Monday, 16. November 2009, 04:29:12
MY STORY
Friday, 13. November 2009, 02:07:47
TINH YEU
NGƯỜI TÌNH RẤT DỄ KIẾM, NGƯỜI BẠN RẤT DỄ GIỮ
CÁI KHÓ LÀ
KIẾM ĐƯỢC NGƯỜI BẠN, GIỮ ĐƯỢC NGƯỜI TÌNH
Friday, 6. November 2009, 04:44:43
CAREER
Nghề nghiệp nào phù hợp với trí thông minh của bạn?
Gửi bài cho bạn“Bạn thông minh đến mức nào?” Nhiều người cho rằng trí thông minh con người thể hiện qua điểm số IQ cao hoặc thành tích học tập vượt trội ở trường học. Thế nhưng theo thuyết “đa thông minh” của Howard Gardner, trí thông minh là tổng hợp 7 khả năng khác nhau của con người. Nếu bạn vượt trội ở trí thông minh loại nào, bạn nên làm nghề phù hợp với trí thông minh dạng đó.
Lý thuyết "đa thông minh"
Lý thuyết “đa thông minh” - Theory of Multiple Intelligences (MI) – được Giáo sư Tâm lý học Howard Gardner của đại học Harvard giới thiệu lần đầu trong quyển “Frames of Mind: The Theory of Multiple Intelligences” xuất bản vào năm 1983.
Howard phản bác quan niệm truyền thống về khái niệm thông minh, vốn được đồng nhất và đánh giá dựa theo các bài trắc nghiệm IQ. Ông cho rằng khái niệm này chưa phản ánh đầy đủ khả năng tri thức đa dạng của con người.
Theo ông, ở trường, một học sinh giải quyết dễ dàng một bài toán phức tạp chưa chắc đã thông minh hơn đứa trẻ khác loay hoay làm mãi không xong bài toán đó. Cậu học sinh thứ hai rất có thể sẽ giỏi hơn đối với các “dạng” thông minh khác.
Lý thuyết “đa thông minh” cho rằng, mỗi cá nhân hầu như đều đạt đến một mức độ nào đó ở từng “phạm trù thông minh” khác nhau. Mức độ này thấp hay cao sẽ thể hiện hạn chế hay ưu điểm của cá nhân trong lĩnh vực này. Đặc biệt, mức độ này không phải là “hằng số” trong suốt cuộc đời của mỗi người mà có thể sẽ thay đổi (tăng hay giảm) tùy vào sự trau dồi của mỗi cá nhân.
Vì vậy câu hỏi “Bạn thông minh đến mức nào?” sẽ không phù hợp. Câu hỏi đúng nên là “Bạn có trí thông minh nổi bật trong lĩnh vực nào?”
Bạn có trí thông minh dạng nào?
Theo Gardner, mỗi con người là tổng thể của 7 dạng trí thông minh khác nhau:
1. Thông minh Từ vựng - Ngôn ngữ (Verbal – Linguistic): là khả năng lĩnh hội tinh tế về ngôn ngữ và câu chữ. Các nhà văn, nhà thơ, các diễn giả là những người nổi trội về khả năng này.
2. Thông minh Suy luận – Toán học (Logical – Mathematical): mô tả khả năng toán học, khả năng thực hiện các nghiên cứu khoa học và giải quyết các vấn đề liên quan đến suy luận. Các nhà khoa học và nhà toán học có khả năng nổi trội trong lĩnh vực này.
3. Thông minh Âm nhạc (Musical): là khả năng cảm nhận và sáng tác âm nhạc. Các nhạc sĩ và nhà soạn nhạc có trí thông minh thiên về lĩnh vực này.
4. Thông minh Thị giác – Không gian (Visual – Spatial): là khả năng cảm nhận không gian và thế giới hình ảnh. Nếu bạn có khả năng này, bạn hãy nghĩ đến việc trở thành họa sĩ, kiến trúc sư, nhà thiết kế…
5. Thông minh Cơ thể (Bodily – Kinesthetic): là khả năng vận dụng cơ thể một cách khéo léo như các cầu thủ bóng rổ, các vũ công, các vận động viên thể dục thể hình.
6. Thông minh Tương tác – Giao tiếp (Interpersonal): là khả năng hiểu được mong muốn, tâm tư của người khác. Các nhà chính trị, nhà lãnh đạo, giáo viên và các chuyên gia trị liệu có khả năng nổi trội hơn người khác về trí thông minh này.
7. Thông minh Nội tâm (Intrapersonal): là khả năng hiểu được cảm xúc và tình cảm của người khác. Các triết gia là những người có khả năng nổi bật này.
Bạn thấy đó, mỗi cá nhân chúng ta là tổng thể của 7 dạng trí thông minh khác nhau. Ca sĩ lừng danh Elton John nổi trội về trí thông minh Âm nhạc. Kiến trúc sư Daniel Libeskind, người phụ trách xây dựng lại Trung Tâm Thương Mại Thế Giới, lại là người có trí thông minh Thị giác – Không gian, trong khi tiểu thuyết gia Stephen King lại nổi trội về trí thông minh Từ vựng – Ngôn ngữ. Vậy bạn xác định mình có trí thông minh dạng nào?
Biết được bản thân ta có trí thông minh nổi trội trong lĩnh vực nào để làm công việc phù hợp sẽ giúp bạn tiến nhanh trên con đường sự nghiệp. Ví dụ nếu bạn biết mình thiên về trí thông minh Tương Tác-Giao Tiếp (Interpersonal skills), bạn có thể xây dựng sự nghiệp thành nhà lãnh đạo. Điều này còn có nghĩa là bạn có thể tránh làm công việc mà bạn không có khả năng vượt trội hay năng khiếu bị giới hạn. Ví dụ, nếu bạn không có khả năng âm nhạc (thuộc phạm trù trí thông minh Âm nhạc), nhưng vẫn yêu thích hát ca cháy bỏng, thì có cách này cho bạn đây: hãy hát Karaoke cho thỏa thích nhưng đừng ôm mộng trở thành ca sĩ nổi tiếng nhé.
Bạn có thể trắc nghiệm xem mình hợp với ngành nghề nào nhất qua các website sau đây:
-
http://www.assessment.com-
http://www.careerpath.com -
http://www.similarminds.com/career.html-
http://www.choicedegree.com-
http://www.jobfutures.ca/pls/jf-ea/dpt.page_one
Thursday, 8. October 2009, 00:53:35
CAREER
Bạn tự hào là người có chỉ số thông minh IQ cao. Nhưng theo các nhà khoa học, nếu có chỉ số đam mê PQ (Passion Quotient) thấp, bạn sẽ khó mà thành công. Sự đam mê là ngọn lửa thổi bùng lên lòng nhiệt huyết, khiến mỗi chúng ta không ngừng khám phá những tiềm năng vô tận ẩn sâu trong mỗi con người.
Chuyện kể rằng… một người đàn ông nọ tìm thấy một quả trứng chim đại bàng, nhưng không biết nên đã đặt nó vào ổ gà mái đang trong thời kỳ ấp trứng. Chim đại bàng con cùng nở ra và lớn lên với đàn gà con. Từ nhỏ cho đến lớn, con đại bàng con đều làm những việc mà những con gà thực thụ làm và luôn nghĩ mình là con gà không hơn không kém: nó đào đất tìm giun và côn trùng, kêu cục tác, cũng vỗ cánh và bay được một ít trên không trung.
Năm tháng trôi qua, con “đại bàng-gà” cũng đã trưởng thành. Một ngày đẹp trời nọ, nó nhìn lên bầu trời và thấy một con chim rất đẹp, dũng mãnh lướt đi trong gió. Nó ngước nhìn con chim đang bay đầy vẻ kính sợ, và hỏi những con gà quanh đó “Ai đấy?” “Đó là chim đại bàng, chúa tể của các loài chim.”, một trong những con gà trả lời. “Ông ấy thuộc về bầu trời, còn chúng ta thuộc về mặt đất – vì chúng ta là gà.”
Và như thế, con chim đại bàng đã cam chịu với số phận của mình, nó đã sống và chết như một con gà, vì nó luôn nghĩ mình chỉ là một con gà mà thôi.
Thiếu sót lớn nhất trong cuộc đời con “đại bàng-gà” này chính là niềm say mê khám phá bản thân. Nó chưa bao giờ mơ ước được bay và chưa bao giờ học bay để có thể tự tin bay vút lên trời xanh như tổ tiên ngàn đời của mình.
PQ (Passion Quotient) là gì?
PQ là chỉ số chỉ sự say mê của mỗi người dành cho việc anh ta làm, gọi tắt là chỉ số say mê (PQ).
Có người đã ví von rằng: “Chỉ số IQ giống như một đoạn mạch ADN rất vững chắc và rất khó để cải thiện. Còn chỉ số PQ là chất lửa trong mỗi con người, chúng ta hoàn toàn có thể điều chỉnh được ngọn lửa đó.”
Chỉ số PQ của con người không thể đo lường một cách chính xác. PQ không thể hiển thị dưới dạng con số hay thống kê như IQ, nó chỉ mang tính ước đoán, hàm ý và tượng trưng.
Người có chỉ số PQ cao là một tài sản quý
Trong công việc, những nhân viên làm việc với lòng say mê cao là những người được các sếp quý trọng. Ngọn lửa say mê đến từ định hướng đúng trong công việc, chọn nghề phù hợp với năng lực và sở trường, vào trí thông minh của mỗi người. Những người có chỉ số PQ cao bao giờ cũng là tài sản quý của một cơ quan, tổ chức. Những phẩm chất thường thấy ở họ là:
- Yêu thích công việc mình làm.
- Luôn toàn tâm toàn ý hoàn thành công việc đạt chất lượng cao.
- Thất bại chỉ kích thích họ suy nghĩ thêm thấu đáo, chứ không làm họ nản chí.
- Họ làm việc không kể giờ giấc, hay ít ra cũng thường xuyên suy nghĩ về công việc ngay cả trong lúc nghỉ ngơi, nên họ thường tìm ra được những giải pháp độc đáo và sáng tạo.
- Họ luôn luôn nghĩ đến việc sẽ làm tiếp theo và tìm cách chạy đua với thời gian.
Virender Kapoor, tác giả quyển sách "The Greatest Secret of Success: Your Passion Quotient" (Bí mật lớn nhất của thành công: chỉ số say mê) cho rằng "Chất lửa trong con người, hay chính là chỉ số say mê, đã đóng góp rất nhiều cho những thành tựu kỳ diệu của nhà khoa học thiên tài Albert Einstein hơn cả chỉ số IQ của ông."
Có thể ví von rằng mỗi con người chúng ta như loài chim đại bàng dũng mãnh, sinh ra để thuộc về bầu trời. Tận sâu trong mỗi người là niềm say mê cháy bỏng mong muốn đạt được những ước mơ trong cuộc đời. Hãy dùng PQ như kim chỉ nam giúp bạn sống, làm việc và tỏa sáng bạn nhé!
Thursday, 8. October 2009, 00:47:35
CAREER
Sự khác biệt giữa thành công và thất bại:
Người thành công biết chính xác những gì mình muốn, tin tưởng vào khả năng của mình và sẵn sàng cống hiến hết thời gian của cuộc đời để đạt được điều đó.
Người thất bại không có mục đích cụ thể cho cuộc sống, luôn tin rằng mọi thành công đều là kết quả của vận may và chỉ thật sự bắt tay vào việc khi có sự tác động từ bên ngoài.
Người thành công có khả năng ảnh hưởng đến những người xung quanh và hợp tác với họ trong thái độ thân thiện.
Người thất bại tìm thấy khuyết điểm của mình ở người khác.
Người thành công chỉ bày tỏ ý kiến về những điều mình biết và họ hoàn toàn có thể thực hiện điều đó một cách rất khôn ngoan.
Người thất bại phát biểu ý kiến về mọi vấn đề mà họ chỉ biết chút ít hoặc hoàn toàn không có một chút kiến thức gì về chúng.
Người thành công dung hoà quan hệ với tất cả mọi người mà không quan tâm đến lợi ích đạt được.
Người thất bại chỉ nuôi dưỡng quan hệ với những ai mà từ đó họ sẽ có những thứ mà họ muốn.
Người thành công luôn trau dồi kiến thức và mở rộng lòng khoan dung. Họ sống hướng đến quyền lợi chung của cộng đồng.
Người thất bại có trí tuệ hạn chế, sự vị kỷ chiến thắng lòng vị tha. Vì vậy họ tách khỏi những cơ hội thuận lợi và mối quan hệ thân thiện với xã hội.
Người thành công theo kịp thời đại và xem đây là một trách nhiệm quan trọng để biết được điều gì đang diễn ra.
Người thất bại chỉ quan tâm đến bản thân với những nhu cầu trước mắt và bất chấp mọi thứ để thực hiện, không cần biết đó là điều tốt hay xấu.
Saturday, 19. September 2009, 13:35:41
MUSIC
Wednesday, 2. September 2009, 12:50:13
CHUNG KHOAN
Phân tích kỹ thuật trong đầu tư chứng khoán
Tại sao lại phải sử dụng phân tích kỹ thuật trong đầu tư chứng khoán?
Trả lời:
Một số người quá chú trọng phân tích cơ bản và cho rằng phân tích kỹ thuật là không cần thiết, chỉ cần chọn những công ty ưu tú là đủ, thực ra đây là một quan niệm sai lầm.
Mục tiêu của bạn khi đầu tư là để tìm kiếm lợi nhuận. Bạn cần chọn mua vào những thời điểm mà cơ hội tăng giá là lớn nhất. Mua một loại cổ phiếu tốt thì có ích gì khi sau đó giá của chúng lại xuống?
Trong phân tích kỹ thuật, giá cả và số lượng mua bán trên thị trường sẽ báo cho bạn biết những rủi ro tiềm tàng hoặc những cơ hội nhanh hơn sự thay đổi số liệu trong phân tích cơ bản. Ví dụ như khi công ty của bạn mua hoặc bị mua lại bởi một công ty khác chẳng hạn.
Khối lượng giao dịch của cổ phiếu mỗi ngày hay mỗi tuần là một trong những công cụ quan trọng để hiểu sức ép cung cầu một cách chính xác. Thật sự rất quan trọng và cần thiết để hiểu, giá cổ phiếu của bạn đang đi lên hoặc đi xuống trong điều kiện khối lượng giao dịch lớn hơn hay nhỏ hơn mức thông thường.
Chính vì vậy trong các báo cáo hàng ngày về giá của thị trường luôn đi kèm với khối lượng giao dịch.
-Nếu cổ phiếu của bạn đang tăng giá đi kèm với sự gia tăng khối lượng giao dịch. Đây là dấu hiệu đáng mừng, cổ phiếu sẽ tiếp tục tăng giá.
- Nếu cổ phiếu tăng giá lại đi kèm với một khối lượng giao dịch yếu đi, cổ phiếu sẽ không tiếp tục tăng giá nữa.
- Nếu cổ phiếu giảm giá mà khối lượng giao dịch cũng giảm theo, đây là một dấu hiệu cho thấy không có sự bán ra nữa, cổ phiếu sẽ ngưng giảm giá.
Tuy không phải luôn đúng, nhưng những nguyên tắc này khá hợp lý nếu được xem xét trong khoảng thời gian thật ngắn, từng giờ, từng ngày. Còn nếu xem xét chúng trong khoảng thời gian dài sẽ không được chính xác lắm.
Ngoài ra khối lượng giao dịch còn là một dấu hiệu cho thấy các tổ chức lớn đang mua hay bán. Điều này có thể ảnh hưởng mạnh tới giá chứng khoán theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. Sẽ có một ngày trong tương lai, những điều đơn giản này sẽ giúp bạn trở thành một nhà đầu tư thành công.
Nếu là tín đồ của trường phái phân tích cơ bản, bạn nên hỏi tại sao phải sử dụng phân tích kỹ thuật và ngược lại? Câu trả lời là các tổ chức đầu tư lớn, những nhà đầu tư thành công đều phải sử dụng cả hai loại phân tích cho quyết định mua bán của mình.
(VnExpress)
Tiêu chí chọn mua cổ phiếu tốt
"Tôi là nhà đầu tư mới tham gia thị trường, xin cho biết, các chỉ tiêu để lựa chọn cổ phiếu tốt".
Trả lời:
Bạn có thể tham khảo một số chỉ tiêu cơ bản để lựa chọn cổ phiếu sau:
1. Chỉ tiêu lợi nhuận
Thu nhập dòng hay lợi nhuận sau thuế có thể được xem xét bằng tổng lợi nhuận hay xét trên một đơn vị cổ phiếu (EPS). Một công ty có sự gia tăng về tốc độ tăng trưởng thu nhập khi tốc độ tăng trưởng thu nhập của quý sau cao hơn quý trước.
Một cổ phiếu tốt có tốc độ gia tăng về tăng trưởng thu nhập cao hơn so với 3 hay 4 quý trước liền kề. Tăng trưởng của chỉ số thu nhập ít nhất là 25% so với cùng quý của năm trước. EPS hàng năm của cổ phiếu tốt ít nhất phải tăng trưởng 25% so với 3 năm trước đó.
Theo cách nghĩ thông thường thì nên chọn mua những cổ phiếu có P/E thấp (P/E: Chỉ số giá chia cho thu nhập của mỗi cổ phiếu), và cho rằng những cổ phiếu có chỉ số này cao là đắt và không nên mua.
Thực tế cho thấy, những cổ phiếu tốt nhất thường có chỉ số này cao. Nên chọn cổ phiếu của những công ty thua lỗ trước khi công ty đó trở lại trạng thái có lãi khi các nhà đầu tư khác phát hiện ra nó.
Một số tiêu chí chọn lựa cổ phiếu căn cứ vào chỉ tiêu lợi nhuận bao gồm: Dựa vào thực hiện thu nhập quan trọng hơn thu nhập dự kiến; lựa chọn những công ty có tốc độ tăng trưởng thu nhập ít nhất 25% ở quý gần nhất; lựa chọn công ty có sự gia tăng về tốc độ tăng trưởng thu nhập ở 3 hay 4 quý gần nhất; lựa chọn công ty có thu nhập hàng năm tăng trưởng ít nhất 25% so với mỗi năm của 3 năm trước.
2. Lượng hàng bán (doanh thu)
Lượng hàng bán là chỉ tiêu quan trọng nhất để đo lường một công ty có sức mạnh hay không và là nhân tố chính của tăng trưởng. Khi chọn lựa cổ phiếu tốt hãy tìm công ty có tốc độ bán hàng mạnh để làm tiền đề cho tăng trưởng thu nhập.
Một số biểu hiện có thể xem xét khi một công ty gia tăng lượng hàng bán như nhiều khách hàng hơn, khách hàng tăng lượng mua, công ty giới thiệu sản phẩm mới hoặc thâm nhập vào thị trường mới, công ty cải thiện sản phẩm cũ.
Tiêu chí để xác định công ty có tăng trưởng bán hàng tốt nếu 3 quý gần nhất có sự tăng lượng hàng bán lớn hơn hoặc bằng 25% so với quý gần nhất trước đó.
Cần xem xét kỹ chỉ tiêu doanh thu vì đôi khi lượng hàng bán vẫn ẩn chứa những vấn đề. Công ty có thể quá phụ thuộc vào một số khách hàng, phụ thuộc quá nhiều vào một số mặt hàng hay quá phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu.
Với những nhà bán lẻ, nếu mở thêm một cửa hàng mới cũng làm tăng thêm lượng hàng bán ngay cả khi lượng hàng bán ở những cửa hàng cũ đang xấu đi.
Cũng cần lưu ý đến việc công ty thêm vào lượng hàng bán được mà thực tế nó chưa xảy ra, hay các đơn đặt hàng mà không được chuyển đi hay chưa thu được tiền bán đã được hạch toán làm gia tăng lượng hàng bán.
3. Chỉ tiêu lợi nhuận/doanh thu
Lợi nhuận dòng đánh giá tỷ lệ chuyển doanh thu thành thu nhập. Trên quan điểm của nhà đầu tư, nên tìm những công ty có sự tăng về tỷ lệ lợi nhuận dòng/doanh thu. Con số này càng lớn thì công ty có sự tốt lên về quản lý và có sự tốt lên trong các hoạt động.
Lợi nhuận dòng có thể là đầu mối chủ yếu tìm cổ phiếu để mua và nên so sánh chỉ số này giữa các công ty có ngành nghề tương đồng. Tiêu chí để xác định cho chỉ tiêu này là lợi nhuận trước thuế ít nhất đạt 18% doanh thu. Yêu cầu lợi nhuận sau thuế luôn đạt 10% trở lên.
Tuy nhiên, cũng cần phải xét cả những chỉ tiêu cơ bản khác như tăng truởng thu nhập. Mức tăng về lợi nhuận dòng sẽ ít đi nếu doanh thu giảm, ngoại trừ có sự thay đổi về chiến lược của công ty khi cắt giảm những dây chuyền sản xuất không hiệu quả. Nếu lợi nhuận có xu hướng giảm, đó có thể là tín hiệu cho thấy công ty đang đánh mất lợi thế cạnh tranh.
4. Chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE).
Đây là chỉ tiêu phổ biến nhất để đánh giá sự hiệu quả của hoạt động tài chính đóng góp cho sự phát triển của công ty. ROE cho biết công ty sử dụng tiền của cổ đông có tốt hay không. Chỉ số này tăng cao hàng năm phản ánh tiềm năng tăng lợi nhuận và quản lý hiệu quả.
Nói chung, nên tránh những công ty có chỉ số này nhỏ hơn 17%. Hầu hết mọi ngành, chỉ số này của những công ty hàng đầu thường đạt trong khoảng 20% đến 30%, cá biệt có những công ty đạt trên 40%. Chỉ số này có xu hướng cao lên theo thời gian do việc áp dụng những công nghệ mới đã cắt giảm chi phí và nâng cao năng suất.
(VnExpress)
Ngày giao dịch không hưởng cổ tức
Xin cho biết ngày giao dịch không hưởng cổ tức là gì?
Ngày giao dịch không hưởng cổ tức là ngày mà nếu cổ phiếu được giao dịch (mua/bán) vào ngày đó thì người mua (người sở hữu) sẽ không được hưởng cổ tức. Cổ tức sẽ được trả cho người có tên trong danh sách hưởng cổ tức sở hữu cổ phiếu đó được lập vào ngày đăng ký cuối cùng.
(UBCKNN)
Các bước để tham gia giao dịch tại TTCK Việt Nam
Hỏi:
Xin hướng dẫn cho tôi biết các bước để tham gia giao dịch tại TTCK Việt Nam?
Trả lời:
Để tham gia giao dịch mua, bán chứng khoán trên TTCK Việt Nam bạn cần đến công ty chứng khoán để làm thủ tục mở tài khoản giao dịch chứng khoán. Khách hàng và công ty chứng khoán sẽ ký hợp đồng mở tài khoản và mỗi khách hàng sẽ được công ty chứng khoán mở một tài khoản riêng để theo dõi tiền và chứng khoán của khách hàng. Để mua chứng khoán bạn phải có tiền hoặc để bán chứng khoán bạn phải có chứng khoán trong tài khoản này. Vì vậy, bạn phải gửi tiền vào tài khoản đó hoặc nếu đã có chứng khoán thì bạn phải gửi chứng khoán cho công ty chứng khoán nơi bạn đã mở tài khoản. Sau đó, bạn có thể thực hiện giao dịch (mua/bán) chứng khoán trên tài khoản của mình thông qua công ty chứng khoán bằng việc viết phiếu lệnh và chuyển cho công ty chứng khoán nhập lệnh vào hệ thống giao dịch. Kết thúc phiên giao dịch công ty chứng khoán sẽ thông báo kết quả giao dịch cho bạn.
Để biết thêm chi tiết bạn có thể liên hệ trực tiếp với bộ phận môi giới của các công ty chứng khoán.
Số dư tài khoản có được tính lãi hay không?
Tôi có tài khỏan giao dịch tại VCBS, và thường xuyên có số dư tiền mặt trong tài khoản. Xin cho hỏi số dư này có được tính lãi hay không? Và lãi suất nếu có là bao nhiêu?
Trả lời:
Số dư tiền mặt được tính lãi hay không và ở mức lãi suất bao nhiêu sẽ phụ thuộc vào công ty chứng khoán mà bạn mở tài khoản. Thông thường thì bạn sẽ được hưởng lãi suất không kỳ hạn trên số dư thực tế. Bạn nên trực tiếp liên hệ với VCBS để biết thêm chi tiết.
(Chuyên mục hợp tác với Công ty Chứng khoán FPTS)
(VnExpress)
Qui trình tìm giá khớp lệnh
Hỏi: Có thể hướng dẫn cho tôi qui trình tìm giá khớp lệnh, nêu ví dụ cụ thể.
Trả lời:
Qui trình tìm giá khớp lệnh
Theo qui định tại Thông tư số 58/2004/TT-BTC ngày 17/6/2004 của Bộ Tài chính về Thành viên và giao dịch chứng khoán:
- Phương thức giao dịch khớp lệnh thực hiện trên nguyên tắc:
i. Là mức giá thực hiện đạt được khối lượng giao dịch lớn nhất;
ii. Nếu có nhiều mức giá thoả mãn điểm i thì mức giá trùng hoặc gần với giá thực hiện của lần khớp lệnh gần nhất sẽ được chọn;
iii. Nếu vẫn còn nhiều mức giá thoả mãn điểm ii thì mức giá cao hơn sẽ được chọn.
- Phương thức giao dịch thoả thuận là việc các thành viên tự thoả thuận với nhau về các điều kiện giao dịch.
- Ưu tiên về giá
+ Lệnh mua có mức giá cao hơn được thực hiện trước;
+ Lệnh bán có mức giá thấp hơn được thực hiện trước.
- Ưu tiên về thời gian: trường hợp các lệnh mua, bán có cùng mức giá thì lệnh giao dịch nhập trước vào hệ thống giao dịch được ưu tiên thực hiện trước.
Ví dụ: Ta có sổ lệnh giao dịch của chứng khoán XYZ như sau:
- Trường hợp không có lệnh ATO:
Tích luỹ
Mua
Giá
Bán
Tích luỹ
10.000 10.000 30.000 10.000 34.500
15.500 5.500 29.000 15.000 24.500
22.500 7.000 28.000 4.000 9.500
25.500 3.000 27.000 3.000 5.500
34.000 8.500 26.000 2.500 2.500
Qua sổ lệnh ta có giá khớp lệnh của cổ phiếu XYZ là 28.000 đồng.
- Trường hợp có lệnh ATO và giá tham chiếu của lần khớp lệnh trước đó là 26.000 đồng:
Tích luỹ Mua Giá Bán Tích luỹ
13.000 10.000 30.000 10.000 31.500
18.500 5.500 29.000 21.500
25.500 7.000 28.000 21.500
25.500 27.000 10.000 21.500
25.500 26.000 10.500 11.500
3.000 ATO 1.000
Qua sổ lệnh ta có giá khớp lệnh của cổ phiếu XYZ là 28.000 đồng.
(UBCKNN)
Monday, 24. August 2009, 08:22:31
SG
copy
Mưa Sài Gòn
Mưa đổ đầy khoảng trời mộng mơ , vô tình trở thành ảo niệm trong đời .
Mùa mưa lại đến , nỗi nhớ về một người dưng dài như sợi mưa giăng trên phố vắng. Gió lùa hoang vu trên từng ngọn tóc, chợt thấy se lòng giữa màu đỏ nồng nàn. Ngõ vắng đến không ngờ . Gió muốn làm tan đi niềm nhớ ...
Tiếng mưa rơi rụng giữa hiên trường đại học . Quay quắt nhớ cửa phòng lớp học ngày xưa , trên đó, cái tên mình được ai đó viết vào ngày chia xa . Sỏi đá muôn đời lao xao hát bài ca rất cũ . Ở gốc phượng già, có hai viên sỏi nhuộm mực tím cất ở đó, những cơn mưa rào có làm chúng phôi pha ? Thèm nghe nhạc ve cất một bài ca xa xưa mà quen thuộc, thấy lòng neo lại cho quá khứ quay đầu . Một gương mặt hiện về, nước mưa bám đầy trên tóc, trên trán, đôi mắt dõi buồn nhìn lá bay bay . Đôi mắt ấy cứ trĩu buồn, mơ một khoảng trời bình yên không bão tố . Mà, hiện đời còn chật hẹp, lấy đâu chất chứa những cơn mơ ? Ghế đá co ro, nghe thiếu một câu nói thân quen của người yêu mến : "mùa mưa về rồi ".
Mưa nguyên sơ rơi ... Mưa phong kín đường về . Tiếng đòn gánh kẽo kẹt chìm khuất trong mưa . Và, những buổi sáng mặt trời thức sớm, chợt thấy lòng se thắt. Vô tư quá, nhìn lá úa mà sao không biết tuổi đời đã đi qua .... lại sắp một sinh nhật nữa rồi... Những chùm hoa điệp vàng nở đầy con phố nhỏ bên bờ Kênh , có một cảm xúc giao mùa vui vui đang len lỏi giữa ngõ ngách tâm hồn; lại ray rứt lòng khi thấy nét lặng lẽ của ai đó ngồi nhìn những chiếc lá tàn phai thành cát bụi. Tự dưng thấy run rẩy trước bánh xe oan nghiệt của thời gian và thấy lòng chùng xuống trong những ngày mưa ghé lại .
Hoa cúc vệ đường nở khuya hơn, sương rơi trong hơn trên những phiến cỏ xanh mượt mà đầy sức sống, giờ còn đâu nữa. Tiếng rao hàng vang hơn, thăm thẳm, nhưng không giấu được chút chai sạn và chút hồn nhiên còn sót lại . À, nó là thằng bé bán mì gõ nóng ban đêm. Nó giã từ cặp sách, nó cố rao to hơn để mơ giấc mơ có nồi cơm đầy thơm phưng phức và những quyển tập trắng tinh tươm. Đành lòng, mình lại thức khuya hơn, đợi nó . Ăn mì gõ lâu ngày cũng thấy chán mà vẫn cứ muốn giúp nó . Rồi lại mềm lòng ngồi nhớ tuổi thơ, huyền thoại hay là cổ tích, để bù đắp cho mai sau những sóng gió nếu có của cuộc đời .
Mùa mưa lại về , Sài Gòn vẫn khoác chiếc áo xám màu mưa, trầm tư đứng bên triền sông suy niệm cuộc đời . Vẫn là điệu nhạc năm nào nhưng sao thấy lòng không bình yên như thuở trước, vẫn thấy những đóa-hoa-mưa nở đầy trên mái ngói, thấy nước mắt trong hơn, mặn hơn và nhói xót lòng hơn...
Mưa hát điệp khúc buồn chơi vơi . Chợt nhận diện một nụ cười thân quen vắt ngang vùng ký ức. Thấy nụ cười ấy bí hiểm quá, nhưng chủ nhân tự giải thích : nụ cười để mơ thế giới này hạnh phúc hoặc bớt khổ đau ...
Mưa Sài Gòn ...buồn mênh mông ...
........................................................
Tan lớp học Anh văn, vẫn còn sớm chán, cùng nhỏ bạn vòng vèo trên các con đường của phố xá Saigon. Saigon đêm như một lâu đài rực rỡ. Ngồi trên sân thượng của một quán cafe Trung Nguyên nằm dọc con đường cũng khá lớn của Saigon, ngắm nhìn dòng người và xe cộ ngược xuôi dưới đường mới thấy thật đẹp và hấp dẫn làm sao. "Cafe ở đây ngon tuyệt, nhưng cái chính là không khí và khung cảnh nơi đây mới là điểm hấp dẫn", nhỏ bạn nhỏ to với tôi như vậy. Tôi đang mơ hồ thả lòng theo tiếng nhạc du dương, dõi mắt xuống dòng đèn xe loang loáng đang ngược xuôi bên dưới. Thật vậy, khung cảnh ở đây thật bình yên, làm cho người ta có cảm giác thật thoải mái và dễ chịu, trong phút giây ta như thoát khỏi bao bộn bề lo toan của cuộc sống, để có được những giây phút sống thực với lòng mình.
Saigon ồn ào và nhộn nhịp, nhưng cũng có những nơi cho ta có những giây phút lắng lại lòng mình, để nhận thấy cuộc sống này tuy còn lắm xô bồ, phức tạp, nhưng cũng có những con người thật đáng yêu biết bao.
Sunday, 16. August 2009, 14:18:00
CAREER
"Đã bao giờ bạn để ý rằng đôi khi những gì bạn cần lại đột nhiên tự đến với bạn cứ như được sắp đặt sẵn, hay chỉ qua một cú điện thoại không hẹn trước? Hoặc giả đột nhiên trên phố bạn đụng phải một ai đó mà bạn vẫn luôn nghĩ tới? Và cũng có thể bạn gặp được một khách hàng hoàn hảo hay người tri kỉ của đời mình cứ như định mệnh vậy, ở đúng nơi ấy và lúc ấy. Tất cả những trải nghiệm đó đều là bằng chứng về sự tồn tại của Luật hấp dẫn trong cuộc sống của bạn.
Đã bao giờ bạn thấy những người luôn gặp phải những mối quan hệ chẳng mấy tốt đẹp hết lần này đến lần khác, những người luôn than phiền rằng dường như họ chỉ nhận được mối quan hệ tồi tệ như vậy mà thôi. Những người đó cũng đang chịu tác động của Luật hấp dẫn.
Vậy thì Luật hấp dẫn có thể được định nghĩa như là: tôi thu hút vào cuộc sống của tôi bất kì điều gì tôi chú ý, tập trung và tốn năng lượng vào, dù là tích cực hay tiêu cực.
Bạn hãy sử dụng Luật hấp dẫn để tạo ra những thay đổi tích cực từ nhỏ tới lớn trong cuộc sống." Trích.
HI VỌNG MÌNH CÓ LỰC HẤP DẪN VỚI MONEY, VÌ HIỆN TẠI MÌNH CẦN MONEY NHẤT!!!
Sunday, 16. August 2009, 14:16:41
CAREER
1. Một cuộc kinh doanh thành công không phải là một cuộc chạy nước rút 100m mà là một cuộc chạy marathong.
2. Nếu bạn cho ai một con cá, bạn nuôi sống họ một lần, nhưng nếu bạn dạy họ cách bắt cá, bạn nuôi sống họ cả đời.
3. Nghĩ ra được một công việc kinh doanh dễ hơn nhiều so với việc giữ cho nó hoạt động được.
4. Không có cảm giác nào dễ dàng hơn là nỗi mệt mỏi sau chiến thắng.
5. Chớ lề mề trong việc phải làm gấp, chớ hấp tấp trong việc không cần vội.
6. Quản lý tồi là nguyên nhân chính của hầu hết mọi thất bại trong công việc làm ăn.
7. Đời người có một gang tay, ai hay ngủ ngày còn được nửa gang.
8. Chúng ta luôn có đủ thời giờ nếu chúng ta sử dụng nó hợp lý.
9. Việc làm chủ bản thân nằm ở trung tâm của việc làm chủ thời gian.
10. Không ai lãnh đạo doanh nghiệp hay làm bất cứ việc gì theo lý thuyết.
11. Không nên nói những gì mà bạn biết nhưng bao giờ cũng phải biết những gì mà bạn nói.
12. Hãy suy nghĩ những điều anh nói nhưng đừng nói ra ý nghĩ của mình.
13. Chỉ có một cách để trở thành một người trò chuyện dễ ưa đ1o là biết cách nghe.
14. Đừng dể lưỡi bạn chạy trước ý nghĩ của bạn.
15. Việc đánh giá thành tích nhân viên không chỉ dựa trên kết quả của công việc mà còn phải xét đến quá trình thực hiện nỗ lực đóng góp của họ để đạt được kết quả đó.
16. Ở trên thị trường chứng khoán không phải những tín phiếu mà là những suy nghĩ được buon bán.
17. Vào lỗ hà, ra lỗ hổng. Của dễ được dễ mất.
18.Quá khứ là kinh nghiệm, hiện tại là đấu tranh, tương lai là của mình.
19. Muốn tiến tới cái lớn phải bắt đầu từ những cái nhỏ.
20. Tiếng "không thể" không có trong từ điển của tôi.
21. Không làm việc gì có nghĩa là làm một việc xấu.
22. Người nào có thể làm nổi giây phút tràn ngập một nội dung sâu sắc thì người đó đã kéo dài vô tận đời mình.
23. Khi bắt tay vào công việc và khi gần tới đích là những lúc có nhiều nguy cơ thất bại nhất.
Sunday, 16. August 2009, 14:09:41
TINH YEU
Anh ạ, em thật ngốc, thậm chí hơi có vấn đề khi đi viết thư cho anh - một người không tồn tại...

Ngày... Tháng... Năm...
Gửi một nửa còn lại của em!
Hoặc chăng, đó là một người có tồn tại nhưng mà em chưa từng biết đến, chưa từng tiếp xúc, chưa từng nói chuyện.
Người ta thường ví tình yêu như những thứ thật thiêng liêng nè, thật đẹp đẽ nè, nhưng với em, tình yêu như những mảnh giấy được cắt thành hình trái tim. Cắt thật đẹp, ta có 1 trái tim nguyên vẹn, một cặp đôi hoàn hảo.
Nhưng Chúa trời nào để cho ai cũng được ở bên 1 nửa thật sự của mình anh nhỉ? Ngài cầm hàng vạn, hàng tỷ mẩu giấy hình trái tim đó và xé đôi, trộn lẫn chúng vào nhau... Thế là giữa thế gian rộng lớn, chúng ta lại phải mò mẫm, tìm kiếm nửa còn lại. Có những đôi may mắn, họ tìm thấy nhau giữa muôn vạn con người, và... rất hạnh phúc. Những đôi kém may mắn hơn, do không tìm ra hoặc đã lầm tưởng người khác là một nửa của mình. Những mẩu giấy được chấp vá vẫn sẽ tạo thành hình trái tim, nhưng nó không hoàn hảo. Kết quả cũng có thể là một "happy ending", cũng có thể là nước mắt.Read more...
Sunday, 16. August 2009, 13:43:15
TRUYỆN
http://vn.myblog.yahoo.com/jw!ZnUeZ2CGGBKLNe_1hNzOpCwTsm93Pm6TOYRqRLc-/article?mid=59
15 h chiều nay áp thấp trên biển Đông đã mạnh lên thành bão và trở thành cơn bão số 8 hoạt động trên vùng biển nước ta .Vùng gần tâm bão mạnh cấp 9 giật cấp 10 tức là 80 đến 100 km/h.Dự báo trong 24 h tới bão di chuyển theo hướng giữa tây và tây tây namvà còn có khả năng mạnh thêm ……
2 ngày sau
bão đã ở khu vực bờ biển các tỉnh miền trung từ Quảng Ngãi đến Khánh Hoà
(
Tối nay bão sẽ đổ bộ đấy , lo mà che chắn các phòng cẩn thận một lần nữa đi !.......Read more...
Friday, 7. August 2009, 04:37:10
CAREER
SEAWAY BILL
Áp dụng:
- Khi thời gian hành trình hàng hóa trên biển ngắn hơn thời gian gửi B/L từ cảng xếp đến cảng dỡ
- Thường dùng trong trường hợp công ty mẹ và công ty con, hoặc đã nhận được tiền hàng hoặc làm rất thân tín,tin cậy trong làm ăn. Phổ biến cho đơn vị giao nhận forwaders, đơn vị gom hàng -consolidator.
- Seaway bill chỉ áp dụng được với bill đích danh. – Còn Bill gốc có thể là bill đích danh hoặc bill to order.
Shipper: Vì seaway bill không phải là chứng từ sở hữu hàng hoá, do đó shipper ko nhất thiết phải gửi ngay bản gốc cho consignee ở cảng đến mà có thể gửi bản sao qua fax or email, vậy là khi xuất hàng xong là consignee có thể có seaway bill trong vòng vài phút. Tiết kiệm 1 khoản phí gửi chứng từ cho shipper.
Carrier: 1 là phát hành 3 B/L gốc, 2 là chỉ cần phát hành 1 tờ Seaway bill thôi, ko bao giờ phát hành 2 dạng này cùng lúc . Ko cần tốn nhiều công sức in mặt sau như của B/L thường rất nhỏ, khoảng 0,3mm để chống làm giả. Việc này được thay thế bằng việc dẫn chiếu đến các điều kiện, quy định liên quan đến vận chuyển ở mặt trước bằng một điều khoản ngắn gọn. Hàng hoá sẽ được carrier giao cho consignee trên cơ sở những điều kiện của carrier hoặc một tổ chức quản lý hàng hoá tại cảng đến. Ở Việt nam, việc áp dụng seaway bill vận còn rất mới mẻ, mặc dù đã có cơ sở pháp lý để áp dụng seaway bill. Mục C - điều 80 Bộ luật Hàng hải Việt nam quy định :
"Người vận chuyển và người giao nhận hàng có thể thoả thuận việc thay thế B/L bằng giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyển hàng hoá tương đương và thoả thuận về nội dụng, giá trị của các chứng từ này theo tập quán Hàng hải quốc tế".
Consignee: cầm seaway bill lên hãng tàu và chỉ cần đóng Local charge thui chứ ko liên quan phí ở đầu bên shipper. Sau đó consignee có thể nhận được hàng hoá ngay khi tầu đến cảng dỡ hàng hoá chỉ cần cầm tờ seaway bill fax này. Như vậy thì consignee ko mất thời gian đợi nếu hàng về mà chứng từ chưa có -> giảm chi phí lưu kho bãi. Seaway bill cho phép giao hàng cho một người duy nhất khi họ chứng minh họ là congsinee hợp pháp khi nhận hàng, ko có chuyện chuyển nhượng ai khác. Ðiều này giúp hạn chế được rất nhiều rủi ro trong việc giao nhận hàng, không những thế, vì seaway bill không phải là chứng từ sở hữu hàng hoá nên khi bị mất hay thất lạc thì cũng không ra hậu quả nghiêm trọng nào.
Tuy nhiên vì nhiều nước trên thế giới vẫn chưa công nhận seaway bill này nên có thể dẫn đến ko đảm bảo an toàn cho hàng hóa, có thể gặp khó khăn trong thanh toán hoặc khi làm thủ tục Hải quan...
As attachment you can see...
Rảnh rỗi nghiên cứu XNK bà con tham khảo, cao kiến!!!
Friday, 31. July 2009, 08:03:08
CAREER
•Surrendered B/L
•Switch B/L
•Express B/L
•Master B/L
•House B/L
•Seaway Bill
•Custom's B/L
•FIATA B/L
•Và rất nhiều loại khác nữa,..
SURRENDER BL:
Cũng là một vận đơn đường biển có chức năng giống hệt như original bill of lading, với đầy đủ chức năng: một biên lai của người chuyên chở xác nhận là họ đã nhận hàng để chở, là một bằng chứng về một hợp đồng vận tải đường biển, là một chứng từ sở hữu hàng hóa
Surrender BL được sử dụng trong trường hợp người nhận hàng cần nhận hàng gấp, mà không kịp chờ được người xuất khẩu gửi original BL thông qua air courier mang đến. Thời gian vận chuyển ngắn or thủ tục nhận hàng ở cảng dỡ khá dễ dàng mà không cần tới bill gốc. Hai hãng tàu đồng ý cho việc surrender -> bill surrendered. Nó linh hoạt vì thủ tục nhanh, bản fax cũng nhận được hàng. Do đó họ sẽ yêu cầu người xuất khẩu nhờ hãng tàu phát hành surrender bill và chỉ cần fax qua đối tác.
Như vậy không cần nói cũng đủ hiểu rủi ro có thể lớn thế nào vì người nào cầm tờ fax surrender bill coi như người đó có quyền nhận hàng hóa. Vì vậy chỉ áp dụng khi thật sự cần BL gấp.
Một bill “copy of not negotiable” có đóng dấu “SURRENDER” theo attached file đính kèm.
SWITCH BL:
Trong thương mại quốc tế hầu hết việc xuất khẩu đều thông qua một bên thứ 3, khi Trader không muốn show Supplier thật sự của họ, or nguồn Consignee thật sự. để thực hiện điều này ta phải tiến hành Switch Bill.
Thường được gọi như là “the trader’s second set” và dự định thay thế cho bản bill of lading lần thứ nhất đã được phát hành. Nó thường được sử dụng khi người nhập khẩu muốn bảo mật tên người mua lại hàng của họ nước nhập. Phải cân nhắc thật cẩn thận khi phát hành loại bill of lading này vì có thể là sự mô phỏng một việc gian lận nào đó trong dữ liệu thực tế.
VD:
Shipper/Expoter: Indochina
Trader = notify party: Sin Thye Pin (người ký hợp đồng với shipper)(Singapore)
Consignee: to order (Jakarta / Indonesia)
Switch B/L in Singapore: Lúc này shipper issue một original B/L, trong đó mục Description of goods có chú thêm “Switch B/L in Singapore”
Sin Thye Pin này muốn chứng từ gửi sang Singapore, lập tức đổi tên shipper để tiện việc mua bán:
-Họ không muốn Consignee của mình biết tên và địa chỉ thật sự của shipper mình, đề phòng việc consignee khi biết thì liên hệ trực tiếp liên hệ với shipper mà không cần phải thông qua trader. Vì vậy họ thay đổi thông tin trên bill từ tên shipper, tên hàng, cảng bốc xếp… theo nhu cầu kinh doanh của họ,
-Việc thanh toán sẽ diễn ra thuận lợi hơn khi consignee thanh toán cho trader, còn trader thì thanh toán cho shipper, thuận lợi cho hãng tàu trong trường hợp đòi tiền Prepaid thì shipper trả, còn Collect trong trường hợp giao thương giữa trader và shipper, lúc này cước trader trả. Khi yêu cầu hãng tàu switch thành bill mới trader sẽ đòi tiền consignee dễ dàng hơn.
-Mục đích không thể ko nói đến đó việc switch để giảm thuế và lách luật. Một trường hợp khác khi mà consignee không nằm trong danh sách ưu đãi thuế quan nào đó thì có thể thông qua trader, nước thuộc dạng ưu đãi thuế sẽ giảm một khoản lớn khi ko phải nói thẳng ra hàng đi đến nước của consignee.
oĐể tránh trường hợp gian lận như thế này, phòng quản lý XNK của ta rất gây khó dễ cho Switch bill, họ muốn biết đích xác tên và địa chỉ consignee vì thật sự C/O cấp ưu đãi cho các nước thành viên, và cấp thật sự cho consignee chứ không phải trader. Nhiều trường hợp họ kiểm tra cẩn thận sự trùng hợp giữa quốc gia hưởng C/O và quốc gia nơi hàng đến trên B/L
Một Switch Bill of Lading theo file đính kèm
Sunday, 26. April 2009, 12:15:51
CAREER
As amended, effective on and after May 6, 1998
I. MODIFICATION
Any part of this contract, written or inserted on the reverse side hereof shall modify the rules printed on this side. Any modification of this contract shall be in writing only.
2. DEFINITIONS
(a) Wherever the word "DAY" is used in this contract it shall mean "Calenda Day"
(b) "ASTA" shall mean the American Spice Trade Association, Inc
(c) "FDA" shall mean the US Food and Drug Administration, Department of Health and Human Services of its successor agency of agencies having authority to enforce the Food. Drug & Cosmetic Act of June 25, 1938 and amendments thereto.
(d) "USDA" shall mean the United States Department of Agriculture, Animal and Plant Healthy Inspection Service.
3. QUANTITY
(a) The word "about" means that no excess of deficient at time of shipment may be greater than 2, 1/2% of the quantity contracted.
(b) Unless otherwise specified, a ton shall equal 1,000 kilos (2,204.6 pounds)
(c) Fifteen (15) tons of less shall be shipped on one Bill of Lading with one mark. More than 15 tons shall be shipped in minimum lots of 15 tons per Bill og Lading and Mark.
Merchandise covered by each B/L shall be separately and distinctively marked.
Extra entry, sampling and analysis expenses resulting from violation of this rule shall be borne by the seller.
4. DUTIES
(a) IMPORT All duties and taxes levied in the country of importation are for buyer's account.
(b) EXPORT All duties and taxes levied in the country of exportation are for seller's account.
5. INSURANCE
(a) Merchandise it sold CIF, shall be ensured by seller at 110% of the contract price. Claims to be payable to buyer in the currency of the draft in New York of in the country of destination if other than the United States. Any expense covering war and/or strikes and/or riots and/or civil commotions risks in excess of 1/2% to be for account of buyer based on approximate rate prevailing in New york on the date of ocean or an B/L insurance to be with first class underwriters whose paying agents are to be named in the policy and insuring conditions to be either.
(b) Against all risks of physical loss or damage from any external cause (excepting risks excluded by the free from capture and seizure and striskes, nots and civil commontions warranties) irrespective of percentages, and including the forms of the following American Institude clause prevailing at the time of shipment "Warehouse to warehouse" "1943 or 1963 Marine Extention" "both to Blame collistion" "Cargo" "War risks" and "strikes, Riots and civil commotion"
OR
(a) London Institude cargo clause (all risks) or equivalents including London Institude Strikes, Riots and civil commotions clauses prevailing at the time of shipment Both extended to include American Institude 1943 or 1953 Marine Extention Clauses, Warehouse to warehouse, including lighterage and barging, if any, beyon the canfines of the port area at ports of loading and discharge and London Institute War Clause prevailing at the time of shipment.
(b) On merchandise sold CNF or FOB when shipped in house to house or house to pier containers, buyer shall cover All-Risks Insurance as above on breakbulk or pier to pier or pier to house containers, buyer shall cover All Risk Insurance, however, only from the time the merchandise is received on board vessel until received in warhouse or raconditioning plant at destination. The sum insured shall not be less than 110% of the contract price. If terms of payment are Cash Against Documents the buyer shall upon request, furnish evidence of insurance. Any insurance penalties resulting from shipment on over age/under - tonnage vessels will be for account of seller, unless such vessel was cominated by buyer.
6. SHIPMENT
(a) The word "afloat" shall mean that the vessel carrying the merchandise shall have ledt the port of shipment prior to the contract date.
(b) "Immediate" shall mean shipment within 7 days of the contract date
(c) "Prompt" shall mean shipment within 14 days of contract date
(d) "First haft of a month" shall be defined as the first 15 days, "second haft" shall be defined as the balance of a month
(e) "Each B/L" shall be treated as a separate contract
(f) "Merchandise" shall be shipped on an en-board B/L and the date there of shall be prima facia evidence of the date of shipments
(g) Shipment may not be made under a B/L which is endorsed "on desk at shipper's risk" or which is subject to an equivalent provision
7. CONTRACT CLAUSE
Unless otherwise agreed shipment shall be breakbulk or in houise to pier (CY/CFS) or pier to pier (CFS/CFS) containers. If so containerized, the cargo shall be made available to the buyer or his order, devanned without stripping charges , at the port of discharge. In all containerized shipments terminal charges involed in marking cargo available to the buyer exclusive of demurrage, loading and charges related to Government Agency inspection shall be for the account of the seller. In the case of house to pier (CY/CFS) or house to house (CY/CY) containers, seller guarantees the correct count as per B/L
(a) Sampling pursuant to the Import regulation and Standards shall take place at pier, if possible, then the above mentioned sampling shall take place at the time the container is being stripped at public or private warehouse.
(b) Where buyer and seller have agreed to pier to house (CFS/CY) or house to house (CY/CY)containers and have agreed that entry and sampling are acomplished at other than the port of discharge, all inland freight charges incidental to reconditioning, when required under the Import Regulations and Standards shall be shared equally by buyer and seller
(c) All Bs/L for containerized merchandise shall show the number of packages in the container
8. DECLARATION
(a) Declarations shall be made by cable, telegraph, telex, fax or telephone Fax/ Telephone declarations must be confirmed in writing.
(b) Seller shall declare the name of the carrying vessel, B/L(s) number(s), and date(s), container number(s), if applicable, and port of shipment to his representative or to the buyer within 10 days from the date of the on board B/L, but in any case, prior to the arrival of vessel at destination, unless it can be shown that this was impossible. Seller's representative and/or intermediate sellers must redeclare within one business day of receipt.
(c) A declaration may not be withdrawn but may be corrected bu the seller if he can show a typographical error or musspelling in the declaration, or vessel substitution as defined byu the applicable B/L
(d) Protection of merchandise from general order
If the goods have been declared to accordance with the above and should negotiable shipping documents not be available on arrival of vessel at destination buyer shall take delivery by posting the required guarantees. Cost of posting guarantees shall be for the buyer's account. Upon buyer's Request it is seller's responsibility to furnish buyer with marks, number of packages and name of discharging vessel at final destination enabling buyer to take delivery of the goods.
9. LOSS OF VESSEL
(a) Payment for negotiable shipping documents shall be made regardless of whether the vessel is lost before after declaration
(b) If the terms of payments are "Cash on Arrival" or "Payment after compliance with Import Regulations and Standards" buyer shall pay against proper set of shipping documents on the originally scheduled arrival date of the vessel
(c) Weight on shipper's invoice supported by the B/L or a Weight Certificate shall govern
10. LANDED WEIGHTS
(a) Actual gross weights are to govern
(b) Merchandise shall be weighted at seller's expense by a certified Public Weightmaster within 14 days of availability to weigh
(c) Stack and/or Missing Packages shall be averaged on the basic of the sound portion
11. ACCOUNTS
(a) accounts shall be rendered and balances p....
Sunday, 5. April 2009, 10:03:44
CAREER
Barack Obama's inaugural address in full
My fellow citizens:
I stand here today humbled by the task before us, grateful for the trust you have bestowed, mindful of the sacrifices borne by our ancestors. I thank President Bush for his service to our nation, as well as the generosity and co-operation he has shown throughout this transition.
Forty-four Americans have now taken the presidential oath. The words have been spoken during rising tides of prosperity and the still waters of peace. Yet, every so often the oath is taken amidst gathering clouds and raging storms.
At these moments, America has carried on not simply because of the skill or vision of those in high office, but because we, the people, have remained faithful to the ideals of our forbears, and true to our founding documents.
So it has been. So it must be with this generation of Americans.
That we are in the midst of crisis is now well understood. Our nation is at war, against a far-reaching network of violence and hatred. Our economy is badly weakened, a consequence of greed and irresponsibility on the part of some, but also our collective failure to make hard choices and prepare the nation for a new age. Homes have been lost; jobs shed; businesses shuttered. Our healthcare is too costly; our schools fail too many; and each day brings further evidence that the ways we use energy strengthen our adversaries and threaten our planet.
These are the indicators of crisis, subject to data and statistics. Less measurable but no less profound is a sapping of confidence across our land - a nagging fear that America's decline is inevitable, that the next generation must lower its sights.
Today I say to you that the challenges we face are real. They are serious and they are many. They will not be met easily or in a short span of time. But know this, America - they will be met.
On this day, we gather because we have chosen hope over fear, unity of purpose over conflict and discord.
On this day, we come to proclaim an end to the petty grievances and false promises, the recriminations and worn-out dogmas, that for far too long have strangled our politics.
We remain a young nation, but in the words of scripture, the time has come to set aside childish things. The time has come to reaffirm our enduring spirit; to choose our better history; to carry forward that precious gift, that noble idea, passed on from generation to generation: the God-given promise that all are equal, all are free, and all deserve a chance to pursue their full measure of happiness.
In reaffirming the greatness of our nation, we understand that greatness is never a given. It must be earned. Our journey has never been one of short-cuts or settling for less. It has not been the path for the faint-hearted - for those who prefer leisure over work, or seek only the pleasures of riches and fame. Rather, it has been the risk-takers, the doers, the makers of things - some celebrated but more often men and women obscure in their labour, who have carried us up the long, rugged path towards prosperity and freedom.
For us, they packed up their few worldly possessions and travelled across oceans in search of a new life.
For us, they toiled in sweatshops and settled the West; endured the lash of the whip and ploughed the hard earth.
For us, they fought and died, in places like Concord and Gettysburg; Normandy and Khe Sahn.
Time and again these men and women struggled and sacrificed and worked till their hands were raw so that we might live a better life. They saw America as bigger than the sum of our individual ambitions; greater than all the differences of birth or wealth or faction.
This is the journey we continue today. We remain the most prosperous, powerful nation on Earth. Our workers are no less productive than when this crisis began. Our minds are no less inventive, our goods and services no less needed than they were last week or last month or last year. Our capacity remains undiminished. But our time of standing pat, of protecting narrow interests and putting off unpleasant decisions - that time has surely passed. Starting today, we must pick ourselves up, dust ourselves off, and begin again the work of remaking America.
For everywhere we look, there is work to be done. The state of our economy calls for action, bold and swift, and we will act - not only to create new jobs, but to lay a new foundation for growth. We will build the roads and bridges, the electric grids and digital lines that feed our commerce and bind us together. We will restore science to its rightful place, and wield technology's wonders to raise healthcare's quality and lower its cost. We will harness the sun and the winds and the soil to fuel our cars and run our factories. And we will transform our schools and colleges and universities to meet the demands of a new age. All this we can do. All this we will do.
Now, there are some who question the scale of our ambitions - who suggest that our system cannot tolerate too many big plans. Their memories are short. For they have forgotten what this country has already done; what free men and women can achieve when imagination is joined to common purpose, and necessity to courage.
What the cynics fail to understand is that the ground has shifted beneath them - that the stale political arguments that have consumed us for so long no longer apply.
The question we ask today is not whether our government is too big or too small, but whether it works - whether it helps families find jobs at a decent wage, care they can afford, a retirement that is dignified. Where the answer is yes, we intend to move forward. Where the answer is no, programmes will end. And those of us who manage the public's dollars will be held to account - to spend wisely, reform bad habits, and do our business in the light of day - because only then can we restore the vital trust between a people and their government.
Nor is the question before us whether the market is a force for good or ill. Its power to generate wealth and expand freedom is unmatched, but this crisis has reminded us that without a watchful eye, the market can spin out of control - that a nation cannot prosper long when it favours only the prosperous. The success of our economy has always depended not just on the size of our gross domestic product, but on the reach of our prosperity; on the ability to extend opportunity to every willing heart - not out of charity, but because it is the surest route to our common good.
As for our common defence, we reject as false the choice between our safety and our ideals. Our founding fathers, faced with perils that we can scarcely imagine, drafted a charter to assure the rule of law and the rights of man, a charter expanded by the blood of generations. Those ideals still light the world, and we will not give them up for expedience's sake. And so to all the other peoples and governments who are watching today, from the grandest capitals to the small village where my father was born: know that America is a friend of each nation and every man, woman, and child who seeks a future of peace and dignity, and we are ready to lead once more.
Recall that earlier generations faced down fascism and communism not just with missiles and tanks, but with the sturdy alliances and enduring convictions. They understood that our power alone cannot protect us, nor does it entitle us to do as we please. Instead, they knew that our power grows through its prudent use; our security emanates from the justness of our cause, the force of our example, the tempering qualities of humility and restraint.
We are the keepers of this legacy. Guided by these principles once more, we can meet those new threats that demand even greater effort - even greater co-operation and understanding between nations. We will begin to responsibly leave Iraq to its people, and forge a hard-earned peace in Afghanistan. With old friends and former foes, we will work tirelessly to lessen the nuclear threat, and roll back the spectre of a warming planet. We will not apologise for our way of life, nor will we waver in its defence, and for those who seek to advance their aims by inducing terror and slaughtering innocents, we say to you now that our spirit is stronger and cannot be broken; you cannot outlast us, and we will defeat you.
For we know that our patchwork heritage is a strength, not a weakness. We are a nation of Christians and Muslims, Jews and Hindus - and non-believers. We are shaped by every language and culture, drawn from every end of this earth; and because we have tasted the bitter swill of civil war and segregation, and emerged from that dark chapter stronger and more united, we cannot help but believe that the old hatreds shall someday pass; that the lines of tribe shall soon dissolve; that as the world grows smaller, our common humanity shall reveal itself; and that America must play its role in ushering in a new era of peace.
To the Muslim world, we seek a new way forward, based on mutual interest and mutual respect. To those leaders around the globe who seek to sow conflict, or blame their society's ills on the West - know that your people will judge you on what you can build, not what you destroy. To those who cling to power through corruption and deceit and the silencing of dissent, know that you are on the wrong side of history; but that we will extend a hand if you are willing to unclench your fist.
To the people of poor nations, we pledge to work alongside you to make your farms flourish and let clean waters flow; to nourish starved bodies and feed hungry minds. And to those nations like ours that enjoy relative plenty, we say we can no longer afford indifference to the suffering outside our borders; nor can we consume the world's resources without regard to effect. For the world has changed, and we must change with it.
As we consider the road that unfolds before us, we remember with humble gratitude those brave Americans who, at this very hour, patrol far-off deserts and distant mountains. They have something to tell us, just as the fallen heroes who lie in Arlington whisper through the ages. We honour them not only because they are the guardians of our liberty, but because they embody the spirit of service; a willingness to find meaning in something greater than themselves. And yet, at this moment - a moment that will define a generation - it is precisely this spirit that must inhabit us all.
For as much as government can do and must do, it is ultimately the faith and determination of the American people upon which this nation relies. It is the kindness to take in a stranger when the levees break, the selflessness of workers who would rather cut their hours than see a friend lose their job which sees us through our darkest hours. It is the firefighter's courage to storm a stairway filled with smoke, but also a parent's willingness to nurture a child, that finally decides our fate.
Our challenges may be new. The instruments with which we meet them may be new. But those values upon which our success depends - honesty and hard work, courage and fair play, tolerance and curiosity, loyalty and patriotism - these things are old. These things are true. They have been the quiet force of progress throughout our history. What is demanded then is a return to these truths.
What is required of us now is a new era of responsibility - a recognition, on the part of every American, that we have duties to ourselves, our nation, and the world, duties that we do not grudgingly accept but rather seize gladly, firm in the knowledge that there is nothing so satisfying to the spirit, so defining of our character, than giving our all to a difficult task.
This is the price and the promise of citizenship.
This is the source of our confidence - the knowledge that God calls on us to shape an uncertain destiny.
This is the meaning of our liberty and our creed - why men and women and children of every race and every faith can join in celebration across this magnificent mall, and why a man whose father less than 60 years ago might not have been served at a local restaurant can now stand before you to take a most sacred oath.
So let us mark this day with remembrance, of who we are and how far we have travelled. In the year of America's birth, in the coldest of months, a small band of patriots huddled by dying campfires on the shores of an icy river. The capital was abandoned. The enemy was advancing. The snow was stained with blood. At a moment when the outcome of our revolution was most in doubt, the father of our nation ordered these words be read to the people:
"Let it be told to the future world... that in the depth of winter, when nothing but hope and virtue could survive... that the city and the country, alarmed at one common danger, came forth to meet [it]."
America. In the face of our common dangers, in this winter of our hardship, let us remember these timeless words. With hope and virtue, let us brave once more the icy currents, and endure what storms may come. Let it be said by our children's children that when we were tested we refused to let this journey end, that we did not turn back nor did we falter; and with eyes fixed on the horizon and God's grace upon us, we carried forth that great gift of freedom and delivered it safely to future generations.
Thank you. God bless you. And God bless the United States of America. del.icio.us digg Facebook ma.gnolia reddit Slashdot Read more...
Tuesday, 31. March 2009, 01:32:26
Kỹ năng suy nghĩ bao gồm nhiều khía cạnh: học hỏi, giải quyết vấn đề, biết đưa ra những khái niệm, biết đánh giá và biết sáng tạo. Nhưng, làm thế nào để bạn có thể chứng tỏ mình có những kỹ năng này trong một buổi phỏng vấn?Tại sao lại cần phải tuyển một người tốt nghiệp Đại học thay vì PTTH? Nhà tuyển dụng muốn tuyển một người tốt nghiệp Đại học là vì họ muốn có những người có khả năng "suy nghĩ". Họ cần những người có thể học mọi thứ nhanh, biết cách xác định và giải quyết các vấn đề đưa ra những ý kiến từ những thông tin lộn xộn, và đưa ra những kết luận đúng đắn, và suy nghĩ sáng tạo.
Học hỏi
Không chỉ có nghĩa là tham gia vào các khoá học, đào tạo, hay đọc sách... Bạn cần hiểu bạn học hỏi gì và biết cách ứng dụng chúng vào công việc ra sao. Kiến thức sẽ không được sử dụng triệt để nếu nó chỉ nằm trong đầu bạn và bạn không biết phải làm gì với nó. Với mỗi môn học, hãy nghĩ về một tình huống mà bạn có thể áp dụng được kiến thức đó. Hãy viết ra những gì bạn nghĩ, và thực hành nó với người bạn của mình chẳng hạn.
Giải quyết vấn đề
Bao gồm hai phần: phân tích và giải pháp. Bạn cần xác định một vấn đề nào đó, mổ xẻ nó ra thành nhiều yếu tố, suy nghĩ xem làm thế nào để mỗi yếu tố đó phù hợp được với nhau và xác định những nguyên nhân dẫn tới các vấn đề của chúng. Sau đó, bạn cần đưa ra những câu trả lời có thể xảy ra và đưa ra một giải pháp. Hãy thử nghĩ về một khoảng thời gian nào đó khi bạn phải đối mặt với một khó khăn (về học hành, công việc, hay cuộc sống cá nhân). Vấn đề của bạn là gì? Bạn đã dùng biện pháp gì để giải quyết nó? Bạn đã thành công đến mức độ nào?!
Đưa ra khái niệm
Nếu bạn có khả năng thảo luận những vấn đề vĩ mô, nghiêng về lý thuyết và có thể xác định những nội dung chính một cách nhanh chóng thì bạn có được kỹ năng này. Nó bao gồm sự tích luỹ và xử lý thông tin để phát hiện, đưa ra những khái niệm mới hoặc đưa ra những cách thức mới nhìn nhận sự việc.
Đánh giá
Bao gồm việc đưa ra những quyết định hoặc gợi ý hợp lý dựa trên việc xem xét mọi thông tin và lựa chọn có sẵn. Hãy thử nghĩ về một tình huống mà bạn có rất nhiều cơ hội lựa chọn. Bạn đã làm thế nào để đưa ra quyết định đúng đắn nhất?
Khả năng sáng tạo
Là khả năng đưa ra những ý tưởng mới mẻ, chưa từng có. Nó cũng bao gồm cả quá trình xây dựng mở rộng những ý tưởng có sẵn, phá vỡ những cách thức làm việc thông thường. Hãy thử nghĩ về cách thức bạn đã giải quyết một vấn đề nào đó bằng cách sáng tạo. Bạn đã làm thế nào để cải tạo những ý tưởng của người khác.
Nếu bạn có thể chứng minh thành công kỹ năng suy nghĩ của mình trong một cuộc phỏng vấn, công việc sẽ sớm là của bạn.
Theo Tạp chí Khám phá
Tuesday, 31. March 2009, 01:28:46
VĂN HOÁ
Chữ là thứ có thể thờ, chơi, xin, cho, ăn cắp, mua bán, khoe khang, khinh rẻ, nát (chữ dùng của nhà văn Nguyễn Việt Hà) hay đơn giản là dùng - tất cả phụ thuộc vào thái độ của người đọc.Trên chiếc tàu điện ngầm cũ kỹ, một cô gái ăn mặc bình thường, nhan sắc bình thường đang ngồi đọc một cuốn sách cũng rất bình thường. Bên cạnh cô, một ông già trông chẳng có gì đặc biệt cũng đang đọc một cuốn sách chẳng có gì đặc biệt. Chúng ta đang nói đến chuyện quái quỷ gì thế này?
Quả thật, nếu tất cả chỉ có thế thì thật là vớ vẩn. Nhưng nếu bạn biết rằng chuyến tàu đó có 15 toa, mỗi toa có khoảng 50 người và mỗi người đều đang đọc một cuốn sách nào đó giống như cô gái và ông già kia, thì bạn sẽ thấy cả một khối lượng tri thức khổng lồ đang di chuyển dưới lòng đất. Chuyện sẽ không còn là bình thường nữa nếu chúng ta tính đến tất cả những chuyến tàu ngầm ở Moscow - bối cảnh cho ví dụ trên hoặc tất cả các phương tiện vận chuyển trên thế giới này vào bất cứ khoảnh khắc nào trong một ngày.
Văn hoá đọc lớn hơn những gì chúng ta thấy trên tay cô gái bình thường hay ông già chẳng có gì đặc biệt kia rất nhiều.
Từ khi chữ viết ra đời, một mẩu giấy vụn cũng có thể trở thành vô giá. Lịch sử tri thức nhân loại từng ghi nhận không ít những tuyệt tác ra đời trên giấy lộn hoặc bên lề những trang viết nháp. Đó là bản giao hưởng của Bach, bản thảo thơ của Henrich Heine, công thức toán của Évariste Galois. Quá trình đọc của con người là một con đường dài đi từ những hang động bên bờ sông Nile, nhũng thẻ tre trong Hoàng cung Bắc Kinh đến những tấm biển quảng cáo cỡ lớn trên quảng trường Time Square và những tờ thực đơn trong một quán cà phê ở ngay sát nhà bạn. Số chữ in ra mỗi ngày có lẽ nhiều hơn rất nhiều lần số bụi trên thế giới này, để đáp ứng nhu cầu con người muốn đọc ở mọi nơi, mọi chốn. Và với mỗi người, hành trình đọc lại khác nhau.
Với tôi, đó là một hành trình đi qua những bi kịch của Kafka, những tuyệt vọng của A.Tolstoy, những thử nghiệm của Appolinaire, những mơ mộng của Saint Exupéry, những hoan lạc của Goethe, những uẩn ức của Márquez, những trắc ẩn của Kundera. Với vợ tôi hành trình đó lại đi qua những suy luận của Conan Doyle, những tình tiết của Sidney Sheldon (vĩnh biệt ông), những dẫn giải của Agatha Christie, những nhân vật của Graham Chase và những huyền thoại mafia của Mario Puzo. Với con gái tôi, đọc là hành trình lặp đi lặp lại nước mắt của Lọ Lem, giấc ngủ của Bạch Tuyết, nụ cười của cô bé quàng khăn đỏ, bộ quần áo của nhà vua, chiếc đèn thần của Aladin, đôi cánh của thiên nga... Còn với đứa chị họ của nó, trên thế giới này, đọc chỉ đơn thuần là một con đường độc đạo đi qua những trang truyện tranh. Một câu chuyện là một cái ngã tư. Có ngã tư Thám tử Conan, ngã tư Bảy Viên Ngọc Rồng, ngã tư Doremon...
Hồ sơ văn hoá đọc của con người đồ sộ và dày dặn hơn tất cả các bảo tàng trên thế giới này cộng lại. Không thể nói văn học cổ điển và kinh điển, tiểu thuyết best-seller, cổ tích hay chuyện tranh, cái nào hơn cái nào. Cũng không thể bó gọn văn hóa đọc trên giấy và những con chữ. (Thực tế là con người còn đọc nhau qua ánh mắt, bờ môi, những cử chỉ của cơ thể, và cả những sắc thái vô hình khác nữa). Thế nên, trong quan niệm của tôi, không có chuyện khủng hoảng văn hóa đọc mà chỉ có sự khủng hoảng cái nhìn về văn hóa đọc.
Nói một cách nôm na hơn, vấn đề không phải là đọc gì, mà đọc như thế nào? Và dưới đây là chín sai lầm trong văn hóa đọc của người Việt.
1) Chúng ta tích lũy tri thức qua việc đọc báo thay vì đọc sách
Và kết quả là tri thức của chúng ta bao gồm những thứ được nhắc đến trong chuyên mục phóng sự xã hội, quốc tế hay tâm lý của báo chí (Showgame và phim dã sử truyền hình cũng là một kênh, nhưng có lẽ xin bàn ở bài khác). Với một số người hiện đại hơn, tri thức nằm trong những trang báo điện tử và các diễn đàn. Thông thái hơn nữa thì Wikipedia và Goodle hay Yahoo là những ông thánh sống.
2) Chúng ta đọc sách theo kiểu đọc báo
Và chúng ta chỉ mang máng nhớ là trong chiến tranh và hòa bình có một anh chàng tên là Andre đi đánh giặc, trong Hamlet có một câu "Tồn tại hay không tồn tại”, trong Trăm năm cô đơn hình như có một đuôi lợn.
3) Chúng ta rất lười ghi chép
Và nếu có ghi chép thì chúng ta cũng luời cả việc đọc lại nó.
4) Chúng ta đọc theo phong trào
Cứ sau mỗi mùa trao giải hoặc mỗi scandal nào đó, là một cuốn sách được nhắc đến lại bán chạy như tôm tươi, dù trước đó cả tháng trời chịu phận “cá thối". Đơn giản bởi rất ít người trong số chúng ta có được định hướng đọc và kế hoạch đọc, cho mình.
5) Chúng ta giả vờ đọc
Nghĩa là chúng ta chỉ mua sách, gáy càng đẹp, bìa càng cứng càng tốt, để bày cho sang phòng chứ ít khi giở ra. Nếu có giở thì cũng là để khoe chữ ký của nhà văn nổi tiếng để tặng chủ nhân trong đó. Ngày xưa Nguyễn Tuân từng sốt sắng tả cái cảm giác mua sách về rồi nắn nót cầu kỳ đọc từng trang, sờ cái lề giấy… Bây giờ, điều đó là xa xỉ khi vô số cuốn sách xén lỗi chẳng bao giờ bị lo phát hiện vì nhiều người đâu có giở chúng ra lần nào.
6) Nếu đọc, chúng ta sẽ đạo
Rất nhiều khi chúng ta đương nhiên coi những gì chúng ta đọc được là của mình. Và chúng ta nhái lại như thể chúng ta viết ra nó.
7) Chúng ta thiếu sự hoài nghi
Thường thì sách báo nói thế nào, chúng ta tin như vậy. Rất ít khi chúng ta thử dừng lại, nhìn lại vấn đề theo quan điểm riêng. Trong khi nghi ngờ sách là một thái độ đáng tôn trọng không kém gì tôn sùng sách.
8) Chúng ta dễ dãi với những sai sót
Ngày trước, kèm theo mỗi cuốn sách xuất bản thường có một tờ đính chính. Nhưng đính chính đó đôi khi chỉ là lỗi chính tả tên riêng... Mẩu giấy nhỏ nhưng hàm chứa một ý thức lớn của người làm sách. Bây giờ, công nghệ hiện đại hơn, in ấn rẻ hơn, nhưng những mẩu giấy đính chính lại gần như thất truyền mặc dù lỗi in rõ ràng là nhiều hơn. Cả ý thức của người làm sách lẫn người đọc sách đều kém hơn trước.
9) Chúng ta chỉ đọc những gì mình thích
Điều đó không xấu, nhưng sẽ tốt hơn nếu chúng ta có thể đọc cả những điều mình không thích, nhưng cần. Bởi đọc không chỉ là để giải trí. Đọc cần phải có mục đích, và rất nhiều sự kiên nhẫn.
Hy vọng sự kiên nhẫn của bạn đọc vẫn đi cùng với tôi đến những dòng chữ này.
Theo Tạp chí Sành điệu
Tuesday, 31. March 2009, 01:17:22
CAREER
Sự đột phá đầu tiên của tập đoàn Starbucks ra khỏi thị trường Bắc Mỹ “mê cà phê” là tại đất nước “mê uống trà” Nhật Bản vào năm 1996. Vào thời điểm đó, ở nước này, việc mua cà phê đem về và vừa đi vừa uống bị xem là khiếm nhã.
Để thâm nhập vào thị trường này, các nhà chiến lược của Starbucks đã quan sát khách hàng tại cửa hàng đầu tiên của họ trên một khu phố nhỏ ở quận Ginza tại Tokyo. Họ sớm phát hiện ra là phụ nữ với thu nhập ổn định sẽ trở thành đối tượng khách hàng chính của cửa hàng cà phê theo kiểu phương Tây này.
Vào năm 2001, Starbucks Nhật Bản đã sẵn sàng niêm yết trên sàn chứng khoán Nasdaq của Nhật Bản. Sự phát triển mạnh mẽ của chuỗi quán cà phê lớn nhất nước Mỹ này nhanh chóng lan sang các nước Châu Á khác.
Nhưng vào năm ngoái, thương hiệu toàn cầu này bắt đầu gặp nhiều khó khăn, và sự phát triển kỳ diệu đó bắt đầu chậm lại. Một số thay đổi trong bộ máy quản lý đã được tiến hành để làm khách hàng giảm bớt ấn tượng là thương hiệu Starbucks đã trở thành một loại hàng hóa thông thường và phục hồi lại “trải nghiệm” Starbucks độc nhất vô nhị.
Tại Châu Á, ông John Culver tiếp quản vị trí Chủ tịch của Starbucks khu vực Châu Á Thái Bình Dương vào tháng 1 năm 2007. Đồng thời, ông ấy cũng là Phó Chủ tịch cấp cao của tập đoàn Starbucks toàn cầu. Thách thức đầu tiên của ông vào năm đó là Starbucks phải đóng cửa tiệm cà phê của họ trong Tử Cấm Thành của Bắc Kinh sau khi một chương trình truyền hình quốc gia chỉ trích Starbucks gây ảnh hưởng xấu đến thắng cảnh văn hóa của Trung Quốc.
Hiện nay, Starbucks có hơn 15 ngàn cửa hàng trên toàn thế giới, với khoảng 600 ở Nhật bản, và hơn 300 ở Trung Quốc đại lục. Bất chấp kế hoạch đóng cửa khoảng 600 cửa hàng kinh doanh thua lỗ và cắt giảm khoảng 12 ngàn việc làm tại Mỹ, Starbucks vẫn quyết định mở thêm 80 cửa tiệm nữa tại Trung Quốc, thị trường có tiềm năng nhất ngoài khu vực Bắc Mỹ. Ông Culver, đang làm việc tại trụ sở ở Hồng Kông, còn có trách nhiệm vực dậy thương hiệu Starbucks tại Úc, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, New Zealand, Philippines, Singapore, Hàn Quốc, và Thái Lan.
Người lãnh đạo ở tuổi 47 đã tham gia Starbucks từ năm 2002 ở cương vị Phó chủ tịch và Tổng giám đốc khối dịch vụ thực phẩm, nơi ông tập trung phát triển mức độ nhận biết thương hiệu và tiêu chuẩn chất lượng. Trước khi gia nhập Starbucks, ông từng làm việc cho Nestlé Hoa Kỳ, nơi ông là phó chủ tịch chịu trách nhiệm cho hơn một tỷ USD doanh thu dịch vụ thực phẩm và quản lý khoảng 30 nhãn hàng. Ông có bằng cử nhân quản trị kinh doanh tại Đại học tiểu bang Florida.
Tor Ching Li ở Singapore trò chuyện qua điện thoại với ông Culver ở Hồng Kông.
WSJ: Bài học lớn nhất ông học được từ việc làm đầu tiên của mình?
Ông Culver: Tôi đã rửa chén và làm bồi bàn khi tôi còn học trung học. Bài học lớn nhất tôi đã học được là phải đối xử với mọi người theo cách mà bạn muốn họ đối xử với mình. Là con người, tất cả chúng ta đều muốn được biết đến và tôn trọng, dù chỉ bằng một câu chào thân thiện hay một lời cám ơn chân thành. Chính những điều nhỏ nhặt ấy sẽ xây dựng nên mối quan hệ giữa con người với con người.
WSJ: Ông có lời khuyên nào cho các bạn mới khởi nghiệp trong lĩnh vực của ông?
Ông Culver: Hãy vui vẻ, nhiệt thành trong những việc bạn làm và cho mọi người thấy bạn quan tâm đến họ. Bạn sẽ nhận được nhiều hơn những gì bạn bỏ ra. Phần thưởng bạn nhận được là mối quan hệ mà bạn đã tạo dựng được và những tác động của bạn đến cuộc sống của người khác.
WSJ: Ông mong chờ điều gì nhất ở những nhân viên mới?
Ông Culver: Có được những kiến thức và kỹ năng cơ bản là điều rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn nữa là bạn phải chọn cho mình một con đường thăng tiến hoặc một công ty bạn đam mê và có thể đồng hành cùng những giá trị của bạn.
WSJ: Thị trường cà phê Châu Á và phương Tây có khác nhau không?
Ông Culver: Đó là hai thị trường khác nhau. Thị trường ở Châu Á còn rất nhiều tiềm năng để phát triển. Về mặt thiết kế, chúng tôi muốn chắc chắn rằng mỗi cửa tiệm đều giữ được tính chất “môi trường thứ ba”. Đó là nơi giao kết giữa nhà và công sở, một không gian nghỉ ngơi với ghế sofa thoải mái, những nhân viên pha cà phê thân thiện, và âm nhạc nhẹ nhàng, nhưng vẫn giữ được nét văn hóa bản địa. Starbucks bản địa hóa thực đơn cho các sản phẩm thức ăn và bánh ngọt để phục vụ sở thích của khách hàng địa phương và để nâng cao trải nghiệm khi uống cà phê. Tuy nhiên, dù ở nơi đâu thì chất lượng cà phê và sự trải nghiệm Starbucks vẫn được giữ nguyên.
WSJ: Ông đã đối mặt với những thách thức của việc làm lãnh đạo như thế nào trong thời điểm có nhiều sự thay đổi trong ban quản lý?
Ông Culver: Trong thời điểm thay đổi, điều quan trọng là luôn cập nhật thông tin cho nhân viên, chia sẻ hướng đi rõ ràng của công ty và thể hiện việc thay đổi sẽ đề cao giá trị cốt lõi của công ty như thế nào. Cung cấp thông tin một cách chân thật, cởi mở, nhất quán, và đúng lúc thông qua những cuộc họp chính thức hoặc không chính thức và những buổi hội thảo công khai là cách hiệu quả nhất. Nó giúp nhân viên có thể tìm ra câu trả lời cho những thắc mắc của mình.
WSJ: Ông có nghĩ là người ta rất cần phải biết những điều căn bản như pha cà phê và quản lý cửa tiệm trước khi được bổ nhiệm vào những vị trí quản lý cao hơn?
Ông Culver: Đó là điều chắc chắn. Bên cạnh những kiến thức cơ bản, tôi tin rằng quan trọng nhất là người ta phải có sự đam mê đối với con người và cà phê, vì chúng chính là cốt lõi trong hoạt động kinh doanh của chúng tôi. Khách hàng chỉ hài lòng và hứng thú khi doanh nghiệp thu hút và giữ được những người giỏi nhất, và chúng tôi làm được điều này bằng cách liên tục đào tạo cho những “đối tác” của chúng tôi (cụm từ Starbucks dùng để nói về nhân viên của mình).
WSJ: Quyết định khó khăn nhất mà ông từng đưa ra ở cương vị lãnh đạo?
Ông Culver: Những quyết định khó khăn nhất là những quyết định sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến một cá nhân hay một tập thể, chẳng hạn như sự phân chia các nguồn lực bị giới hạn và làm sao để sử dụng chúng. Là một nhà lãnh đạo, tôi cảm thấy có trách nhiệm rất lớn với những người tôi làm việc cùng mỗi ngày. Tại Starbucks, chúng tôi luôn tin rằng chính đội ngũ nhân viên đã làm nên sự thành công của công ty. Đó là lý do chúng tôi gọi họ là những đối tác của chúng tôi.
WSJ: Ông có khuyến khích những bạn đang khởi nghiệp trong ngành của ông theo học trường kinh doanh hay bỏ qua bằng MBA và học trong khi làm việc?
Ông Culver: Tôi tin rằng sự đam mê và toàn tâm toàn ý vào những gì bạn chọn làm, cho dù đó là học tập hay công việc, là rất quan trọng. Starbucks có một số câu chuyện thành công tiêu biểu, chẳng hạn đối tác khởi đầu là nhân viên pha cà phê bán thời gian khi còn đi học đã trở thành những nhà quản lý hàng đầu cho công ty và tạo dựng được một sự nghiệp lâu dài. Chúng tôi cũng có những câu chuyện khác, chẳng hạn đối tác đến làm việc cho công ty sau khi tốt nghiệp cao học và MBA. Có một điểm chung là họ đều yêu thích những việc họ làm và cảm thấy rằng họ đang tạo được một tác động tích cực đến những người họ làm việc chung hoặc tiếp xúc hàng ngày.
Theo The Wall Street Journal
Wednesday, 11. March 2009, 15:03:49
Marketer
TT - Cách đây hai năm, tôi dự định đi du học và bắt đầu bằng việc tự học tiếng Anh vì không có nhiều tiền. Dù có một động lực lớn trước mắt, nhưng bị ám ảnh là không thể học một mình mà nên chuyện nên tôi xin đi học kèm riêng, chỉ một cô một trò.
May thay, học được một tháng thì cô giáo bận không thể dạy được và tôi lại trở về với số phận tự học. Cuối cùng tôi cũng đến cái đích đi du học và có điểm TOEFL gần đạt mức 550. Qua Mỹ, tôi tiếp tục học tiếng Anh hai tháng trước khi vào học chính thức vì buộc phải có đủ 550 điểm TOEFL. Rồi vào năm học, tôi ngỡ ngàng nhận ra trong 10 câu mình nói ra có đến tám câu người nghe phải hỏi lại. Nhiều khi tôi nói một câu chỉ mấy chữ mà họ cũng không hiểu.
Nhiều cái sai trong phát âm đã bám vào tôi thâm căn cố đế vì tôi đã nói sai từ nhỏ mà giáo viên hoặc không nhận ra hoặc không đủ kiên nhẫn và thời gian sửa những lỗi phát âm này.
Sang Mỹ, tôi nhận ra cách học thích hợp cho mình chính là nằm nghe nhạc, coi phim (nhất là phim hoạt hình), đọc truyện tranh và đi tìm người nói chuyện gẫu. Những hoạt động có giao tiếp giúp việc học nhẹ như chơi, không bị căng thẳng khi nói, nhất là khi nói sai.
Nhiều bạn bè của tôi bỏ tiền để đi luyện các khóa nghe và nói mà không dám tự tin là họ học được kỹ năng đó dễ dàng nếu mỗi ngày dành khoảng 30 phút với một máy tính nối mạng. Nhiều trang báo, cụ thể là trang báo International Herald Tribune, bạn có thể nghe người ta đọc rồi lặp lại, khoanh tròn những từ mình đọc một đằng mà người bản xứ đọc một nẻo để lưu ý. Chữ nào cảm thấy thích thì tra từ điển để biết nghĩa, không thì thôi. Tôi tin ai cũng có thể tìm được một cách tự học ngoại ngữ nhẹ nhàng mà mau tiến bộ, tránh những lỗi phát âm thường mắc của người VN khi nói tiếng Anh.
Khi bạn cần kiến thức thật sự thì bản thân phải càng chủ động học tập, mọi cá nhân hay phương tiện bên ngoài chỉ là hỗ trợ phần nào cho quyết tâm của bạn. Dù học ở trung tâm cao cấp nhất, tốn cả núi tiền mà không tự học thì kiến thức cũng lẩn trốn bạn.
HỒNG VÂN (ĐH West Virginia, Mỹ)
(Theo tuổi Trẻ Online)
Phương pháp học tốt tiếng Anh
[Ngày đăng: 10h:29, 23/02/2009]
Có rất nhiều phương pháp học tiếng Anh. Tùy theo cách học và điều kiện của mỗi người mà sẽ có những phương pháp riêng phù hợp và hiệu quả. Dưới đây tôi xin chia sẻ với các bạn những kinh nghiệm của riêng mình sau một số năm đi học và giảng dạy cũng như kinh nghiệm của rất nhiều người đã từng học tiếng Anh hiệu quả trước đó. Bài viết này chỉ xin bàn về những vấn đề cơ bản nhất đối với người học ngoại ngữ không chuyên.
--------------------------------------------------------------------------------
Học phát âm
Trẻ học ngoại ngữ cần phát âm chính xác.
Phát âm không đúng là một trong những điểm yếu lớn nhất của số đông người học tiếng Anh. Học phát âm là một phần cực kỳ quan trọng vì có nói đúng thì mới nghe tốt và truyền đạt ý tưởng của mình đến người nghe chính xác nhất. Đặc biệt đối với những người mới bắt đầu học tiếng Anh, phát âm chuẩn là ưu tiên hàng đầu để tránh những lỗi sai rất khó sửa về sau này. Trước khi nói hay, ta cần học cách nói đúng trước đã.
Lời khuyên: Các bạn cần nắm vững Hệ thống Phiên âm Quốc tế (International Phonetic Symbols - IPS) có in đằng sau các cuốn từ điển và tập thói quen luôn luôn tra cứu phiên âm mỗi khi bắt gặp một từ mới để có thể phát âm đúng nhất. Ngoài giờ học trên lớp với các thầy cô, các bạn nên tự học phát âm ở nhà qua phần mềm Speech Solutions và tham khảo thêm phần phát âm của đĩa CD-ROM Cambridge Advanced Learners’ Dictionary được bày bán rất nhiều tại các cửa hàng vi tính.
Học từ vựng
Nguyên tắc học từ vựng phổ biến là học trong cụm từ trong câu, tránh học từ chết. Ví dụ học từ “corner” phải học trong nhóm từ “on the corner of”, học “interested” phải nhớ cụm “be interested in” thì mới biết cách đặt câu cho đúng.
Để nhớ được từ vựng thì không có cách nào hiệu quả bằng cách sử dụng chúng. Một cách học thông minh là bạn hãy cố gắng “chen” những từ vừa mới học vào khi tập nói hay khi tập viết email bằng tiếng Anh. Có thể lúc đầu bạn còn rất lúng túng và thiếu tự nhiên nhưng chính những lúc như vậy bạn sẽ nhớ từ được nhiều nhất và theo thời gian, bạn sẽ sử dụng được ngày càng nhiều từ vựng hay một cách thành thạo. Cốt lõi vấn đề ở đây chính là bạn đang tự giúp mình tạo ra những tình huống để có thể sử dụng ngay những từ mới học. Bạn không nhất thiết phải viết từ ra giấy nhiều lần vì việc này chỉ giúp bạn nhớ được chính tả của từ mà thôi.
Bạn cũng cần luôn mang theo một cuốn sổ nhỏ ghi chép từ vựng mới bên mình để tranh thủ học khi rảnh rỗi. Hãy đặt cho mình mục tiêu mỗi ngày học vài từ tùy theo khả năng của mình và nhớ là ôn tập thường xuyên theo định kì (3 ngày, 1 tuần hay một tháng). Cố gắng ôn lại từ vựng đã học ít nhất là 3 lần mới có thể nhớ tốt được chúng.
Để ý cách trình bày từ vựng: sử dụng nhiều màu viết khác nhau, vẽ hình hay sơ đồ theo chủ đề càng nhiều càng tốt.
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều sách tự học từ vựng rất hay. Tôi xin giới thiệu các bạn tham khảo bộ sách sau: Basic Vocabulary in Use, Vocabulary for Intermediate Students, Vocabulary for Upper - Intermediate Students.
Học nói
Nói là kỹ năng quan trọng và thú vị nhất của bất cứ một ngôn ngữ nào. Chúng ta luôn có cảm giác tiến bộ to lớn và rõ rệt nhất khi có thể giao tiếp lưu loát trực tiếp bằng ngôn ngữ nói. Theo tôi, để học nói các bạn đừng quá vội vàng. Có nhiều người may mắn sống trong môi trường tiếng Anh nên họ có thể học nói ngay từ mới bắt đầu học ngoại ngữ. Tuy nhiên, đối với phần lớn mọi người thì chúng ta nên cần có một nền tảng ngôn ngữ nhất định (từ vựng, ngữ pháp, phát âm, cấu trúc câu) ít nhất là 6 tháng trước khi bước vào một khóa học nói thực thụ.
Đối với những người không có điều kiện sống hay làm việc trong môi trường tiếng Anh thì ta nên tranh thủ luyện nói như sau:
- Tận dụng tối đa những giờ luyện tập trên lớp tại các trung tâm ngoại ngữ (tập nói càng nhiều với bạn bè dù là những cấu trúc đơn giản nhất, đừng chỉ thực tập qua loa chiếu lệ vì càng luyện nói nhiều ta càng nhớ bài lâu hơn và tạo được cho mình phản xạ nhanh nhẹn khi gặp những tình huống tương tự trong đời sống).
- Khắc phục tính nhút nhát và sợ sai của mình. Cứ mạnh dạn nói tiếng Anh bất cứ khi nào có thể.
- Tìm một bạn học hay nhóm học ưng ý và sắp xếp thời gian học nhóm với nhau. Có nhiều bạn hẹn nhau đến lớp sớm 30 phút và chỉ ngồi nói chuyện bằng tiếng Anh với nhau mà thôi. Đây là một cách học rất tốt và giúp nhau cùng tiến bộ.
- Tham gia các câu lạc bộ tiếng Anh vào cuối tuần.
Học nghe
Để nghe tốt một bài khóa trong sách tiếng Anh ta thường phải trải qua các bước sau. Trước khi nghe, bạn hãy suy nghĩ về đề tài đó để giúp bạn hình dung và phán đoán được những gì sắp nghe, nghe ý chính trước tiên để trả lời câu hỏi tổng quát, nghe những từ chính rồi đoán, không nhất thiết phải nghe ra từng từ từng từ một, sau đó nghe lại nhiều lần để biết được càng nhiều chi tiết càng tốt để có thể hoàn tất các câu hỏi trong bài. Tuyệt đối không xem trước nội dung bài khóa trước khi nghe. Chỉ khi nghe xong rồi bạn mới vừa nghe vừa đọc bài để kiểm tra lại và học thêm từ mới cũng như tăng cường các cách diễn đạt hay có trong bài. Bạn cũng nên đọc theo băng nhiều lần sau khi nghe xong để luyện phát âm và nhớ bài tốt hơn.
Nguyên tắc chung cho việc rèn luyện kỹ năng nghe hiệu quả là nghe càng nhiều càng tốt. Tranh thủ mọi tài liệu và cơ hội nghe có thể (nghe băng, nghe nhạc, nghe radio, xem TV, xem phim Mỹ có phụ đề tiếng Anh …). Trên thị trường hiện nay cũng bán rất nhiều sách luyện nghe tiếng Anh để bạn có thể tự học thêm ở nhà.
Ngoài ra, còn có một công cụ vô cùng hữu hiệu để rèn luyện mọi kỹ năng cho người học tiếng Anh ngày nay, đó chính là Internet. Bạn có thể đọc báo, nghe tin tức, tìm tài liệu online bằng tiếng Anh. Ngoài ra, trên Internet còn có rất nhiều trang web cung cấp các bài học tiếng Anh miễn phí rất thú vị và tiện lợi. Tôi xin giới thiệu một số trang web để các bạn có thể tham khảo và tự học thêm ở nhà.
• www.bbclearningenglish.com
• http://www.britishcouncil.org/learning
• http://esl.about.com/
• http://::1e4::sl.org
• www.manythings.org
• www.freenglish.com
• www.english-at-home.com
• www.tolearnenglish.com
• www.vocabulary.com
Tóm lại, nguyên tắc cơ bản nhất để học tốt tiếng Anh là thực tập và sử dụng cũng như tiếp xúc với tiếng Anh càng nhiều càng tốt. Mỗi ngày, bạn hãy đặt ra cho mình một khoảng thời gian nhất định (từ 30 phút đến 1 tiếng) để học tiếng Anh và duy trì lịch học như vậy đều đặn và thường xuyên. Sau một thời gian kiên trì áp dụng những nguyên tắc trên, tôi tin rằng tiếng Anh của bạn sẽ tiến bộ một cách nhanh chóng và bạn sẽ thêm yêu cái thứ tiếng thú vị và rất cần thiết cho tương lai của bạn sau này.
Khánh Thị Bích Thủy, GV tiếng Anh TT Đào Tạo, Bồi Dưỡng Kiến Thức Ngoại Giao và Ngoại Ngữ
Bác Hồ, tấm gương học ngoại ngữ của giới trẻ
[Ngày đăng: 11h:14, 27/02/2009]
(Blog Việt) - Xin hỏi, học ngoại ngữ có khó không? Và ngoại ngữ nào khó học nhất trên thế giới?
--------------------------------------------------------------------------------
Trả lời: Người nước ngoài khi học tiếng Vệt đã có câu "Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam". Nói vậy để thấy rằng tiếng Việt mình không dễ học chút nào. Để có thể sử dụng đúng ngữ pháp ở các cấp độ ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, cú pháp...) thật không phải chuyện đơn giản. Đó là chưa kể tới chuyện phát âm - với sự đa thanh, đa điệu của tiếng Việt, ngay người Việt cũng khó có thể phát âm chuẩn với 6 thanh: huyền, sắc, ngã, nặng, hỏi, không. Nói vậy để thấy rằng những người nước ngoài học tiếng Việt phải vất vả với từng con chữ tiếng Việt như thế nào... Vậy mà họ vẫn nói được tiếng Việt, thậm chí còn giỏi ngữ pháp hơn cả người Việt.
Nói người rồi ngẫm đến ta, khả năng ngoại ngữ của thanh niên và sinh viên Việt Nam được đánh giá vào loại thấp trong khu vực. Nhiều bạn trẻ ở ta hay than phiền về khả năng ngoại ngữ của mình. Tuy họ ý thức được tầm quan trọng của ngoại ngữ và cố gắng để học ngoại ngữ nhưng chưa tìm được chìa khóa của thành công. Cuối cùng, họ đổ cho nguyên nhân là ngoại ngữ khó học. Xin thưa, dù tôi chưa thật sự giỏi ngoại ngữ nhưng tôi có thể khẳng định rằng tiếng Anh không khó học. Còn các ngôn ngữ khác, tôi không có ý kiến vì mình chưa từng học qua.
Xin đưa ra một tấm gương để bạn và tôi cùng học tập, đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của chúng ta. Ngoại ngữ khó, sao Người có thể nói được nhiều thứ tiếng vậy? Trong bản lý lịch đại biểu dự Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ 7, Bác đã ghi: "Biết các thứ tiếng: Pháp, Anh, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga". Bạn có biết trên thực tế, dựa vào những lần Bác đi thăm nước ngoài, cũng như những lần đón tiếp các phái đoàn ngoại giao tới thăm Việt Nam, chúng ta còn được biết vốn ngoại ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh không dừng lại ở đó, Người còn có thể sử dụng thông thạo khá nhiều ngoại ngữ khác nữa như: Tiếng Xiêm (Thái Lan bây giờ), tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả Rập, tiếng của rất nhiều dân tộc thiểu số Việt Nam… vốn ngoại ngữ đó của Bác không phải do "thiên bẩm" mà có, tất cả đều xuất phát từ sự khổ công luyện tập.
Chỉ khi nào thực sự sống trong gian khổ, trải qua bao khó khăn chúng ta mới thực sự ý thức về nó. Ngày 5/6/1911, Người ra đi tại bến cảng nhà Rồng. Sang Pháp, hoàn cảnh bắt buộc Người phải nhanh chóng học tiếng Pháp, có vậy mới có thể hoàn thành ý nguyện, tìm ra con đường cứu nước, cứu dân tộc.
Còn chúng ta ngày nay, đất nước hội nhập, nếu không có ngoại ngữ, chúng ta sẽ hội nhập với ai? Và thế hệ thanh niên ngày nay sẽ làm gì để giúp nước nếu không thể giao tiếp với người nước ngoài.
Người đã phải làm thêm để kiếm sống, chắt chiu từng đồng xu để mua sách vở phục vụ cho học tập. Còn chúng ta, có quá nhiều điều kiện để học: phương tiện, tiền bạc, sách vở, cơ hội...
Hãy xem Bác học tiếng Pháp như thế nào: Ngay khi còn trên chuyến tàu sang Pháp, mỗi lúc rảnh rỗi, Bác đều tìm đến hai người lính trẻ được giải ngũ đi cùng chuyến tàu để học đọc và viết tiếng Pháp. Họ cho Bác mượn những quyển sách nhỏ in tiếng Pháp. Muốn biết cái gì, muốn biết đồ vật nào đó bằng tiếng Pháp, Bác đều chỉ tay hỏi người Pháp, rồi Bác viết vào một mẩu giấy, dán vào chỗ hay để ý nhất để tranh thủ vừa làm, vừa học. Có khi Bác viết hẳn vào cánh tay. Tối tối sau khi đi làm về, Bác rửa tay, rồi lại ghi những từ mới vào. Học được chữ nào, Bác ghép chúng lại thành câu thực hành ngay.
Ban đầu, Bác tập ghép một vài từ, sau ghép thành đoạn, dần dần Người tập viết thành bài dài. Một thời gian sau, Bác tìm đến các tờ báo của Pháp để xin được viết bài đăng báo. Sau mỗi bài báo viết bằng tiếng Pháp, Bác đều chép thành hai bản, một bản lưu giữ lại, còn bản kia gửi cho Toà soạn".
Có khác chăng là tinh thần cầu tiến, sự chủ động của Bác trong việc học ngôn ngữ. Kèm theo đó là ý chí, sự quyết tâm vì một mục tiêu cao cả là biết ngoại ngữ để học tập, để cứu tổ quốc, đồng bào. Vậy, lý tưởng của thanh niên bây giờ là gì? Đó chẳng phải là phụng sự tổ quốc, nhân dân sao? Nhiều bạn trẻ học ngoại ngữ trong sự bị động, túng thế. Chỉ khi nào thực sự yêu, song hành cùng lòng quyết tâm cao độ, thì khi đó bạn mới có thể học thành thạo một ngoại ngữ.
Thầy dạy tiếng Anh cho Người chính là Người. Phương tiện duy nhất của Người là quyển vở và cây bút chì. Người học ở mọi nơi, mọi lúc có thể. Năm 1923, Bác rời Pháp sang Nga. Hai ngày sau đó, Bác đã chào hỏi những câu thông thường bằng tiếng Nga. Liền sau đó, Người lao vào học tiếng Nga ngay lập tức. Người vừa làm, vừa học. Tranh thủ mọi cơ hội để học, Người đã tiến bộ không ngừng, và như chúng ta đã biết, Người có thể nói được rất nhiều thứ tiếng chính là vì vậy. Tự học với một tinh thần cầu tiến, cộng với sự khắc khổ và phương pháp đúng, Người đã thành công!
Đất nước hội nhập, thuyền đã ra biển lớn, thanh niên là chủ nước nhà, là tương lai của đất nước. Hãy xốc lên niềm tự hào Việt trong việc thiết thực nhất với mỗi người đó là học ngoại ngữ. Bằng việc làm đầu tiên ấy, bạn có thể góp phần mang nước Việt đi xa hơn, đến với mọi miền đất trên thế giới.
Blog Việt theo Blog Người chạy tin
Tiếng Anh sẽ là chuẩn đầu ra của sinh viên
[Ngày đăng: 22h:38, 28/02/2009]
Tại buổi hội thảo “Đổi mới và nâng cao hiệu quả việc dạy và học tiếng Anh trong đào tạo ĐH và sau ĐH” do ĐH Quốc gia (ĐHQG) TP.HCM tổ chức ngày 23-12, tiến sĩ Nguyễn Đức Nghĩa - phó giám đốc ĐHQG TP.HCM - cho rằng phải đầu tư phương tiện giảng dạy tiếng Anh như đầu tư cho các ngành khác.
--------------------------------------------------------------------------------
Tiến sĩ Nguyễn Đức Nghĩa cũng cho biết mục tiêu của ĐHQG TP.HCM đưa ra là đến năm 2013 sinh viên (SV) ra trường phải có những bước tiến rõ rệt về trình độ và năng lực sử dụng tiếng Anh và kỹ năng tiếng Anh sẽ là một trong chuẩn đầu ra đối với SV học tại ĐHQG TP.HCM.
Theo một khảo sát trình độ tiếng Anh của sinh viên ĐHQG TP.HCM qua kết quả thi tuyển sinh “ba chung” từ năm 2005-2008 của TS Lê Thị Thanh Mai - phó ban ĐH và sau ĐH, điểm thi trung bình môn tiếng Anh (khối D1) của sinh viên là 5,94 điểm. Trong đó Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM là thấp nhất với 5,72 điểm. TS Mai cho rằng điểm đầu vào môn tiếng Anh thấp là do nhiều nguyên nhân như: đề thi, trình độ của thí sinh hoặc đối tượng dự thi.
Trong khi đó, khảo sát của ĐHQG trong đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả việc dạy và học tiếng Anh trong đào tạo ĐH và sau ĐH tại ĐHQG TP.HCM giai đoạn 2009-2013”, lại nổi lên việc thiếu giảng viên tiếng Anh. Theo đó, tính đến cuối tháng 8-2008, ĐHQG TP.HCM có 53.758 sinh viên ĐH, 5.560 học viên cao học, 400 nghiên cứu sinh nhưng chỉ có 184 giảng viên tiếng Anh.
Trong đó số giảng viên cơ hữu là 53 người, còn lại là thỉnh giảng. PGS.TS Dương Anh Đức, phó hiệu trưởng ĐH KHTN TP.HCM, nhận định việc dạy và học tiếng Anh hiện nay đang luẩn quẩn trong suy nghĩ và hành động: muốn chất lượng cao mà giá rẻ. Theo TS Đức, không thể nào có chất lượng tốt nếu như chi phí thấp. PGS.TS Nguyễn Văn Trình, phó trưởng khoa kinh tế, phân tích thêm: học phí thấp, trả lương cho giảng viên thấp thì những thầy cô giỏi sẽ tìm đến các trung tâm Anh ngữ bên ngoài.
TS Nguyễn Thị Kiều Thu, ĐH KHXH&NV TP.HCM, cho rằng chất lượng đào tạo tiếng Anh hiện nay chưa cao là do số sinh viên trong một lớp quá đông (50-60 sinh viên). Dạy trong lớp như thế giáo viên không thể nào cho sinh viên thực hành hết những kỹ năng về tiếng Anh.
Như thế, để đổi mới và nâng cao hiệu quả việc dạy và học tiếng Anh trong đào tạo ĐH và sau ĐH, theo TS Nguyễn Đức Nghĩa, cần tập trung đầu tư xây dựng đội ngũ giảng viên tiếng Anh, phải thường xuyên bồi dưỡng họ theo định kỳ và đưa các giảng viên này ra nước ngoài để tập huấn. TS Nghĩa nhấn mạnh không được xem giáo viên tiếng Anh là thầy giáo bậc hai như ở các trường THPT. Bên cạnh đó cũng cần cải cách lại giáo trình sao cho thống nhất và phù hợp với trình độ của sinh viên, sinh viên chuyên ngữ và không chuyên ngữ phải có phương pháp dạy khác nhau...
Đ.T.DUY - Q.PHƯƠNG (Tuổi trẻ Online)
Thursday, 5. March 2009, 15:25:49
SỐNG ĐẸP
Thân gửi các bạn,
Có một điều đã từ lâu đã khiến tôi trăn trở rất nhiều - có lẽ cũng hơn 10 năm - và giờ đây tôi nghĩ đã đến lúc mình có thể chia sẻ với tất cả mọi người.
Rất thường xuyên, khi chúng ta chỉ ra những điểm yếu và vấn đề của dân tộc hay hệ thống của mình, tôi thường hay nghe những câu trả lời đại loại như "Chúng ta đã làm tốt hơn nhiều nước khác ở châu Phi" hay "Có rất nhiều nước đang phát triển còn tệ hơn mình nhiều". Hay là, "Chúng ta là một nước nghèo".
Đó là cái mà tôi gọi là "Tinh thần của kẻ bại trận".
Nó giống như trong một câu truyện kể rằng một thầy giáo nói với một học sinh của mình "Em có thể làm bài tốt hơn như thế này - hãy cố gắng hơn" và cậu học sinh đó đã trả lời "Nhưng thưa thầy, nhà em rất nghèo - và rất nhiều bạn khác cũng nghèo như em còn làm dở hơn em nhiều."
Sao lại đem so sánh chúng ta với những kẻ bại trận khác? Tại sao chúng ta không thể so sánh mình với những người giỏi nhất? Thay vì so sánh chúng ta với những nước đang phát triển và những nước nghèo khác, tại sao chúng ta không nói "Chúng ta muốn một ngày nào đó sẽ vượt qua Pháp, qua mặt Mỹ, về công nghệ và kinh tế"?
"Cậu điên à? Đó là 2 trong số những nước phát triển nhất trên thế giới. Cậu đang mơ giữa ban ngày hoặc cậu bị hoang tưởng mất rồi."
"Này người anh em, nếu như tôi nhớ không nhầm, thì chúng ta đã từng đánh bại hai quốc gia này trên chiến trường. Vậy có gì khác ngăn cản chúng ta trên lĩnh vực kinh tế và khoa học kỹ thuật?"
Nếu cách đây gần 70 năm chủ tịch Hồ Chí Minh nói với chúng ta rằng "Hỡi đồng bào, nước Pháp là một trong những quốc gia hùng mạnh nhất trên thế giới. Chúng ta sẽ chẳng thể nào chống lại súng và đại bác của họ. Sẽ là điên khùng nếu nghĩ đến đánh nhau với họ, đừng nói gì đến việc sẽ đánh bại họ". Nếu Bác Hồ nói như vậy - thử tưởng tượng chúng ta giờ đây đang ở đâu?
Thật không may, sau khi chúng ta dành chiến thắng trên chiến trường, những thế hệ tiếp sau đã hành động như những kẻ nhu nhược, không lí tưởng, không khát vọng, không có SỰ KHÁT KHAO CHIẾN THẮNG.
Cách đây nhiều năm, trong một lần về Việt Nam, một vài người bạn trong Bộ Ngoại giao lúc bấy giờ đã ra sân bay đón tôi. Rất khó chịu khi thấy một nhân viên hải quan vòi tiền của Việt kiều tại sân bay, tôi nói với các bạn: "Các cậu xem, những người này đang đòi tiền người khác một cách không biết ngượng". Và một trong những người bạn đó đã thản nhiên trả lời: "Oh, các cậu thì thiếu gì tiền. Cần phải chia bớt cho những người anh em nghèo khổ của mình chứ."
Tôi thực sự thất vọng khi nghe thấy thế, và không nói gì nữa cả. Đó hoàn toàn là tư thế của kẻ thất bại, tư thế sẵn sàng chấp nhận những thứ kém chất lượng và đi tìm lý do để biện minh cho sự chấp nhận đó. Người bạn này của tôi sau đó trở thành đại sứ ở nhiều nước - tức là anh ta không phải là một người có vai vế thấp trong xã hội. Từ đó, bạn có thể tưởng tượng trong xã hội có bao nhiêu người đang sở hữu tinh thần nhu nhược giống như vậy?
Và nếu quá nhiều người trong chúng ta có tâm lý và tư tưởng đó - liệu Việt Nam sẽ đi đến đâu?
Chúng ta, thế hệ hôm nay, nên tự xấu hổ với thế hệ cha ông của mình. Ông cha chúng ta đã không nói "Pháp và Mỹ rất mạnh - chúng ta không thể đánh bại họ". Họ chỉ có một suy nghĩ duy nhất trong đầu – chiến thắng hay là chết. Đó chính là khát khao vươn đến những điều tốt đẹp nhất, là khát vọng chiến thắng, là quyết tâm sắt đá nhất quyết không chịu đứng thứ hai (bởi vì như vậy đối với họ có nghĩa là chết).
Nếu chúng ta muốn chiến thắng, chúng ta phải suy nghĩ như người chiến thắng. Điều đó cũng có nghĩa, "Chúng ta muốn đánh bại kẻ mạnh nhất. Chúng ta muốn là người vô địch. Và chúng ta sẽ đi theo cách riêng của mình, từ đây, từ bây giờ để đạt đến vị trí ấy." Tinh thần quyết chiến – quyết thắng ấy nhất định sẽ không cho phép chúng ta chấp nhận sự tầm thường, xoàng xĩnh, không chấp nhận chất lượng thấp kém, không chấp nhận bất cứ gì khác ngoài nỗ lực cao nhất trong mọi suy nghĩ và công việc của chúng ta.
Ai đó sẽ nói "Nhưng đấu tranh cho sự sống còn khác với đấu tranh cho sự giàu có. Với chúng ta, giàu có chưa bao giờ là một cái gì to tát. Trong văn hoá truyền thống của chúng ta, một giáo viên nghèo vẫn là người được trân trọng nhất.”
Câu trả lời của tôi sẽ là:
(1) Khi chúng ta chống lại Pháp và Mỹ, đó không phải là chiến đấu vì sự sống còn. Chúng ta vẫn có thể sống dưới sự cai trị của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Nhưng dó không phải là một cuộc sống đáng tự hào. Vậy là chúng ta đã đấu tranh vì danh dự, chứ không phải vì sự sống.
(2) Ngày hôm nay, đấu tranh chống lại đói nghèo và cố gắng đạt đến sự giàu có cũng là cuộc chiến vì danh dự - bởi mọi người trên thế giới đều có thái độ xem thường công dân của những nước nghèo.
(3) Quan niệm cho rằng nghèo đói là vinh quang trong văn hoá truyền thống của chúng ta là rất sai lầm. Dùng thuật ngữ cộng sản, đó chính là "thuốc phiện"(opium). Dưới góc nhìn cá nhân, có thể tầm quan trọng của sự giàu có tuỳ thuộc vào quan điểm của từng người và có thể nó không quan trọng lắm đối với một số người trong chúng ta. Tuy nhiên, từ góc nhìn của một quốc gia, nghèo đói là một tội ác, một sự sỉ nhục còn giàu có là sức mạnh và sự độc lập. Nếu Việt Nam đã là một quốc gia giàu có và hùng mạnh từ hơn một ngàn năm trước thì chắc hẳn Trung Quốc, Pháp, Mông Cổ, Nhật Bản, hay Mỹ đã chẳng dám đụng đến chúng ta. Và chúng ta cũng đã không mất từng ấy thời gian để chiến đấu chống quân xâm lược. Là một quốc gia, nghèo đói nghĩa là yếm thế, nghĩa là chúng ta để “mở cửa” đợi người khác tấn công, là để bị xâm lược và chà đạp bởi các quốc gia khác, để bị khinh rẻ bởi người dân của các nước giàu có. Đi khắp thế giới và bạn sẽ thấy điều này rõ như ban ngày vậy.
Nghèo đói là một căn bệnh quái ác của cả dân tộc. Nó cần phải bị xoá bỏ. Bất kể triết lý của bạn về sự giàu có là như thế nào - đối với một quốc gia, giàu có phải là mục tiêu chính yếu.
Vậy nên, chúng ta cần phải tự bảo lẫn nhau rằng, hãy đòi hỏi nhiều hơn từ chính bản thân, từ bạn bè, từ các thầy cô giáo, từ chính phủ và các nhà lãnh đạo. Hãy nhìn vào những quốc gia hàng đầu thế giới như Nhật, Anh, Úc - xem họ làm như thế nào - để học hỏi và quyết tâm vượt qua họ sau này (và chắc rằng họ cũng sẽ lấy làm vui lòng khi biết điều đó, bởi một thầy giáo đúng nghĩa sẽ rất vui sướng khi học trò của mình vượt qua mình). Hãy thôi cái lối suy nghĩ "chúng ta từng rất nghèo – như thế này là đã tốt lắm rồi". Không, sẽ không bao giờ là đủ cho đến khi chúng ta đánh bại kẻ mạnh nhất trên thế giới này.
Hãy tin tưởng vào bản thân. Nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta sẽ làm được điều đó - chúng ta sẽ làm được.
Đừng chấp nhận sự xoàng xĩnh. Đừng thỏa mãn với vị trí thứ hai.
Hãy vươn tới những gì tốt nhất.
Hãy đòi hỏi những gì tốt nhất từ bản thân và từ mọi người.
Và lịch sử của chúng ta nói lên rằng, chúng ta sẽ làm được những điều mà người khác cho là không thể.
Chúc bạn có một ngày thật tuyệt!
Trần Đình Hoành, LLB, JD
Luật sư, Washington DC
Saturday, 21. February 2009, 11:45:49
CHUNG KHOAN
Tôi tiếp tục trình bày về tình huống kinh điển tiếp theo trong chuỗi những huyền thoại về bong bóng - sụp đổ của hoạt động kinh tế - tài chính thế giới. Bài này tôi xin giới thiệu về "Bong bóng South Sea"
Thời gian: 1711-1720
Địa điểm: Vương Quốc Anh
Mô tả ngắn gọn: Giá cổ phiếu công ty South Sea giảm từ đỉnh - khi đó được giao dịch với giá 1.000 Bảng Anh, ở đáy của thị trường, giá cổ phiếu của công ty này không còn một chút giá trị nào vào nửa cuối năm 1920. Một lượng tiền khổng lồ cũng mất đi theo giá trị của cổ phiếu này.
Những năm 1700, Đế Quốc Anh là một thế lực vươn tầm trên toàn thế giới. Thế kỷ 18 với người Anh là thời kỳ của thịnh vượng và giàu có, đồng nghĩa với việc phần lớn người dân Vương quốc này có tiền để đầu tư và thường xuyên tìm kiếm những cơ hội để đổ tiền của mình vào. Điều kiện đó trở thành mảnh đất tuyệt vời để các công ty nói chung và South Sea nói riêng thu hút được đầu tư, với một IOU (một dạng giấy ghi nợ) với Chính phủ trị giá 10.000.000 bảng, công ty này mua toàn bộ quyền với tất cả hoạt động giao dịch thực hiện ở khu vực biển Nam.
Có rất ít công ty phát hành cổ phiếu ở thời kỳ đó, nhưng đó đều là những khoản đầu tư rất tốt, nhưng không phải ai cũng có cơ hội tham gia. Chẳng hạn, công ty Đông Ấn (East India) đã thanh toán lượng cổ tức miễn thuế khá lớn cho chỉ 499 cổ đông. South Sea thời kỳ đó được coi là đơn vị độc quyền có khả năng kiếm lời kếch xù nhất thế giới.
Đợt phát hành cổ phiếu đầu tiên của công ty này không thể làm thỏa mãn từ những nhà đầu cơ khát hàng nhất cho đến số đông công chúng đầu tư đang hoàn toàn tin tưởng vào khả năng tăng trưởng của South Sea. Hầu như tất cả mọi người đều tin rằng những người Mexico và Nam Mỹ chỉ còn đang đợi có một đơn vị có thể đứng ra trung gian mở đường cho họ lấy vàng, đá quý để đổi lấy những sản phẩm xa xỉ và sang trọng làm từ len và lông cừu do người Mỹ sản xuất. Đó là lý do mà không hề có một câu hỏi nào được đặt ra khi South Sea tiếp tục phát hành cổ phiếu, họ cứ tiếp tục mua chừng nào công ty này còn phát hành, chấp nhận mức giá rất cao. Thậm chí việc công ty không có một đội ngũ quản lý thiếu kinh nghiệm và năng lực cũng không trở thành vấn đề được nhà đầu tư quá quan tâm. Dẫu sao những người lãnh đạo South Sea thời kỳ đó dường như được sinh ra với năng lực làm quan hệ công chúng (PR) tuyệt vời. Họ đã thiết kế và trang bị văn phòng của mình trở thành một biểu tượng hoàn hảo về sự giàu có. Bất cứ ai, dù chỉ một lần nhìn vào sự thịnh vượng do South Sea tạo ra cũng khó có thể ngăn được những đồng tiền của mình bị hút về phía nó.
Không lâu sau sự ra đời của South Sea Company (SSC), một công ty của Anh khác cũng được thành lập, nhưng lại đặt trụ sở ở Pháp, với cái tên Mississippi Company (MC). Công ty này do một người Anh lưu vong có tên là John Law thành lập. Ý tưởng của John với công ty của mình không nhắm đến mục tiêu kinh doanh thương mại mà hướng đến việc chuyển hệ thống tiền tệ thời đó từ vàng và bạc thành hệ thống tiền giấy. MC ngay lập tức thu hút được sự quan tâm của những lái buôn lục địa và trở thành một nơi đủ tin tưởng để họ đầu tư vào đó những đồng đô-la mồ hôi nước mắt của mình. MC không mất quá nhiều thời gian để tăng giá trị cổ phiếu của nó lên gấp 80 lần toàn bộ số vàng và bạc hiện có lúc đó tại Pháp. Law cũng bắt đầu đi mua lại những công ty đã sập tiệm để bành trướng tập đoàn của mình.
Thành công ngay lại lục địa này đã động chạm đến niềm tự hào của người Anh, và với niềm tin rằng công ty của Anh không thể thất bại, những nhà đầu tư vương quốc sư tử đầu tư tiền của mình một cách liều lĩnh. Họ dường như bị mờ mắt, không nhận ra được rằng SSC hoạt động quá yếu, không thể đạt đến mức hòa vốn (hầu hết những chuyến hàng chở len đều đi nhầm hướng và hàng hóa bị hỏng ở một cảng nước ngoài nào đó), nhà đầu tư vẫn muốn mua tiếp cổ phiếu. SSC và một số công ty khác đã thỏa thuận việc cho nhà đầu tư cái họ muốn. Nhu cầu đầu tư làm cho hoạt động IPO được xúc tiến nhiều đến mức không có một thước đo hợp lý nào có thể mang ra sử dụng, thậm chí là nhữn công ty với những lời hứa về những sản phẩm ảo tưởng như sản xuất được loại rau có thể phục chế lại ánh nắng mặt trời hay xây những tòa nhà nổi để mở rộng đất đai Vương quốc Anh. Cổ phiếu phát hành được bán với chỉ duy nhất một từ mô tả là "điên".
Cuối cùng, ban quản trị của SSC cũng nhận ra rằng giá trị của những cổ phiếu họ nắm giữ không còn phản ánh được giá trị thực của công ty và nguồn doanh thu èo uột mà SSC đang tạo ra. Họ quyết định bán chính cổ phiếu của mình vào mùa hè năm 1720 với hy vọng rằng không ai sẽ làm lộ bí mật về hoạt động kinh doanh kém cỏi của công ty với những người khác có liên quan lợi ích đến công ty. Tuy nhiên thực tế không như họ mong muốn, cũng giống như cách mà bất kỳ một tin xấu nào được lan truyền đi, tin tức về hành động của ban quản trị công ty được lan truyền nhanh chóng, và hệ quả về một cuộc khủng hoảng bán tháo nững giấy tờ vô giá trị kia là không thể tránh khỏi. Tác động khủng khiếp từ quả bong bóng vỡ SouthSea cũng đồng thời chọc thủng quả bong bóng tưởng tượng về giá trị không có thực của MC, kéo theo sự sụp đổ của Mississippi.
Một sự sụp đổ toàn diện, báo trước bởi sự bó tay của các ngân hàng, đã được vớt vát và tránh được chỉ nhờ vào vị thế kinh tế quá mạnh của toàn Vương Quốc Anh và giúp đỡ của Chính phủ trong nỗ lực ổn định lại hoạt động của hệ thống ngân hàng. Chính phủ Anh đã nghiêm cấm việc phát hành cổ phiếu, mãi đến năm 1825, điều luật này mới được bãi bỏ.
Tóm tắt bằng đồ thị:
Một bài hát cổ ngày đó thường được đám đông hát với nhau về câu chuyện SouthSea như sau, tôi để nguyên văn tiếng Anh, nhờ bạn nào có thể dịch tốt dịch giúp tôi:
There is a gulf where thousands fell,
There all the bold adventurers came;
A narrow sound, though deep as hell,
Change Alley is the dreadful name.
Then stars and garters did appear Among the meaner rabble;
To buy and sell, to see and hear The Jews and Gentiles squabble.
The greatest ladies thither came, And plied in chariots daily,
Or pawned their jewels for a sum To venture in the Alley.
Bài hợp tác với Báo Đầu tư Chứng khoán, đăng trên số 23 (391), ngày 19/3/2007
===
Khủng hoảng Hoa Tu-líp
Thời gian: 1634-1637
Địa điểm: Hà Lan
Thị trường sụt từ đỉnh xuống đáy - nói như thế bởi khó có thể dùng một thước đo nào để xác định chính xác mức đỉnh và mức đáy, tuy nhiên lịch sử ghi lại rằng ở mức đỉnh, người ta có thể đổi một bông hoa tu-líp lấy một căn nhà, nhưng khi ở đáy, giá một bông hoa chỉ bằng một củ hành.
Hiện tượng đó diễn ra như thế nào?
Năm 1593, hoa tu-líp được mang từ Thổ Nhĩ Kỳ đến Hà Lan. Đặc trưng mới lạ của loài hoa này làm rất nhiều người tìm kiếm để mua, do đó giá cũng đắt dần lên. Một thời gian sau, hoa tu-líp mắc phải một loại virus không gây hại có tên là thể khảm, loại virus này không gây hại đến loài hoa mà tác động làm cho màu sắc trên những cánh hoa có ánh hồng tía. Sự biến đổi màu sắc này làm cho loài hoa tu-líp vốn đã khó tìm càng trở lên khan hiếm. Khi đó, giá hoa vốn cũng đã cao giờ càng cao hơn tùy thuộc mức độ tác động của loại virus. Người ta bắt đầu giao dịch với nhau bằng bộ củ hoa, bắt đầu hình thành hiện tượng đầu cơ trên thị trường, khi đó ai cũng nghĩ rằng giá sẽ tằng không giới hạn.
Những người có nhu cầu mua củ cây thực (những người trồng hoa) bắt đầu mua về và dự trữ củ tu-líp trong kho cho mùa hoa sau. Việc này càng làm giảm cung và tăng cầu cũng như tính khan hiếm. Ngay sau đó, giá củ tu-líp tăng rất nhanh và rất cao, người ta dùng đất, tiền tiết kiệm và bất cứ tài sản nào khác có thể chuyển thành tiền mặt để mua củ hoa tu-líp. Nhiều người Hà Lan khi đó quả quyết rằng họ sẽ có thể bán được lượng củ mà họ đã thu mua về cho những người ngoại quốc ít thông tin và kém may mắn, qua đó có thể mang lại lượng lợi nhuận khổng lồ. Giá tu-líp khi đó đã tăng gấp 20 lần sau chỉ một tháng.
Quả bong bóng phình ra to nhất vào giai đoạn 1936-1937. Lái buôn Tu-líp là những người kiếm lời nhanh chóng và đơn giản nhất. Một lái buôn thạo tay có thể kiếm 60.000 florin (tiền Hà Lan) trong một tháng - tương đương xấp xỉ 61,710 đô la Mỹ. Với lợi nhuận khổng lồ như thế, chính quyền hoàn toàn bất lực và không thể ngăn chặn được hoạt động giao dịch náo nhiệt. Ai cũng thấy giá không phản ánh được giá trị thực mỗi củ tu-líp. Hiện tượng bong bóng bắt đầu xuất hiện trên nhiều thị trường nơi có hoạt động đầu cơ tu-líp, những người cẩn trọng nhất đã bắt đầu tính đến việc bán và cầm chắc lợi nhuận cho mình. Hậu quả của việc này là một hiệu ứng domino khủng khiếp với mức giảm nhanh chóng mặt trong điều kiện tất cả đều bán nhưng rất ít người mua. Giá giảm trầm trọng càng làm con người ta hoảng loạn và bán bất kể lỗ bao nhiêu.
Nhiều giao dịch bị phá vỡ, người ta bắt đầu hiểu ra rằng họ đã dùng nhà của mỉnh để đổi lấy một mẩu cây cỏ. Hoang mang và hỗn loạn là tình cảnh chung diễn ra trên đất nước Hà Lan. Chính phủ cố gắng tiếp cận nhằm hạn chế và làm chậm lại hiện tượng đó bằng cách đề nghị thực hiện những giao dịch đang bị từ chối thực hiện tại mức 10% mệnh giá. Tuy nhiên kết quả là thị trường càng xấu hơn, những biện pháp trở lên vô nghĩa. Ngay cả những người đã thoát ra và cất giữ được lợi nhuận cho riêng mình cũng chịu tác động từ đợt suy thoái kinh tế diễn ra sau đó
Tác động của cuộc khủng hoảng Tu-líp làm cho Hà Lan tiến hành cấm toàn bộ các hoạt động đầu cơ trong đầu tư suốt một thời gian dài
Saturday, 21. February 2009, 11:34:20
Thị trường chứng khoán (Stock market)
Thị trường chứng khoán là thị trường trên đó giao dịch các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ phái sinh... bao gồm cả chứng khoán niêm yết công khai trên sàn giao dịch chứng khoán và chứng khoán giao dịch không công khai.
Hàng hoá chủ yếu trên các sàn giao dịch chứng khoán lớn thường là cổ phiếu, còn trái phiếu và các công cụ phái sinh khác hay được mua bán trên thị trường OTC hơn. Qui mô của thị trường trái phiếu toàn cầu được ước tính vào khoảng 45.000 tỷ USD, còn qui mô của thị trường cổ phiếu vào khoảng phân nửa con số đó. Qui mô của thị trường các chứng khoán phái sinh vào khoảng 300.000 tỷ USD, tuy nhiên người ta không so sánh trực tiếp nó với 2 thị trường trên vì đó chỉ là giá trị danh nghĩa của chúng, trong khi các con số nói trước đó là giá trị thực của cổ phiếu trái phiếu.
Những người tham gia vào thị trường chứng khoán vô cùng đa dạng, nhưng tựu trung lại có thể chia ra làm 2 loại chính: nhà đầu tư cá nhân và các tổ chức đầu tư, trong đó các tổ chức chiếm đa số tính theo khối lượng giao dịch. Giao dịch của các nhà đầu tư này thường không được thực hiện một cách trực tiếp mà thông qua những người môi giới chứng khoán chuyên nghiệp.
Các sàn giao dịch chứng khoán có thể là những sàn giao dịch thực, nơi các giao dịch được thực hiện theo phương thức đấu giá mở bằng lời, NYSE là ví dụ điển hình của một sàn giao dịch loại này. Các sàn giao dịch chứng khoán cũng có thể là những sàn giao dịch ảo, dưới dạng một mạng máy tính lớn, trong đó các giao dịch hoàn toàn được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử, NASDAQ là sàn giao dịch ảo lớn nhất thế giới.
Phương thức giao dịch chủ yếu của thị trường chứng khoán là phương thức đấu giá, những người tham gia sẽ tiến hành đặt lệnh, trong đó nêu rõ mức giá mong muốn của mình. Phương thức này giúp đảm bảo tính công bằng cao nhất cho mọi đối tượng tham gia. Khi giá chào mua phù hợp với giá chào bán thì giao dịch sẽ được thực hiện, hay nói cách khác là được "khớp lệnh".
Mục đích của sàn giao dịch chứng khoán là tạo thuận lợi cho việc giao dịch các loại chứng khoán giữa người mua với người bán, qua đó tạo lập nên một thị trường cho thứ hàng hoá đặc biệt này.
Theo nhà sử học nổi tiếng người Pháp Fernand Braudel, ngay từ thế kỉ 11, ở Cairo, những thương nhân người Hồi giáo và Do Thái đã xây dựng nên những hiệp hội thương nghiệp đầu tiên và có những hiểu biết về các phương thức tín dụng và thanh toán, là những mầm mống cho thị trường chứng khoán sau này. Giữa thế kỉ 13 những nhà ngân hàng ở Venetia bắt đầu tiến hành những giao dịch đối với các chứng khoán do Chính phủ phát hành, tuy nhiên năm 1351, chính quyền Venetia đã ra lệnh nghiêm cấm việc phổ biến những tin đồn có mục đích là giảm giá trị các quỹ do Chính quyền sở hữu. Những nhà ngân hàng ở Pisa, Verona, Genoa và Florence thuộc Italy đã bắt đầu tiến hành mua bán chứng khoán do Chính phủ phát hành từ thế kỷ 14, điều này thực hiện được là vì đây là những thành bang độc lập, không nằm dưới quyền cai trị của một công tước nào mà bởi một hội đồng những người có ảnh hưởng.
Sau đó, chính người Hà Lan khởi xướng ra các công ty cổ phần, mà cổ đông có thể đầu tư vào để chia sẻ lợi nhuận cũng như thua lỗ. Năm 1602, Công ty Đông Ấn đã phát hành những cổ phiếu đầu tiên ra Sàn giao dịch chứng khoán Amsterdam. Đó là công ty đầu tiên trên thế giới phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Sàn giao dịch chứng khoán Amsterdam cũng được coi là sàn giao dịch đầu tiên trên thế giới hoạt động một cách liên tục. Chính người Hà Lan là những người nghĩ ra những nghiệp vụ giao dịch chứng khoán như "bán khống", "giao dịch quyền chọn", "nghiệp vụ swap nợ-cổ phần", "nghiệp vụ ngân hàng thương mại" và nhiều công cụ đầu cơ khác mà cho đến ngày nay người ta vẫn còn sử dụng.
Ngày nay thì mọi quốc gia phát triển và hầu hết các nước đang phát triển đều có thị trường chứng khoán, một thị trường không thể thiếu với mọi nền kinh tế muốn phát triển vững mạnh vì các lý do sau:
Thứ nhất, thị trường chứng khoán là một trong những kênh huy động vốn quan trọng nhất của các công ty, giúp các công ty có thể niêm yết công khai, tăng thêm vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh. Tính thanh khoản mà thị trường chứng khoán tạo ra cho phép các nhà đầu tư nhanh chóng va dễ dàng bán các loại chứng khoán khi có nhu cầu. Đó chính là một nét hấp dẫn của việc đầu tư vào cổ phiếu so với các hình thức đầu tư kém thanh khoản khác như đầu tư vào bất động sản chẳng hạn.
Thứ hai, thị trường chứng khoán được coi là một chiếc phong vũ biểu của nền kinh tế. Lịch sử đã chỉ ra rằng, giá cổ phiếu và các loại tài sản tài chính khác là một phần quan trọng của hoạt động kinh tế và nó có thể gây ảnh hưởng hoặc là một thước đo đánh giá kỳ vọng của xã hội. Giá ổ phiếu tăng thường liên quan đến việc tăng lượng vốn đầu tư vào các hoạt động kinh doanh và ngược lại. Do đó, các ngân hàng trung ương luôn để mắt tới việc kiểm soát và ứng xử của thị trường chứng khoán và đến sự hoạt động trơn tru của hệ thống tài chính vì sự ổn định tài chính luôn là một trong những chức năng quan trọng nhất của các ngân hàng trung ương
Giá trị hiện tại thuần (NPV - Net present value)
Giá trị hiện tại thuần là hiệu số của giá trị hiện tại dòng doanh thu (cash inflow) trừ đi giá trị hiện tại dòng chi phí (cash outflow) tính theo lãi suất chiết khấu lựa chọn. Khái niệm giá trị hiện tại thuần đựơc sử dụng trong hoạch định ngân sách đầu tư (capital budgeting), phân tích khả năng sinh lợi của một dự án đầu tư, hay cả trong tính toán giá cổ phiếu .
NPV được tính theo công thức sau
Trong đó:
t - thời gian tính dòng tiền
n - tổng thời gian thực hiện dự án
r - tỉ lệ chiết khấu
Ct - dòng tiền thuần tại thời gian t
C0 - chi phí ban đầu để thực hiện dự án
Việc tính toán NPV rất hữu ích khi chuẩn bị ngân sách cho một dự án, bằng phép tính này nhà đầu tư có thể đánh giá liệu tổng giá trị hiện tại dòng doanh thu dự kiến trong tương lai có bù đắp nổi chi phí ban đầu hay không. Với một dự án cụ thể, nếu NPV dương thì nhà đầu tư nên tiến hành dự án và ngược lại khi NPV âm. Tuy nhiên trong trường hợp có hai sự lựa chọn đầu tư loại trừ lẫn nhau trở lên thì nhà đấu tư còn phải xét đến chi phí cơ hội nữa, lúc này, dự án nào có NPV cao nhất sẽ được tiến hành.
Ví dụ: một doanh nghiệp dự định đưa ra thị trường một dòng sản phẩm mới. Chi phí ban đầu để sản xuất sản phẩm này (tiền mua sắm máy móc, thiết bị, chi phí đào tạo nhân viên...) là $100,000. Các chi phí quản lý dự kiến là $5,000/năm. Doanh thu từ sản phẩm này dự kiến là $30,000/năm. Tỉ suất hoàn vốn là 10%. Sản phẩm này dự kiến sẽ bán trong vòng 6 năm.
Theo công thức ở trên ta có thể tính toán giá trị hiện tại thuần của dự án là:
NPV = -100000 + (30000-5000)/1.11 + (30000-5000)/1.12 + (30000-5000)/1.13 + (30000-5000)/1.14 + (30000-5000)/1.15 + (30000-5000)/1.16 = $8881.52 > 0
Vậy nên tiến hành sản xuất loại sản phẩm mới này.
Việc tính toán NPV phụ thuộc rất nhiều vào tham số tỉ lệ chiết khấu r, mỗi nhà đầu tư lại có cách đánh giá r riêng của mình. Ngoài ra dòng doanh thu, dòng chi phí không đồng đều, giá trị thanh lý tài sản cố định giữa các năm cũng sẽ làm cho việc tính toán trở nên phức tạp hơn nhiều.
Chi phí cơ hội (Opportunity cost)
( Người gửi: smallphuthuy -- 28/01/2007)
( Bình chọn: 3 -- Thảo luận: 0 -- Lượt xem: 5270)
Trong kinh tế họcchi phí cơ hội là sự lựa chọn tốt nhất bị bỏ lỡ. Bất cứ quyết định nào bao gồm trong số nhiều lựa chọn đều có chi phí cơ hội.
Ví dụ, nếu một thành phố quyết định xây một bệnh viện trên một khu đất trống của mình, thì chi phí cơ hội là một dự án nào khác có thể được thực hiện trên khu đất đó và kinh phí xây dựng bệnh viện. Khi xây bệnh viện, thành phố đã lỡ mất cơ hội xây một trung tâm thể thao, hay một bãi đỗ xe trên đó, hoặc khả năng bán khu đất ấy đi để thanh toán bớt các khoản nợ của chính quyền thành phố.
Chi phí cơ hội với một người không nhất thiết phải được đánh giá về mặt tiền bạc mà nên được đánh giá theo thứ có giá trị nhất với người đó, hoặc với người đánh giá. Ví dụ, một người chọn xem một trận bóng đá giữa MU - Chelsea trên ti vi vào tối Chủ nhật thì sẽ không xem được bất chương trình ti vi nào khác, chi phí cơ hội với người đó có thể là một bộ phim cuối tuần tuyệt vời trên VTV1 nếu người đó thích xem phim, hoặc là một chương trình ca nhạc rất sôi động trên VTV3, nếu người đó thích ca nhạc.
What do you choose?
Chi phí cơ hội là một trong những điểm khác biệt mấu chốt giữa khái niệm chi phí kinh tế và chi phí kế toán. Đánh giá chi phí cơ hội là cơ sở để đánh giá chính xác chi phí thực tế của bất cứ hoạt động nào. Trong trường hợp không có một chi phí kế toán, hay chi phí bằng tiền rõ ràng nào gắn với hoạt động đó, thì việc bỏ qua chi phí cơ hội có thể tạo ra ảo tưởng rằng các lợi ích có thể đạt được mà không mất một chi phí nào. Chi phí cơ hội không nhìn thấy trở thành chi phí ẩn của hoạt động đó.
Ví dụ: một người có ngôi nhà mặt phố Hàng Bông mở một shop nhỏ kinh doanh quần áo thời trang, mỗi tháng cô ta phải chi ra 50tr tiền giá vốn hàng bán, 5tr cho chi phí điện thoại, điện, nước, thuế môn bài ... liên quan đến hoạt động kinh doanh. Doanh thu của cửa hàng đạt 70tr/tháng. Chủ cửa hàng cho rằng mình có lợi nhuận 15 tr. Trên thực tế, chủ cửa hàng đã bỏ qua số tiền 20tr có thể thu được nếu đem cho người khác thuê cửa hàng thay vì tự kinh doanh (20tr/tháng), và 5tr thu nhập cô ta có thể thu được nếu đi làm ở chỗ khác thay vì ở nhà bán hàng. 25tr này chính là chi phí ẩn trong hoạt động kinh doanh quần áo nói trên. Điều đáng nói là theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, những chi phí ẩn này không được hạch toán vào chi phí khi tính thuế.
Cần lưu ý chi phí cơ hội không phải là tổng giá trị các lựa chọn bị bỏ lỡ mà chỉ là giá trị của lựa chọn tốt nhất có thể bởi vì người ta không thể nào cùng một lúc sử dụng nhiều lựa chọn thay thế được. Trong ví dụ ban đầu, chi phí cơ hội của quyết định xây bệnh viện là việc mất một khu đất trống để xây trung tâm thể thao, xây bãi đậu xe, hoặc số tiền có thể thu được nếu bán khu đất đó, chứ không thể là tổng của 3 lựa chọn đó vì xét cho cùng khu đất đó không thể nào cùng lúc được sử dụng cho hơn một mục đích được.
Tuy nhiên, hầu hết các chi phí cơ hội rất khó so sánh. Chi phí cơ hội chỉ có ý nghĩa trong điều kiện khan hiếm nguồn lực, vì khi đó người ta sẽ buộc phải đánh đổi, nếu tiến hành hoạt động này thì phải bỏ hoạt động khác.
Chi phí cơ hội thường được thể hiện dưới dạng giá tương đối, tức là giá của một lựa chọn trong tương quan với lựa chọn khác. Ví dụ: giá một bình sữa là $4 và một ổ bánh mì là $2 thì giá của một bình sữa là 2 ổ bánh mì. Đặc trưng này thể hiện rất rõ trong phân tích lợi thế so sánh của Ricardo.
Khái niệm chi phí cơ hội được sử dụng rất rộng rãi trong nhiều lý thuyết, phân tích kinh tế như:
-Lựa chọn của khách hàng
-Khả năng sản xuất
-Giá của tư bản (vốn)
-Quản lý thời gian
-Lựa chọn nghề nghiệp
-Phân tích lợi thế so sánh.
Thị trường khe (Niche market)
Thị trường khe là một phần rất nhỏ so với toàn bộ thị trường.
Thị trường khe hình thành khi có những nhu cầu tiềm năng đối với một sản phẩm hoặc dịch vụ chưa được đáp ứng bởi các nhà cung cấp lớn trên thị trường. Một thị trường khe cũng có thể hình thành khi có một nhóm nhỏ các khách hàng tiềm năng.
Một công ty khai cung cấp sản phẩm cho thị trường khe có thể vẫn đạt được lợi nhuận ngay cả khi quy mô của công ty không lớn so với các công ty đang chiếm lĩnh thị trường hay các công ty độc quyền do lợi nhuận có được từ sự chuyên môn hoá để phục vụ những phân đoạn thị trường xác định. Các công ty này có thể vẫn có lợi nhuận ngay cả khi không tạo ra được lợi ích kinh tế theo quy mô.
Thị trường khe có thể bị bỏ qua hoặc xem nhẹ đối với các hãng lớn do họ coi rằng tiềm năng của thị trường này quá nhỏ.
Vay tín chấp (Vay không bảo đảm) (Unsecured loan)
Một khoản vay tín chấp là khoản vay không được bảo đảm bằng các tài sản bảo đảm.
Vay tín chấp chỉ dựa duy nhất vào xếp hạng tín dụng của người vay. Và như vậy, hình thức vay này thường khó thực hiện hơn là các khoản vay bảo đảm. Một khoản vay tín chấp thường được coi là rẻ hơn nhiều và có ít rủi ro hơn đối với người vay. Tuy nhiên, khi một khoản vay tín chấp được chấp nhận, nó lại không phải căn cứ vào điểm số tín dụng.
Ví dụ, nếu bạn của bạn cho bạn vay mà không cần tài sản bảo đảm, điều đó có nghĩa rằng một thứ gì đó có giá trị sẽ được tái sở hữu nếu khoản bạn vay không được trả, nhưng trong trường hợp này thứ bảo đảm vô hình đó là tình bạn. Đối với các tổ chức tài chính thì khác, họ muốn kiểm tra điểm số tín dụng của bạn bởi vì họ không phải là bạn của bạn, và lịch sử trả nợ của bạn được phản ánh rõ trong điểm số tín dụng.
Có 3 loại vay tín chấp. Thứ nhất là vay tín chấp dành cho cá nhân, có nghĩa là bạn là cá nhân duy nhất chịu trách nhiệm trả nợ. Thứ hai là vay tín chấp dành cho doanh nghiệp, có nghĩa là toàn bộ doanh nghiệp có trách nhiệm trả nợ. Và thứ ba là doanh nghiệp vay tín chấp với sự đảm bảo của một cá nhân, có nghĩa là: doanh nghiệp đi vay nhưng chỉ một cá nhân sẽ có trách nhiệm cuối cùng để trả nợ nếu doanh nghiệp không còn khả năng trả nợ.
Tiền vay sỉ (Wholesale money)
Tiền vay sỉ là khoản tiền lớn được các công ty vay từ các tổ chức tài chính. Tiền vay sỉ là một phương thức vay dành cho các tập đoàn lớn nhằm vay được vốn mà không phải tiến hành phát hành cổ phiếu hay trái phiếu. Gói vay này thường được phát hành bởi các tổ chức tài chính và ngân hàng lớn dành cho các công ty có lịch sử và được đảm bảo tài chính, thường với lãi suất thấp hơn lãi suất trung bình trên thị trường.
Lợi ích của hình thức vay này đó là sự nhanh chóng và tiện dụng. Ví dụ, các công ty tận dụng ưu điểm của khoản vay này để thực hiện ngay một cơ hội mà nếu phải chờ vay bằng hình thức khác thì cơ hội có thể bị bỏ lỡ.
Tiền vay sỉ giống như một khoản nợ thông thường, vì vậy cần phải trả lãi định kỳ, giống như tổ chức phải trả lãi trái phiếu cho người mua, nhưng rõ ràng doanh nghiệp không phải tốn nhiều thời gian và năng lượng như việc phát hành mới cổ phiếu (hoặc trái phiếu).
Thuyết Thiên Nga Đen (Black swan theory)
Một sự kiện xảy ra theo diễn biến rất khó dự đoán và không thường thấy. Khái niệm này được Nassim Nicholas Tableb, một giáo sư tài chính và nhà giao dịch trên phố Wall, phổ biến.
Ví dụ về thuyết Thiên Nga Đen. Công ty quản lý vốn Long Term Capital Management (LTCM) đã bị phá sản do ảnh hưởng từ sự vỡ nợ của chính phủ Nga. Như vậy, trường hợp vỡ nợ của Chính phủ Nga là một sự kiện "thiên nga đen" do LTCM chưa bao giờ gặp và chưa bao giờ từng nghĩ một việc như vậy sẽ xảy ra và những hiệu ứng khủng khiếp của nó.
Long Term Capital Management (LTCM) là một quỹ chống rủi, đặt trụ sở tại bang Connecticut cạnh New York, do ông John Meriwether sáng lập. Trước đó, ông là chuyên gia đầu tư về trái phiếu nổi tiếng của một tập đoàn tài chính lớn. LTCM có một số vốn khoảng 4,6 tỉ USD nhưng đã vay ngân hàng được... 50 lần hơn để "đánh bạc"!
Sự sụp đổ của LTCM và sự thận trọng của các ngân hàng trong vấn đề tài trợ cho các quỹ chống rủi báo trước còn nhiều "diều hâu" khác cũng sẽ "gãy cánh", đưa thị trường tài chính thế giới vào một giai đoạn đầy sóng gió trong thời gian tới.
Chúng ta đã từng tìm hiểu sơ qua về việc chính phủ Mỹ phải giải cứu quỹ LTCM do những ảnh hưởng dây chuyền có thể đưa đến một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Sau khi đã điểm qua về quỹ chống rủi ro, giờ đây ta có thể đi sâu hơn để phân tích sự kiện quan trọng này.
Cho đến lúc này, vẫn không có nhiều chi tiết đích xác về lý do khiến họ lỗ đến 4 tỉ USD năm 1997. Tuy nhiên theo những mảnh tin thu nhặt được, LTCM đã mất tiền vào hai hoạt động chính.
LTCM sụp đổ vì đoán sau giá cổ phiếu
Một trong những hoạt động lớn trên thị trường tài chính Mỹ là việc "kết hợp và sáp nhập" công ty (merger & acquisition), nói tóm tắt là nhập hai hay nhiều công ty vào làm một. Lấy thí dụ công ty A, với cổ phiếu đang ở giá 10 USD/cổ phiếu, muốn mua lại công ty B, với cổ phiếu trị giá 6 USD/cổ phiếu. Thông thường, khi muốn "nuốt" công ty B, A phải ra giá đòi mua lại cổ phiếu B cao hơn giá thị trường. Đồng thời sau khi đã kết hợp với B, giá cổ phiếu A sẽ hạ xuống ở một mức giữa A và B.
"Quỹ chống rủi ro" LTCM nghiên cứu kỹ lưỡng và phỏng đoán những công ty có thể sẽ "kết hợp và sáp nhập", rồi nhào vào mua trước cổ phiếu công ty B (vì đoán rằng B sẽ lên giá), và đồng thời "bán khống" cổ phiếu A (vì đoán rằng A sẽ giảm giá). Tuy nhiên, đôi khi vì những lý do ngoài ý muốn mà A và B không thể... "tiến đến hôn nhân"! Thí dụ như việc hai công ty Office Depot Inc và Staples Inc định kết hợp vào năm 1997 nhưng bị Bộ Tư pháp Mỹ không cho phép vì cho rằng "đám cưới" này sẽ tạo nên một tập đoàn quá lớn dễ đưa tới tình trạng độc quyền có hại cho sự cạnh tranh trên thị trường. Trong việc này, LTCM bị lỗ nặng.
... Và đoán sai hướng đi của lãi suất châu Âu
Quỹ LTCM tin rằng khi đồng euro ra đời, lãi suất tại các nước châu Âu rồi sẽ phải tiến tới mức ngang nhau. Từ đó họ đổ tiền vào trái phiếu, tương tự như mua cổ phiếu trong thí dụ trên. Không may nửa đường thì Nga gãy gánh và... chạy nợ! Thế là giới đầu tư lo sợ rút tiền ra khỏi các nước yếu, dồn tiền mua đồng Mark Đức khiến lãi suất dao động mạnh và giá trái phiếu tại các nước châu Âu đi ngược chiều quỹ LTCM đã tiên đoán khiến họ lỗ nặng nề, nhất là vì đã vay quá nhiều để "đánh cá"!
Ngân hàng Trung ương Mỹ đã phải triệu tập vài cuộc họp khẩn cấp và ngày 28/09/1998, 14 ngân hàng chủ nợ của LTCM hợp sức bỏ ra 3,6 tỉ USD để cứu LTCM bằng cách mua lại 90% công ty này. Sau đó Thống đốc Alan Greenspan đã phải ra trước Quốc hội để điều trần về hành động cứu nguy táo bạo này. Ông cho rằng nếu không ra tay cấp cứu kịp thời, nhiều ngân hàng chủ nợ của LTCM sẽ không đòi lại được tiền và bị lỗ nặng hoặc sập tiệm. Điều này sẽ khiến thị trường chứng khoán New York sụp đổ và đưa đến khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Như đã nói, mục đích chính của việc "chống rủi" là để tự vệ. Đối với những công ty bán hàng tại nhiều nước bằng nhiều ngoại tệ khác nhau điều quan trọng là cần phải tìm mọi cách để bảo vệ giá trị lượng tiền thu nhập. Tuy nhiên đối với những quỹ như LTCM, rõ ràng là họ đã chẳng tự vệ chút nào mà lại hung hăng... tấn công! Thực ra không hẳn quỹ chống rủi nào cũng xấu, nhưng đối với LTCM thì họ đã "đầu cơ" hay không, điều này xin để bạn phán xét.
Có thể "diều hâu" sẽ không còn thao túng
Đối với cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á, sự sụp đổ của LTCM đã mang lại những ảnh hưởng gì? Trước mắt, giới tài chính quốc tế giờ mới thực sự thấy rõ những điều mà các nước châu Á kêu ca cả một năm trời vừa qua. Lần lượt những tập đoàn ngân hàng lớn nhất thế giới... tiu nghỉu công bố những số tiền khổng lồ đã nướng vào LTCM.
Ngày 02/10/1998, Chủ tịch Tập đoàn Ngân hàng Thụy Sĩ (Union Bank of Swizerland) cùng ba viên chức cao cấp đã từ chức sau khi cho biết họ đã lỗ 705 triệu USD vào LTCM. Thế là từ châu Á, cuộc chiến đã lan rộng sang Bắc Mỹ và châu Âu. Có thể nói rằng từ nay ngân hàng sẽ thắt chặt việc cho "diều hâu" vay tiền và đàn "diều hâu" rồi sẽ không còn tự do thao túng để gieo thương tổn khắp nơi như trước.
Nghĩ lại cho cùng thì tất cả những xáo động này đều bắt nguồn từ việc đồng tiền, thường được xem là một "phương tiện" trong việc giao dịch thương mại, nay trở thành một "món hàng" mà người ta mang ra mua bán, không khác gì cafe, cao su... Khi giá cafe lên xuống thất thường, chỉ có một góc nhỏ của nền kinh tế bị ảnh hưởng. Nhưng nếu đồng tiền lên xuống, mọi mặt của nền kinh tế đều bị ảnh hưởng.
Trở lại với câu hỏi đầu tiên về chuyện tiên đoán thời tiết. Giản dị lắm! Ngày đầu công ty gửi 128 lá thư gồm 64 thư đoán trời mưa và 64 thư đoán trời nắng. Dĩ nhiên hôm sau sẽ có 64 người nhận thư đoán trúng. Công ty lại gửi tiếp cho 64 người này với 32 thư đoán mưa và 32 thư đoán nắng. Cứ thế tiếp tục cho đến ngày thứ 7 thì chỉ còn hai thư phải gửi. Anh chàng trong thí dụ chỉ là người "chẳng may" nhận được thư "tiên đoán" đúng cả bảy lần!
Giãn nợ (Debt rescheduling)
Giãn nợ là việc hoãn lại các khoản nợ phải trả và áp dụng thời gian đáo hạn mới (kéo dài hơn) đối với khoản nợ được hoãn. Giãn nợ là một biện pháp giúp đỡ người vay nợ thoát khỏi gánh nặng nợ trước mắt bằng cách hoãn đòi nợ và trong nhiều trường hợp nghĩa vụ trả nợ cũng sẽ được chủ nợ giảm bớt.
Các yếu tố khác không thay đổi (Ceteris Paribus)
Ceteris Paribus là một thuật ngữ Latinh được sử dụng thường xuyên trong kinh tế học . Nó có nghĩa là : các yếu tố khác không thay đổi.
Đối với các môn khoa học trong phòng thí nghiệm, việc thực hiện các thí nghiệm mà chỉ có những biến số quan tâm được thay đổi còn các yếu tố khác được giữ nguyên là hoàn toàn có thể làm được. Tuy nhiên đối với kinh tế học, phòng thí nghiệm là thế giới thực, các yếu tố luôn luôn vận động không ngừng, nên nhìn chung các nhà kinh tế học khó có thể thực hiện được những thí nghiệm hoàn hảo như ý muốn. Vì thế, muốn kiểm tra các giả thuyết về mối quan hệ giữa các biến số kinh tế, các nhà kinh tế thường phải giả định các yếu tố không xét đến trong mối quan hệ cần kiểm tra là không thay đổi.
Cánh kéo giá cả (Price scissors)
Trong điều kiện kinh tế quan hệ cung cầu bình thường, tương quan giữa giá hàng công nghiệp và giá hàng nông sản thường ở mức hợp lí và ổn định. Nhưng trong trường hợp không bình thường, cung - cầu mất cân đối, nhất là trong khủng hoảng kinh tế, thì giá hàng công nghiệp thường tăng nhanh hơn giá hàng nông sản, thậm chí giá hàng công nghiệp tăng mà giá hàng nông sản không tăng, hoặc lại hạ (tuyệt đối hay tương đối). Giá cánh kéo là mức so sánh chênh lệch giữa giá hàng công nghiệp với giá hàng nông sản.
Khi đó, xét trong mối tương quan giữa hai loại giá thì giá hàng công nghiệp cao tương đối, giá nông sản thấp tương đối, giữa hai loại sản phẩm hình thành một mức chênh lệch giá, có thể hình dung như 2 “lưỡi kéo” vậy .
Do tính co dãn của giá sản phẩm nông nghiệp ít, nên giá không tăng nhanh như sản phẩm công nghiệp mà giá co dãn nhiều hơn. Nông dân thường buộc phải mua hàng công nghiệp với giá tương đối cao, còn bán nông sản với giá tương đối thấp, do đó chênh lệch giữa giá hàng công nghiệp và giá nông sản có xu hướng ngày càng mở rộng thiệt cho giá nông sản và cho nông dân.
Để hạn chế sự quá chênh lệch có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp, biện pháp thường được áp dụng là nhà nước thực hiện chính sách trợ giá cho sản phẩm nông nghiệp.
Thuật ngữ này ngày nay không chỉ giới hạn trong việc so sánh giữa hàng nông sản và hàng công nghiệp mà còn mở rộng ra, ví dụ như khi áp dụng cho vàng và đôla.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash Flow Statement)
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash Flow Statement) là một báo cáo tài chính cung cấp thông tin về những nghiệp vụ kinh tế có ảnh hưởng đến tình hình tiền tệ của Doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập trên cơ sở cân đối thu chi tiền mặt, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của DN.
Lượng tiền phát sinh trong kỳ bao gồm vốn bằng tiền và các khoản đầu tư ngắn hạn được xem là tương đương tiền.
Tổng quát: Tiền tồn đầu kì + Tiền thu trong kỳ = Tiền chi trong kì + Tiền tồn cuối kỳ.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có vai trò quan trọng trong việc cung cấp những thông tin liên để đánh giá khả năng kinh doanh tạo ra tiền của DN, chỉ ra được mối liên quan giữa lợi nhuận ròng và dòng tiền ròng, phân tích khả năng thanh toán của DN và dự đoán được kế hoạch thu chi tiền cho kỳ tiếp theo.
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) số 24 – Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ban hành theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002, Doanh nghiệp phải trình bày các luồng tiền trong kỳ trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo 03 loại hoạt động: hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính.
VAS 24 định nghĩa:
- Hoạt động kinh doanh: Là các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp và các hoạt động khác không phải là các hoạt động đầu tư hay hoạt động tài chính.
- Hoạt động đầu tư: Là các hoạt động mua sắm, xây dựng, thanh lý, nhượng bán các tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền.
- Hoạt động tài chính: Là các hoạt động tạo ra các thay đổi về quy mô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp.
Biên an toàn (Margin of safety)
Là một nguyên lý đầu tư trong đó nhà đầu tư chỉ mua chứng khoán khi giá thị trường thấp hơn nhiều so với giá trị nội tại của chứng khoán đó. Nói cách khác, khi mức giá thị trường thấp hơn nhiều so với mức giá nội tại mà nhà đầu tư xác định thì khoảng chênh lệch giữa hai giá trị này được gọi là biên an toàn. Sự chênh lệch này cho phép giảm thiểu khả năng gặp rủi ro của mỗi quyết định đầu tư.
Thuật ngữ này ban đầu được phổ biến bởi Benjamin Graham ( người được biết tới như là cha đẻ của đầu tư) và các học trò của ông, trong đó nổi bật nhất là Warren Buffett. Biên an toàn không có khả năng đảm bảo rằng đầu tư của bạn chắc chắn sẽ thành công và vẫn có thể khiến cho những đánh giá phân tích của bạn bị sai lệch. Việc đánh giá giá trị thực sự của một công ty (tức là giá trị nội tại của công ty đó) thường mang tính chủ quan của người phân tích. Mỗi nhà đầu tư có một cách khác nhau để tính toán giá trị nội tại của một công ty, cách tính đó có thể đúng nhưng cũng hoàn toàn có khả năng bị sai. Đó là chưa kể tới việc đánh giá được doanh thu, lợi nhuận của công ty là vô cùng khó khăn. Tuy nhiên biên an toàn có thể giảm nhẹ các sai số trong việc tính toán.
Khái niệm biên an toàn được sử dụng không chỉ trong lĩnh vực tài chính mà còn được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác. Ví dụ: giả sử rằng các kĩ sư xây dựng đang xây một chiếc cầu chịu được trọng tải 100 tấn. Như vậy liệu có phải chiếc cầu này được xây dựng với khả năng chống đỡ chính xác là 100 tấn ? Chắc chắn là không rồi vì con số 100 tấn có thể còn có những sai số, và lượng giao thông qua cầu sẽ có lúc nào đó vượt ngưỡng 100 tấn, vì thế sẽ là an toàn hơn nếu xây một chiếc cầu có thể chịu được trọng tải là130 tấn, như vậy biên an toàn đối với cây cầu là 30 tấn và nó sẽ đảm bảo rằng cây cầu sẽ không sập khi bị quá tải trong phạm vi 30 tấn. Việc đầu tư vào chứng khoán cũng tương tự như vậy. Bạn thấy rằng chứng khoán này đáng giá đến tận 10 đôla, việc mua nó ở mức giá 7.50 đôla sẽ cho bạn một biên an toàn trong trường hợp các phân tích của bạn không chính xác và cổ phiếu thực chất chỉ trị giá 9 đôla. Trong kế toán thì biên an toàn là khoảng chênh lệch giữa doanh số bán hàng kì vọng và điểm hoà vốn.
Không có một tiêu chuẩn toàn cầu nào để xác định xem độ rộng của biên an toàn bao nhiêu thì hợp lý. Mỗi nhà đầu tư phải tự tìm ra phương cách xác định cho riêng mình. Sử dụng biên an toàn, bạn có thể mua một chứng khoán khi trị giá thực của nó cao hơn giá thị trường. Đây là ý tưởng chính trong lý thuyết đầu tư giá trị của Benjamin Graham, trong đó việc bảo toàn vốn đầu tư là nguyên tắc số một. Benjamin Graham cho rằng chúng ta nên xem xét các công ty nhỏ, không mấy nổi tiếng, có tỉ lệ P/E thấp. Nhà đầu tư cũng có thể phân tích các báo cáo tài chính và các ghi chú để hiểu được liệu công ty có che giấu các tài sản có thể dễ dàng bị bỏ qua, không chú ý tới hay không, ví dụ như các khoản đầu tư vào công ty khác. Warren Buffett, có lẽ là nhà đầu tư nổi tiếng nhất hiện nay, là học trò của Benjamin Graham ở trường đại học Columbia, đã từng nói rằng " ba từ quan trọng nhất đối với đầu tư chính là: biên an toàn_margin of safety".
Bong bóng kinh tế (Economic bubble)
( Người gửi: smallphuthuy -- 23/03/2007)
( Bình chọn: 4 -- Thảo luận: 0 -- Lượt xem: 2970)
Hiện tượng bong bóng kinh tế (đôi khi còn gọi là "bong bóng đầu cơ", "bong bóng thị trường", "bong bóng tài chính" hay "speculative mania") là hiện tượng chỉ tình trạng thị trường trong đó giá hàng hóa hoặc tài sản giao dịch tăng đột biến đến một mức giá vô lý hoặc mức giá không bền vững. Mức giá cao thái quá này của thị trường không hề phản ánh mức độ thỏa dụng hay sức mua của người tiêu dùng theo như các lý thuyết kinh tế thông thường.
Bong bóng kinh tế xuất hiện khi có hiện tượng đầu cơ đối với các tài sản cơ sở, làm cho giá bị đẩy lên cao, do vậy càng khuyến khích hoạt động đầu cơ hơn nữa. Theo sau bong bóng kinh tế bao giờ cũng là một cú giảm giá đột ngột, được gọi là sự sụp đổ của thị trường hay "bong bóng vỡ". Cả giai đoạn bong bóng phình to và giai đoạn bong bóng nổ đều là kết quả của hiện tượng "phản ứng thuận chiều", khi đại đa số những người tham gia thị trường đều có phản ứng đồng nhất với nhau. Giá cả trong giai đoạn bong bóng kinh tế bao giờ cũng biến động vô cùng thất thường, hỗn loạn và gần như không thể dự đoán được nếu chỉ căn cứ vào cung, cầu trên thị trường.
Cơ chế của bong bóng kinh tế thường được giải thích bằng một lý thuyết có tên là "lý thuyết về kẻ ngốc hơn". Lý thuyết này giải thích hành vi của những người tham gia vào một thị trường với sự lạc quan thái quá (anh ngốc). Những anh ngốc này sẵn sàng mua những hàng hóa được định giá quá cao, với mong đợi sẽ bán được nó cho một tay đầu cơ tham lam khác (kẻ ngốc hơn) ở một mức giá cao hơn nhiều. Bong bóng sẽ tiếp tục phình to thêm chừng nào mà anh chàng ngốc này vẫn còn tìm được một kẻ ngốc hơn mình sẵn sàng mua những hàng hóa đó. Và bong bóng kinh tế sẽ kết thúc khi anh ngốc cuối cùng trở thành "kẻ ngốc nghếch nhất", người trả giá cao nhất cho thứ hàng hóa được định giá quá cao và không tìm được người mua nào khác cho chúng, lúc đó bóng nổ.
Các nhà kinh tế học nhìn nhận bong bóng kinh tế như một hiện tượng gây tác động tiêu cực lên nền kinh tế, bởi vì các nguồn lực được phân bổ vào những mục đích không tối ưu. Thêm vào đó, khi bong bóng nổ, nó có thể gây thiệt hại một khối lượng của cải khổng lồ đồng thời kèm theo một giai đoạn bất ổn kinh tế kéo dài. Hậu quả của bong bóng kinh tế không chỉ tàn phá nền kinh tế của một quốc gia, mà ảnh hưởng của nó có khi còn lan ra ngoài biên giới.
Một đặc trưng quan trọng của bong bóng kinh tế là ảnh hưởng của nó đến thói quen tiêu dùng. Những người tham gia vào thị trường trong đó các tài sản được định giá quá cao có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn, vì họ có cảm giác là họ giàu hơn. Nhiều nhà quan sát lấy thị trường bất động sản ở Anh, Úc, Tây Ban Nha và nhiều vùng của Mỹ trong thời gian gần đây làm ví dụ cho ảnh hưởng này. Ngay cả ở Việt Nam, năm 2006, khi thị trường chứng khoán nóng lên, thị trường bất động sản đang đóng băng bỗng nhiên cũng ấm trở lại. Đến một lúc nào đấy, sớm muộn rồi bong bóng cũng vỡ, những người nắm giữ những tài sản bị định giá quá cao này lại bắt đầu có cảm giác nghèo đi, đồng thời từ bỏ thói quen tiêu dùng tùy tiện của mình, gây cản trở đến tăng trưởng kinh tế, và tệ hơn, làm trầm trọng thêm suy thoái kinh tế. Do đó, một nhiệm vụ vô cùng quan trọng của Ngân hàng Trung ương là phải để mắt đến sự tăng giá bất thường trên các thị trường, đặc biệt là thị trường chứng khoán, để nhanh chóng tiến hành những biện pháp ưu tiên nhằm ngăn chặn tình trạng đầu cơ quá mạnh đối với các tài sản tài chính.
Khi hiện tượng bong bóng kinh tế diễn ra trên thị trường chứng khoán người ta gọi đó là "bong bóng chứng khoán". Thực ra rất khó phân biệt một bong bóng chứng khoán với một thị trường theo chiều giá lên thông thường, người ta chỉ có thể làm được điều đó khi tất cả đã xảy ra rồi, nếu có sự "nổ bóng" thì đó mới đúng là bong bóng.
Điểm lại lịch sử kinh tế thế giới có thể kể ra rất nhiều bong bóng kinh điển như:
Vụ đầu cơ hoa Tulip (1637)
Vụ công ty South Sea Company (1720)
Cuộc Đại Suy Thoái (1929-1933)
Bong bóng kinh tế Nhật (thập niên 1980)
Bong bóng dotcom (1995 - 2000)
Bong bóng Poseidon (1970)
Saturday, 21. February 2009, 11:24:42
Lãi suất (Interest Rate)
Lãi suất là một phạm trù rất quan trọng của kinh tế học, của thị trường và của cuộc sống kinh doanh. Chúng ta hiểu lãi suất theo nghĩa "giá cả" giống như mọi loại giá cả hàng hóa khác trên thị trường. Điều khác biệt duy nhất của lãi suất so với các loại giá cả khác là nó chính là giá của một loại hàng hóa rất trừu tượng.
Chúng ta cần định nghĩa chính xác cái hàng hóa và trên đó lãi suất trở thành giá cả. Đó là cái giá phải trả cho "sự trì hoãn thanh toán." Bản thân cách gọi này tuy chính xác, nhưng lại cũng rất trừu tượng. Một cách nhìn cụ thể hơn là chi phí cơ hội do việc không có sẵn tiền mặt gây ra, chẳng hạn bất tiện khi cần thanh toán mà không có tiền hoặc có nhu cầu sử dụng bây giờ nhưng không thể thỏa mãn được ngay lập tức, v.v.. Như thế cách hiểu rõ và chính xác nhất của lãi suất là "cái giá phải trả cho hi sinh tiêu dùng tương ứng với khoản tiền cho vay đi." Bản chất của nó chính là chi phí cơ hội cho việc nhận tiền lại muộn hơn và trì hoãn tiêu dùng trước mắt.
Đơn giản hơn trong cuộc sống, chúng ta thường nhìn lãi suất ở một dạng của giải thích phía trên, nhưng rất hẹp là "giá của một khoản tiền vay."
Từ năm 1500 Trước Công Nguyên, tín dụng đã ra đời và kèm theo nó là lãi suất trong tộc người Assyrians. Thời Trung Cổ ở Châu Âu, lãi suất vẫn tồn tại, nhưng vì lý do khác vì Nhà thờ khi đó nắm quyền hành lớn và thực tế là kỳ thị việc họ cho là tranh chấp quyền của Chúa, quyền quyết định một khoản tiền trong tương lai. Lãi suất khi này được xem là công cụ "hạn chế" bản chất hợp đồng của tín dụng và lòng tin tài chính.
Ở Việt Nam, lãi suất rất hay bị phóng viên viết sai thành "lãi xuất". Suất cần hiểu theo âm Hán là một phần, và lãi suất chính là phần (suất) lãi trả tính trên đơn vị nào đó, ví dụ % trong một năm. Nếu các phóng viên hiểu điều này, họ sẽ không viết sai nữa.
Kinh doanh chênh lệch giá hoặc tỷ giá (arbitrage, arbitrager (risk arbitrager)
Một thủ thuật mua và bán chứng khoán nói riêng và các công cụ tài chính nói chung để tranh thủ mức chênh lệch nhỏ về giá- chẳng hạn mua một cổ phiếu với giá 50$ trên thị trường chứng khoán và đồng thời bán nó hoặc một cổ phiếu tương đương với giá 51$ cho người khác. Thuật ngữ kinh doanh chênh lệch rủi ro xuất hiện để áp dụng cho những người kinh doanh đầu cơ mua cổ phiếu của các công ty có tin đồn là mục tiêu bị mua lại, với hy vọng kiếm lời khi việc chuyển nhượng hoàn tất.
Dòng tiền chiết khấu (Discounted Cash Flow - DCF )
DCF là một cách thức để đánh giá mức độ hấp dẫn của một cơ hội đầu tư. Các nhà phân tích thường dùng phương thức này để quy dòng tiền tương lai của một dự án cụ thể về giá trị hiện tại từ đó đánh giá được mức độ khả thi của một dự án đầu tư. Nếu như dòng tiền tương lai sau khi qua chiết khấu có giá trị lớn hơn chi phí đầu tư hiện tại của dự án thì đây có thể sẽ là một cơ hội đầu tư tốt.
Có rất nhiều biến số ẩn chứa trong việc phân tích dòng tiền và dòng tiền chiết khấu. Tuy việc tính toán DCF là rất phức tạp song mục đích của việc phân tích DCF chỉ nhằm đánh giá lượng tiền mà nhà đầu tư có thể thu được từ một hoạt động đầu tư và từ đó điều chỉnh giá trị của tiền tệ theo thời gian.
Việc ứng dụng DCF mang lại nhiều tiện ích, tuy nhiên nó cũng có những sai sót nhất định. DCF chỉ đơn thuần là một công cụ tính toán, vì vậy không thể tránh được những sai lệch. Một sự thay đổi nhỏ trong yếu tố đầu vào có thể dẫn tới thay đổi lớn về trị giá của một công ty. Người ta thường cố gắng điều chỉnh dòng tiền đạt được một hạn mức nhất định.
Mọi người thường không hiểu được vì sao các nhà phân tích chứng khoán lại có thể định giá một công ty tương đối giống nhau hay tại sao mà mức giá họ dự đoán lại khác nhau nhiều đến thế. Câu trả lời đơn giản nằm ở chỗ họ sử dụng phương thức DCF như thế nào? Tuy nhiên nếu bạn là nhà đầu tư bạn không nhất thiết phải dựa trên nhận định của các chuyên gia phân tích. Bằng việc so sánh đối chiếu, sử dụng đúng công cụ, chính bạn cũng có thể định giá một công ty bằng phương pháp DCF. Nói một cách đơn giản thì phương pháp DCF nhằm tìm ra giá trị hiện tại của công ty dựa trên việc phân tích lượng tiền mà công ty đó có khả năng tạo ra trong tương lai. Ví dụ nếu ai đó yêu cầu bạn lựa chọn giữa việc nhận 100USD vào ngày hôm nay và nhận đúng số tiền đó sau 1năm. Chắc bạn sẽ chọn cách thứ nhất vì bạn biết rằng bạn có thể đầu tư và kiếm được hơn 100 USD sau 1 năm. Điều đó có nghĩa là số tiền mà bạn sẽ có trong tương lai sẽ trị giá bằng 100 USD ngày hôm nay - hay nói cách khác giá trị chiết khấu dòng tiền là 100 USD. Tính toán cho toàn bộ số tiền mà bạn kì vọng công ty sẽ tạo ra trong tương lai, bạn sẽ biết được giá trị hiện tại của công ty là bao nhiêu.
Với tư cách là một nhà đầu tư, bạn sẽ rất có lợi nếu sử dụng thành thạo phân tích DCF. Đối với những nhà đầu tư mới gia nhập sân chơi đây là công cụ để kiểm tra lại mức giá trên các bản báo cáo của người môi giới chứng khoán. Các phân tích DCF yêu cầu phải tính đến các nhân tố ảnh hưởng đến công ty như tốc độ tăng doanh thu trong tương lai, lợi nhuận biên...Ngoài ra cũng cần tính toán tỉ lệ chiết khấu, nhân tố phụ thuộc nhiều vào tỉ lệ lãi suất phi rủi ro, chi phí huy động vốn, và các rủi ro đối với cổ phiếu của công ty.Tất cả các nhân tố này sẽ cho bạn những nhận định đúng đắn về các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị cổ phiếu, và điều đó có nghĩa là bạn có thể tin tưởng răng mình đã trả đúng giá cho mỗi cổ phiếu mua về
Bảng cân đối kế toán (Balance sheet)
Báo cáo tài chính là một hệ thống các số liệu và phân tích cho ta biết tình hình tài sản và nguồn vốn, luồng tiền và hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp. Báo cáo tài chính có 4 loại: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính. Trong đó Bảng cân đối kế toán hay còn gọi là báo cáo tình hình hay báo cáo vị thế tài chính, cho biết tình trạng tài sản của công ty, nợ và vốn cổ đông vào một thời điểm ấn định, thường là lúc cuối tháng. Đây là một cách để xem xét một công ty kinh doanh dưới dạng một khối vốn (tài sản) được bố trí dựa trên nguồn của vốn đó (nợ và vốn cổ đông). Tài sản tương đương với nợ và vốn cổ đông nên bản cân đối tài khoản là bản liệt kê các hạng mục sao cho hai bên đều bằng nhau. Không giống với bản báo cáo kết quả kinh doanh là bản cho biết kết quả của các hoạt động trong một khoảng thời gian, bản cân đối kế toán cho biết tình trạng các sự kiện kinh doanh tại một thời điểm nhất định. Nó là một ảnh chụp (tĩnh) chứ không phải là một cuốn phim (động) và phải được phân tích dựa trên sự so sánh với các bản cân đối kế toán trước đây và các báo cáo hoạt động khác.
Bảng cân đối kế toán có vai trò hết sức quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, không những phản ánh vừa khái quát vừa chi tiết tình trạng tài sản và vốn của doanh nghiệp mà còn là minh chứng thuyết phục cho một dự án vay vốn khi doanh nghiệp trình lên ngân hàng, và đồng thời cũng là căn cứ đáng tin cậy để các đối tác xem xét khi muốn hợp tác với doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán có những đặc điểm chủ yếu sau đây :
- Các chỉ tiêu được biểu hiện dưới hình thái giá trị (tiền) nên có thể tổng hợp được toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp đang tồn tại dưới các hình thái (cả vật chất và tiền tệ, cả vô hình lẫn hữu hình) .
- BCĐKT được chia thành 2 phần theo 2 cách phản ánh tài sản là cấu thành tài sản và nguồn hình thành nên tài sản. Do vậy, số tổng cộng của 2 phần luôn bằng nhau.
- BCĐKT phản ánh vốn và nguồn vốn tại một thời điểm nhất định. Thời điểm đó thường là ngày cuối cùng của kỳ hạch toán. Chúng ta có thể xem kết cấu khái quát của bảng cân đối kế toán theo mẫu dưới đây:
Phần tài sản
Nội dung
Loại A Số dư nợ tài khoản loại 1 và loại 3
Loại B Số dư nợ tài khoản loại 2 ( nếu dư có ghi âm )
Tổng cộng tài sản Cộng loại A và B
Phần nguồn vốn
Loại A Số dư có tài khoản loại 3 và loại 1
Loại B Số dư tài khoản loại 4 ( nếu dư nợ ghi âm )
Tổng cộng nguồn vốn Cộng loại A và B
Chỉ tiêu ngoài bảng
Ngoài ra chúng ta có thể xem chi tiết một Bảng cân đối kế toán của Ngân hàng Phương Đông Quý III-2006 qua: http://www.ocb.com.vn/vnReport_detail.asp?itemID=16
Ngân hàng thương mại (Commercial Bank)
Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho những người sở hữu nó tránh mất mát, đổi lại người chủ sở hữu phải trả cho người cầm giữ hộ một khoản tiền công. Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn thì ngân hàng trở thành nơi giữ tiền cho những người có tiền và cung cấp tiền cho những người cần tiền. Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, sẽ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng chính tiền đó cho các cá nhân và tổ chức vay lại, và rất hiếm khi có tình trạng cùng một lúc tất cả chủ tiền gửi đến đòi nợ ngân hàng, đó chính là nguyên tắc cơ bản đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng. Căn cứ vào chức năng, ngân hàng được chia làm hai loại: ngân hàng thương mại và ngân hàng Nhà nước.
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu. Hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt đó là "vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của ngân hàng thương mại.. Hoạt động của ngân hàng thương mại phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội. Khác hẳn với ngân hàng thương mại, ngân hàng Nhà nước (ngân hàng Trung ương) không hoạt động vì mục đích lợi nhuận và cũng không kinh doanh tiền tệ. Mỗi một quốc gia chỉ có một ngân hàng Nhà nước duy nhất, có thể gọi là ngân hàng mẹ có chức năng phát hành tiền, quản lý, thực thi và giám sát các chính sách tiền tệ; và có rất nhiều ngân hàng thương mại, có thể coi là các ngân hàng con có chức năng thực hiện lưu chuyển tiền trong nền kinh tế. Trong trường hợp ngân hàng thương mại đứng trên bờ vực phá sản, ngân hàng Trung ương sẽ là nguồn cấp vốn cuối cùng mà ngân hàng thương mại tìm đến.
Trong ngân hàng thương mại, tiền huy động được của người gửi gọi là tài sản "nợ", tiền cho công ty và các cá nhân vay cũng như tiền gửi ở các ngân hàng khác và số trái phiếu ngân hàng sở hữu gọi là tài sản "có" của ngân hàng. Phần chênh lệch giữa số tiền huy động được và số tiền đem cho vay, gủi ngân hàng và mua trái phiếu gọi là vốn tự có. Phần tài sản có tính thanh khoản cao được giữ để đề phòng trường hợp tiền gửi vào ngân hàng bị rút đột ngột gọi là tỉ lệ dự trữ của ngân hàng. Toàn bộ số vốn của ngân hàng được chia làm hai loại vốn cấp 1 và vốn cấp 2. Vốn cấp 1 còn gọi là vốn nòng cốt, về cơ bản bao gồm vốn điều lệ, lợi nhuận không chia và các quỹ dự trữ lập trên cơ sở trích từ lợi nhuận của tổ chức như quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển. Vốn cấp 2 bao gồm: phần giá trị tăng thêm do định giá lại tài sản của tổ chức, nguồn vốn gia tăng hoặc bổ sung từ bên ngoài (như trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi và một số công cụ nợ khác).
Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, ngân hàng thương mại thực sự đóng một vai trò rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu (dòng vốn) của nền kinh tế được lưu thông và có vậy mới góp phần bôi trơn cho hoạt động của một nền kinh tế thị trường còn non yếu. Năm 2005-2006 Việt Nam đã tích cực đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa các ngân hàng thương mại Nhà nước với mục đích quan trọng nhất là nâng cao năng lực tài chính của các tổ chức này. Tính đến tháng 2-2007 đã có 34 ngân hàng thương mại hoàn tất việc cổ phần hóa với tổng số vốn điều lệ trên 21.000 tỷ đồng , trong đó Ngân hàng thương mại cổ phần Sài gòn Thương tín có số vốn điều lệ cao nhất là trên 2.089 tỷ đồng.
Tài chính (Finance)
( Người gửi: Vuong -- 21/12/2006)
( Bình chọn: 14 -- Thảo luận: 3 -- Lượt xem: 23080)
Tài chính. Tài chính được hiểu theo một số nghĩa sau. Thứ nhất, đó là một ngành nghề. Thứ hai, đó là một lượng tiền hoặc tương đương với tiền, được sử dụng trong hoạt động kinh doanh. Thứ ba, đó là một ngành học và lĩnh vực hoạt động nghiên cứu.
Tài chính là một nghề.
Tài chính là công việc có mặt ở mọi nơi, từ các cơ quan hành chính cho tới doanh nghiệp. Nhưng đông nhất là ở khối doanh nghiệp, nơi tài chính đóng vai trò cung cấp "máu" cho cơ thể doanh nghiệp đủ dinh dưỡng để tồn tại và phát triển.
Nghề tài chính liên quan tới các công việc cụ thể: Kế toán, kiểm toán, đảm bảo thanh toán, đảm bảo nguồn vốn, cố vấn-tư vấn cho các quyết định đầu tư, đầu tư, tính toán hiệu suất nguồn vốn, xây dựng chiến lược phát triển (trong đó nguồn vốn đóng vai trò cực kỳ quan trọng), mua-bán và sát nhập doanh nghiệp, cấu trúc lại các cơ cấu quản lý-sở hữu, hạn chế xung đột lợi ích tài chính, vay nợ và thuê mua, tài trợ thương mại, thế chấp-tín thác, bảo hiểm, nghiệp vụ ngân hàng, v.v.. và nhiều dịch vụ tài chính khác.
Có thể nói đây là một nghề có phạm vi hoạt động rất rộng rãi, và cũng là một trong những nghề sớm được biết đến trong xã hội. Nghề tài chính trong các xã hội hiện đại có thu nhập tốt và bản chất nghề nghiệp thách thức. Đòi hỏi chuyên môn nghề tài chính cũng rất khắt khe, trong đó kiến thức chỉ là một phần, cho dù là rất quan trọng. Chẳng hạn như Goldman Sachs khi tuyển dụng chuyên viên tài chính thì ngoài các kiểm tra về mặt trình độ chuyên môn, hiểu biết kinh doanh còn có bài kiểm tra fitting (thường là qua phỏng vấn trực tiếp và đo cảm xúc) để biết một chuyên viên tương lai có phù hợp với nghề nghiệp hay đồng nghiệp hay không.
Các vị trí tài chính chủ chốt trong doanh nghiệp thường gẫn gũi với Ban lãnh đạo do tầm quan trọng của tài chính trong tổng thể vận hành chung. Chức vụ cao nhất của tài chính trong doanh nghiệp thường là CFO (Chief Financial Officer), ngày càng phổ biến ở Việt Nam. Đây cũng là vị trí khó tuyển dụng trong những năm đầu thế kỷ 21 ở Việt Nam. Một sai lầm phổ biến ở Việt Nam là nhầm lẫn giữa nghề tài chính và nghề kế toán. Các Khoa ở các trường đại học cũng góp phần thêm cho sai lầm này bằng cách đặt ngành học là Tài chính-Kế toán. Do tính truyền thống và phổ biến của kế toán nên ngành Tài chính-Kế toán thường xuyên bị kế toán lấn át, do đó có xu hướng coi tài chính cũng là kế toán. Rất nhiều người có cơ sở kiến thức kế toán tốt đã nỗ lực chuyển nghề sang làm tài chính theo các phạm trù hiện đại, nhưng hầu hết đều thất bại, do 2 lĩnh vực này đòi hỏi các hệ thống tư duy khác khác biệt. Có thể nói tài chính sử dụng ngôn ngữ chung là "kế toán" nhưng không phải là kế toán.
Trong quan niệm chung, Giám đốc tài chính nghe sang trọng hơn Kế toán trưởng. Điều này cũng không đúng, vì như trên đã nói, đây là hai công việc khác nhau, không thể so cam với táo.
Tài chính là tiền.
Tài chính dùng như danh từ còn có thể hiểu là một lượng tiền trong thế giới kinh doanh hiện đại. Tài chính được sử dụng vào nhiều việc trong doanh nghiệp: Thanh toán, đầu tư, mua bán tài sản, đảm bảo an toàn vốn, cung cấp nguồn lực cho chiến lược dài hạn, góp vốn kinh doanh, v.v.. Do thực tế là một doanh nghiệp không phát triển cũng có nghĩa là doanh nghiệp sắp từ giã thị trường, nên tài chính luôn quan trọng vì các doanh nghiệp không ngừng đầu tư mới, mua sắm mới, và triển khai các kế hoạch-chiến lược mới. Tất cả những điều này không thể diễn ra nếu thiếu "tài chính."
Ở nghĩa này, tài chính có thể là: Tiền có nguồn gốc từ vốn góp, từ vốn vay, từ vốn chiếm dụng, và thu về từ các công cụ tài chính có bản chất hoặc góp vốn hoặc vay nợ.
Để có được các nguồn tài chính cho hoạt động kinh doanh, rất nhiều loại thị trường (ngoại hối, vàng bạc, chứng khoán, ngân hàng, mua bán nợ, factoring...), định chế (ngân hàng, bảo hiểm, công ty đầu tư, công ty tín thác, ngân hàng đầu tư, môi giới tài chính, tái bảo hiểm...) và công cụ tài chính (trái phiếu, thương phiếu, kỳ phiếu, CDs, cổ phiếu, phái sinh chứng khoán, futures, options, swaps, swoptions, real options...) đã ra đời. Tất cả cũng chỉ đều nhằm đảm bảo nguồn cung tài chính cho các doanh nghiệp cần tới nó cho kinh doanh.
Tài chính là ngành học-nghiên cứu.
Tài chính là một ngành học và nghiên cứu rất lớn, và cũng là một trong những nhánh phức tạp nhất của kinh tế học hiện đại. Tài chính bậc cao có xu hướng toán học hóa mạnh mẽ, và thứ thế kỷ 19, người ta đã biết rằng các định luật tài chính có mối liên hệ vô cùng chặt chẽ với các định luật vật lý và qui tắc toán học. Tài chính hiện đại còn được gọi bằng cái tên kỳ lạ là econophysics, ghép từ economics (kinh tế học) và physics (vật lý học). Nhà bác học vĩ đại của loài người về vật lý Stephen Hawking trong cuốn "Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ" có nói rằng thực ra hiện tượng lạm phát cần được xem như một hiện tượng của vật lý! Điều này cũng không quá đáng. Khoảng thập niên 1980, khi nghiên cứu lạm phát ở Anh quốc (một lĩnh vực của tài chính) hai nhà khoa học kinh tế-tài chính là Robert Engle và Clive Granger đã tìm ra định luật về hiệu ứng GARCH trong các dãy thống kê lạm phát (định luật biểu diễn Granger). Sau đó, hiệu ứng này đã nhanh chóng được ứng dụng trong toán học, vật lý, sinh học, xã hội học và tâm lý học...
Ngành tài chính luôn thu hút được nhiều tài năng học thuật trên khắp các trung tâm nghiên cứu-đào tạo danh tiếng của thế giới. Wall Street và các trung tâm chứng khoán-tài chính lớn là nơi tiêu thụ các sản phẩm con người được đào tạo tốt có kỹ năng tốt về tài chính. Chúng ta cũng sẽ không ngạc nhiên nếu thấy tỉ lệ rất lớn các nhà chuyên môn tài chính thường có cơ sở học thuật về toán học và vật lý vững vàng. Số người chuyển từ ngành vật lý plasma, vật lý nguyên tử, vật lý năng lượng cao, hay vật lý lý thuyết... sang làm nghề tài chính rất đông, và thường họ cũng rất thành công.
Nghề tài chính thường đòi hỏi các kiến thức quan trọng:
* Kinh tế vi mô;
* Kiến thức toán học; và,
* Kỹ năng lập trình ứng dụng trên máy tính.
Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE- Return on Equity)
Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông (hay trên giá trị tài sản ròng hữu hình).
ROE= Lợi nhuận ròng / Vốn cổ phần
Trị giá ROE được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng theo niên độ kế toán sau khi đã trả cổ tức cho cổ phần ưu đãi nhưng trước khi trả cổ tức cho cổ phần thường, chia cho toàn bộ vốn chủ sở hữu (hay vốn cổ phần) vào lúc đầu niên độ kế toán. Chỉ số này là thước đo chính xác nhất để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy được tạo ra bao nhiêu đồng lời. Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào. Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn.
Khi tính toán được tỷ lệ này, các nhà đầu tư có thể đánh giá ở các góc độ cụ thể như sau:
ROE nhỏ hơn hoặc bằng lãi vay ngân hàng, vậy nếu công ty có khoản vay ngân hàng tương đương hoặc cao hơn vốn cổ đông, thì lợi nhuận tạo ra cũng chỉ để trả lãi vay ngân hàng.
ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thì chúng ta phải đánh giá xem công ty đã vay ngân hàng và khai thác hết lợi thế cạnh tranh trên thị trường chưa để có thể đánh giá công ty này có thể tăng tỷ lệ ROE trong tương lai hay không.
Hệ số thị giá và thu nhập cổ phiếu (P/E)
( Người gửi: Trung -- 18/01/2007)
( Bình chọn: 9 -- Thảo luận: 4 -- Lượt xem: 21850)
P/E (Price/Earnings Ratio) là hệ số giữa thị giá một cổ phiếu và thu nhập mà nó mang lại. Đây là một trong những chỉ số phổ biến được niêm yết trên thị trường chứng khoán, trước hết biểu hiện mức giá nhà đầu tư sẵn sàng bỏ ra cho một đồng lời thu được từ cổ phiếu đó.Ví dụ, P/E = 25 có nghĩa nhà đầu tư chịu bỏ ra 25 đồng để thu được 1 đồng lãi từ cổ phiếu này.
Tuy nhiên, ý nghĩa quan trọng của P/E là phản ánh kỳ vọng của thị trường về sự tăng trưởng cổ phiếu trong tương lai hơn là kết quả làm ăn đã qua. Người ta so sánh P/E của các công ty cùng ngành, nếu chỉ số P/E của một công ty nào cao hơn mức bình quân, có nghĩa thị trường kỳ vọng công ty này sẽ ăn nên làm ra trong thời gian tới. Một công ty có chỉ số P/E càng cao thì kỳ vọng của thị trường vào lợi nhuận của công ty càng cao, do đó thu hút được càng nhiều các nhà đầu tư. Còn ngược lại khi họ ít hoặc không kỳ vọng vào khả năng sinh lời lớn của công ty thì mức giá họ sẵn sàng bỏ ra khi mua cổ phiếu thấp, dẫn đến chỉ số P/E thấp, biểu hiện giá cổ phiếu này đang trên xu hướng giảm.
Chỉ số P/E nên dùng để quyết định mua hay không mua một loại cổ phiếu chỉ sau khi đã đối chiếu giữa các công ty cùng ngành và quan trọng là sau khi đã theo dõi xu hướng chỉ số này trong một thời gian tương đối dài.
Saturday, 21. February 2009, 11:16:50
IPO (IPO - Initial Public Offering)
IPO (chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh Initial Public Offering) có nghĩa là phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu. Theo thông lệ tài chính trong kinh doanh, việc phát hành này có nghĩa là một doanh nghiệp lần đầu tiên huy động vốn từ công chúng rộng rãi bằng cách phát hành các cổ phiếu phổ thông, nghĩa là cổ phiếu ghi nhận quyền sở hữu đúng nghĩa và người nắm giữ có quyền biểu quyết tương ứng trong các kỳ họp Đại hội đồng Cổ đông thường niên hay bất thường. Một phần của IPO có thể là chuyển nhượng cổ phần của cổ đông hiện hữu.
Như vậy, IPO với mỗi doanh nghiệp chỉ có một lần duy nhất, và sau khi đã IPO thì các lần tiếp theo sẽ được gọi là phát hành cổ phiếu trên thị trường thứ cấp. IPO có ý nghĩa rất quan trọng với doanh nghiệp, vì với bất kỳ doanh nghiệp nào, đây cũng là thử thách đầu tiên và quan trọng nhất đối với hàng loạt khía cạnh vận hành. Nguyên nhân của thử thách này là do doanh nghiệp trước khi được phép huy động vốn rộng rãi phải đảm bảo hàng loạt các điều kiện phát hành ngặt nghèo và qui chế báo cáo thông tin rất nghiêm khắc.
IPO hoàn toàn khác với việc một cổ đông hiện hữu bán lượng cổ phần đang nắm giữ; hành vi sau này gọi là Chào bán Cổ phần (Offer for Sale).
Về mặt thủ tục, tiến trình IPO thường liên quan tới một hay một số công ty tài chính đặc biệt gọi là Ngân hàng đầu tư, ở Việt Nam vẫn gọi là các Công ty chứng khoán. Những trung gian tài chính này làm nhiệm vụ cung cấp dịch vụ và bảo lãnh phát hành. Công ty tiến hành bán cổ phần bằng IPO được gọi là "Nhà phát hành." Những vụ bảo lãnh phát hành lớn thường do một nhóm các ngân hàng đầu tư hợp thành một xanh-đi-ca (syndicate) để phân chia công việc và rủi ro. Trong số này có một tổ chức đứng ra làm Nhà bảo lãnh chính, và chiếm hết phần lớn phí bảo lãnh phát hành. Trên thế giới, mức phí này có thể lên tới 8% của tổng số tiền cổ phần bán được và kèm theo nhiều điều khoản khác.
Cách thức bán của IPO
Việc chào bán cổ phần ra công chúng rộng rãi lần đầu tiên có nhiều cách thức tiến hành. Các dạng có thể là: (1) Đấu giá kiểu Hà-Lan; (2) Bảo lãnh cam kết; (3) Dịch vụ với trách nhiệm cao nhất; (4) Mua buôn để chào bán lại; và (5) Tự phát hành.
Do lượng thủ tục pháp lý và chế tài khá chặt chẽ và rắc rối, mỗi vụ IPO thường cần một vài công ty luật hỗ trợ. IPO có thể bao gồm một phần trong đó việc cổ đông hiện tại chuyển nhượng quyền sở hữu với số cổ phiếu hiện tại theo cách ta goi là giao dịch thứ cấp, mặc dù vai trò được nhấn mạnh chủ yếu của IPO là phát hành mới và lần đầu ra công chúng để huy động một lượng vốn góp đáng kể. Tuy nhiên, theo thông lệ thế giới cả luật pháp chứng khoán lẫn qui ước của các công ty bảo lãnh phát hành đều hạn chế chức năng chuyển nhượng lượng cổ phần hiện hành theo phương thức giao dịch thứ cấp.
Thông tin tài chính-chứng khoán Việt Nam
IPO thường được bán cho các nhà đầu tư tổ chức, với qui mô lớn và cũng dành ra một tỷ lệ nhỏ cổ phần bán cho các khách hàng cá nhân quan trọng do công ty bảo lãnh đứng ra dàn xếp. Ở các thị trường đã phát triển, nhà phát hành thường thả lỏng một điều khoản cho phép nhà bão lãnh có thể tự ý tăng qui mô phát hành IPO lên tới 15% so với dự kiến theo kế hoạch đã thống nhất để linh hoạt phản ứng trước nhu cầu thị trường, gọi là phương án greenshoe. Greenshoe là điều khoản được nhất trí thực thi khi nhu cầu thị trường tăng quá cao, đẩy giá lên, thì việc phát hành thêm tối đa 15% giúp bình ổn giá. Đôi lúc nhà phát hành không đồng ý vì họ không có kế hoạch sử dụng số tiền do tăng thêm lượng cổ phần bán ra.
Giá cổ phần qua IPO
Nhiều nghiên cứu nghiêm túc bằng lý thuyết thực chứng trên thế giới cho thấy rằng ở phạm vi rất rộng, thường giá cổ phần bán qua IPO được định giá dưới mức thị trường. Hiệu ứng dưới giá này nhằm tạo ra sức hấp dẫn cho các cổ phiếu giao dịch thứ cấp sau IPO, tạo ra thanh khoản tốt về lâu dài cho công ty.
Dấu lặng thị trường
Sau giai đoạn IPO ồn ào, giao dịch cổ phiếu thứ cấp đi vào giai đoạn "dấu lặng." Theo qui định nhiều thị trường các công ty bảo lãnh và những người có liên quan mật thiết tới vận hành kinh doanh của doanh nghiệp bị cấm đưa ra các dự báo về doanh thu và lợi nhuận tương lai trong "giai đoạn dấu lặng." Trước kia, Ủy ban Giao dịch chứng khoán Mỹ áp dụng giai đoạn dấu lặng 25 ngày kể từ ngày IPO, nhưng tới năm 2002 đã tăng lên 40 ngày, nhằm tránh việc các đối tác có thông tin lũng đoạn và gây ảnh hưởng thiên lệch tới thị trường bằng thông tin.
Sau giai đoạn này, công ty bảo lãnh chính sẽ tiến hành công bố các nghiên cứu liên quan tới cổ phiếu của công ty IPO.
Phát hành cổ phần sau IPO (Seasoned Public Offering/ Follow-On Offering/ SPO)
SPO là thuật ngữ mô tả việc một doanh nghiệp đại chúng phát hành cổ phần rộng rãi cho công chúng sau khi đã tiến hành IPO. Nói cách khác, nếu như IPO là thuật ngữ ám chỉ lần đầu tiên doanh nghiệp phát hành cổ phần mới và bán ra rộng rãi cho công chúng, thì SPO áp dụng cho tất cả các lần phát hành sau đó. SPO còn có tên gọi khác trên thế giới, nhưng ít thông dụng hơn, là Phát hành cổ phần tiếp nối (Follow-On Offering - FOO).
Theo tài liệu "Going public and the ownership structure of the firm" của các tác giả Antonio S. Melloa và John E. Parsons, bản thân quá trình phát hành công chúng rộng rãi đã đủ phức tạp vì tính chất các loại thị trường và sự đa dạng của các nhóm nhà đầu tư, các nhóm kiểm soát doanh nghiệp.
Từ đây, chúng ta nên hiểu rằng việc tiến hành SPO thành công hay không còn phụ thuộc vào cơ chế thiết kế vụ phát hành (ở mức sơ cấp) và cấu trúc sở hữu mong muốn có đạt được hay không sau mỗi lần SPO, hoặc một loạt đợt SPO. Một mục tiêu quan trọng nữa của một đợt SPO là một dãy các đợt SPO được thiết kế có tính liên tục không, có đạt mục tiêu huy động theo thời kỳ mong muốn không, và có phù hợp với các chiến lược dự án của doanh nghiệp hay không.
Nói giản dị hơn, việc biến công ty thành đại chúng bắt đầu với IPO, nhưng việc công ty quản trị nguồn vốn tốt hay không lại nằm một phần đáng kể ở các mức thành công của nhiều đợt SPO theo các kế hoạch chiến lược. Một doanh nghiệp IPO thành công, nhưng không có khả năng SPO hoặc không có chiến lược phát triển cần tới các vụ SPO tiếp theo, thì cũng khó có thể coi là doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng.
Việc thành công của SPO phụ thuộc ngày càng nhiều hơn vào các "chiến thuật" marketing tới người mua cổ phiếu của doanh nghiệp, bên cạnh các yếu tố vận hành và chiến lược phát triển đường dài -- vốn là điều kiện cần. Việc marketing này luôn được các nhà tư vấn ngân hàng đầu tư đặt trong tổng thể ai kiểm soát các block cổ phần lớn có thể kiểm soát quá trình ra quyết định của doanh nghiệp. Vì các mục tiêu này, nên các nhà khoa học về corporate governance và giới tư vấn luôn tiếp tục phát triển các cơ cấu cổ phiếu và số lượng cổ phần tương ứng để cân bằng hai loại quyền quan trọng nhất trong SPO: (a) Quyền hưởng lợi ích kinh tế từ cổ phần; (b) Quyền quyết định hướng phát triển doanh nghiệp. Những lo lắng mang tính cấu trúc đường dài và thay đổi liên tục này ít khi xuất hiện trong lần IPO của một công ty đang muốn lần đầu trở thành đại chúng.
Một đặc tính đáng lưu ý của SPO, là quyền ưu tiên mua tiếp của cổ đông hiện tại. Nhiều rắc rối và xung đột có thể xảy ra ở đây. Nghiên cứu có tên "Ownership Concentration, Adverse Selection and Equity Offering Choice" của các tác giả William Cheung, Hong Kong Polytechnic University; Keith Lam, University of Macau; Lewis Tam, University of Macau) có đề cập tới vấn đề này ở quốc gia có mối liên hệ gần gũi với Việt Nam, là Trung Quốc. Qua đó một số điểm liên quan tới SPO có thể cần xem xét như sau. Trước hết, các cổ đông lớn thuộc nhà nước dần dần từ bỏ quyền mua tiếp cổ phiếu. Thứ hai, lập pháp có thể yêu cầu việc hạn chế đăng ký mua bổ sung cổ phần của nhiều nhóm cổ phiếu khác nhau. Nghiên cứu thực chứng qua thống kê cũng cho thấy ở Trung Quốc, việc có mật độ sở hữu cao ở một số cổ đông đại diện nhà nước có xu hướng liên quan chặt chẽ tới việc lựa chọn portfolio theo hướng tránh rủi ro ở mức tối đa. Vì thế, việc phát hành quyền có xu hướng đang được thay bằng bán ra qua các phương pháp SPO. Khi các khoản huy động vốn cổ phần lớn gia tăng đáng kể, hầu như phương án lựa chọn là SPO, thay cho phát hành quyền trong số cổ đông hiện hữu.
Gần đây, thế giới cũng quan tâm nhiều tới vụ IPO của Google xem đó như một thành công mỹ mãn, nhiều tiếng vang, và giá đã lên tới mức 571.5$/cổ phần vào ngày 13/6/2008, (trước đó đã từng vượt 700$), và nó dẫn tới việc Google Inc. tính toán tiếp tục IPO cho cổ phiếu nhóm A, và những đợt SPO trong dài hạn. Như vậy, thành công của IPO thường là bước đầu thúc đẩy việc các doanh nghiệp đại chúng (niêm yết hoặc chưa) tính toán phối hợp các vụ SPO với chiến lược phát triển dài hạn để đảm bảo an toàn tài chính cho kinh doanh; trong đó, việc cân nhắc các quyền lợi giữa các nhóm cổ đông có vị trí đặc biệt quan trọng.
Đầu cơ (Speculation)
Trong lĩnh vực tài chính, đầu cơ là việc mua, bán, nắm giữ, bán khống các loại tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, hàng hoá, tiền tệ, bất động sản, chứng khoán phái sinh nhằm thu lợi từ sự biến động giá mạnh của chúng. Vì hoạt động đầu cơ áp dụng với các loại tài sản tài chính biến động như vậy cho nên đầu cơ là một kiểu kinh doanh có rủi ro rất cao. Ngược lại với đầu cơ là việc mua và nắm giữ các tài sản tài chính để tăng thu nhập thông qua cổ tức hoặc lãi suất, hay còn gọi là đầu tư.
Hầu hết các nhà đầu cơ không chuyên nghiệp thường bị thua lỗ trong các vụ đầu cơ, trong khi những người kiếm được lợi nhuận dần dần trở thành những tay đầu cơ chuyên nghiệp. Trong lịch sử ngành tài chính, thi thoảng cũng xảy ra những vụ đầu cơ đáng kinh ngạc như vụ anh em nhà Hunt định thao túng thị trường bạc thế giới, vụ buôn tiền của George Soros, hay vụ Nick Leeson đã làm sụp đổ ngân hàng Barings Bank.
Lợi ích của hoạt động đầu cơ là nó cung cấp cho thị trường một lượng vốn lớn, làm tăng tính thanh khoản cho thị trường và làm cho cho các nhà đầu tư khác dễ dàng sử dung các nghiệp vụ như phòng vệ hay kinh doanh chênh lệch giá để loại trừ rủi ro. Tuy nhiên đầu cơ cũng gây ra những tác động tiêu cực. Khi có hoạt động đầu cơ giá lên diễn ra, giá của một loại hàng hoá nhất định có thể tăng đột ngột vượt quá giá trị thực của nó, đơn giản vì việc đầu cơ đã làm gia tăng cái gọi là "cầu ảo". Giá tăng lại tiếp tục làm các nhà kinh doanh khác nhảy vào thị trường này với hi vọng giá sẽ còn lên nữa. Hiệu ứng tâm lý này tiếp tục đẩy giá lên, làm cho thị trường này trở nên rất nóng và ẩn chứa rủi ro cao. Toàn bộ quá trình này được gọi là "bong bóng kinh tế", một khi trái bong bóng này bị chọc thủng thì các nhà đầu cơ trên thị trường này có thể gặp những tổn thất vô cùng nặng nề.
Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi (Common stock and preferred stock)
( Người gửi: nguyenchauha -- 23/01/2007)
( Bình chọn: 3 -- Thảo luận: 0 -- Lượt xem: 7614)
Cổ phiếu thường (phổ thông)
Là loại chứng khoán đại diện cho phần sở hữu của cổ đông trong một công ty hay tập đoàn, cho phép cổ đông có quyền bỏ phiếu và được chia lợi nhận từ kết quả hoạt động kinh doanh thông qua cổ tức và/hoặc phần giá trị tài sản tăng thêm của công ty theo giá thị trường. Về mặt thanh khoản, cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường sẽ có các quyền lợi đối với tài sản của công ty sau khi quyền lợi của người nắm giữ trái phiếu công ty, những người nắm giữ các tài khoản nợ khác và người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi đã được hoàn thành.
Thông thường, các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường có 1 quyền bỏ phiếu/cổ phiếu để bầu ra ban Giám đốc (mặc dù số phiếu bầu luôn luôn không tương ứng về số lượng với số cổ phiếu được sở hữu).
Ban Giám đốc là một nhóm các thành viên đại diện cho những người sở hữu công ty và đưa ra các quyết định chính cho hoạt động của công ty. Những cổ đông thường cũng có quyền bỏ phiếu liên quan đến các vấn đề khác của công ty như tách cổ phiếu và xây dựng mục tiêu cho công ty. Ngoài quyền bỏ phiếu, các cổ đông thường còn có quyền "ưu tiên mua trước". Quyền ưu tiên mua trước cho phép các cổ đông thường duy trì tỷ lệ cổ phần của mình (bằng cách mua thêm cổ phiếu) trong trường hợp công ty phát hành thêm cổ phiếu. Điều này có nghĩa rằng các cổ đông thường với quyền ưu tiên mua trước có quyền nhưng không bị bắt buộc phải mua số cổ phiếu mới được phát hành thêm để duy trì tỷ lệ cổ phần như cũ trong công ty.
Cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu ưu đãi cho phép cổ đông nắm giữ nó được trả cổ tức trước cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường xét về tính thanh khoản. Cũng giống như cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi địa diện cho phần vốn sở hữu của 1 cá nhân trong công ty, mặc dù cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi không có quyền biểu quyết giống như cổ đông thường. Không giống như cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi trả 1 lượng cổ tức nhất định cho cổ đông nắm giữ và không hề thay đổi ngay cả khi công ty không có đủ năng lực tài chính để trả trong trường hợp làm ăn thua lỗ. Lợi ích lớn nhất khi sở hữu cổ phiếu ưu đãi là nhà đầu tư có khả năng thu hồi phần tài sản của công ty lớn hơn cổ đông thường. Cổ đông nắm cổ phiếu ưu đãi luôn được nhận cổ tức đầu tiên, và khi công ty bị phá sản thì họ cũng là những người được công ty trả trước sau đó mới đến cổ đông thường. Nhìn chung, có 2 loại cổ phiếu ưu đãi khác nhau, đó là cổ phiếu ưu đãi tích luỹ, cổ phiếu ưu đãi không tích luỹ, cổ phiếu ưu đãi tham gia và cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi.
Nhìn chung cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi có lợi là thu nhập cổ tức ổn định và trong bất cứ trường hợp nào cũng được trả cổ tức, nhưng cũng có nhược điểm ở chỗ khi công ty làm ăn phát đạt thì số cổ tức họ nhận được vẫn không hề tăng lên.
Hình ảnh minh hoạ cổ phiếu
Trái phiếu (Bond)
Một chứng nhận chịu lãi do chính phủ hay một doanh nghiệp phát hành cam kết trả cho người sử hữu trái phiếu một số tiền nhất định vào một thời gian nhất định. Trái phiếu là phương tiện huy động vốn phổ biến, và có bản chất là khoản vay.
Các đặc tính kỹ thuật của trái phiếu cần lưu ý khi giao dịch là:
1. Thời hạn của trái phiếu (ngày phát hành, ngày đáo hạn)
2. Mức lãi được trả (coupon)
3. Kỳ trả lãi (nửa năm hay một năm, hay một lần duy nhất)
4. Địa điểm và loại mệnh giá phát hành
5. Có được niêm yết và chuyển nhượng dễ dàng hay không (tính thanh khoản)
Tiền (lịch sử) (Money (History))
Đúng như chúng ta hình dung, theo định nghĩa chính thống thì tiền là thứ « đồ vật » nào đó có thể nhân danh giá trị trong trao đổi mua bán hàng hóa, vật dụng hay trả công dịch vụ. Trong cuốn « Almanach những nền văn minh thế giới », chúng tôi tìm thấy dấu vết của đồng tiền, tương đối thú vị. Thoạt tiên, loài-người-khôn-ngoan sử dụng nhiều thứ đồ vật khác nhau làm phương tiện tích trữ giá trị. Nói đồ vật thì lịch sử đã ghi nhận đó là những thứ như vòng đá đeo cổ, vòng tay vỏ sò, ngọc trai, xương động vật, mảnh kim loại, đồ gốm, lúa mỳ, đại mạch,... Đó là khái niệm tiền cổ.
Bây giờ ta quay lại gốc gác của định nghĩa giá trị đã bàn lúc trước. Những vật này đối với chủ nhân, và khả năng nhiều là với một nhóm người, chính là ước muốn và việc có được chúng là điều tốt đẹp. Như vậy chúng có giá trị. Vì có giá trị, chúng có thể đảm đương một vài nhiệm vụ nào đó mà cộng đồng cần đến giá trị: sinh đẻ, ma chay, cưới xin, hòa giải chiến tranh, đền bù thiệt hại tinh thần, v.v.. Nói chung, tiền cổ chưa phải là tiền với chức năng kinh tế như ngày nay, nhưng nó chứa mầm mống giá trị, là điềm báo trước về sự hình thành tiền tệ hiện đại có bản chất kinh tế, giao thương, tính toán, thanh toán, cất trữ.
Như vậy, đồng tiền hiện đại (chúng ta chỉ bàn về khái niệm này) chỉ sinh ra khi có nhu cầu trao đổi hàng hóa-dịch vụ, gọi chung bằng thương mại. Hoạt động buôn bán trên thế giới, theo tài liệu khảo sát tiến trình lịch sử của loài người, bắt đầu từ khoảng 6000 năm trước Công Nguyên (tr.CN) trong các thị trấn Catal Huyk (Thổ Nhĩ Kỳ) và Jerico (Israel). Đầu tiên là việc trao đổi sản vật của thợ săn với dân cư Jerico lấy gia súc và hạt ngũ cốc. Tuy nhiên, thời kỳ này cũng không thấy nhắc tới tiền tệ. Nhiều khả năng vì hình thức giao dịch thương mại chủ yếu là hàng đổi hàng.
Chợ và thương cảng phát triển nhanh ở các vùng Tây Á, Tiểu Á, Hy-lạp khoảng thế kỷ 5 tới thế kỷ 3 tr.CN, đã khiến cho tiền ngày càng có tính hiện đại, làm chức năng tính toán, cất trữ giá trị, thanh toán thương mại giống như ngày nay. Theo bước chân của Alexander Đại đế của Hy-lạp, các kho tàng của vua chúa cổ bị chiếm đoạt được đúc lại thành tiền kim loại quý, và các đồng tiền này được sử dụng khắp vùng Địa Trung Hải, có nền thương mại thịnh vượng. Năm 326 tr.CN, Alexander Đại đế còn đánh bại người Ấn-độ ở Hydaspes, tiếp tục mở rộng đế quốc trải dài từ Hy-lạp. Trong suốt hàng ngàn năm lịch sử, thương mại luôn là hoạt động nhộn nhịp và quan trọng bậc nhất, việc chuẩn hóa đồng tiền, đúc nhỏ, và chọn kim loại quí đã diễn ra. Vàng và bạc được chính thức xem như lựa chọn tốt nhất.
Các đồng tiền dinar vàng ra đời năm 696 tr.CN, được sử dụng trong các giao dịch thương mại lớn quốc tế, và đồng dirhem bạc được dùng để trả lương, nộp thuế dưới thời vua Hồi giáo Calip Abd-el-Malidk (685-705 tr.CN), phát hành tại Damas, Edesse, Jerusalem, là ví dụ điển hình. Thời kỳ này cũng nhiều loại tiền đúc nữa ra đời, xu hướng sử dụng kim loại quý trở nên rõ rệt. Bản chất gắn bó với thương mại ngày càng được khẳng định. Cho tới tận mãi sau này, thế kỷ 16, ở nước Pháp người ta cũng vẫn ghi nhận tới 1/3 số các vụ giao dịch thương mại được thanh toán bằng đồ vật vàng, bạc.
Đôi khi người ta thanh toán các khoản nhỏ hơn bằng cách chặt nhỏ đồng tiền vàng. Ở Tây Ban Nha thế kỷ 16 cũng phát hành đồng tiền đúc vàng nguyên chất từ 3 tới 4 gram, gọi là đồng excellent, và ở Venice là đồng sequin. Song song với tiền đúc kim loại quý, các ngân hàng châu Âu ra đời trong thời kỳ Trung Cổ. Từ thế kỷ 13, nhu cầu phục vụ thương mại, xuất nhập khẩu khiến các giao dịch tập trung vào những đô thị lớn ở châu Âu. Hoạt động đặc thù đầu tiên dẫn tới hình thành các ngân hàng là chuyển đổi thống nhất giá cả các loại tiền khác nhau của các nước: đó là hoạt động ngoại hối. Điển hình là loại hoạt động ngoại hối ở thế kỷ 13 của các hội chợ Champagne (Pháp). Tỷ giá, hối phiếu, vay nợ, và hệ thống trao đổi tiền tệ, tín dụng bắt đầu ra đời từ đây.
Tới thế kỷ 14, một số ngân hàng đã bắt đầu phát hành các chứng chỉ cho chủ các món tiền đúc để tại két ngân hàng. Đó là những lời hứa đảm bảo thanh toán ngay lập tức của ngân hàng. Thời kỳ này chưa có khái niệm ngân hàng trung ương, do đó khi ngân hàng vỡ nợ thì giá trị đồng tiền lập tức bốc hơi. Khởi đầu tiền giấy cũng là khởi đầu của ngân hàng.
Sau tiền đúc vàng là tiền giấy hợp pháp, loại tiền tệ tương đối hiện đại so với lịch sử lâu dài của loài người. Tiền giấy hợp pháp được sự ủng hộ của pháp luật và các chính quyền trung ương từ từ trở thành thông dụng trong xã hội. Việc chấp nhận rộng rãi tiền giấy tăng nhanh khi các chính quyền yêu cầu việc thanh toán thuế và các khoản phạt, đóng góp nghĩa vụ. Trong nền kinh tế hiện đại, vàng, tiền giấy cùng song song tồn tại. Tiền giấy đóng vai trò phương tiện thanh toán, và tính toán.
Vàng vẫn đóng vai trò dự trữ, và riêng với ngân hàng trung ương thì cũng có vai trò đồng tiền tính toán. Ngay ở Mỹ, giai đoạn ‘Hoạt động Ngân hàng Tự do’ diễn ra từ năm 1837-1866. Lúc này các tiểu bang, ngân hàng tư nhân, quán ăn, công ty đường sắt, cửa hàng kinh doanh, nhà thờ... đều tiến hành in các loại ‘tiền tư nhân’. Loại kinh doanh ngân hàng hoang dại này chứa rủi ro tiền bỗng biến thành giấy vụn khi mà chủ thể phát hành bỏ trốn, phá sản, đóng cửa. Người ta ghi nhận được hơn 8.000 loại tiền khác nhau tồn tại trong nền kinh tế Mỹ vào năm 1860. Sự lộn xộn và lo ngại của thế giới thương mại hiện đại vào các tờ giấy in gọi là tiền đã dẫn tới việc ra đời các đạo luật như Bản vị Vàng (1900), rồi Dự trữ Liên bang (1913), rồi Ngân hàng (1935), đánh dấu sự ra đời của hệ thống ngân hàng trung ương hiện đại tại Mỹ và trên thế giới. Ngày nay, do hệ thống ngân hàng và các dịch vụ liên quan tới tiền tệ đã mở rộng, các khái niệm thị trường phát triển làm cho chúng ta có cảm giác tiền tồn tại như một thực thể riêng, chẳng cần ai thì nó cũng tồn tại ở đó.
Thực tế không phải như vậy. Tiền tồn tại đúng nghĩa vật mang giá trị khi và chỉ khi loài người còn hoạt động buôn bán, kinh doanh. Các thị trường tiền tệ, tài chính ở mọi qui mô lớn tới đâu, phức tạp cỡ nào, cũng đều có thể rút gọn về các hành vi mua bán rấtrất đơn giản, sự phức tạp nằm ở suy nghĩ và phương pháp con người sử dụng mà thôi. Nói giản dị, tiền liên quan tới kinh doanh, buôn bán, cho dù là chế độ bao cấp hay kinh tế thị trường kiểu laissez-faire.
Cổ tức (Dividend)
( Người gửi: Vuong -- 27/12/2006)
( Bình chọn: 3 -- Thảo luận: 1 -- Lượt xem: 6668)
Cổ tức là phần lãi chia cho cổ đông của doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh đạt kết quả tốt sau một chu kỳ kinh doanh, thường là một năm.
Khi doanh nghiệp hoạt động có lãi, nó phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp và phần lãi còn lại (sau thuế) được gọi là "lợi nhuận có thể chia cho cổ đông." Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp không bao giờ chia hết phần lợi nhuận có thể chia này, mà họ phải giữ lại một tỉ lệ tương đối lớn để tiếp tục đầu tư cho sản xuất, kinh doanh và các dự án mới, phục vụ các chu kỳ kinh doanh tiếp theo. Vì lý do này, khi đại hội cổ đông diễn ra cuối kỳ kinh doanh, sau khi tổng kết tình hình Ban giám đốc có thể đệ trình lên Hội đồng quản trị phương án sử dụng một tỉ lệ nhất định của phần lãi sau thuế để chia lãi cho các cổ đông.
Nếu phương án chia này được biểu quyết thông qua, thì chính sách chia cổ tức của năm đó chính thức được xác nhận và có hiệu lực. Một số doanh nghiệp cũng có chính sách cổ tức cho một giai đoạn nhiều năm, nhưng bản thân chính sách này cũng được thực thi chỉ trong một số điều kiện nhất định.
Do có thể tồn tại một số loại cổ phiếu khác nhau trong cùng một cấu trúc vốn doanh nghiệp, nên có thể có một số loại cổ tức với các mức khác nhau và điều kiện ưu tiên thanh toán về thời gian và khối lượng khác nhau. Thông thường, khi nói tới cổ tức nói chung, người ta ám chỉ cổ tức của cổ phiếu phổ thông.
Friday, 6. February 2009, 13:36:02
SỐNG ĐẸP

Một người cha có 4 người con trai. Ông muốn dạy các con mình không nên đánh giá mọi việc quá vội vàng nên đã bảo lần lượt từng người trong số họ đến thăm một cây lê ở rất xa.
Người con cả ra đi vào mùa đông, người con thứ hai đi vào mùa xuân, người con thứ ba vào mùa hè và người con út vào mùa thu.
Khi những người con quay về, ông đã gọi tất cả lại và yêu cầu họ tả lại những gì họ nhìn thấy.
Người con cả nói rằng cây lê đó xấu xí, khô cằn.
Người con thứ hai không đồng ý và nói nó có có rất nhiều chồi lộc và đầy hứa hẹn.
Người con thứ ba thì nói cây lê đó hoa lá sum sê, mùi hương ngọt ngào và trông rất đẹp. Đó là cây lê đẹp nhất mà anh từng thấy.
Người con út không đồng ý với 3 người anh. Anh nói rằng cây lê đó trĩu nặng trái chín.
Nghe xong, người cha giải thích cho các con rằng tất cả họ đều đúng bởi họ đã nhìn thấy cây lê vào những mùa khác nhau. Tuy nhiên, những gì họ nhìn thấy chỉ là một mùa trong đời cây lê.
Ông bảo rằng họ không thể đánh giá một cái cây, hay một con người chỉ qua một mùa hay một giai đoạn và rằng bản chất của con người cũng như những niềm vui và tình yêu trong cuộc sống chỉ có thể được đánh giá vào giai đoạn cuối khi tất cả các mùa đã đi qua.
Nếu bạn quyết định bỏ cuộc khi mùa đông đến, bạn sẽ bỏ lỡ những hứa hẹn của mùa xuân, vẻ đẹp của mùa hè và sự thu hoạch của mùa thu.
Bài học:
Đừng để nỗi đau của một mùa phá hủy niềm vui của các mùa còn lại.
Đừng đánh giá cuộc sống chỉ thông qua một giai đoạn khó khăn. Hãy kiên trì vượt qua giai đoạn khó khăn, chắc chắn những điều tốt đẹp hơn đang chờ bạn phía trước
Friday, 6. February 2009, 13:34:03
SỐNG ĐẸP
Một cụ già quay qua tôi và hỏi: "Cô có bao nhiêu người bạn?". "Sao cụ lại hỏi vậy, tôi có 10 hay 20 người bạn, nhưng tôi chỉ nhớ tên được vài người thôi".
Cụ mỉm cười như thấu hiểu rồi buồn bã gật đầu:
- Cô phải thật may mắn mới có nhiều người bạn như thế. Nhưng hãy nghĩ về điều cô đang nói. Có quá nhiều người cô không biết tên đấy! Bạn không phải chỉ là người để cô nói: xin chào!
Bạn là người có bờ vai mềm mại để cô dựa vào mà khóc.
Là một cái giếng để đổ xuống đấy tất cả những rủi ro của cô và nâng giá trị của cô lên cao.
Bạn là một bàn tay để kéo cô lên từ bóng đêm và tuyệt vọng khi tất cả những người mà cô gọi là "bạn" đã đẩy cô vào đó.
Một người bạn thật sự là một đồng minh không thể bị lay động hay bị mua chuộc. Là một giọng nói để giữ cho tên của cô còn sống mãi khi những người khác đã lãng quên.
Nhưng cái cần thiết nhất của một người bạn là một trái tim, là một bức tường mạnh mẽ và sừng sững. Để từ trái tim của những người bạn đó ta sẽ có tình yêu tuyệt vời nhất.
Vậy hãy nghĩ về những gì tôi nói, từng lời nói đều thật lòng cả.
Và hãy trả lời lại cho tôi một lần nữa đi, cô bé, cô có bao nhiêu người bạn nào?
Tôi mỉm cười với ông và trả lời: "Ít nhất cháu có một người bạn, cụ ạ!"
Cảm ơn vì đã trở thành bạn của tôi!
Friday, 6. February 2009, 13:32:43
SỐNG ĐẸP

Ngày xửa ngày xưa có một anh tiều phu rất khỏe đến xin việc ở chỗ của một thương gia buôn gỗ lớn. Người thương gia đã nhận anh ta.
Lương anh tiều phu khá cao và điều kiện làm việc cũng tốt nên anh cảm thấy mình cần phải làm việc thật chăm chỉ để xứng đáng với những gì được trả.
Ông chủ đưa cho anh chàng tiều phu một cái rìu và chỉ cho anh khu vực làm việc.
Ngày đầu tiên anh chàng mang về được 18 cây gỗ.
"Xin chúc mừng! Cứ thế phát huy nhé!" Người thương gia vui vẻ.
Lời của ông chủ như một lời khích lệ đến chàng tiều phu, anh thậm chí còn làm việc chăm chỉ hơn vào ngày hôm sau nhưng chỉ mang về được 15 cây gỗ. Ngày thứ ba anh càng cố gắng hơn nữa nhưng cũng chỉ mang về được có 10 cây. Càng ngày anh càng mang về ít hơn.
"Có lẽ mình đã bị yếu đi rồi!" Anh chàng tiều phu nghĩ. Anh đã đến chỗ ông chủ để xin lỗi và nói rằng anh không hiểu có chuyện gì đang xảy ra.
Người thương gia liền hỏi: "Lần cuối cùng anh mài chiếc rìu của mình là bao giờ?"
"Mài rìu ư? Tôi không có thời gian để làm việc đó vì lúc nào cũng bận rộn chặt cây…"
Friday, 6. February 2009, 13:30:30
SỐNG ĐẸP

1. Khi một con ngỗng vỗ cánh, nó sẽ tạo ra một "lực nâng" cho các con chim theo sau nó. Bay theo hình chữ V, cả đàn ngỗng sẽ bay xa hơn 71% so với khi bay từng con một.
Bài học: Khi biết chia sẻ chung chí hướng và ý thức cộng đồng, người ta có thể đến nơi họ muốn một cách nhanh hơn và dễ dàng hơn.
2. Khi một con ngỗng bị rơi ra khỏi đội hình, nó sẽ cảm thấy bị lôi kéo trở lại, ngăn không cho bay một mình. Vì thế, nó sẽ nhanh chóng quay trở lại đội hình để tận dụng lực nâng của con ngỗng phía trước nó.
Bài học: Nếu chúng ta có được sự thông minh nhiều như của một con ngỗng, chúng ta sẽ tự biết hoạt động theo đội hình với những người cùng định hướng. Chúng ta sẽ sẵn sàng chấp nhận sự giúp đỡ của họ và đồng thời giúp đỡ những người khác.
3. Khi con ngỗng đầu đàn bị mệt, nó quay ngược trở vào đội hình và một con ngỗng khác sẽ tiến lên vị trí tiên phong.
Bài học: Cần phải thay nhau thực hiện những nhiệm vụ khó khăn và chia sẻ vai trò lãnh đạo. Cũng như loài ngỗng, con người phụ thuộc vào các kỹ năng, khả năng của nhau và phụ thuộc và một sự sắp xếp năng khiếu, tài năng hay tài nguyên theo cách duy nhất.
4. Loài ngỗng bay theo đội hình thường kêu to để khích lệ những con phía trước duy trì tốc độ.
Bài học: Chúng ta cần phải chắc chắn rằng tiếng kêu của chúng ta mang tính khích lệ. Trong nhóm, nếu có sự động viên khuyến khích, năng suất làm việc sẽ được tăng lên rất nhiều.
5. Khi một con ngỗng bị ốm, bị thương, hoặc bị bắn rơi, hai con ngỗng khác sẽ tách ra khỏi đội hình để theo con ngỗng đó và bảo vệ nó. Chúng sẽ ở với nó cho đến khi nó chết hoặc có thể tiếp tục bay. Sau đó, chúng sẽ nhập vào một nhóm khác hoặc bắt kịp với bạn.
Bài học: Hãy luôn sát cánh bên nhau dù trong những giờ phút khó khăn hay khi yên bình suôn sẻ.
1 2 3 Next »
Showing posts 1 -
30 of 83.