Posts tagged with "Nhàn đàm"
Tuesday, 19. December 2006, 00:16:44
Nhàn đàm
Từng có thời thành phố Pleiku đầy thông. Thời ấy cũng chưa xa là bao. Cách đây khoảng 22, 23 năm vào 1981, lần đầu tiên tôi đặt những bước chân rụt rè lên thành phố nhỏ cao nguyên. Nói rụt rè bởi thành phố này với tôi cực kỳ bí ẩn.
Trước hết là từ sự mê hoặc của bài hát Còn chút gì để nhớ. Sau đó là choáng ngợp trước bung biêng dốc trong thành phố và ngờm ngợp quỳ vàng giữa nhấp nhô bazan ngoại ô. Những con dốc thấp cao như những nhát cắt bất ngờ làm phố mềm đi, mơ hồ như sương như khói, như lạ như quen xiết bao quyến rũ. Lạ thế, tôi theo hút một bóng áo dài trắng dập dờn trên đường Lê Lợi trữ tình. Tà áo phất vào chiều cao nguyên như một lời mời gọi, lại như một thách thức đầy bí ẩn, dù tôi lên đây từ xứ sở của áo dài: xứ Huế. Thế mà cái mỏng manh, dịu dàng thẫn thờ đến se lòng kia sao lại khiến tôi bồi hồi đến thế? Sau tôi phát hiện ra: nó tiệp màu, tiệp sắc và tiệp cảnh, tiệp tình biết bao với những thảm thông trong thành phố. Nhiều khi sự đối xứng lại từ những điều trái ngược: mỏng manh, thanh thoát, tinh khôi đối xứng với cổ thụ xù xì khô ráp… Ấy vậy mà hài hòa, tôn nhau lên để mà rực rỡ, lung linh, mà thăng hoa, mà trường tồn. Cũng như đất và người Tây Nguyên vậy. Ở lâu với Tây Nguyên sẽ nhận thấy các mặt đối lập trong một chỉnh thể, để mà tồn tại một Tây Nguyên khát khao vươn tới, một Tây Nguyên bản sắc trong hòa nhập, một Tây Nguyên tự tin điềm tĩnh, một Tây Nguyên với nền văn hóa đậm đặc truyền thống nhưng cũng rất hiện đại và nhân văn. Sức mạnh Tây Nguyên như mái nhà rông sừng sững, uy vũ mà mềm mại, cứng cáp mà trữ tình, bền vững trong thời gian mà cũng rưng rưng khoảnh khắc…
Ngay trong cây thông cổ thụ, nó cũng có những đối xứng rất kỳ lạ. Ấy là cái vẻ mốc meo xù xì vững chãi to lớn của gốc rễ đối xứng với cái mơn mởn xanh đến non tơ, cái nhỏ nhoi đến yếu ớt của cành lá. Ăm ắp những nỗi niềm từ tà áo dài phơ phất tưởng như ngẫu nhiên thoáng gặp ấy. Có thời người ta mang áo dài ra sửa thàn háo cụt, người ta cuốc hè đường lên trồng rau nuôi lợn, chỗ đất trống nào cũng trở thành giàn su su, thành trại chăn nuôi… nhưng thông thì vẫn còn. Thông mơn mớt xanh. Thông trầm mặc gió. Và thông hát những khúc ca của riêng mình, thông che chở cho bao mối tình non tơ thánh thiện…
Bây giờ thì thông trở thành của hiếm.
Thành phố chơ vơ với trứng cá, với bằng lăng, với bàng, mà gió, mà bụi, mà chang chang nắng. Thông trở thành hoài niệm của một thời. Ấy thế nên một thi sĩ đã thốt lên câu "Thành phố một thời thông" để mà tiếc nuối… Và cũng chỉ thế mà thôi. Biết đến bao giờ hàng cây nghìn thông cổ thụ mới lại trầm tư tỏa bóng xuống thành phố này như một huyền thoại Tây Nguyên. Thành phố bây giờ được xây dựng to lớn hơn, hiện đại hơn là điều không thể phủ nhận. Song vì thế mà càng gợi nhớ một thời thành phố ngàn thông…
Tây Nguyên, tháng của thông và gió
Văn Công Hùng
Monday, 18. December 2006, 14:07:59
Nhàn đàm
Quán cà phê vỉa hè là nơi tụ tập những con người tứ xứ, những số phận nhiều khi quá khác biệt. Đó là người đạp xe thồ, xích lô - loại công việc ở các đô thị mà các nhà kinh tế bảo là thành phần kinh tế phi cơ cấu, là học sinh sinh viên, văn nghệ sĩ, trí thức và công chức. Có người cả đời lận đận, chạy ăn từng bữa mướt mồ hôi, có người may mắn thành đạt có bát ăn bát để, ngồi giữa đám đông để tìm chút cảm giác đồng loại hay chỉ đơn giản là một thói quen sinh hoạt còn sót lại của thời đi học.
Có quán mọc lên như để làm điểm hẹn hò của một đám đông nào đó. Bao nhiêu năm tháng cũng chỉ chừng ấy gương mặt, ngồi chừng ấy chỗ ngồi. Thỉnh thoảng có người mất đi, chỗ ngồi cũ ấy lại có một người khác trẻ hơn thế vào.
Nhiều năm ngồi ở quán cà phê vỉa hè, tôi thấy trong đám đông xa lạ mà quen thuộc có mình ấy thường vẫn làm bốn việc: nói, nghe, nhìn và im lặng. Những câu chuyện ở quán cà phê vỉa hè là một thứ tạp nham thượng vàng hạ cám. Nhưng khi cố gắng chắp nối những sự vô nghĩa và có nghĩa đó lại thì có thể hình dung rất rõ bức tranh cuộc đời của nhiều người. Có buồn vui, có hạnh phúc và bất hạnh; có tiếng cười vô tư và có cả những tiếng thở dài não ruột. Do tính cách, có người ngồi ở quán cà phê vỉa hè chỉ để nói những điều tầm thường, phê phán, khích bác, chỉ trích... dù tầm thường là vậy nhưng nó cũng có cái gì đó tất yếu của cuộc đời là sự thất nghiệp, hoàn cảnh sống éo le, và cả những nỗi buồn riêng không ai hay biết... Vì vậy mà không nên tranh luận, chỉ nên nhìn mà cười để độ lượng với người, nhưng thực ra là để độ lượng với mình. Nếu lớp trẻ đến quán cà phê vỉa hè như để đi tìm một đường chân trời khát vọng thì những người có tuổi thường làm một cuộc trở lại với ngày xưa nào đó, họ chiêm nghiệm, soi rọi lại cuộc đời mình. Nhiều ý tưởng hay, mới và lạ có gốc gác từ những vỉa hè cà phê.
Sau nói là nghe. Ở quán cà phê vỉa hè người nghe thường nhiều hơn người nói. Bởi nhiều người sống những gì cần nói họ đã nói hết. Đó là những người từng trải, đã tri thiên mệnh, thấy rõ cái đoạn cuối của cuộc đời, vì vậy tịnh khẩu là sống theo một cách khác sâu sắc và thâm trầm hơn nhiều. Có người thật sự lắng nghe, có người có vẻ đang gật gù nghe dù thực ra họ chẳng nghe gì cả. Tôi thuộc type người thứ hai, rất thích cái không khí vỉa hè nhưng không nghe và nhớ nhiều lắm.
Ngồi ở quán cà phê vỉa hè cũng tha hồ mà ngắm nhìn, rất nhiều gương mặt lạ và quen đi qua. Nhìn dáng đi, màu tóc, gương mặt, quần áo rồi đoán thử gương mặt ấy buồn hay vui, bước chân ấy đang đi về đâu, ngày hôm nay người ấy làm gì... Có rất nhiều cuộc đời đi qua và ở chung quanh mình mà mình thấy hững hờ, mờ nhạt nhưng chỉ đến khi trong một tình huống bất chợt nào đó, cái mờ nhạt ấy lóe ra cả một đời sống nội tâm dữ dội được tích cóp bằng cả một đời người. Không phải sự ồn ào nào cũng cạn cợt, cũng như không phải sự im lặng nào cũng sâu sắc, nhưng những người sâu sắc vẫn thường im lặng. Và đây là cái cách hành động của một số ít người khi uống cà phê vỉa hè. Một sự im lặng có chủ đích, nó như cái cách mà nhà chùa tịnh ngôn để hàm dưỡng chân khí, im lặng như một lời hứa rằng sẽ nói nhưng không phải là vào lúc này và sẽ nói những điều hay, lẽ phải tốt đẹp hơn. Cái ý thức về sự im lặng là khả năng biết rõ mình biết nhẫn nhục và biết hy vọng. Bằng chứng là những người trẻ, người thành đạt vẫn nói nhiều hơn những người có tuổi, người từng thất bại. Có lẽ là những người trẻ, người thành đạt ít có dịp ngắm bản thân mình giả hoặc có ngắm mà lơ đễnh không thấy thật rõ mình. Rồi cuộc sống khắc nghiệt sẽ làm những người ấy ít nói dần.
Khó có thể nói số phận của một con người qua ly cà phê buổi sáng ở vỉa hè nhưng ngồi ở đó, nhiều người có sức lực mà đi tiếp, làm tiếp những gì còn dở dang của một ngày. Để hôm sau, trong sương mù lại có mặt buồn vui cùng hè phố, lại nói, nghe, ngắm nhìn hoặc im lặng... soi bóng đời sống, nội tâm của chính mình vào đáy chiếc cốc đời lặng lẽ.
Nguyễn Xuân Hoàng
Monday, 18. December 2006, 14:07:01
Nhàn đàm
Lâu nay, nhiều người trong chúng ta đã quen tai với cách nói “bị Tào Tháo rượt”. Đúng ra, Tào Tháo không rượt ai cả, chỉ có ông ta bị Quan Vân Trường đuổi chạy xất bất, xang bang mà thôi. Tháo phải ba lần đổi áo, hai lần cắt râu, cuối cùng mới thoát nạn. Vậy, hình tượng hóa cho đúng thì phải nói là “chạy lẹ như Tào Tháo” vì không chạy lẹ thì chắc chắn sẽ sinh ra lắm chuyện lôi thôi! Một thói quen khác của nhiều người khi nói chuyện, hội thảo là hay dùng cách tách sự việc ra bằng lối “nói chung” và “nói riêng”. Buồn cười là có nhiều người, mới vào chuyện, đã “nói chung” ngay mà chờ mãi vẫn không nghe thấy “nói riêng” đâu cả. Bây giờ thử vừa nhàn vừa đàm về vài cách dùng “chữ” để nói như:
Trình độ: Chữ này có nghĩa là bước đường đã đi qua, chỉ rõ mức độ hiểu biết nói chung, chuyên môn nói riêng cao hay thấp. Ví dụ: trình độ văn hóa, trình độ đại học... nó là danh từ. Nếu ta nói: Anh ấy đàn hát rất trình độ là nói sai. Nói: trình độ ca nhạc của anh ấy đạt đến hàng siêu đẳng thì nghe mới lọt.
Cứu cánh là mục đích sau cùng mà ta nhắm đến. Từ này thường có từ phương tiện đi kèm: cứu cánh biện minh cho phương tiện (dùng phương tiện gì cũng được, miễn là đạt được mục đích cuối cùng) có lẽ vì có từ tố “cứu” mà nhiều người tưởng cứu cánh là cứu rỗi, cứu giúp nên đã dùng theo nghĩa này không đúng.
Chất lượng là phẩm chất, giá trị của một con người, một đồ vật hay sự việc (đảm bảo chất lượng, gia tăng chất lượng). Phân bón mà có đảm bảo chất lượng tức là phân bón đó không phải là phân giả, bón cây thì cây tốt, sai hoa, kết quả, trọng lượng của phân thì cân đúng 50 cân y như con số đề ở bao bì. Nếu ta nói: anh ấy làm việc rất chất lượng thì tạm thời cũng có thể hiểu là anh ấy làm việc tốt, nhưng nói thế e không ổn, chưa đủ vì còn phải kiểm tra xem chất ra sao và lượng ra sao.
Khẩn trương là tính cách gấp rút của một công việc, phải tăng thêm sức người, sức của và thời gian để hoàn thành nhanh chóng: tình hình khẩn trương, những yêu cầu khẩn trương của vụ mùa... Về chính trị, tình trạng khẩn trương do Tổng thống một nước ban bố là việc quan trọng, sẽ có thiết quân luật, báo chí có thể bị kiểm duyệt, biên giới đóng cửa, một số quyền tự do công dân có thể tạm thời hạn chế. Từ khẩn trương là để dùng với những việc quan trọng như: khẩn trương chống bão, cứu lụt, khẩn trương cứu người bị nạn. Nếu ta nói “tắm khẩn trương” hay “ăn khẩn trương lên”thì ta đã dùng một từ quan trọng cho một việc quá bình thường, đáng lẽ chỉ cần dùng chữ lẹ lên, nhanh lên cũng đủ.
Tồn tại có nghĩa là còn lại, chưa mất đi. Không hiểu người ta dùng như thế nào mà bây giờ tồn tại lại đồng nghĩa với những gì xấu xa, yếu kém, tiêu cực, lạc hậu... đâu phải cái gì còn lại cũng đều xấu cả đâu!
Gần đây, có người phàn nàn trên báo chí rằng các nhà hàng ăn ở Hà Nội đã gọi kem cốc là kem ly, cơm rán thành cơm chiên, công ty gạch hoa thì gọi là công ty gạch bông, thiếp mời sửa thành thiệp mời và cho đó là phá hoại sự chuẩn mực từ ngữ của thủ đô, “lợn lành chữa thành lợn què”! Chúng tôi nghĩ rằng kem ly hay kem cốc thì cũng là kem; bông hay hoa thì cũng có khác gì nhau đâu!
Thống nhất rồi, hằng ngày có hàng ngàn người từ Nam ra Bắc và ngược lại, để du lịch, làm ăn, sinh sống. Các nhà hàng có đổi kem cốc thành kem ly, cơm chiên thay cho cơm rán cũng là một cách tiếp thị mà thôi. Đây cũng là dịp tốt để chúng ta học thêm nhiều phương ngữ. Cách đây hơn nửa thế kỷ, các bậc hiện là cha chú bây giờ ở Trung và Nam đều đã học Quốc văn giáo khoa thư của Nha Học chính Bắc Kỳ phát hành, do các cụ Trần Trọng Kim và Đỗ Thận soạn, trong đó có bài hai học sinh hỏi nhau:
- Anh đi đâu đấy?
- Tôi đi học đây.
- Ồ, thế à!
Chẳng thấy ai phàn nàn gì cả. Ai cũng hiểu được: đi đâu đấy là “đi đâu đó” hay “đi đâu vậy”. “Ồ, thế à!” là “Vậy hả!”. Tiếng Việt chúng ta vốn giàu có kia mà, biết thêm một từ đồng nghĩa là một chuyện thú vị, cớ sao lại phàn nàn! Còn “lợn lành hay lợn què”? Điều đó e phải xem lại! Hoa là từ Hán, bông là từ thuần Việt (bông, bồn bông, bình bông, lý cây bông, trồng bông, trổ bông, đơm bông...”. Thay một từ Hán bằng một từ thuần Việt không lẽ đó lại là chữa một con lợn lành thành một con lợn què hay sao?
Monday, 18. December 2006, 14:04:27
Nhàn đàm
Cái vòi nước công cộng nằm ngay cạnh sông Tô Lịch. Chiều chiều người ta ra đây lấy nước, chai lọ thùng can lỉnh kỉnh và tấp nập. Những bà mẹ tắm cho con nhỏ, những cô gái gội đầu, những chàng trai dội nước ào ào, những bà nội trợ vo gạo rửa rau... Họ khiến cái vòi nước công cộng trở nên vui như một bến nước ở làng quê nào thuở xa xưa, cũng khiến người ta nhớ đến những vòi nước tập thể thời bao cấp.
Cái bến nước thấp hơn mặt đất và mặt nước sông Tô, tất nhiên, nó chênh vênh. Sông Tô Lịch nước đen ngòm, chảy lừ lừ và đầy rác rến. Người ta làm mọi viêc quanh cái vòi nước nhỏ, mà không hề để ý đến con sông. Hay cái gì chịu lâu rồi cũng thành quen ? Mà sao họ cứ phải ra đây ?
Ra đây lấy nước là những người nghèo. Những chiếc xe đạp cà tàng chở nước. Những dáng đi xiêu vẹo khi xách hai can nước hai mươi lít. Và chỉ cần nghe giọng nói của họ cũng có thể biết họ rời một vùng quê nào đó chưa lâu, mộc mạc như đất.
Họ ở trong những căn nhà gần cái vòi nước. Gọi là những túp lều thì đúng hơn. Những túp lều lúp xúp, ghép bằng đủ thứ vật liệu: sắt tấm, cửa gỗ, nylon mảnh... chúng xiêu vẹo, xộc xệch, méo mó, cái này dựa vào cái kia. Có cảm giác rằng, chỉ cần một cái đổ thì tất cả cũng sẽ sụp theo. Trông chúng giống như những cái hầm tối. Những ngày mưa thì nước chảy từ trên mái xuống, và chảy từ ngoài vào nền. Với nhiều người ở đây, chúng chỉ là nơi để ngủ, song cái nơi để ngủ ấy nhiều khi cũng không bình yên...
Tất nhiên họ không thể có vòi nước máy trong nhà. Tất nhiên họ cũng không thể có bếp gas. Bên bờ sông Tô, chiều chiều, bên con đường nhỏ đầy cát và sỏi, và tối, lại bập bùng những cái bếp củi, như một vùng quê nào xa xôi. Và cũng có những đống củi chất cạnh lều...
Bà lão sống một mình ở cuối xóm, bán nước chè và thuốc lào, bảo tôi rằng: Họ không cần nhà, vì cả ngày làm việc nặng nhọc, tối về chỉ nấu cơm rồi đi ngủ, mà muốn cũng không có tiền mà xây, mà nếu có tiền cũng không thể xây, vì những người sống quanh đây, không ai không cư trú bất hợp pháp...
Và tôi, một sinh viên nghèo mới lên Hà Nội, chiều chiều thường từ nhà trọ mang can ra lấy nước ở cái vòi nước công cộng, vì nhà trọ chỉ có nước giếng khoan. Nếu không đi lấy nước, chẳng bao giờ tôi rẽ vào con đường đầy cát sỏi dẫn ra bờ sông, chẳng bao giờ tôi nghĩ ở đây có những mái lều, có một bến nước, có những bếp củi ngoài trời như thế.
Nếu như bạn có hỏi cái xóm nghèo cạnh bến nước ấy ở đâu, tôi cũng không muốn nói cùng bạn. Vì tôi sợ, biết đâu những người chưa bao giờ biết cái xóm nghèo ấy, họ lại chẳng đòi giải tỏa để Hà Nội đẹp hơn? Tôi không hề mong có những xóm nghèo như thế trong lòng Hà Nội, nhưng họ sẽ về đâu, khi người ta làm như vậy ? Nên tôi sẽ chỉ nói rằng: nó ở cạnh một cái bến nước cạnh sông Tô Lịch, bên kia là đường Láng rộng và đẹp, xa hơn là đường Láng Hạ, đường Nguyễn Trãi thênh thang, là Ngã Tư Sở sầm uất. Và sáng trưng ánh đèn...
Hà Thế Lực
Monday, 18. December 2006, 14:03:34
Nhàn đàm
Trầm là một thứ cây quý, khi được đốt lên tỏa ra hương thơm ngào ngạt. Trầm chỉ mọc nơi thâm sơn cùng cốc nên ngày xưa người ta phải ngậm ngải tìm trầm. Ngày nay ngành hóa sinh tiến bộ, đã tổng hợp được hương liệu trầm.
Buổi sáng đi tập thể dục ở bến Nhà Rồng về, đi ngang các shop bán đồ mỹ nghệ ở đường Đồng Khởi, Lê Lợi lại cảm được mùi nhang trầm thoang thoảng. Người ta đốt nhang trầm để cầu một ngày mua may bán đắt. Trước kia cha tôi ngoài nghề kế toán để nuôi sống gia đình, ông còn là một nhà thơ. Cha tôi thường thức dậy lúc nửa khuya để sống với những vần thơ huyền ảo. Mẹ tôi chăm sóc chồng bằng cách đốt cho ông một khoanh nhang muỗi hương trầm nhập từ Hồng Kông. Tôi ngủ với cha nên hương trầm đã đi vào giấc ngủ tuổi thơ tôi và hình ảnh cha ngồi trầm tư ở bàn viết dưới ánh đèn vàng đã in đậm trong trí óc non nớt của tôi. Hình ảnh đó có một vẻ lung linh huyền ảo rất đẹp nên từ những ngày ấy tôi đã nguyện lòng lớn lên cũng sẽ ngồi viết như vậy giống cha tôi. Tôi không biết hương trầm có giúp cha tôi làm thơ được dễ dàng hơn hay nó có giúp thơ của cha tôi hay hơn không? Nhưng dường như hương trầm làm cho tinh thần ta thanh thản nhẹ nhàng, khiến hồn ta dễ bay lên chìm đắm vào ảo mộng. Những giấc ngủ ngào ngạt hương trầm của tôi thuở ấy luôn đầy mộng đẹp. Khi còn nhỏ, tôi mơ thấy được mẹ dắt cho đi ăn một món mà tôi khoái khẩu, tôi mơ thấy được cô giáo ôm vào lòng và tôi ngửi được mùi hương rất thơm từ cô. Lớn một chút tôi mơ thấy cùng nhỏ bạn chung lớp đi vào rừng và tôi "mi" nhỏ hay mơ thấy tôi là chú rể trong một đám cưới linh đình mà cô dâu là nhỏ hàng xóm nhà bên.
Dường như người viết lách nào cũng muốn tên in trên bìa sách và lưu truyền lại cho đời sau. Cha tôi bỏ ra một số tiền lớn tự in cuốn sử thi của ông. Tôi vẫn lén mẹ đốt nhang trầm cho ông khi hai cha con rút vào phòng. Quyển sử thi của ông được đưa vào chương trình giảng dạy cho sinh viên văn khoa nhưng tiền bán sách chẳng thu về được bao nhiêu. Mẹ tôi bực bội, sanh sự nhiều hơn. Đó cũng là điều tự nhiên dễ hiểu. Phụ nữ mà, có ai chịu được khi họ đứng sau một nỗi đam mê gì đó trong lòng chồng.
Cha tôi bị tai biến mạch máu não, hôn mê rồi chết. Mẹ tôi lại đốt nhang trầm, cắm lên bàn thờ. Bà ngồi trong bóng tối như mong những làn khói hương trầm sẽ đưa những lời trò chuyện thì thầm của bà đến với cha tôi. Tôi nhiễm thói quen này của bà từ đó. Tôi thường đốt nhang trầm, ngồi trong bóng tối, nghĩ đến cha tôi và tâm sự, trò chuyện với ông về mọi buồn vui trong cuộc sống. Những giây phút ấy, tôi cảm thấy dường như cha vẫn còn rất gần gũi, như cha vẫn còn quanh quẩn bên tôi. Những lúc gặp khó khăn, sau khi ngồi lắng tinh thần với hương trầm và tập trung tư tưởng, tôi luôn cảm thấy đầu óc sáng suốt ra và dễ dàng tìm ra cách giải quyết cho vấn nạn của tôi hơn. Dòng đời run rủi, tôi cũng đã dấn thân vào nghiệp viết lách như cha tôi ngày ấy. Rút kinh nghiệm của ông, tôi đặt nỗi đam mê viết lách dưới hạnh phúc gia đình. Tôi sẵn sàng dừng một bài viết dở để đi chơi với vợ con. Tôi dồn tiền cho con học đại học chứ không tự in sách truyện của tôi.
Con người khi chết sẽ trở thành cát bụi. Sự nghiệp, công danh có lừng lẫy cũng sẽ thành hư không như khói nhang sẽ tan loãng, như hương trầm sẽ phôi pha. Tôi đã nhận ra điều đó sau nhiều lần tĩnh tâm với hương trầm. Đối với tôi chỉ có một điều quan trọng là sự bình an trong tâm hồn, chỉ có một việc quan trọng là chia sẻ sự bình an cho mọi người như lời cha tôi dạy ngày xưa. Mỗi đêm đốt hương trầm, ngồi vào bàn viết tôi lại nhớ đến cha tôi. Tôi cũng là người vô thần, nhưng mỗi lúc nghe tin bão khẩn cấp, tôi lại ước ao có một đấng thiêng liêng nào đó đón nhận lời cầu nguyện của tôi đang theo mùi hương trầm đưa đến…
Yên Định
Monday, 18. December 2006, 13:56:05
Nhàn đàm
Có một mùa hè mà tất cả những người Việt Nam dù Nam hay Bắc đều không thể nào quên: mùa hè 1972 ở Quảng Trị, bỏng rát những vết thương chiến tranh. So với Mùa hè đỏ lửa của Phan Nhật Nam, Một thời hoa lửa bổ sung cái nhìn cận cảnh về sự khốc liệt của chiến tranh từ một góc độ khác. Rất đông những người lính lên đường mùa hè 1972 ấy là những thanh niên ưu tú từ 30 trường đại học - cao đẳng của Hà Nội: gần 10.000 sinh viên và cả giảng viên trẻ.
"Qua hết sông, cô giao liên mới nói: "Đây là sông Bến Hải. Từ giờ trở đi, các anh đã đặt chân lên đất miền Nam". Sững người vì câu nói đó chúng tôi quay ngay lại dòng sông: thằng thì trầm mình, thằng thì vục mặt vào dòng nước mát lạnh đó, có thằng quỳ sụp dưới nước đầu hướng về bờ bắc vái lấy vái để... Sông Thạch Hãn đây rồi ! Chúng tôi vừa nhảy xuống những đoạn hào dọc theo sông thì chớp lóe ngay trên đầu, không hề nghe thấy tiếng nổ nhưng lồng ngực muốn vỡ ra... Mặt đất dưới chân rung chuyển, vách hào nơi chúng tôi phủ phục ép lại đẩy chúng tôi lên, khói đen, bụi đất che phủ hết thảy. Lần đầu tiên tôi biết thế nào là B52 dội trúng đội hình...". Đó là ký ức của Lê Xuân Tường, sinh viên (SV) Đại học( ĐH) Xây dựng, chiến sĩ sư đoàn 325, ngày đầu tiên ở chiến trường. "Bộ đội ta dùng ni lông cho tất cả ba lô vào buộc chặt lại làm phao, súng cho lên trên. Các chiến sĩ ta chỉ mặc quần đùi bơi sang sông để tiếp tục cầm súng bổ sung. Có những đồng chí chưa bơi qua được sông thì hy sinh. Đồng chí trẻ đi với tôi, tâm sự chuyện quê hương với tôi, lúc bơi đến giữa dòng sông bị trúng đạn, chỉ kịp kêu "Mẹ ơi mẹ, cứu con!" rồi bị trôi theo dòng nước..." (Lời kể của chiến sĩ thông tin Đồng Mạnh Mức). "Gọi là tiểu đoàn nhưng cũng chỉ bằng một đại đội, mỗi lần bổ sung giỏi lắm được 100 người. Tiểu đoàn có mươi tay súng thì toàn cán bộ đại đội trở lên... Có khi vào một tháng đã làm đại đội trưởng vì anh em hy sinh hết cả" (Nguyễn Đức Minh, SV luyện kim, ĐH Bách khoa, chiến sĩ SĐ 325).
"Quân số trong thành thực ra chưa bao giờ vượt quá con số 2.000, hy sinh thương vong lại bổ sung vào, chọi với hàng vạn địch... Khi anh em đến bờ sông Thạch Hãn, yêu cầu họ cởi quần áo ra, lội qua sông sang thị xã đánh nhau. Khi ấy ở bên này thị xã hai bên bom đạn kịch liệt, lúc nào cũng khói mịt mù. Trông sang thấy cảnh tàn phá như thế, thì việc anh em sẵn sàng nhảy xuống qua sông để sang chiến đấu, dù có khi không biết bơi phải bám bè chuối hay phao túi ni lông mà qua, chứng tỏ tinh thần của anh em đã được quán triệt cao độ..." (Đại tá Nguyễn Hải Như, tham mưu trưởng trung đoàn 48 SĐ 320B).
Vì sao các cựu chiến binh lại nói nhiều về hy sinh, mất mát? Bởi đây là cuộc trò chuyện giữa hai thế hệ, hai thời đại: những người đã kinh qua cái chết nói với những người sinh ra trong hòa bình, không thể hình dung hết những gì từng xảy ra trên đất nước, cho dân tộc mình. Mỗi ngày phải hứng chịu một vạn rưỡi quả pháo, mỗi trận pháo kéo dài hơn 4 giờ, mỗi phút 48 quả, chưa kể B52, họ ý thức rõ điều gì có thể đến với mình. Ngày 1.9.1972, Lê Văn Huỳnh, sinh viên ĐH Xây dựng đã viết sẵn một lá thư, gửi cho vợ, mẹ và anh chị, để nói về cái chết của chính mình. An ủi mọi người về nỗi đau mà mình để lại, anh còn tỉ mỉ chỉ đường và dặn dò "khi hòa bình, có điều kiện vào Nam lấy hài cốt anh về". Anh hy sinh ngày 2.1.1973, và phải đến 2002 mới đưa được hài cốt anh về Thái Bình.
Điều vẫn đau đáu trong lòng những người lính cho đến tận ngày nay chính là sự hy sinh của đồng đội: "Đêm 13.9.1972, hai gã lính trinh sát chúng tôi được lệnh ngụy trang tìm cách vượt qua sông lấy tin. Lên được bờ, chui xuống hai tầng hầm sâu, chúng tôi gặp được ban chỉ huy trung đoàn bảo vệ thị xã. Dưới hai tầng hầm sâu là những căn hầm nhỏ. Xung quanh tôi la liệt thương binh không đưa được qua sông. Đây là đêm cuối cùng chúng tôi qua được thành, có những giây phút thiêng liêng với những người lính cuối cùng sống chết cùng thành cổ..."( Hồ Tú Bảo, SV Toán ĐH Sư phạm 2, SĐ 325). Khi chiếm được thành cổ, quân đội Sài Gòn đã cho bơm nước vào tất cả hầm ngầm.
Thành cổ Đinh Công Tráng được xây từ năm 1823, chu vi 2.160 mét, tường thành cao 4 mét, dày đến 12 mét, sau 81 ngày đêm chỉ còn là đống gạch vụn, với hơn một vạn liệt sĩ đã gởi tuổi trẻ mình lại đó... Những sự thật chiến tranh này, dù đau đớn đến mấy, vẫn phải được công bố, để có thể an ủi những người đã ngã xuống. Sự hy sinh của họ không vô ích. Hòa bình đã đến, đất nước đã thống nhất, và những thế hệ sau đã không phải đánh mất tuổi thanh xuân cho chiến tranh, như họ.
Monday, 18. December 2006, 13:51:54
Nhàn đàm
Thật thú vị khi trong lòng thành phố chật chội người, ngược xuôi ken dày xe cộ, đã có những quán trà được mở ra. Dù hãy còn quá ít ỏi so với hằng hà sa số các quán nhậu ì xèo, thì mấy quán trà kia cũng là một dấu hiệu đáng mừng về một loại văn hóa thưởng thức cuộc sống - văn hóa ẩm thực.
Chủ nhật nhàn hạ, nhóm bạn chúng tôi rủ nhau đi uống trà. Không gian yên tĩnh, những tách trà tỏa nhè nhẹ hương thơm thanh khiết, chỉ mới hít vào thôi mà đã nghe tâm hồn thư thái. Tôi chợt phát hiện, hình như nét mặt ai cũng toát lên vẻ bình yên khi ngồi bên tách trà! Người ta nói chuyện với nhau nhỏ nhẹ. Người ta nhìn nhau bằng ánh mắt ấm áp thân thiện, hiền lành.
Cuộc trà đàm bữa nay tập trung ở PMU 18 đang nóng hôi hổi. Khuôn mặt mỗi người chúng tôi bỗng trở nên nặng nề. Có bạn phát biểu: "Tôi là người hình như khá giàu óc tưởng tượng, nhưng những chuyện quái đản kia quả thật ngoài sức tưởng tượng của tôi...". Có tiếng thở ngắn thở dài...
Rồi không hiểu sao tự dưng tôi chợt nhớ lại một chuyện đã xa. Thế là tôi đem ra cùng nhàn đàm với mọi người:
Cách đây hai mươi năm (những năm tám mươi, kinh tế cả nước hết sức khó khăn, riêng đội ngũ thầy cô giáo thì được nổi tiếng là... nghèo), tôi đang theo học lớp đại học tại chức. Buổi học cuối cùng lớp toán của tôi kết thúc sớm, tôi đi dạo lòng vòng trong sân trường, đợi mấy người bạn cùng về. Thấy lớp văn đang tổng kết, tôi nổi hứng tới coi. Lời thầy vang ra, rõ mồn một. Nghe hay quá! Tôi bèn xin phép vào. Trên bục giảng, một vị giáo sư đã có tuổi, dáng gầy gầy, phong thái đĩnh đạc, đôi mắt hiền từ sau cặp kính, giọng truyền cảm, đang dặn dò các đồng nghiệp nhỏ trước lúc thầy trò chia tay nhau. Lòng tôi dạt dào cảm xúc khi được thầy gửi gắm nhắn nhủ tình yêu nghề, yêu người, yêu cuộc đời, trách nhiệm trước thế hệ tương lai...
Thầy dứt lời. Cả lớp vỗ tay. Chị trưởng lớp lên cám ơn, chúc sức khỏe và trao tặng thầy gói quà được bọc giấy hoa rực rỡ. Thầy trân trọng giơ cao món quà, cười vui vẻ: "Chắc là vải, phải không?". Đặt món quà xuống bàn một cách cẩn trọng, thầy bước ra trước lớp, nói rất dịu dàng: "Nghề giáo của chúng ta đã nghèo lắm rồi. Vậy chúng ta không nên làm nghèo nhau thêm nữa. Hãy cố gắng cùng làm giàu tâm hồn cho nhau...".
Thầy dừng lại hồi lâu trong vẻ suy tư. Cả lớp im phăng phắc. Rồi thầy đưa tay vuốt mấy sợi tóc bạc trên vầng trán rộng, nói tiếp, giọng ấm áp chân tình, rằng thầy già rồi, mặc như thế này là đủ rồi. Ở bên dưới vẫn còn nhiều người trẻ cần món quà này hơn thầy. Cho thầy được gửi lại. Thầy rất cám ơn tấm lòng của mọi người, nhưng thầy không nỡ nào nhận và không thể nào nhận... Thầy xin được nhận món quà khác, món quà ý nghĩa nhất, đẹp nhất, là sau khóa học này, về trường, mỗi người hãy vận dụng thật tốt vào công việc giảng dạy của mình những kiến thức, kinh nghiệm mà thầy đã truyền đạt, và nhất là hãy nhớ những lời dặn dò của thầy.
Ngừng một lát, thầy đưa mắt nhìn bao quát khắp lớp học. Rồi thầy sờ vào chiếc áo sơ mi trắng xem ra đã rất cũ kỹ đang mặc trên người, cười vui vẻ, hóm hỉnh bảo, thầy ăn mặc thế này coi cũng đẹp lắm đấy chứ (cũng xin nhắc là thời ấy, xấp vải quý biết chừng nào)!
Tôi chăm chú ngưỡng mộ cốt cách thanh cao của thầy, say sưa lắng nghe lời dạy của thầy, ngạc nhiên khi cảm thấy mình như vừa được lớn lên, tâm hồn như vừa được thanh lọc.
Có lẽ mẩu chuyện trên chỉ là một chuyện rất nhỏ trong cuộc đời dạy học của thầy, nhưng với tôi, đó quả là câu chuyện rất lớn, một bài học rất lớn để hoàn thiện nhân cách, để làm người. Tôi tin rằng trong lớp văn hôm ấy, nhiều người cũng cùng cảm nghĩ như tôi... Hai mươi năm đã trôi qua và trong phần đời còn lại, lời dạy về món quà trong phút chia tay ngắn ngủi kia hẳn đã giúp nhiều người trong chúng tôi biết nén lòng để gửi trả lại những món quà vật chất đắt giá, nhằm giữ lại cho mình món quà tinh thần vô giá.
Dừng lời, tôi nhấp một ngụm trà. Vị ngọt thơm của trà thấm vào tận từng tế bào. Các bạn tôi cũng đưa tách trà lên môi. Hương trà thanh khiết nhè nhẹ tỏa lan trong bầu không khí trong lành. Nét mặt ai nấy giãn ra, nhẹ nhõm và bình yên.
Monday, 18. December 2006, 13:50:41
Nhàn đàm
Khi còn rất nhỏ, mới năm bảy tháng tuổi, đứa bé thường được bé ngồi trên đùi mẹ. Mẹ nắm hai tay bé chắp lại với nhau, tay kia mẹ đặt sau đầu bé rồi dạy bé chào mọi người. Mẹ vừa "ạ" vừa ấn nhẹ đầu em cúi xuống, mãi cho đến một ngày mỗi lần nghe bảo "Ạ đi con!" là bé tự biết vừa cúi đầu vừa phát ra tiếng "ạ". Mọi người reo lên, ai cũng khen bé ngoan, bé giỏi.
Chưa đầy tuổi, chưa biết gọi ba gọi mẹ, bé đã biết chào, lời chào rất dễ dàng mà lại đem lại rất nhiều tình cảm. Rồi bé đi nhà trẻ, vào mẫu giáo, học cấp một cấp hai, trong gia đình, ngoài xã hội, lời chào là một phép xã giao thông thường không thể thiếu của một con người. Có khi chỉ một cái gật đầu, một nụ cười thay cho lời chào hỏi cũng đem đến niềm vui cho người đối diện, có khi thái độ dửng dưng, lạnh lùng làm cho bao tình cảm tốt đẹp bỗng chốc tiêu tan.
Một lần đang ngồi ăn phở, đối diện tôi là một khuôn mặt quen quen. Vốn không phải là một người hâm mộ thể dục thể hình, tôi lục lọi mãi trong trí mới sực nhớ ra. Tôi huých tay chồng tôi, nói nhỏ: "Phạm Văn Mách kìa anh". Nói thật nhỏ nhưng cũng đủ Phạm Văn Mách nghe được, anh ấy gật đầu chào chúng tôi với nụ cười rất hiền hậu và chân thành. Chỉ có thế nhưng chúng tôi rất vui, về nhà tôi còn khoe với các con mình, tôi có cảm tình hơn với bộ môn thể dục thể hình và có khi còn để ý đến chuyện anh đi thi đấu ở đâu, có được huy chương hay không qua báo chí, truyền hình...
Cũng vậy, một buổi chiều trên đường phố đông đúc, giữa dòng xe chầm chậm nối đuôi nhau, chúng tôi tình cờ chạy song song với nghệ sĩ Trung Dân, thấy chúng tôi nhìn tỏ ý nhận ra anh, anh liền gật đầu chào với nụ cười tươi tắn. Khi vượt qua, anh còn ngoái đầu nhìn và vẫy tay chào tạm biệt. Thú thật trước kia tôi không mấy thích anh vì lối diễn của anh có vẻ mộc mạc, quê mùa quá, lại hơi cường điệu, nhưng sau lần gặp gỡ tình cờ đó tôi bỗng thấy anh diễn có duyên hơn, ấn tượng hơn.
Nhưng không phải ai cũng biết giá trị của phép xã giao thông thường ấy. Có lần tôi đi đám cưới gặp lại người bạn cũ, cô ấy đi với hai cô bé trạc mười lăm, mười bảy thật xinh xắn, tôi hỏi: "Con gái của bạn đấy à, xinh quá nhỉ!". Bà mẹ gật đầu cười xác nhận, vậy mà hai cô bé chẳng gật đầu chào tôi được một tiếng dù hai cô biết tôi là bạn của mẹ mình. Không chỉ là trẻ con mới vô tình như vậy, có một ông nghe đâu là tiến sĩ dọn về ở cạnh nhà tôi khoảng một năm nay. Vốn trọng người học thức cao, đi ngang nhà ông tôi thường liếc nhìn hai tấm bảng mi ca đặt trên bàn viết ngoài phòng khách: TS Nguyễn X và PH.D Nguyễn X. với lòng ngưỡng mộ, mong có dịp được "hân hạnh kính chào". Nhưng suốt một năm trôi qua mà tôi không có được cái may mắn ấy dù hầu như ngày nào cũng gặp mặt nhau, bởi chạm mặt nhau mà lúc nào ông cũng làm như không thấy. Có lần tôi cố tình chào ông trước nhưng ông cứ tỉnh bơ làm tôi sượng trân. Không hiểu ông ấy không biết chào hay tự cho mình cao hơn người khác. Tôi bỗng giật mình sực nhớ đến con mình, những đứa con trai đã ngoài hai mươi tuổi, tôi vẫn thường phải dặn dò chúng cẩn thận như trẻ lên ba: "Gặp ai tụi con phải nhớ chào hỏi cẩn thận nhé, chứ có học hành đỗ đạt tới đâu mà không biết đến phép xã giao thông thường ấy thì cũng bị người khác cho là vô văn hóa đấy".
1 2 Next »
Showing posts 1 -
8 of 14.