Blog Battrang 360*

Thông tin Du lịch - Văn hoá - Lịch sử làng gốm cổ truyền Bát Tràng, Hà Nội, Việt Nam.

Subscribe to RSS feed

Sticky post

QUỐC LỄ & HƯƠNG LỄ TẠI BÁT TRÀNG NĂM 2011

, , , ...



QUỐC LỄ & HƯƠNG LỄ TẠI BÁT TRÀNG NĂM 2011
(Cập nhật: 03h00, 06.02.2011, GMT: +7)



Blog Battrang 360* - Dân gian xưa có bài thơ rằng:


Tháng Giêng là tháng ăn chơi.
Tháng Hai cờ bạc.
Tháng Ba hội hè.
Tháng Tư đong đậu nấu chè.
Ăn tết Đoan ngũ trở về tháng Năm.
Tháng Sáu buôn nhãn bán trăm.
Tháng Bảy ngày Rằm sá tội vong nhân.
Tháng Tám chơi đèn kéo quân.
Trở về tháng Chín chung chân buôn hồng.
Tháng Mười buôn bấc bán bông.
Tháng Một, tháng Chạp nên công thu về.

Bên cạnh những ngày Quốc lễ (những ngày lễ của dân tộc), những ngày Hương lễ (ngày lễ của làng) là những dịp làng gốm Bát Tràng đón nhận lượng khách du lịch rất lớn. Về Bát Tràng vào những dịp này, bạn sẽ càng cảm nhận được sự nhộn nhịp, hối hả cùng với những nét đặc trưng văn hoá làng nghề, làng khoa bảng ngót nghìn năm tuổi này.


Các ngày Quốc lễ, Hương lễ trong năm Mậu Tý 2008 theo thứ tự Lịch dương lần lượt như sau:

1. Tết Dương lịch (01.01.2011)
2. Tết Nguyên đán 01~03.01 AL.
3. Lễ Tảo mộ truyền thống 06.01 AL (08.02.2011)
4. Lễ Tình yêu Valentine (14.02.2011)
5. Tết Nguyên tiêu 15.01 AL (17.02.2011)
6. Kỷ niệm 52 năm ngày Bác Hồ về thăm Làng gốm Bát Tràng (20.02.1959 - 20.02.2011)
7. Ngày Quốc tế Phụ nữ (08.03.2011)
8. Hội làng Bát Tràng 14~15.02 AL (18~19.03.2011)
9. Giỗ tổ Hùng Vương 10.03 AL (12.04.2011)
10. Giải phóng Miền Nam (30.04.2011)
11. Ngày Quốc tế Lao động (01.05.2011)
12. Lễ Kỳ Yên 15.04 AL (17.05.2011)
13. Sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh (19.05.2011)
14. Ngày Quốc tế Thiếu nhi (01.06.2011)
15. Tết Đoan Ngũ 05.05 AL (06.06.2011)
16. Tết Trung nguyên 15.07 AL (14.08.2011)
17. Kỷ niệm ngày Cách mạng Tháng Tám thành công (19.08.2011)
18. Quốc khánh Việt Nam (02.09.2011)
19. Tết Trung thu (12.09.2011)
20. Giỗ Vách Tả, Vách Hữu 30.08 AL (26.09.2011)
21. Giải phóng Thủ đô (10.10.2011)
22. Hội đền mẫu làng Bát Tràng 23~24.09 AL (19~20.10.2011)
23. Ngày Phụ nữ Việt Nam (20.10.2011)
22. Ngày Nhà giáo Việt Nam (20.11.2011)
23. Tết Ông Công, Ông Táo 23.12 AL.
24. Trừ tịch 30.12 AL.


Song song với những ngày Quốc lễ và Hương lễ trên đây, 19 dòng họ làng gốm Bát Tràng một năm 2 kỳ giỗ tổ cũng là cơ hội để những con dân làng gốm khắp các nơi trong nước hành hương về cội, cùng người làng, người trong dòng tộc họp mặt, củng cố tình đoàn kết. (Lịch giỗ tổ 19 dòng họ thôn Bát Tràng, xã Bát Tràng sẽ cập nhật sau)


Bài viết: Gia Thanh

Bộ ảnh "Đền Mẫu Bát Tràng"

, , , ...


Bộ ảnh "Đền Mẫu Bát Tràng"
Cập nhật: 25.03.2011


Blog Battrang 360* - Đền Mẫu Bát Tràng - Di tích lịch sử đã được xếp hạng là một ngôi đền thiêng, đền to phủ lớn trong Đạo Mẫu Tứ Phủ Việt Nam. Đền toạ lạc tại xóm 1, thôn Bát Tràng, xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.


Ảnh: Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

Đền Mẫu Bát Tràng

, , , ...

ĐỀN MẪU BÁT TRÀNG
鉢場靈祠

(Update: 24.03.2011)




Blog Battrang 360* - Kiến dựng vào cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, đại trùng tu năm Tự Đức thứ 14 (1851) và tôn tạo vào năm Thành Thái thứ 13 (năm 1903), Đền Bát Tràng là nơi thờ tự tâm linh mang đậm phong cách kiến trúc Đời Nguyễn. Đền được dựng bên mé nước Sông Hồng, phong thuỷ đắc địa, ngay bến thương thuyền Ba Đậu nổi tiếng một thời. Đền là một toà nhà nếp gỗ cổ, xây bằng gạch Bát Tràng và lợp ngói ta. Kiến trúc Đền theo lối chữ Nhị, Bái đường và Hậu cung 3 gian chạy song song trông ra sông Hồng, phía trước là tam quan và khoảng sân rộng trải gạch Bát rợp bóng cây Đại cổ thụ..

Đền thờ người con gái Bát Tràng họ Trần Đồng Tâm được dân gian suy tôn với nhiều mỹ hiệu: Mẫu Bản hương, Mẫu Đệ Tứ Khâm Sai. Đặc biệt, trải qua các triều đại Phong kiến, Mẫu được sắc phong: Mỹ Tín Thiên Tiên Quế Hoa Công Chúa, Tôn Thần Hộ Quốc Tí Dân Niệm Chức Linh Ứng, Trang Huy Dực Bảo Trung Hưng Thượng Đẳng Thần. Hiện nay, Đền Bát Tràng còn lưu giữ được 1 đạo sắc phong thời Vua Khải Định.

Vương Phụ là Đồng Tâm Trần Thị, Pháp Duệ Thuyền Sư, là Phủ Hiệu Sinh . Cụ học được nhiều phép hay cứu giúp người đời nên được bổ làm Tế Sinh Đường Xứ lại là Trùm trưởng trong làng.

Vương Mẫu là Đông Cục Trần Thị, là con gái cả Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân, tước Văn Lễ Bá - Trung Uý Phòng Hữu, Sở Chuẩn Kích, Vệ Thần Sách trong ty Điện Tiền triều Lê.

Theo truyền thuyết: Vương Mẫu mang thai từ tháng 09 năm Đinh Mão tới tháng 09 năm Mậu Thìn (1568) thì sinh ra Ngài (Mẫu Bản Hương) mày hoa thanh tú, dung mạo đoan trang, từ nhỏ chỉ ăn hoa quả, lớn lên tính tình hoà nhã, từ ý, đoan trang, uyên nhàn, thuần hậu. Năm 12 tuổi có người đến giạm hỏi thì sinh chứng bệnh đau ốm. Đến giờ Ngọ ngày 24.09 năm Ất Dậu (1585), Ngài tắm rửa sạch sẽ vào quỳ lạy cha mẹ và thưa rằng: "Con vốn là con gái Ngọc Hoàng Thượng Đế xuống đầu thai làm con cha mẹ đã 18 năm, nay hết hạn con phải về chầu, không hầu hạ cha mẹ được nữa. Con xem cha mẹ có nhiều phép lạ cứu giúp người đời sau này ắt được hưởng phúc". Nói vậy, đến giờ Tuất tự nhiên đổi sắc diện mà Ngài hoá, linh cữu quản trong nhà, điếu phúng linh đình. Hoá sau trăm ngày, đêm Ngài thường biến hiện, người trong làng thấy thế lập đền thờ, cầu xin gì đều thấy được linh ứng. Các nơi xa gần đến cầu lễ rất đông, mới tôn phong Ngài là Thiên Tiên Quế Hoa Công Chúa. Sau thấy vết chân Hạc trên bát hương, thân phụ Ngài mang thiêu xác thành tro, luyện suốt trăm ngày, lưu lại một phần tro táng tại vườn chùa Tiêu Dao (làng Đống Cao), phần tro còn lại đem lên núi Thiên Thai (huyện Gia Bình, Kinh Bắc) tung theo gió. Tro bay tới đâu là dân ở đó đắp tượng và lập đền thờ. Hiện có 72 làng thuộc Gia Bình và Siêu Loại có đền thờ Ngài.

Ông Nghè Tuấn họ Vũ người làng - Tiến sỹ khoa Quý Mùi (1843) trước khi đi sứ nhà Thanh cũng đến Đền dâng hương cầu lễ. Quả nhiên 3 năm đi sứ có gì chắc trở ông đều được báo mộng. Đi sứ về ông làm lễ tạ và sửa sang đền phủ, dâng cúng nhiều đồ thờ tự vào Đền.

Đền thờ Mẫu có nhiều ngai khám, long đình, võng lọng, cửa võng, câu đối, đại tự... sơn son thếp vàng ca ngợi công đức của Ngài:

"Vạn thế chưng thường"
(Tế lễ muôn đời)

"Hậu đức tải vật"
(Đức dày trở việc)

"Bách niên hương hoả"
(Trăm năm hương khói)

Câu đối

"Quang thái môn sinh hương tộc quyến - Anh linh thần hoá hiệp cung tiêu"
(Môn sinh rực rỡ thơm sách họ, Anh linh Thần hoá khắp Cung Tiêu)

"Nhật xuất Đông A truyền vận sự - Nguyệt minh thanh phủ dạ kỳ hương"
(Mặt trời mọc: Đông A truyền sự đẹp, Vầng trăng sáng: Toà thanh phủ ngát hương thơm)

Thơ xưa có câu rằng:
"Đền thờ mười xứ đến cầu
Tháng Chín mở hội đâu đâu cũng về"

Hằng niên vào ngày Mẫu hoá 24.09 âm lịch, làng mở hội 2 ngày (23 & 24.09). Họ Trần làm lễ Tế tổ, làng Bát Tràng làm lễ tế Thần (Mẫu), hội Dâng hương tiến lễ, bà con dân làng và khách thập phương đến cầu lễ rất đông. Tối ngày 24.09 làm lễ phóng đăng trên sông Hồng trước cửa Đền, những ngọn hoa đăng bập bùng chớp sáng trên sông nom như những chùm sao lấp lánh trên màn trời đêm.

CẦU CHÚC DÂN LÀNG VÀ QUÝ KHÁCH THẬP PHƯƠNG
AN KHANG THỊNH VƯỢNG!

Viết bài: Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

Lễ Tế thần reo thờ tại Đình làng Bát Tràng

, , , ...

Lễ Tế thần reo thờ tại Đình làng Bát Tràng
Update: 19.03.2011


Blog Battrang 360* - Tế Thần reo thờ là hình thức sinh hoạt văn hoá tâm linh vô cùng độc đáo. Lễ tế chính là sự ca tụng ơn đức của các vị thần linh, ca tụng công ơn của các bậc tiền nhân đã di dân lập ấp lập làng và truyền nghề cho muôn đời con cháu và đây cũng chính là lời hứa trước các bậc liệt tổ liệt tông sẽ phát huy và bảo lưu nghề gốm trường tồn mãi mãi. Nghi thức tế lễ này thường diễn ra vào thời điẻm tối. Khi ngọn đèn điện được tắt đi cũng là lúc hai cụ già làng giương lên những ngọn đuốc rực cháy và đọc bản Thánh Thi được phóng lớn treo trang trọng bên trên hương án, kết thúc mỗi câu trong Thánh Thi lại rộn lên tiếng chuông tiếng trống và tiếng hò reo vang trời dội đất của những người tham dự. Blog Battrang 360* ghi lại được một vài hình ảnh trong buổi lễ vào lúc 20h30 ngày 14.02. Tân Mão:



Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

LỊCH HỘI XUÂN LÀNG GỐM BÁT TRÀNG NĂM 2011

, , , ...

NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH LỄ HỘI LÀNG GỐM CỔ TRUYỀN BÁT TRÀNG
Update: 17.03.2011


Blog Battrang 360* – Lễ hội truyền thống làng gốm Bát Tràng hay còn gọi với tên khác "Hội xuân Làng Gốm Bát Tràng" là một hoạt động thường niên diễn ra từ ngày 14.02 - 16.02 âm lịch hàng năm tại Đình làng Bát Tràng. Trong thời gian lễ hội diễn ra các hoạt động văn hoá tâm linh hướng về nguồn cội và các hoạt động thể thao, văn nghệ và vui chơi giải trí. Lễ hội năm nay diễn ra từ 18.03.2011 - 20.03.2011 (từ Thứ Sáu tới hết Chủ nhật tuần này). Dưới đây là lịch Lễ Hội Làng Gốm Bát Tràng, Blog Battrang 360* xin được đăng tải để bà con đồng hương Bát Tràng và quý khách thập thương khắp xa gần được biết.

LỊCH HỘI XUÂN LÀNG GỐM BÁT TRÀNG NĂM 2011

Ngày 18.03.2011 (Ngày 14.02 năm Tân Mão)

Sáng:
Từ 07h30 - 08h30 Ban lễ tân khánh tiết đón tiếp khách.
Từ 08h30 - 09h00 Khai mạc lễ hội.
Từ 09h00 - 09h30 Dâng lễ Tam Sinh.
Từ 09h30 - 11h30 Lễ Rước kiệu, Cấp thuỷ, Rước nước.
Từ 11h30 - 12h00 Lễ nhập thuỷ.

Chiều
Từ 14h00 - 17h00 Đón tiếp khách, giao hiếu với các làng, vui chơi có thưởng.

Tối:
Từ 19h30 - 21h00: Tế Thần, Gieo Thờ, Đốt cây bông.

--------


Ngày 19.03.2011 (Ngày 15.02 năm Tân Mão)

Sáng:
Từ 08h00 - 10h30 Các dòng họ, cộng đồng dân cư và các doanh nghiệp, quý khách thập phương tiến lễ.
Từ 10h30 - 11h00 Dâng rượu.
Từ 11h00 - 12h00 Thụ lộc.

Chiều:
Từ 14h00 - 17h00 Đón tiếp khách, Dâng hương, Giao hiếu, vui chơi có thưởng.

Tối:
Từ 19h30 - 22h00 Văn nghệ chào mừng lễ hội.

-------------


Ngày 20.03.2011 (Ngày 16.02 năm Tân Mão)

Sáng:
Từ 08h30 - 09h00 Lễ Tạ.
Từ 09h00 - 10h00 Rước kiệu Mẫu Bản Hương hoàn cung (về Đền Bát Tràng)

Tối:
Từ 20h00 - 21h00 Lễ phóng đăng, đốt cây công trên sông Hồng và Thụ lộc Tam sinh.

Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

Phục hồi Ấn triện thời Tây Sơn

, , , ...

Phục hồi Ấn triện thời Tây Sơn
Update: 09.03.2011


Blog Battrang 360* - Tỉnh Bình Định vừa kết hợp với Bảo tàng Lịch sử VN và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển VN (BIDV) tổ chức buổi tọa đàm khoa học "Các vấn đề về sắc phong ấn triện thời Tây Sơn" tại Hà Nội

Còn lại trong dân gian
Trong dân gian Quảng Bình vẫn còn truyền nhau câu chuyện, ngày xưa, khi thời Tây Sơn vừa sụp đổ, mọi vấn đề liên quan đến triều đình cũ đều bị cấm đoán. Có một lần, trên một chuyến đò qua sông, bà cụ già đã móc ra một đồng tiền xu có ghi Quang Trung thông bảo để trả tiền đò. Lập tức bà bị quân lính bắt giữ. Rất may bà thoát chết bởi vì sau đó, trong quá trình tra hỏi người ta mới biết bà mù chữ. Chỉ với chi tiết như thế cộng thêm việc nhà Nguyễn chu di cửu tộc nhà Tây Sơn mới biết việc giữ lại những hiện vật thời Tây Sơn ngay từ thời điểm đó cũng thật là khó khăn. Có lẽ vì lẽ đó mà những di vật thời Tây Sơn không còn nhiều. Ngay như lời ông Giám đốc Bảo tàng Bình Định thì tìm trong cả tỉnh cũng chỉ được 3 sắc phong. Tuy nhiên, một điều thật ngạc nhiên, những di vật thời Tây Sơn hiện còn chủ yếu tập trung ở các tỉnh miền Bắc, nhiều nhất ở Hà Nội và các tỉnh lân cận như Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương...
Cắt nghĩa điều trên, các đại biểu đến từ đất võ Bình Định cho rằng, vua Quang Trung với sứ mệnh lịch sử đã rất được lòng các sĩ phu Bắc Hà. Họ đã một lòng cùng chung sức giúp vua đánh tan quân xâm lược và bình trị thiên hạ. Chính vì vậy, khi thời Tây Sơn sụp đổ, ghi nhớ công ơn, nhân dân các địa phương ở nơi đây đã cất giấu những kỷ vật được ban tặng cho địa phương mình. Cụ Lê - Trưởng làng gốm Bát Tràng cho biết: Ở Bát Tràng hiện vẫn còn giữ được 44 đạo sắc phong các vương triều phong kiến, trong đó có tới 16 đạo sắc phong thời Tây Sơn. Trong 16 đạo sắc phong này có 5 thuộc thời Quang Trung, 5 thời Cảnh Thịnh và 5 thời Bảo Hưng. Bên cạnh đạo sắc phong thì làng Bát Tràng vẫn còn giữ được quả chuông thời Bảo Hưng cao tới 1,2m trong đó 85cm là phần thân còn phần quai dài 35cm. Ngoài ra, theo đại diện phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch huyện Gia Lâm thì toàn huyện hiện còn khoảng 70 đạo sắc phong thời Tây Sơn. Hơn nữa chính Gia Lâm là quê hương của Ngọc Hân công chúa (vợ của vua Quang Trung - Nguyễn Huệ). Bên cạnh đó, theo TS. Nguyễn Hữu Tâm, Viện Sử học, thì đạo sắc phong và chuông còn tập trung nhiều ở Hà Nội và các địa phương Hà Tây cũ.
Phục hồi Ấn triện
Theo TS. Phạm Quốc Quân - GĐ Bảo tàng Cách mạng VN: "Ấn thời Quang Trung còn lại đến nay không nhiều, chủ yếu là ấn quân đội, gồm: Suất Trung lương nhi vệ tam hiệu trang lang tướng, Suất hùng cự khao vệ ngũ hiệu đo ty, Tây kỳ phủ trung tín nhất vệ hộ quân sứ vinh hoa hầu. Một quả ấn hành chính hiếm quý khác, đó là Bằng Tuyền huyện quản lý được đúc năm 1791, đã chứng tỏ đây là vương triều non trẻ nhưng cũng đã xây dựng được một tổ chức quân đội, một thể chế pháp luật, tổ chức chính quyền địa phương khá hoàn chỉnh, nhiều ấn khác đang nằm trong các sưu tập tư nhân". Bên cạnh đó, trên các văn bản còn để lại cho thấy, ấn thời Quang Trung còn có Quảng vận chi bảo được đóng trên tờ chiếu của vua Quang Trung gửi La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, Triều đường chi ấn, Triều đường quan đẳng. Ngoài ra, thời này trên văn bản còn có Nghệ An trấn ký, Nghệ An trấn phủ chương; thời Cảnh Thịnh, Bảo Hưng còn có một số ấn như Thiếu truyền chi ấn, Đại Tư Mã chi ấn, Tiên nhu chi bảo...
TS. Nguyễn Đình Chiến - PGĐ Bảo tàng Lịch sử VN cho biết: "Các quả ấn của vua tức là các kim bảo dưới thời Tây Sơn đến nay không còn nhưng chúng ta có thể được biết nhiều hình dấu trên các bản sắc phong, chỉ, truyền. Khảo sát các bản sắc phong hiện còn lưu giữ tại các bảo tàng và di tích thấy một số dấu sau: Quảng vận chi bảo dấu son kích thước 11,5x11,5cm; dấu Triều đường chi ấn 11,3x11,3cm; Hòa nhu chi bảo, Tiên nhu chi bảo 15,2x15,2cm". Đó chính là cơ sở để phục hồi lại các ấn triện. Trên cơ sở đó, TS. Nguyễn Đình Chiến đã kết hợp cùng với nghệ nhân gốm Trần Độ, làng Bát Tràng để thực hiện 5 phác vật ấn triện bằng gốm với kích cỡ đúng như vẫn còn lưu trên các văn bản. Tuy nhiên vấn đề ở đây là tạo hình cho các ấn triện ấy như thế nào? Cuối cùng, họ đã lấy phác thảo quai cầm chính là quai của chuông thời Tây Sơn.
Nhưng phục hồi ấn triện nào, phục hồi trên chất liệu gì là một vấn đề rất được quan tâm. Nhiều nhà khoa học đã có chung một nhận định, ấn triện Quảng vận chi bảo mang tính đặc sắc chỉ có ở thời Tây Sơn nên nếu phục hồi một thì nên phục hồi ấn triện này. Về chất liệu, rất đa dạng, có thể là vàng nguyên chất, bạc, đồng. Tuy nhiên, nếu là vàng rất tốn kém. Nhiều ý kiến nghiêng về việc đúc băng bạc sau đó mạ vàng...

Nguyễn Quang Long
Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

Bộ ảnh "Làng Gốm Bát Tràng"

, , , ...

Bộ ảnh "Làng Gốm Bát Tràng"
Update: 08.03.2011

Blog Battrang 360* - Trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử dân tộc, với sức sống tiềm tàng mãnh liệt cộng với trí óc sáng tạo và sự nhanh nhạy của người dân nơi đây, làng Gốm Bát Tràng như một tấm gương sáng trong việc bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam. Ngày nay, ngoài là làng gốm cổ truyền, trung tâm thương mại, Bát Tràng còn là Làng Văn hoá, Làng du lịch của Thăng Long - Hà Nội.

















Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com
Bộ ảnh tư liệu "Làng gốm Bát Tràng trước năm 1935" - http://battrangvn.blogspot.com/2011/03/bo-anh-tu-lieu-lang-gom-bat-trang-truoc.html

Bộ ảnh tư liệu "Làng gốm Bát Tràng trước năm 1935"

, , , ...

Bộ ảnh tư liệu "Làng gốm Bát Tràng trước năm 1935"
Update: 05.03.2011


Blog Battrang 360* - Đã hơn một lần Blog Battrang 360* giới thiệu với bạn đọc về bộ ảnh tư liệu rất quý mà chúng tôi sưu tầm được, hướng tới Hội Xuân truyền thống của làng gốm Bát Tràng 14-15.02 Tân Mão (18-19.03.2011) và triển lãm ảnh "Bát Tràng, bến nước quê tôi" xin được giới thiệu lại. Toàn bộ chú thích tôn trọng bản quyền tác giả xin được giữ nguyên.

1. Nhào đất và cắt thành phiến mỏng


2. Củi dùng để đốt lò nung do các lái thuyền từ các nơi chở đến bán


3. Đất đã đặt trên bàn xoay và nặn thành hình lọ


4. Thợ đang tô màu một pho tượng bằng đất


5. Nghiền đá trắng và dây thành bột


6. Sửa soạn để tráng bột cao lanh lên lọ


7. Tráng men và phơi khô


8. Đồ gốm đang chuyển vào lò nung



Ảnh chụp trước năm 1935, không rõ tác giả, chú thích ảnh từ bản gôc

Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

Triển lãm “Bát Tràng, bến nước quê tôi”

, , , ...

Triển lãm “Bát Tràng, bến nước quê tôi”.
Update: 04.03.2011

Ảnh Bến Đình Bát Tràng trước năm 1935


Blog Battrang 360* - 150 bức ảnh, ghi lại cuộc sống bình dị của người dân làng gốm xung quanh Bến Đình xưa và nay sẽ ra mắt du khách trong một cuộc triển lãm với tên gọi “Bát Tràng, bến nước quê tôi”.
Khai mạc ngày 14-3 tại sân đình làng Bát Tràng. Cuộc trưng bày được tổ chức với mong muốn du khách đến với Bát Tràng trong thời gian không lâu nhưng vẫn có thể thấy hình ảnh bến nước với những thời khắc khác nhau, được quan sát dưới những góc độ khác nhau.
Đây cũng là dịp để các kiến trúc sư, họa sĩ, các nhà hoạt động nghệ thuật và đông đảo công chúng yêu mến Bát Tràng quan tâm hơn, đóng góp nhiều sáng kiến hơn làm đẹp bến Đình - cửa ngõ từ sông Hồng bước vào làng Bát Tràng. Cuộc triển lãm do Hội Kiến trúc sư Việt Nam và Trung tâm Hành động vì sự phát triển đô thị phối hợp thực hiện.

Yên Vân
Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

Nghệ nhân Trần Văn Độ: Một tài hoa giữ hồn gốm cổ

, , , ...

Nghệ nhân Trần Văn Độ: Một tài hoa giữ hồn gốm cổ
(Update: 03.03.2011, GMT: +7)



Blog Battrang 360* - "Trần Văn Độ là một nghệ nhân gốm sứ Hà Nội có nhiều thành tích đóng góp vào sự phát triển gốm sứ truyền thống Bát Tràng và đã được Trung ương, cũng như chính quyền thành phố thường xuyên quan tâm và giao nhiệm vụ thực hiện các sản phẩm gốm phục vụ công tác đối ngoại", ông Lê Xuân Phô, Chủ tịch Hội Gốm sứ Bát Tràng giới thiệu.
Công tác ở Hà Nội đã hơn 40 năm, vậy mà mãi đến một ngày cuối năm tôi mới đặt chân đến làng gốm Bát Tràng; mặc dù cái làng nghề ấy chỉ cách trung tâm Hà Nội chừng 10km. Vì lần đầu tiên đặt chân đến làng Bát Tràng nên vừa đến đầu làng, tôi đã phải hỏi thăm địa chỉ cần đến; song thật không ngờ, làng Bát Tràng rộng là thế, dọc 2 bên các con đường, ngõ xóm san sát hàng, quán trưng bày la liệt các loại hàng gốm sứ; nhưng vừa hỏi đến tên nghệ nhân Trần Văn Độ thì ai cũng biết và nhiệt thành chỉ dẫn đường đi. Qua những cử chỉ ấy, tôi hiểu thương hiệu của "ông vua men gốm" này giờ đây đã ra sao?
Nhà nghệ nhân Trần Văn Độ nằm ở giữa khu chợ gốm của làng nghề Bát Tràng. Như nhiều gia đình khác ở cái làng nghề này, gia đình ông cũng có một cửa hàng rộng chừng 20m2 trưng bày các sản phẩm để vừa giới thiệu và quảng bá cho du khách trong và ngoài nước, vừa là nơi giao dịch bán buôn, bán lẻ cho các khách hàng. Còn bên trong là các căn phòng trưng bày hàng trăm các loại sản phẩm đủ loại. Có sản phẩm đã hoàn thiện từ khâu đầu đến khâu cuối. Có sản phẩm mới dừng lại ở phần thô. Còn xưởng chế tác thì ở các gian nhà phía sau.
Nghệ nhân Trần Văn độ đón và tiếp chúng tôi tại phòng khách của gia đình rộng chừng hơn 50m2. Đây là nơi ông tiếp các đoàn khách đến tham quan, giao dịch làm ăn, vừa trưng bày các tác phẩm mà tôi cho rằng nó cũng đáng được gọi là tác phẩm nghệ thuật do đích thân nghệ nhân nghiên cứu, chế tác; trong đó nổi lên là những tác phẩm mà ông đã phải đổ không biết bao mồ hôi, công sức để phục chế từ thời Lý - Trần - Lê. Thôi thì đủ loại sản phẩm từ chiếc ly hương đến cái chân đèn, bình, lọ, chum, chóe… được thể hiện qua các lớp men rạn, men chẩy qua các màu sắc khác nhau nhằm giữ cho được những văn hoa cổ xưa; giản dị mà thanh thoát.
Trước khi bắt đầu câu chuyện với chủ nhà, tôi xin phép được dành ít phút quan sát và chiêm ngưỡng các sản phẩm đã thành danh của nghệ nhân Trần Văn Độ. Có ẩn phẩm được ông trang trọng để trong tủ kính; các sản phẩm còn lại được trưng bày như thể một gian hàng ở khu triển lãm. Còn 4 bức tường của căn phòng khách là các tấm hình của nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội đến thăm cơ sở sản xuất của gia đình; cạnh đó là các bằng khen, giấy chứng nhận về các giải thưởng mà nghệ nhân Trần Văn Độ được trao tặng từ nhiều cấp, nhiều ngành, cũng như các hội nghề nghiệp. Trong số các bằng khen mà nghệ nhân Trần Văn Độ được trao tặng, tôi để mắt đến tấm bằng khen của Văn phòng Chính phủ do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đoàn Mạnh Giao ký tặng từ năm 2005 tặng nghệ nhân Trần Văn Độ "vì có công làm quà tặng các sản phẩm gốm sứ cho đoàn Thủ tướng thăm chính thức Hoa Kỳ và Canada".
Tôi dừng lại hỏi nghệ nhân Trần Văn Độ: Năm 2005, anh cũng tham gia đoàn doanh nghiệp tháp tùng Thủ tướng nước ta thăm chính thức Hoa Kỳ và Canada?
- Không, nhưng trước đó, tôi vinh dự được các đồng chí lãnh đạo Văn phòng Chính phủ tín nhiệm giao nhiệm vụ sản xuất một số sản phẩm gốm để phục vụ cho chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Phan Văn Khải tại Mỹ và Canada; trong đó có ẩn phẩm: "Đỉnh gốm Bát Tràng thế kỷ XVIII" tặng Tổng thống Mỹ và 2 bình gốm khác tặng Thủ tướng Canada và phu nhân. Khi nhận nhiệm vụ, quả thực khi ấy, tôi vừa mừng, vừa lo. Mừng vì đây không chỉ là một việc hệ trọng liên quan đến tầm quốc gia mà là một vinh dự lớn cho làng gốm Bát Tràng. Do vậy, sau khi được Văn phòng Chính phủ giao nhiệm vụ, tôi đã không quản ngày đêm, suy nghĩ, tìm tòi để thể hiện các sản phẩm của mình làm sao vừa độc đáo lại phải đảm bảo được tính mỹ quan, cũng như tính văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam ta".
Theo nghệ nhân Trần Văn Độ thì trước đó vào năm 2004, ông còn tham gia sản xuất sản phẩm "Bình rượu giả cổ triều Mạc" để tặng các vị trưởng đoàn các nước tham dự Hội nghị ASEM 5. Năm 2006, lại theo yêu cầu của lãnh đạo Văn phòng Chính phủ, nghệ nhân Trần Văn Độ lại được giao nhiệm vụ chế tác sản phẩm gốm để Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tặng Nhà vua Nhật Bản.
Tương tự như thế, năm 2007, nhân chuyến thăm Cộng hòa Pháp của Thủ tướng nước ta, ông lại được giao thực hiện các tác phẩm gốm sứ để Thủ tướng làm quà tặng cho các chính khách nước Pháp. Ngoài ra ông còn có nhiều sản phẩm được tuyển chọn để trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Hà Nội; Bảo tàng thành phố Điện Biên Phủ; Cung đình Huế; Khu Văn Miếu Quốc Tử Giám… Ông bảo rằng, đây chính là cơ hội để những người nghệ nhân như ông thể hiện được nét đặc trưng về đất nước và con người Việt Nam.
Nghệ nhân Trần Văn Độ bảo rằng, có 6 anh em thì cả 6 người đều tiếp nối nghề làm gồm của cha mẹ. Giờ đây, sau những tháng ngày lao động vất vả, họ đều là các chủ lò gốm ở làng nghề Bát Tràng. Riêng đối với nghệ nhân Trần Văn Độ, ngay từ năm lên 9 tuổi, anh đã được cha mẹ truyền nghề. Năm 1982, Sau 2 năm làm tròn nghĩa vụ quân sự, Trần Văn Độ trở về làng. Tại đây được tiếp nhận là công nhân, sau đó, là cán bộ kỹ thuật rồi quản đốc phân xưởng của Xí nghiệp Gốm sứ Bát Tràng. Sau một thời gian làm việc tại đây, năm 1989, anh quyết định mở lò sản xuất các sản phẩm gốm cho riêng mình. Ra ở riêng, cái khó ló cái khôn, nhà đông anh em, khi dựng nghiệp, trừ bàn tay khối óc, còn lại tất tần tật mọi cái Trần Văn Độ phải đi thuê. Đã vậy tình hình trên lại rơi vào thời điểm "vợ ốm, con đau", kinh tế gia đình kiệt quệ.
Nhưng rồi anh nói: "Chính lúc khó khăn nhất thì lại là lúc anh thành công nhất". Đó là việc cho ra đời dòng men ngọc. "Ở làng gốm Bát Tràng, mỗi người thợ, mỗi một gia đình làm nghề gốm đều có sở trường khác nhau. Có người chú ý nhiều về đường nét sao cho nước men sáng màu, ít vẽ trang trí. Có người lại chỉ để tâm đến những kiểu tráng men 2 lớp trong một sản phẩm hoặc sáng tạo để cho ra lò những đồ gốm thô, gốm men chẩy. Riêng tôi chọn cho mình một lối đi riêng. Đó là việc tìm tòi phục chế những hình khối, màu men cổ" - nghệ nhân Trần Văn Độ nói.
Sau thành công ấy, anh đã đưa vào sản xuất đại trà các sản phẩm gốm nhằm tiêu thụ ở thị trường trong nước và nước ngoài. Đến nay trong gia tài của nghệ nhân này đã có hơn 70 loại men cổ. Riêng dòng men ngọc, nghệ nhân Trần Văn Độ đã sở hữu tới 12 công thức pha chế khác nhau, trong số đó dòng men nâu trầm từ trước đến nay chưa hề xuất hiện ở Bát Tràng. Nhờ pha chế thành công loại men này nên anh đã phục chế lại hàng trăm sản phẩm gốm cổ từ thời: Lý - Trần - Lê. Cũng sử dụng dòng men này, thời gian qua, anh đã phục chế thành công 50 hiện vật và đã cung tiến cho Ban Quản lý di tích Đền Hùng (Phú Thọ); Đền Đô (Bắc Ninh); Đền Cổ Loa; khu di tích vua Lê và Trung tâm Văn hóa - Khoa học Văn Hiến (Hà Nội).
Nghệ nhân Trần Văn Độ khi tiếp xúc với chúng tôi bảo: Nếu như với loại men ngọc đã chiếm được sự ưa chuộng của các khách hàng châu Âu, thì loại men nâu, tôi cũng giành được nhiều hợp đồng của các doanh nhân người Nhật. Lẽ đương nhiên, đã cho ra đời được những loại men ấy, người nghệ nhân này đã phải đổ bao mồ hôi, nước mắt. Nó được chắp nối từ những ý tưởng chợp chờn trong lúc tỉnh, lúc mơ, như một thứ sắc màu của ảo ảnh, phải nhìn bằng con mắt của cõi "tâm" mới thấy hết được những cao siêu, thoát tục của nó.
Trần Văn Độ bảo, trong dịp đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, anh đã tham gia cuộc trưng bày sản phẩm gốm tại khu di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Tại cuộc triển lãm này, cơ sở sản xuất của anh sẽ trưng bày bộ sưu tập gồm 1.000 sản phẩm, hay nói đúng hơn là 1.000 tác phẩm nghệ thuật bằng gốm. Qua các sản phẩm ấy sẽ giúp du khách trong và ngoài nước hiểu thêm về lịch sử, văn hóa của Thủ đô ngàn năm văn hiến, hiểu thêm về nền văn hóa đậm đà bản sắc của dân tộc Việt Nam, bởi đứng bên cạnh các nghệ nhân như Trần Văn Độ trong bộ sưu tập này là các nhà nghiên cứu lịch sử.
Sau cuộc trưng bày triển lãm này, bộ sưu tập về các sản phẩm gốm nói trên sẽ được đưa về trưng bày tại khuôn viên Đại học Tân Tạo ở tỉnh Long An. Qua các cuộc triển lãm trưng bày này, nghệ nhân Trần Văn Độ hy vọng các sản phẩm gốm ấy sẽ góp phần tôn vinh truyền thống văn hóa, lịch sử của dân tộc Việt Nam ta đối với bạn bè thế giới, giáo dục các thế hệ trẻ nước ta lòng yêu nước, tự hào và tự tôn dân tộc.
Nghệ nhân Trần Văn Độ khẳng định: "Thành công của tôi hôm nay phần lớn nhờ vào sự nỗ lực của bản thân, tự mình tìm tòi học hỏi trau dồi nghề nghiệp và đặc biệt là sự giúp đỡ, chỉ bảo của lớp tiền bối đi trước. Các sản phẩm gốm Bát Tràng tuy thô sơ, song lại rất có hồn và đặc tả được những đường nét hoa văn mang bản sắc riêng của gốm Bát Tràng Việt Nam. Tôi tự hào là một người con đất Việt và nguyện sẽ cố gắng học hỏi hơn nữa để nâng cao tay nghề để tiếp tục cho ra lò các sản phẩm mang cốt cách truyền thống làng nghề Bát Tràng nói riêng và của quê hương Việt Nam nói chung".
Còn Chủ tịch Hội Gốm sứ Bát Tràng ông Lê Xuân Phô khi đề cập đến nghệ nhân Trần Văn Độ đã nhận xét: "Trần Văn Độ là một nghệ nhân gốm sứ Hà Nội có nhiều thành tích đóng góp vào sự phát triển gốm sứ truyền thống Bát Tràng và đã được Trung ương, cũng như chính quyền thành phố thường xuyên quan tâm và giao nhiệm vụ thực hiện các sản phẩm gốm phục vụ công tác đối ngoại". Có lẽ vì thế mà người ta gọi nghệ nhân Trần Văn Độ là một "phù thủy" của đất, nước và lửa, một tài hoa giữ hồn gốm cổ xem ra cũng không sai.
Theo CAND ONLINE
Posted by Gia Thanh

BLOG BATTRANG 360*
HTTP://BLOGBATTRANG.TK
http://battrangvn.blogspot.com

Kỷ lục Việt Nam: Lọ lộc bình bằng gốm Bát Tràng cao nhất

, , , ...

Kỷ lục Việt Nam: Lọ lộc bình bằng gốm Bát Tràng cao nhất
Update: 02.03.2011


Blog Battrang 360* - Lọ lộc bình này cao 3,4m, đường kính thân lọ 0,98m, nặng 220kg được xác nhận là Lọ lộc bình bằng gốm Bát Tràng cao nhất Việt Nam.

Chào mừng Thăng Long - Hà Nội 1.000 năm tuổi, anh Lê Minh Ngọc đã suy nghĩ và cùng với 12 người của thôn Bát Tràng thực hiện một lọ độc bình cao 3,4m, đường kính thân lọ 0,98m, nặng 220kg.

Anh Lê Minh Ngọc là người sinh ra trong một gia đình làm nghề gốm lâu đời của làng nghề gốm Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội.

Lọ độc bình đã được các anh làm trong suốt 30 tháng và đến cuối năm 2009 mới hoàn thành. Đặc điểm của lọ độc bình làm bằng chất liệu cao lanh đất sét với nét màu cobalt truyền thống thể hiện những họa tiết của cảnh chùa chiền, của cây tùng cổ thụ. Về hình dáng, lọ lộc bình cao 3,4m, đường kính thân lọ 0,98m, nặng 220kg.

(Theo 24h)
Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com
Ngày 14-15.02 Tân Mão (18-19.03.2011) Lễ hội truyền thống làng gốm Bát Tràng

Sân chơi gốm Vuốt nặn vẽ

, , , ...

Sân chơi gốm Vuốt nặn vẽ
Update: 01.03.2011


Blog Battrang 360* - Sân chơi gốm có nhiều tên gọi khác nhau "Vuốt nặn vẽ", "Tự tay làm gốm", "Một ngày làm nghệ nhân làng gốm"... xuất hiện và nở rộ tại Bát Tràng từ vài năm trở lại đây. Đây là một dịch vụ thu hút rất đông các bạn sinh viên, học sinh. Giá cả mềm mại, lại được thoả trí sáng tạo và lại được mang sản phẩm do bàn tay mình làm ra mang về nên các sân chơi gốm tại Bát Tràng ngày nào cũng đông khách. Nhiều sân chơi gốm được các trường học đặt làm địa điểm tham quan, giúp các em học sinh cảm nhận được giá trị của lao động, phát huy trí sáng tạo. Bộ ảnh dưới đây Blog Battrang 360* xin được giới thiệu về một sân chơi như thế:










Ảnh (Sưu tầm)
Bài viết: Gia Thanh


BLOG BATTRANG 360*:
HTTP://BLOGBATTRANG.TK
HTTP://BATTRANGVN.BLOGSPOT.COM

Gốm Trần Độ - Nét văn hóa của người Việt

, , , ...

Gốm Trần Độ - Nét văn hóa của người Việt
Update: 28.02.2011


Blog Battrang 360* - Triển lãm “Gốm Trần Độ - Hồi cố và thể nghiệm” đang diễn ra tại Văn Miếu Quốc Tử Giám với khoảng 500 tác phẩm gốm, là sự miêu tả, phản ánh đặc sắc về nền văn hóa Việt Nam qua nhiều triều đại.

Sản phẩm mang đậm nét văn hóa của người Việt
Đây là không chỉ là món quà tâm huyết của nghệ nhân và những người con Bát Tràng gửi đến Thành Hoàng Làng mà còn là món quà thiết thực của người nghệ nhân tài hoa Trần Độ gửi đến Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
Đồng chí Trần Chiến Thắng, Thứ trưởng Bộ văn hóa thể thao và du lịch khi được chiêm ngưỡng các tác phẩm gốm của nghệ nhân Trần Độ đã nhận xét: Sinh ra và lớn lên trong làng nghề gốm truyền thống Bát Tràng có bề dày gần 600 năm lịch sử, nghệ nhân Trần Độ đã sớm có niềm đam mê với gốm. Sản phẩm của anh đã hội tụ được nhiều nét dáng của các dòng gốm cổ Việt Nam trong các thế kỷ trước đây. Anh chăm chỉ chiêm ngẫm nhiều mẫu dáng gốm trưng bày trong các bảo tàng hay trong các sưu tập gốm riêng của bạn bè, tiếp xúc học hỏi với các chuyên gia nghiên cứu gốm đầu ngành và cần mẫn tìm hiểu về những hoa văn, những màu men cổ. Cũng vì thế, xem gốm Trần Độ chúng ta sẽ thấy bóng dáng của gốm men ngọc thời Lý, gốm hoa nâu thời Trần, gốm hoa lan thời Lê và gốm men rạn thời Lê-Nguyễn, như là một “đặc sản” chỉ có riêng gốm Bát Tràng quê anh.

Thật vậy, đến Triển lãm Gốm Trần Độ - Hồi cố và thể nghiệm người xem mới được chiêm ngưỡng những tác phẩm gốm mang “bóng dáng” của người Việt cổ qua nhiều triều đại thực sự có giá trị. Các sản phẩm gốm được trưng bày tại Triển lãm lần này là những sản phẩm như các loại ấm rượu, ché, cặp chóe, các mẫu thạp chạm khắc, bình gốm hoa lam, các loại chân đèn, lư hương… mang hồn của Bát Tràng xưa, mang hơi thở của truyền thống gốm sứ Việt. Bên cạnh những mẫu gốm tạo dáng và trang trí kế thừa truyền thống phẩm của nghệ nhân Trần Độ còn trở nên đặc sắc với những màu men mới như màu men chảy, màu thúy lam, màu men đỏ…
Nghệ nhân Trần Độ cho biết, ông đang nỗ lực hoàn thiện tác phẩm cụ Rùa Hồ Gươm như món quà nghệ thuật chào mừng kỷ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội. Đó là hình ảnh một cụ Rùa lịch sử bằng gốm sứ với những nét độc đáo và mang đậm hồn cốt của Bát Tràng nói riêng và của Việt Nam nói chung.

Người nghệ nhân tài hoa
Nghệ nhân Trần Độ sinh ra và lớn lên tại xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Vào nghề từ năm 10 tuổi, cho đến nay nghệ nhân Trần Độ có nhiều tác phẩm gốm tụ hội tinh hoa truyền thống và đổi mới, tham gia nhiều cuộc trưng bày triển lãm ngành nghề thủ công mỹ nghệ, được các cấp, các ngành Trung ương và thành phố Hà Nội tăng thưởng nhiều giải thưởng nổi tiếng. Năm 2003, Trần Độ được tăng danh hiệu Nghệ nhân Hà Nội. Từ năm 2004 đến nay, nhiều tác phẩm gốm của nghệ nhân đã được lựa chọn làm quà tặng ngoại giao của Chính phủ nước ta. Trần Độ là người duy nhất được chọn thực hiện lô hàng đặc biệt gồm 219 món đồ cổ lưu tại Bảo tàng Nghệ thuật, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.
Mai An Khánh (TĐKT)
Posted by Gia Thanh

BLOG BATTRANG 360*
HTTP://BLOGBATTRANG.TK
HTTP://BATTRANGVN.BLOGSPOT.COM

Người chế tác thành công ấm Tử Sa

, , , ...

Người chế tác thành công ấm Tử Sa
Update: 26.02.2011


Blog Battrang 360* - Nghệ nhân Vương Mạnh Tuấn bên chiếc vò rồng. KTNT - Sinh năm 1964, nghệ nhân Vương Mạnh Tuấn ở Bát Tràng (Gia Lâm - Hà Nội) đã có gần 40 năm gắn bó với nghề gốm. Anh cũng là người pha chế thành công loại đất làm ấm Tử Sa không thua kém chất đất ở Nghi Hưng (Giang Tô - Trung Quốc), quê hương của chiếc ấm Tử Sa huyền thoại. Hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, anh sáng tác 2 tác phẩm: Vò rồng và bình chạm hoa văn.
“Duyên nợ” ấm Tử Sa
Về làng gốm Bát Tràng bây giờ, tìm mua một bộ ấm Tử Sa không quá khó. Một người dân tiết lộ: “Muốn hiểu rõ về ấm Tử Sa, các chú cứ đến nhà anh Tuấn là biết hết”.
Tìm đến nhà nghệ nhân tài ba này không khó lắm. Người qua đường đi qua trước cổng thấy hàng trăm bộ ấm chén phơi trước sân cũng đoán được chủ nhân của nó am hiểu về nghệ thuật trà đạo đến mức nào.
Dáng người gày, mảnh khảnh, đầu đội mũ phớt trắng, thể hiện nét phong trần nghệ sỹ, Vương Mạnh Tuấn cho biết: “Trước đây, để có một bộ ấm Tử Sa, người mua phải đặt hàng tận Trung Quốc, nhiều khi còn mua phải hàng giả. Bây giờ, không cần sang Giang Tô nữa, ở Bát Tràng cũng có ấm Tử Sa rồi”. Vừa nói anh vừa dẫn chúng tôi vào xưởng sản xuất gốm đang rào rào tiếng máy quay đất, bên trong cả chục người thợ miệt mài cho ra đời những bộ ấm Tử Sa đã được đặt hàng.
Anh Tuấn cho biết, sở dĩ ấm Tử Sa quý hiếm, được người đời trân trọng là bởi ấm, chén Tử Sa khi soi lên thấy ánh cát lấp lánh, gõ kêu như chuông. Người mê trà đạo, thích phong cách cổ kính rất quý loại ấm độc đáo này. Đặc biệt, màu men của gốm do tự đất sinh ra, nung ở nhiệt độ cao, cứng như đá, càng dùng càng bóng, màu sắc nâu bóng như đồng.
Sinh ra tại Bát Tràng, mảnh đất có truyền thống làm nghề gốm sứ; lên 10 tuổi Tuấn đã theo bố và các chú trong làng đi quay đất, nặn gốm. Ngày nào Tuấn cũng tự mày mò đắp nặn từng khối đất sét thành những sản phẩm của riêng mình như: con heo đất, chiếc ấm, nồi đất, chiếc điếu... Năm 1978, anh bắt đầu vào làm công nhân cho phân xưởng mỹ nghệ của Xí nghiệp Gốm sứ Bát Tràng. Năm 1988, Tuấn bắt đầu mở lò gốm tại nhà. Lúc ấy, không ít người lo ngại, bởi anh chưa qua một trường lớp đào tạo nào về gốm sứ. Tuấn giải thích, điều quan trọng của người làm gốm là phải có tư duy hình khối nghệ thuật và sự đam mê hiểu biết về chất liệu. Khác với mọi người trong làng chỉ chú trọng khâu sản xuất, Tuấn dành nhiều thời gian đi tìm chất liệu mới, đó là đất. Suốt một thời gian dài Tuấn lang thang khắp nơi, hễ nghe ở đâu có gốm sứ là anh đến, từ Phù Lãng (Bắc Ninh), Quế Quyển (Hà Nam), Chu Đậu (Hải Dương) đến tận Nghi Hưng (Trung Quốc). Lần nào trở về, Tuấn cũng mang theo một ít đất để tìm hiểu, nghiên cứu.
Tuấn tiết lộ, đất làm ấm Tử Sa được lấy ở Quế Quyển, nhưng quan trọng là cách thức pha chế, kết hợp với các loại đất khác để có độ dai, dẻo, bền lâu như chất đất ở Giang Tô. Đất đạt yêu cầu làm ấm Tử Sa phải chịu được nhiệt độ nung cao đến 1.2000C.
Ấm Tử Sa của Tuấn vừa tung ra thị trường đã nhanh chóng được người tiêu dùng ưa chuộng bởi chất liệu mới lạ, hình khối tinh xảo, đặc biệt càng dùng càng bóng nhờ nước men độc đáo. ấm Tử Sa ở Bát Tràng có nhiều chủng loại khác nhau với giá thành từ vài trăm ngàn đến hàng triệu đồng /bộ mà chất lượng không thua kém gì ở Giang Tô.
Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội
Nói về 2 tác phẩm mừng Đại lễ, bình chạm hoa văn và chiếc vò rồng, Tuấn bảo, chiếc vò rồng có chiều cao 1,5m, sử dụng chất liệu men rạn truyền thống và đắp nổi rồng uốn lượn, nổi lên từng chiếc vẩy, từng ngón chân sắc nhọn, tượng trưng cho khí thế vươn lên mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam. Chiếc bình chạm hoa văn cao 1,3m lại thể hiện tích cớ, tất cả các chi tiết khắc và đắp nặn đều được thao tác bằng tay, rõ nét tinh xảo đến từng vân chữ. Giữa bình được chạm khắc bài thơ Sấm ngôn ca ngợi công lao to lớn của các vua đời Lý sau khi dời đô về Thăng Long. Cả hai sản phẩm trên đều được tạo nên từ chất liệu men truyền thống.
Là nghệ nhân trẻ tuổi nhất trong làng, Mạnh Tuấn nói về mình rất khiêm tốn, thế nhưng ai cũng hiểu tên tuổi anh đã gắn liền với chất men làm ra chiếc ấm Tử Sa. Anh bảo rằng: “Tôi vẫn không ngừng tìm tòi, sáng tạo những chất liệu mới, tác phẩm mới, để thỏa lòng mình và để gốm sứ Bát Tràng sống mãi với thời gian”.

D. Phong - P. Kiên
Posted by Gia Thanh


Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

Nặng lòng với dòng gốm cổ

, , , ...

Nặng lòng với dòng gốm cổ
Update: 25.02.2011


Blog Battrang 360* - Sinh năm 1977, tuy là người khuyết tật nhưng anh Phạm Anh Đạo ở xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm đã là chủ một gia sản mà không phải thanh niên bình thường nào cũng có được. Anh còn được xem là một trong những người thợ gốm Bát Tràng đầu tiên quay lại truyền thống với nghề gốm vuốt và nặn bằng tay.

Không được may mắn học hành thành đạt như chúng bạn cùng trang lứa nên ngay từ nhỏ, anh Đạo đã đam mê học nghề gốm truyền thống bằng sự cảm nhận tinh tế của bàn tay khéo léo. Đạo còn nhớ, khi mới cưới vợ, bố mẹ cho ra ở riêng khó khăn trăm bề. Lúc đó, kinh tế hộ làm gốm ở Bát Tràng đang sa sút vì sản phẩm của địa phương bị gốm công nghiệp lấn át, nhiều thợ giỏi trong làng bỏ hẳn nghề của tổ tiên truyền dạy, xoay sang làm gốm theo kiểu công nghiệp. Riêng anh vẫn đeo đuổi sản phẩm vuốt bằng tay dù lúc đó rất khó cạnh tranh với hàng công nghiệp. Anh cho rằng, nếu ai cũng chỉ vì thu nhập mà bỏ nghề cổ truyền thì làm gì còn bản sắc riêng của Bát Tràng, nên dù khó đến mấy anh cũng cố giữ lấy nghề và để khắc phục được điểm yếu này, vợ chồng anh chỉ chuyên sản xuất một dòng sản phẩm nhất định cho một số khách hàng "ruột".

Ngoài sản xuất theo mẫu do khách đặt, những lúc rảnh rỗi, Đạo lại tự nghĩ, tự làm những mẫu anh thích như phục chế gốm hoa nâu Lý - Trần, gốm men lam, men nước dưa, nước dong, men rạn… Anh còn mày mò làm chóe, thạp, ấm tích, độc bình với những nét hoa văn độc đáo… Một trong những sản phẩm tiêu biểu là đôi choé cao trên 2m, 2 người ôm không xuể vừa góp mặt tại triển lãm làng nghề chào mừng Hà Nội 1000 năm tuổi được khách trong và ngoài nước khen ngợi.

Với ý chí "tàn nhưng không phế", Phạm Anh Đạo đã tích cực góp phần thuyết phục nhiều thợ gốm Bát Tràng quay lại với nghề vuốt gốm cổ truyền thống, tạo cho làng nghề những sắc thái riêng biệt. Vì thế, mỗi dịp làng có hội hay khách quý ghé thăm, anh Đạo đều được mời biểu diễn kỹ thuật vuốt gốm bằng tay và hiện anh là người thợ giỏi nghề gốm vuốt và nặn bằng tay có tuổi đời trẻ nhất làng với doanh thu mỗi năm hàng tỷ đồng. Sản phẩm của anh không chỉ được nhiều doanh nghiệp trong nước ưa chuộng mà còn xâm nhập được những thị trường khó tính như Nhật Bản và các nước Tây Âu. Với những đóng góp tích cực cho sự phát triển của làng nghề, anh Đạo đã được nhiều cấp, nhiều ngành tặng bằng khen, giấy khen.
Minh Liễu
Posted by Gia Thanh


Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

Muốn cho hồn dân tộc được thăng hoa

, , , ...

Nghệ nhân làng gốm Bát Tràng Vũ Đức Thắng: “Muốn cho hồn dân tộc được thăng hoa”
Update: 23.02.2011[/B]

Blog Battrang 360* - Sinh ra và lớn lên tại làng nghề làm gốm nổi tiếng – xứ Bát Tràng, nghệ nhân Vũ Đức Thắng đã say mê tìm tòi, lao động và cống hiến cho chính cái nghề mà cha ông để lại, để như ông nói, “muốn cho hồn dân tộc được thăng hoa”.
Phóng viên Laodong.com.vn đã có cuộc trò chuyện đầy thú vị với ông.
- Đã sống và gắn bó với mảnh đất làm gốm Bát Tràng, chắc hẳn cái “nghiệp gốm” của ông cũng xuất phát từ đó?
Gia đình tôi cũng như bao gia đình khác trong làng, khi con cái lớn lên đều bày được cha mẹ bày vẽ cho cách thức làm gốm. Ngày nhỏ, ngoài thời gian đi học, hàng ngày tôi vẫn phụ gia đình làm gốm. Nhưng những lúc đó chưa hề có ý thức hay ý định sau này sẽ tiếp nối nghề như bây giờ đâu.
Kể cả sau này học xong Cao đẳng Mỹ thuật công nghiệp, nhưng tôi lại học bên khoa hội họa. Ra trường, vì chưa tìm được công việc bên ngành hội họa nên về làng nghề làm gốm để kiếm sống. Và không ngờ, từ chỗ mình làm để mà sống dẫn đến sự đam mê thực sự.
Nói thật là, cũng phải đến những năm 26, 27 tuổi thì những ý thức về nghề mới bắt đầu đến độ chín thực sự.
- Để có được những tác phẩm gốm đầy tài hoa, theo ông, người nghệ nhân cần tích góp được những điều gì?
Không riêng gì nghề gốm mà theo tôi trong tất cả các ngành nghề khác, người nghệ nhân muốn làm một sản phẩm tốt phải xuất phát từ lòng yêu nghề. Ngoài ra còn sự dấn thân, quả quyết và một yếu tố nữa là luôn làm mới mình.
Ở mỗi tác phẩm gốm gửi gắm tất cả những nhiệt huyết của người nghệ nhân vào từng sản phẩm – những đứa con tinh thần. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thôi thì tôi e rằng chỉ đạt được một cái gì đó cứ bình bình, cái tôi muốn nói xa hơn là tự làm mới mình tức luôn biết nắm bắt nhu cầu, thị hiếu và thị trường.
Nhưng suy cho cùng, theo tôi, tất cả phải gắn với cái hồn của dân tộc, nghề gốm là nghề truyền thống của dân tộc nên nó chỉ đẹp khi mang những nét của dân tộc mình.
- Trên con đường gắn với nghề làm gốm của mình, ông cho rằng, làm gốm ứng dụng hay làm gốm nghệ thuật sẽ là con đường đi tốt nhất?
Câu hỏi mà bạn đặt ra không chỉ là một câu hỏi khó đối với riêng nghề gốm mà còn với nhiều nghề truyền thống khác nữa.
Thực tế những năm tôi vừa tốt nghiệp ngành hội họa, tôi đã quay về làm gốm ở nhà nhưng cũng chỉ làm những sản phẩm ứng dụng để bán, hoàn cảnh gia đình không cho phép chất nghệ sĩ trong mình bay bổng được. Mãi đến sau này, khi ổn định hơn một tý, tôi cũng đã tính đến làm những sản phẩm gốm nghệ thuật để thỏa mãn phần nào những sáng tạo của mình. Và không ngờ, sau cuộc triển lãm đầu tiên, những sản phẩm đó đã bán được với giá rất cao. Tôi nhận ra răng, làm gốm nghệ thuật là một con đường đi hẹp, nhưng không phải là không có lối thoát.
Như bạn thấy đấy, thời bây giờ đời sống mọi người đã khá giả hơn, người ta cũng có nhu cầu thưởng thức cái đẹp cao hơn chứ.
- Đã được nhiều người biết đến với tài đắp nổi và khắc hoa văn trên gốm, vốn không ít nghệ nhân làm được, gần đây người ta lại biết anh với tư cách là tác giả của những chiếc bình gốm có khắc thơ (bằng cả chữ Nôm và chữ Hán). Có phải anh đang muốn kết hợp hai cái “hồn dân tộc” lại với nhau?
Lúc tôi nhận lời đề nghị của Hội Nhà văn làm những cái bình gốm có khắc thơ để trưng bày tại Văn Miếu Quốc Tử Giám trong dịp Ngày thơ Việt Nam thì thời gian quá ngắn. Tôi không giám chắc là mình sẽ thành công. Biết bao điều rủi ro có thể xảy ra trong quá trình làm, khó khăn nhất là việc khắc thơ lên gốm, gồm cả chữ Hán, chữ Nôm. Tuy mạo hiểm nhưng mình vẫn kiểm soát được bằng sự lựa chọn táo bạo, nghiêm túc. Cứ nghĩ đến việc những đứa con tinh thần của mình được trưng bày ở nơi trang nghiêm nhất để mọi người chiêm ngưỡng thì lòng tôi lại thôi thúc.
Sự kết hợp giữa gốm và thơ, cũng là một sự kết hợp đầy thú vị đấy chứ!
Đây lại là một trong những chương trình hướng tới Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội nên tôi đã rất tâm huyết khi làm những sản phẩm này.
- Nhắc đến 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, xin hỏi ông cùng những nghệ nhân của làng gốm Bát Tràng đã chuẩn bị những gì cho dịp đại lễ long trọng này, thưa ông?
Năm ngoái tôi đã đúc xong 2 bình gốm khổ lớn cao gần 1m đều được đắp nổi hoa văn. Một bình là những sự kiện lịch sử nổi tiếng của dân tộc, một bình lại là những địa danh, thắng cảnh đẹp và là biểu trưng của đất nước.
Càng gần đến ngày Đại lễ, càng có nhiều công việc phải làm. Loạt sản phẩm sẽ trưng bày trong Triển lãm làng nghề truyền thống mà những tác phẩm đặc sắc nhất sẽ được tặng cho UBND TP Hà Nội…
Tôi cùng những người nghệ nhân ở Bát Tràng đang cố gắng dốc hết sức lực góp công vào để quảng bá hình ảnh làng gốm nói riêng và thủ đô Hà Nội nói chung trong những tháng năm lịch sử này.
Xin cảm ơn ông!

Thái Anh (thực hiện)
Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com


Kỷ lục Việt Nam: Chiếc chóe men rạn lớn nhất

, , , ...

Kỷ lục Việt Nam: Chiếc chóe men rạn lớn nhất
Update: 22.02.2011

Blog Battrang 360* - Kích thước của chiếc chóe cao 2,4m (từ đỉnh đến chân), đường kính 1,25m, nặng 200kg.

Chiếc chóe gồm hai bộ phận: thân và nắp chóe được các người thợ làng nghề làm theo dạng men rạn giả cổ. Trên thân vẽ tích "Vinh quy bái tổ" với màu lam cổ. Kích thước của chiếc chóe cao 2,4m (từ đỉnh đến chân), đường kính 1,25m, nặng 200kg.
Vào thời phong kiến, người học trò sau thời gian dùi mài kinh sử đều mong được đến ngày "Vinh quy bái tổ". Đây không chỉ là mong ước "Ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau"của các sĩ tử ngày xưa mà còn thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn" với tấm lòng kính nhớ tổ tiên, bái tạ người thầy đã dạy dỗ mình nên người và tri ân quê hương chôn nhau cắt rốn.
Cảm xúc trước tích chuyện thời xưa, anh Lê Minh Ngọc và những người thợ ở xóm 1, thôn Bát Tràng, xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội đã thực hiện một chiếc chóe men rạn có kích thước lớn mà trên thân chóe thể hiện tích chuyện này. Chiếc chóe gồm hai bộ phận: thân và nắp chóe được các người thợ làng nghề làm theo dạng men rạn giả cổ. Trên thân vẽ tích "Vinh quy bái tổ" với màu lam cổ. Kích thước của chiếc chóe cao 2,4m (từ đỉnh đến chân), đường kính 1,25m, nặng 200kg.
Theo 24h
Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

Khám phá sông Hồng

, , , ...

Khám phá sông Hồng
Update: 21.02.2011


Blog Battrang 360* - Cách Hà Nội 28km, những đôi lứa yêu nhau tới đây đặt cho đền thờ Tiên Dung - Chử Đồng Tử một cái tên lãng mạn: "Ngôi đền tình yêu". Bên kia sông là bãi Tự Nhiên...
Khởi hành từ bến Chương Dương (Hà Nội), cảm nhận đầu tiên của tôi khi đặt chân lên tàu là một không gian trong lành đan xen cảm xúc "háo hức" khi bắt đầu hành trình khám phá những giá trị văn hoá lịch sử và cuộc sống thanh bình của người dân bên bờ sông Hồng.
Gió thổi lồng lộng mang theo hơi thở, sức sống của dòng sông chở nặng phù sa. Tàu nhẹ nhàng lướt đi, cầu Thanh Trì, rồi làng cổ Bát Tràng - những nơi dường như quen thuộc hàng ngày - nay hiện ra trước mũi tàu dưới góc nhìn thật lạ cùng vẻ đẹp nên thơ, trữ tình.
Tàu ghé vào đền Dầm, đền Đại Lộ - điểm dừng chân đầu tiên - sau khoảng hơn 2 tiếng khởi hành. Đền Dầm cổ kính rêu phong là nơi thờ tự chính Mẫu Đệ Tam. Nơi đây nổi tiếng với cây đa mà ngày xưa, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn buộc ngựa, nghỉ chân.
Khách tham quan sẽ được nghe kể sự tích cây thị nghìn năm trước khi tiếp tục hành trình đến với đền thờ Tiên Dung - Chử Đồng Tử. Cách Hà Nội 28km, những đôi lứa yêu nhau tới đây đặt cho đền một cái tên lãng mạn: "Ngôi đền tình yêu". Bên kia sông là bãi Tự Nhiên, hay bãi Thiên Mạc, tức "Màn trời", nơi xưa kia, theo tích truyện, công chúa Tiên Dung quây màn để tắm và đã gặp chàng Chử Đồng Tử đang vùi mình trong cát...
Điểm đến tiếp theo nằm trên đường về, ngược dòng Hồng Hà là làng cổ Bát Tràng - nơi nổi tiếng với những sản phẩm gốm sứ tuyệt đẹp. Trong thời gian ở trên tàu, mọi người sẽ được thưởng thức bữa trưa với những món ăn đặc trưng của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Cùng lúc đó, trên sân khấu, các liền anh, liền chị cũng góp vui bằng nhiều làn điệu quan họ mượt mà, đằm thắm.
Cập bến vào Bát Tràng, du khách sẽ có dịp khám phá những lối ngõ cổ quanh co. Đời sống hiện đại dường như không làm mất đi vẻ đẹp mộc mạc vốn có của ngôi làng có bề dày lịch sử. Tại đây, bạn có thể tự tay nhào nặn một món đồ gốm nào đấy mà mình thích dưới sự hướng dẫn của các nghệ nhân.
Dạo chợ gốm sứ để tìm cho mình một vài món đồ kỷ niệm hay khám phá những điều kỳ diệu từ đất, lửa qua bàn tay khéo léo của con người là thú vui không thể bỏ qua trước khi trở lại tàu để quay về Hà Nội.

Hoàng Minh (Dân Việt)
Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

, , , ...

Kỷ niệm 52 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Làng gốm Bát Tràng 20.02.1959 - 20.02.2011

Chung một tình yêu

, , , ...

Chung một tình yêu
Update: 19.02.2011[/B]

Blog Battrang 360* - Chưa bao giờ Hà Nội lại đón nhận nhiều tấm lòng hướng về mình đến thế. Quả đúng với tinh thần mọi trái tim đều hướng về thủ đô.
Yêu Hà Nội từ lòng biết ơn
Tôi bắt đầu đầu đi tìm hiểu những tấm lòng dành cho Hà Nội từ làng gốm Bát Tràng. Nơi xuất xứ của phiên bản cụ rùa hồ Gươm bằng gốm và đôi rồng chầu bằng sứ được rất nhiều người quan tâm trong dịp đại lễ.
Về Bát Tràng đúng dịp triển lãm gốm sứ 1000 năm cổ truyền và hiện đại nên ở làng quê cách xa trung tâm Hà Nội hàng chục cây số này không khí lễ hội vẫn rất hào hứng. Chủ nhân của “phiên bản cụ rùa bằng gốm cổ lớn nhất”, nghệ nhân Trần Độ còn khá trẻ nhưng suốt câu chuyện về tình yêu Hà Nội, về món quà của ông và nhân dân làng gốm Bát Tràng dâng lên đại lễ tôi có cảm giác đang hầu chuyện một bậc cao niên trong làng. Còn với nghệ nhân Nguyễn Văn Binh, vẫn là cái già trước tuổi ấy, nhưng khi đã thấm chuyện rồi mới hiểu vì sao họ có được cái “thần” như thế.
Cả hai đều nói với tôi rằng món quà của họ là đại diện của nhân dân, của những người con Hà Nội đã chịu ơn dòng sông Hồng, chịu ơn lịch sử lâu đời đã mang nghề gốm sứ đến với mảnh đất này. Món quà họ dâng lên Hà Nội, dâng lên đại lễ chỉ có thể giải thích bằng tình yêu. Cũng chính vì tình yêu Thăng Long nghìn năm tuổi mà cả ông Binh, ông Độ cùng toàn thể dân Bát Tràng bỏ công sức đi tìm hình mẫu để tạo ra những tác phẩm từ chính quê hương mình. Hành trình của họ, những linh vật họ chọn như chính lời người trong cuộc giải thích là bằng cả con tim và khối óc.Để hoàn thành phiên bản cụ rùa – linh vật Kim Quy ông Độ và dân làng phải bỏ công nửa năm trời đi tìm hình mẫu. Cuối cùng họ chọn cụ rùa hồ Gươm.
Lý do? Thần Kim Quy đã được coi như biểu tượng tâm linh của người Việt từ xa xưa đến nay. Từ thời Vua An Dương Vương xây thành Cổ Loa, đến thời Vua Lê Lợi và cho đến tận ngày hôm nay thì cụ rùa đã là một biểu tượng của văn hóa Hà Nội. Với những ý nghĩa đó, nghện nhân Độ và dân làng Bát Tràng đã dâng lên đại lễ món quà “biểu tượng tâm linh vô giá của Hà Nội nghìn năm văn hiến” bằng chính những sản phẩm từ quê hương mình. Bằng chính từng nắm đất mà họ vẫn luôn tâm niệm là nhờ “chịu ơn đất Thăng Long”. Ông Độ kể rằng, suốt quá trình hoàn thành phiên bản cụ rùa hồ Gươm mỗi người tham gia đều ý thức được rằng đó có thể là kiệt tác của đời họ. “Chúng tôi làm “cụ” bằng cả trái tim. Bằng tấm lòng của người Bát Tràng đối với Hà Nội. Thế nên sau khi hoàn thành đã làm lễ trình Thành hoàng làng, Tổ nghề gốm Bát Tràng không phải chỉ để báo công mà đó còn là cách thể hiện được “tinh hoa nghề gốm đất Thăng Long” vẫn đang được gìn giữ và phát huy”.
Còn để tìm được hình tượng đôi rồng thời Lý, ông Binh phải lật hết sách sử về các triều đại ra đọc. Nghiên cứu rất kỹ về Vua Lý Thái Tổ, ông chọn hình tượng đôi rồng là vì dựa vào tích vua Lý Thái Tổ trước khi dời đô về Thăng Long đã nhìn thấy đôi rồng từ mảnh đất này bay lên. Tìm hiểu sâu hơn nữa thì biết rằng vùng đất rồng bay lên ấy nằm ở xã Tự Nhiên (huyện Thường Tín). Đây cũng là nơi truyền kỳ về mối tình Tiên Dung – Chử Đồng Tử nên ông muốn thực hiện hoàn thành đôi rồng ngay chính tại vùng đất này. Hình ảnh đôi rồng được uốn theo con số 1000 năm là cách mà ông cùng với người Bát Tràng muốn dành những gì thiêng liêng nhất, tinh hoa nhất trong ngày Thủ đô tròn một nghìn năm.
Một tình yêu, vạn tấm lòng
Nắm bắt thông tin liên tục từ đại lễ chúng tôi có cảm giác “bội thực” với những gì mà Hà Nội nhận được trong những ngày này. Có thể đó là đôi áo dài nhiều tà của người miền Nam, Bức trướng phong Chiếu dời đô mạ vàng của các nghệ nhân Hiệp hội làng nghề Việt Nam hay đơn giản chỉ là hành trình đón 1000 Anh hùng và Mẹ Việt Nam anh hùng từ 63 tỉnh thành về đại lễ, Bắt gặp sự trầm trồ của công chúng khi ngắm nhìn những tác phẩm ấy chợt nhận ra rằng tình cảm mà Hà Nội đón nhận quá nồng nàn. bộ sưu tập tem mang tên 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội của một nông dân ở An Giang… Nhưng hơn hết là tấm lòng, là tình yêu Hà Nội, là trái tim mọi miền hướng về thủ đô nghìn năm hào khí thiêng liêng. Lang thang đi tìm hiểu về những tấm lòng hướng về đại lễ và thật khó để làm được phép thống kê.
Trong số những tác phẩm dâng lên đại lễ tôi ấn tượng với Bức trướng phong Chiếu dời đô. Ấn tượng không chỉ vì kích thước phủ bì dài 4,58m, cao 3,85m, nặng gần 5,5 tấn với 300 chữ mạ vàng mà một phần từ tâm huyết từ một nghệ nhân già chung tay thực hiện. Thêm vào đó là sự đồng lòng, chung một tình yêu của những người con đất Thăng Long.
Để thực hiện bức thư pháp có một không hai này, nghệ nhân Nguyễn Thế Long ở làng gò đồng Đại Bái phải mất tới 200 ngày đêm miệt mài dùng đồng vẽ chữ bằng đôi tay trần mà không sử dụng bất cứ công nghệ nào. Điều gì thôi thúc nghệ nhân già ấy lao tâm cật lực nếu chẳng phải là tình yêu? “Tôi miệt mài làm việc chỉ với mục đích hoàn thành thật nhanh, thật đẹp để cùng dâng lên đại lễ. Để thể hiện tấm lòng của mình, của ê kíp thực hiện đối với Hà Nội nghìn năm. Suốt thời gian ấy không có bất kỳ một suy nghĩ nào khác ngoài Bức trướng phong Chiếu dời đô”. Nghệ nhân Long đã phát biểu như thế trong ngày trưng bày ra mắt tác phẩm tại Công viên Lý Thái Tổ.

Hoàng Anh
Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

Men gốm men người

, , , ...

Men gốm men người
Update: 18.02.2011[/B]

Blog Battrang 360* - Anh Huy, bạn tôi, một người làm gốm ở làng Bát Tràng nhắn mời sang uống trà. Nghĩ bụng, chạy ba quãng đồng để uống chén trà, chắc hẳn phải là trà gì đặc biệt đây. Mùa đông mưa phùn gió bấc, nể bạn, lặn lội sang. Trà ngon đã đành nhưng đường sá xa xôi bỗng hoá gần là vì một lẽ khác. Anh mới ra lò, một bộ ấm chén mới, còn nóng, pha ấm trà đầu, đãi khách.
Anh Huy, sinh ra ở Bát Tràng, lớn lên đi học trường Bách khoa, ngành silicat rồi về làm ở xí nghiệp gốm Bát Tràng một mạch mấy chục năm cho đến khi nghỉ hưu. Nhưng dẫu sao đó cũng chỉ là đi làm, làm gốm, làm việc, việc chung thôi. Lúc về hưu, lúc nghỉ mới là được làm, làm cho mình. Người yêu gốm, yêu đất, yêu lửa, yêu nước như anh Huy thì khi được trở về với mình tức là trở về với đất, với lửa, với nước. Mấy cụ già mê đọc Trang Tử thường kể câu chuyện quả bầu khô dùng đựng rượu, giữa cái vỏ và phần khoảng không bên trong chẳng biết phần nào quan trọng hơn, phần nào để nói về cái sự “tề vật luận”. Anh Huy là người thủ cựu nhưng nhược điểm này lại là ưu điểm, nó cũng hay như tính thích cải cách của người khác.
Chuyện là thế này, độ mười năm gần đây, cả làng Bát Tràng có phong trào, phá lò hộp, đốt bằng than để thay thế bằng lò gas. Rẻ thì chưa chắc nhưng rõ là nhanh, tiện, sạch sẽ, lửa ổn định, chất lượng sản phẩm đồng đều. Ấy thế nhưng anh Huy không những không lắp lò gas theo phong trào mà cũng không xây lò hộp, anh “giật lùi” hẳn hai bước, âm thầm làm một cái lò bầu, đốt củi. Đây chính là loại lò, là phương pháp nung gốm cổ truyền của gốm Việt Nam nói chung và gốm Bát Tràng nói riêng. Những kiệt tác trong di sản gốm Việt từ men ngọc đời Lý, gốm hoa nâu đời Trần, gốm vẽ men lam, xanh chàm của Lê, Mạc rồi đồ gốm đắp nổi, men rạn đều nung bằng lò bầu, đốt củi.
Nhân đây cũng muốn nói thêm, sau mười năm Bát Tràng chuyển sang dùng lò gas, gốm Bát Tràng vẫn chưa có sản phẩm nào đủ đẹp có thể nối tiếp được truyền thống, ngoài việc tận dụng ưu thế kỹ thuật ổn định của nhiệt, chủ động được nhiệt để làm ra những sản phẩm to cao, to nhưng xấu, hình như càng xấu càng phải to để bù đắp. Nào là lọ, chum, choé, vại, vò,… nhà nào cũng thi nhau làm to, giá bán cao không phải vì đẹp mà vì sản phẩm to. Tất nhiên mốt thích to không chỉ có ở gốm, ở Bát Tràng và qua đây cũng thấy cái lỗi hám to cũng không chỉ do người làm ra sản phẩm mà do cả ở những người tiêu dùng hôm nay.
Trở lại chuyện anh Huy, anh không phải là người cố tình bảo thủ, cố tình đi ngược xu thế chung, anh cũng không ý thức về việc “hand made”. Anh tâm sự: cách tân không chỉ là bỏ cũ sang cái mới mà là làm mới truyền thống, trước tiên là khôi phục lại kỹ thuật truyền thống, từ đất, men, lửa (lửa của lò bầu đốt bằng củi). Ví dụ muốn phục chế men ngọc thì bắt buộc phải nung bằng lò bầu, chất kiềm (kalihydroxit – KOH và natrihydoxit – NAOH) tự nhiên trong củi sẽ làm cho màu xanh ngọc trong và sâu, lò gas không làm được. Những tác phẩm men ngọc của gốm Lý có nhiều cung bậc, ngọc nước dưa, ngọc màu nước rau muống luộc, ngọc màu quả bí, tất cả đều gần gũi và duyên. Rồi lại nghĩ đến gốm Bát Tràng hôm nay. Thèm được nhẩm một câu trong bài hát nào đó của Trịnh Công Sơn, “lòng chợt bình yên mà sao buồn thế”. Anh Huy kể, làm một cái lò bầu, nhỏ thôi nhưng chẳng dễ gì, tất cả đều chỉ có một mình, không hỏi ai được, những người già đều đã “ra đi” hết cùng với kinh nghiệm của họ, những người trẻ quen với tư duy nhanh nhiều tốt rẻ của lò gas, với họ truyền thống là phụ, đẹp là phụ. Nếu như không muốn nói, họ đã hoàn toàn đứt đoạn với truyền thống. Phần lớn những nghệ nhân hôm nay, dù có sắc phong chính thức nhưng bản chất là danh hão và phẩm chất chính là phá hoại tinh tuý của gốm Bát Tràng.
Anh Huy không nản lòng vì trước tiên và trên hết anh làm vì sự thôi thúc cá nhân, làm cho mình thôi. Những mẻ lò đầu tiên hoàn toàn thất bại. Tình yêu gốm trong máu thịt mách bảo anh rằng, thất bại đấy nhưng nó sẽ qua và đây là con đường đúng đắn. Linh cảm là điều khó lý giải, anh Huy kiên nhẫn đi tiếp. Để tìm được sự hài hoà giữa đất, lửa, nước đâu dễ. Tự làm lò, tự chế đất (không mua sẵn), tự mua củi, tự chẻ, tự đi mua rơm về đốt làm men tro, tự nặn, tự vuốt từng sản phẩm một. Làm tay từ đầu đến cuối, hoàn toàn nguyên liệu tự nhiên củi lửa, men thuốc. Hình như cái sự một mình, sự cô độc cũng là sức mạnh.
Lửa của lò gas rất đều, sạch không bụi bặm. Sản phẩm đều tăm tắp, rất tốt cho làm hàng loạt, nó là hàng hoá, là mỹ nghệ, trau chuốt, nuột nà, giống nhau như đúc. Ưu điểm là ở đó và nhược điểm cũng là ở đó.
Đồ gốm của anh Huy nặn tay từng chiếc, không dùng khuôn, men tự nhiên, không dùng hoá chất công nghiệp, nhiệt độ đốt bằng củi lò bầu nhiều may rủi, chỗ táp lửa, chỗ ám khói, chỗ hoàn nguyên, chỗ chín già, chỗ non, men chỗ dày chỗ mỏng do dấn bằng tay, không phun bằng máy… nên nhiều tình cờ, gốm của anh Huy đẹp là do ngẫu nhiên, không lặp lại, đó là vẻ đẹp của đơn bản.
Ngồi uống chén trà pha bằng bộ ấm mới ra lò. Anh Huy nhẩn nha nói với tôi nhiều chuyện, chuyện người, chuyện nghề, chuyện về làng gốm Bát Tràng đã nghìn năm tuổi. Băn khoăn nhất vẫn là chuyện kỹ thuật, tay nghề, chất liệu, nay đã tốt hơn nhưng gốm Bát Tràng không đẹp hơn.
Một chút mưa, một chút lạnh, một chút bâng khuâng, tiếc nuối của những ngày cuối năm, một chút lửa, một chút hơi ấm của lò bầu đốt bằng củi. Không hiểu sao những một chút đó khiến tôi miên man nghĩ sang chuyện khác, chuyện bảo tồn, chuyện di sản. Ai là người sẽ lưu giữ ký ức của những làng nghề? Đâu chỉ Bát Tràng, nào là giấy dó ở Dương Ổ, Hà Bắc, đúc đồng Đại Bái, sơn quang dầu ở Cát Đằng, nghề bạc ở Đồng Sâm, Thái Bình… chả nhẽ cái mới đến sẽ làm mất dần những cái cũ, chả nhẽ suốt 1.000 năm còn giữ được thế mà chỉ có mấy chục năm gần đây mọi thứ lại mất nhiều và nhanh như vậy.
Trước khi chia tay, anh Huy bảo, sở dĩ màu men tro của Bát Tràng đẹp thế, riêng thế là bởi vì, trước khi ra lò vài tiếng, tôi cho vào lò mấy đoạn nứa. Trong quá trình cháy, chất muối natriclorua (NaCl) tự nhiên trong ruột cây nứa tiết ra, cho dù chỉ là vi lượng sẽ thấm vào lớp men áo sắp chín làm ra màu men đặc thù của gốm Bát Tràng. Nếu như không có những người như anh Phạm Ngọc Huy, say men gốm, say gốm để phục chế và lưu giữ lại những ký ức này, những tinh hoa này thì… làng Bát Tràng vẫn còn, vì những mất mát li ti như vậy ít ai thấy, không dễ thấy nhưng nó lại là hồn cốt của cả một nghề, một làng nghề.
Nguồn: Báo Sài Gòn Tiếp thị
Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

Men Bát Tràng

, , , ...

Men Bát Tràng
Update: 17.02.2011

Blog Battrang 360* - Mãi đến giờ tôi vẫn chưa thoát khỏi cái ám ảnh về những xúc cảm dữ dội từ anh mỗi khi nhắc đến vẻ đẹp khác biệt và phong phú của men gốm Bát Tràng. Tôi buộc phải dùng từ "ám ảnh", bởi bằng mọi cách, đã không lý giải nổi vì sao một người chưa từng đặt chân lên đất Bát Tràng mà lại trân trọng khả năng sáng tạo cùng nỗi nhọc nhằn đầy tự nguyện của những người con làng gốm đến thế.
Hôm ấy, từ miệt vườn sông Hậu, anh gọi cho tôi rất sớm. Vẫn cái chất giọng vừa chắc nịch vừa pha chút miên man của một người mạnh mẽ mà đa cảm (cái chất giọng khiến tôi "mê" anh từ thời cùng nhau dọc ngang trên đất Chùa Tháp), anh hẹn tôi đón ở sân bay Nội Bài và ngay sau đó về thăm làng gốm. Rằng, anh muốn được thấy từng nước men gốm sứ Bát Tràng phô hết vẻ đẹp trong lập lòe ánh nến. Ấy là vẻ đẹp đã nung nấu trong trí tưởng tượng của anh từ trước và nó cứ thôi thúc anh bao năm trời...
Không thể khác, tôi chỉ biết làm mọi việc có thể để đáp ứng chừng nào cái mong ước từng ấp ủ trong anh. Nhưng buổi tối hôm ấy, ngay sau khi tay bắt mặt mừng, tôi muốn khuyên anh để hôm sau mới thực hiện chuyến đi với một lời giải thích: Trong bất cứ ánh sáng nào, men Bát Tràng cũng toát lên vẻ đẹp rất riêng, rất đặc biệt. Anh không chịu. Và, với vẻ mặt đầy bí ẩn, anh như muốn "thức tỉnh" tôi. Một thoáng tự trách mình, tôi muốn tự vấn rằng, có phải xa thương gần thường mà đã bao lần qua lại làng gốm, sao tôi không có được cái khát như anh. Để rồi trong chuyến đi có phần miễn cưỡng ấy, tôi chợt phát hiện thêm một giá trị khác từ những nét đẹp vốn được mặc định lâu nay trong tiềm thức tôi cũng như bao người.
Từ một làng cổ nằm khuất nẻo bên sông Hồng, nay Bát Tràng không khác một trung tâm giao thương là mấy. Mới hiểu vì sao bạn tôi muốn về thăm làng gốm trong đêm. Anh muốn mượn cái ảo mờ tĩnh lặng hiếm hoi kia để gợi về chút dáng cổ xưa, dù chỉ trong ý niệm. Nghĩ vậy, tôi đã đưa anh đến thăm một trong những "đại thụ" của làng.
Sinh ra và lớn lên trên đất gốm, ngay từ năm 13 tuổi, Lê Văn Cam đã vật lộn với nghề truyền thống. Phải chăng cái hồn của đất sét trắng, cái độc đáo của mầu men xanh, men rạn đã ngấm vào huyết mạch nghệ nhân từ thuở ấy? Nó lý giải vì sao giới am hiểu gốm Bát Tràng ngày nay gọi cụ là người hóa mầu cho men cổ hồi sinh. Sáu chục năm gắn bó với đất, với lò, với men; say mê, mày mò tìm lại công thức men rạn đã thất truyền, đến giờ cụ đã cho ra lò hàng vạn sản phẩm mỹ nghệ chất lượng cao. Năm 1987, sau khi nghiên cứu, thử nghiệm thành công men gốm phục chế chân đèn thời Mạc và hai loại men gốm rạn cổ, cụ được thành phố Hà Nội công nhận là nghệ nhân và được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cấp Bằng Lao động sáng tạo.
Trong căn phòng đượm mầu men cổ, nghệ nhân Lê Văn Cam đã dẫn chúng tôi đi từ miền xa ngái nhọc nhằn đến vị thế đầy kiêu hãnh hôm nay. Gần 600 năm hình thành và phát triển, làng gốm lâu đời này không những nổi tiếng nước Nam mà từ lâu đã được các lái thương Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Hà Lan, Pháp... tìm mua với số lượng lớn và hiện đứng vững trên thị trường thế giới như Mỹ, Đức, Hàn Quốc, Thái-lan... Căn cứ vào nhiều đồ thờ quý giá ở những đình, đền, chùa, miếu có ghi tên tuổi những người cúng tiến và thời gian chế tác, thì gốm Bát Tràng cực thịnh vào thế kỷ 16, 17, nổi tiếng về chất men phủ, phổ biến là men mầu búp dong, loại men này sắc độ trắng hơi ngả xanh hoặc xám, trong và sâu. Đặc biệt là hai loại men lý, men nho, tựa như mầu ngọc thạch, nên được gọi là men ngọc. Thì ra "nhất nho, nhì lý" là của riêng Bát Tràng. Và câu nói truyền miệng mang tính "thương hiệu" ấy không chỉ nhằm ca ngợi thứ đặc sản của quá khứ vinh quang, mà còn như một lời nhắc nhở các thế hệ hôm nay gắng sức tìm lại giá trị ông cha đã đạt được.
Cụ Cam bảo: "Gốm Bát Tràng thể hiện được bản sắc riêng so với các loại gốm khác bởi dáng vẻ thoáng đãng, men mầu tự nhiên, phóng khoáng, tạo được độ trong và sâu".
- Nhưng, thưa cụ, qua hàng trăm năm như vậy, liệu những bí mật về mầu men Bát Tràng có bị lọt ra ngoài? - Anh bạn tôi vẻ lo lắng thật sự, trong khi người nghệ nhân già cười sảng khoái:
- Men là bí quyết! Nó là loại độc đáo chỉ có duy nhất ở Bát Tràng. Vì thế mà các cụ ra đi, mang theo hết cả. Khó hơn là ông cha ta xưa chỉ dựa vào kinh nghiệm mà pha chế chứ không ghi ra thành công thức...
- Bởi vậy mà từ lâu nhiều người đã dày công nghiên cứu để làm sống lại loại men này, nhưng không thành công?
- Đấy đấy, cái khó chính là chỗ đó...
Chợt như nhớ ra điều gì, cụ ngắt ngang câu chuyện, dẫn chúng tôi lại bàn trà. Qua cái nhìn xa xăm dưới hàng mi bạc, cụ chậm rãi, tiếp:
- Nhưng khó hơn cho các anh chị sau này, là làm sao vừa giữ được cái chất cổ xưa, để mỗi mầu men của ông cha không bị mất đi, mà lại phải biết cải tiến, bổ sung cho hoàn chỉnh hơn...
Rồi, trong niềm tự hào không giấu giếm, cụ Cam còn giảng giải cho chúng tôi khá kỹ về các dòng men. Rằng, gốm Bát Tràng có năm dòng men đặc trưng, thể hiện qua mỗi thời kỳ khác nhau, tạo nên những sản phẩm khác biệt. Khởi đầu là men lam với những đồ gốm có sắc xanh chì đến đen sẫm. Men nâu thể hiện theo phong cách truyền thống và được vẽ theo kỹ thuật men lam. Men trắng ngà sử dụng trên nhiều loại hình đồ gốm từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, men này mỏng, mầu vàng ngà, bóng thích hợp với các trang trí tỉ mỉ. Men xanh rêu được kết hợp với men trắng ngà và nâu, tạo ra một dòng rất riêng. Còn men rạn là dòng chỉ xuất hiện tại Bát Tràng từ cuối thế kỷ 16...
Sau khi siết chặt tay nghệ nhân Lê Văn Cam, anh bạn tôi trở nên trầm tư hẳn. Tôi hiểu anh đang nghĩ gì. Ánh sáng men Bát Tràng dường như có khả năng dẫn dắt trí tưởng tượng con người đến những nẻo suy niệm đầy mê hoặc mà ở mỗi nhánh cành khác biệt đó ta như thấu tận cái nồng hậu và sắc vị những giọt mồ hôi lắng đượm phù sa châu thổ sông Hồng. Và dường như trong cái lập lòe ẩn hiện kỳ bí đó, tâm hồn ta được thanh lọc hơn để có thể cảm nhận sâu hơn, trọn vẹn hơn cái đích thực của mỗi ánh men được cất lên và chắt ra từ giọt giọt mồ hôi, từ mặn mòi nước mắt! Và phải chăng, khi những nhọc nhằn và tâm huyết kia đã thấm sâu trong mỗi ánh men, người thưởng thức "cái đẹp từ đất" ấy dường như thấy lòng thanh thản hơn, đỡ day dứt hơn, đỡ thấy mình có lỗi hơn khi phải trực diện với những giọt mồ hôi và nước mắt ướt đằm trên gương mặt nghệ nhân?
Những ý nghĩ đưa tôi đến trước phòng gốm của nghệ nhân Trần Độ tự lúc nào. Làm gốm từ năm 10 tuổi, đến nay, ở tuổi 53, anh đã có nhiều tác phẩm hội tụ tinh hoa truyền thống và đổi mới. Năm 2003, Trần Độ được trao tặng danh hiệu "Nghệ nhân Hà Nội". Anh là tác giả của 80 món quà tặng, gồm những sản phẩm phục cổ, giả cổ, trong đó có một chiếc bình rượu cổ triều Mạc mà Văn phòng Chính phủ đặt làm quà lưu niệm cho các nguyên thủ quốc gia tham dự Hội nghị cấp cao ASEM 5 tổ chức tại Hà Nội tháng 10-2004. Một năm sau đó, anh là người duy nhất được chọn thực hiện lô hàng đặc biệt gồm 219 món đồ gốm với gần 10 loại sản phẩm phục chế theo nguyên mẫu còn lưu giữ trong sách cổ và mẫu lưu tại Bảo tàng Nghệ thuật, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Cũng những "món đồ đất có hồn" này, sau đó đã theo chân Thủ tướng Phan Văn Khải sang Hoa Kỳ, Ca-na-đa làm quà cho các chính khách nước sở tại. Rõ ràng, đó không chỉ là niềm tự hào Bát Tràng mà còn khẳng định một sức sống mãnh liệt ẩn dưới lớp áo cứ ngỡ là vô tri của đất.
Đến nay, trong gia tài Trần Độ đã có hơn 70 bài men cổ. Riêng dòng men ngọc, anh có tới mười hai công thức khác nhau, tạo ra mười hai biến tấu của loại men này. Rồi men lam, men rau, men đá, men chảy, men nâu, men đen... Đặc biệt là men nâu trầm rất lạ, chưa từng thấy ở Bát Tràng. Dùng những bài men đó, anh đã phục chế lại hàng trăm sản phẩm gốm cổ từ thời Lý - Trần - Lê như lư hương, chân đèn, bình, lọ, chum, chóe, bát đĩa được thể hiện qua các lớp men rạn, men chảy các mầu trắng, nâu, xanh ngọc... mà vẫn giữ được những hoa văn cổ với chất men giản dị và thanh thoát.
Có thể nói, gốm Trần Độ hội tụ các tinh hoa của gốm Bát Tràng, vừa mang tính dân tộc, vừa có sự cách tân, đổi mới. Trong các tác phẩm của nghệ nhân này, dễ thấy bóng dáng nhiều dòng gốm men cổ Việt Nam như gốm men ngọc thế kỷ 11, gốm hoa nâu thời Lý, gốm hoa lam thời Mạc, men nhiều mầu thời Hậu Lê - Nguyễn và sau đó là gốm men rạn...
Không giấu nổi vẻ kinh ngạc, anh bạn tôi chỉ biết thốt lên:
- Anh đã làm thế nào?
Trần Độ cười, khiêm nhường:
- Có mỗi cách là đào sâu nghiên cứu thôi. Còn nếu chỉ thuần túy dựa vào công thức thì không thể có được những sản phẩm đa dạng như vậy.
- Nhưng, thật sự, anh đã làm thế nào?
Một câu hỏi lặp lại đầy bất lực. Tôi thấy ái ngại cho bạn mình. May sao, là người ngại nói về mình (dường như những tài năng thật sự đều thế cả), song trước những xúc cảm hết đỗi chân thành ấy, Trần Độ không thể cầm lòng. Anh đã nói về những gì mình lĩnh hội được từ sự tinh túy qua ngàn năm tổ tiên đúc kết. Rằng những bí ẩn của men, những đường nét tạo hình, khắc khối... đâu có nằm ở nơi nào xa xôi. Nó nằm ngay bên ta, hồn hậu và dung dị, chỉ cần ta luôn biết trân trọng và nâng niu vốn tài sản vô giá muôn đời mà cha ông để lại. Và từ đó, men không chỉ được tạo ra qua tháng ngày lao động miệt mài. Nó được chắp nối từ những ý tưởng chập chờn trong lúc tỉnh, lúc mơ như một thứ sắc mầu của ảo ảnh, phải nhìn bằng cõi lòng sâu thẳm tinh khôi mới thấy hết những cao siêu, thoát tục của nó. Trong ngôn ngữ men của Trần Độ, điều mà nhiều người cảm nhận được là mầu sắc của Phật giáo. Đó là một thứ ngôn ngữ thoát tục đấy mà trần tục đấy, rõ là sắc mầu của đời thường mà cũng chập chờn như cõi hư vô...
Hôm ấy, cứ sau mỗi lần được tiếp xúc với một nghệ nhân cùng những đặc phẩm của họ, anh bạn tôi thường phải lặng đi một hồi lâu rồi mới đưa ra lời chia sẻ... đầy bất lực. Và tôi, có cái gì như muốn hát lên. Bằng sự đồng cảm tuyệt vời cùng trái tim luôn ngân rung vì cái đẹp, những nghệ nhân tài năng và tâm huyết của Bát Tràng sớm nhận thấy và lĩnh hội tinh túy cha ông ngàn năm đúc kết. Với họ, nghề gốm không phải là con đường mưu cầu danh lợi vật chất mà là sự thỏa mãn khát vọng vực dậy dòng gốm cổ đang chìm dần vì sự "đè nén" của dòng gốm thương mại đang tung hoành. Nghệ nhân Trần Thiện nổi tiếng bởi men rạn rễ cây, men ngọc lam rạn như chạm khắc. Nghệ nhân Hùng Hiển đã không để ai qua được tài chế tác men chảy thủy tinh đổ trên đồ gốm sứ nung hơn 1.350 độ C. Nghệ nhân Trần Hợp nổi tiếng với hai nước men kết tinh và huyết dụ. Nghệ nhân Vũ Đức Thắng chuyên về các loại men mầu thương hiệu "Hồn Đất Việt" rất đặc trưng. Nghệ nhân Tô Thanh Sơn phục chế gốm men lam thời Nguyễn và pha chế thành công men rạn hiện đại. Sau 15 năm nghiên cứu, thử nghiệm, Tô Thanh Sơn đã thành công với loại men rạn (rạn từ xương gốm) vốn thất truyền ở Bát Tràng hàng trăm năm nay. Nghệ nhân Đào Văn Can đã tìm ra bí quyết men mờ, rạn của gốm cổ Việt... Những nghệ nhân ấy đã không chỉ góp sức giữ bền ngọn lửa trong mỗi lò gốm, mà quan trọng hơn, đã thắp sáng và lan tỏa niềm đam mê cùng khát vọng sáng tạo với một lòng kiêu hãnh mang tên Bát Tràng. Và như vậy, đúng như đánh giá của UNESCO, họ xứng đáng là những báu vật nhân văn sống - những con người đã sai khiến được đất và lửa để tạo nên những men ngọc cuộc đời.
Là nghệ sĩ đích thực, mỗi nghệ nhân đều mang trong mình tính cách riêng. Bởi vậy, những giá trị được kết nên từ khả năng sáng tạo và nỗi nhọc nhằn không giống nhau ấy như có sức tố cáo cái hời hợt và sự giả trá của người đứng trước nó. Ai đó nói, hãy nhìn thế giới trong một hạt cát. Ở đây, tôi đang nhìn thế giới trong cái rộn rạo của mỗi ánh men nồng đượm chân chất hồn cốt Bát Tràng. Thời gian cứ trôi đi mang theo thậm chí cả bao điều tiếc nuối. Song, những men nâu men rạn kia như có khả năng níu giữ và làm sống dậy những giá trị từ vô cùng vô tận sức sáng tạo con người trong niềm cảm phục trọn vẹn về cái đẹp vĩnh hằng được cất lên từ không chỉ mồ hôi, mà cả máu.

Theo Nhan Dan
Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

Câu chuyện "Bác Hồ về thăm làng Gốm" giờ mới kể

, , , ...

Câu chuyện "Bác Hồ về thăm làng Gốm" giờ mới kể
Update: 06.02.2011

Blog Battrang 360* - Trước năm 1961 xã Bát Tràng là xã Quang Minh gồm 3 thôn Bát Tràng, Giang Cao và Kim Lan. Hiện nay xã Bát Tràng có 2 thôn : Giang Cao và Bát Tràng, thuộc huyện Gia Lâm - thành phố Hà Nội
Theo cuốn lịch sử cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân xã Bát Tràng ( 1930 - 2000) thì diện tích toàn bộ xã là 164 ha với 1628 hộ và 6655 nhân khẩu. Về địa lý, xã Bát Tràng nằm bên tả ngạn sông Hồng, phía Bắc giáp xã Đông Dư , phía đông giáp xã Đa Tốn, phía nam giáp xã Xuân Quan ( huyện văn giang, tỉnh Hưng Yên ) Phía tây là sông Hồng . Xã Bát tràng cách trung tâm thành phố Hà Nội 12km.
Xã Bát tràng có làng nghề gốm sứ cổ truyền là làng Bát Tràng, cũng như mọi làng quê Việt Nam, làng Bát Tràng có nhiều công trình kiến trúc như đình, chùa, đền, miếu, văn chỉ... chứng minh cho một làng quê văn hiến. Làng Bát tràng từ xa xưa đã nổi tiếng là đất học, đất làng nghề có nhiều người đỗ đạt , khoa bảng . Văn Miếu Quốc Tử Giám, Văn miếu Huế và Văn Miếu Bắc Ninh ( trước 1961 làng Bát Tràng thuộc tỉnh Bắc Ninh) đã ghi danh các bậc đại khoa của làng Bát Tràng gồm một trạng nguyên , tám tiến sĩ, mười quận công. Đầu thế kỷ 20, xã Bát tràng có nhà chí sĩ cách mạng Phạm Văn Tráng tham gia Việt Nam Quang Phục Hội của cụ Phan Bộ Châu, cùng đồng đội tiêu diệt viên tuần phủ gian tỉnh Thái Bình và đã hi sinh anh dũng. Nhiều người làng Bát Tràng đã tham gia Việt Minh, cùng nhân dân nổi lên cưới chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Làng Bát tràng cũng là nơi in ấn bài hát tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao, sau này là Quốc ca của nước ta. trong kháng chiến chống pháp giữa vòng vây kìm kẹp của kẻ thù, người dân làng Bát Tràng vẫn hướng về Đảng và Bác Hồ kính yêu, không ngại hy sinh gian khổ, tích cực tham gia chiến đấu , phá tề trừ gian, chống giặc càn. trong kháng chiến chống Mỹ, dân quân tự vệ Bát tràng đã đánh trả máy bay Mỹ ném bom vào thôn bát tràng. Thanh niên Bát tràng đã xung phong vào bộ đội và đi khắp mọi miền Đất nước để bảo vệ Tổ quốc. Làng Bát tràng có nhiều Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các thương binh liệt sĩ trong 2 cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và chống Mỹ cứu nước nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Tháng 8 năm 1958, TW Đảng và Chính phủ quyết định đào sông Bắc Hưng Hải nhằm phục vụ tưới tiêu cho 3 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ ( Bắc Ninh, Hưng yên, Hải Dương). Do việc đào sông, xã Quang Minh được tách thành hai xã: Xã Bát Tràng và xã Kim Lan.
Để phục vụ cho đào sông Bắc Hưng Hải, phải di chuyển một nửa thôn Bát Tràng ra chỗ đất mới. Trong đó, có hơn 200 ngôi nhà cổ, một ngôi chùa, các lò nung đồ gốm sứ và các cơ sở sản xuất lâu đời...
Trong tình hình các hộ dân đã di chuyển ra chỗ ở mới, mới chỉ có một số hộ dân xây dựng được nhà cửa , còn một số hộ đang chuẩn bị xây dựng nơi ăn chốn ở và cơ sỏ sản xuất thì Bác Hồ về thăm làng gốm Bát Tràng.
Bác Hồ về thăm làng gốm Bát Tràng.

Sáng ngày 20-2-1959, nhân dân xã Quang Minh ( Tên xã ở thời điểm đó) vô cùng phấn khởi được đón Bác Hồ về thăm làng Bát Tràng. Cùng đi với Bác có các cán bộ của xã và huyện. Rất đông dân làng nô nức đón Người, vô cùng sung sướng được ngắm nhan dung Bác và đi theo người đến thăm các nơi.
Trên đường vào thăm HTX sản xuất gốm sứ Minh Châu. Bác ghé thăm nhà ông lang Tự ( Nguyễn Trọng Đức, đã mất vào năm 1983). Nhà ông Tự đã được di chuyển ra chỗ đất mới và xây dựng xong. Ông lang Tự và con trai đi làm vắng nhà, chỉ có 2 con gái, cô chị là Nguyễn Thị Trâm 13 tuổi., cô em gái Nguyễn Thị Oanh 9 tuổi đang chơi ngoài sân, theo Bác vào Nhà.
Bác hỏi:
- Ba mẹ đi đâu rồi ?
- Thưa Bác, thầy cháu và anh cháu đi làm, u cháu đi chợ.
Bác ngắm, đọc bức hoành phi và đôi câu đối ở ngoài hiên nhà thờ. Bác bảo hai cô gái.
- Các cháu nói với ba mẹ là treo câu đối không đúng vị trí, phải đổi câu bên trái sang bên phải.
Bác xuống nhà dưới, mở lồng bàn để xem mâm cơm của gia đình.
Lúc đó chưa đến bữa ăn nên mâm cơm chỉ có bát rau muống luộc. Sau ngày Bác về thăm, ông Lang Tự đã treo lại câu đôi như lời bác dặn.
Bác rời nhà ông lang Tự, vào thăm HTX sản xuất gốm sứ Minh Châu. Thời gian đó HTX này là mô hình sản xuất gốm sứ tiến bộ nhất của làng Bát Tràng, có nội dung và hình thức gần giống như một công ty cổ phần ngày nay. Tiền thân của HTX là tập đoàn sản xuất Minh Châu được thành lâp bởi một số thợ làm thuê tập hợp nhau lại và đóng góp cổ phần. Ban đầu, tập đoàn chỉ có 30 người. Trong vòng 2 năm, tập đoàn này đã phát triển thêm được gần 50 người nữa. Tháng 10 năm 1957, tập đoàn chuyển thành HTX sản xuất Minh Châu. Tháng 8-1959, HTX hợp nhất với các xí nghiệp gốm công ty hợp doanh thành xí nghiệp sứ Bát Tràng . HTX sản xuất Minh Châu chỉ được thông báo vào hôm trước là sẽ có lãnh đạo của TW về thăm. Sáng hôm sau Bác đã về . Tất cả các xã viên đều sản xuất bình thường.
Bác đi qua khu bể lọc đất rồi vào khu sản xuất đứng xem anh Vũ Văn Vinh ( sinh năm 1941, hiện nay đã 63 tuổi đã nghỉ hưu) in bát. Vì cảm động quá và còn ít tuổi nên anh Vinh in ra một bát còn hơi méo rồi đặt lên bàn sản phẩm.
Bác hỏi:
- Khi nung chín ra, bát có méo không ?
- Thưa Bác , bát cũng méo ạ!
- Thế thì phải làm lại!
Bác quay sang chỗ anh Trần văn Tửu ( sinh năm 1940, đã nghỉ hưu) đang tiện tiện bát ( một công đoạn sản xuất sau khi in bát và để khô) và hỏi:
- Mỗi ngày cháu tiện được bao nhiêu cái bát?
Anh Tửu hồi hộp quá nên không trả lời được. Một anh cán bộ huyện trả lời.
- Thưa Bác , được 300 cái ạ!
_ Như thế có ít không? Có thể gấp hai được không ?
Rồi Bác đi ra sân, xem chị Nguyễn Thị Kiểm ( Gọi theo tên chồng là Định, năm nay 74 tuổi đã nghỉ Hưu dấn men phủ Bát . Lúc đó là mùa Xuân nhưng vẫn còn rét, công nhân phải đun nước nóng để pha vào huyễn dịch men sứ cho khỏi giá. Một cán bộ huyện Gia Lâm cầm chậu để đi lấy nước nóng.
- Để các công nhân làm, kẻo chú làm hỏng mất!
Chị Định còn mải ngắm Bác nên Bác nói:
- Cứ làm đi cháu , khéo không đổ vỡ.
Xem xong , bác hỏi chị Định:
- Các cháu làm thế này, thu nhập có cao không ? Sản phẩm có chất lượng không ?
Mọi người chỉ mải nhìn Bác nên không ai biết trả lời như thế nào.
Cuối cùng, Bác bá vai anh Phùng Ngọc Oanh ( hiện 71 tuổi, đã nghỉ hưu) là chủ nhiệm HTX Minh Châu, căn dặn :
- Các cháu cố găng sản xuất hàng hoá sao cho nhiều, nhanh, tốt, rẻ để phục vụ nhân dân!
Bác Hồ rời khỏi HTX trong tiếng hô của mọi người
Hồ chủ tịch muôn năm!
Bác rẽ xuống thăm nhà ông Lang Xương( Lê Văn Xương đã mất) làm nghề Đông dược. Nhà ông lang Xương cũng đã được xây dựng xong ở chỗ đất mới.
Bác thấy trong nhà có mâm cơm, mổ lồng bàn ra xem. bác thấy cơm trắng , đậu rán, rau muống luộc, cà muối. Bác khen nhà có cơm ngon. Rồi Bác ngồi xuống phản gỗ, nói chuyện với ông lang. Bác thấy các lọ và hộp tủ đựng thuốc có dán nhãn tên thuốc bằng chữ Hán, Bác bảo:
- Chú phải dán tên thuốc bằng chữ Quốc ngữ ở dưới chữ Nho để khi chú đi vắng , người nhà bốc thuốc cứu người.
Bác lại hỏi:
- Chú có đắt hàng không?
- Thưa Bác, không được đắt lắm ạ !
Bác nói:
- Thế thì tốt, hàng thuốc mà đắt thì dân có nhiều người bệnh. Bác ngoặt sang một ngôi nhà 2 tầng gần đấy cũng đã được xây dựng xong.
Bác hỏi
- Đây là nhà ai?
Ông Trần Văn Tuý ( nguyên Phó chủ tịch xã Bát Tràng đã mất )
- Thưa Bác, nhà ông Phạm Huy Giáp đi bộ đội về ạ !
Bác vào thẳng gian hàng giữa nhà và thấy chăn chiếu trên giường được xếp gọn gàng. bác hỏi bà Trần Thị Vinh ( vợ ông Giáp , nay đã 83 tuổi) :
- Gia đình ta có mấy người?
- Thưa Bác, có 5 người cháu, 2 vợ chồng và một mẹ già , tổng cộng là 8 người ạ!
Bác nói;
- Thế thì có quá nhiều con.
Ngày 2- 09 - 2002, gia đình ông Phạm Huy Giáp đã lập bia đá gắn và ở tường trước ngôi nhà mà Bác đã đến thăm để kỷ niệm ngày Bác về thăm Gia đình .
Ra khỏi nhà ông Giáp, Bác vào nhà bà Nguyễn Thị Bùi ( gọi theo tên chồng là bà Tín, đã mất) chưa xây dựng xong nhà ở tại khu đất mới.
Bác hỏi:
- Sao cô chưa làm nhà?
- Thưa Bác, chưa có vôi ạ!
Thế là hôm sau, bà Tín có vôi làm nhà.
Cuối cùng , Bác trở lại để nói chuyện với dân làng. Trên khu đất có một đường goòng chạy đến cửa sông Bắc Hưng Hải để chở vật liệu và dụng cụ cho việc xây dựng cửa sông này. có một chiếc cầu cao bằng gỗ vượt qua đường gòong để anh chị em công nhân chất đồ xuống xe goòng. Dân làng muốn Bác Hồ đứng trên cầu vượt để nói chuyện với nhân dân.
Bác bảo các cán bộ lãnh đạo huyện và xã:
- Các cô chú cho Bác ra chỗ nào rộng!
Bác ra khoảng đất rộng trước HTX mua bán cho nhân dân trong xã (nay là Trạm Y tế thôn Bát Tràng), Anh Trần Văn Tửu vào một gia đình ở gần đó, mượn một cái bàn gỗ nhỏ , dài chừng 1,2m và cùng mấy người khiêng ra chỗ đất rộng để Bác đứng nói chuyện với dân làng. Mọi người đứng xung quanh Bác, yên lặng và trật tự để nghe Bác nói chuyện .
Bác hỏi thăm dân làng và nói:
- Nhà nước đào sông Bắc Hưng Hải làm mất đi một phần đất của làng Bát Tràng, các cụ và dân làng có vui lòng không hay không đồng ý? Việc di chuyển vừa qua, tình hình xây dựng nơi ăn chốn ở của các gia đình như thế nào? Làng Bát Tràng cũng như xã Quang Minh trong những năm qua hoạt dộng và công tác có thành tích ra sao?
Ai nghe cũng ngẩn người ra, không biết nói gì vì chỉ ngắm Bác và nghe Bác nói. Cụ Phùng Văn Chạnh ( đã mất) thay mặt dân làng báo cáo:
- Dân làng sản xuất rất tốt , thành tích so với năm 1957-1958 gấp rưỡi, không ai bị đói, làng Bát tràng không những giải quyết việc làm cho dân mà còn cho cả bà con ở các nơi khác.
Bác bảo:
- Thế thì tốt, Bác nghe bác cáo dân làng đã chuyển một nửa làng ra khu đất mới. Vậy tất cả bà con đã xây dựng được nhà mới chưa ?
- Thưa Bác , đã xây dựng được 80%. bà con phấn khởi, an tâm, không ai thắc mắc gì cả ạ !
- Dân làng đã phải giúp đỡ nhau để ai cũng làm nhanh được nhà mới.
Mọi người đồng thanh nói:
- Vâng ạ!
Bác Hồ căn dặn:
- Bát Tràng là một làng nghề phát triển. Các cô chú phải xây dựng đường sá rộng rãi để xe chở nguyên liệu về làng và chở hàng hoá đi, làng phải có giao thông thuận lợi . Bác căn dặn: "Làng Bát Tràng mới phải làm sao trở thành một làng kiểu mẫu của nước Việt Nam mới, nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa".
Sau đó Bác chúc sức khoẻ các cụ và dân làng rồi ra xe, rời khỏi làng Bát Tràng.
Theo lời Bác dặn , các gia đình ở các đường cái đều lùi vào nhà 1m, còn các gia đình ở đường phụ đều lùi vào 5 m. Một tuần sau đó, thư ký của Bác về hỏi ông Trần Văn Tuý xem nhân dân đã lùi nhà vào chưa? Ông Tuý đưa thư ký của Bác đi xác minh và công nhận dân làng đã làm đúng theo lời Bác chưa?
Theo: Sơ lược lịch sử Bát Tràng
Posted by Gia Thanh

BLOG BATTRANG 360*
HTTP://BLOGBATTRANG.TK
HTTP://BATTRANGVN.BLOGSPOT.COM


Gốm Bát Tràng thách thức gốm châu Âu

, , , ...

Gốm Bát Tràng thách thức gốm châu Âu
Update: 15.02.2011

Blog Battrang 360* - Có một số điều nên biết trước khi du lịch sang Việt Nam. Một trong số đó là : Hành lý của bạn sẽ nặng hơn khi quay lại châu Âu. Những sản phẩm bằng lụa rất đẹp và đặc biệt là đồ gốm khiến tôi phải tới thăm làng gốm Bát Tràng, Hà Nội.
Đến Bát Tràng, đúng là chúng ta đang sống trong một thế giới toàn cầu hóa, đồ gốm sứ từ Đông Nam Á thực sự thách thức gốm sứ châu Âu.
Đi dọc đường làng với những cửa hàng đồ gốm san sát, chúng tôi vào khu chợ gốm lớn nhất làng. Những gian hàng gốm sứ dày đặc trong khu chợ với đủ loại kiểu dáng bắt mắt. Tôi rất sợ làm đổ vỡ một vài đồ trong khi luồn lách qua những lối đi nhỏ.
Ở nước Đức của mình, tôi chưa từng nhìn thấy bất kỳ thứ gì giống như tại Bát Tràng này, mặc dù nước Đức chính là quê hương của đồ gốm sứ truyền thống ở châu Âu.
Đồ sứ đầu tiên được sản xuất tại châu Âu vào năm 1708 ở một thành phố của nước Đức có tên gọi Meißen. Đến nay nhãn hiệu “Meissener Porzellan Manufaktur” (xưởng sản xuất sứ Meissen) vẫn rất nổi tiếng, song tôi không thể so sánh với Bát Tràng bởi đồ gốm sứ do người Đức sản xuất rất đắt, nhiều loại có thể sưu tập như một thứ nghệ thuật: Một chiếc tách có giá tới 200 euro (tương đương 5 triệu đồng) - rất đắt với ngay cả người Đức. Còn giá cả bình thường cho một chiếc tách ở Đức cũng vào khoảng từ 125.000 đến 250.000 đồng.
Do vậy mà bất cứ đồ gốm sứ nào ở Bát Tràng cũng là quá rẻ đối với tôi, hơn thế nữa trông chúng đẹp đến kỳ lạ. Phượng, một cô gái trẻ bán hàng tại đây được bốn năm cho biết: Gia đình cô có một xưởng gốm rất lớn tại làng. Cô bắt đầu biết làm gốm từ năm 16 tuổi. Đây là một nghề gia truyền từ hơn một trăm năm qua của gia đình cô.
Bát Tràng có nghề gốm truyền thống từ rất lâu đời. Công ty “CK&T CERAMICS Co,.LTD” tại đây đang xuất khẩu đồ gốm đi khắp thế giới, họ cho biết Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam có lưu giữ đồ gốm Bát Tràng sản xuất từ cách đây 700 năm.
Cũng theo công ty trên, ngày nay mỗi năm làng Bát Tràng xuất khẩu một lượng lớn gốm sứ lên tới khoảng 40 triệu USD. Trong thế giới toàn cầu hóa này, đồ gốm giá cả rất hấp dẫn từ Đông Nam Á đang thực sự tràn vào châu Âu và Mỹ, gây ảnh hưởng không nhỏ tới các xí nghiệp gốm sứ truyền thống nơi đây.
Tại Bát Tràng, tôi dễ dàng bắt gặp những sản phẩm mang dấu hiệu của thời toàn cầu hóa. Tham quan một xưởng gốm trong làng, tôi thấy còn sót lại nhiều mẫu mã dùng cho mùa Halloween - có lẽ để xuất sang thị trường Mỹ: Những quả bí ngô, những chiếc đầu lâu bằng gốm đang cười ngộ nghĩnh, những bức tượng nhỏ về chuột Mickey, vịt Donald...
Trong hành trang trở về khách sạn của mình đã có thêm một chiếc đĩa cùng hai cái bát xinh xắn “made in Bat Trang”.
Nadine Albach

Nadine Albach là PV nhật báo Westfailsche Rundschau (Đức) tới tòa soạn báo Tiền Phong trong tháng 1/2011 theo chương trình trao đổi phóng viên với Viện Goethe (www.goethe.de/closeup).
Nguồn: Tiền Phong Online
Posted by Gia Thanh

BLOG BATTRANG 360*
HTTP://BLOGBATTRANG.TK
HTTP://BATTRANGVN.BLOGSPOT.COM

Dấu ấn Tây Sơn trong làng gốm Bát Tràng

, , , ...

Dấu ấn Tây Sơn trong làng gốm Bát Tràng
Update: 14.02.2011


Blog Battrang 360* - Nơi lưu giữ khá nhiều chứng tích thời Tây Sơn lại không chỉ là Bình Định - quê hương Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ, mà là nhiều địa phương phía bắc như Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Tây (cũ)...

Trong đó, có làng gốm Bát Tràng - một gạch nối thú vị giữa đất võ Bình Định và đất văn Thăng Long - Hà Nội, nhân dịp mừng đại lễ nghìn năm.
Kỳ tích của làng

Hành trình tìm kiếm với sự tham gia của các nhà khoa học, các chuyên gia bảo tàng cùng chính quyền và nhân dân xã Bát Tràng (Gia Lâm - Hà Nội) đã đưa đến hy vọng: Có thể phục dựng lại những cổ vật thời Tây Sơn, trên cơ sở những hiện vật tới nay vẫn còn lưu giữ được. Trong đó, đáng kể nhất là 16 bản sắc phong mà các đời vua thuộc vương triều Tây Sơn đã phong cho thành hoàng làng Bát Tràng.

Với bất kỳ triều đại phong kiến nào, những bản sắc phong cũng luôn được coi là những hiện vật gốc, mang trên mình nó nhiều dữ liệu văn hóa - lịch sử. Riêng với Tây Sơn - một triều đại từng bị nhà Nguyễn Gia Long sau đó ra sức tìm cách tận diệt, thì câu chuyện bảo tồn hiện vật còn hàm chứa một ý nghĩa khác: Sức sống của triều đại Tây Sơn trong lòng dân, ngay cả khi nó đã chấm dứt vai trò lịch sử. “Để giữ gìn hiện vật, các bậc tiền nhân của làng chúng tôi đã từng phải đem chôn dưới cát” - cụ Lê Thanh Lợi - Trưởng làng Bát Tràng - cho hay. Không chỉ lòng dân, đó đôi khi còn là ý trời.

Ông Phạm Văn Mai - người làng Bát Tràng - kể: “Năm 1967, khi Mỹ ném bom cầu phao Thiên Lương, đã có một quả bom rơi ngay sát đình làng Bát Tràng - nơi lưu giữ 44 đạo sắc phong mà các triều đại phong kiến đã phong cho thành hoàng làng Bát Tràng, trong đó có 16 đạo sắc phong triều Tây Sơn (riêng đời Vua Quang Trung có 6 sắc, đều vào năm 1792). Nhưng may thay, quả bom đã không phát nổ!”. Đến năm 1970, đình làng bị dỡ bỏ, 44 sắc phong cùng các cổ vật khác của làng đã phải gửi vào nhà dân.

“ Suốt hai mươi mấy năm làng không còn đình, cộng với trước đó là chính sách tìm và trả thù của nhà Gia Long với Tây Sơn, vậy mà cho đến nay, người dân quê tôi vẫn còn giữ được những cổ vật ấy - đó có thể coi là một kỳ tích của làng, là lòng dân Bát Tràng với triều đại Tây Sơn và người anh hùng áo vải...” - ông Phạm Văn Mai tự hào.

Từ kỳ tích này, các con cháu đời nay của làng gốm đã gửi tặng tỉnh Bình Định hai tờ sắc phong thời Tây Sơn và 5 mẫu ấn triện phác thảo bằng gốm do nghệ nhân Trần Độ thực hiện để trưng cầu ý kiến của các nhà khoa học, sử học..., từ đó chọn ra phương án phục dựng cuối cùng.

Kỳ vọng của tỉnh

Cuộc tọa đàm khoa học về vấn đề sắc phong, ấn triện thời Tây Sơn do UBND tỉnh Bình Định phối hợp với Bảo tàng Lịch sử VN tổ chức vào ngày 5.6 vừa qua tại Hà Nội cũng là nhằm bàn cách làm sống lại những giá trị văn hóa tinh thần vô giá đó, và tìm cách đưa chúng trở về với mảnh đất đã sinh ra “người anh hùng áo vải”, như một hành động “về nguồn”, bày tỏ lòng tôn kính với bậc tiền nhân đã lập lên một triều đại tuy ngắn ngủi, nhưng lẫy lừng trong lịch sử vương triều Việt.

Theo tiến sĩ Nguyễn Đình Chiến - Phó Giám đốc Bảo tàng Lịch sử VN, cho đến nay, các di sản văn hóa vật chất thời Tây Sơn chỉ còn lại lẻ tẻ. Trong đó, các ấn triện thời Quang Trung hiện còn chủ yếu là các loại ấn của võ quan (một số hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử VN). Các quả ấn của vua (tức là các kim bảo) dưới thời Tây Sơn đến nay đều không còn, mà chỉ có thể biết được hình dấu trên các bản sắc phong, chỉ, truyền. Theo TS Phạm Quốc Quân - Giám đốc Bảo tàng Cách mạng VN, Ủy viên Hội đồng Giám định cổ vật: Trên văn bản, ấn thời Quang Trung để lại cũng rất ít.

Trong đó, ông Quân cho rằng, hai loại ấn được đóng trên sắc phong thần (chẳng hạn, dấu ấn “Hòa nhu chi bảo” - phong thần cho đình làng Bát Tràng) và phong cho người có công (ấn “Sắc mệnh chi bảo”) là đáng quan tâm hơn cả. Nhưng để phục dựng thì theo ông Quân trước hết nên ưu tiên cho ấn triện “Sắc mệnh chi bảo”, là ấn phong cho người có công, chứ không phải là ấn phong thần. Tuy nhiên, bản thân các dấu ấn lưu lại trên các sắc phong chỉ mới cho hình dung về phần đế ấn, chứ không cho biết chất liệu ấn (bằng đồng hay bằng vàng...) cũng như các tiểu tiết khác chẳng hạn như núm ấn...

Giải pháp được các chuyên gia bảo tàng đưa ra là có thể tham khảo bộ sưu tập 85 chiếc ấn bằng vàng, bạc mạ vàng và ngọc đã được Bảo tàng Lịch sử VN công bố năm 2009, cũng như các hình rồng trên chuông Tây Sơn (tính đến năm 1996, tính từ Huế trở ra Bắc Giang đã thống kê được 181 quả chuông). Trong đó, có một quả hiện treo tại chùa Bảo Minh (Bát Tràng).

Trong lịch sử, ấn “Sắc mệnh chi bảo” ở thời Nguyễn nặng khoảng 8kg, làm bằng vàng 10 tuổi. Tuy nhiên, theo ông Trần Bắc Hà - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Đầu tư và Phát triển VN, đơn vị nhận trách nhiệm bảo trợ và kêu gọi kinh phí để phục dựng ấn Tây Sơn - thì không nên làm bằng vàng vì sẽ gây tốn kém, chi phí đó nên để dành cho công tác an sinh xã hội; thay vào đó, có thể làm bằng bạc, hoặc đồng mạ vàng. Chữ “vàng” đáng giá hơn cả nằm trong tâm thế của người tưởng nhớ!
Còn một kênh tham khảo đáng tin cậy nữa có thể giúp cho việc phục dựng hiệu quả hơn: Đó là bộ sưu tập 7 ấn triện thời Tây Sơn vô cùng quý hiếm mà nhà sưu tập tư nhân Nguyễn Văn Phẩm hiện đang nắm giữ. Trong đó, đáng quý nhất là chiếc ấn triện đi kèm chiếu phong chức của một quan tri huyện phong cho một vị hương mục - được đánh giá là món “độc nhất vô nhị”.

Theo: Bao Lao Dong
Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

Chơi gốm - sứ cổ

, , , ...

Chơi gốm - sứ cổ
Update: 13.02.2011[/B]

Blog Battrang 360* - Nét đẹp dung dị của quê hương, đất nước vươn lên từ dáng, từ hình của gốm, sứ đã làm say lòng người
Chơi gốm, sứ cổ là thú chơi tao nhã của rất nhiều người. Không ồn ào, phô trương, thú chơi gốm, sứ cổ như một mạch ngầm trong dòng chảy văn hóa, mà người chơi giữ vai trò kết nối sợi dây văn hóa giữa xưa và nay, giữa quá khứ và hiện tại.

Thú chơi tao nhã

Những người am hiểu đồ gốm, sứ thường nói: “Nhất xương, nhì da, thứ ba đến lửa”. Xương là tạo hình, da là trang trí, viết vẽ hay đắp nổi, khắc các hoạ tiết và men. Lửa là khâu cực kỳ quan trọng, non lửa không chín hàng, men không chảy, còn già lửa thì rộp nứt nẻ, thậm chí cháy đét. Đồ gốm, sứ đẹp phải đạt được bốn tiêu chuẩn: Kêu như chuông, mỏng như giấy, trắng như ngọc và trong như gương.
Gốm, sứ nước ta khác nhau về thời đại, về địa phương. Gốm, sứ Bát Tràng khác gốm, sứ Phù Lãng, Chu Đậu, Hương Canh, Thổ Hà, Thanh Hoá... Gốm Bát Tràng giỏi làm men màu trắng lam, sứ Thanh Hoá giỏi làm men rạn. Gốm Thổ Hà không tráng men nhưng tạo được màu nâu sẫm bóng trên sản phẩm. Gốm Phù Lãng mộc mạc với bình, lọ, đĩa hoa, họa tiết hiện đại kết hợp với chất liệu cổ điển tạo nên phong cách nổi bật. Gốm Hương Canh thô mộc hơn, có màu vàng tươi hơn gốm Phù Lãng và Thổ Hà. Gốm Chu Đậu rất đa dạng về loại hình và được tráng hoặc trang trí bằng nhiều loại men, màu khác nhau, phổ biến là men trắng trong, hoa lam, men ngọc, xanh lục, xanh màu rêu, vàng nhạt, vàng đậm. Một số được tráng tới hai màu men: trong trắng, ngoài nâu.
Hoa văn là điều đáng nói nhất của gốm Chu Đậu. Trên hoa văn thể hiện đậm đà màu sắc dân tộc, phản ánh một cách sinh động thiên nhiên và cuộc sống cư dân vùng châu thổ như: hình người đội nón, mặc áo dài, người chăn trâu, một cánh đào hoa nụ với con chim nhỏ ngơ ngác trước xuân sang, từng đàn chim ngói, chim cu sải cánh, từng đàn bồ nông, vịt trời bơi lội bồng bềnh, từng đàn cá tung tăng...
Ông Nguyễn Văn Cường, một người chơi gốm, sứ cổ lâu năm ở Hà Nội cho biết, những thứ có thể đặt lên bàn thờ là loại được trang trí tứ linh động vật “long, ly, qui, phụng”; còn bày trên án, trên bàn sách, bàn uống nước thuộc tứ linh thực vật “đa, sung, si, sanh”, hoặc các bộ tứ quý như “tùng, cúc, trúc, mai”...
Đồ gốm, sứ thường gắn liền với hoa, cây cảnh. Chọn một loại bình, chậu nào đó phải phù hợp với màu hoa, dáng cây cảnh và nền trang hoàng (bàn, tủ) trong nhà. Ngày xưa có nhiều cách bày, chẳng hạn như theo kiểu cao - thấp, ngang - dọc, theo lối âm dương, ngũ hành, có cái bày dưới đất, có cái treo trên tường. Sự cầu kỳ trong cách chơi còn thể hiện ở cách bày theo các mùa xuân - hạ - thu - đông với từng gam màu nóng lạnh khác nhau.
Đồ gốm, sứ trang trí trong nhà đòi hỏi quá trình tư duy và chọn lọc khắt khe. Nếu lạm dụng và sa đà, ngôi nhà sẽ trở nên “cục mịch, nặng nề”. Nhưng nếu biết khéo léo sử dụng và tinh tế trong chọn lọc, ngôi nhà sẽ trở thành một tác phẩm nghệ thuật.

Lưu giữ hồn dân tộc
Theo những người chơi gốm sứ cổ, đồ sứ cổ thông dụng thời xưa đa phần là do người Việt xưa đặt làm bên Trung Quốc, gồm hai loại: Một là của triều đình đặt làm đồ ngự dụng, gọi là đồ “Ký Kiểu”. Những đồ sứ này có các họa tiết, thơ văn bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm, xuất phát từ ý tưởng của vua chúa Việt Nam, hầu hết có màu lam đặc trưng và có ghi rõ niên đại (như Tự Đức niên chế, Minh Mạng niên chế). Hai là những đồ sứ do các gia đình trâm anh thế phiệt tự vẽ kiểu rồi đặt hàng những thương nhân Trung Quốc có mở cửa hiệu buôn bán tại Việt Nam. Tuy hầu hết những đồ sứ cổ thời đó đều do người Trung Quốc chế ra nhưng lại mang đậm phong cách Việt Nam
Thời Lý, Trần, phong cách trang trí gốm sứ phóng khoáng, khoẻ khoắn, hình hoa sen được dùng để trang trí nhiều. Biểu hiện tập trung nhất là gốm “cung đình” có nét chữ “Thiên Trường phủ chế” (làm ở phủ Thiên Trường). Thời Lê, gốm, sứ có đặc điểm riêng là hay dùng màu chàm tím để vẽ hươu, sư tử, rồng..., các loại côn trùng như ong, bướm thì dùng màu tối hơn.
Nhìn chung gốm, sứ Việt Nam có thế mạnh về kỹ thuật đắp nổi, phù điêu long, ly, qui, phụng... Cái đẹp của gốm, sứ Việt Nam là dáng khoẻ khoắn mà không hề nặng nề. Vì thế, nhiều người rất ưa thích gốm Việt, bởi vẻ đẹp tự nhiên, giàu sức sống, mộc mạc, không lên gân, nhưng cũng không vì thế mà quê kệch, cục mịch.
Nghề chơi nào cũng lắm công phu, riêng thú chơi cổ ngoạn lại càng đa đoan hơn. Một món đồ cổ đạt đủ các tiêu chuẩn về men, dáng và sự nguyên vẹn không dễ kiếm, thậm chí người chơi đôi khi phải “theo đuổi” hàng tháng, hàng năm. Cũng có người chơi vì quá yêu thích một món đồ đã phải thực hiện phương châm “nhịn đủ thứ”, thậm chí có người còn bán cả nhà, cả xe, miễn là tích cóp đủ tiền để “đưa nàng về dinh”. Để phân biệt thật giả, người chơi phải chịu khó nghiên cứu lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, địa lý… Hiểu biết càng sâu sắc thì niềm vui cảm nhận càng lớn lao.
Cổ vật nào cũng có hồn, dù chỉ một chiếc đĩa nhỏ, hay một lọ hoa cũng làm con cháu đời sau phải suy nghĩ. Trải bao biến động của thời gian, những đồ gốm sứ còn lại đến nay đã trở thành một phần di sản vật thể của đất nước, qua đó giúp cho người đời sau nghiên cứu từ lịch sử, thơ văn, nghệ thuật đến phong tục, tập quán, ngôn ngữ của các thế hệ cha ông.
Ngoài sự am hiểu, thông tuệ sâu sắc về đồ cổ, về mỹ thuật của từng thời kỳ, từng trường phái, thì điều quan trọng hơn là người chơi phải có sự “tri âm” với cổ vật, biết “nói chuyện” với những món đồ cổ để khám phá những thông điệp thời gian được ấn ký trên những món đồ của người xưa. Để rồi như một sự đền đáp, họ là những người truyền đạt lại, giữ vai trò kết nối sợi dây văn hóa giữa xưa và nay, giữa quá khứ và hiện tại. Họ giúp cho người đương thời có thể hiểu được những gì người xưa đã gửi gắm, trao tặng cho mai sau mà tự hào, giữ gìn và bảo tồn./.

Hương Ly (Báo TNVN)
Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

Dấu ấn Việt trong trà đạo Nhật Bản

, , , ...

Dấu ấn Việt trong trà đạo Nhật Bản
Update: 12.02.2011


Blog Battrang 360* - Theo các văn tự cổ Trung Quốc, ảnh hưởng của trà và trà đạo xuất sứ từ Việt Nam đã truyền qua Trung Quốc tới Nhật Bản và lưu lại những dấu ấn đặc biệt sâu đậm ở sứ Phù Tang …
Việt Nam đã biết đến trà từ thời Ðông Hán, nhưng trà đạo Việt thành hình vào đời nhà Ðường.

Sách Trà Kinh của Lục Vũ nhập đề rằng "trà là loài cây lớn ở phương nam". Chứng tích trà đạo Việt còn lưu lại trên những bình bát trà gốm Việt Dao từ thời Bắc thuộc, lên đến tột đỉnh thời Phật giáo Lý, Trần.

Ðạo trà Việt cổ là đạo mà không đạo, đạo vô môn quan: không cửa vào, không lối ra.

Trà Kinh chép: Trà là loài cây quý ở phương Nam, cây như cây qua lô, lá như lá chi tử, hoa như hoa bạch tường vi, trái như trái banh lư, nhụy như nhụy hoa đinh hương, mùi vị rất hàn (lạnh).

Sách Quảng Bác Vật Chí chép: cao lư là tên riêng của một thứ trà, lá to mà nhụy nhỏ, người phương Nam dùng để uống.

Trà Kinh lại chép: "Người phương Nam có cây qua lô giống như lá trà non mà nhụy đắng, giã nát ra pha trà mà uống thì suốt đêm không ngủ. Ở Giao Châu và Quảng Châu người ta rất quý thứ này, hễ có khách đến nhà thì trước hết bày ra đãi khách". Theo lời Ðào Hoàng Cảnh, một ẩn sĩ tài hoa đời Nam Bắc Triều thì bọn xử sĩ trong thiên hạ rất chuộng thứ trà này.

Theo sách Nghiêm Bác Tạp Chí trích lời Lý Trọng Tân học sĩ nói: "Trà ở Giao Chỉ như rêu xanh, vị cay gắt gọi là trà đăng" (tức là mạt trà). Những núi ở huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hóa có trồng thứ trà này. Cây trà mọc liên tiếp che khắp rừng. Người bổn thổ hái lá, giã cho nát, phơi khô trong bóng mát, nấu mà uống, tính nó hơi hàn, có thể làm mát tim phổi và ngủ ngon.

Cửu Chân, tên gọi Thanh Hóa đất Việt cổ có: núi đặt tên chữ là Trà Sơn, người ta gọi nôm là núi Chè. Sách An Nam Chí lược chép: nhà Trần mỗi lần đi sứ nhà Nguyên đều cống trà thơm làm thổ sản quý.

Từ thuở triều Hán, Ðường, Tùy sứ Việt đã chế được thứ gốm tên gọi Việt Dao. Gọi tên như thế để chỉ thứ "men tro" trổ mầu xanh biếc như ngọc cổ. Sách Tàu chép Việt Dao phát sinh từ Nam Việt miền Ngũ Lĩnh, chứ không nói rõ đất Giao Châu, Cửu Chân. Di chứng khảo cổ học, trên đất ta cho thấy thời ấy ta đã làm được gốm Việt Dao, mà lại làm một số lượng rất lớn, khởi từ những giọt men xanh nhiễu đọng trên thân gốm, mà nay xếp vào loại gốm "Hán bản địa".

Từ mầu xanh bích ngọc đời Bắc thuộc đến mầu xác trà đời Lý, Trần, những bát trà Việt ra đời song song bát trà Ðường, Tống bên Tàu. Người Việt vẫn trung thành sở thích sắc mầu Việt Dao của dân tộc đến mãi thế kỷ 15. Hóa ra Việt Dao là chữ gọi dân tộc ngày nay ta vẫn mang tên, là người chế ra men gốm tiền thân gốm men ngọc (proto-celadon) lừng lẫy Ðông phương.

Ðời Lý, Trần đã làm ra rất nhiều các thứ liễn, bình đựng nước pha trà đi đôi với các loại bát trà mang thần thái đặc thù Ðại Việt. Bình trang hoàng tòa sen chạm nổi, âu bát vóc dáng chẳng khác nào bình bát các tăng sư. Làng nào cũng có đình chùa. Bát trà cũng là vật không thể thiếu được trong các đồ tế nhuyễn bày trên điện thờ, cũng như cúng vào chùa chiền để các sư uống trà. Nghệ phẩm từ các làng gốm như chở chuyên hồn đạo, tiếng chuông mõ sớm hôm, mùi trầm nhang quyện trong không gian lũy tre làng trên đất nước. Thiền gốm Lý, Trần đã mang cung cách rất Việt Nam. Văn bia đời Lý do sư Pháp Ký soạn cho thầy là sư Tịnh Thiền ghi rằng "Chỗ uống trà là chỗ thập phương thí chủ dồn về". Chỗ uống trà tức là cửa Phật. Nay ngắm những trà khí cổ, ta mới biết phép uống trà Việt lồng trong thiền vị từ thuở đầu dựng nước, đưa hình sắc của tâm linh đến cả đại chúng.

Tại nền chùa cổ Dazaifu Kanzeon-ji người ta đào được những mẫu gốm vỡ của bát trà Ðại Việt đời Trần, kề bên mảnh ván mục còn đọc được vết mực ghi niên đại tương đương năm 1330. Trước đó, đã có những trà khí Ðại Việt xưa hơn vào chốn tăng đường Nhật.

Ðầu thế kỷ 13, thượng sư Eisa từ Trung Hoa mang về Nhật Bản lần đầu giống cây trà được coi là có xuất sứ từ Việt Nam. Sau đó, đệ tử Ngài là sư Dogen sang du học tại chùa Thiên Mục Sơn, khi về nước có người hỏi sư học được gì, sư đáp: "Không có chi nhiều ngoài pháp an tâm". Pháp an tâm sư mang về cùng trà đạo và bát trà Thiên Mục (tiếng Nhật gọi là Temmoku). Dogen được coi là sư tổ của trà đạo Nhật Bản vậy.

Cũng như Ðại Việt, bấy giờ Phật giáo Nhật bén rễ vào giới thế quyền. Tăng sư là khách quý của các sứ quân và bọn phú hào. Họ học Phật rồi tiêm nhiễm luôn đạo thưởng trà. Uống trà nhằm luyện con người khu trừ những chướng ngại phiền não, để đạt chỗ rốt ráo của an bần lạc đạo, hòa đồng với Tự Nhiên, tức là Chân Như.

Uống trà, hành trà đạo phải có các trà khí mà ngành gốm Nhật bấy giờ rất phôi thai. Nên trà gốm từ Cao Ly, Trung Quốc, Ðại Việt đưa sang giá đắt, chỉ giới hạn trong hàng sứ quân và đại phú. Thay vì hấp thu nếp thanh bần, họ bèn mượn trà đạo làm trò trà dư tiêu khiển, đặt ra các quy tắc kiểu cách (Cha No Yu), muốn vào phải qua cổng Hữu Môn Quan. Trà đã đưa thiền vị đạm bạc vào trú ngụ chỗ đền các xa hoa. Trong khuôn viên cung đình nguy nga, các chúa công sai dựng nên trà thất bắt chước lều cỏ bần hàn của ẩn sĩ để hành trà đạo. Còn bên nước Việt, đạo đã từ cung cấm ra đi, bỏ phú quý phù vân để phiêu bồng nơi cảnh thật của "rừng trúc lắm chim" (Trúc lâm đa túc điểu) như thơ ngài Huyền Quang. Các vua Lý, Trần bỏ kinh về núi, thực hiện hạnh tầm đạo dẫm theo bước của thái tử Tất Ðạt Ða.

Ấy là chỗ khác biệt trong lịch sử thiền trà đạo Việt - Nhật vậy.

Từ bát trà Thiên Mục, về sau trà gốm Trung Quốc xa lìa hồn đạo, ngày càng tinh kỳ sắc sảo để thỏa mãn thị hiếu vua quan, kẻ nhà giàu thích trưng bày đồ mỹ ngoạn, thành kỹ nghệ xuất đi các nước. Lấy cảm hứng từ mầu xanh xác trà Việt Dao (proto-celadon), gốm Trung Quốc tiến hóa thành mầu men ngọc xa hoa (celadon), của lò Diệu Châu Bắc Tống, lò Long Tuyền Nam Tống. Trong khi nước Việt vẫn chuộng giữ mầu xác trà "thuận tự nhiên" cốt cách đạm bạc của tổ tiên.

Khi các trà sư Nhật ra tay đón nhận bát trà Việt ấy, con mắt trong tâm hồn họ như thoát nhiên thể ngộ được ấn chỉ tâm truyền ấy.

Quan hệ Trung Quốc, Nhật Bản sinh thù nghịch từ thế kỷ 14, hồi quân Nguyên Mông sang đánh Nhật, bị ngọn Thần Phong diệt. Khi nhà Minh lên ngôi, từ năm 1371 ra lệnh cấm dân duyên hải xuất ngoại. Ðến năm 1567, mới bỏ luật này, nhưng vẫn cấm vượt biển sang Nhật Bản vì nạn "Nuỵ khấu" (cướp lùn), quẫy nhiễu bờ biển Trung Quốc. Suốt mấy thế kỷ đó, Nhật đã tìm thấy nơi Ðại Việt của nhà Lê nguồn cung cấp tơ sống và gốm sứ.

Lúc này Ðại Việt đã làm sứ vẽ lam. Gốm sứ trà Việt nhập vào Nhật Bản nhiều hơn trước, đóng vai trò quan trọng trong nghệ thuật trà đạo Nhật Bản đang hồi cực thịnh. Không gò gẫm tỷ mỷ như bàn tày nghệ nhân đời Minh, mấy nét đơn sơ trên gốm Việt phóng bút cảnh chim trời, cá nước, sơn thủy, tùng thạch v.v... xuất cái thần vị Thiền Lão, chẳng khác nào tranh tốc họa Sumi-e, và thuật thư pháp, rất hợp với tâm hồn trà nhân Nhật, làm họ say mê. Vẽ gốm như vẽ tranh Thiền. Di sản tranh cổ họa Việt Nam ngày nay chừng như có thể thấy trên gốm cổ.

Nhật Bản là một dân tộc hoài cổ và có khiếu thẩm mỹ từ những vật nho nhỏ. Ngày nay trong các viện bảo tàng khắp nước này trân quý giữ những món trà khí Việt từ đời Lý - Trần - Lê - Mạc đã liên tục đến Nhật Bản qua bao thế kỷ. Trong hậu sảnh những thiền viện xưa, còn cất giữ những đồ tế nhuyễn và trà khí làm bởi những nghệ nhân vốn là người mộ Phật ở xứ Việt xa.

Và trong lâu đài cổ, truyền thừa các sứ quân và giới phú hào ngày nay còn gia truyền các bộ gốm sứ Việt Nam làm báu vật. Bộ sưu tập gốm Việt trứ danh nhất của dòng họ thương nhân Ozawa Shrouemon từ Hội An trở về Nhật Bản năm 1638, khi chúa Tokugawa cấm dân Nhật xuất dương. Chiếc bát vẽ mầu "Beni-Annam" ngày ngày chúa Tokugawa ưa dùng thưởng trà nay là báu vật trong lâu đài của chúa ở Nagoya v.v...

Dòng trà gốm đầu tiên Raku đã mang dáng bát trà Lý, Trần. Về sau truyền thừa dòng gốm này và các trường phái khác thường mô phỏng theo mỹ thuật gốm nước ta. Họ gọi là Annam Yaki để chỉ cho dòng gốm hoa lam của lò Chu Ðậu, Bát Tràng ở Ðàng Ngoài thời Lê, Mạc; và Kochi Yaki, tức gốm Cochin China xứ Quảng Nam Ðàng Trong của chúa Nguyễn về sau.

Sử Nhật chép vị sơ tổ dòng gốm Raku tên là Zengoro, còn một hiệp sĩ theo phò lãnh chúa Ashikaga, ông làm gốm tế nhuyễn cho thiền viện Kasuga, và trà khí cho tăng sư hành trà đạo. Con cháu về sau lấy đó làm nghiệp nhà.

Truyền thừa đời thứ 10, Zengoro Ryozen vẫn làm gốm lối gia truyền, và khởi đầu bát trà lừng danh Raku. Ông còn biệt tài mô phỏng trà gốm của An Nam (Annam Yaki) và Cochin China (Kochi Yaki). Ðến đời con nối dõi, Zengoro Hogen là một nghệ sĩ tài hoa nhất trong dòng họ. Ông nổi tiếng chuyên làm gốm ba mầu (tam thái) kiểu Kochi Yaki, gồm mầu lục, tím đỏ và vàng, mỗi mầu ngăn cách nhau bằng những nét chạm nổi. Hogen được lãnh chúa Tokugawa đất Kishu thu dụng và sủng ái, ban cho chiếc ấm bạc chạm tên Eiraku (Vĩnh Lạc) lưu danh trên tác phẩm, coi tài nghệ ông ngang hàng các tuyệt phẩm đời vua Minh bên Tàu cùng tên, đầu thế kỷ 15. Chúa còn ban cho ông một ấn vàng, chỉ được dùng đóng tên lên các món trà khí được chúa chuẩn nhận.

Năm 1659, một nghệ sĩ gốm người Tàu mà người Nhật gọi tên là Chin Gempin mở lò chuyên sáng tác những trà gốm bằng loại gốm tiêu biểu dòng Seto: mầu trắng rạn mịn tựa ngà cổ, mô phỏng kiểu gốm Bát Tràng của An Nam xuất sang Nhật Bản hồi trước. Ông trang trí trên gốm cảnh sơn thủy, hoặc đề thư pháp thơ cổ bằng mầu lam xanh.

Dòng gốm Kutani, chuyên làm gốm mầu sặc sỡ, trong đó có loại bắt chước làm gốm sứ cổ Tàu, Việt. Năm 1810, thương nhân giàu có tên Yoshidaya Denyemon tái dựng lại những lò gốm đã đóng cửa ở Kutani, để phục chế kiểu gốm Kochi Ðàng Trong Việt Nam đời trước.

Mokubei (1767 - 1833), là bậc văn nhân theo mẫu truyền thống đông phương. Ông làu thông kinh sách có khiếu làm thơ, vẽ tranh, tạo gốm, môn nào cũng tài hoa. Ông bắt chước làm các món sứ cổ, khéo léo chẳng phân biệt mới cũ đâu vào đâu. Ông đặc biệt mô phỏng các tiêu bản trà gốm Cochin China không sai sẩy, tác phẩm này nay trưng bày trong Viện Bảo tàng Nghệ thuật Tokyo.

Thế kỷ 20, những nghệ sĩ học giả Tây phương nào đến Nhật Bản bị cuốn hút trong đạo vị nền văn hóa nghệ thuật Nhật, dĩ nhiên đều mê say các cổ trà gốm Việt tại Nhật Bản. Các tên tuổi: William Willets, Stephen Addis, Hugo Munsterberg, Hazel H.Gorham, John Stevens v.v... dày công nghiên cứu và giới thiệu cái đẹp trong văn hóa Nhật đến Tây phương. Qua họ, thế giới lần đầu tiên biết đến bát trà Việt trong trà đạo Nhật. Lừng lẫy nhất là nhà nghệ sĩ gốm kiêm đạo gia người Anh Bernard Leach, từng trải suốt đời học hỏi và sáng tạo tại Nhật Bản, được lão sư dòng gốm Kenzan thu nhận và ban ấn truyền thừa. Trong sự nghiệp tầm thầy học đạo, ông học qua thuật làm gốm nung Kochi Yaki, tức gốm Ðàng Trong Việt cổ tại Nhật Bản. Ông trân quý vô ngần một bát trà gốm trắng sứt mẻ đời Lý trong bộ sưu tập riêng mình. Về già, ông là bạn tâm đắc của Shoji Hamada, một đạo sư gốm Nhật Bản. Cả hai thuộc vào hàng bốn tên tuổi thượng thừa của ngành gốm hiện đại. Cả hai đều ưa thích sưu tầm bát trà cổ Việt, dùng đó làm tiêu bản học bí quyết làm gốm của cổ nhân.

Minh Giang
Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com


Bát măng mực của bà cố nội tôi

, , , ...

Bát măng mực của bà cố nội tôi
Update: 11.02.2011

Blog Battrang 360* - Bà cố nội tôi quê ở Bát Tràng, có người anh được xướng danh cử nhân sau kỳ phúc hạch đệ tứ cùng với ông cố nội tôi trong kỳ thi cuối cùng của Nam triều ở thành Nam. Khoa này lấy 60 cử nhân và 200 tú tài (lệ triều đình "nhất cử tam tú", nghĩa là chấm được một cử nhân thì lấy thêm ba tú tài). Hai người kết thân trên đường về Quốc Tử Giám ở Thăng Long, khi Khâm sai Đại thần Bắc kỳ triệu tập về chiêu đãi.
Làng Bát Tràng, nơi có món đặc sản măng mực.
Ở Bát Tràng, nhà bà cố nội tôi là gia đình Nho giáo, nền nếp, mấy đời khoa bảng, con trai đỗ đạt cao, con gái nổi tiếng "nữ công gia chánh", thường được vời về thành phục vụ lễ lạt tại các phủ đệ. Cũng từ tiệc mừng đại khoa ấy, duyên cớ thế nào, mà người em gái ông cử tân khoa làng Bát bén duyên ông cố nội tôi, rồi theo chồng về quê ở huyện Nam Trực, Nam Định hiện nay.
Ngày tôi còn nhỏ, có lần được bà thổ lộ cơ duyên mình. Số là trong bữa tiệc khâm sai đãi các vị tân khoa ở hội Giám ấy được vời đến phục vụ, bà đem món gia truyền quê hương ra thi thố. Xếp vào loại chủ soái trên bàn tiệc thịnh soạn, món ấy đánh bật nhiều món cao lương, mĩ vị của các bà, các cô có tiếng giỏi nữ công ở Tràng An. Ông cố nội tôi khen lấy khen để. Rồi ông được bạn mời về làng Bát thưởng lãm cuộc vinh quy, từ đó mà nên duyên…
"Vốn" bà mang về nhà chồng có nhiều thứ. Nhưng quý nhất, có lẽ là kỹ năng chế món măng mực này. Bà làm vài dịp trong năm thôi, để hầu chồng, hoặc khi đãi đằng khách văn. Còn con cháu được thưởng thức thì chỉ mỗi lần, bữa tất niên cúng tổ tiên ông bà.
Có vài chuyện thú vị về bà cố nội tôi, khi về nhà chồng đã góp phần làm bớt đi những thói tật chả hay gì trong hương thôn. Cố nội tôi là người khai khoa cho cả dòng họ, rất có uy tín với tiên chỉ, hội đồng kỳ mục. Làng có lệ hễ đi ăn cỗ chỉ nhấm nháp các món nước cho qua, còn đâu những thức khô như giò chả, nem, luộc, rán… thì chia nhau gói về cho con cháu, bà bàn với ông vận động bỏ đi hẳn. Trong đám hỷ, khi rước dâu, trai làng đặt những rào cản đòi tiền mãi lộ, sau ăn chia cùng hương lý. Bà cũng bàn bỏ, lại tập hợp thanh niên, giới thiệu về quê ngoại Bát Tràng học nghề gốm sứ. Đám con gái được bà bỏ tiền thuê thầy về dạy canh cửi dệt may, có việc làm thêm lúc nông nhàn.
Tôi lớn lên thì bà đã qua đời. Thế là tôi chỉ được hưởng hương vị bát măng mực có hai lần, vào hai cái Tết cuối đời của bà. Mà đến nay, nó thành một ký ức khắc sâu vào tâm khảm, chả làm sao mà quên. Thường thì người ta hay cho ếch, cá, lươn, vịt, sườn đi với măng tươi, còn măng khô hay nấu với thịt ngan, gà, chân giò, chưa ai dùng mực. Bà nói đấy là món độc tôn của làng Bát Tràng, chỉ làm một lần vào cuối năm, mâm cỗ trước là để lễ tạ trời đất và Lục vị Thành hoàng, sau là tiếp khách gần xa, hàng xóm. Cỗ bao gồm bốn bát sáu đĩa hoặc bốn bát tám đĩa mỹ vị. Nhưng trong hàng trăm mâm thì mọi nhà đều lo toan trước hết đến bát măng mực chủ soái, thiếu nó thì không ra mâm cỗ Bát Tràng. Cầu kỳ, cẩn trọng, công phu lắm, nên gần Tết gặp nhau là ý ới hỏi chuyện chuẩn bị các thức đến đâu, tình làng nghĩa xóm cần giúp gì. Thảng hoặc có thiếu thật mà không kiếm đâu ra thì chỉ còn cách tức tốc sang chợ Đồng Xuân mua về, không thể kém chị, kém em. Hội đồng kỳ mục chấm mâm cỗ cúng Thành hoàng có bát măng mực của mình ngon hơn, trình bày đẹp hơn mọi nhà, còn gì bằng.
Không biết món độc này xuất hiện ở quê bà tự bao giờ. Bát Tràng là đất thi thư khoa bảng, quan lại làm việc trong Kinh thành Huế học được đem về đưa vào hương ước để giữ độc tôn ở xứ Bắc chăng? Hay là vì khéo tay hay nghề, giao du rộng rãi ra các tỉnh, biết món trân quý đưa về, lưu giữ truyền đời mà tồn tại?
Về nguyên liệu, bà kể hai thức chính là măng khô và mực khô. Không phải măng lưỡi lợn thường dùng ngày Tết, mà là măng vầu vàng ươm, dầy mình và dài gióng ở Phú Thọ, Bắc Giang, ngâm trong nước gạo mới chừng một giờ rồi lấy bàn chải cọ sạch hết trong ngoài, xong hong khô. Chỗ già ở gốc, thẻo quá non ở búp và mấu đốt trong ngoài đều bỏ cả, tiếc đem nấu nó đục nước măng, xấu đi. Đoạn tước măng thành những sợi nhỏ, không đứt quãng. Việc ấy cần kiên nhẫn lắm, dù nóng tính sốt ruột cũng không thể giản tiện được. Măng ngâm nước lạnh một giờ đồng hồ nữa, đoạn vớt ra luộc ba lần, mà chỉ sôi nổi tăm lên là đổ ra rửa rồi luộc lại. Sau ướp mắm muối nhạt, phi hành mỡ xào cho săn. Măng khô xé nhỏ đắt gấp ba lần loại chưa xé bán ngoài chợ. Nhìn chúng xếp búi, vàng ửng chả kém tơ tằm là mấy.
Đến mực, nhất thiết chọn mực xứ Thanh, mình dày, trắng phấn, đem mà rửa gừng rượu ba lần, lột bỏ râu ria màng vỏ. Thân hong khô, đốt bếp than hoa nướng cho vàng đều rồi dần mỏng bằng chày gỗ tròn, đoạn cũng xé cho tơi bong thành sợi nhỏ như măng. Sau đó sao mực trên bếp than hồng với chút đường kính, mắm muối và không được để cháy đen.
Măng và mực khô đều háo nước, không béo, nên phải thêm thịt lợn thăn cắt khúc độ bảy phân, đồ trên chõ cho chín rồi cũng lạng thái thành sợi nhỏ, ướp mắm muối xong thì phi hành mỡ, cho vào xào săn. Phần rất quan trọng là nước dùng, gồm nước luộc gà, nước hầm xương lợn và tôm he, mà nhỏ lửa thôi, vớt váng bỏ đi cho còn phần trong, đậm. Ba thức măng, mực, thịt lợn đem xào lẫn, cho vị này thấm vào vị kia, sau nổi lửa thả vào nồi nước dùng, chừng 45 phút đến một giờ là được. Ninh lâu quá, măng nhừ, đứt quãng, mực nhũn, thịt bở mất ngon. Bát măng mực múc ra phải điểm ít sợi miến tàu trong suốt, mấy tai mộc nhĩ đen, lác đác hạt sen ninh, vài củ hành tươi chẻ dọc bổ đôi nhúng tái cuộn tròn lại, ôm trong lòng quả trứng luộc bổ sáu xòe ra giữa bát như bông sen nở; ấy là điểm xuyết cho món ăn cái mảng màu trong mát.
Cỗ bốn bát hoặc tám bát thường dùng bát chiết yêu cổ, trôn nhỏ miệng loe ra. Riêng măng mực đựng vào bát Giang Tây to, đặt giữa mâm bưng lên. Với sản vật ba vùng rừng, biển và đồng bằng, trong mắt thực khách nó thực là mỹ vị, quý phái.
Tôi lại nhớ khi "nấu" lại món này trong tâm tưởng, mắt bà tôi hay lơ đãng vào quãng xa xăm như để nhớ, để thương. Rồi bà kể các bà, các chị quê ngoại vất vả lắm, vừa vào men ra lò, ngược xuôi chèo thuyền chợ búa làm ăn, lại cặm cụi nấu cái món đặc sắc cho chồng con, gia đình, đãi đằng khách khứa. Cái sự thơm thảo, tận tụy, khéo léo để lại trong miếng ăn thật là vô cùng.
Mà gái Bát Tràng, ai lấy chồng xa, đem theo món này đi thời lại làm mát lòng họ nội. Bà tôi đã dạy vài bà bên chồng cách làm nhiều món ăn, thức uống cùng bánh trái. Chỉ tiếc là quê ta nghèo quá, không làm thường xuyên được, lâu ngày trở lại khó mà ngon như "bản gốc" được.
Theo: Ha Noi Moi
Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

Bát canh măng có một không hai

, , , ...

Bát canh măng có một không hai
Update: 10.02.2011

Blog Battrang 360* - Năm mới đến. Giây phút thiêng liêng để chuyển giao giữa hai năm là giao thừa. Đó cũng là lúc mùi nhang thơm quyện với mùi thơm của mâm cỗ cúng tất niên, dâng lên Trời, Phật, tổ tiên. Trên mâm, thế nào cũng có những bát canh, mà canh măng là đầu vị.
Người làm cỗ thường trình bày bát măng với những miếng chân giò, những miếng sườn to bản hoặc những chiếc đùi gà vàng ngậy. Cũng không quên điểm trang nhánh hành chần, tươi màu trắng của củ và mềm mại xanh của dọc hành…
Rất khác những bát canh măng như thế là canh măng của làng Bát Tràng. Ấy là do sự chọn lọc nguyên liệu và sự tinh tế, tỉ mỉ của cách làm. Này nhé. Nước nấu măng phải là nước luộc những con gà ta (loại mới đẻ dăm quả ở lứa đầu, để nước ngọt đậm đà). Măng thì phải là măng Thanh Bì ở Tuyên Quang. Lại còn thịt lợn thăn dẻo, hồng và mực câu Thanh Hóa phơi khô.
Riêng cái đận làm măng đã thật cầu kỳ. Người ta tách rồi tước bằng kim khâu, để sợi măng nhỏ chỉ bằng chiếc tăm (chả có vậy mà loại măng này mua tại làng Bát Tràng đã là 450.000 đồng/1kg). Ngâm măng phải đúng độ, bởi quá đi thì măng nát, mà kém đi thì măng rối. Sau khi luộc lại còn đem xào với mỡ gà, gia vị cho vàng. Còn khoản mực? Cũng đem lựa, bỏ như cho người “khảnh ăn”. Râu, đuôi, diềm mực vứt hết. Chỉ lấy thân mực đem ngâm cho mềm. Và tước như tước măng. Rồi cũng xào như xào măng. Tiếp đến là làm thịt lợn. Miếng thăn tươi phải được hấp, rồi mới xẻ nhỏ, để giữ nước ngọt trong thịt. Thịt xé xong cũng cho vào xào – xào nhỏ lửa, thỉnh thoảng rảy ít nước gà để sợi thịt không khô.
Tất cả ba thứ đã làm xong (mực – măng – thăn lợn), đem cho vào nồi nước luộc gà, đun 10 phút là được. Tất cả đều hòa màu như măng và lẫn với măng. Bởi vậy ăn miếng măng nấu, vị ngọt thanh, mùi thơm thật quyến rũ. Đã vậy măng vừa mềm lại vừa giòn, thật độc đáo. Để hấp dẫn hơn, ngày xưa các cụ ở Bát Tràng còn tô điểm 4 cánh hoa trên mặt bát. Mỗi cánh là một thứ: ruốc tôm, giò lụa, mộc nhĩ xào, lòng đỏ trứng gà tráng mỏng. Ba loại sau đều thái chỉ, nhỏ tăm tắp. Chao ôi, ngắm bát canh măng mới bắt mắt làm sao. Nói không ngoa rằng, ai đã ăn canh măng Bát Tràng một lần thì mãi mãi không quên. Bát canh ấy đã là 1 món trong 10 món đặc biệt mà người Bát Tràng được vinh dự làm cỗ, dâng lễ tại Hoàng thành Thăng Long trong dịp Đại lễ.
Là người con của Bát Tràng, viết bài này, tôi muốn giới thiệu thêm về làng Bát Tràng – làng nghề và làng văn hóa. Nét văn hóa ẩm thực càng làm rõ hơn sự tinh tế, cần cù và tài hoa của con người nơi đây. Và tôi tin rằng, sẽ có những bạn đọc trong rảnh rang nghỉ Tết, làm thử món ăn quê tôi. Tin rằng bạn sẽ thấy hương vị ngày Tết phong phú hơn, ý vị hơn, phải không bạn?
Phạm Thị Nhật
Posted by Gia Thanh

BLOG BATTRANG 360*
HTTP://BLOGBATTRANG.TK
HTTP://BATTRANGVN.BLOGSPOT.COM

Gốm Bát Tràng trong văn hóa Thăng Long

, , , ...

Gốm Bát Tràng trong văn hóa Thăng Long
Update: 09.02.2011
[/B][/SIZE][/COLOR]



Blog Battrang 360* - Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi cho biết: Trong số đồ cống nạp phong kiến phương Bắc, “làng Bát Tràng phải cung ứng 70 bộ bát đĩa”. Kể cũng lạ, nước Tàu có nghề làm gốm men phát triển và nổi tiếng thế mà lại nhận đồ cống bằng gốm men của làng Bát Tràng như một tặng vật quý hiếm. Vào những ngày Thăng Long- Hà Nội “chạm” đến thời khắc nghìn tuổi, làng nghề bên sông Hồng vẫn ngày ngày nung gốm, đưa sản phẩm tỏa đi muôn phương, như cách để khẳng định một thương hiệu, một nét văn hóa Thăng Long không dễ mất đi theo thời gian.
Xã Bát Tràng hiện nay gồm hai làng: Bát Tràng và Giang Cao gộp lại, là một trong 31 xã của huyện Gia Lâm, trước thuộc tỉnh Bắc Ninh, từ năm 1961 thuộc ngoại thành Hà Nội. Căn cứ theo sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi soạn vào giữa thế kỷ XV thì tên gọi Bát Tràng có từ thời Lê Sơ. Tương truyền, lúc đầu, có 5 cụ thuộc các dòng họ Lê, Trần, Văn, Phạm, Nguyễn, đem gia quyến đến vùng có 72 gò đất trắng này lập nghiệp. Họ sống quần tụ với những người dòng họ Nguyễn Ninh Tràng, lập thành phường sản xuất gốm, gọi là Bạch thổ phường. Nghề gốm ngày một phát triển, số gia đình ở Bồ Bát kéo ra ngày một đông, nhiều nhất là vào giai đoạn Lê Trung Hưng. Tới lúc ấy, ở Bát Tràng đã có 20 dòng họ khác nhau hành nghề gốm. Người thợ gốm ở Bát Tràng có tập tục riêng thể hiện tính nghề nghiệp rõ nét. Con dao mây đóng vai trò quan trọng trong tạo hình gốm, là vật tùy thân rất gần gũi với đàn ông làng gốm Bát Tràng. Khi sống họ luôn mang nó bên mình, đến khi qua đời thì hầu như người thợ nào cũng dặn dò con cháu hãy chôn theo mình. Còn về cưới xin, xưa kia ở Bát Tràng, phần nhiều trai gái trong làng lấy nhau để nghề nghiệp không bị lộ ra ngoài. Con gái Bát Tràng lấy con trai làng khác là điều hiếm thấy.
Lúc đầu, người thợ Bát Tràng khai thác đất sét trắng ngay tại chỗ. Chất liệu này đảm bảo tinh dẻo, ít bã và ít phải gia cố trước khi tạo hình. Cho đến cuối thời Lê, các gò đất sét trắng của phường Bạch Thổ đã cạn, người thợ Bát Tràng dùng đất lấy ở Rau (Sơn Tây), Cổ Điển (Phúc Yên) và đặc biệt là đất Dân Canh (Đông Anh). Từ cuối thời Lê trở đi, người thợ Bát Tràng sử dụng đất sông Dâu làm nguyên liệu chính. Trong khâu tạo dáng đồ gốm, xưa kia ở Bát Tràng phổ biến là lối be chạch vuốt tay trên bàn xoay. Tùy theo vật dụng định làm mà người thợ dùng chân để xoay, dùng tay để vuốt. Kết quả là họ đã tạo ra những sản phẩm đơn chiếc. Kiểu vuốt tay này hiện nay ở Bát Tràng không phải người thợ gốm nào cũng làm được. Ngày nay, gốm Bát Tràng đã “chu du” khắp bốn phương trời, đem nét văn hóa Thăng Long tỏa đi muôn phương. Tài liệu giới thiệu cuộc triển lãm do Hội gốm sứ Đông Nam Á tổ chức tại Bảo tàng quốc gia Sin-ga-po hồi tháng 6-1982 cũng đã chứng minh quan hệ giao thương của đồ gốm Bát Tràng với đồ gốm Su-Khô-Thai (Thái Lan), Nam Trung Quốc và Nhật Bản.

Dạ Ngân
Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

Gốm Bát Tràng trong văn hóa Thăng Long

, , , ...


Update: 09.02.2011



Blog Battrang 360* - Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi cho biết: Trong số đồ cống nạp phong kiến phương Bắc, “làng Bát Tràng phải cung ứng 70 bộ bát đĩa”. Kể cũng lạ, nước Tàu có nghề làm gốm men phát triển và nổi tiếng thế mà lại nhận đồ cống bằng gốm men của làng Bát Tràng như một tặng vật quý hiếm. Vào những ngày Thăng Long- Hà Nội “chạm” đến thời khắc nghìn tuổi, làng nghề bên sông Hồng vẫn ngày ngày nung gốm, đưa sản phẩm tỏa đi muôn phương, như cách để khẳng định một thương hiệu, một nét văn hóa Thăng Long không dễ mất đi theo thời gian.
Xã Bát Tràng hiện nay gồm hai làng: Bát Tràng và Giang Cao gộp lại, là một trong 31 xã của huyện Gia Lâm, trước thuộc tỉnh Bắc Ninh, từ năm 1961 thuộc ngoại thành Hà Nội. Căn cứ theo sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi soạn vào giữa thế kỷ XV thì tên gọi Bát Tràng có từ thời Lê Sơ. Tương truyền, lúc đầu, có 5 cụ thuộc các dòng họ Lê, Trần, Văn, Phạm, Nguyễn, đem gia quyến đến vùng có 72 gò đất trắng này lập nghiệp. Họ sống quần tụ với những người dòng họ Nguyễn Ninh Tràng, lập thành phường sản xuất gốm, gọi là Bạch thổ phường. Nghề gốm ngày một phát triển, số gia đình ở Bồ Bát kéo ra ngày một đông, nhiều nhất là vào giai đoạn Lê Trung Hưng. Tới lúc ấy, ở Bát Tràng đã có 20 dòng họ khác nhau hành nghề gốm. Người thợ gốm ở Bát Tràng có tập tục riêng thể hiện tính nghề nghiệp rõ nét. Con dao mây đóng vai trò quan trọng trong tạo hình gốm, là vật tùy thân rất gần gũi với đàn ông làng gốm Bát Tràng. Khi sống họ luôn mang nó bên mình, đến khi qua đời thì hầu như người thợ nào cũng dặn dò con cháu hãy chôn theo mình. Còn về cưới xin, xưa kia ở Bát Tràng, phần nhiều trai gái trong làng lấy nhau để nghề nghiệp không bị lộ ra ngoài. Con gái Bát Tràng lấy con trai làng khác là điều hiếm thấy.
Lúc đầu, người thợ Bát Tràng khai thác đất sét trắng ngay tại chỗ. Chất liệu này đảm bảo tinh dẻo, ít bã và ít phải gia cố trước khi tạo hình. Cho đến cuối thời Lê, các gò đất sét trắng của phường Bạch Thổ đã cạn, người thợ Bát Tràng dùng đất lấy ở Rau (Sơn Tây), Cổ Điển (Phúc Yên) và đặc biệt là đất Dân Canh (Đông Anh). Từ cuối thời Lê trở đi, người thợ Bát Tràng sử dụng đất sông Dâu làm nguyên liệu chính. Trong khâu tạo dáng đồ gốm, xưa kia ở Bát Tràng phổ biến là lối be chạch vuốt tay trên bàn xoay. Tùy theo vật dụng định làm mà người thợ dùng chân để xoay, dùng tay để vuốt. Kết quả là họ đã tạo ra những sản phẩm đơn chiếc. Kiểu vuốt tay này hiện nay ở Bát Tràng không phải người thợ gốm nào cũng làm được. Ngày nay, gốm Bát Tràng đã “chu du” khắp bốn phương trời, đem nét văn hóa Thăng Long tỏa đi muôn phương. Tài liệu giới thiệu cuộc triển lãm do Hội gốm sứ Đông Nam Á tổ chức tại Bảo tàng quốc gia Sin-ga-po hồi tháng 6-1982 cũng đã chứng minh quan hệ giao thương của đồ gốm Bát Tràng với đồ gốm Su-Khô-Thai (Thái Lan), Nam Trung Quốc và Nhật Bản.

Dạ Ngân
Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

Thân thương làng Hà Nội

, , , ...

Thân thương làng Hà Nội
Update: 08.02.2011


Blog Battrang 360* - Nhìn lại, Hà Nội xưa từng là một làng, và cho đến thế kỷ XX, Hà Nội còn có rất nhiều làng bao bọc, cung cấp nhu yếu phẩm cho nội thành, cũng là nơi bảo tồn nhiều vốn quý báu về xã hội học, dân tộc học, sản vật địa phương…
Những làng Việt như thế đã tạo ra một làng Long Đỗ, dựng nên thành Đại La và làm nên nền tảng cho Kinh thành Thăng Long của Lý Công Uẩn đã nghìn năm nay.
Nhìn lại, Hà Nội xưa từng là một làng, và cho đến thế kỷ XX, Hà Nội còn có rất nhiều làng bao bọc, cung cấp nhu yếu phẩm cho nội thành, cũng là nơi bảo tồn nhiều vốn quý báu về xã hội học, dân tộc học, sản vật địa phương…
Ngày nay, bao nhiêu làng thân thương ấy đã lặn vào quá khứ, làm cái nền cho Hà Nội vươn lên, vươn cao nhưng hình ảnh làng vẫn luôn vương vấn trong hồn người. Không tàn lụi. Không chỉ là giếng nước, gốc đa, bến sông, sân đình, mái chùa, đầm sen, lũy tre, đồng lúa và người nông dân tảo tần, quần vải, áo nâu, bữa cơm chiều trăng thanh gió mát cùng tiếng sáo diều văng vẳng từng không, có ngôi sao hôm mờ tỏ phía trời Tây qua mơ hồ ánh sáng dìu dịu. Mà những làng Việt như thế đã tạo ra một làng Long Đỗ, dựng nên thành Đại La và làm nên nền tảng cho Kinh thành Thăng Long của Lý Công Uẩn đã nghìn năm nay. Làng ấy cũng đã đi vào đời sống thiết thực, đi vào ca dao, đi vào huyền thoại, đi vào hồn người, đi vào lịch sử, đi vào bất tử của dân tộc.
Đó là một làng ven sông, có tre xanh, chuối mát, nhưng nghề chính không phải là cày sâu cuốc bẫm mà là làng làm ra món ăn đặc sản trong vị tinh khiết ngon lành của nó. Làng Thanh Trì có con đê sông Hồng cao như bức tường thành đi qua phía Đông làng, còn quanh các ngõ xóm đêm đêm bao nhiêu chiếc cối xay đá, cứ quay tròn như thời gian, luôn tuôn những dòng sữa tươi mát để thành từng mảnh lụa trong mát tê tê đầu lưỡi người Hà Nội tinh sành. Món bánh cuốn Thanh Trì đã đi vào trang viết của tài hoa Thạch Lam và bao nhiêu người khác. Đến nay Hà Nội có nhiều sơn hào, hải vị, món Âu, món Mỹ, nhưng món bánh cuốn Thanh Trì ấy vẫn không hề run sợ bị cạnh tranh mà ngang nhiên tồn tại.
Làng Sét, tức làng Thịnh Liệt, một trong tám làng cổ bao quanh Hà Nội có con cá rô nổi tiếng mấy trăm năm trong câu “dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét” vẫn ở vị trí cũ nhưng đã đô thị hóa với nhiều nhà cao tầng, biệt thự, những con đường lát xi măng, còn hồ ao thì bị lấp gần hết, đến nỗi nhiều người mới lớn phải hỏi nhau làng Sét ở chỗ nào, khi con cá rô mới là rô con đã bị tiêu diệt, chỉ còn con cá rô phi tanh tanh phát triển tự do. Đó là làng quê mẹ của người viết bài này, mà họ hàng cũng chia ly, lang bạt đi nhiều phương, chỉ còn lại một vài chi nhỏ lẻ. Làng này từng là quê hương của ông quan Bồi tụng, nhà thơ, học giả Tồn Am Bùi Huy Bích, đến nay vẫn còn nhiều người họ Bùi sinh sống.
Có một làng nổi tiếng khắp đất nước, mỗi khi thu về, nhiều người Hà Nội nghe gió heo may xao xác trong lòng, thèm được hít hà hương lúa mới thoảng đượm trong mùi cốm, thì làng ấy hiện lên như hình ảnh cô gái Liêu Trai của Bồ Tùng Linh, nói thế vì làng này đã thành phường, những ruộng lúa xanh rờn để làm món cốm Vòng đã hết, chỉ còn lại những nền nhà, những góc sân trong khuôn viên biệt thự, những ngôi nhà cấp 4 cho sinh viên thuê trọ. Phố hóa hoàn toàn. Làng biến mất hoàn toàn. Làng Vòng, tức Dịch Vọng, đã không còn những người đàn bà thuần phác màu áo Việt Nam thắt vạt tứ thân, ngồi tuốt lúa và rang lúa để giã cốm. Ngày nay còn vài ba nhà sang huyện Đông Anh mua lúa non về rang máy, giã máy để làm ra thứ cốm tân thời mà thôi.
Một làng nữa làm ra hương vị Hà Nội trong ẩm thực đó là làng Láng, tức Yên Lãng. Nay nó thành con đường to rộng đè lên những luống rau thơm từ rau mùi cho đến kinh giới, tía tô, hành hoa và đặc biệt thứ rau húng Láng độc nhất vô nhị trên khắp non nước này từ Bắc vào Nam. Nó còn giữ được bao nhiêu phần trăm tinh túy nhỉ, khiến bát bún thang thiếu chút rau mùi , bát phở thiếu ngọ rau thơm , món mộc tồn thiếu cây rau húng.. chất lượng giảm đi chất lượng rõ rệt?
Một làng làm ra chất tốt tươi son phấn cho gương mặt Hà Nội đã mấy trăm năm nay cũng đã rút lui vào quá khứ, trở thành cổ tích, đó là làng hoa Ngọc Hà, vẫn đang là bảo tàng giữ lại chiếc máy bay Mỹ B52 bị bắn hạ trong trận Điện Biên Phủ trên không năm 1972. Những hoa nhài, hoa huệ, ngọc lan, thược dược, chân chim, hồng quế hồng lam cho ngày tết, ngày lễ, cho ngày rằm, mùng một, cho đám cưới, đám tang và cả ngày thường trên bàn thi nhân văn sĩ…
Ngọc Hà không còn là làng cổ trong tiểu thuyết “Gánh hàng hoa” của Tự Lực Văn Đoàn và không còn hình ảnh cô gái mỗi sáng treo hàng loạt gói hoa cúng bằng lá cây bồ tát lên chiếc đinh trên cửa các nhà hàng phố, cuối tháng mới đi tính tiền một thể. Những làng hoa mới loại đàn em đã thay thế, đã “đổi vai” cho Ngọc Hà, đó là Tây Tựu, Gia Lâm, Đông Anh và bao nhiêu nơi khác nữa. Làng hoa xưa đã thành hoài niệm nhưng công lao của một Ngọc Hà đối với Hà Nội đâu có nhỏ.
Cửa ô Đồng Lầm phía Nam Hà Nội có làng Đồng Lầm nổi tiếng về nghề nhuộm nâu, thứ vải the mỏng dệt và bán ở chợ Rồng Nam Định đem về đây nhuộm để may áo tứ thân cho phụ nữ, là thứ vải mang tên làng Đồng Lâm đã có mấy mươi đời. Nay cũng là phường mới Kim Hoa, đang mở mang thông sang cửa ô khác là Ô Chợ Dừa. Những ai quê gốc ở đây nay phiêu bạt ra sao và nghề nhuộm truyền thống ấy thua nghề nhuộm hóa chất hiện đại. Kể cả nghề thứ hai của làng này là nghề cắt tóc của đàn ông, cũng không còn phát triển. Hình ảnh một làng xưa đã phôi phai, gần như phai mờ hết hẳn.
Nếu làng Yên Phụ, nơi nhà văn Thạch Lam từ trần năm 1942, có nghề làm giấy màu và nuôi cá cảnh, thì làng Nhật Tân - Quảng Bá có nghề trồng hoa đào, mà hoa đào thì bị đánh bật ra ngoài sông và sang Bắc Ninh, Sơn Tây để nhường dinh đào cho đô thị mới, phường mới, thì làng Chèm và làng Vẽ Nguyên là làng học hành và khoa bảng, nhiều người đỗ Tiến sĩ làm quan đến Thượng thư, Tổng đốc, Bộ trưởng, cụ thể cụ Hoàng Minh Giám làm Bộ trưởng Bộ Văn hóa nhiều năm, từng tháp tùng Hồ Chủ Tịch đi dự Hội nghị hòa bình Fontainbleau năm 1945…
Làng thuốc nam nguyên là một trong mười ba làng gọi là khu thập tam trại do ông Hoàng bên Lệ Mật xin đất lập ra, đã dùng lá lẩu trong vườn chữa khỏi bệnh suốt mấy thế kỷ. Đến hàng rào cũng tận dụng để trồng cây và mọi cửa chợ khắp đô thành, chợ nào mà chả có một bà cụ ngồi giữa đôi quang gánh những lá lẩu, lá chanh để ăn thịt gà, mớ lá cho nồi nước xông, rồi cành bưởi cho nồi ốc luộc, mấy lá xả, ít tía tô, cây vông, lá đề, ít xước… toàn cây nhà lá vườn mà giá trị rất cao. Tạm gọi đó là khoa học làng, kinh nghiệm dân gian người Nam dùng thuốc Nam mà làng Đại Yên này là một ví dụ điển hình, một làng Hà Nội quý yêu.
Một làng nữa cũng đáng yêu vì nó có vị trí khá đặc biệt, đó là làng Bát Tràng. Bát Tràng là một làng cổ, một làng nghề nằm ở bờ trái sông Hồng, theo đường đò thì cách trung tâm Hà Nội khoảng 10 cây số. Đó là một làng đã có từ hơn 500 năm (có thuyết cho rằng đã 800 năm), một điều riêng biệt là hầu như cả làng không hề có một bóng tre, thưa thớt mới có vài ba khóm cây không tên nào đó, còn toàn nhà với nhà chen chúc trong một không gian “mịt mù khói lửa”, là lửa lò và khói than nghi ngút. Không biết đã có bao nhiêu “chuyến lò” suốt từ khi mấy người đàn ông rời bỏ quê hương Bồ Bát xứ Thanh Hoa ra đây lập nghiệp cách nay 500 năm? Ngày tháng năm ấy, khi phải rời bỏ quê hương, lòng người chua xót và bịn rịn, đớn đau ra sao, mà rồi sinh ra một làng nghề nấu nung đất sét thành cái bát cho Nhà Vua ăn cơm, thành cái chén cho Thái Thượng Hoàng uống rượu, thành cái điã để hoa quả dâng bà Hoàng Hậu, cô Công Chúa… cho đến những anh cu, chị đỏ, bác lái buôn, anh thuyền chài… ai cũng nâng bát lên hai lần mỗi ngày mà ra cuộc sống…
Ngày nay, đang có một Bát Tràng công nghiệp, nhưng cũng đang tồn tại một làng Bát Tràng truyền thống. Đó là ngày hội làng, ngày giỗ dòng họ. Nhiều mâm cỗ ngon lành thịnh soạn đang phơi bày, nhưng không thể thiếu hai món ngàn xưa tổ tông truyền lại. Có lẽ đây là bữa ăn đơn sơ, đạm bạc của người tha hương, đi tìm đất mở làng, gặp gì ăn nấy, gặp đâu đỗ đấy chăng? Đó là món cháo hoa và cơm trắng muối vừng. Giữa mâm cao cỗ đầy, những giò nem ninh mọc, những cao lương mỹ vị, liễn cháo hoa bốc khói, miếng cơm nắm trắng tinh, dúm muối vừng thơm mặn… là món chân tình, lời người xưa, tình quê hương gắn bó!...
Kể sơ sơ thì thấy rất nhiều làng cổ tồn tại đến mấy đời người đã góp công góp của cho Hà Nội bền lâu vững chãi. Hà Nội không chỉ đơn độc là con đường rải nhựa ô bàn cờ và những căn nhà hiện đại, mà làng quanh đô thị là tấm áo cho Hà Nội vừa là nơi cung cấp sản vật, sức người, văn hóa cho Hà Nội. Công lao ấy đâu có nhỏ. Ấy là chưa kể đến làng làm tua cờ quai thao Triều Khúc, từng làm cho chiếc nón liền chị nổi tiếng cả đến ngày nay – khi chiếc quai thao lơ lửng mà lững lờ duyên ý, hoặc là ngày mùng ba tháng ba, ngày mùng năm tháng năm những món quà của một làng nào đó mang vào nội thị, bán rong ngay từ sáng sớm, món bánh trôi, bánh chay hoặc món rượu nếp say mơ màng hồng đôi má, món kẹo bột, kẹo vừng của làng Lủ, tức Kim Lũ, quê của ông văn sĩ Nguyễn Siêu, người dựng đài nghiên tháp bút, người tuy là dân làng cổ mà cũng là dân Hà Nội, đã để lại công trình bất tử cho Hà Nội, xứng đáng là một người Hà Nội chân chính.
Đi trong nội thành ngày nay, chúng ta không gặp được một lũy tre hay ao nước nào, hình ảnh của làng xưa, nhưng qua rất nhiều con phố, ta vẫn gặp nhiều ngôi đình và mái chùa vẫn là công trình mang hồn làng, cứ thách thức với thời gian để tồn tại một nét văn hóa dân tộc không phai nhòa. Những đình Kim Liên, chùa Vân Hồ, chùa Hòa Mã, chùa Tân Thiên, chùa Bà Đá, chùa Hòe Nhai, chùa Đông Hà (ngõ Gạch), chùa Thái Cam (Hàng Cót)… Đấy là những nét làng xưa yêu dấu còn phảng phất hình ảnh làng Việt hàng ngàn năm trong Hà Nội đó.

Theo Hà Nội Mới
Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*
http://blogbattrang.tk
http://battrangvn.blogspot.com

Sắc phong Vua ban cho làng gốm cổ truyền Bát Tràng

, , , ...

Sắc phong Vua ban cho làng gốm cổ truyền Bát Tràng
Update: 07.02.2011, GMT: +7

Blog Battrang 360* - Sắc phong là văn bản truyền mệnh lệnh của vua phong chức tước cho quý tộc, quan chức, khen thưởng những người có công hoặc phong thần và xếp hạng cho các vị thần được thờ trong các đình đền trong tín ngưỡng làng xã của người Việt. Sắc phong thường làm từ loại vải hay giấy đặc biệt.

Trải suốt chiều dài lịch sử kể từ khi dựng phường Bạch Thổ cho tới hết thời đại Phong Kiến, Làng Gốm Bát Tràng đón nhận hơn 50 đạo Sắc phong, trong đó 1 đạo sắc phong cho Đền Bát Tràng, đa số sắc phong cho Lục vị Thành Hoàng làng Bát Tràng. Xưa nhất là đạo sắc phong thời Lê Trung Hưng, gần đây nhất là sắc phong cho Đền Bát Tràng thời Vua Khải Định (1924). Dưới đây là hình ảnh của một số sắc phong cho các Thành Hoàng Bát Tràng qua các thời kỳ:











Gia Thanh (Biên tập)

Blog Battrang 360* - http://blogbattrang.tk

HỘI ĐỀN MẪU BẢN HƯƠNG BÁT TRÀNG Cập nhật: 23h30, ngày 29 tháng 10 năm 2010 (GMT: +7) Blog Battrang 360* - Thơ xưa có câu rằng:

, , , ...

HỘI ĐỀN MẪU BẢN HƯƠNG BÁT TRÀNG
Cập nhật: 23h30, ngày 29 tháng 10 năm 2010 (GMT: +7)




Blog Battrang 360* (http://vn.360plus.yahoo.com/blog-battrang360) - Thơ xưa có câu rằng:
“Đền (Bát Tràng) mười xứ tới cầu
Tháng chín mở hội đâu đâu cũng về”
Tháng 09 ngày 24 chính là ngày hội đền Mẫu Bản hương làng cổ Bát Tràng.
Theo truyền thuyết dân gian, Mẫu là một người con gái xinh đẹp, người họ Trần Đồng Tâm làng cổ Bát Tràng sống vào khoảng thế kỷ thứ XVII. Mẫu mất ở độ tuổi rất trẻ, chỉ độ mười tám đôi mươi, sau khi mất lại thường hiển linh cứu độ dân thôn bản hạt và các làng xã suốt một dải ven sông Hồng nên đươc dân làng lập đền thờ ở ngay đầu làng, ngay sát mép nước sông Hồng. Cũng vì lẽ đó, Mẫu được suy tôn là Chầu Bà Đệ Tứ Khâm Sai Quyền cai Tứ Phủ - Một trong các vị Tứ Phủ Chầu Bà của hệ thống Đạo Mẫu Tứ Phủ Việt Nam. Hiện Đền Bát Tràng còn lưu giữ một bức sắc phong thời vua Khải Định, sắc phong Mẫu Bát Tràng là Mỹ Tín Thiên Tiên Quế Hoa Công Chúa Thượng Đẳng Thần.

Ngày hội đền diễn ra các hoạt động sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng dân gian như: Tế lễ, dâng hương và Hấu bóng và văn nghệ... Kết thúc lễ hội là nghi lễ cáo yết Thần Sông và thả hoa đăng trên sông Hồng thu hút rất nhiều bà con dân làng và các đoàn con nhang đệ tử gần xa về bái yết và tham dự.

Gia Thanh

Lịch lễ hội làng gốm cổ truyền Bát Tràng năm 2010

, , , ...

Lịch lễ hội làng gốm cổ truyền Bát Tràng năm 2010
(Cập nhật: 02h30, ngày 21.03.2010, GMT: +7)
[/ALIGN]

Blog Battrang 360* - Lễ hội truyền thống làng gốm cổ truyền Bát Tràng được tổ chức trọng thể vào 3 ngày 14 – 15 – 16 tháng 02 âm lịch hàng năm. Lễ hội năm nay khôi phục lại đầy đủ tục lệ xưa vốn có của làng Bát Tràng trong đó có tục lệ rước kiệu từ Đền Mẫu Bản Hương (Mỹ Tín Thiên Tiên Quế Hoa Công Chúa – Thượng Đẳng Thần, con gái họ Trần Đồng Tâm Bát Tràng) sau 60 năm gián đoạn.
Dưới đây, Blog Battrang 360* xin chuyển tới con dân làng gốm cổ truyền Bát Tràng trên khắp đất nước Việt Nam và bạn đọc gần xa lịch lễ hội Bát Tràng xuân 2010:

CHƯƠNG TRÌNH LỄ HỘI LÀNG GỐM BÁT TRÀNG NĂM 2010

Ngày 28.03.2010 (tức ngày 13.02. Canh Dần)
Từ 09h00 – 11h00:
Lễ Mộc dục tại đình Bát Tràng.
Lễ cúng chúng sinh tại Bách Linh tự.
Từ 14h00 – 17h00:
Lễ Cầu an tại đình Bát Tràng.
Tổng duyện chương trình lễ hội.

Ngày 29.03.2010 (tức ngày 14.02. Canh Dần)
07h30 – 08h00: Đón tiếp khách.
08h00 – 08h30: Khai mạc Lễ hội.
08h30 – 09h00:
Đọc quyết định trao bằng công nhận “Làng nghề truyền thống Hà Nội”.
Lễ phát động sáng tác 1000 sản phẩm, tác phẩm mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.
09h00 – 09h30: Dâng lễ Tam sinh
09h30 – 11h30: Lễ Rước kiệu & Cấp thủy.
11h30 – 12h00: Lễ Nhập thủy.
14h00 – 17h00:
Giao hiếu các làng.
Vui chơi có thưởng.
17h00 – 19h30: Lễ Tế thần & Gieo thờ.
19h00 – 22h00: Hát thờ cửa đình (Ca trù).

Ngày 30.03.2010 (tức ngày 15.02. Canh Dần)
08h00 – 11h00: Cộng đồng dân cư, các dòng họ, doanh nghiệp, quý khách dâng lễ.
11h00 – 11h30: Dâng rượu.
11h30 – 12h30: Thụ lộc.
14h00 – 17h00:
Giao hiếu.
Đón tiếp khách.
Vui chơi có thưởng.
19h00 – 22h00: Văn nghệ chào mừng lễ hội.

Ngày 31.03.2010 (tức ngày 16.02.2010)

08h30 – 09h00: Lễ tạ.
09h00 – 10h30: Rước kiệu hoàn cung.
19h30 – 20h30: Phóng đăng.
Nguồn: BTC Lễ hội làng Bát Tràng.
Posted by Gia Thanh.

*****
Blog Battrang 360*:
http://my.opera.com/battrang
http://battrang.multiply.com
http://vn.360plus.yahoo.com/blog-battrang360





Gốm sơn mài

, , , ...

Gốm sơn mài
(Cập nhật: 02h10, ngày 18.3.2010, GMT: +7)
Blog Battrang 360* - Trở lại Bát Tràng vào một chiều cuối năm. Lang thang mãi trong chợ gốm ngay giữa làng, cũng không kiếm được sản phẩm “gốm sơn mài” theo yêu cầu của cô bạn tôi bên Pháp nhờ mua. Lọ hoa gốm sơn mài mà cô mua được tại Hội chợ thủ công Paris được làm từ xương gốm phủ sơn mài với những mảng khảm xà cừ rất tinh tế. Nó có vẻ đẹp truyền thống toát ra từ chất liệu gốm, từ những nguyên liệu của sơn mài như vỏ trai, bột điệp, vỏ trứng…nhưng lại mang màu sắc hiện đại như đỏ ruby, xanh biếc…
Mê vì lạ
Theo chỉ dẫn của 1 người ở chợ, sau một hồi quanh co trong những đường làng nhỏ hẹp sâu hun hút với những nét đặc trưng của 1 làng nghề cổ Bắc Bộ, tôi cũng tìm được xưởng “Gốm sơn mài”. Nơi mà ở đó, những sản phẩm độc đáo này đã được tạo ra từ ý tưởng của 1 nghệ nhân trẻ.
Khánh tiếp tôi ngay tại xưởng của mình. Giữa bộn bề những lọ gốm thô trắng ngà đủ hình dáng, kích thước, những vỏ trứng, vỏ sò, vỏ trai, bột điệp, những nhựa thông, nhựa dó, thợ của Khánh đang từng bước hoàn thiện sản phẩm cho kịp chuyến xuất khẩu tháng tới. “Em mê gốm từ bé, sống với gốm, lớn lên với gốm, từ chọn đất, pha chế đất, tạo dáng em đều làm từ bé theo nghề của gia đình. Men lam, men rạn, men nâu đã tạo nên cái hồn cho sản phẩm của gốm Bát Tràng từ bao đời nay nhưng em vẫn trăn trở”. Điều mà Khánh trăn trở bởi lớn lên từ vùng gốm, mặc dù những sản phẩm gốm sứ của Bát Tràng đã ăn sâu vào tiềm thức của những người dân Việt Nam ở trong nước cũng như những người dân xa tổ quốc,Khánh muốn tìm tòi thêm , phát triển một hướng đi mới cho gốm sứ truyền thống.Khánh say sưa kể: Trong một lần tình cờ nhìn thấy những sản phẩm sơn mài được làm trên chất liệu gốm sứ, thực sự rất đẹp rất ấn tượng đối với Khánh, điều đó đã thôi thúc một cậu sinh viên năm thứ 1 khoa tạo dáng công nghiệp viện đại học Mở Hà Nội quyết tâm kết hợp hai chất liệu truyền thống về với làng gốm cổ, cùng với Kiên một người bạn học cùng đại học-cả hai đã nung nấu ,đời sinh viên mình phải làm được một cái gì nó “hoành tráng” một chút chứ…và thế là cả hai đã phải lặn lội về cái nôi của sơn mài Việt Nam tham quan học hỏi cách thức để tạo ra một sản phẩm sơn mài truyền thống đồng thời được sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo trong khoa,cùng với những kiến thức cơ bản được học ở trường, đã giúp cho hai cậu sinh viên bước những bước vững chắc, đặt nền móng cho những thành công sau này. Khánh đã tìm thấy lối đi riêng cho dòng sơn mài của mình và có lẽ là người đầu tiên đưa sơn mài về với làng gốm Bát Tràng.
Sản phẩm gốm sơn mài của Khánh đã và đang chiếm lĩnh được sự quan tâm yêu thích của mọi người,ngay cả với những người khó tính nhất.
Nhìn lô hàng sắp xuất đi của Khánh, tôi không khỏi tần ngần. Sơn mài xưa chỉ có mấy màu cơ bản là cánh gián , đen và đỏ. Ngoài những bức tranh sơn mài được các hoạ sĩ chăm chút công phu từ khâu bó hom vóc, trang trí đến mài và đánh bóng có độ sâu thẳm, có độ sáng bóng mang trong đó cái hồn của người nghệ sĩ. Thì nay những sản phẩm gốm sơn mài lại lung linh sắc màu. Lạ hơn là những màu như đỏ ruby, xanh ngọc, xanh biếc trên từng tác phẩm gốm như một khám phá mới về màu sắc của gốm. Gốm thô sau khi tạo dáng được nung như 1 sản phẩm gốm thông thường ở 1200 độ C. Quy trình sơn mài cho gốm cũng không khác mấy so với sơn mài cốt gỗ. Nhưng trên chất liệu gốm, người thợ sơn mài dễ dàng hơn trong việc tạo độ bóng cho tác phẩm và tạo ra cái hồn cho từng đường nét. Thú nhất là được ngắm sản phẩm sau khi hoàn thiện. Nó vừa giống như 1 bức tranh sơn mài nhiều màu, có những góc đậm nhạt, sáng, bóng tùy vào từng góc nhìn. Có ánh lấp lánh của vỏ trai ,quì bạc, có màu rực rỡ của đỏ, màu mát của xanh, có chiều sâu của hình khối và màu sắc . Có gì đó vừa lạ vừa quen trong mỗi sản phẩm gốm sơn mài. Gốm thô mộc sù sì được mang trên mình những hoạ tiết hoa văn sáng tạo của màu sơn mài, của sự tài hoa người nghệ nhân. Sự kết hợp tuyệt vời giữa chất liệu gốm và sơn mài đã tạo ra 1 dòng sản phẩm lạ mắt góp thêm vào những giá trị văn hoá truyền thống của người Việt
Thích vì độc
Đẹp và lạ,mới mà cũ ,là cảm giác chung của những người chơi gốm sơn mài. Yếu tố độc của dòng sản phẩm này còn là sự ngẫu hứng của người sáng tác. Xưa làm ra 1 tác phẩm tranh sơn mài rất kỳ công trong khâu mài và đánh bóng. Cũng họa tiết đấy, hình khối đó, màu sắc đó nhưng mỗi họa sĩ lại tạo ra được nét riêng bởi kinh nghiệm, bởi sự ngẫu hứng khi sáng tạo. Gốm sơn mài không quá cầu kỳ nhưng cũng không hề đơn giản. Nếu muốn có 1 sản phẩm độc, người thợ cũng phải kỹ tính. Hình khối này hợp với hoạ tiết nào? Nguyên liệu gì, vỏ trứng, vỏ sò, vỏ trai hay xơ dừa, đè màu nào cho hợp lý. Chỉ 1 chút không để ý là ngả màu khác,hoặc không tạo ra sản phẩm đúng ý của người thiết kế. Khâu tạo dáng cho gốm làm nên cái cốt cách của sản phẩm nhưng từng nét vẽ, khảm tạo hoạ tiết lại làm nên cái hồn, cái độc đáo của sản phẩm. Người chơi gốm sơn mài có thể chọn cho mình gu màu sắc, kiểu dáng riêng. Trên 1 hình khối xương gốm có thể tạo ra nhiều màu sắc, hoạ tiết sơn mài khác nhau, độ đậm nhạt của vỏ sò, vỏ trứng tùy thuộc vào từng công đoạn mài và đánh bóng sản phẩm.
Thông tin doanh nghiệp:
Cơ sở sản xuất gốm sứ Sơn mài Toàn Khanh – Bát Tràng
Phạm Quang Khánh,
Xóm 3 làng cổ Bát Tràng - xã Bát Tràng - Gia Lâm - Hà Nội.
Kiốt tại chợ Gốm Bát Tràng: số 27.
Tel : 04-8740073
Mobile: 0912891691
Email :kkceramics@gmail.com
http :// www.battrang.vn ( Đang xây dựng )
Bài viết: Gia Thanh (Sưu tầm)

BÁT TRÀNG HƯƠNG CHUNG - 鉢場鄉鐘

, , , ...

BÁT TRÀNG HƯƠNG CHUNG - 鉢場鄉鐘
(Cập nhật: 02h47, ngày 16.03.2010, GMT: +7)

Blog Battrang 360* - “Bát Tràng hương chung” là quả chuông được đúc và treo tại đình làng Bát Tràng. Trên chuông được khắc bài minh văn do gồm 4 bài thơ, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ được soạn thảo bởi GS-AHLĐ Vũ Khiêu; lời thơ bằng tiếng Trung Quốc do Gia Thanh mạn phép lược dịch:
BÁT
Kể từ thuở:
Vượt sóng Hồng Hà
Dựng phường Bạch Thổ
Mở mang gạch gốm nghề xưa
Theo đuổi bút nghiên nếp cũ
Ơn thành hoàng sáu vị chở che
Đời dân chúng một vùng trù phú.

自從:
渡紅河波
起白土坊
繼續磁器舊業
接著筆硯傳統
陸位城隍之恩
民眾一帶富有
Phiên âm:
Bát
Tự tòng:
Độ Hồng Hà ba
Khởi Bạch Thổ phường
Kế tục từ khí cựu nghiệp
Tiếp trợ bút nghiên truyền thống
Lục vị thành hoàng chi ân
Dân chúng nhất đới phú hữu.
TRÀNG
Ngày hôm nay:
Trời Bát Tràng bát ngát mây xanh
Bến Nhị Thuỷ dạt dào sóng đỏ
Đúc chuông đồng một quả kính dâng
Mong bệ ngọc chín tầng thấu tỏ
Tấc dạ chân thành
Muôn phần ngưỡng mộ.

今天:
鉢場天闊大青雲
二水港繁忙紅波
煉銅鐘一座敬上
願璧玉九層理解
真誠之心
萬份羨慕
Phiên âm:
Tràng
Kim thiên:
Bát Tràng thiên khoát đại thanh vân
Nhị Thuỷ cảng phồn mang hồng ba
Luyện đồng chung nhất toà kính thượng
Nguyện bệ ngọc cửu tầng lý giải
Chân thành chi tâm
Vạn phần ngưỡng mộ.
HƯƠNG
Rồi đây nữa:
Chuông vang xa: Đức lớn thần linh
Chuông vọng lại: Hồn thiêng kim cổ
Chuông reo khắp chốn gia hương
Chuông đến tận người biệt xứ:
Hướng nẻo văn minh
Mở đường tiến bộ

就這樣:
聲音遠出:神明大德
聲音回來:今古之靈
鐘聲來家鄉各處
鐘聲到遠處之人
面向文明
起開進步
Phiên âm:
Hương
Tựu giá dạng:
Thanh âm viễn xuất: Thần minh đại đức
Thanh âm hồi lai: Kim cổ chi linh
Chung thanh lai gia hương các xứ
Chung thanh đáo viễn xứ chi nhân
Diện hướng văn minh
Khởi khai tiến bộ
CHUÔNG
Vẻ vang thay:
Gốm Bát Tràng mỹ lệ cao siêu
Dân Bát Tràng thông minh tài tú
Nghìn năm thắng lợi vẻ vang
Muôn dặm thành công rực rỡ.

真自豪:
鉢場瓷美麗高超
鉢場人才秀聰明
千年勝利光榮
萬里成功燦爛
Phiên âm:
Chung
Chân tự hào:
Bát Tràng từ mĩ lệ cao siêu
Bát Tràng nhân tài tú thông minh
Thiên niên thắng lợi quang vinh
Vạn lý thành công sán lạn.

越南語:武跳教授勞動英雄
Lời việt: Giáo sư – Anh hùng Lao động Vũ Khiêu
中文翻譯:嘉青 - 范黃松
Dịch tiếng Trung: Gia Thanh - Phạm Hoàng Tùng

Bài hát: Hoài niệm Bát Tràng

, , , ...

Bài hát: Hoài niệm Bát Tràng
(Cập nhật: 22h15, 13.03.2010, GMT: +7)

Blog Battrang 360* - Bài hát dưới đây nằm trong Album “Trở về làng gốm” – sáng tác & trình bày: Ban nhạc Những Bậc Thang. Album nhạc này, Blog Battrang 360* đã từng giới thiệu.
Hoài niệm Bát Tràng(*)
Chiều chiều,
Anh gánh em gồng,
Kĩu cà kĩu kịt,
Trên con đường đê.
Những bát gốm, đĩa sứ lẫn bụi than,
Trên đường làng Bát Tràng.
Trở lại làng...
Đâu con đường gạch?
Thấy nhiều nhà mới với tủ kính hàng mẫu,
Đâu mái tranh ám khói đất nung xưa?
Đâu bát gốm sành sứ dân gian?
Bát sứ một chồng.
Tôi muốn hát!
Về nỗi gian truân,
Của nghề làm bát.
Nỗi nhọc nhằn,
Của bao thợ lò,
Dậy từ gà gáy,
Làm bạn với bụi đất, bụi than,
Không biết đến một ngày đã trôi qua.
Biết ai mong chờ.
Tôi vẫn nhớ!
Ngôi làng ven sông,
Với nghề làm bát.
Và trong ký ức, truyền thuyết dân gian
Của người làng Bát...
(*) Tên bài hát do Gia Thanh tự đặt.
Ban nhạc Những Bậc Thang
Gia Thanh (Sưu tầm)
Xem Mục lục Blog Battrang 360*

BÁT TRÀNG PHÚ

, , , ...

BÁT TRÀNG PHÚ
(Cập nhật: 02h10, ngày 13.03.2010, GMT: +7, đăng lần 2)
(Độc vận bát)

Blog Battrang 360* - Xem dương cơ cũng lịch sự thay.
So nhân vật cũng phong lưu rát* (thật).
Quanh co dòng tốn thuỷ, cõi Đông Nam một dải đầm sen,
Trập trùng án càn sơn, phía Tây Bắc mấy lần bãi cát.
Nối đuôi nhà ngói, lớp trước lớp sau, liền cánh tường vôi như tri như trát,
Đất thiêng nẩy lắm người hiền, vận đỏ có nhiều kẻ phết* (phát).
Kẽ ngạch liền bên chúa, uy quyền tiếng sấm rầm vang. Dài tay đến trời, tiền của nước sông lưu loát.
Nhà chập cheng tiếng ngựa, tiếng xe. Cửa thấp thoáng bóng tàn, bóng quạt.
Văn cùng vũ nổi danh ngoài nước, quan sang rạng rỡ, lẫy lừng; công với thương nức tiếng trong làng, hàng đắt rộn mù, xô xát.
Nắn hòn đã các cô các chị, cuộc vần xoay dưới gót, dong ngựa, bàn trước chạy ve ve.
Dùi lỗ thì mọi chú mọi anh, quyền tạo hoá trong tay vỗ dùi gỗ, tiếng đưa chan chát.
Lò chen chúc anh em bạn hữu, quanh năm tuôn vẻ khói đen sì. Bát no nê con cái vợ chồng, các thức dãi màu men trắng toát.
Buổi trưa, buổi sớm chợ lắm cá rau; trạn thấp trạn cao bến dềnh gỗ lạt…
Bà con xa gần lắng mà nghe hát.
Bài “Bát Tràng phú” (độc vận bát) trên đây là một bài hát xưa kia từng được hát thờ tại Đình làng. Theo các cụ già trong làng kể lại, trước kia mỗi năm gần tới ngày hội làng, tại Văn chỉ, làng Bát Tràng tổ chức 3 chầu thi (thi thơ) và 4 chầu cầm (thi đàn). Từ những bài thơ, bài hát ca ngợi quê hương có nội dung hay được các quan viên bình chọn sẽ vinh dự được hát tại Đình vào ngày hội.
______________
Những từ đánh dấu (*) là từ cổ, hiện nay không còn được sử dụng.
Nguồn: Quê gốm Bát Tràng
NXB Hà Nội – Đỗ Thị Hảo.
Gia Thanh (Sưu tầm)
Xem Mục lục Blog Battrang 360*


LÀNG GỐM BÁT TRÀNG ĐÓN NHẬN THÊM 2 DI TÍCH LỊCH SỬ

, , , ...

LÀNG GỐM BÁT TRÀNG ĐÓN NHẬN THÊM 2 DI TÍCH LỊCH SỬ
(Cập nhật: 00h45, ngày 07.11.2009, GMT: +7)
Blog Battrang 360* - Ngày 08.11.2009, Làng gốm Bát Tràng long trọng tổ chức đón nhận bằng Di tích lịch sử đối với 2 di tích thuộc quần thể di tích làng gốm Bát Tràng: Đền Mẫu và Văn chỉ Bát Tràng.
Sơ lược:
Đền mẫu Bát Tràng: Đền Bát Tràng nằm trong số một trong những đền to phủ lớn của Đạo Mẫu – Tứ Phủ Việt Nam. Đền thờ Mẫu Bản hương Bát Tràng – Mỹ Tín Thiên tiên Quế Hoa Công Chúa (dân gian quen gọi Mẫu Đệ Tứ Khâm Sai). Bà là con gái họ Trần Đồng Tâm Bát Tràng sống vào khoảng cuối thế kỷ XVIII và được Vua Khải Định sắc phong “Thượng Đẳng Thần” năm 1924. Đền xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XIX.
Văn chỉ Bát Tràng: Được dựng ngay phía sau Đình Bát Tràng. Văn chỉ có lối kiến trúc chữ Nhị, phía sau là hậu cung, trước là toà tiền tế 5 gian, cổng văn chỉ được dựng theo kiến trúc Khuê Văn Các của Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội. Văn chỉ thờ đức Khổng Tử, 72 vị tiên hiền, 9 Quận Công Tiến sỹ và 364 người đỗ đạt của làng gốm Bát Tràng xưa.
Việc cấp bằng công nhận di tích lịch sử nâng số di tích tại làng gốm Bát Tràng được công nhận di tích lịch sử lên thành 06. Trong đó, di tích Lịch sử Kiến trúc nghệ thuật: Đình và Chùa Bát Tràng; di tích lịch sử: Đền Mẫu và Văn Chỉ Bát Tràng; 2 di tích Cách mạng: Nhà cụ Vương Văn Tịch – Nơi in bản Quốc ca đầu tiên của Việt Nam và nơi Bác Hồ về thăm và nói chuyện với nhân dân làng gốm Bát Tràng ngày 20.02.1959.
Bài viết: Gia Thanh
Blog Battrang 360* - http://my.opera.com/battrang

Ấm chén gốm cao cấp - Sản phẩm mới của làng gốm cổ truyền Bát Tràng

, , , ...

Ấm chén gốm cao cấp Bát Tràng
(Cập nhật: 21h35, 11.09.2009, GMT: +7)
Blog Battrang 360*: Ấm chén gốm cao cấp là một sản phẩm hoàn toàn mới của làng gốm cổ truyền Bát Tràng được sản xuất bởi nghệ nhân danh tiếng làng gốm Bát Tràng. Với chất liệu thô mộc dạng tử sa Nghi Hưng, Trung Quốc, kiểu dáng hiện đại mà mang hồn dân tộc, tính năng tốt..., ấm chén gốm cao cấp Bát Tràng hiện đang là mặt hàng được tiêu thụ mạnh nhất tại Chợ Gốm Bát Tràng.

Post by Gia Thanh
Nguồn: Battrang Ceramics Shop Online - http://enbac.com/dungnganbtc

Bộ ảnh “Khách làm nghệ nhân tại chợ Gốm Bát Tràng”

, , , ...

Bộ ảnh “Khách làm nghệ nhân tại chợ Gốm Bát Tràng” (Cập nhật: 15h10, 19.09.2008, GMT: +8) Blog Battrang 360* - Từ lâu Chợ Gốm làng cổ Bát Tràng đã trở thành một điểm mua sắm lý tưởng, điểm du lịch ở ngoại ô thành phố Hà Nội. Tới chợ Gốm Bát Tràng ngoài việc mua sắm, tham quan, ngắm các sản phẩm gốm sứ được tạo dựng với đôi bàn tay khéo léo của người thợ gốm Bát Tràng, rất nhiều khách du lịch đã tự tay tô vẽ, vuốt nẵn tạo cho mình những sản phẩm độc đáo, những vật dụng “Hand made 100% mang thương hiệu của chính mình”. Dưới đây, Blog Battrang 360* xin chuyển tới các bạn một số hình ảnh của khách du lịch được ghi lại tại chợ Gốm làng cổ Bát Tràng: Nào, ai muốn làm gốm thì hãy nhanh chân đến Bát Tràng!!! Làm gốm tại Bát Tràng 01 Làm gốm tại Bát Tràng 02 Làm gốm tại Bát Tràng 03 Làm gốm tại Bát Tràng 04 Làm gốm tại Bát Tràng 05 Làm gốm tại Bát Tràng 06 Làm gốm tại Bát Tràng 07 Làm gốm tại Bát Tràng 08 Làm gốm tại Bát Tràng 09 Làm gốm tại Bát Tràng 10 Làm gốm tại Bát Tràng 11 Làm gốm tại Bát Tràng 12

Bộ ảnh “Khách du lịch làm nghệ nhân tại chợ Gốm làng cổ Bát Tràng
(Ảnh sưu tập & tổng hợp từ nhiều Blog) Gia Thanh[/ALIGN]

Bộ sưu tập “Lọ hoa men đa sắc”

, , , ...

Bộ sưu tập “Lọ hoa men đa sắc” (Cập nhật: 14h30, 22.08.2008, GMT: +8) Blog Battrang 360* - Tên gọi “men đa sắc” là do người biên tập Blog Battrang 360* tự đặt. Đây là một loại men đẹp và rất lạ mắt vì chất liệu men bóng, đẹp với rất nhiều màu sắc khác nhau. Hoa văn trên sản phẩm có thể được vẽ tay hoặc cũng có thể được khắc thủ công rất công phu. Mời các bạn theo dõi chùm ảnh dưới đây: VT-52M VT-51M VT-46M VT-42M VT-10M VT-15M VT-18M VT-20M VT-19M VT-21M VT-23M VT-26M VT-37M VT-39M VT-40M

Bat Trang Ceramic Vases

Gốm sứ Bát Tràng quấn tre

, , , ...

Gốm sứ Bát Tràng quấn tre (Cập nhật: 11h00, 18.08.2008, GMT: +8) Blog Battrang 360* - Gốm sứ quấn tre là một thể loại gốm sứ ra đời độ khoảng gần chục năm trở lại đây. Những chiếc bình sứ được tráng men và nung hoàn thiện được quấn lên những lớp tre hơ nóng và uốn dẻo. Mỗi một chiếc bình được gia công rất tỉ mỉ, sau quá trình gia công cho ra đời những tác phẩm mỹ thuật độc đáo và mới lạ. DT-22 DT-21 DT-20 DT-19 BPD-37S1 BPD-197S1 BPD-331A BPD-402 BPLT-157S1 BPS9

Gốm sứ Bát Tràng quấn tre – Battrang Ceramics
[/ALIGN] Xem them HTTP://360.YAHOO.COM/BATTRANGVN

Gốm & Mây tre – Cứng cáp & Mềm mại

, , , ...

Gốm & Mây tre – Cứng cáp & Mềm mại (Cập nhật: 10h00, 16.08.2008, GMT: +8)[/ALIGN] Blog Battrang 360* - Gốm sứ Bát Tràng kết hợp với kĩ nghệ mây tre đan – 2 dòng thủ công truyền thống Việt Nam tạo nên những hiệu quả mỹ thuật thật đẹp. Gốm sứ được nung hoàn thiện lại được điểm tô thêm những vẻ đẹp mềm mại từ mây tre đan qua đôi bàn tay khéo léo của người thợ. http://360.yahoo.com/battrangvn 47 49 48 51 52 54 55 56 59 62 63 64 65 66 67 68 69 72 73

Gom su may tre dan Bat Trang
[/ALIGN]

Bat Trang traditional ceramics factory

, , , ...

Bat Trang traditional ceramics factory (Cập nhật: 09h28, 10.07.2008, GMT: +8) Blog Battrang 360* - Xưởng gốm là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất gốm sứ. Từ những nơi xem chừng rất bình dị nhưng lại cho ra đời những sản phẩm gốm sứ cao cấp đầy tính mỹ thuật, nghệ thuật. Làng gốm Bát Tràng hiện nay có khoảng vài trăm xưởng sản xuất quy mô lớn và hình thức hộ gia đình. Dưới đây là hình ảnh của một xưởng gốm nhỏ hình thức hộ gia đình: 2459329458_3b5e27e816 2460087496_3a6f15ee1c 2461897352_f6591f4163 2467629072_c21821d7d4 2470504619_cce0639591 2471331620_95824ba7b5 2491854903_b97ac383ae 2491855353_67a10c78e0 2491855833_6bb2d0a3e4 2491856391_5dfa5bc90e

Battrang traditional ceramics factory
Gia Thanh (Ảnh sưu tầm) HTTP://360.YAHOO.COM/BATTRANGVN

Bộ ảnh “Dấu ấn thời gian trên quê hương gốm sứ”

, , , ...

Bộ ảnh “Dấu ấn thời gian trên quê hương gốm sứ” (Cập nhật: 16h24, 10.06.2008, GMT: +8) Blog Battrang 360* - Khu xóm cổ Bát Tràng đã từ lâu nay trở thành đề tài khai thác của nhiều nhiếp ảnh gia khi đến với làng cổ Bát Tràng. Từng ngõ nhỏ, từng con đường nhỏ với những mảng tường gạch Bát cũ kỹ. Từng chiếc cổng, từng mái nhà mang đậm nét dấu ấn của thời gian. Trong khuôn khổ entry này, Battrang 360* xin gửi tới bạn bộ ảnh “Dấu ấn thời gian trên quê hương gốm sứ”. Ảnh do bạn Quang Khánh chụp và cung cấp. Gia Thanh Xem Mục lục Blog Battrang 360*: http://360.yahoo.com/battrangvn CIMG1655 CIMG1656 CIMG1657 CIMG1658 CIMG1660 CIMG1661 CIMG1663 CIMG1664 CIMG1665 CIMG1668 CIMG1666 IMGP7559 CIMG1671 Slide show:

Xom co Bat Trang - Bat Trang ancient village area[/ALIGN]

Vì sao ta tới Bát Tràng?

, , , ...

Vì sao ta tới Bát Tràng? (Cập nhật: 09h31, 04.06.2008, GMT: +8) Blog Battrang 360* - Dưới đây Battrang 360* xin liệt kê và giới thiệu với các bạn những lý do tại sao bạn nên tới làng gốm cổ truyền Bát Tràng (thôn Bát Tràng, xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, Việt Nam): Viet nam que huong toi - Trong thuy - Le dung 1. Thăm làng gốm cổ truyền lừng danh của Việt Nam – ngôi làng có tới hơn 600 năm lịch sử hình thành và phát triển, làng văn hiến, làng khoa bảng của Thăng Long – Hà Nội và cũng là một làng quê cách mạng. A - Đình làng Bát Tràng A- Xóm cổ Bát Tràng 01 A- Xóm cổ Bát Tràng 02 2. Thăm quan Chợ Gốm Bát Tràng – chợ đầu mối bán buôn, bán lẻ lớn nhất Việt Nam, nơi giới thiệu tinh hoa của làng gốm Bát Tràng và cũng là một điểm thăm quan, du lịch nổi tiếng của Hà Nội. B - Chợ Gốm Bát Tràng 01 B - Chợ gốm Bát Tràng 02 B - Chợ Gốm Bát Tràng 03 3. Tìm hiểu các công đoạn sản xuất gốm sứ; xem và ngắm sự tài hoa của đôi bàn tay người thợ gốm; thấu hiểu nỗi cơ cực của người thợ gốm để thêm quý, thêm yêu, thêm trân trọng những gì ta được có. C - Nghề gốm Bát Tràng 01 C - Nghề gốm Bát Tràng 02 C - Nghề gốm Bát Tràng 03 4. Sáng tạo và xả stress cùng với gốm, tự tay nhào nặn hòn đất, vẽ hoa, tô mầu lên những sản phẩm mình yêu thích rồi mang tặng cho bạn bè và người thân. D - Làm gốm Bát Tràng 01 D - Làm gốm Bát Tràng 02 D - Làm gốm Bát Tràng 03 5. Thưởng thức các giá trị văn hoá ẩm thực đất gốm với những món ăn ngon, độc đáo (thịt chó, măng mực...) bằng chính những sản phẩm bát đĩa, cốc tách sứ Bát Tràng. E - Sản phẩm gốm sứ Bát Tràng 01 E - Sản phẩm gốm sứ Bát Tràng 02 E - Sản phẩm gốm sứ Bát Tràng 03 6. Mua sắm những vật dụng cần thiết cho cá nhân và gia đình với giá rẻ mà hàng chất lượng, sự lựa chọn phong phú. F - Sản phẩm gia dụng Bát Tràng 01 F - Sản phẩm gốm gia dụng Bát Tràng 02 F - Sản phẩm gốm gia dụng Bát Tràng 03 7. Quà tặng bạn bè độc đáo mà nhiều ý nghĩa (vật dụng cá nhân, đồ trang trí...) G - Quà tặng gốm sứ Bát Tràng 01 G - Quà tặng gốm sứ Bát Tràng 02 G - Quà tặng gốm sứ Bát Tràng 03 Gia Thanh (Ảnh sưu tầm)[/ALIGN] Album ảnh tổng hợp:[/ALIGN]

Why we want to go to Bat Trang pottery village, Hanoi, Vietnam? Blog Battrang 360* trên Yahoo 360: http://360.yahoo.com/battrangvn
February 2012
M T W T F S S
January 2012March 2012
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29