Skip navigation.

Nam Mô A Di Đà Phật

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát

Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân



Tôi nghe thế nầy : Một thời Phật ở trong thành Vương Xá, vườn Cấp-Cô-Độc, cây của Kỳ-Đà, cùng các tăng già, có trên hai vạn, linh tám nghìn người, cùng chư Bồ-Tát.
Bấy giờ Thế-Tôn, cùng với Đại-chúng, nhân buổi nhàn du, đi về phía nam, thấy đống xương khô, chất cao như núi, Đức Phật Thế-Tôn, liền xụp lạy ngay, đống xương khô ấy.

Tôi bạch Phật rằng : Lạy Đức Thế-Tôn, ngài ở trên ngôi, chí Tôn, chí Quý, Thầy cả ba cõi, Cha lành bốn loài, thiên thượng nhân gian, thẩy đều tôn kính, sao ngài lại lễ, đống xương khô kia.
Nầy A-Nan ơi! Ngươi tuy xuất-gia, theo ta tu học, trong bấy nhiêu lâu, những sự thấy nghe, đã rộng rãi đâu, đống xương khô ấy, hoặc là ông bà, hay là cha mẹ, thân trước của ta, ngàn muôn ức kiếp, đời đã cách xa, bởi thế ta nay, chí thành kính lễ. Ngươi đem xương này, chia làm hai phần, một là đàn ông, hai là đàn bà, phân biệt cho ta.

Bạch Đức Thế-Tôn, con xem ở đời, phàm là con trai, mang đai hia mũ, ai cũng nhận ra, đấy là Nam giới, những người con gái, hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra đó là con gái. Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt được.
Đây là lời Phật : Này A-Nan con, về bên Nam giới, trong lúc bình sinh, thường thường lui tới, những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên, nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn, là xương nam giới, còn như con gái, trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn bao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình, chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sữa ở trong mình, giảm mất tinh-anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen.
Tôi nghe Phật nói, thương xót vô cùng, như dao cắt ruột; nước mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng :

Lạy đức Thế-Tôn, công ơn cha mẹ, như Non như Bể, thăm thẳm nghìn trùng, lấy gì báo đáp, cúi xin Đức Phật, rủ lòng thương sót, dạy bảo cho hay.
Nầy A-Nan ngươi, về ân đức mẹ, trong vòng mười tháng, đi lại nặng-nề, cưu mang nhọc mệt, khổ không kể xiết.!

- Khi vừa một tháng, ở trong thai mẹ, khác gì hạt sương, dính trên ngọn cỏ, sớm còn tụ đọng, trưa đã tiêu tan, khó lòng giữ được.
- Khi được hai tháng, ở trong thai mẹ, hình như sữa đặc, đã chắc gì đâu.
- Khi được ba tháng, ở trong thai mẹ, ví như cục máu, đông đặc đỏ ngầu, vô tri vô giác.
- Khi được bốn tháng, ở trong thai mẹ, mới dạng hình người.
- Khi được năm tháng, ở trong thai mẹ, mới đủ năm hình, chân tay đầu óc.
- Khi được sáu tháng, ở trong thai mẹ. Sáu căn mới đủ, mắt tai mũi lưỡi, thân hình và ý.
- Khi được bảy tháng, ở trong thai mẹ, mới sinh đầy đủ, ba trăm sáu mươi, những cái đốt xương, cùng là tám vạn, bốn ngàn chân lông.
- Khi được tám tháng, ở trong thai mẹ; phủ tạng mới sinh, ý chí mới đủ, chín khiếu mới thông.
- Khi được chín tháng, ở trong thai mẹ, mới đủ hình người, ngồi trong bụng mẹ, khát uống nguyên khí, không ăn hoa quả, cùng là ngũ cốc, sinh tạng rủ xuống, thục tạng hướng lên, có một giãy núi gồm có ba quả; một là Tu Di, hai là núi nghiệp, ba là núi máu, núi nầy đồng thời, hóa ra dòng máu, rót vào trong miệng.

— Trong thai mẹ, trong vòng mười tháng, trăm phần toàn vẹn, mới đến ngày sinh, nếu là con hiếu, chắp tay thu hình thuận lối mà ra, không đau lòng mẹ, nếu là con bạc, giẫy dụa bãi bơi, khiến đau lòng mẹ; buốt chói từng hồi, như đâm như xỉa, như cấu như cào, như nghìn mũi dao, đâm vào gan ruột, đau đớn vô cùng, nói sao cho xiết, sinh được thân nầy, mừng thay vui thay, yêu thay dấu thay!
Phật bảo A-Nan : Công ơn từ mẫu, gồm có mười điều, phàm kẻ làm con, phải lo báo hiếu. Những gì là mười?

Nhớ ơn Mẹ ta, chín tháng mười ngày, cưu mang nặng nhọc.
Nhớ ơn khi Mẹ sinh nở, đau đớn vô cùng.
Nhớ ơn khi Mẹ sinh nở, quên cả lo âu.
Nhớ ơn Mẹ ăn miếng đắng, Mẹ nhả miếng ngọt, dành dụm cho con.
Nhớ ơn chỗ ướt Mẹ nằm, chỗ ráo sê con.
Nhớ ơn ba năm bú mớm, nuôi nấng thuốc thang, trong khi sài đẹn.
Nhớ ơn giặt dũ hong phơi, áo quần dơ-dáy, ô uế tanh hôi, Mẹ đành cam chịu.
Nhớ ơn khi Mẹ đi đâu, vì thương nhớ con, trong lòng cầy cậy , một chút chẳng ngơi.
Nhớ công ơn Mẹ, vì sinh nuôi con, mà Mẹ cam lòng, tạo bao ác nghiệp.
Nhớ ơn lòng Mẹ thương con, trọn đời yêu dấu không chút nào ngơi.

Đệ Nhất Ân
Chín Tháng Mười Ngày

Cưu Mang Nặng Nhọc
Bao kiếp, duyên cùng nợ;
Ngày nay mới vào thai,
Đầy tháng sinh phủ tạng;
Bảy bảy sáu tinh khai,
Thân trọng như, non Thái,
Động tĩnh, sợ phong-tai,
Áo the, đành sốc sếch,
Gương sáng biếng, trang đài.

Đệ Nhị Ân
Khi Gần Sanh Nở

Khi gần ngày sinh nở
Nặng nhọc, khổ vô cùng,
Cưu mang trong mười tháng
Sinh nở, sắp đến ngày,
Đứng ngồi, coi nặng nhọc;
Dáng vẻ, tựa ngô ngây,
Sợ hãi, lo, cùng lắng;
Tử sinh, giờ phút này!

Đệ Tam Ân
Sinh Nở

Mẹ ta, khi sinh nở,
Thân thể, đều mở toang!
Tâm hồn, như mê mẩn,
Máu me, chan hòa đầy,
Chờ nghe, thấy con khóc;
Lòng Mẹ, mừng rỡ thay!
Đương mừng, lo lại đến!
Rầu rĩ, ruột gan này.

Đệ Tứ Ân
Ăn Đắng Nhả Ngọt

Mẹ ta, lòng thành thực,
Thương con, chẳng chút ngơi,
Nhả ngọt, nào có tiếc!
Ăn đắng nói cùng ai?
Yêu dấu như vàng ngọc.
Nâng niu, tay chẳng rời
Những mong, con no ấm;
Mẹ đói, rách cũng vui,

Đệ Ngũ Ân
Chịu Ướt Nhường Khô

Tự mình nằm chỗ ướt,
Chỗ ráo để sê con,
Hai vú, phòng đói khát;
Hai tay, ủ gió sương.
Thâu đêm, nằm chẳng ngủ;
Nâng niu, tựa ngọc vàng!
Những mong, con vui vẻ :
Lòng Mẹ mới được yên.

Đệ Lục Ân
Bú Mớm Nuôi Nấng

Đức Mẹ dầy như đất :
Công cha thẳm tựa trời,
Chở che coi bình đẳng;
Trời Đất cũng thế thôi!
Chẳng quản câm mù điếc!
Chẳng hiềm quắp, chân tay!
Bởi vì con ruột đẻ;
Trọn đời dạ chẳng khây.

Đệ Thất Ân
Tắm Gội Giặt Giũ

Vốn người có nhan sắc;
Lại thêm phấn sáp xông,
Mày xanh như liễu lục;
Má đỏ tựa sen hồng,
Giặt giũ khăn cùng tã;
Dơ giáy chẳng quản công,
Cốt sao quần áo sạch;
Búi tóc gọn là xong.

Đệ Bát Ân
Đi Xa Lòng Mẹ Thương Nhớ

Từ biệt lòng khôn nhẫn;
Sinh-ly dạ đáng thương,
Con đi đường xa cách;
Mẹ ở chốn tha hương,
Ngày đêm thường tưởng nhớ;
Sớm tối vẫn vấn vương,
Như vượn thương con đỏ,
Khúc khúc đoạn can tràng! ....

Đệ Cửu Ân
Vì Sinh Con Mà

Mẹ Cam Lòn Tạo Bao Ác Nghiệp
Mẹ trải bao gian khổ,
Công lao tựa vực trời,
Bồng bế cùng nuôi nấng;
Mong sao con ăn chơi,
Nhường cơm cùng sẻ áo;
Mẹ đói rách cũng vui!
Khôn lớn tìm đôi lứa;
Gây dựng cho nên người.

Đệ Thập Ân
Mẹ Trọn Đời Thương Yêu Con

Công Cha cùng đức Mẹ;
Cao sâu tựa vực trời!
Mẹ già hơn trăm tuổi,
Vẫn thương con tám mươi!
Bao giờ ân oán hết?
Tắt nghỉ cũng chẳng thôi!
Nằm ngồi đi và đứng
Săn sóc lòng không ngơi.

Phật bảo A-Nan : Ta xem chúng sinh dẫu được làm người, lòng còn ngu muội, chẳng nghĩ Mẹ Cha công đức kể ra như non như bể, chẳng cung chẳng kính, chẳng hiếu chẳng từ, mẹ mang thai con trong vòng mười tháng, ngồi đứng không yên như mang gánh nặng, ăn uống chẳng ngon như người mang bệnh, ngày tháng thoi đưa, đến khi sinh nở chịu khổ mọi đường, phút giây hay dở kinh sợ vô thường, như giết trâu dê máu me lai láng, còn nhiều khổ nữa mới được thân này, ăn đắng nuốt cay nhả bùi nhả ngọt, nâng niu dưỡng dục, giặt dũ dáy dơ không hề gian khổ, bức bối nồng nàn, rét mướt cơ hàn lầm than tân khổ, mẹ nằm chỗ ướt chỗ ráo sê con, ba năm bú mớm, bồng bế nâng niu, dạy bảo đủ điều lễ nghi phép tắc, cho ăn đi học tìm đủ mọi nghề, đưa đón đi về cần lao chăm chút chẳng kể gì công.

Trái nắng dở trời, tuần trăng cuối gió, bệnh nọ chứng kia, bông hoa sài đẹn, thang thuốc đâu đâu, một mình lo lắng, chạy ngược chạy xuôi năm canh vò võ, bệnh con có khỏi lòng mẹ mới yên, mong con lớn lên, con thảo con hiền để mà trông cậy.

Không ngờ ngày nay hóa con bất hiếu, mẹ già cha yếu con chẳng đỡ đần, cãi trả song thân nói năng cắn cẩu, dương đôi mắt chẫu khinh rẻ mẹ cha, chú bác ông bà, cô gì chẳng nể, anh em cũng kệ đánh lộn xẩy ra ô nhục, nước nhà, bất trung bất nghĩa, bất hiếu bất lương, phép nước coi thường mẹ cha cũng kệ, xóm giềng chẳng nể chửi bới nhau luôn, sớm tối ra vào chẳng thưa chẳng gửi, nói năng càn dở, tự ý làm bừa, cha mẹ cũng thừa thầy trên cũng mặc!

Bé thì ai chấp; người những nâng niu, dần dần khôn lớn, gai ngạnh mọi điều chẳng hòa chẳng thuận, thường hay sân hận bỏ cả bạn lành, giao du bạn ác tập thói sa hoa, chơi khắp gần xa thất thường điên dở, bị kẻ dỗ dành mất cả thanh danh, bỏ làng trốn mất trái ý mẹ cha, ly biệt quê nhà, chẳng nhìn quê quán, hoặc vì buôn bán hoặc bởi tòng quân, tiêm nhiễm dần dần trở nên lưu luyến, vợ nọ con kia chẳng thiết đi về quê hương bản quán, ở đất nước người lại hay dong chơi bị người lừa gạt tai vạ liên miên, Pháp luật gia đình tù lao cấm cố, cực khổ mọi điều, chẳng may yếu đau chứng kia tật nọ, ở chốn tha hương, ai kẻ thích thân, ai người thang thuốc, mẹ cha cách biệt, thân thích biết đâu, cam chịu u-sầu quê người dất khách; khốn khổ gầy còm không người trông nom, bị người khinh rẻ lang thang đường ngõ, vì thế chết đi, không người mai táng, trương phềnh thối nát giãi nắng dầu mưa, hài cốt bãi bừa chó cầy nhai sé !

Mẹ cha thân thuộc khi được tin buồn, luống những đau thương ruột đau như dao cắt, hai hành nước mắt lã chã chứa chan, hoặc vì quá thương kết thành bệnh khí, hoặc là đến chết làm quỷ ôm thây, chẳng để cho ai, khư khư giữ mãi.

Hoặc là vì con chẳng chăm học tập, chỉ mãi rong chơi nay đây mai đó, cùng bạn vô loài làm điều vô ích, giao du trộm cắp chẳng sợ lệ làng, chè rượu nghênh ngang đánh cờ đánh bạc, gian tham tội ác lụy đến tôn thân, nay Sở mai Tần, lên đồn xuống Phủ, mẹ cha ủ rũ khốn khổ vì con.

Nào con có biết cha mẹ khổ đau, trăm não nghìn sầu mùa Thu mùa Đông rét run bức bối, chẳng nhìn sớm tối ấp lạnh quạt nồng, chẳng viếng chẳng thăm, chẳng hầu chẳng hạ, mẹ cha già cả hình vóc gầy còm, hổ mặt người nom, dầy vò mắng nhiếc, mẹ cha hoặc góa trơ trọi một mình, luống nhũng buồn tênh như người ngủ trọ, chiếc gối một phòng năm canh vò võ, mùa đông sương gió rét mướt cơ hàn, trai gái các con nào ai hỏi đến, đêm ngày thương khóc tự thán tự thương !

Khi đem thức ăn dâng lên cha mẹ, thì lại giữ kẽ rằng ngượng rằng e, sợ kẻ cười chê; ví đem quà bánh cho vợ cho con, mặt dạn mày dầy không hề xấu hổ, vợ con dặn bảo phải đúng như lời, cha mẹ hết hơi không hề hối cải.
Đây là con gái khi chưa gả chồng, hãy còn ở chung tỏ ra hiếu thảo; khi đã gả bán về ở nhà người, một ngày một lười thiết gì cha mẹ, những ngày dỗ tết có đảo về qua, ví dù mẹ cha có gì sơ ý, liền sinh giận dữ tỏ vẻ oán hờn, chồng chửi nhơn nhơn đành cam lòng chịu, khác họ khác hàng tình nghĩa keo sơn hóa ra thâm trọng, mẹ cha máu mủ thì lại sơ tình.

Hoặc đi theo chồng quê người đất khách, quận nọ tỉnh kia cha mẹ xa lìa làng không tưởng nhớ, chẳng viếng chẳng thăm, thư tín cũng không, tuyệt không tin tức, cha mẹ thương nhớ rầu rĩ ruột gan luống những bàng hoàng, sớm chiều mong mỏi, công đức cha mẹ vô lượng vô biên, con chẳng hiếu hiền ở đời cũng lắm.
Khi ấy Đại chúng nghe Phật nói ra công đức mẹ cha cao tầy non thái, đều cùng đứng dậy hoặc tự gieo mình đập đầu lăn khóc, máu me trào rạt lai láng cả nhà, chết ngất cả ra hồi lâu mới tỉnh, mà nói lời này khổ thay khổ thay! Đau lòng đứt ruột, lũ con ngày nay tội ác ngập đầu, xưa có biết đâu, mờ như đêm tối, ngày nay biết hối thì sự đã rồi, đau đớn lòng tôi chót là bội bạc, cúi xin chư Phật soi xét kẻ phàm, phóng ngọc hào quang ra tay cứu vớt, làm sao báo được ân đức mẹ cha.

Phật liền nói ra đủ đầy tám giọng bảo đại chúng rằng :

Một - Ví có kẻ nào, hai vai kiệu cõng, cha mẹ đi chơi, suốt cả mọi nơi, trên rừng dưới bể, hai vai nặng trễ, mòn cả đến xương, máu chảy cùng đường, không hề ân hận, cũng chưa báo được công đức mẹ cha, kể trong muôn một.

Hai - Ví lại có người, gặp khi đói kém, cắt hết thịt mình, cung nuôi cha mẹ, khỏi lúc nguy nàn, riêng mình cam chịu, thịt nát xương tan, trăm nghìn muôn kiếp, để báo thâm ân, chẳng được một phần kể trong muôn một.

Ba - Ví lại có người, trải trăm nghìn kiếp, tự tay cầm dao, khoét đôi mắt mình, luyện làm thang thuốc, chữa bệnh mẹ cha, như thế cũng là chưa trả được ân, kể trong muôn một.

Bốn - Ví lại có người, trải trăm nghìn kiếp, đều tự tay mình cầm dao cắt ruột, móc lấy tim gan, luyện làm thang thuốc, chữa bệnh mẹ cha, như thế cũng là chưa trả được ân, kể trong muôn một.

Năm - Ví lại có người, trải trăm nghìn kiếp, vì tội mẹ cha, trăm nghìn vòng dao, băm vằm thân thể, thịt nát xương tan, như thế cũng là chưa trả được ân, kể trong muôn một.

Sáu - Ví lại có người, trải trăm nghìn kiếp, vì báo ơn mẹ, lấy mình đốt lên, làm cây đèn thịt, cúng dường chư Phật, như thế cũng là chưa trả được ân, kể trong muôn một.

Bảy - Ví lại có người, trải trăm nghìn kiếp, vì bệnh mẹ cha, đập xương lấy tủy để làm thang thuốc, chữa bệnh mẹ cha, như thế cũng là chưa trả được ân, kể trong muôn một.

Tám - Ví lại có người, vì cứu mẹ cha trải trăm nghìn kiếp, nuốt viên sắt nóng, cháy xém cả mình, như thế cũng là chưa trả được ân, kể trong muôn một.

Bảy giờ trong Đại chúng nghe Phật nói rồi, trong dạ bồi hồi ruột đau như cắt, hai hàng nước mắt tầm tã như mưa mà bạch Phật rằng : Con muốn đền ơn công đức mẹ cha, cúi xin Phật đà, rủ lòng chỉ bảo.

Đức Phật liền bảo cặn kẽ mọi lời : Này chúng sinh ơi, muốn đền ơn mẹ,

Nhất là một nhẽ nên chép kinh này, kính biếu gần xa cho nhiều người tụng.
Hai vì mẹ cha đọc tụng kinh này chuyên cần chớ đoạn.
Ba vì mẹ cha sám hối làm chay.
Bốn vì mẹ cha cúng dàng Tam-Bảo tùy ý sở dùng.
Năm vì mẹ cha trong sáu ngày trai phải nên nhớ giữ.
Sáu vì mẹ cha thường hay bố thí làm mọi việc lành.

Làm được như thế thực là con hiếu, cứu được mẹ cha siêu thăng Cực-Lạc phúc đẳng Hà-sa.
Phật bảo A-Nan : — trên thế gian, những người bất hiếu sau hết duyên trần, nguyên cái xác thân chôn vùi dưới đất; còn phần Linh-giác là cái chân thân, phải vào Địa-ngục, chính ngục A-Tỳ vuông rộng tứ vi tám ngàn cây số, bốn mặt lại có tường sắt tường đồng, lửa cháy tứ tung toàn dây thép điện, thường có lửa bén cháy đỏ hồng hồng, bốc cháy tứ tung thấy mà kinh sợ; hơn như thế nữa sấm chớp đùng đùng, chó sắt rắn đồng phun ra khói lửa, đốt cháy tội nhân, lại còn nước đồng, đun sôi sùng-sục, rót ngay vào miệng những kẻ tội nhân, vì tội bất hiếu, cãi trả mẹ cha, cam chịu cực hình, ở trong ngục ấy, gươm dao sào gậy đâm chém suốt ngày, như hạt mưa bay trên không rơi xuống, trải trăm nghìn kiếp không phút nào nguôi, hết hạn ấy rồi lại vào ngục khác.

Đầu đội chậu máu, xe sắt nghiền thây, mình mẩy chơn tay, đập dừ tan nát, một ngày phải chết, tới nghìn vạn lần, khổ sở gian truân, vì chứng bất hiếu.

Phật lại dạy rằng : Ví có Thiện-nam hay là Tín-nữ, thực là hiếu tử trả nghĩa mẹ cha, in kinh này ra biếu cho người tụng, in được một quyển được một đức Phật, in được mười quyển được mười đức Phật, in được trăm quyển được trăm đức Phật, in được ngàn quyển được ngàn đức Phật, in được muôn quyển được muôn đức Phật, phù hộ độ trì, lại tiếp hồn đi về phương Cực-Lạc, đấy là lời Phật chớ có coi thường, Địa-ngục vấn vương khó lòng thoát khỏi!

Bấy giờ A-Nan cùng chư Đại-chúng, Trời, Rồng, Quỷ, Dạ-Xoa La-Sát, người cùng phi-nhân, được nghe Phật nói đều phát nguyện rằng :

Chúng con tận tâm chí thành chí kính dù trăm nghìn kiếp, thịt nát xương tan nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy. Thà rằng lấy kìm cặp lưỡi rút ra dài trăm do tuần cho trâu sắt cày, máu chẩy chan hòa thành sông thành suối, con thề chẳng trái lời chư Phật dạy răn.
Chúng con thề rằng : Thà lấy trăm nghìn vòng dao giáo mác, đâm chém thân này nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy.

Chúng con thề rằng : Thà lấy lưới sắt quấn chặt vào thân trăm nghìn muôn kiếp, chẳng tháo được ra, cực khổ vô cùng, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy.

Chúng con thề rằng : Thà đâm thà chém, thà mổ thà sả, thà say thà giã nhỏ như vi trần, đem cái xác thân làm nghìn muôn thứ, nào da nào thịt, nào gân nào xương, rơi rác ngoài đường, trong nhà ngoài ngõ, trải trăm nghìn kiếp chịu khổ như thế cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy.
Khi ấy A-Nan liền bạch Phật rằng : Lạy Đức Thế-Tôn, đây là Kinh gì lũ chúng con đây đều muốn tụng trì có được hay chăng?

Đức Phật dạy rằng : chúng con nên biết Kinh này là Kinh Đại-Báo Phụ-Mẫu Trọng-Ân, tất cả chúng sinh thẩy đều nên tụng. Khi ấy Đại chúng nghe Phật nói rồi tin Kính phụng-hành, lễ tạ mà lui ....

20 điều khó mà người tu cần biết


1.Nghèo hèn mà biết bố thí cúng dường là khó.
2.Giàu sang thông minh học đạo là khó.
3.Quyết chết, bỏ thân mạng, tìm đạo là khó.
4.Thấy được kinh Pháp Phật là khó.
5.Sanh nhằm đời, thời có Phật là khó.
6.Thấy sắc, biết sắc, nhịn sắc là khó. Thấy dục, biết dục, nhịn dục là khó.
7.Thấy tốt, lòng không ham, chẳng cầu, là khó.
8.Bị nhục, biết nhục, không cảm thấy nhục, là khó. Bị chọc giận, có máu giận mà không tức giận là khó.
9.Có thể lực, không thấy mình cao, không thấy ỷ lại, là khó.
10.Gặp việc, tạo thành vô tâm, là khó.
11.Hoc rộng, hiểu nhiều, nghiên cứu rộng rãi, là khó.
12.Trừ diệt tâm ngã mạn là khó.
13.Chẳng khinh người chưa học là khó.
14.Thật thành tâm bình đẳng là khó.
15.Chẳng nói sự phải, sự quấy của người của ta là khó.
16.Gặp đặng Thiện Trí Thức là khó.
17.Thấy mình phàm phu, gặp thầy, lễ bái học đạo là khó.
18.Tùy duyên cơ hóa độ người là khó.
19.Thấy cảnh không động tâm là khó.
20.Khéo biết phương tiện mọi việc làm là khó.

Mười nghiệp lành ( thập thiện nghiệp )


1. KHÔNG SÁT SINH: Từ bi, không sát hại, sẽ được khỏe mạnh, trường thọ.

2. KHÔNG TRỘM CẮP: Ngay thẳng, không lấy của người, sẽ được giàu sang, an ổn.

3. KHÔNG TÀ DÂM: Trong sạch, không quan hệ bất chính, sẽ được xinh đẹp, hạnh phúc.

4. KHÔNG NÓI DỐI: Chân thật, không dối gạt, sẽ được uy thế, tiếng tăm.

5. KHÔNG THÊU DỆT: Trung thực, không xảo ngôn, sẽ được mọi người kính mến.

6. KHÔNG ĐÂM THỌC: Hòa hợp, không nói lời ly gián, sẽ được nhiều người ủng hộ.

7. KHÔNG NÓI THÔ ÁC: Hòa nhã, không cay nghiệt, không thô tục, sẽ được cao sang.

8. KHÔNG XAN THAM: Rộng rãi thí xả, sẽ được vô lượng PHƯỚC BÁO !

9. KHÔNG SÂN HẬN: Từ hòa, nhẫn nại, sẽ được vô lượng DUYÊN LÀNH !

10. KHÔNG SI MÊ: Sáng suốt, tỉnh giác, sẽ được vô lượng TRÍ TUỆ !

Người nào nguyện giữ được 10 điều này trọn đời thì chư Phật hoan hỷ, Thánh chúng reo mừng. Hiện đời sẽ được an vui, khi mất sẽ được sanh lên cõi trời. Nếu thường niệm A Di Đà Phật và nguyện vãng sanh thì khi lâm chung, Tây phương tam thánh cùng chư thánh chúng sẽ tiếp dẫn vãng sanh Cực lạc thế giới
.

Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn phẩm

,


1. Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu, chấp tay hướng Phật mà bạch rằng: “Thế Tôn! Ngài Quán-Thế-Âm Bồ-Tát do nhân duyên gì mà tên là Quán-Thế-Âm?”
Phật bảo ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát: “Thiện-nam-tử! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sanh chịu các khổ não, nghe Quán-Thế-Âm Bồ-Tát này một lòng xưng danh. Quán-Thế-Âm Bồ-Tát tức thì xem xét tiếng tăm kia, đều được giải thoát.

Nếu có người trì danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát này, dầu vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy được, vì do sức uy thần của Bồ-Tát này được như vậy.

Nếu bị nước lớn làm trôi, xưng danh hiệu Bồ-Tát này liền được chỗ cạn.

Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm vàng, bạc, lưu ly, xa-cừ, mã-não, san-hô, hổ-phách, trân châu các thứ báu, vào trong biển lớn, giả sử gió lớn thổi ghe thuyền của kia trôi tắp nơi nước quỉ La-sát, trong ấy nếu có nhẫn đến một người xưng danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, thì các người đó đều được thoát khỏi nạn quỉ La-sát. Do nhân duyên đó mà tên là Quán-Thế-Âm.

2. Nếu lại có người sắp sẽ bị hại, xưng danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, thì dao gậy của người cầm liền gãy từng khúc, người ấy liền được thoát khỏị.

Nếu quỉ Dạ-xoa cùng La-sát đầy trong cõi tam-thiên đại-thiên muốn đến hại người, nghe người xưng hiệu Quán-Thế-Âm Bo-Tát, thì các quỉ dữ đó còn không thể dùng mắt dữ mà nhìn người, huống lại làm hại được.

Dầu lại có người hoặc có tội, hoặc không tội, gông cùm xiềng xích trói buộc nơi thân, xưng danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát thảy đều đứt rã, liền được thoát khỏi.

Nếu kẻ oán tặc đầy trong cõi tam-thiên đại-thiên, có một vị thương chủ dắt các người buôn đem theo nhiều của báu, trải qua nơi đường hiểm trở, trong đó có một người xướng rằng : “Các Thiện-nam-tử! Chớ nên sợ sệt, các ông nên phải một lòng xưng danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, vị Bồ-Tát đó hay đem pháp vô-úy thí cho chúng sanh, các ông nếu xưng danh hiệu thì sẽ được thoát khỏi oán tặc nầy”.

Các người buôn nghe rồi, đều lên tiếng xưng rằng: “Nam-Mô Quán-Thế-Âm Bồ-Tát!" vì xưng danh hiệu Bồ-Tát nên liền được thoát khỏi.

Vô-Tận-Ý! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát sức oai thần to lớn như thế.

3. Nếu có chúng sanh nào nhiều lòng dâm dục, thường cung kính niệm Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, liền được ly dục.
Nếu người nhiều giận hờn, thường cung kính niệm Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, liền được lìa lòng giận.

Nếu người nhiều ngu si, thường cung kính niệm Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, liền được lìa ngu si.

Vô-Tận-Ý! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát có những sức oai thần lớn, nhiều lợi ích như thế, cho nên chúng sanh thường phải một lòng tưởng nhớ.

Nếu có người nữ, giả sử muốn cầu con trai, lễ lạy cúng dường Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, liền sanh con trai phúc đức trí huệ; giả sử muốn cầu con gái, bèn sanh con gái có tướng xinh đẹp, trước đã trồng gốc phước đức, mọi người đều kính mến.

Vô-Tận-Ý! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát có sức thần như thế.

4. Nếu có chúng sanh cung kính lễ lạy Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, thì phước đức chẳng luống mất. Cho nên chúng sanh đều phải thọ trì danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.

Vô Tận Ý! Nếu có người thọ trì danh tự của sáu mươi hai ức hằng-hà-sa Bồ-Tát lại trọn đời cúng dường đồ ăn uống y phục, giường nằm, thuốc thang. Ý ông nghĩ sao? Công đức của người thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhơn đó có nhiều chăng?

Vô-Tận-Ý thưa: “Bạch Thế-Tôn! Rất nhiều”.Phật nói: “Nếu lại có người thọ trì danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, nhẫn đến một thời lễ lạy cúng dường, thì phước của hai người đó bằng nhau không khác, trong trăm nghìn ức kiếp không thể cùng tận.

Vô-Tận-Ý! Thọ trì danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát được vô lượng vô biên phước đức lợi ích như thế.”

5. Ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát dạo đi trong cõi Ta-bà như thế nào? Sức phương tiện đó như thế nào?”

Phật bảo Vô-Tận-Ý Bồ-Tát: “Thiện-nam-tử! Nếu có chúng sanh trong quốc độ nào đáng dùng thân Phật được độ thoát thời Quán-Thế-Âm Bồ-Tát liền hiện thân Phật vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Duyên-giác đượcc độ thoát, liền hiện thân Duyên-giác mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Thanh-văn được độ thoát, liền hiện thân Thanh-văn mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Phạm-vương được độ thoát, liền hiện thân Phạm-vương mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Đế-Thích được độ thoát, liền hiện thân Đế-Thích mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Tự-tại-thiên được độ thoát, liền hiện thân Tự-tại-thiên mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Đại-tự-tại-thiên được độ thoát, liền hiện thân Đại-tự-tại-thiên mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Thiên-đại-tướng-quân được độ thoát, liền hiện thân Thiên-đại-tướng-quân mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Tỳ-sa-môn được độ thoát, liền hiện thân Tỳ-sa-môn mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Tiểu-vương được độ thoát, liền hiện thân Tiểu-vương mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Trưởng-giả được độ thoát, liền hiện thân Trưởng-giả mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Cư-sĩ được độ thoát, liền hiện thân Cư-sĩ mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Tể-quan được độ thoát, liền hiện thân Tể-quan mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Bà-la-môn được độ thoát, liền hiện thân Bà-la-môn mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-ba-di được độ thoát, liền hiện thân Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-ba-di mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân phụ nữ của Trưởng-giả, Cư-Sĩ, Tể-quan, Bà-la-môn được độ thoát, liền hiện thân phụ nữ mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân đồng-nam, đồng-nữ được độ thoát, liền hiện thân đồng-nam, đồng-nữ mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân trời, rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhơn cùng phi nhơn được độ thoát, liền đều hiện ra mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Chấp-Kim-Cang thần được độ thoát, liền hiện thân Chấp-Kim-Cang thần mà vì đó nói pháp.

Vô-Tận-Ý! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát đó thành tựu công đức như thế, dùng các thân hình, dạo đi trong các cõi nước để độ thoát chúng sanh, cho nên các ông phải một lòng cúng dường Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.

Quán-Thế-Âm đại Bồ-Tát đó ở trong chỗ nạn gấp sợ sệt hay ban sự vô-úy, cho nên cõi Ta-bà này đều gọi Ngài là vị “Thí-vô-úy”.

6. Vô Tận Ý Bồ Tát bạch Phật: “Thế-Tôn! Con nay phải cúng dường Quán-Thế-Âm Bồ-Tát”. Liền mở chuỗi ngọc bằng các châu báu nơi cổ giá trị trăm nghìn lạng vàng, đem trao cho ngài Quán-Thế-Âm mà nói rằng : “Xin Ngài nhận chuỗi trân bảo pháp thí này”.

Khi ấy Quán-Thế-Âm Bồ-tát chẳng chịu nhận chuỗi. Ngài Vô-Tận-Ý lại thưa cùng Quán-Thế-Âm Bồ-Tát rằng: “Xin Ngài vì thương chúng tôi mà nhận chuỗi ngọc này”.

Bấy giờ Phật bảo Quán-Thế-Âm Bồ-Tát: “Ông nên thương Vô-Tận-Ý Bồ-Tát này và hàng tứ chúng cùng trời, rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhơn và phi-nhơn v.v... mà nhận chuỗi ngọc đó.

Tức thời Quán-Thế-Âm Bồ-Tát thương hàng tứ chúng và trời, rồng, nhơn, phi-nhơn v.v... mà nhận chuỗi ngọc đó chia làm hai phần: Một phần dâng đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật, một phần dâng tháp của Phật Đa-Bảo.

Vô-Tận-Ý! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát có sức thần tự tại như thế, dạo đi nơi cõi Ta Bà”.

Lúc đó, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát nói kệ hỏi Phật rằng:

7. Thế-Tôn đủ tướng tốt!
Con nay lại hỏi kia
Phật tử nhân duyên gì?
Tên là Quán-Thế-Âm?
Đấng đầy đủ tướng tốt
Kệ đáp Vô-Tận-Ý:
Ông nghe hạnh Quán-Âm
Khéo ứng các nơi chỗ
Thệ rộng sâu như biển
Nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn
Hầu nhiều nghìn đức Phật
Phát nguyện thanh tịnh lớn.
Ta vì ông lược nói
Nghe tên cùng thấy thân
Tâm niệm chẳng luống qua
Hay diệt khổ các cõi.
Giả sử sanh lòng hại
Xô rớt hầm lửa lớn
Do sức niệm Quán-Âm
Hầm lửa biến thành ao.
Hoặc trôi dạt biển lớn
Các nạn quỉ, cá, rồng
Do sức niệm Quán-Âm
Sóng mòi chẳng chìm được.
Hoặc ở chót Tu-di
Bị người xô rớt xuống
Do sức niệm Quán-Âm
Như mặt nhật treo không
Hoặc bị người dữ rượt
Rớt xuống núi Kim-Cang
Do sức niệm Quán-Âm
Chẳng tổn đến mảy lông.
Hoặc gặp oán tặc vây
Đều cầm dao làm hại
Do sức niệm Quán-Âm
Đều liền sanh lòng lành.
Hoặc bị khổ nạn vua
Khi hành hình sắp chết
Do sức niệm Quán-Âm
Dao liền gãy từng đoạn.
Hoặc tù cấm xiềng xích
Tay chân bị gông cùm
Do sức niệm Quán-Âm
Tháo rã được giải thoát
Nguyền rủa các thuốc độc
muốn hại đến thân đó
Do sức niệm Quán-Âm
Trở hại nơi bổn-nhân.(6)
Hoặc gặp La-sát dữ
Rồng độc các loài quỉ
Do sức niệm Quán-Âm
Liền đều không dám hại.
Hoặc thú dữ vây quanh
Nanh vuốt nhọn đáng sợ
Do sức niệm Quán-Âm
Vội vàng bỏ chạy thẳng.
Rắn độc cùng bò cạp
Hơi độc khói lửa đốt
Do sức niệm Quán-Âm
Theo tiếng tự bỏ đi.
Mây sấm nổ sét đánh
Tuôn giá (7) , xối mưa lớn
Do sức niệm Quán-Âm
Liền được tiêu tan cả.
Chúng sanh bị khổ ách
Vô lượng khổ bức thân
Quán-Âm sức trí diệu
Hay cứu khổ thế gian
Đầy đủ sức thần thông
Rộng tu trí phương tiện
Các cõi nước mười phương
Không cõi nào chẳng hiện.
Các loài trong đường dữ:
Địa-ngục, quỉ, súc sanh
Sanh, già, bịnh, chết khổ
Lần đều khiến dứt hết.
Chơn-quán thanh tịnh quán
Trí-huệ quán rộng lớn
Bi-quán và từ-quán,
Thường nguyện thường chiêm ngưỡng
Sáng thanh tịnh không nhơ
Tuệ nhật (8) phá các tối
Hay phục tai khói lửa
Khắp soi sáng thế gian.
Lòng bi răn như sấm
Ý tứ diệu dường mây (9)
Xối mưa pháp cam lồ
Dứt trừ lửa phiền não (10)
Cãi kiện qua chỗ quan
Trong quân trận sợ sệt
Do sức niệm Quán-Âm
Cừu oán đều lui tan.
Diệu-Âm, Quán-Thế-Âm
Phạm-âm, Hải-triều-âm
Tiếng hơn thế gian kia,
Cho nên thường phải niệm.
Niệm niệm chớ sanh nghi
Quán Âm bậc tịnh thánh
Nơi khổ não nạn chết
Hay vì làm nương cậy.
Đủ tất cả công đức
Mắt lành trông chúng sanh
Biển phước lớn không lường
Cho nên phải đảnh lễ.
8. Bấy giờ, ngài Trì-Địa Bồ-Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật bạch rằng: “Thế Tôn! Nếu có chúng sanh nào nghe phẩm Quán-Thế-Âm Bồ-Tát Đạo-nghiệp Tự-Tại, Phổ-Môn Thị-Hiện sức thần thông nầy, thì phải biết công đức người đó chẳng ít”.

Lúc Phật nói phẩm Phổ-Môn này, trong chúng có tám muôn bốn nghìn chúng sanh đều phát tâm vô-đẳng-đẳng vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.

Đối diện với đau khổ


Đức Phật không còn bị chi phối bởi những phiền não nội tâm, tuy vậy đôi khi Ngài vẫn còn gặp phải những trở ngại từ bên ngoài đưa đến. Nhưng Ngài luôn luôn bình tĩnh đối diện với mọi trở lực bất cứ từ đâu tới.

Một hôm Ngài cùng đại đức Ananda vào khất thực trong thành Kosambi, bị hoàng hậu Magandhà xúi giục dân chúng trong thành hễ gặp Đức Thế Tôn và đệ Tử Ngài ở đâu thì phải tìm cách hạ nhục và phỉ báng. Nghe như vậy đại đức Ananda bạch với Đức Phật rằng:

"Bạch Đức Thế Tôn, người trong xứ này phỉ báng chúng ta, vậy chúng ta nên đi xứ khác."

"Này Ananda, nếu người ở xứ ấy cũng phỉ báng chúng ta, bấy giờ chúng ta phải làm sao?"

"Bạch Đức Thế Tôn, chúng ta lại đi đến xứ khác nữa".

"Này Ananda, nếu nơi ấy người ta cũng phỉ báng thì sao?"

"Bạch Đức Thế Tôn, chúng ta lại đi xứ khác nữa vậy."

Đức Thế Tôn liền ôn tồn bảo đại đức Ananda rằng:

"Này Ananda, làm như vậy không phải đâu. Việc gì sanh ở nơi nào thì diệt ở chỗ đó. Chúng ta phải ở đây nhẫn nhịn cho đến bao giờ họ hết phỉ báng rồi hãy đi. Như vị võ tướng dũng cảm xông pha nơi trận mạc, không sợ gươm đao, không khiếp tên đạn, chúng ta hãy thản nhiên, bình tĩnh trước những lời phỉ báng của kẻ khác."

Như vậy thái độ của bậc trí thức là không sợ khổ đau. Chúng ta phải sáng suốt tìm ra nguyên nhân nào làm cho chúng ta lo âu, sầu muộn để dùng một biện pháp thích nghi khả dĩ diệt tận gốc rễ của chúng, chứ không cần lẩn tránh hay tự phần nàn phiền trách.

Bạn nhé! Hãy chịu đựng chứ đừng kêu than những gì không thể thay đổi được

Trích từ bài viết “Đối diện với đau khổ” ( phattuvietnam.net )

Đau khổ không hề làm mất giá trị của bạn mà nó còn nâng cao giá trị của bạn nếu bạn không phải là con người hèn nhát. ( Alfred de Musset )


Tùy duyên


Ngày tam phục - mùa mà cái nóng oi bức nhất trong năm, cả vườn cỏ của thiền viện đã trở thành một thảm cỏ khô vàng.

"Phát dọn cho sạch sẽ đám cỏ này thôi sư phụ ơi, để thế này thật là khó coi quá!" Chú tiểu nói.

"Đợi trời mát đã." Sư phụ vẫy vẫy tay, "Tùy thời".

Trung thu, Sư phụ lại mua về một bao hạt cỏ giống, gọi chú tiểu đem bao hạt giống này đi gieo. Gió mùa thu trỗi lên và cuốn đi những hạt giống vừa gieo. "Không xong rồi! Các hạt giống bị gió thổi bay đi cả rồi", chú tiểu kêu la.

“Thôi đi con, không sao đâu, hạt giống vẫn còn rất nhiều, gió cuốn đi cũng không mọc được.” Sư phụ nói, "Tùy tính".

Sau khi cơn gió đã lấy đi những hạt giống, tiếp theo lại có mấy chú chim đáp xuống mổ ăn. "Chết rồi! Hạt cỏ giống lại bị chim ăn hết rồi!" chú tiểu vừa nhảy vừa la.

"Không sao! Hạt giống còn nhiều, ăn không hết đâu!" Sư phụ nói, "Tùy ngộ".

Nữa đêm lại bị một trận mưa dữ dội. Vừa mờ sáng chú tiểu vội vã chạy vào phòng thầy: "Sư phụ, lần này thì xong thật rồi! Những hạt giống bị mưa cuốn trôi hết rồi"

"Trôi đến đâu, thì nó sẽ mọc ở đó." Sư phụ nói, "Tùy duyên".

Hơn nữa tháng sau, một vùng đất trơ trụi lúc trước giờ lại mọc lên những mầm cỏ non xanh biên biết, có một số ngốc ngách không hề gieo trồng nhưng vẫn mọc lên xanh rờn. Chú tiểu vỗ tay và vô cùng vui sướng.

Sư phụ gật gật đầu: "Tùy hỷ".

Hình ảnh cuộc đời đức Phật Thích Ca Mâu Ni

, ,


Trước khi giáng sanh, ngài là bồ tát Hộ Minh ở cung trời Đâu Suất.


Hoàng hậu Ma-da nằm mộng thấy một chú voi trắng chui vào vụng bà.


Đức Phật ra đời, đi bảy bước có bảy đóa sen nâng đỡ.




Thái tử Tất Đạt Đa dạo chơi ngoài thành, nhìn thấy những cảnh khổ của con người.


Thái tử rời bỏ vợ hiền, con thơ đi tìm chân lý.


Thái tử lên ngựa đi ra khỏi thành trong đêm khuya.


Ngài cắt tóc và rũ bỏ hết những đồ quý giá trên người.


Thái tử sau sáu năm tu khổ hạnh.


Ngài rời bỏ lối tu khổ hạnh, ngồi thiền 49 ngày đêm dưới gốc cây bồ đề và chứng ngộ chân lý


Ba người con gái của Ma Vương đến quấy nhiễu.


Thiện nữ cúng dường.



Độ năm anh em Kiều Trần Như.


Đức Phật thành lập Tăng đoàn, ngài cùng các đệ tử đi khắp nơi thuyết giảng Phật pháp.









Sau hơn 40 năm thuyết pháp, đức Phật nhập niết bàn trong sự tiếc thương vô hạn của trời và người.





Lời hứa của tuổi trẻ

, ,


Một người đàn ông già đang nằm hấp hối trên giường bệnh trong cảnh cô đơn nghèo khổ. Trong lúc nửa tỉnh nửa mê, ông ta bỗng thấy có một đám người đứng quanh giường bệnh. Khuôn mặt của họ đầy ắp thương yêu nhưng trông mới buồn bã làm sao! Mỉm cười yếu ớt, người đàn ông thều thào nói:
“ Hẳn mọi người là những người bạn rất cũ của tôi, đến đây để tiễn biệt tôi. Tôi cảm động và biết ơn nhiều lắm…!”
Một người khách nhẹ nhàng nắm ta người đàn ông già đáp “ Vâng, chúng tôi chính là những người bạn thân thiết và xa xưa nhất của anh nhưng từ lâu lắm rồi anh đã ruồng bỏ chúng tôi.
Anh biết không, chúng tôi chính là những hy vọng, những ước mơ, những dự định không thành hiện thực – những gì mà anh đã từng nhìn thấy rất rõ trong tâm trí và cảm nhận rất sâu sắc trong trái tim mình nhưng anh đã không bao giờ theo đuổi. Chúng tôi là những tài năng độc đáo mà anh chưa bao giờ khám phá, trau dồi, là những quà tặng đặc biệt của cuộc sống mà anh chưa một lần thử mở ra..”
Những người đàn ông khác thở dài trong nỗi xót xa: “Tại sao? Tại sao vậy ?”.
Căn phòng chìm trong sự im lặng đáng sợ - chỉ còn tiếng thời gian đang gõ từng nhịp cuối cùng.
Rồi một người khách trầm ngâm nói:
“ Tất cả chỉ là vì sự yếu đuối và nỗi sợ hãi, tính yếm thế và sự hoài nghi đã trỗi dậy quá sớm để rồi đè bẹp tất cả mọi đam mê, lòng dũng cảm, ý chí, nghị lực và niềm tin của anh! Cho nên, anh đã không trở thành người mà thật ra anh có thể. Anh đã tự mình đánh mất một cuộc sống tốt đẹp mà đáng lẽ ra anh đã được hưởng”.
Một tia chớp vụt sáng lên trong ký ức của người đàn ông đang nằm chờ chết. Từng khuôn mặt kia bỗng hiện lên rất rõ trong đầu ông ta như thể tuổi trẻ đang quay về, ngỡ ngàng như chỉ mới hôm qua.
Nhưng những người đàn ông lắc đầu buồn bã nói:
“ Đã quá muộn màng rồi! Ông bạn già, chúng tôi không đến đây để an ủi anh. Chúng tôi phải đến đây để chết theo anh!”

Trường Ca Kinh Vu Lan

Bản kinh Vu Lan được nhạc sĩ Võ Tá Hân phổ nhạc, giai điệu hay lắm!!


Ta từng nghe lời dạy như vầy:


Một thuở nọ Thế-tôn an-trụ
Xá-vệ thành Kỳ-thụ viên trung.
Mục-liên mới đặng lục-thông,
Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm-luân.
Công dưỡng-dục thâm-ân dốc trả,
Nghĩa sanh thành đạo cả mong đền,
Làm con hiếu-hạnh vi tiên,
Bèn dùng huệ-nhãn dưới trên kiếm tầm.

Thấy vong-mẫu sanh làm ngạ-quỷ,
Không uống ăn tiều-tụy hình-hài.
Mục-liên thấy vậy bi-ai,
Biết mẹ đói khát ai-hoài tình thâm.
La phẩm-vật đem dâng từ-mẫu,
Đặng đỡ lòng cực-khổ bấy lâu.

Thấy cơm, mẹ rất lo âu,
Tay tả che đậy, hữu hầu bốc ăn.
Lòng bỏn-xẻn tiền-căn chưa dứt,
Sợ chúng ma cướp giựt của bà.
Cơm đưa chưa tới miệng đà,
Hóa thành than lửa nuốt mà đặng đâu!

Thấy như vậy âu-sầu thê-thảm,
Mục-kiền-liên bi cảm xót thương,
Mau mau về đến giảng-đường,
Bạch cùng sư-phụ tìm phương giải-nàn.

Phật mới bảo rõ-ràng căn-cội,
Rằng: "Mẹ ông gốc tội rất sâu.
Dầu ông thần-lực nhiệm-mầu,
Một mình không thể ai cầu được đâu.
Lòng hiếu thảo của ông dầu lớn,
Tiếng vang đồn thấu đến Cửu-thiên
Cùng là các bậc Thần-kỳ
Tà, ma ngoại-đạo, bốn vì Thiên-vương
Cộng ba cõi sáu phương tu-tập,
Cũng không phương cứu-tế mẹ ngươi.
Muốn cho cứu đặng mẹ người.
Phải nhờ thần-lực của mười phương Tăng.
Pháp cứu-tế ta toan giải nói,
Cho mọi người thoát khỏi ách-nàn!"

Bèn kêu Mục-thị đến gần,
Truyền cho diệu-pháp ân cần thiết thi:
"Rằm tháng bảy là ngày tự-tứ
Mười phương tăng đều dự lễ này
Phải toan sắm-sửa chớ chầy
Thức ăn trăm món, trái cây năm màu
Lại phải sắm giường nằm nệm lót
Cùng thau, bồn, đèn đuốc, nhang, dầu
Món ăn tinh-sạch báu mầu
Đựng trong bình-bát vọng-cầu kính dâng

Chư Đại-đức mười phương thọ-thực
Trong bảy đời sẽ đặng siêu thiên
Lại thêm cha mẹ hiện-tiền
Đặng nhờ phước lực tiêu-khiên ác-nàn

Vì ngày ấy Thánh-tăng đầy đủ
Dầu ở đâu cũng tụ hội về.
Như người thiền-định sơn-khê
Tránh điều phiền-não chăm về thiền-na
Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả
Công tu hành-nguyện thỏa vô-sanh
Hoặc người thọ hạ kinh-hành
Chẳng ham quyền-qúy ẩn danh lâm-tòng
Hoặc người đặng lục-thông tấn-phát
Và những hàng Duyên-giác, Thanh-văn
Hoặc chư Bồ-tát mười phương
Hiện hình làm sãi ở gần chúng-sanh
Đều trì giới rất thanh, rất tịnh
Đạo-đức dày chánh-định chơn-tâm
Tất cả các bực Thánh, Phàm
Đồng lòng thọ lãnh bát-cơm lục-hòa

Người nào có sắm ra vật thực
Đặng cúng-dường Tự-tứ Tăng thời
Hiện-tiền phụ mẫu của ngươi
Bà con quyến-thuộc thảy đều nhờ ơn
Tam-đồ khổ chắc rằng ra khỏi
Cảnh thanh nhàn hưởng-thọ tự-nhiên.
Như còn cha mẹ hiện-tiền
Đó nhờ cũng đặng bá niên thọ-trường
Như cha mẹ bảy đời quá-vãng
Sẽ hóa sanh về cõi thiên cung
Người thời tuấn-tú hình-dung
Hào-quang chiếu sáng khắp cùng châu-thân!"

Phật dạy bảo mười phương Tăng-chúng
Phải tuân theo thể-thức sau nầy:

"Trước khi thọ-thực đàn chay
Phải cầu chú nguyện cho người tín-gia.
Cầu thất-thế mẹ cha thí-chủ
Định tâm-thần quán đủ đừng quên
Cho xong ý định hành-thiền
Mới dùng phẩm vật đàn tiền hiến dưng.
Khi thọ dụng, nên an vật-thực.
Trước Phật đài hoặc tự tháp trung:
Chư tăng chú nguyện viên dung
Sau rồi tự tiện thọ cùng bữa trưa".

Pháp cứu tế Phật vừa nói dứt
Mục-liên cùng Bồ-tát chư tăng
Đồng nhau tỏ dạ vui mừng
Mục-liên cũng hết khóc thương rầu buồn
Mục-liên mẫu cũng trong ngày ấy
Kiếp khổ về ngạ-quỉ được tan

Mục-liên bạch với Phật rằng:
"Mẹ con nhờ sức Thánh-Tăng khỏi nàn
Lại cũng nhờ oai thần Tam-bảo
Bằng chẳng thì nạn khổ khó ra
Như sau đệ-tử xuất-gia
Vu-lan-Bồn pháp dùng mà độ sanh
Độ cha mẹ còn đương tại thế
Hoặc bảy đời có thể đặng không?"

Phật rằng: "Lời hỏi rất thông
Ta vừa muốn nói con dùng hỏi theo
Thiện-nam tử, tỳ-kheo nam nữ
Cùng Quốc-vương, Thái-tử, Đại-thần
Tam-công, tể-tướng, bá-quan
Cùng hàng lê-thứ vạn dân cõi trần
Như chí muốn đền ơn cha mẹ
Hiện tại cùng thất-thế tình thâm
Đến rằm tháng bảy mỗi năm
Sau khi kiết-hạ chư Tăng tựu về
Chính ngày ấy Phật-đà hoan-hỷ
Phải sắm sanh bá vị cơm canh
Đựng trong bình bát tinh anh,
Chờ giờ Tự-tứ chúng Tăng cúng-dường
Đặng cầu-nguyện song-đường trường-thọ
Chẳng ốm đau cũng chẳng khổ chi
Cùng cầu thất-thế đồng thì
Lìa nơi ngạ-qủy sanh về nhơn, thiên
Đặng hưởng phước nhân duyên vui đẹp
Lại xa lìa nạn khổ cực thân
Môn-sanh Phật-tử ân cần
Hạnh tu hiều-thuận phải cần phải chuyên
Thường cầu nguyện thung-huyên an-hảo
Cùng bảy đời phụ-mẫu siêu-sanh
Ngày rằm tháng bảy mỗi năm
Vì lòng hiếu-thảo ơn-thâm phải đền
Lễ cứu-tế chí thành sắp đặt
Ngõ cúng-dường chư Phật chư Tăng
Ấy là báo đáp, thù ân
Sanh-thành dưỡng-dục song-thân buổi đầu
Đệ-tử Phật, lo âu gìn-giữ
Mới phải là Thích-tử Thiền-môn!"

Vừa nghe dứt pháp Lan-bồn
Môn sanh tứ-chúng thảy đồng hỷ-hoan
Mục-liên với bốn ban Phật-tử
Nguyện một lòng tín-sự phụng-hành.

Nam-mô đại hiếu Mục kiền liên Bồ-tát!


Truyện chưa nghĩ ra tựa... phần 3

Mẹ cũng không thích Trân để kiểu tóc này, mẹ nói Trân để tóc dài nhìn nữ tính hơn, kiểu tóc mới này làm Trân trông “côn đồ” lắm. Cô chị họ San San chạy ù tới lôi Trân đi nhuộm lại màu đen, bà này cũng ra lệnh cho Trân phải để tóc dài như hồi xưa.

Tên lớp trưởng nhìn Trân với mái tóc đen nhuộm lại cười phớ lớ. Cô chủ nhiệm khuyên Trân nên biết giữ gìn, còn trẻ đừng để bản thân “sa ngã”.

Một hôm nọ sau vụ tóc tai chừng nửa tháng, Trân đụng phải Mỹ Anh ở hành lang. Nhanh chóng và gọn lẹ, Trân kéo toạc một cái làm áo dài của Mỹ Anh đứt gần hết nguyên hàng nút. Mấy đứa con trai gần đó trố mắt ra nhìn, bọn con gái hốt hoảng xúm tới che chắn, cài lại nút cho Mỹ Anh. Trân ráng đè nén niềm hân hoan tột độ trong lòng và giả bộ xin lỗi. Nhỏ Mỹ Anh với lòng từ bi của một vị bồ tát đã không trách móc mà còn mỉm cười thân thiện với Trân. Tức mình, Trân đi một mạch về lớp tính bày chiêu khác thâm độc hơn. Tên lớp trưởng chạy theo Trân tra hỏi rằng tại sao Trân cố tình làm bẽ mặt “ nữ thần” của hắn trước bàn dân thiên hạ. Hắn tuyên bố rằng từ nay sẽ thường xuyên để mắt đến hành vi của Trân. Trân giả điếc trong khi hắn say sưa tụng nguyên một bài kinh nói về sự ghen tuông sắc đẹp của nữ giới.

Lúc tan học, San San chạy xe đến đón Trân về thăm bà nội. Tên lớp trưởng thực hiện đúng lời tuyên bố của mình bằng cách kè kè theo sau Trân, tiếp tục bài thuyết giảng. Trân chạy vèo đến chỗ San San cầu cứu. San San với vẻ mặt dữ dằn lườm hắn bằng đôi mắt tóe lửa làm hắn vội vàng lỉnh mất.

Bà nội rất ngạc nhiên trước kiểu tóc mới của Trân, nói Trân để tóc dài nhìn mới đẹp. Mẹ Trân cũng ngồi bên cạnh cười đồng tình. Dạo gần đây mẹ thường xuyên bị nhức đầu, bà nội biết vậy kêu mẹ phải đi khám ngay ở chỗ ông bác sĩ quen của bà. Mẹ thì chẳng bao giờ quan tâm đến sức khỏe bản thân nên gật đầu lấy lệ. Bà nội hỏi Trân về chuyện trường lớp rồi tình hình học tập. Trân giấu nhẹm cả bà và mẹ chuyện mình học dốt toán. Chuyện này chắc cũng không giấu được bao lâu vì tuần tới có một cuộc họp phụ huynh, cuộc họp nhằm báo cáo kết quả học tập sau kỳ thi giữa kỳ.

Họp phụ huynh? Linh tính báo cho Trân biết nguy cơ sẽ có một cuộc trạm chán không mấy vui vẻ xảy ra. Trân xung phong tới sớm dọn lớp và chuẩn bị trà nước cho buổi họp. Điều này làm tên lớp trưởng cảm động quá xá!

Bất kể người đi họp phụ huynh cho Mỹ Anh là ba hay mẹ nó, Trân vẫn phải đề cao cảnh giác. Trân đứng trước cửa lớp mình canh chừng không chớp mắt, mặc xác tên lớp trưởng đang ba hoa bốc phét về khả năng cảm hóa con người của hắn. Mừng quýnh khi thấy bóng mẹ từ xa, Trân vội kéo mẹ vào lớp thật nhanh. Sau đó, cô bé ngó ngang ngó dọc vào lớp 10A1, Mỹ Anh đang ngồi trong lớp sắp xếp giấy tờ gì đó, không thấy ba hay mẹ nó tới.

Sự việc khá là suôn sẻ cho đến khi buổi họp kết thúc, Trân tung tăng rủ mẹ đi về thì cô bé hoảng hồn nhìn thấy chiếc xe hơi đen bóng đỗ bên cạnh cổng trường.

Mỹ Anh đã xuống tự khi nào và đang nhăn nhó gõ gõ lên mặt kính xe.

Cánh cửa xe bật mở, người đàn ông trung niên có mái tóc hoa râm bước xuống. Trễ mất rồi…!

Mẹ Trân đứng sững như trời trồng. Trân ráng kéo mẹ tránh xa chỗ này càng nhanh càng tốt nhưng mẹ cứ đứng chết lặng một chỗ. Người đàn ông kia thản nhiên cùng con gái đi vào. Trân mong sao ông ta lờ quách hai mẹ con đi cho xong. Vậy mà khi ánh mắt ông ta dừng lại chỗ hai mẹ con, ông ta cũng đứng im như tượng. Mỹ Anh mở to đôi mắt ngạc nhiên hết nhìn ba nó rồi nhìn hai mẹ con Trân.

Ông ta sau đó đã nhanh chóng lấy lại thái độ thản nhiên, coi như không thấy gì và bước ngang qua hai mẹ con. Mẹ tha thiết nhìn theo cho đến khi ông ta mất hút sau chiếc cầu thang. Mỹ Anh cũng ngoảnh lại nhìn.

Hôm đó, mẹ lấy cớ nhức đầu, giam mình trong phòng suốt.

****

Sắp tới lễ Halloween, toàn trường sôi nổi chuẩn bị các chương trình ca múa nhạc kịch. Tên lớp trưởng tuy bận bịu với công tác tổ chức nhưng hễ rảnh là lao tới gặp Trân, ra sức thuyết phục Trân diễn trong vở kịch của hắn. Ban đầu Trân cũng thích thú khi được mời đi đóng kịch, nhưng sau khi nghe qua kịch bản thì Trân hầm hầm bỏ đi mặc cho hắn lết theo năn nỉ.

Nội dung vở kịch kể về hai nàng công chúa xinh đẹp ở một vương quốc xa xưa. Nàng công chúa chị xấu tính, độc ác và hay ghen tuông. Nàng công chúa em thì hết sức hiền lành và dịu dàng. Bởi vậy mà tất cả mọi người trong vương quốc kể cả nhà vua đều rất mực thương yêu công chúa em. Công chúa chị thấy vậy rất tức giận, trong lòng vô cùng căm ghét em gái. Một hôm, có một chàng hoàng tử ở nước lân bang đến thăm. Công chúa chị khi nhìn thấy hoàng tử đã yêu say đắm chàng ngay từ cái nhìn đầu tiên. Nhưng nhà vua lại tuyên bố gả nàng công chúa em cho hoàng tử. Công chúa chị vì quá căm hận nên đã bỏ thuốc độc vào ly nước của công chúa em trong đêm trước ngày cưới. Công chúa em trước khi chết đã nói rằng người mình thương yêu nhất trên đời này chính là chị gái, nàng sẵn lòng làm tất cả để cho chị nàng vui lòng kể cả cái chết. Sau đó nàng tắt thở, công chúa chị vô cùng hối hận đã ôm xác em gái vào lòng kêu khóc.

Vở kịch có một kết thúc đầy bi ai, lớp trưởng hùng hồn tuyên bố rằng đây là một kiệt tác ngang hàng với các tác phẩm của Shakespeare. Một số ý kiến nói rằng nên cho tác phẩm một cái kết hạnh phúc hơn, không nên để cho công chúa em phải chết. Lớp trưởng ngay lập tức gạt đi và nói rằng chỉ có cái chết mới có thể thức tỉnh được một con người.

Sau khi ban bố nhiệm vụ đóng vai công chúa chị cho Trân, hắn còn nói chắc như đinh đóng cột:

“ Đúng thế! Bà sinh ra chính là để dành cho vai diễn này!”

Vì vở kịch là sự hợp tác giữa hai lớp 10A1 và 10A2 nên người thích hợp đóng vai công chúa em nhất không ai khác chính là Mỹ Anh.


(còn tiếp)
December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31