỏ (Trần Hưng Đạo), Hàng Đẫy (Nguyễn Thái Học), Hàng Giò (Bà Triệu phía trên), Hàng Lọng (Đường Nam Bộ rồi Lê Duẩn), Hàng Nâu (Trần Nhật Duật), Hàng Kèn (Quang Trung), Hàng Bột (Tôn Đức Thắng) v.v...
Trong ký ức của những người Hà Nội, một căn nhà, một góc phố, một gốc cây, có khi chỉ là một âm thanh, một làn hương, một màu sắc... cũng hiện lên bao hình ảnh thân yêu, gợi cảm. Đương nhiên cái mới phải sinh ra, phải vươn lên, cái cũ phải nhường chỗ. Măng thay tre. Con sông tiếp nhận những dòng suối. Nhưng cây măng chớ quên bụi tre đã ôm ấp che chở mình. Dòng sông hình thành sao được nếu không có những con suối cần cù năm tháng trong rừng sâu im vắng? Người Hà Nội hôm nay đi quanh Hồ Gươm, đi vòng Hồ Tây, đi thuyền trên hồ Thống Nhất, thả hồn trên đường Thanh Niên có hoa phượng hoa ban tím (còn gọi là cây móng bò), vào bảo tàng Hồ Chí Minh, ngắm vườn hồng đường Bắc Sơn, ra Điện Biên nhìn lại Cột Cờ cổ kính, vòng về chợ Đồng Xuân, rẽ ra bờ sông Cái có cầu Chương Dương, bước lên con đê xanh... có bao giờ quên được những tên phố thân thương, gợi nhớ cả một thời xa xưa oanh liệt và trữ tình. Hà Nội có những nghề cổ truyền, có đám, có phường, có những món ăn thanh lịch, những cảnh trí thơ mộng và cả những niềm vui mộc mạc giản dị của một vùng quê Bắc Bộ. Hàng Bài không còn là bài lá, tam cúc, tổ tôm có những cây xe hồng, tịnh vàng xuất hiện trên ổ rơm những ngày tết ấm cúng trong bao gia đình, những cây bát sách, cửu vạn mà câu ca dao đã phải thốt lên: "Làm trai biết đánh tổ tôm, uống trà mạn hảo, xem nôm Thúy Kiều" là ba cái thú, ba sự lịch lãm một thời; những quân bài đã thành kỷ niệm in trong ký ức bao thế hệ. Nay ở đây có trường Trưng Vương, nhà triển lãm, hiệu bán sách khoa học, bán băng nhạc, có cửa hàng bách hóa lớn nhất Thủ đô. Hàng Bạc không còn những cô gái kiêu kỳ kiểu công chúa cấm cung, ăn cái giá đỗ cũng phải ngắt làm đôi, cái phố từng sản xuất những vòng, xuyến, kiềng vàng cho lớp giàu sang, sản xuất những đôi khuyên vàng và tích bạc cho cô dâu về nhà chồng, cho những vùng xa về kinh kỳ kẻ chợ sắm cưới; chỉ còn rạp Tố Như cũ (rạp Chuông Vàng - Văn Lang) nơi sinh ra Trung đoàn Thủ đô bất tử trong những ngày kháng chiến oanh liệt của Liên khu Một năm 1946.
Nhà cô Bé Tý đã thay đổi hoàn toàn, không còn ai nhớ đến nữa, đình Hàng Bạc cũng hoang tàn, những người thợ bạc Châu Khê (Cẩm Bình Hải Hưng) có đình thờ riêng, nay lang bạt đi đâu, hiệu thuốc cam có Con Hươu, còn đấy, nhưng em bé nào còn ăn thứ thuốc cam ấy (có đến bốn năm hiệu cùng có Con Hươu, cũng hơi phiền). Hàng Chuối từng có những bãi chuối bạt ngàn để chăn đàn voi cho nhà vua phủ chúa, nay là một phố dài cây xanh rợp bóng, những biệt thự yên lặng như vầng trán trầm tư trong tịch mịch. Cái màu xanh đất bãi ấy mất đi chăng? Không, nó lại hồi sinh trong màu lá hai bên đường cây, để xuân về, óng ả, tơ non, tạo ra cái mái nhà xanh của thủ đô rất Hà Nội. Trụ sở Hội Phụ nữ lúc nào cũng có bóng cây dịu mát, cái dịu mát của cây hay của người phụ nữ Việt Nam? Bàn tay nào khéo léo, tâm hồn nào giàu rung động, để đã từ một ống tre, một quả bầu khô, một miếng da rắn... tạo ra cây nhị cây hồ nhất là cây đàn bầu bất hủ. Hàng Đàn hẳn một thời náo nhiệt những giai nhân tài tử, nghệ sĩ đến so dây, nắn phím. Những trái tim ấy đã ra đi nhưng tài hoa còn lại với đất nước nghìn năm văn vật. Hẳn họ cũng đã quá bước tạt sang Hàng Quạt bên cạnh để thửa cái quạt thước, chiếc quạt tím trang kim, chiếc quạt gỗ đàn hương thoảng gió thơm, chiếc quạt gỗ trầm ngào ngạt, khiến yêu cái quạt yêu cả người cầm quạt, nói như nữ sĩ Xuân Hương: "Mười bẩy hay là mười tám đây Cho ta yêu dấu chẳng rời tay...
... Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày..." Quạt tạo ra gió mát, quạt còn che nửa mặt hoa cho khỏi rám má hồng trưa nắng, làm duyên cho tao nhân... Hàng Nón sao lại không từng tặng liền anh liền chị đất Kinh Bắc những chiếc nón thúng quai thao để: "Yêu nhau gửi nón cho nhau. Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay..." Những chiếc nón ấy đã ở lại mãi mãi với câu ca say đắm lòng người, trường tồn với dân tộc tài hoa và tha thiết. Hàng Khay có những người thợ khảm trứ danh. Từ mảnh gỗ đơn sơ, từ chiếc vỏ con trai chẳng giá trị gì, họ đã tạo ra những tác phẩm thực sự, óng ánh, bảy sắc cầu vồng; những đường nét, phong cảnh, tưởng như đang hiển hiện trước mắt mà ta đang bước vào đó trên đoạn đường ta đang đi dạo. Bến sông Nhị Hà xưa còn ăn sâu vào đất liền hơn bây giờ nhiều. Từ rừng núi, theo những con ngựa thồ, những chiếc xe thô sơ và cả những con thuyền lớn... những củ nâu xù xì nhưng bền bỉ sắc màu dân dã quê hương đã về đây để nhuộm cho mẹ cho chị những tấm áo che một nắng mấy sương. Dọc Hàng Nâu xuống Hàng Chĩnh, Hàng Mắm, Hàng Muối, Hàng Tre. Nước Mắm Nghệ, muối chợ Cồn Văn Lý, ang chĩnh Thổ Hà, tre vầu rừng Bắc... đã theo những mảnh buồm, những bè nổi lênh đênh về với kinh kỳ. Ôi những con thuyền đã rong ruổi bao dặm trường sóng nước, neo vào bến Cầu Đất, gửi cho Hà Nội những món quà bền chắc, nồng mặn đậm đà, để mà nhớ nhau mãi mãi như câu ca dao: "Gừng cay muối mặn xin đừng..."
Người Hà Nội tài hoa, tao nhã, hiếu học, Hàng Giấy, Hàng Bút còn đó. Những khoa thi nào, anh khóa, cậu tú, bác cử đi chọn giấy bút để tung hoành trên trường văn trận bút. Cái "công danh xa mã" ấy từng đã làm khổ bao người, những anh đồ dài lưng tốn vải, những người phụ nữ ước mơ võng anh đi trước võng nàng theo sau, lụi cụi cả một đời cho tuổi trẻ trôi qua lúc nào không biết. Tuy nhiên chúng ta cũng tự hào còn lưu lại được nhiều áng thơ văn thiên cổ kỳ tài, những tuổi tên còn khắc đầy trên hơn tám chục tấm bia đá nơi Văn Miếu kia. Còn cuộc đời thường của người dân lao động với những nhu cầu không thể thiếu được thì đã có Hàng Gạo, Hàng Cá, Hàng Đường, Hàng Khoai, Hàng Đậu, Hàng Dầu, Hàng Bột (Tôn Đức Thắng). Muốn sắm sửa thì lên Hàng Bát Đàn, Bát Sứ, Hàng Đũa (Ngô Sĩ Liên). Cha già mẹ héo cần một cỗ áo thì đã có Hàng Sũ gần kia. Tháng chín tháng mười giở trời, đau cả xương cốt, món rươi của vùng Hải Đông (Hải Dương, Hải Phòng ngày nay) đổ về kinh kỳ không ít. Khen ai là người đầu tiên đã biết chọn vỏ quýt làm gia vị cho món chả rươi, quả là tài tình, quả là nghệ thuật. Cái lưỡi con người tinh tế đến thế là cùng. Hàng Rươi cũng là nơi họp chợ hoa ngày tết. Cô gái đi mua hoa, cành đào hay cành mận, nhánh hải đường hay bông vạn thọ, cô có thể sắm thêm gương lược mà điểm trang cho thêm nhan sắc, cho đẹp cả mùa xuân, có Hàng Lược đó. Hà Nội có một cái dốc khá cao. Đó là Hàng Than. Cái thời chưa có điện, chưa có than đá, than quả bàng, hẳn ở đây luôn luôn bận rộn những hàng bán than hoa để thơm lừng vị chả nướng, để ấm nồng những lồng ấp, để thanh tao những chén trà của các cụ đồ trong sương sớm. Sau này, Hàng Than còn nổi tiếng với món bánh cốm ngon lạ thường, một món quà đặc biệt, chỉ Hà Nội mới có tài làm ngon đến thế. Cốm xanh biếc, nhân đỗ xanh vàng hươm, cùi dừa trắng tinh, điểm vài viên hạt sen nhừ tơi; được gói trong lá chuối tươi, lại một màu xanh óng chuốt của quê hương đồng bãi, buộc chặt bằng chiếc lạt đỏ cánh sen, gợi mùa cưới chan chứa ân tình. "Nằm đất với chị hàng hương"...
Hàng Hương cô hàng, người thơm tho gỗ hoàng đàn, thoảng mùi xạ, phảng phất hương trầm... Tết, ngày giỗ mà không có hương sao còn gọi là tết, là giỗ? Ngôi chùa cổ Việt Nam, ngôi đình làng trang nghiêm sao có thể thiếu được những nén hương đen, những cuộn hương vòng, những cây hương sào thắp một ngày chưa hết, phố Hàng Hương tuy nhỏ nhưng thực sự là một phố mang lại cái cần thiết cho Hà Nội, cho cả vùng về đây mà mua mà cất, một cái duyên riêng vậy. Màu sắc óng ánh trong chiếc thắt lưng hoa lý, hoa đào, hồ thủy, thiên thanh, dải yếm đỏ, áo đổi vai nâu non... cứ phấp phới lên trên phố Hàng Đào, nhất là những ngày phiên chợ tơ. Các thứ lụa tơ từ Ba La Trinh Tiết của tỉnh Đơ, của Đồng Tỉnh Huê Cầu của tỉnh Bắc... mang đến. Còn Hàng Vải thâm là nơi đi về của người dân áo vải. Cô gái Đình Bảng, Cầu Lim mặc váy cửa võng cạp điều mang vải về đây nhuộm hoặc trả cho khách hẳn từng làm xao xuyến bao chàng trai kinh thành. Trung thu, tiếng trống ếch rộn ràng. Trường học nào cần bưng lại mặt trống da trâu để kịp khai trường, đình làng nào cần một chiếc trống đẽi để vào đám giêng hai, Hàng Trống sẵn sàng chờ đón. Phố này đến nay vẫn còn mấy nhà có nghề làm trống cổ truyền, dựng tang trống, thuộc da, lên mặt trống... đều bằng phương pháp thủ công nhưng chiếc trống hàng chục năm vẫn kêu vang, không hỏng. Hà Nội đã sống gần ngàn năm dưới chế độ vua quan. Có bao cái đẹp và cũng có bao cái phải mất đi nhường cho cái mới. Hàng Lọng (phố Lê Duẩn) có ga Hàng Cỏ tấp nập ngày đêm, đón và đưa những con tàu Nam Bắc, ra cảng Hải Phòng, lên tỉnh có chè ngon nổi tiếng Thái Nguyên... Với trên sáu mươi phố mang chữ Hàng, vẻ xa xưa chưa hết, Hàng Mành vẫn làm mành. Hàng Hòm vẫn đóng hòm, va li gỗ, Hàng Thiếc làm thùng tôn, ống máng, cắt kính, làm đồ chơi trung thu cho trẻ, chỉ tiếc đồ chơi ít thay đổi, không theo kịp sự phát triển của xã hội và lớn nhanh của tâm lý thiếu nhi. Hàng Mã vẫn làm đèn lồng hoa giấy. Hàng Bông vẫn còn nhiều nhà làm cốt chăn bông. Bên cạnh đó nhiều phố mang tên cũ nhưng không còn một ai làm nghề cũ ấy nữa: Hàng Gà, Hàng Cá, Hàng Gai, Hàng Bún, Hàng Cót, Hàng Bồ... Vẫn cảm động khi bước chân đến những khu nhà khấp khểnh như tranh Bùi Xuân Phái: Hàng Cân, Hàng Chỉ, Hàng Chai, Hàng Hành, Hàng Bè, Hàng Giấy, Hàng Vôi, Hàng Cháo...
Thế kỷ hăm mốt sắp đến, chưa hình dung nổi những đổi thay. Những con người vừa sinh ra trong thập kỷ cuối này sẽ làm chủ đất nước, làm chủ Hà Nội. Họ thật là hạnh phúc. Họ sẽ sung sướng hơn chúng ta, vừa ý đẹp lòng hơn chúng ta cũng như chúng ta sung sướng hơn cha ông chúng ta xưa. Qua những chữ Hàng, ta càng yêu Hà Nội hơn, yêu như yêu máu thịt mẹ cha cho, bởi chính đó là một trong những khía cạnh của nền văn hóa Việt Nam từ bốn nghìn năm.
Băng Sơn
« Prev 1 2 3 4 5 Next »
Showing posts 9 -
16 of 39.