Skip navigation.

CIVILIZATION

STICKY POST

CÁC MỤC CHÍNH


STICKY POST

VĂN BẢN LUẬT NGÀNH XÂY DỰNG

,

1./ TẢI FREE CÁC VĂN BẢN LUẬT CỦA NGÀNH XÂY DỰNG BẠN CLICK VÀO ĐÂY
2./ TẢI FREE CÁC TIÊU CHUẨN XÂY DỰNG (TCXD) TIÊU CHUẨN VIỆT NAM (TCVN) VÀ TIÊU CHUẨN NGÀNH (TCN) CÓ LIÊN QUAN BẠN CLICK VÀO ĐÂY
Nếu bạn cần văn bản luật nào mà trong bài chưa có thì bạn có thể gửi Email đến hai địa chỉ sau:

dungcivil@yahoo.com
dungcivil@gmail.com

Read more...


Những điểm chính thông tư 39/2009 -TTBXD về quản lý chất lượng công trình nhà ở riêng lẻ

Từ trước tới nay chúng ta chưa có quy định cụ thể về quản lý xây dựng công trình xây dựng riêng lẻ với chủ đầu tư là những cá nhân và hộ gia đình.Thông tư này có đối tượng là những loại công trình này.
Nguyên tắc chung đối việc xây dựng nhà ở
_Có bản vẽ thiết kế đúng quy định của pháp luật xây dựng .
_Phải có giấy phép xây dựng ,trừ những công trình vùng sâu vùng xa không thuộc đô thị và không thuộc khu dân cư tập trung .Hãy đến các cơ quan cấp giấy phép xây dựng để có được giấy phép này.
_Khuyến khích chủ nhà thực hiện công việc giám sát xây dựng có nghĩa là không có giám sát cũng được .
_Những tổ chức cá nhân thực hiện công việc xây dựng các loại công trình như thế này phải có năng lực theo thông tư này.
Trách nhiệm của chủ nhà và các đơn vị thực hiện công việc xây dựng
theo điều 50 ,57 , 75 ,76 , 88 của luật xây dựng :
Điều 50 - LXD. Quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư xây dựng công trình trong việc khảo sát xây dựng
1. Chủ đầu tư xây dựng công trình trong việc khảo sát xây dựng có các quyền sau đây:
a) Được tự thực hiện khi có đủ điều kiện năng lực khảo sát xây dựng;
b) Đàm phán, ký kết, giám sát thực hiện hợp đồng;
c) Điều chỉnh nhiệm vụ khảo sát theo yêu cầu hợp lý của nhà thiết kế;
d) Đình chỉ thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng theo quy định của pháp luật;
đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Chủ đầu tư xây dựng công trình trong việc khảo sát xây dựng có các nghĩa vụ sau đây:
a) Phê duyệt nhiệm vụ khảo sát do nhà thiết kế hoặc do nhà thầu khảo sát lập và giao nhiệm vụ khảo sát cho nhà thầu khảo sát xây dựng;
b) Lựa chọn nhà thầu khảo sát xây dựng trong trường hợp không đủ điều kiện năng lực khảo sát xây dựng để tự thực hiện;
c) Cung cấp cho nhà thầu khảo sát xây dựng các thông tin, tài liệu có liên quan đến công tác khảo sát;
d) Xác định phạm vi khảo sát và bảo đảm điều kiện cho nhà thầu khảo sát xây dựng thực hiện hợp đồng;
đ) Thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký kết;
e) Tổ chức nghiệm thu và lưu trữ kết quả khảo sát;
g) Bồi thường thiệt hại khi cung cấp thông tin, tài liệu không phù hợp, xác định sai nhiệm vụ khảo sát và các hành vi vi phạm khác gây thiệt hại do lỗi của mình gây ra;
h) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

ưĐiều 57- LXD . Quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư xây dựng công trình trong việc thiết kế xây dựng công trình
1. Chủ đầu tư xây dựng công trình trong việc thiết kế xây dựng công trình có các quyền sau đây:
a) Được tự thực hiện thiết kế xây dựng công trình khi có đủ điều kiện năng lực hoạt động thiết kế xây dựng công trình, năng lực hành nghề phù hợp với loại, cấp công trình;
b) Đàm phán, ký kết và giám sát việc thực hiện hợp đồng thiết kế;
c) Yêu cầu nhà thầu thiết kế thực hiện đúng hợp đồng đã ký kết;
d) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung thiết kế;
đ) Đình chỉ thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng thiết kế xây dựng công trình theo quy định của pháp luật;
e) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Chủ đầu tư xây dựng công trình trong việc thiết kế xây dựng công trình có các nghĩa vụ sau đây:
a) Lựa chọn nhà thầu thiết kế xây dựng công trình trong trường hợp không đủ điều kiện năng lực hoạt động thiết kế xây dựng công trình, năng lực hành nghề phù hợp để tự thực hiện;
b) Xác định nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình;
c) Cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu cho nhà thầu thiết kế;
d) Thực hiện đúng hợp đồng đã ký kết;
đ) Thẩm định, phê duyệt hoặc trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt thiết kế theo quy định của Luật này;
e) Tổ chức nghiệm thu hồ sơ thiết kế;
g) Lưu trữ hồ sơ thiết kế;
h) Bồi thường thiệt hại khi đề ra nhiệm vụ thiết kế, cung cấp thông tin, tài liệu, nghiệm thu hồ sơ thiết kế không đúng quy định và các hành vi vi phạm khác gây thiệt hại do lỗi của mình gây ra;
i) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 75- LXD . Quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư xây dựng công trình trong việc thi công xây dựng công trình
1. Chủ đầu tư xây dựng công trình trong việc thi công xây dựng công trình có các quyền sau đây:
a) Được tự thực hiện thi công xây dựng công trình khi có đủ năng lực hoạt động thi công xây dựng công trình phù hợp;
b) Đàm phán, ký kết, giám sát việc thực hiện hợp đồng;
c) Đình chỉ thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng với nhà thầu thi công xây dựng theo quy định của pháp luật;
d) Dừng thi công xây dựng công trình và yêu cầu khắc phục hậu quả khi nhà thầu thi công xây dựng công trình vi phạm các quy định về chất lượng công trình, an toàn và vệ sinh môi trường;
đ) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan phối hợp để thực hiện các công việc trong quá trình thi công xây dựng công trình;
e) Không thanh toán giá trị khối lượng không bảo đảm chất lượng hoặc khối lượng phát sinh không hợp lý;
g) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Chủ đầu tư xây dựng công trình trong việc thi công xây dựng công trình có các nghĩa vụ sau đây:
a) Lựa chọn nhà thầu có đủ điều kiện năng lực hoạt động thi công xây dựng công trình phù hợp để thi công xây dựng công trình;
b) Tham gia với Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc chủ trì phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền giải phóng mặt bằng xây dựng để giao cho nhà thầu thi công xây dựng công trình;
c) Tổ chức giám sát thi công xây dựng công trình;
d) Kiểm tra biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường;
đ) Tổ chức nghiệm thu, thanh toán, quyết toán công trình;
e) Thuê tổ chức tư vấn có đủ năng lực hoạt động xây dựng để kiểm định chất lượng công trình khi cần thiết;
g) Xem xét và quyết định các đề xuất liên quan đến thiết kế của nhà thầu trong quá trình thi công xây dựng công trình;
h) Tôn trọng quyền tác giả thiết kế công trình;
i) Mua bảo hiểm công trình;
k) Lưu trữ hồ sơ công trình;
l) Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng làm thiệt hại cho nhà thầu thi công xây dựng công trình, nghiệm thu không bảo đảm chất lượng làm sai lệch kết quả nghiệm thu và các hành vi vi phạm khác gây thiệt hại do lỗi của mình gây ra;
m) Chịu trách nhiệm về các quyết định của mình; chịu trách nhiệm về việc bảo đảm công trình thi công đúng tiến độ, chất lượng và hiệu quả;
n) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 76 - LXD . Quyền và nghĩa vụ của nhà thầu thi công xây dựng công trình
1. Nhà thầu thi công xây dựng công trình có các quyền sau đây:
a) Từ chối thực hiện những yêu cầu trái pháp luật;
b) Đề xuất sửa đổi thiết kế cho phù hợp với thực tế để bảo đảm chất lượng và hiệu quả công trình;
c) Yêu cầu thanh toán giá trị khối lượng xây dựng hoàn thành theo đúng hợp đồng;
d) Dừng thi công xây dựng công trình nếu bên giao thầu không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng đã ký kết gây trở ngại và thiệt hại cho nhà thầu;
đ) Yêu cầu bồi thường thiệt hại do lỗi của bên thuê xây dựng công trình gây ra;
e) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Nhà thầu thi công xây dựng công trình có các nghĩa vụ sau đây:
a) Thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký kết;
b) Thi công xây dựng theo đúng thiết kế, tiêu chuẩn xây dựng, bảo đảm chất lượng, tiến độ, an toàn và vệ sinh môi trường;
c) Có nhật ký thi công xây dựng công trình;
d) Kiểm định vật liệu, sản phẩm xây dựng;
đ) Quản lý công nhân xây dựng trên công trường, bảo đảm an ninh, trật tự, không gây ảnh hưởng đến các khu dân cư xung quanh;
e) Lập bản vẽ hoàn công, tham gia nghiệm thu công trình;
g) Bảo hành công trình;
h) Mua các loại bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm;
i) Bồi thường thiệt hại khi vi phạm hợp đồng, sử dụng vật liệu không đúng chủng loại, thi công không bảo đảm chất lượng, gây ô nhiễm môi trường và các hành vi vi phạm khác gây thiệt hại do lỗi của mình gây ra;
k) Chịu trách nhiệm về chất lượng thi công xây dựng công trình do mình đảm nhận;
l) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

Điều 88-LXD . Yêu cầu của việc giám sát thi công xây dựng công trình
Việc giám sát thi công xây dựng công trình phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
1. Thực hiện ngay từ khi khởi công xây dựng công trình;
2. Thường xuyên, liên tục trong quá trình thi công xây dựng;
3. Căn cứ vào thiết kế được duyệt, quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng;
4. Trung thực, khách quan, không vụ lợi.

còn tiếp..

MỘT SỐ KHÓ KHĂN THƯỜNG GẶP TRONG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH

1. Giới thiệu chung
Việt Nam hiện nay đang phát triển nhanh chóng sau khi chuyển
đổi thành công từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường từ năm 1986. Chính vì vậy, đầu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà máy, nhà ở... cũng đang tăng lên rất nhanh. Cùng với nguồn vốn đầu tư rất lớn vào ngành Xây dựng, việc quản lý các công trình đang phải đối mặt với hàng loạt các thách thức và khó khăn do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan gây ra. Việc chỉ ra các khó khăn cụ thể và nguyên nhân là cần thiết để giúp cho CĐT, nhà thầu xây dựng, cơ quan chính phủ, tổ chức viện trợ... hiểu được những hậu quả do các trục trặc đó gây ra và có biện pháp hữu hiệu nhằm loại bỏ hoặc giảm thiểu tác động tiêu cực của chúng. Do vậy, nội dung bài báo nhằm xác định những khó khăn điển hình, thường gặp cũng như nguyên nhân của chúng khi thực hiện hoạt động ĐTXD và phát triển tại Việt Nam.

2. Điểm qua các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam
Hiện tại đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới về các rủi ro hay các khó khăn nảy sinh
hoạt động xây dựng. Với các nước đang phát triển có điều kiện gần giống Việt Nam, các trục trặc được nói đến nhiều nhất là việc chậm tiến độ và tăng chi phí xây dựng. Xung đột giữa các bên tham gia dự án trong quá trình đàm phán giá trị xây dựng và giải ngân khối lượng hoàn thành.Ở Việt Nam cũng có một số nghiên cứu rất chi tiết về các rủi ro cụ thể và thường gặp, đề cập tới việc xung đột giữa CĐT, nhà thầu, tư vấn và thầu phụ, dẫn đến việc công trình không hoàn thành đúng theo tiến độ, tăng chi phí chung và giảm chất
lượng xây dựng. Các tai nạn lao động hay xẩy ra tại công trường xây dựng do thiếu ý thức và trang thiết bị bảo hộ. Những nghiên cứu này giúp cho tác giả có một cái nhìn tổng quát hơn về các trục trặc hay xẩy ra tại các công trình xây dựng trên thế giới cũng như Việt Nam.

3.Phương pháp nghiên cứu
Tác giả tiến hành nghiên cứu về các trục trặc hay xuất hiện tại các công trình xây dựng
Việt Nam. Nguồn dữ liệu được thu thập chủ yếu từ các phương tiện thông tin đại chúng như đài, báo, và truyền hình. Mặt khác, nghiên cứu của các đồng nghiệp cũng được tham khảo để tìm ra các rủi ro tiềm ẩn và nguyên nhân của chúng. Nghiên cứu này định nghĩa một trục trặc xuất hiện trong công trường xây dựng là một hiện tượng bất thường xẩy ra và gây hư hại cho kết cấu xây dựng hoặc tăng chi phí và thời gian hoặc gây xung đột giữa các bên tham gia xây dựng. Nếu một trục trặc bị nhắc lại nhiều lần thì nó bị coi là trục trặc thường gặp. Ở đây chỉ đề cập đến các trục trặc điển hình và thường gặp

4. Phân tích các trục trặc khi tiến hành đầu tư xây dựng tại Việt Nam
Theo phương pháp truyền thống, một công trình xây dựng thường trải qua các giai đoạn
(1) khởi đầu, (2) thiết kế và dự toán, (3) đấu thầu, (4) chuẩn bị công trường, (5) xây dựng,
1 và (6) sử dụng. Các trục trặc điển hình trong từng giai đoạn được phân tích cụ thể như sau:

còn tiếp...

Quy trình tối ưu hóa dự án

Mọi chuyện bắt đầu từ việc truyện cổ tích “Em bé quàng khăn” đỏ đòi được viết lại: “…Mặt trời chiếu rực rỡ, cần mang bánh cho bà, nhưng rủi ro quá cao”, - người mẹ nghĩ và gọi bác thợ săn đến. Người mẹ đề nghị bác mang giỏ bánh cho bà và lấy một phần bánh trả công cho bác. Như vậy, câu chuyện cổ tích cũng vẫn kết thúc tốt đẹp. Bác thợ săn trở nên mê những chiếc bánh nướng, còn bà mẹ ngày càng thích nướng bánh hơn. Họ lấy nhau. Bà thường xuyên được ăn bánh và không còn phải lo lắng cho cô cháu yêu nữa. Mọi người sống lâu trăm tuổi và hạnh phúc…”.

Một lần vào buổi tối, một câu chuyện cổ tích cũ kỹ mà ai cũng biết bỗng nhiên nổi giận… Nó làm tung tóe cả giá sách và hét toáng lên rằng sẽ còn làm lộn xộn khắp cả nhà chứ không chỉ ở đây. Câu chuyện cổ tích muốn được viết lại…
“Tầm bậy quá chừng! – chắc bạn sẽ hét lên. – Chúng tôi là những người lớn nghiêm túc vào đây để đọc những thông tin có ích. Đây có phải nhà trẻ đâu mà kể chuyện cổ tích?!”
Tôi hoàn toàn đồng ‎ ý với bạn. Hơn nữa, tôi cũng là một người lớn nghiêm túc giống như các bạn. Nào, chúng ta cùng nghĩ xem, những người lớn nghiêm túc có thể cứu rỗi cả thế giới như thế nào.
Và đây là những dữ liệu ban đầu:
Dưới một triều đại của một vị hoàng đế nào đó, ở một quốc gia nào đó đã, ngày xửa ngày xưa có: một người mẹ bánh rất ngon; một cô con gái nhỏ-cô bé quàng khăn đỏ; một con chó sói hung dữ; một người thợ săn dũng cảm; một người bà đang bị ốm.
Và một lần, người mẹ muốn gửi đến bà đang bị ốm những cái bánh do tự tay mình làm ra. Người mẹ nhìn ra ngoài trời. Nắng đẹp. Ngoài sân, cô con gái-cô bé quàng khăn đỏ đang chơi.
“Cô bé biết đường đi, thời tiết đẹp. Hãy để cô bé đi dạo chơi một vòng đến chỗ bà rồi trở về vào buổi chiều”, - người mẹ nghĩ.
”Bé quàng khăn đỏ, - người mẹ gọi con gái, - con hãy mang giỏ bánh đến biếu bà và nhân tiện xem bà có được khỏe không!”.
Trong diễn biến tiếp theo, con chó sói dữ tợn xuất hiện, sau đó đến người thợ săn dũng cảm. Mọi việc tiếp tục như chúng ta đã biết: rất nhiều tình tiết hồi hộp, và những tình tiết này chả có gì liên quan đến những cái bánh, và kết cục – một đoạn kết truyền thống có hậu!
Vào ngày tiếp theo mặt trời lại chiếu rực rỡ.
”Viết lại đi!” – câu chuyện cổ tích lại đòi hỏi.
”Thôi được”, - tôi nghĩ. Và bây giờ xuất hiện ba phương án tiếp tục câu chuyện như sau.
Phương án thứ nhất:
Mặt trời chiếu rực rỡ, không có con chó sói nguy hiểm nào hết, ngoài ra trong rừng lại còn có cả những người thợ săn”, - bà mẹ nghĩ và sai em bé quàng khăn đỏ đi vào rừng. Câu chuyện cổ tích tiếp tục. Bạn có thể tự suy diễn tiếp những diễn biến của nó.
Phương án thứ hai:
Mặt trời chiếu rực rỡ, nhưng trong rừng có những con chó sói hoang hung dữ, và không biết liệu bác thợ săn có xuất hiện đúng vào thời điểm nguy hiểm không. Rủi ro quá lớn. Không thể để cho bé quàng khăn đỏ đi vào rừng được”, - người mẹ nghĩ và không sai con gái đi thăm bà nữa. Câu chuyện cổ tích kết thúc. Mục đích không đạt được.
Phương án thứ ba:
Mặt trời chiếu rực rỡ, bà muốn ăn bánh, nhưng rủi ro quá cao”, - người mẹ nghĩ và gọi bác thợ săn đến. Người mẹ đề nghị bác mang giỏ bánh cho bà và lấy một phần bánh trả công cho bác. Như vậy, câu chuyện cổ tích cũng vẫn kết thúc tốt đẹp. Bác thợ săn trở nên mê những cái bánh nướng, người mẹ ngày càng thích nướng bánh hơn. Họ lấy nhau. Còn bà thường xuyên được ăn bánh và không còn phải lo lắng cho cô cháu yêu nữa. Mọi người sống lâu trăm tuổi và hạnh phúc.
Bạn lại hét lên:
”Ở đây chẳng có gì nghiêm túc cả. – Toàn viết về những điều vớ vẩn!”.
Bạn đừng nóng vội. Còn đây là câu chuyện thứ hai về một Doanh nhân và Dự án của ông ta. Câu chuyện đúng là chỉ dành cho người lớn. Mặc dù cốt chuyện cũng vậy cả thôi. Doanh nhân suy nghĩ rất thấu đáo trước khi đưa ra Dự án:
1. Doanh nhân xác định:
-mục đích;
-những trở ngại có thể xảy ra và cách để giải quyết chúng;
-các tiềm lực về vật chất, tinh thần, thời gian… có thể sử dụng để đạt mục đích;
-lên kế hoạch (các bước đi cụ thể tiếp nối nhau để đạt được mục đích và rủi ro có thể chấp nhận được);
-các giai đoạn của kế hoạch và phương thức đánh giá kết quả của từng giai đoạn này;
-các yếu tố dẫn đến việc ngừng việc thực hiện dự án.
2. Đánh giá tương quan giữa rủi ro và lợi nhuận
3. Đưa ra quyết định và
-bắt đầu thử nghiệm kế hoạch;
-nhưng chưa thực hiện dự án.
4. Khi kết thúc một giai đoạn, Doanh nhân đánh giá:
-thực tế đã đạt được những gì;
-theo kế hoạch thì phải đạt được đến đâu;
-tương quan giữa giai đoạn trước và hiện tại;
-tương quan giữa tất cả các giai đoạn.
5. Phân tích nguyên nhân tại sao thực tế và kế hoạch lại không khớp nhau
-những mối liên hệ nào đã bị bỏ qua, mối liên hệ nào được đánh giá không đúng;
-môi trường xung quanh có gì thay đổi (sau khi nhìn nhận các mối liên hệ dưới một góc độ mới).
6. Xác định lại một lần nữa
-những trở ngại có thể xảy ra và cách để giải quyết chúng;
-các tiềm lực về vật chất, tinh thần, thời gian… có thể sử dụng để đạt mục đích.
7. Phân tích những điểm mới được xác đinh ở điểm 6 và đưa ra một kế hoạch mới (các bước đi cụ thể tiếp nối nhau để thực hiện mục đích và rủi ro có thể chấp nhận được). Trong kế hoạch này có tính đến:
-những mối liên hệ và quy luật mới được phát hiện;
-xác định các giai đoạn và phương thức đánh giá kết quả của các giai đoạn này.
8. Đánh giá tương quan giữa rủi ro và lợi nhuận
9. Đưa ra quyết định và
-bắt đầu thử nghiệm kế hoạch;
-nhưng chưa thực hiện dự án
………..
Cứ như vậy, hoạt động của Doanh nhân để lên dự án bao gồm: giả thiết các mối quan hệ (quy luật) nguyên nhân-hậu quả xác định nào đó; chuẩn bị và tiến hành thử nghiệm; phân tích kết quả; xác định rõ lại giả thiết; lên kế hoạch lại có tính đến những mối quan hệ nguyên nhân-hậu quả mới phát hiện và tiến hành thử nghiệm. Đồng thời ở bước thử nghiệm mới, Doanh nhân xem xét lại tính đúng đắn của những giả thiết cũ và kiểm tra những giả thiết mới – dưới sự tác động qua lại của những yếu tố khác nhau, và ảnh hưởng của chúng đến kết quả các giai đoạn mà Doanh nhân đã đặt ra. Có nghĩa, đây là quá trình Doanh nhân thu nhận những kiến thức và kinh nghiệm cần thiết để đảm bảo sự thành công cho dự án.
Được như vậy thì quá lý ‎‎tưởng. Còn trong thực tế, các điểm quan trọng 4 và 5: “phân tích các kết quả, làm rõ lại các giả thiết, xác định những mối quan hệ chưa được tính đến và phương thức kiểm tra chúng”, - thông thường bị bỏ qua. Và khi đó, dự án của chúng ta sẽ giống như một câu chuyện cổ tích khủng khiếp. Doanh nhân sẽ đau khổ với câu hỏi: “Tại sao công việc kinh doanh lại đau đầu thế nhỉ?!”
Để làm sáng tỏ hơn, chúng ta quay lại với câu chuyện cổ tích cô bé quàng khăn đỏ.
Mục đích được đặt ra: đưa bánh đến cho bà.
Kế hoạch đưa ra: nướng bánh, sai bé quàng khăn đỏ mang bánh cho bà, có giỏ đựng bánh.
Thời gian kết thúc dự án: đến tối.
Các giả thiết đưa ra: thời tiết đẹp, em bé quàng khăn đỏ khỏe mạnh và biết đường đi.
Rủi ro được đánh giá không đáng kể. Quyết định thực hiện.
Kiểm tra các giai đoạn thực hiện: phát hiện ra giai đoạn vận chuyển bánh đã không tính đến sự xuất hiện của con sói ăn thịt trong rừng. Khả năng bé quàng khăn đỏ gặp phải là rất cao.
Trong kế hoạch tiếp theo, xác định phương thức giảm rủi ro với giá chấp nhận được: trả cho bác thợ săn một phần bánh để bác đưa bánh an toàn đến cho bà. Chắc chắn, bác thợ săn sẽ không đòi hỏi nhiều vì đằng nào bác cũng đi vào rừng.
Mọi diễn biến trở nên bình thường, không có gì phải lo lắng cả.
Thu nhận được những kiến thức cần thiết sau:
cần phải xác định rõ tất cả các mạo hiểm có thể khi đưa bánh;
bởi vì việc đưa bánh chưa phải là một quá trình đã được kiểm nghiệm và thông suốt, vì vậy sẽ có rủi ro;
Xác định phương thức tối thiểu hóa mạo hiểm và chi phí.
Tuy nhiên, trong chuyện cổ tích không đặt ra vấn đề thu thập những kiến thức cần thiết để tiến hành kinh doanh chuyển bánh đến những vùng nguy hiểm.
* * *
Vậy, sau khi đọc xong những câu chuyện cổ tích này chắc bạn đã hiểu được mối liên hệ giữa chúng với việc tối ưu hóa dự án (bằng cách thu thập những kiến thức và kinh nghiệm cần thiết một cách có hệ thống và lên kế hoạch lại). Và có thể, công việc kinh doanh của bạn sẽ tốt lên, dù chỉ một chút, đồng thời các cơn đau đầu sẽ ít đi.
Cuối cùng, hãy thử kiểm tra lại một dự án kinh doanh bất kỳ của bạn theo các bước trên để xem mình có thể phát hiện ra những gì.
Chúc bạn thành công!
(Dịch từ Zhuk)

NHỮNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH RỦI RO DỰA TRÊN XÁC SUẤT



Trong bảng, NPV của dự án đầu tư có thể từ -2.484.000 USD đến + 4.444.000 USD. Câu hỏi tiếp theo thường xuất hiện với nhà quản trị là xác suất của mỗi tình huống sẽ bằng bao nhiêu? Câu hỏi này có thể được trả lời bằng cách tính toán những tham số của phân phối xác suất NPV – như là NPV kỳ vọng, độ lệch chuẩn …- hoặc nó có thể được trả lời bằng tính xác suất của từng tình huống cụ thể. Trước tiên, chúng ta sẽ giải quyết phương pháp tính NPV kỳ vọng và và độ lệch chuẩn dựa trên phân phối xác suất của dòng tiền tương lai. Sau đó, chúng ta sẽ tìm hiểu mô phỏng Monte – Carlo, một quá trình cho phép kết hợp một số lượng lớn các thông tin trong phân phối xác suất của dòng tiền. Cuối cùng, chúng ta sẽ xem cây quyết định một công cụ để tính xác suất của các kết quả nhất định khi một số qyết định có thể được hoãn lại cho tới khi có những thông tin mới.

Giá trị kỳ vọng

Nếu dòng tiền dự kiến mỗi năm trong tương lai đã biết, chúng ta có thể tính được giá trị NPV kỳ vọng như sau:



Với E(CFt) là dòng tiền kỳ vọng ở thời điểm t k là tỷ suất sinh lợi đòi hỏi.
Công thức này thì có giá trị khi dòng tiền có tương quan xác định hoàn toàn, tương quan 1 phần hay không tương quan giữa các năm với nhau. Tuy nhiên, một quy luật tương tự thì không thỏa mãn trong IRR.

Độ lệch chuẩn của NPV của một chuỗi các dòng tiền phụ thuộc vào mối tương quan của các dòng tiền qua từng năm. Dòng tiền tương quan từ kỳ này sang kỳ khác nếu phân phối xác suất của dòng tiền của một kỳ nào đó thì liên quan đến dòng tiền thực sự xảy ra trong kỳ trườc đó. Chúng ta bắt đầu bằng cách xem xét 2 thái cực, tương quan hoàn toàn và không tương quan và sau đó tập trung vào những giải pháp để giải quyết những trường hợp khác trong tương quan 1 phần.

Độ lệch chuẩn hiện giá của dòng tiền tương quan hoàn toàn

Dòng tiền tương quan xác định hoàn toàn từ kỳ này sang kỳ khác nếu dòng tiền sau kỳ thứ nhất thì hoàn toàn xác định bởi dòng tiền của kỳ thứ nhất. Nói cách khác, tất cả những thay đổi về dòng tiền tương lai sẽ bị loại trừ khi dòng tiền thứ nhất xảy ra. Nếu

dòng tiền tương quan xác định hoàn toàn qua các năm, độ lệch chuẩn của hiện giá của những dòng tiền này là:



σCF là độ lệch chuẩn của phân phối xác suất dòng tiền năm t

Độ lệch chuẩn hiện giá của một dòng tiền không tương quan
Nếu dòng tiền là không tương quan, dòng tiền của một năm bất kỳ hoàn toàn độc lập với dòng tiền của năm trước đó. Ví dụ, vào cuối năm thứ nhất chúng ta không cần thiết phải biết về dòng tiền thực sự xảy ra trong năm đầu tiên để điều chỉnh những ước tính của chúng ta về dòng tiền năm thứ hai. Nếu chuỗi các dòng tiền không tương quan
nhau, công thức tính độ lệch chuẩn của hiện giá sẽ là:



Ví dụ: mức doanh số hàng năm và dòng tiền có thể xảy ra của dự án đầu tư nhà máy mới của công ty RC được cho trong bảng 2.2
Bảng 2.2 – Mức doanh thu và dòng tiền hàng năm của RC



đơn vị : 1000USD
Dòng tiền kỳ vọng và độ lệch chuẩn của dòng tiền hàng năm được tính như sau:



Với pj: xác suất xảy ra dòng tiền thứ j.
E(CF) = 1.250.000 USD.



σCF = 362.000 USD

Nếu dòng tiền là hoàn toàn tương quan qua từng năm, độ lệch chuẩn của hiện giá của các dòng tiền qua các năm sẽ là:



Mặt khác, nếu dòng tiền là không tương quan, độ lệch chuẩn của hiện giá của các dòng tiền qua các năm sẽ là:



Giả sử rằng giá trị thu hồi hoặc là 1 triệu USD hoặc là 3 triệu USD với xác suất lần lượt là 40% và 60%. Giá trị thu hồi kỳ vọng và độ lệch chuẩn của giá trị thu hồi là:
E(giá trị thu hồi) = 40% x 1.000.000 + 60% x 3.000.000 = 2.200.000 USD



SV: Salvage Value: giá trị thu hồi.
Hiện giá của giá trị thu hồi kỳ vọng và độ lệch chuẩn của hiện giá giá trị thu hồi là





Giá trị thu hồi thì không tương quan với dòng tiền hoạt động hàng năm do đó chúng ta có thể áp dụng quy tắc thống kê căn bản là phương sai của tổng các biến cố độc lập nhau sẽ bằng tổng các phương sai riêng lẽ. Bởi vì đầu tư thuần ban đầu đã biết, chúng ta có thể tính được hiện giá thuần kỳ vọng và độ lệch chuẩn của hiện giá thuần dựa trên cả hai giả định là không có tương quan trong chuỗi thời gian và có tương quan hoàn toàn qua các năm



Tương quan hoàn toàn qua các năm



Không tương quan qua các năm



Tương quan hoàn toàn và không tương quan là hai thái cực mà chúng ta hiếm gặp trong thực tế. Tương quan một phần thì phổ biến hơn, trong đó có một vài sự liên hệ giữa dòng tiền năm này và dòng tiền của năm kế tiếp. Nếu doanh thu thấp hơn mức dự kiến trong suốt năm thứ nhất thì dự báo cho năm thứ hai phải được điều chỉnh lại nhưng những số liệu về doanh thu thực sự xảy ra ở năm thứ nhất sẽ giúp loại trừ sự không chắc chắn về doanh thu trong tương lai.

Phân tích về 2 thái cực ở trên sẽ hữu dụng trong trường hợp tương quan một phần. Nếu chuỗi các dòng tiền là tương quan một phần, độ lệch chuẩn của NPV sẽ nằm đâu đó giữa 2 thái cực này, giữa 868.000 USD và 1.501.000 USD. Với ví dụ của công ty RC, chúng ta có thể phán đoán rằng độ lệch chuẩn ước tính sẽ gần với 868.000 USD nếu chúng ta tin rằng mức tương quan là thấp và gần với 1.501.000 USD nếu chúng ta tin rằng mức tương quan là cao. Đã có rất nhiều tác giả đóng góp những nghiên cứu về phương pháp kỹ thuật để tính độ lệch chuẩn của NPV trong trường hợp đặc biệt liên quan đến tương quan 1 phần.

Một khi NPV kỳ vọng và độ lệch chuẩn NPV đã được tính toán, nhà quản trị có thể sử dụng những thông tin này để ra quyết định, hoặc là sử dụng phán đoán hoặc là phát triển những định hướng chính sách để có thể chấp nhận sự đánh đổi giữa khả năng sinh lợi và rủi ro. Chúng ta thảo luận việc ra quyết định sau khi giải thích sự mô phỏng và phân tích cây quyết định, đây là những công cụ cấp cao cho việc nghiên cứu phân phối xác suất của khả năng sinh lợi.


còn tiếp...

HÃY ẤN VÀO ĐÂY ĐỂ CÓ NHIỀU KIẾN THỨC HƠN.