Cuộc đời thứ hai của... gạo
Monday, May 14, 2012 7:16:06 AM
Tiến sĩ Võ Công Thành, người Châu Thành A, Hậu Giang nói rằng: “Năm 2011, từ gạo một bụi đỏ sẽ có nhiều sản phẩm sau gạo. Đó là con đường để khai thác nhu cầu và văn hóa ẩm thực nhằm tiếp cận thế giới, chắc chắn giá trị tăng thêm sẽ cao hơn gạo”. Nếu gạo là ngọc trời cho thì sau gạo là sức sáng tạo của con người.
Cô bạn Việt kiều của tôi về quê lần này nói rằng, mấy năm trước về thăm quê trở qua Mỹ cứ ghiền mùi ngò gai và tô phở Tàu Bay. Năm nay không ghiền nữa rồi vì bên Mỹ đã có “hàng hà sa số”... phở. Người ta thống kê có tới 600 tiệm phở trên toàn nước Mỹ, doanh thu hàng năm trên 500 triệu đôla. Tiểu bang California chiếm gần phân nửa, kế đến là Texas với hơn 100 tiệm và Washington cũng gần 100 tiệm phở.
Cô nàng nói tiếp: “Tại các tiểu bang có ít người Việt định cư nhưng vẫn thấy xuất hiện phở: tiểu bang Nebraska có 1 tiệm, Alaska lạnh giá cũng có 2, Maine 3, Wisconsin 4 và South Carolina 5. Chỉ riêng tại tiểu bang California, San Jose có đến 23 tiệm phở, Los Angeles 21 tiệm, San Diego 19, San Francisco 18 và Oakland 12 tiệm…”.
Người Mỹ gọi phở là Vietnamese Beef Noodle Soup hoặc “Pho”. Kho từ vựng tiếng Anh cũng phong phú thêm với các từ mới như Phonatic (người thích ăn phở), ‘tín đồ’ của phở là Phofan và danh từ Satis-pho-ction là sự hài lòng (satisfaction) khi thưởng thức một tô phở.
Nhà báo Chuck Mindenhall, trên tờ Los Angeles Weekly, chế ra các từ Anh ngữ Phoundation và Phoster dựa theo 2 từ Foundation và Foster. Ông giải thích rằng, Phoundation là nền tảng phở và Phoster culture, nơi hội họp và dung nạp văn hóa phở ! Vào Google hay Yahoo, gõ Phở hay Pho, có đến cả nghìn trang web, thậm chí còn có cả website mang tên Phởfever, cơn sốt thèm phở...
“Tại Seoul, Hàn Quốc có tiệm phở chủ nhân là người Hàn, nhưng thịt bày riêng ra dĩa. Loại “phở dĩa” này cũng đã xuất hiện tại nhiều quốc gia nhưng… trừ Việt Nam”, một người bạn tha hương trở về góp thêm câu chuyện khi biết tôi đang tìm kiếm những câu chuyện suy nghĩ làm giàu sản phẩm sau gạo.
Bà Mười Xiềm quảng bá sản phẩm sau gạo.
“Năm lên 12 tuổi, lo phụ giúp cha mẹ bưng bánh đi bán dạo. Lớn lên, sống bằng nghề này tần tảo đến khi được sự trợ giúp xây dựng thương hiệu Bánh xèo Mười Xiềm” - từng tham dự lễ hội văn hóa Mekong do Viện Smithsonian, Hoa Kỳ, tổ chức hồi tháng 7-2007, bà Mười Xiềm nói tiếp: “Xứ mình làm bánh dân gian từ gạo, nếp... có tới mấy trăm loại, nhưng tụi tui tự làm bột. Chỉ có số ít công ty làm gạo chợ bán, nghe nói Công ty Vĩnh Thuận xuất khẩu bột, tui rủ chị em làm bánh mua bột làm bánh tại nhà hoặc dùng bột để làm bánh kinh doanh”.
Bà Mười Xiềm kể rằng, từ bột gạo, bột nếp và đủ thứ bột của Công ty Vĩnh Thuận, ngoài bánh xèo, bà có thể làm bánh khọt, bánh bèo... Năm ngoái, khi Festival Lúa gạo tổ chức tại Hậu Giang, bà Mười tiếc rẻ nói: “Phải chi mình làm cuộc liên hoan bánh dân gian thì có biết bao nhiêu loại bánh làm từ bột được trình làng”.
Bột là cuộc đời thứ hai của gạo. Theo dân làng bột Sa Đéc, nổi tiếng nhất miền Nam, ông Tư Khánh là người đã làm sáng danh làng bột. Cho tới nay chưa có ai tìm được bí quyết làm bột của nhà ông Tư Khánh, cha đẻ thương hiệu Bích Chi dù đã nửa thế kỷ tìm kiếm.
Về phần mình, ông Tư Khánh hứa khi nào ông còn sống, bí quyết này vẫn được giấu kín. Đó là cam kết của ông Tư khi truyền nghề cho anh Bùi Hữu Lộc, người được ông đặt niềm tin khi chuyển nhượng cái xưởng nhỏ để tiếp tục “gióng trống, khua chuông” cho làng bột Sa Đéc chứ không riêng gì thương hiệu Bích Chi. “Bột tẻ, nếp không ở đâu tốt hơn Sa Đéc”, ông Ong Vĩnh Tràng (Trí), Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH SXTM XNK Vĩnh Thuận khẳng định như vậy. Rất nhiều người thuộc hàng “U50” ở miền Nam, thời niên thiếu “ghiền” bột gạo lứt độc đáo này.
Nhưng đó là câu chuyện bị vùi sâu trong nửa thế kỷ, một nhân vật bị lãng quên cùng gia tài mồ hôi nước mắt của ông. Năm 1966, gạo lứt Bích Chi ra đời, sau khi vợ ông Trần Khiêm Khánh (Tư Khánh) sinh con đầu lòng - đặt tên Trần Thị Bích Chi. “Lúc đó, nhà khó lắm, sữa mắc không đủ tiền mua cho con bú”, ông Tư nhớ lại. Ông đã chế một máy xay nhỏ làm bột cho con gái đầu lòng và cũng là đứa bé đầu tiên nuôi thử nghiệm bằng bột gạo lứt.
Bé Bích Chi bụ bẫm, nên ông sản xuất tiếp bột gạo lứt và đậu xanh, rồi bột năm thứ đậu: xanh, đỏ, trắng, đen và đậu nành. 4 năm sau, ông đã phân thành dòng sản phẩm gồm ba loại bột: bột ngang (nguyên chất xơ) hiệu Con Cò; một loại nửa ngang nửa lọc (lấy bớt chất xơ) hiệu Thủy Tiên và một loại đặc biệt (tinh bột không chất xơ) hiệu Hồng Nhung.
Sau năm 1975, ông Tư giao gia tài đó theo yêu cầu cải tạo công thương nghiệp. Nhà máy Bích Chi - đã trở thành nhà máy quốc doanh với bốn nhóm sản phẩm: bột dinh dưỡng và bột lọc. Nhưng sản phẩm trọng vọng lại là bánh phồng tôm Sa Giang, bột gạo lứt không người theo đuổi.
Người Sa Đéc nói với nhau rằng: “Đỉnh cao của lúa gạo phải tính sản phẩm sau gạo”, ý nói bột và những loại bánh, thực phẩm từ bột. Cái hay của làng bột là “cứu vớt” số tấm rớt lại khi làm gạo xuất khẩu, nhưng nghiệt ngã của làng bột là giá tấm lên thì bột không theo kịp. Dân trong nghề nói: “Khó nhất của nghề này là sấy”.
Kỹ sư Trần Phước Lộc, người nghĩ ra ý tưởng chế tạo máy sấy làm quà tặng ông Tư Khánh và ông đã hoàn thiện công nghệ tới nay. Tuy nhiên, theo nhiều công ty từng mua hàng của ông, bí quyết nằm ở chỗ chế biến, liên quan tới tỷ lệ gạo phối trộn, ngâm ủ... Bột Sa Đéc không chua, có độ dai, vị ngọt, mềm nhưng không bở. Độ dai có được do một loại nước vò từ đọt cây dâm bụt chứ không hề dùng hàn the.
Ông Tư lui về hưu trí. 4 năm sau, nhà máy được cổ phần hóa. Về nhà, nhìn gạo ông lại nghĩ tới bột, cách mưu sinh của hàng ngàn người. Ông lập ra HTX Châu Long nhưng điều gì đó khiến ông không thể biến mình thành đối thủ cạnh tranh của chính cái nhà máy do mình xây dựng. Ông Tư nhìn nhà mình, các con có người trở thành tiến sĩ, bác sĩ... nhưng cũng từ đó suy ra... ai sẽ theo đuổi nghề làm bột?
Quanh quẩn ông Tư là những người làm bột và những người mua bán. Ông “chấm” Bùi Hữu Lộc, khách hàng cần mẫn đưa bột sang Đài Loan hết năm này tới năm khác. Đài Loan từng ký hợp đồng nhập hàng độc quyền từ Thái Lan. Theo nguyên tắc không được nhập từ nước nào khác. Nhưng trước bột của anh Lộc, họ âm thầm xé rào. “Họ yêu cầu xuất gạo theo lô bột sắn, xuất riết họ đành phải công khai lên tiếng nhập hàng từ Việt Nam. Thực tế nhìn bột của Thái Lan, bột của tôi đẹp hơn”, anh Lộc nói. Sự chuyển giao có một không hai của ông Tư Khánh đã không sai lầm.
Năm nay đã 83 tuổi, ông Tư mỗi tháng ghé qua cơ sở của anh Lộc hỏi thăm, động viên người mà ông tin tưởng trao bí kíp để theo đuổi nghề làm bột. “Sản phẩm đạt chỉ tiêu vi sinh, lý hóa... nhưng đó không phải là gạo lứt. Cũng không phải bột lọc mà làm bột ngang”, anh Lộc giải thích, nhưng vẫn cố tình không lộ bí quyết: “Lấy nguyên xi dưỡng chất trong gạo, chế biến theo công thức của bác Tư, bột sẽ ngon hơn”.
Giá trị chuyển nhượng dây chuyền và nhà máy từ ông Tư Khánh sang anh Lộc để hình thành cơ sở sản xuất bột gạo Lộc Sánh ở Tân Phú Trung, Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp vẫn là ẩn số, có người nói khoảng 40.000 USD, anh Lộc hoàn thiện phần inox...; toàn bộ nhà xưởng lên khoảng 50.000 USD. Riêng anh Lộc, đó là tài sản vô giá. Và, cam kết lớn nhất mà anh và cả ê kíp điều hành nhà máy làm bột của ông Tư ngày xưa là thực hiện ý muốn của ông: Làm sao cho nước ngoài biết giá trị bột Sa Đéc. Công suất nhà máy từ 1 tấn/ngày đã nâng lên gấp 3 lần. Nhiều khi phải tăng ca để thực hiện đơn đặt hàng.
Giới hạn chính là thiết bị đốt than đá, nhiệt độ 400 độ C, kéo dài thời gian đốt nóng liên tục trong 8 giờ, tối đa 15-16 giờ, hơn nữa thiết bị sẽ rụi hết. Hiện nay, công suất nhà máy sấy bột củ mì ở Tây Ninh lớn hơn nhà máy của anh. Nhưng ông chủ nhà máy sấy củ mì là người Đài Loan lại chính là người mua bột của anh... Có vẻ như một phần bí quyết đã hé lộ: Sấy là quan trọng nhất ?
“80% sản lượng bột từ cơ sở Lộc Sánh bán ra thị trường nội địa. Một số làm theo đơn đặt hàng xuất khẩu. Nhưng thật tình thì tôi không có nhiều kinh nghiệm xuất khẩu. Cũng như bác Tư, tôi sẵn sàng hợp tác hoặc ủy thác xuất khẩu nhiều nước nữa” - anh Lộc nói. Hôm ấy, anh Bùi Hữu Lộc vừa ký hợp đồng với Vifon làm 800 tấn bột.
Anh Tuấn, Việt kiều ở Mỹ, người chế tạo máy làm bánh phở, phiên bản thứ 5, giá bán khoảng 100.000 USD/máy, mừng khi thấy bột làm bánh phở, nói: “Về Mỹ hoàn thiện phiên bản máy lần thứ 6 là tôi yên tâm tung ra thị trường. Không có người làm bột thì ai thèm mua máy làm bánh phở chứ ?”.
Bà Mười Xiềm kể hồi qua Mỹ mang theo cối đá. Xay bột tối ngày, có mấy đứa nhỏ người Việt hỏi: “Hồi chưa có máy móc, ông bà xay bột như thế này để làm bánh hả bà ?”. Bà Mười kể lại: “Còn người già ăn cái bánh xèo, nhìn tôi xay bột, nhiều người cỡ tuổi tui nói: “Sao mà tui nhớ nhà quá đỗi”. Nhưng nhiều người đã quá già, khó trở lại quê hương, phải tìm cách đem món ngon tới cho họ chứ. Còn lớp trẻ nữa... phải được thưởng thức món ngon xứ mình”.
Ngày Tết, nhà dưới quê hay gói bánh, khi thì bột tẻ, lúc bột nếp bày ra trên đệm. Mẹ tôi xem đó là dịp để truyền nghề cho con cháu. Khi đã hết nhân chỉ còn bột, mẹ tôi cho vào khuôn rắc mè rồi phơi ngoài nắng. Dù chỉ có bột mà thôi, nhưng đó là chiếc bánh Tổ.
http://www.agromonitor.vn/tin-tuc/5/3726/CUOC-DOI-THU-HAI-CUA----GAO


















