My Opera is closing 3rd of March

Subscribe to RSS feed

ĐỂ CÓ MỘT GIỌNG NÓI HAY

qua bài viết, hơn nữa còn tuỳ vào bạn thích luyến theo kiểu gì. Tuy nhiên, về cơ bản, việc luyến trọng âm khá giống với thanh NGÃ (~) trong tiếng Việt, khi kéo dài ra và đọc trầm bổng một cách rõ ràng hơn. Nghĩa là đầu tiên bạn thổi âm cho vồng lên rồi lại đè xuống, và kết thúc hơi lên một chút. (đồ thị cường độ âm tương tự như hình dấu ~). Nhưng hãy chú ý là nếu đọc khan như dấu Ngã của tiếng Việt (cụt lủn), thì chả bao giờ bạn đọc đúng cả, phải nhấn đủ đô (dài và mạnh).

Về lý thuyết là thế, nhưng để cho nhanh, các bạn nên tham khảo ngay trên TV, radio hay nghe người bản ngữ nói để tập theo (bản ngữ ở đây là các nước nói tiếng Anh chính thống).

2. Giai điệu của câu

Tương tự, trong câu có các trọng âm câu thì tương ứng cũng phải có giai điệu của câu. Cái này khó có thể miêu tả ở đây. Đây là điểm cứu cánh, tính chất quyết định cuối cùng đến một giọng nói hay.

Về nguyên tắc, câu nói phải lên bổng xuống trầm với các mốc của nó là các Trọng Âm Câu (xem phía trên). Các trọng âm câu không chỉ phải luyến nuột và rõ hơn các trọng âm thường một cách đơn thuần, mà nó còn phải có vai trò lãnh xướng (lead) các âm tiết quanh nó. Nghĩa là trước và sau khi luyến trọng âm câu, thì các âm tiết quanh nó cũng phải có một sự hậu thuẫn làm nền như thế nào đó...

*****

CÁC PHONG CÁCH NÓI TRONG TIẾNG ANH PHỔ THÔNG

Sau khi đã luyện được giọng nói có giai điệu, luyến liếc ngon lành, bạn có thể bước vào giai đoạn luyện nói thực sự hay luyện nói thực hành (practical speaking). Lúc này, bạn có thế coi có xuất phát điểm tương đương với người một bản ngữ thông thường. Thách thức của bạn bây giờ là nói phải hay, phải hấp dẫn người nghe, thậm chí hấp dẫn cả người bản ngữ.

Cũng như các ngôn ngữ khác, tiếng Anh có rất nhiều phong cách nói . Nếu các bạn không phân biệt được các phong cách trong các tình huống khác nhau, cứ bê nguyên một kiểu giọng mọi lúc mọi nơi thì dễ mắc phải tật ăn nói lộp bộp như gà mắc tóc. Nói chuyện phiếm ở quán nước phải khác với tranh luận trong cuộc họp, phát biểu phải khác với đọc bản tin…

Có rất nhiều phong cách, nhưng tạm chia ra các phong cách chính như sau:

1. Giọng nói chuyện thông thường:

Đây là phong cách phổ thông nhất mà ai cũng dùng hàng ngay khi trò chuyện. Chính vì thế, nó cũng không có quy tắc gì cả, ai thích nói kiểu gì thì nói, trầm bổng, đều đều, nhỏ to đều ok cả. Nhưng vì trò chuyện thường dài, phải nói nhiều nên người ta hay nói nhanh, chú ý tới trọng âm nhưng ít luyến, đồng thời nuốt âm tiết phụ rất nhiều. Các bạn có thể tham khảo trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là trên điện ảnh.

2. Giọng đọc bản tin, báo cáo

Đọc bản tin, báo cáo hay các loại hình tương tự đã bắt đầu phải có tình hình thức (formal) rồi. Người đọc bản tin có thể nói nhanh chậm tuỳ ý (các phóng viên và phát thanh viên của BBC, CNN thường đọc bản tin hay báo cáo khá nhanh, đặc biệt là tin nóng). Nhưng một yêu cầu quan trọng là phải rõ ràng, mạch lạc (vì đối tượng nghe là quần chúng) và trung tính, nghĩa là không nên đặt cảm xúc cá nhân vào câu nói (vì bản chất thông tin là phải khách quan).

3. Giọng đọc chương trình khoa học, phóng sự

Giọng đọc các chương trình kiểu phóng sự, khoa học thường thức… có yêu cầu cao hơn giọng bản tin. Nó có các tiêu chí sau:

- Rõ ràng mạch lạc (dĩ nhiên)
- Khoan thai (để người nghe còn có thời gian nắm những thông tin, nhất là thông tin khoa học)
- Mềm mại với một chút truyền cảm tương đối (nhằm mục đích lôi cuốn người nghe vào các thông tin thường là mới, chứ không phải đưa cảm xúc hay ý đồ cá nhân vào)

4. Giọng hùng biện

Đây là cấp khó nhất trong việc nói. Ngay chuyện nói trước công chúng đã không phải là việc dễ, nhất là với người Việt hay xấu hổ. Từ phát biểu, đọc diễn văn, đến diễn thuyết hay trình bày (present) hoặc nghị/tranh luận (luật sư chẳng hạn) trước đám đông đòi hỏi nhiều kĩ năng kết hợp, một trong đó là giọng nói hấp dẫn. Cái này là kết quả của năng khiếu cộng với luyện tập kiên trì. Nếu bạn là người không có khiếu hùng biện, thì hãy cần cù bù thông minh. Ngày trước có chuyện về một người hồi bé nói không ra hơi, về sau nhờ hàng ngày ngậm sỏi đứng nói át tiếng sóng biển mà trở thành nhà hùng biện nổi tiếng.

Ngoài các yêu cầu mạch lạc và rõ ràng, để luyện phong cách rất xương này ngoài còn phải rất lưu ý các điểm sau:

- Tốc độ: có thể lúc nhanh dồn dập, lúc khoan thai điềm đạm nhấn từng chữ tuỳ vào ý người muốn trình bày. Đặc biệt trọng âm câu phải rất chú trọng vì nó nêu bật ý người nói. Bình thường ta có thể nói với tốc độ trung bình, nhưng đến các từ khoá hay ngữ khoá, ta phải chậm lại, nhấn mạnh và rõ.

- Âm lượng: lúc trầm lúc bổng có kiểm soát, đặc biệt chú ý thổi âm và luyến vồng ở các trọng âm câu hay từ/ngữ khoá.

- Cảm xúc: càng truyền cảm càng tốt, vì phong cách này là phục vụ mục đích cá nhân (hay đại diện một tổ chức) nên càng khiến người nghe đồng tình với mình thì càng tốt (motivating).Tuỳ theo ý đồ, người nói hoà cả cảm xúc lẫn ý chí của mình vào câu nói, nhờ đó mà điều khiển tốc độ và âm lượng theo ý mình, giúp cho việc biểu hiện (express) được cái hồn của vấn đề.

Trên đây là 4 phong cách chính trong tiếng Anh nói riêng và các ngôn ngữ nói chung (kể cả tiếng Việt). Ngoài ra, còn có các phong cách trung gian, hay kết hợp giữa các phong cách trên, các bạn có thể bổ sung thêm cho đa dạng.

Việc phân biệt các phong cách nói theo tình huống là rất quan trọng, để người nói có thể lựa chon giọng nói cho phù hợp, nhằm đạt kết quả là truyền đạt thông tin đến người nghe một cách tối ưu. Hơn nữa, các phong cách khá khác biệt, không thể bệ nguyên cách nói ở tình huống này vào một tình huống khác được.

Các bạn phải dựa vào chính sức mình, tự tìm tòi ra phương pháp của riêng mình trong quá trình tự rèn luyện, với sự hỗ trợ của các tham khảo đắc lực là TV, radio hay người thực việc thực. Mọi lý thuyết sách vở chỉ là giáo điều, chỉ là cặn bã của người viết (Trang Tử), thực tế mới là quan trọng, bởi vì:

PHỤ LỤC 1: CÁC QUY TẮC TRỌNG ÂM VÀ PHÁT ÂM THƯỜNG GẶP


Vị trí tương đối của trọng âm so với các tiếp/hậu tố (suffix) đặc biệt

* Ghi chú:

Kí hiệu: ‘### trọng âm chính; ,### trọng âm phụ; Thông thường, các trọng âm phụ có thể không được kí hiệu trong một số từ điển, nhưng khi nói, các trọng âm phụ bao giờ cũng được đọc khá rõ. Thực chất, rõ nhất là trọng âm chính, sau đó là trọng âm phụ, còn các âm còn lại thì có thể nuốt đi.

Quy tắc: Trọng âm phụ hầu hết đứng cách trọng âm chính 1 âm tiết (trước hoặc sau). Một số ngoại lệ đứng cách 2 âm tiết như: ‘classifi’cation; de,terio’ration;…

1.Các hậu/tiếp tố (suffix) thường là Trọng âm:

#eer: engi’neer, volun’teer; pio’neer;…
#ese: ,Japa’nese; ,Vietna’mese;…
#ental: en,viron’mental; ,conti’nental;…

2.Trọng âm thường đứng ngay trước các hậu tố (suffix) sau:

--#ion: ,inter’nation; com’passion; re’ligion; ‘fashion …
--#ure: ad’venture‘; cre’ature; ‘pleasure; ‘injure;… (hầu hết áp dụng cho Danh từ, vì với động từ có một số trường hợp đặc biệt như in’sure, en’sure…vì trọng âm của động từ thường nằm ở âm tiết thứ 2)
--#ity: mu,nici’pality; ,possi’bility; ac’tivity; ‘family;…
--#ogy: tech’nology; bi’ology; ,metho’dology;…
--#aphy: bi’ography; pho’tography;…
--#ian: ,indo’nesian; ’indian;…
--#(i)um: ,audi’torium; a’quarium; mo’mentum, …
--#ial: ma’terial; ‘aerial;…
--#ative (mostly in 4 syllabled words): ‘talkative;con’servative; in’formative… (exception: ‘quantitative, ‘qualitative…)
--#ive (mostly in 2-3 syllabled words): con’ductive; pro’gressive, ‘active; ‘passive;…
--#ic(al): ‘infor’matic; ‘techno’logical, an’gelic; ‘comic…
--#ient/ienc#: efficien-t/ce/cy; pro’ficien-t/cy;…
--#ual: ,indi’vidual; con’ceptual;…
--#ious: re’ligious; de’licious; am’bitious …
--# ify: i’dentify; ’modify;…
--#ish: ‘English; de’molish; es’tablish;…


3.Trọng âm thường đứng cách một âm tiết trước các hậu tố (suffix) sau:
(đương nhiên chỉ áp dụng cho các từ có từ 3 âm tiết trở lên)

Chú ý: Một số hậu tố đơn thường là trọng âm phụ, hay chí ít cũng được đọc khá rõ (dù trong một số từ điển không ghi kí hiệu (,) là trọng âm phụ)

--*#ate: cer’tifi,cate; ‘confis,cate; …
--*#ise/ize: in’dustria,lise; ‘visua,lize; …
--*#age: ‘sabotage; ‘heritage;…
--*#ism/ist: ,ento’mologist; ‘moder,nism/ist; ‘natura,lism/ist ( (tural) đã bị đọc nuốt thành một âm là (tSral) nên (na) vẫn coi là cách (ism) một âm tiết); …
--*#er: phy’loso,pher; pho’togra,pher; in’terpre,ter; ‘moni,tor; ‘bache,lor;.. (ngoại trừ một số danh từ chỉ người được tạo nên bởi việc thêm (er) vào động từ 2 âm tiết vốn thường có trọng âm ở âm tiết thứ 2: per’form -- > per’former; … hoặc với trường hợp có (#ator) như co’ordi,nator; co’ope,rator;… vì giống trường hợp chứa tiếp tố (--#ate) )
--*#ory/ary: pre’paratory; vo’cabulary; la’borotory; ‘fragmentary… (nhưng đây là quy tắc yếu vì có nhiều trường hợp trọng âm nằm ngay trước nó chứ không cách: ,satis’factory, ,manu’factory; hay trong từ chỉ có 3 âm tiết: ‘sensory…)

4. Một số quy tắc khác

- Đối với động từ và tính từ có 2 âm tiết, thì trọng âm hầu hết nằm ở âm tiết thứ 2: im’port; ex’port; im’pact; ...; co’rrect; e’xact;...

- Đối với danh từ có 2 âm tiết, thì trọng âm hầu hết nằm ở âm tiết thứ nhất: ‘export; ‘import; ‘impact; ‘effort;...

- Đối với từ có 4 âm tiết kết thúc bằng #ent; #ence; #ency; #ant; #ance thì trọng âm đứng ở âm tiết thứ 2: en’vironment; e’quivalen-t/ce/cy; sig’nifican-t/ce;...

- Đối với từ có 3 âm tiết kết thúc bằng #ent; #ence; #ency; thì trọng âm thường đứng ở âm tiết thứ 1 khi bắt đầu có phụ âm: ‘preferen-t/ce; ‘consequen’t/ce;… còn đứng ở âm tiết thứ 2 khi bắt đầu bằng nguyên âm (trừ i) đơn thuần (nghĩa là mình nguyên âm tạo nên âm tiết thứ nhất, không kết hợp với phụ âm): e’mergen-t/ce/cy; occuren-t/ce;…

- Đối với từ có 2 âm tiết (đặc biệt là danh từ) thì trọng âm thường nằm ở âm tiết thứ nhất khi có các hậu tố sau: #ate, #ism/ist, #ent; #er, #age, #ous: ‘climate; ‘marxism; ‘artist; ‘payment; ‘player; ‘manage; ‘famous…
February 2014
M T W T F S S
January 2014March 2014
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28