Mẹo học bộ thủ
Monday, March 30, 2009 9:59:03 AM
Đây là 1 bài sưu tầm trong nét về cách học bộ thủ chữ Hán làm sao cho dể nhớ ... bằng thơ - cũng giống như Tam Thiên Tự ... Tiếc là không có đủ thơ cho tất cả 214 bộ thủ ...
木-水-金
火-土-月-日
川-山-阜
子-父-人-士
宀-厂
广-戶-門-里
谷-穴
夕-辰-羊-虍
瓦-缶
田-邑-尢-老
Đọc như sau :
Mộc-cây, Thuỷ-nước, Kim-vàng
Hoả-lửa,Thổ-đất, Nguyệt-trăng, Nhật-trời
Xuyên-sông, Sơn-núi, Phụ-đồi (1)
Tử-con, Phụ-bố, Nhân-người, Sỹ-quan (2)
Miên-mái nhà, Hán-sườn non (3)
Nghiễm-hiên, Hộ-cửa, cổng-Môn, Lý-làng
Cốc-thung lũng, Huyệt-cái hang
Tịch-khuya,Thần-sớm (4) , dê-Dương, Hổ-hùm
Ngoã-ngói đất, Phẫu-sành nung
ruộng-Điền, thôn-Ấp (5), què-Uông, Lão-già
Ghi chú:
Những chữ viết Hoa là âm Hán việt, những chữ viết thường là nghĩa.
Vd: Mộc -cây, tức là chữ Mộc nghĩa là cây cối.(thực ra mộc = gỗ)
a) 2 câu đầu nói đủ thất diệu (mặt trăng, mặt trời và 5 ngôi sao trong hệ mặt trời Kim, mộc , thuỷ , hoả , thổ)-tức là nói về Thiên.
b) 2 câu tiếp theo nói về Địa và Nhân (các thứ trên mặt đất, và các dạng người)
c) 2 câu tiếp nữa là những khái niệm do con người tạo ra, sử dụng, cư trú.
d) 2 câu tiếp nữa nói về thời hồng hoang, ở trong hang núi, bắt đầu có khái niệm về buổi sáng , buổi tối, cũng như thiên địch (hổ) và thức ăn (dê). Người TQ cổ đại nuôi dê rất sớm. thực ra Dương = cừu.
e) 2 câu cuối nói về thời kỳ đã tìm ra lửa, biết nung ngói. nung gốm sứ. Làm ruộng, đời sống con người tốt hơn, nâng cao tuổi thọ, nên có chữ Lão = người già.
(1) Phụ nghĩa gốc là quả đồi đất, thường dùng trong các chữ Hán chỉ địa danh.
(2) Sỹ là người có học, ở đây vì bắt vần, nên tôi cho Sỹ = quan lại. Vì chỉ có người có học mới có thể làm quan.
(3) Hán nghĩa gốc là chỗ sườn núi (non) rộng rãi, dùng để làm nơi sản xuất, vì vậy mà người ta mới lấy nó làm chữ Chang3 (công xưởng)
(4) Chữ Thần nghĩa là Thìn (1 trong 12 con giáp), cũng có nghĩa là ngày giờ (vd: cát nhật lương thần = ngày lành giờ tốt). Cổ văn dùng giống như chữ 晨 là buổi sớm, ở đây vì bắt vần, tôi cho Thần = buổi sớm.
(5) Chữ Ấp nghĩa là đất vua ban, nhưng người VN ở miền nam thường dùng chữ Ấp với nghĩa là 1 khu vực, 1 thôn làng, vì vậy tôi cho thôn = Ấp.
廴-辶
勹-比-廾
鳥-爪-飛
足-面-手-頁
髟-而
牙-犬-牛-角
弋-己
瓜-韭-麻-竹
行-走-車
毛-肉-皮-骨
Đọc là:
Dẫn-đi gần,Sước-đi xa (1)
Bao-ôm, Bỉ-sánh, Củng-là chắp tay (2)
Điểu-chim, Trảo-vuốt, Phi-bay
Túc-chân, Diện-mặt, Thủ-tay, Hiệt-đầu(3)
Tiêu là tóc, Nhi là râu (4)
Nha-nanh, Khuyển-chó, Ngưu-trâu, Giác-sừng
Dực-cọc trâu,Kỷ-dây thừng (5)
Qua-dưa, Cửu-hẹ, Ma-vừng, Trúc-tre(6)
Hành-đi, Tẩu-chạy, Xa-xe
Mao-lông, Nhục-thịt, da-Bì, Cốt-xương.
Chú giải:
1. Hai bộ Dẫn, Sước có ý nghĩa rất rộng, thường chỉ về hành động, đặc biệt là sự đi lại, ở đây tôi tạm dịch Dẫn=đi trong phạm vi gần, Sước=đi trong phạm vi xa. (Cũng là để cho bắt vần)
2. Bao = bao bọc, ôm ấp,bao che. Nên tôi viết Bao = ôm. Bỉ = so sánh. Bộ Củng có nghĩa là 2 tay chắp lại để nâng 1 vật nào đó , hoặc chắp tay lại. (Cổ văn vẽ bộ Củng là hình 2 bàn tay)
3. Bộ Hiệt vẽ cái đầu người . Chú ý phân biệt với bộ Thủ (vẽ đầu con thú, nghĩa gốc Thủ= đầu con thú- Lý Lạc Nghị)
4. Bộ Tiêu nghĩa là tóc dài, các chữ chỉ về râu tóc thường có bộ này. Bộ Nhi vốn là 1 chữ tượng hình, vẽ chòm râu dưới cằm (Lý Lạc Nghị). Sau này người ta giả tá (mượn chữ Nhi này để chỉ 1 nghĩa khác).Cho nên ngày nay bộ Nhi trở thành 1 hư tự trong tiếng Hán.Trong 1 vài chữ Hán có chứa bộ Nhi, bộ Nhi vẫn mang ý nghĩa là râu cằm. 耐 (nhẫn nại, bị nhổ râu,đau, phải nhẫn nại), 耍 (chơi đùa, đàn bà vốn ko có râu, thế mà bộ Nữ lại đi với bộ Nhi (râu)).
5. Bộ Dực = cọc buộc mũi tên, hoặc súc vật. Ở đây tôi dịch là cọc buộc trâu, cũng chỉ là để liên tưởng mà thôi.
Bộ Kỷ cũng là vẽ 1 sợi dây thừng (Lý Lạc Nghị) sau đó, người ta cũng giả tá nó làm 1 trong 10 thiên can. (vd: năm Kỷ mùi).Và còn giả tá làm nghĩa Kỷ= tôi, bản thân, mình. Nghĩa gốc của chữ Kỷ 己 là chữ Kỷ 紀.
Người nguyên thủy ghi nhớ bằng cách lấy 1 sợi dây thừng thắt lại nhiều nút. Mỗi nút là 1 sự kiện.
6. 芝麻 Nghĩa là Vừng (hoặc Mè trong tiếng miền nam). Người miền nam VN gọi vừng là Mè vì họ bắt chước cách đọc chữ zhima của người Quảng đông. Bộ Ma còn có nghĩa là cây gai v.v
- Hai câu đầu nói về các động tác của con người (chân và tay)
- Câu 3 nói đến loài chim
- Câu 4 có tính biền ngẫu : Túc, Diện, Thủ, Hiệt- Thủ //Túc ; Diện//Hiệt. (chân & tay, đầu & mặt)
- Câu 5 nối tiếp chữ Hiệt = đầu người (nên có tóc , có râu)
- Câu 6 có tính biền ngẫu: Nha,Khuyển, Ngưu, Giác( Chó có răng nanhnhọn, Trâu có sừng cong)Đồng thời Trâu chó, cũng là 2 con vật đi đôivới nhau. (Ngưu thực ra là bò, trâu là shuiniu)
- Câu 7 có tính nối liền: Cọc trâu, Dây thừng (cọc buộc trâu ắt phải có dây thừng)
- Câu 8 nói về thực vật. Qua, Cửu, Ma, Trúc
- Câu 9 nói đến Giao thông, các từ đều nằm trong cùng trường nghĩa (đi lại)
- Câu 10 nói đến các bộ phận trên cơ thể. Mao, Nhục, Bì , Cốt. Đồng thời cũng có tính biền ngẫu. Mao đi với Bì (da & lông) Cốt đi với Nhục (xương & thịt).
口,齒
甘,鹵,長,高
至,入
匕,臼,刀,皿
曰,立,言
龍,魚,龜
耒,黹
玄,幺,糸,黃
斤,石,寸
二,八,方,十
Đọc là:
Khẩu là miệng, Xỉ là răng
ngọt Cam, mặn Lỗ, dài Trường, kiêu Cao
Chí là đến, Nhập là vào
Bỉ-muôi, Cữu-cối, Đao-dao, Mãnh-bồn
Viết-rằng, Lập-đứng, lời-Ngôn
Long-rồng, Ngư-cá, Quy-con rùa rùa
Lỗi-cày ruộng, Trỉ-thêu thùa
Huyền-đen, Yêu-nhỏ, Mịch-tơ, Hoàng-vàng
Cân-rìu, Thạch-đá, Thốn-gang
Nhị-2, Bát-8, Phương-vuông, Thập-10
Chú giải:
1. Câu 1 nói về miệng và răng (cùng trường nghĩa)
2. Câu 2 nối tiếp câu 1, nói về vị giác , ngọt , mặn, sau đó chuyển tiếp đến sự trưởng thành (cao, dài). Sự trưởng thành có liên quan mật thiết đến răng.
3. Câu 3 tiếp tục nói đến những điều liên quan với miệng. (đến, vào trong miệng)
4. Câu 4 nói về dụng cụ làm bếp. (muôi múc canh (thìa-spoon), cối giã gạo , con dao, cái bát mãnh (tôi tạm dịch là cái bồn cho bắt vần).
5. Được ăn rồi thì phải nói, câu này là những chữ về việc quân tử Lập Ngôn. (viết =nói rằng, và lập ngôn (tạo dựng uy tín, tiếng nói cho riêng mình)
6. Câu tiếp theo bắt đầu là con rồng (ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo). Câu này gồm 3 loài thuỷ tộc. trong đó đều là linh vật. (Long, quy) và 1 con có thể hoá rồng ( ngư-cá)
7. Câu này là chuyển tiếp, nói sang việc nông tang (cày ruộng, thêu thùa)
8. Thêu thì cần có chỉ , nên câu tiếp theo nói về bộ mịch = tơ và các bộ Huyền , yêu , đều có hình dạng giống bộ Mịch. và bộ Hoàng = màu vàng = >màu sắc, tơ sắc vàng. (đồng thời Huyền , hoàng thường đi với nhau, yêu mịch cũng vậy, và đôi khi dùng với nghĩa như nhau)
9. Câu này nói về cân đo, đong , đếm, Cân = rìu = 1 cân ( đơn vị đo trọng lượng) Thạch = đá, = 1 thạch (đơn vị đo khối lượng) =1 stone , thốn = 1 tấc, là đơn vị đo chiều dài, ở đây để bắt vần tôi dịch 1 thốn = 1 gang tay (sai nhưng dễ liên tưởng).
10. Câu 10 là những bộ thủ dùng để đếm, 2, 8, 10. có thêm bộ Phương = phương hướng. (thập phương).
女,儿
見,目,彳
支
癶,厶
殳
气,風,雨,齊
鹿,馬,豕
生,力,隶
网,舟
黑,白,赤
Đọc là :
Nữ-con gái, Nhân- chân người (1)
Kiến-nhìn, Mục-mắt, Xích-dời chân đi (2)
tay cầm que gọi là Chi (3)
dạng chân là Bát,cong thì là Tư (4)
tay cầm búa gọi là Thù (5)
Khí-không, Phong-gió, Vũ-mưa, Tề-đều (6)
Lộc-hươu, Mã-ngựa, Thỉ-heo
sống-Sinh, Lực-khoẻ, Đãi-theo bắt về (7)
Võng là lưới, Châu-thuyền bè
Hắc-đen, Bạch-trắng, Xích thì đỏ au.
Chú thích:
1. Bộ Nhân ( vẽ hai chân của loài người) . Có thể thấy điều này trong chữ Kiến (nhìn): trên vẽ mắt, dưới vẽ 2 chân người , ngụ ý: chỉ có loài người thì mới có "kiến giải""kiến thức"
2. Nói đến nữ = phái đẹp, là phái đẹp thì khiến cho người ta phải nhìn ngắm (bộ kiến) nhìn thì bằng mắt ( bộ Mục) và nhìn thấy rồi sẽ theo đuổi (bộ Xích= bước đi)
3. Chữ Chi này nghĩa gốc là "1 cành, 1 que" vẽ bàn tay 又 và 1 cành cây nhỏ có 3 cái lá thành ra chữ 十.
Xin lưu ý rằng bộ Hựu thường có nghĩa là bàn tay trong các chữ ghép (phồn thể). (nguồn: Lý lạc Nghị)
4. Dạng chân là Bát 癶 vẽ 2 bàn chân dạng ra, qua 1 quá trình lịch sử biến đổi tự dạng (hình dáng chữ) lâu dài, nó có hình dạng như ngày nay. vd:
登 bước lên (thường là làm lễ nhận ngôi, tế trời đất quỷ thần): gồm 癶 và 豆
(1loại đồ đựng thức ăn thời xưa làm từ gỗ) ngụ ý chân bước lên, bưng theođồ đựng thức ăn để tế lễ. (nguồn: Lý Lạc Nghị - như trên)
**Bộ Tư: no idea. (tôi thấy giống 1 cái gì đó cong cong)
5. Bộ Thù: vẽ bàn tay cầm 1 công cụ phá đá (giống như cái búa thời cổ đại) bên trên là búa, bên dưới là bộ Hựu = bàn tay.
6. Bộ Khí : vẽ đám hơi bốc lên. Bộ Phong : gồm chữ phàm chỉ âm đọc, bộ trùng = sâu bọ, ngụ ý gió nổi thì côn trùng sinh ra ( theo NguyễnKhuê). Bộ Vũ : nét 一là bầu trời; nét丨là từ trên xuống; nét 冂 là chỉ một vùng; bốn chấm 丶丶丶丶làvẽ các hạt mưa. (theo Lý Lạc Nghị). Bộ Tề : vẽ 3 bông lúa trổ đều nhau, cây ở giữa mọc trên đất cao nên cao nhất, 2 cây 2 bên mọc ở đất thấp hơn, nên bông lúa cũng thấp hơn. (theo Lý Lạc Nghị) bộ Tề này biến đổi tự dạng rất lớn, khó nhận ra được. bạn nào có điều kiện, tìm coi chữ Tề viết theo lối tiểu triện sẽ rõ.
Bộ Tề thêm vào cạnh gió mưa, khí hậu, ngụ ý mong muốn thời tiết điều hoà. Tề = tày, đều 1 lượt: vd: tề thiên đại thánh = đại thánh tày trời(to bằng trời). nhất tề : cùng (đều).
7. Tiếp đến nói về loài thú quen thuộc với người TQ: hươu, ngựa ,heo. và các đặc tính của chúng: súc Sinh, khoẻ mạnh. cuối cùng là việcđuổi bắt chúng (bộ Đãi)
Cuối cùng nói về sông nước thuyền bè (giang hồ) nên có hắc , có bạch, đồng thời cũng có cả bọn Đỏ (cộng sản)
Phần tham khảo vui thơ lục bát - đây là bài ngắn về chữ nhất và những câu xài với chữ Nhất:
Bộ nhất (一) là một nét ngang
Nhất nhật bất kiến như tam thu hề 一 日 不 見 如 三 秋 兮 (1)
Những người vừa mới yêu nhau
Một ngày không gặp ngỡ ba năm liền
Nhất nhật phu thê bách nhật ân 一 日 夫 妻 百 日 恩 (2)
Một ngày chồng vợ trăm ngày nghĩa ân
Bách nhật phu thê tứ hải thâm 百 日 夫 妻 四 海 深
Trăm ngày chồng vợ biển tình càng thâm
Nhất tướng công thành vạn cốt khô 一 将 功 成 萬 骨 枯
Tướng nhiều công trạng, vạn người phơi thây
Những người nằm khám Chí Hòa
Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại 一 日 在 囚 千 秋 在 外
(1) Câu nầy trong Kinh Thi - do Khổng Tử sưu tập
(2) có nơi viết là:
一 夜 夫 妻 百 夜 恩, 百 夜 夫 妻 四 海 深
nhất dạ phu thê bách dạ ân, bách dạ phu thê tứ hải thâm
一 夜 夫 妻 百 世 恩, 百 夜 夫 妻 海 样 深
nhất dạ phu thê bách thế ân, bách dạ phu thê hải dạng thâm
Chữ Hán là cũng là chữ tượng hình (vẽ hình) thí dụ chữ Mã vẽ hình con ngựa quay đầu nhìn về đàng sau ... Đây là thí dụ về chữ Ngư là con cá thi vẽ hình con cá lội ngang, sau đó dựng con cá lên, rồi vẽ đồ theo hình con cá (màu đỏ) thì thành ra chữ Ngư:

Còn những chữ ghép thì giải nghĩa theo từng chữ thí dụ:
日: nhật - ngày
月: nguyệt - trăng
明: minh gồm có chữ nhật bên trái và chữ nguyệt bên phải thì nếu ánh sáng mặt trời và mặt trăng nhập lại thì càng sáng thêm nên chữ minh có nghĩa minh mẩn thông minh.
思 = Tư gồm có chữ 田: điền ở trên nghĩa là làm ruộng, chữ tâm 心 ở dưới là tấm lòng - khi làm ruộng thì phải trông trời trông đất trông mây nên chữ tư có nghĩa là lo lắng
山 = sơn (hình dãy núi)
Chữ 仙 thì bên trái có chữ nhân là người, người đi lên núi tu đạo ... thành tiên - thì đó là chữ tiên
Chữ 成 thành có nghĩa là nên, thành tựu, thành lập, thành công
Chữ 城 thành có chữ thổ (土) là đất ở bên trái nên có nghĩa là cái thành
Chữ 誠 thành có chữ ngôn 言 (lời nói) ở bên trái nên chữ thành nầy có nghĩa là thành thật Chữ thác: 滝 hoặc 瀧
Bao gồm bộ thủy gép với chữ long 龍(たつ)=> thử tưởng tượng giòng nước chảy cuốn lên như rồng bay sẽ hình dung ra một ngọn thác. Chữ không (không khí, bầu trời) 空 Gồm chữ huyệt 穴 ghép với chữ công 工. Chữ công (thủ công) nguyên nghĩa chỉ những dụng cụ dùng để đục, khoét, xuyên qua (貫くーつらぬく).Ghép với chữ huyệt(cái lỗ) 穴: có nghĩa là 貫いた穴=>広い穴を想像できる Bạn có thể tưởng tượng, đục khoét hoặc đào một cái lỗ (trong hang động tối tăm chẳng hạn) ... mở to nó ra, phía trước bạn sẽ mở ra một khoảng không gian mà bạn chưa hề hình dung tới => một bầu trời, một thế giới mở ra trước mắt. Đó chính là cách giải thích chữ không 空 của mình! Chữ kiến (nhìn) 見
Trích dẫn:
目と儿(じん、人の形)を組み合わ� �た形。人の目を強調して見る行為を� ��した。
Bao gồm chữ mục (mắt) 目 và nhân đi 儿 , chữ này nhấn mạnh đến mắt của con người, thể hiện hành vi nhìn.

Chữ bộ (đi bộ) 歩
Trích dẫn:
左足と右足の止(足跡の形)を組み� �わせた形から歩く意味となる。
Hình ảnh chân phải, chân trái + chữ chỉ(đình chỉ, dừng lại) 止 => dấu vết đôi bàn chân

Chữ thủ(tay) 手
Trích dẫn:
手の形。5本の指を開いた手首から先� ��形から変形した。

Chữ lợi (lợi ích) 利(リ、きく)
Trích dẫn:
禾(か)と刀(刂、りっとう)を組� �合わせた形。稲など穀物の形である� ��を刀で刈り取る形で、刈り取っても うけようとすることから「もうけ、� �えき」の意味となる。
Bộ hòa (cây lúa) 禾 và cây đao 刀 => hình ảnh thu hoạch lúa => thu về lợi nhuận.
chữ phân (phân chia) 分(ブン、フン、ブ、わける、わかれ� �、わかる、わかつ)
Trích dẫn:
八と刀を組み合わせた形。八はものが左右� �分かれる形から、刀でものを二つに分ける「わける」の� �味となる。
Chữ bát (tám) 八 ghép với chữ đao 刀=> hình ảnh dùng dao bổ đôi thanh củi => chia làm 2 phần.

Chữ tửu (rượu) 酒(シュ、さけ、さか)
Trích dẫn:
酉(ゆう)は酒樽の形で、これに水� �表す氵(さんずい)を加えて「さけ� ��の意味となる。殷王朝では祭のとき に多くの酒を飲み、そのために王朝� �滅んだと言われている。
Bộ thủy 氵 ghép với bộ tửu (hình chai rượu) 酉 => hình dung ra ý nghĩa rượu.

Chữ hữu (bằng hữu, bạn bè) 友 (ユウ、とも、したしむ)
Trích dẫn:
又(ゆう)を二つ重ね合わせた形。又は右手の形で、手と手を取り合って� �け合う意味となり、助け合う人間関� ��の「とも、ともだち、なかま」の意 味に使われる。また、友だちなので� �したしむ、まじわる」の意味にもな� ��。
Chữ ghép bởi 2 chữ hựu (thêm một lần nữa) 又 hình ảnh bàn tay phải nối với bàn tay => hình ảnh giúp đỡ nương tựu nhau trong quan hệ con người => bạn bè.
Chữ sơ (sơ khai, bắt đầu) 初 (ショ、はじめ、はつ)
衣と刀を組み合わせた形。衣は着物� �襟の部分を表し、刀(はさみのこと� ��で布を切って着物を作ることの意味 である。赤ん坊の産衣(うぶぎ)を� �るための儀式を行うことから「はじ� ��、はじめて」の意味となる。

Chữ đạo (con đường) 道(ドウ、トウ、みち)
首と辵(ちゃく、辶)を組み合わせ� �形。辵は「行」と「歩」の合成で歩� ��て進む意味がある。古代では、他民 族の土地を進むときに邪霊を祓い清� �るため異族の首を持って歩いた。そ� ��清められたところが道となる。

Chữ xuân(mùa xuân) 春
春=艸+屯+日 (gồm chữ thảo ghép với chữ đồn và chữ nhật)
屯=一+屮 (gồm chữ nhất ghép với chữ triệt - hình dáng một cọng cỏ => trồi non 芽)
春の文字には「草木がお日様の光を� �びて芽を出し始める頃」という意味� ��含まれる
Thời khắc khi cỏ cây no ánh nắng mặt trời và sinh ra những mầm non đầu tiên => đó chính là ý nghĩa được chứa đựng trong chữ xuân!
木-水-金
火-土-月-日
川-山-阜
子-父-人-士
宀-厂
广-戶-門-里
谷-穴
夕-辰-羊-虍
瓦-缶
田-邑-尢-老
Đọc như sau :
Mộc-cây, Thuỷ-nước, Kim-vàng
Hoả-lửa,Thổ-đất, Nguyệt-trăng, Nhật-trời
Xuyên-sông, Sơn-núi, Phụ-đồi (1)
Tử-con, Phụ-bố, Nhân-người, Sỹ-quan (2)
Miên-mái nhà, Hán-sườn non (3)
Nghiễm-hiên, Hộ-cửa, cổng-Môn, Lý-làng
Cốc-thung lũng, Huyệt-cái hang
Tịch-khuya,Thần-sớm (4) , dê-Dương, Hổ-hùm
Ngoã-ngói đất, Phẫu-sành nung
ruộng-Điền, thôn-Ấp (5), què-Uông, Lão-già
Ghi chú:
Những chữ viết Hoa là âm Hán việt, những chữ viết thường là nghĩa.
Vd: Mộc -cây, tức là chữ Mộc nghĩa là cây cối.(thực ra mộc = gỗ)
a) 2 câu đầu nói đủ thất diệu (mặt trăng, mặt trời và 5 ngôi sao trong hệ mặt trời Kim, mộc , thuỷ , hoả , thổ)-tức là nói về Thiên.
b) 2 câu tiếp theo nói về Địa và Nhân (các thứ trên mặt đất, và các dạng người)
c) 2 câu tiếp nữa là những khái niệm do con người tạo ra, sử dụng, cư trú.
d) 2 câu tiếp nữa nói về thời hồng hoang, ở trong hang núi, bắt đầu có khái niệm về buổi sáng , buổi tối, cũng như thiên địch (hổ) và thức ăn (dê). Người TQ cổ đại nuôi dê rất sớm. thực ra Dương = cừu.
e) 2 câu cuối nói về thời kỳ đã tìm ra lửa, biết nung ngói. nung gốm sứ. Làm ruộng, đời sống con người tốt hơn, nâng cao tuổi thọ, nên có chữ Lão = người già.
(1) Phụ nghĩa gốc là quả đồi đất, thường dùng trong các chữ Hán chỉ địa danh.
(2) Sỹ là người có học, ở đây vì bắt vần, nên tôi cho Sỹ = quan lại. Vì chỉ có người có học mới có thể làm quan.
(3) Hán nghĩa gốc là chỗ sườn núi (non) rộng rãi, dùng để làm nơi sản xuất, vì vậy mà người ta mới lấy nó làm chữ Chang3 (công xưởng)
(4) Chữ Thần nghĩa là Thìn (1 trong 12 con giáp), cũng có nghĩa là ngày giờ (vd: cát nhật lương thần = ngày lành giờ tốt). Cổ văn dùng giống như chữ 晨 là buổi sớm, ở đây vì bắt vần, tôi cho Thần = buổi sớm.
(5) Chữ Ấp nghĩa là đất vua ban, nhưng người VN ở miền nam thường dùng chữ Ấp với nghĩa là 1 khu vực, 1 thôn làng, vì vậy tôi cho thôn = Ấp.
廴-辶
勹-比-廾
鳥-爪-飛
足-面-手-頁
髟-而
牙-犬-牛-角
弋-己
瓜-韭-麻-竹
行-走-車
毛-肉-皮-骨
Đọc là:
Dẫn-đi gần,Sước-đi xa (1)
Bao-ôm, Bỉ-sánh, Củng-là chắp tay (2)
Điểu-chim, Trảo-vuốt, Phi-bay
Túc-chân, Diện-mặt, Thủ-tay, Hiệt-đầu(3)
Tiêu là tóc, Nhi là râu (4)
Nha-nanh, Khuyển-chó, Ngưu-trâu, Giác-sừng
Dực-cọc trâu,Kỷ-dây thừng (5)
Qua-dưa, Cửu-hẹ, Ma-vừng, Trúc-tre(6)
Hành-đi, Tẩu-chạy, Xa-xe
Mao-lông, Nhục-thịt, da-Bì, Cốt-xương.
Chú giải:
1. Hai bộ Dẫn, Sước có ý nghĩa rất rộng, thường chỉ về hành động, đặc biệt là sự đi lại, ở đây tôi tạm dịch Dẫn=đi trong phạm vi gần, Sước=đi trong phạm vi xa. (Cũng là để cho bắt vần)
2. Bao = bao bọc, ôm ấp,bao che. Nên tôi viết Bao = ôm. Bỉ = so sánh. Bộ Củng có nghĩa là 2 tay chắp lại để nâng 1 vật nào đó , hoặc chắp tay lại. (Cổ văn vẽ bộ Củng là hình 2 bàn tay)
3. Bộ Hiệt vẽ cái đầu người . Chú ý phân biệt với bộ Thủ (vẽ đầu con thú, nghĩa gốc Thủ= đầu con thú- Lý Lạc Nghị)
4. Bộ Tiêu nghĩa là tóc dài, các chữ chỉ về râu tóc thường có bộ này. Bộ Nhi vốn là 1 chữ tượng hình, vẽ chòm râu dưới cằm (Lý Lạc Nghị). Sau này người ta giả tá (mượn chữ Nhi này để chỉ 1 nghĩa khác).Cho nên ngày nay bộ Nhi trở thành 1 hư tự trong tiếng Hán.Trong 1 vài chữ Hán có chứa bộ Nhi, bộ Nhi vẫn mang ý nghĩa là râu cằm. 耐 (nhẫn nại, bị nhổ râu,đau, phải nhẫn nại), 耍 (chơi đùa, đàn bà vốn ko có râu, thế mà bộ Nữ lại đi với bộ Nhi (râu)).
5. Bộ Dực = cọc buộc mũi tên, hoặc súc vật. Ở đây tôi dịch là cọc buộc trâu, cũng chỉ là để liên tưởng mà thôi.
Bộ Kỷ cũng là vẽ 1 sợi dây thừng (Lý Lạc Nghị) sau đó, người ta cũng giả tá nó làm 1 trong 10 thiên can. (vd: năm Kỷ mùi).Và còn giả tá làm nghĩa Kỷ= tôi, bản thân, mình. Nghĩa gốc của chữ Kỷ 己 là chữ Kỷ 紀.
Người nguyên thủy ghi nhớ bằng cách lấy 1 sợi dây thừng thắt lại nhiều nút. Mỗi nút là 1 sự kiện.
6. 芝麻 Nghĩa là Vừng (hoặc Mè trong tiếng miền nam). Người miền nam VN gọi vừng là Mè vì họ bắt chước cách đọc chữ zhima của người Quảng đông. Bộ Ma còn có nghĩa là cây gai v.v
- Hai câu đầu nói về các động tác của con người (chân và tay)
- Câu 3 nói đến loài chim
- Câu 4 có tính biền ngẫu : Túc, Diện, Thủ, Hiệt- Thủ //Túc ; Diện//Hiệt. (chân & tay, đầu & mặt)
- Câu 5 nối tiếp chữ Hiệt = đầu người (nên có tóc , có râu)
- Câu 6 có tính biền ngẫu: Nha,Khuyển, Ngưu, Giác( Chó có răng nanhnhọn, Trâu có sừng cong)Đồng thời Trâu chó, cũng là 2 con vật đi đôivới nhau. (Ngưu thực ra là bò, trâu là shuiniu)
- Câu 7 có tính nối liền: Cọc trâu, Dây thừng (cọc buộc trâu ắt phải có dây thừng)
- Câu 8 nói về thực vật. Qua, Cửu, Ma, Trúc
- Câu 9 nói đến Giao thông, các từ đều nằm trong cùng trường nghĩa (đi lại)
- Câu 10 nói đến các bộ phận trên cơ thể. Mao, Nhục, Bì , Cốt. Đồng thời cũng có tính biền ngẫu. Mao đi với Bì (da & lông) Cốt đi với Nhục (xương & thịt).
口,齒
甘,鹵,長,高
至,入
匕,臼,刀,皿
曰,立,言
龍,魚,龜
耒,黹
玄,幺,糸,黃
斤,石,寸
二,八,方,十
Đọc là:
Khẩu là miệng, Xỉ là răng
ngọt Cam, mặn Lỗ, dài Trường, kiêu Cao
Chí là đến, Nhập là vào
Bỉ-muôi, Cữu-cối, Đao-dao, Mãnh-bồn
Viết-rằng, Lập-đứng, lời-Ngôn
Long-rồng, Ngư-cá, Quy-con rùa rùa
Lỗi-cày ruộng, Trỉ-thêu thùa
Huyền-đen, Yêu-nhỏ, Mịch-tơ, Hoàng-vàng
Cân-rìu, Thạch-đá, Thốn-gang
Nhị-2, Bát-8, Phương-vuông, Thập-10
Chú giải:
1. Câu 1 nói về miệng và răng (cùng trường nghĩa)
2. Câu 2 nối tiếp câu 1, nói về vị giác , ngọt , mặn, sau đó chuyển tiếp đến sự trưởng thành (cao, dài). Sự trưởng thành có liên quan mật thiết đến răng.
3. Câu 3 tiếp tục nói đến những điều liên quan với miệng. (đến, vào trong miệng)
4. Câu 4 nói về dụng cụ làm bếp. (muôi múc canh (thìa-spoon), cối giã gạo , con dao, cái bát mãnh (tôi tạm dịch là cái bồn cho bắt vần).
5. Được ăn rồi thì phải nói, câu này là những chữ về việc quân tử Lập Ngôn. (viết =nói rằng, và lập ngôn (tạo dựng uy tín, tiếng nói cho riêng mình)
6. Câu tiếp theo bắt đầu là con rồng (ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo). Câu này gồm 3 loài thuỷ tộc. trong đó đều là linh vật. (Long, quy) và 1 con có thể hoá rồng ( ngư-cá)
7. Câu này là chuyển tiếp, nói sang việc nông tang (cày ruộng, thêu thùa)
8. Thêu thì cần có chỉ , nên câu tiếp theo nói về bộ mịch = tơ và các bộ Huyền , yêu , đều có hình dạng giống bộ Mịch. và bộ Hoàng = màu vàng = >màu sắc, tơ sắc vàng. (đồng thời Huyền , hoàng thường đi với nhau, yêu mịch cũng vậy, và đôi khi dùng với nghĩa như nhau)
9. Câu này nói về cân đo, đong , đếm, Cân = rìu = 1 cân ( đơn vị đo trọng lượng) Thạch = đá, = 1 thạch (đơn vị đo khối lượng) =1 stone , thốn = 1 tấc, là đơn vị đo chiều dài, ở đây để bắt vần tôi dịch 1 thốn = 1 gang tay (sai nhưng dễ liên tưởng).
10. Câu 10 là những bộ thủ dùng để đếm, 2, 8, 10. có thêm bộ Phương = phương hướng. (thập phương).
女,儿
見,目,彳
支
癶,厶
殳
气,風,雨,齊
鹿,馬,豕
生,力,隶
网,舟
黑,白,赤
Đọc là :
Nữ-con gái, Nhân- chân người (1)
Kiến-nhìn, Mục-mắt, Xích-dời chân đi (2)
tay cầm que gọi là Chi (3)
dạng chân là Bát,cong thì là Tư (4)
tay cầm búa gọi là Thù (5)
Khí-không, Phong-gió, Vũ-mưa, Tề-đều (6)
Lộc-hươu, Mã-ngựa, Thỉ-heo
sống-Sinh, Lực-khoẻ, Đãi-theo bắt về (7)
Võng là lưới, Châu-thuyền bè
Hắc-đen, Bạch-trắng, Xích thì đỏ au.
Chú thích:
1. Bộ Nhân ( vẽ hai chân của loài người) . Có thể thấy điều này trong chữ Kiến (nhìn): trên vẽ mắt, dưới vẽ 2 chân người , ngụ ý: chỉ có loài người thì mới có "kiến giải""kiến thức"
2. Nói đến nữ = phái đẹp, là phái đẹp thì khiến cho người ta phải nhìn ngắm (bộ kiến) nhìn thì bằng mắt ( bộ Mục) và nhìn thấy rồi sẽ theo đuổi (bộ Xích= bước đi)
3. Chữ Chi này nghĩa gốc là "1 cành, 1 que" vẽ bàn tay 又 và 1 cành cây nhỏ có 3 cái lá thành ra chữ 十.
Xin lưu ý rằng bộ Hựu thường có nghĩa là bàn tay trong các chữ ghép (phồn thể). (nguồn: Lý lạc Nghị)
4. Dạng chân là Bát 癶 vẽ 2 bàn chân dạng ra, qua 1 quá trình lịch sử biến đổi tự dạng (hình dáng chữ) lâu dài, nó có hình dạng như ngày nay. vd:
登 bước lên (thường là làm lễ nhận ngôi, tế trời đất quỷ thần): gồm 癶 và 豆
(1loại đồ đựng thức ăn thời xưa làm từ gỗ) ngụ ý chân bước lên, bưng theođồ đựng thức ăn để tế lễ. (nguồn: Lý Lạc Nghị - như trên)
**Bộ Tư: no idea. (tôi thấy giống 1 cái gì đó cong cong)
5. Bộ Thù: vẽ bàn tay cầm 1 công cụ phá đá (giống như cái búa thời cổ đại) bên trên là búa, bên dưới là bộ Hựu = bàn tay.
6. Bộ Khí : vẽ đám hơi bốc lên. Bộ Phong : gồm chữ phàm chỉ âm đọc, bộ trùng = sâu bọ, ngụ ý gió nổi thì côn trùng sinh ra ( theo NguyễnKhuê). Bộ Vũ : nét 一là bầu trời; nét丨là từ trên xuống; nét 冂 là chỉ một vùng; bốn chấm 丶丶丶丶làvẽ các hạt mưa. (theo Lý Lạc Nghị). Bộ Tề : vẽ 3 bông lúa trổ đều nhau, cây ở giữa mọc trên đất cao nên cao nhất, 2 cây 2 bên mọc ở đất thấp hơn, nên bông lúa cũng thấp hơn. (theo Lý Lạc Nghị) bộ Tề này biến đổi tự dạng rất lớn, khó nhận ra được. bạn nào có điều kiện, tìm coi chữ Tề viết theo lối tiểu triện sẽ rõ.
Bộ Tề thêm vào cạnh gió mưa, khí hậu, ngụ ý mong muốn thời tiết điều hoà. Tề = tày, đều 1 lượt: vd: tề thiên đại thánh = đại thánh tày trời(to bằng trời). nhất tề : cùng (đều).
7. Tiếp đến nói về loài thú quen thuộc với người TQ: hươu, ngựa ,heo. và các đặc tính của chúng: súc Sinh, khoẻ mạnh. cuối cùng là việcđuổi bắt chúng (bộ Đãi)
Cuối cùng nói về sông nước thuyền bè (giang hồ) nên có hắc , có bạch, đồng thời cũng có cả bọn Đỏ (cộng sản)
Phần tham khảo vui thơ lục bát - đây là bài ngắn về chữ nhất và những câu xài với chữ Nhất:
Bộ nhất (一) là một nét ngang
Nhất nhật bất kiến như tam thu hề 一 日 不 見 如 三 秋 兮 (1)
Những người vừa mới yêu nhau
Một ngày không gặp ngỡ ba năm liền
Nhất nhật phu thê bách nhật ân 一 日 夫 妻 百 日 恩 (2)
Một ngày chồng vợ trăm ngày nghĩa ân
Bách nhật phu thê tứ hải thâm 百 日 夫 妻 四 海 深
Trăm ngày chồng vợ biển tình càng thâm
Nhất tướng công thành vạn cốt khô 一 将 功 成 萬 骨 枯
Tướng nhiều công trạng, vạn người phơi thây
Những người nằm khám Chí Hòa
Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại 一 日 在 囚 千 秋 在 外
(1) Câu nầy trong Kinh Thi - do Khổng Tử sưu tập
(2) có nơi viết là:
一 夜 夫 妻 百 夜 恩, 百 夜 夫 妻 四 海 深
nhất dạ phu thê bách dạ ân, bách dạ phu thê tứ hải thâm
一 夜 夫 妻 百 世 恩, 百 夜 夫 妻 海 样 深
nhất dạ phu thê bách thế ân, bách dạ phu thê hải dạng thâm
Chữ Hán là cũng là chữ tượng hình (vẽ hình) thí dụ chữ Mã vẽ hình con ngựa quay đầu nhìn về đàng sau ... Đây là thí dụ về chữ Ngư là con cá thi vẽ hình con cá lội ngang, sau đó dựng con cá lên, rồi vẽ đồ theo hình con cá (màu đỏ) thì thành ra chữ Ngư:

Còn những chữ ghép thì giải nghĩa theo từng chữ thí dụ:
日: nhật - ngày
月: nguyệt - trăng
明: minh gồm có chữ nhật bên trái và chữ nguyệt bên phải thì nếu ánh sáng mặt trời và mặt trăng nhập lại thì càng sáng thêm nên chữ minh có nghĩa minh mẩn thông minh.
思 = Tư gồm có chữ 田: điền ở trên nghĩa là làm ruộng, chữ tâm 心 ở dưới là tấm lòng - khi làm ruộng thì phải trông trời trông đất trông mây nên chữ tư có nghĩa là lo lắng
山 = sơn (hình dãy núi)
Chữ 仙 thì bên trái có chữ nhân là người, người đi lên núi tu đạo ... thành tiên - thì đó là chữ tiên
Chữ 成 thành có nghĩa là nên, thành tựu, thành lập, thành công
Chữ 城 thành có chữ thổ (土) là đất ở bên trái nên có nghĩa là cái thành
Chữ 誠 thành có chữ ngôn 言 (lời nói) ở bên trái nên chữ thành nầy có nghĩa là thành thật Chữ thác: 滝 hoặc 瀧
Bao gồm bộ thủy gép với chữ long 龍(たつ)=> thử tưởng tượng giòng nước chảy cuốn lên như rồng bay sẽ hình dung ra một ngọn thác. Chữ không (không khí, bầu trời) 空 Gồm chữ huyệt 穴 ghép với chữ công 工. Chữ công (thủ công) nguyên nghĩa chỉ những dụng cụ dùng để đục, khoét, xuyên qua (貫くーつらぬく).Ghép với chữ huyệt(cái lỗ) 穴: có nghĩa là 貫いた穴=>広い穴を想像できる Bạn có thể tưởng tượng, đục khoét hoặc đào một cái lỗ (trong hang động tối tăm chẳng hạn) ... mở to nó ra, phía trước bạn sẽ mở ra một khoảng không gian mà bạn chưa hề hình dung tới => một bầu trời, một thế giới mở ra trước mắt. Đó chính là cách giải thích chữ không 空 của mình! Chữ kiến (nhìn) 見
Trích dẫn:
目と儿(じん、人の形)を組み合わ� �た形。人の目を強調して見る行為を� ��した。
Bao gồm chữ mục (mắt) 目 và nhân đi 儿 , chữ này nhấn mạnh đến mắt của con người, thể hiện hành vi nhìn.

Chữ bộ (đi bộ) 歩
Trích dẫn:
左足と右足の止(足跡の形)を組み� �わせた形から歩く意味となる。
Hình ảnh chân phải, chân trái + chữ chỉ(đình chỉ, dừng lại) 止 => dấu vết đôi bàn chân

Chữ thủ(tay) 手
Trích dẫn:
手の形。5本の指を開いた手首から先� ��形から変形した。

Chữ lợi (lợi ích) 利(リ、きく)
Trích dẫn:
禾(か)と刀(刂、りっとう)を組� �合わせた形。稲など穀物の形である� ��を刀で刈り取る形で、刈り取っても うけようとすることから「もうけ、� �えき」の意味となる。
Bộ hòa (cây lúa) 禾 và cây đao 刀 => hình ảnh thu hoạch lúa => thu về lợi nhuận.
chữ phân (phân chia) 分(ブン、フン、ブ、わける、わかれ� �、わかる、わかつ)Trích dẫn:
八と刀を組み合わせた形。八はものが左右� �分かれる形から、刀でものを二つに分ける「わける」の� �味となる。
Chữ bát (tám) 八 ghép với chữ đao 刀=> hình ảnh dùng dao bổ đôi thanh củi => chia làm 2 phần.

Chữ tửu (rượu) 酒(シュ、さけ、さか)
Trích dẫn:
酉(ゆう)は酒樽の形で、これに水� �表す氵(さんずい)を加えて「さけ� ��の意味となる。殷王朝では祭のとき に多くの酒を飲み、そのために王朝� �滅んだと言われている。
Bộ thủy 氵 ghép với bộ tửu (hình chai rượu) 酉 => hình dung ra ý nghĩa rượu.

Chữ hữu (bằng hữu, bạn bè) 友 (ユウ、とも、したしむ)
Trích dẫn:
又(ゆう)を二つ重ね合わせた形。又は右手の形で、手と手を取り合って� �け合う意味となり、助け合う人間関� ��の「とも、ともだち、なかま」の意 味に使われる。また、友だちなので� �したしむ、まじわる」の意味にもな� ��。
Chữ ghép bởi 2 chữ hựu (thêm một lần nữa) 又 hình ảnh bàn tay phải nối với bàn tay => hình ảnh giúp đỡ nương tựu nhau trong quan hệ con người => bạn bè.
Chữ sơ (sơ khai, bắt đầu) 初 (ショ、はじめ、はつ)衣と刀を組み合わせた形。衣は着物� �襟の部分を表し、刀(はさみのこと� ��で布を切って着物を作ることの意味 である。赤ん坊の産衣(うぶぎ)を� �るための儀式を行うことから「はじ� ��、はじめて」の意味となる。

Chữ đạo (con đường) 道(ドウ、トウ、みち)
首と辵(ちゃく、辶)を組み合わせ� �形。辵は「行」と「歩」の合成で歩� ��て進む意味がある。古代では、他民 族の土地を進むときに邪霊を祓い清� �るため異族の首を持って歩いた。そ� ��清められたところが道となる。

Chữ xuân(mùa xuân) 春
春=艸+屯+日 (gồm chữ thảo ghép với chữ đồn và chữ nhật)
屯=一+屮 (gồm chữ nhất ghép với chữ triệt - hình dáng một cọng cỏ => trồi non 芽)
春の文字には「草木がお日様の光を� �びて芽を出し始める頃」という意味� ��含まれる
Thời khắc khi cỏ cây no ánh nắng mặt trời và sinh ra những mầm non đầu tiên => đó chính là ý nghĩa được chứa đựng trong chữ xuân!











