My Opera is closing 1st of March

Nguyên Anh

Subscribe to RSS feed

Fat man and Little boy

Fat man and Little boy magnify

Sau đây là một đoạn trong cuốn "chuyện kể về các nhà bác học nguyên tử " chương 13:"Kinh hoàng"
Tac giả :ROBERT JUNGK
Người dịch :Đào Văn Phúc.
Nhà xuất bản giáo dục__1985


" Ngày thứ năm ngày 12 và thứ sáu ngày 13 tháng 7 năm 1945 những bộ phận cấu thành của cơ cấu nổ bên trong quả bom thí nghiệm được màng ra khỏi Los Alamos bằng "cổng hậu" ,theo một con đường bí mật mới làm trong thời khì chiến tranh.Từ khu vực 'Z',nơi chúng được lắp ráp,chúng được đưa đến khu thử nghiệm ,mang tên là 'Jornada del muerto' (Miền chết),ở gần làng Oscuro (có nghĩa là 'Tối tăm' ).Tại đây ,giữa hoang mạc dựng đứng lên một cơ cấu thép ,dành đẻ đặt quả bom lên đó.Vì ở đây thường có những cơn giông mạnh ,người ta quyết định sẽ đợi đến tận lúc cuối cùng mới đặt quả bom lên.Để kiểm tra lại mọi điều kiện ,ít lâu trước khi thử quả bom nguyên tử người ta đặt lêm trên cơ cấu đó một quả bom có kích thước gần như thế ,nhưng nhồi bằng chất nổ thông thường .Trong một cơn giông ,sét đã đánh vào nó,quả bom đã nổ với một tiếng nổ rền vang khủng khiếp.

Dưới sự chỉ đạo của tiến sĩ Robert Bacher trưởng ban vật lý của Los Alamos,bộ phận trung tâm của quả bom được lắp vào trong bom .Tướng Frrell là phó của Groves đã viết về việc đó như sau :' Tới lúc cuối cùng của việc lắp ráp sơ bộ ,chúng tôi đã phải trải qua mấy phút đáng lo .Tất cả dụng cụ được chế tạo trên máy công cụ với độ chính sác vô cùng cao .việc lắp ráp đã xong được một phần,bõng nhiên có một cái gì đó bị hóc và không gỡ ra được.Tiến sĩ Bacher không rối trí ,và nói để nhóm yên lòng,lời nói của tiến sĩ đã được chứng minh,và việc lắp ráp hoàn chỉnh được hoàn tất mà không gặp sự cố nào nữa'.

Những nhà bác học nguyên tử nào chưa rời khỏi Los Alamos vào tuần lễ trước để thực hiện những công việc cuối cùng, thi bây giờ đã hoàn toàn sẵn sàng để lên đường.Họ đã dự trữ thực phẩm, va theo một lệnh riêng,họ mang cả quần áo bảo vệ đặc biệt.Ngày 14vaf 15 tháng 7,ở Los Alamos có những cơn giông lớn,kèm theo mưa đá.Trưởng ban lí tuyết Hans Bethe,tập hợp tất cả những người tham dự cuộc thí nghiệm vào trong phòng lớn thường vẫn dùng để chiếu phim.Nhiều người trong họ bây giờ là lần đầu tiên được biết chính sác công dụng của đối tượng lao động của họ.Bethe đã kêt thúc bài nói của mình bằng những lời sau:' Những tính toán của chúng ta nói lên rằng thí nghiệm phải thành công. Nhưng liệu chừng thiên nhiên có hành động phù hợp với chúng ta hay không?' Sau đó những người đã tập hợp đi lên những xe bus ngụy trang bằng nhiều mầu sơn để bắt đầu một chuyến đi 4 tiếng đồng hồ tới khu vự thí nghiệm.

Lúc 2 giờ đêm,mọi người đã tới nơi.Họ tập hợp tại Base Camp,cách xa hơn 16km cơ cấu cao trên đó đặt thứ vũ khí mới chưa thử nghiệm, quả bom nguyên tử,thành quả hai năm lao động của họ.Họ đeo thử những kính dâm mà họ được trang bị,và đề phòng bị bỏng do chiếu xạ,họ bôi mặt bằng kem chống dám nắng.Một điệu nhạc nhẩy được truyền trên các loa phóng thanh đặt rải rác trong khu vực.Thỉnh thoảng âm nhạc ngừng lại,và người ta truyền đi những tin tức cuối cùng về tiến trình chuẩn bị.Dự định đến 4 h thì cho nổ.Nhưng do thời tiết sấu,lại phải hoãn lại.

Ở trạm kiểm tra,cách kiến trúc mang bom khoảng 10km,Oppenheimer và Groves bàn xem có nên hoãn cuộc thử nghiệm một lần nữa không.Groves viết:'Phần lớn thời gian, chúng tôi đi tới đi lui trong đêm tối, gần trạm kiểm tra, và ngước mắt nhìn các sao.Chúng tôi quả quyết với nhau rằng một hay hai ngôi sao mới ló ra đã sáng hơn'. Sau khi tham khảo ý kiến các nhà khí tượng,người ta quyết định cho nổ quả bom thí nghiệm vào 5 giờ 30 phút.

Vào 5 giờ 30 phút, người phó của Oppenheimer là nhà vạt lý nguyên tử S.C.Allsion,một trong số 20 người có mặt ỏ trạm kiểm tra, bắt đầu phát tín hệu báo giờ. Cũng vào khoảng lúc đó. Groves từ trạm kiểm tra đã quay về Báe Camp và ra những chỉ thị cuối cùng cho các nhân viên khoa học đang chờ ở đó. Họ phải đeo kính bảo vệ và nằm úp sấp. Người nào cứ cố tình nhìn ngọn lửa của vụ nổ bằng mắt không đeo kính có thể sẽ bị mù.

Trong những phút chờ đợi cuối cùng,có vẻ như dài vô tận, hầu như chẳng ai nới lấy một lời. Mỗi người đề để cho tâm trí mặc sức suy nghĩ. Nhưng đây không phải là những ý nghĩ về ngày tận thế. Hình như đa số nghĩ làm sao nhanh chóng thay đổi được cái thế nằm bất tiện này, và trong thấy cái quang cảnh bấy lâu chờ đợi. Fermi bao giờ cũng vẫn là mọt nhà thực nghiệm và lúc này ông vẫn giữ vững tính cách của mình. Ông lắm trong tay những mảnh giấy vụn, ông muốn dùng chúng để xác định độ lớn của áp suất sóng không khí, và bằng cách đó mà ước chừng sức mạnh của vụ nổ. Frish dự định cố gi lại được càng chính xác càng tốt trong trí nhớ của mình quang cảnh mình sắp được nhìn. Groves ước tính lại lần thứ 100 xem đã có được đủ các biện pháp khả dĩ nhanh chóng sơ tán mọi người trong trường hợp cần thiết chưa. Oppenheimer nhân vân giữa nỗi lo sợ thí nghiệm có thể thất bại ,và nỗi lo sợ nó sẽ thành công.

Không một ai trông thấy những tia lửa đầu tiên của ngọn lửa nguyên tử. Người ta chỉ nhìn thấy ánh sáng trắng chói lòa của nó,phản chiếu từ bầu trời và từ các quả đồi tới. Những người sau đó đánh liều quay đầu lại đã nhìn thấy một quả cầu lửa sáng chói cứ lớn mãi lên. ' Trời đất ơi !có lẽ mấy cậu tóc dài này không khiểm soát được tình thế nữa '.- một sĩ quan cao cấp thốt lên. Karson Mark, một trong những thành viên xuất sắc nhất của ban lí thuyết, nghĩ thực sự rằng quả cầu lửa sẽ không ngừng lớn lên, cho tới khi nó choáng hết bầu trời và mặt đất (mặc dù ý thức nhắc nhở ông rằng điều đó không thể xảy ra ).Vào lúc này, mọi người đều quên mất cái mà mình định làm.

Groves viết :'Một vài người bị nỗi kích động xâm chiếm đã nhẩy ra khỏi ô tô mà quên không đeo mặt nạ. Sau hai hay ba giây họ mất đi khả năng nhìn thấy quang cảnh mà họ đã chờ đợi suốt 3 năm'.

Nỗi khinh hoàng trước vụ nổ mãnh liệt đã bao trum khắp mọi người. Oppenheimer dán mình vào một chiếc cột chống trong căn phòng cả trạm kiểm tra. Trong trí nhớ ông bỗng hiện lên một đoạn trong thiên sử thi Ấn Độ cổ khính, Bhagabad Gita:

Với sức mạnh bất tử và khủng khiếp,
Bầu trời sẽ trói lọi trên cõi trần
Nếu như ngàn ánh mặt trời
Đồng thời lóe lên trên đó.

Vả khi đám mây đáng sợ khổng lồ dâng lên cao trên chỗ bom nổ ông nhớ lại một câu nữa cũng trong bài đó:'ta sẽ là cõi chết,là kẻ tiêu hủy cả thế gian '.Câu này được đặt vào miệng Krishna.'Đấng tối cao', lãnh chủ của số mệnh mọi kẻ phàm trần. Nhưng Robert Oppenheimer không phải là lãnh chủ, mà chỉ là một con người có trong tay một thư vũ khi mãnh liệt.

Đáng ngạc nhiên là không ai trong số những người có mặt lại phản ứng với hiện tượng này trên quan điểm nghiệp vụ. Tất cả họ,kể cả những người không có tí chút xu hướng nào về tôn giáo (và họ là đa số ),đã kể lại những cảm xúc của họ bằng những lời lẽ rút ra từ lĩnh vực thần thoại và giáo lí. THí dụ như tướng Farell đã tuyên bố :'Tất cả khu vực đếu được chiếu rội bằng thứ ánh sáng chói chang, cường độ của nó lớn gấp nhiều lần cường độ của mặt trời lúc giữa trưa... Ba mươi giây sau vụ nổ, cơn gió mạnh đầu tiên đập vào mọi người và mọi vật. Kèm theo nó là tiếng gào rú kéo dài khiến ta kinh hoàng nghĩ đến ngày sử án cuối cùng (1). Chúng tôi tự cảm thấy mình là những sinh vật nhỏ mọn đã dám cả gan báng bổ chúa mà động vào những sức mạnh cho tới nay chưa tứng ai động đến. Lời lẽ quả là một phương tiện quá không hoàn chỉnh để diễn đạt nổi tất cả những gì mà chúng tôi xúc cảm vào lúc đó'.

Thậm chí con người đến lạnh lùng và chính chắn trong suy nghĩ như Fermi mà cũng đã trải qua những lay động sâu sắc. Mới chỉ mấy tuần gần đây đối với mọi ý kiến phản đối của các bạn đồng nghiệp khi tranh luận ông luôn luôn trả lời:'Thôi, đừng làm tôi chán ngấy với cái lương tâm cắn rứt của các ông đi! Xét đến cùng thì đây là cái vật lý học tuệt vời!'.Cho tới nay ông chư từng cho ai lái xe của ông. Nhưng lần này ông thú nhận rằng không thể tự lái xe được, và phải nhờ một người bạn lái thay ông. Sáng hôm sau , khi đã trở vè Los Alamos, ông thú thực với bà vợ rằng :Ông thấy tựa như chiếc ô tô nhẩy cóc từ chỗ ngoặt này sang chỗ ngoặt khác và vượt qua khoảng cách giữa các đoạn đường bằng cách băng theo đường thẳng'.

Có lẽ tướng Groves là người đầu tiên tự chủ lại được khi một nhà bác học nhẩy bổ đến chỗ ông tí nữa thì phát khóc, và nói rằng vụ nổ đã tiêu hủy tất cả dụng cụ quan sát và đo đạc của mình. Groves đã động viên ông ta:' Thế là tuyệt. Nếu dụng cụ cũng không đướng vững được thì nghĩa là sức nổ khá mạnh. Và đó chính là cái mà chúng ta muốn biết '. Ông đã nói với tướng Farell :'Chiến tranh phải chấm dứt. Chỉ một hay hai cái của này là bọn Nhật đi đời'.

Lúc đó tất nhiên người ta không báo gì cho quảng đại công chúng về vụ nổ nguyên tử đầu tiên đã rung chuyển thế giới. những người ở gần khu vực thử nghiệm trong phạm vi tới 200km đã trông thấy một cớp sáng chói lọi khác thường trên trời vào khoảng 5 giờ 30 phút. Nhưng họ lại bị Jim Moynaha,người lãnh đạo hãng thông tấn Manhattan 'đánh lạc hướng'. Ông đã đưa ra một tin tức giả rằng một kho vũ khí đã bị nổ ở vùng Alamogordo. Ông ta lại nói thêm rằng có ai bị thiệt mạng.
Tuy nhiên, các cơ quan thông tin cố giữ mọi điều trong bí mật lại đã thất bại một lần nữa. Vài ngày sau tin tức về cuộc thử bom thành công đã lan tới mọi phòng thí nghiệm của đồ án Mahattan. Harrison Brown,một trong những nhà nghiên cứu trẻ tuổi ở Ocridge, kể lại:' Chúng tôi đã biết được về quả cầu lửa, về đám mây hình nấm, về bức xạ nhiệt mạnh. Sau sự kiện Alamogordo, nhiếu người trong chúng tôi đã kí kiến nghị kiên trì yêu cầu đừng dùng bom chống Nhật Bản mà không biểu diễn trước tạo ra cơ hội cho Nhật Bản đầu hàng. Chúng tôi cũng đòi hỏi chính phủ phải bắt đầu ngay việc nghiên cứu khả năng lập ra sự kiểm soát quốc tế đối với thứ vũ khí mới này'.

Kiến nghị mà Brown chắc đến là do Szillard thảo ra. Sau khi các nỗ nực của ông ở Nhà Trắng đã thất bại, Szillard đã quyết định phát huy sáng kiến một lần cuối cùng nữa, mặc dù rất ít hi vọng vào thành công. Ý định của ông là cố thu thập càng nhiều chữ kí càng tốt của các nhân viên đồ án Manhattan để phản đối việc sử dụng bom nguyên tử. Khi bản kiến nghị lọt vào tay giám đốc phòng thí nghiệm Ocridge, ông này lập tức báo cho Groves biết, Tất nhiên ông thiếu tướng khó mà cấm được các nhà bác học kí các tài liệu này. Vì vậy, để chặn lại việc tiếp tục luân chuyển tài liệu này,ông dùng một phương pháp khác : bản kiến nghị của Sxillard được tuyên bố là một tài liệu mật. Và pháp luật yêu cầu rằng chỉ chuyển những tài liệu mật tù chỗ này đến chỗ khác khi có quân đội bảo vệ. Như vậy Groves chỉ còn phải tuyên bố :'thực đáng tiếc, chúng tôi không thể cử được người nào đó bảo vệ tài liệu đó. Trong khi chúng ta chưa có khả năng làm được việc này,thì phải giữ tài liệu đó trong ket sắt'. "

***

Quả bom Nguyên Tử đầu tiên thả xuống đất Nhật năm 1945 đã làm cho mọi người kinh hoàng về thứ khí giới mới và cũng làm cho các nhà khoa học tin tưởng rằng Thuyết Tương Đối của nhà Đại Bác Học Albert Einstein là đúng. Tuy sức tàn phá của quả bom Nguyên Tử quá khủng khiếp, song người ta vẫn phải trầm trồ khen ngợi một nhà bác học trẻ tuổi, cha đẻ ra quả bom A này. Giáo Sư J. Robert Oppenheimer, Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Nguyên Tử Lực tại Los Alamos thuộc tiểu bang New Mexico, Hoa Kỳ, trái lại rất chán nản về phát minh của mình. Và chính ông Julius Oppenheimer cũng không ngờ người con trai của mình lại trở nên một nhà bác học danh tiếng đến như thế, vì ông Julius chỉ ước mong con trai trở thành một công dân trên trung bình.

1/ Thuở trẻ của Robert Oppenheimer.


Ông Julius Oppenheimer gốc người Do Thái, từ nước Đức sang Hoa Kỳ lập nghiệp và hoạt động trong ngành xuất cảng vải sợi tại thành phố New York. Vốn là một đại thương gia, ông đã nhiều lần cùng con trai sang thăm châu Âu.

Ngay từ thuở nhỏ, Robert đã tỏ ra là một cậu bé thông minh và hiếu học. Cậu theo ban trung học trong thành phố New York. Các sách viết bằng tiếng La Tinh, Hy Lạp, đối với cậu không khó và môn Vật Lý được cậu ưa chuộng nhất. Trong các câu chuyện giữa chúng bạn, Robert bàn luận rõ ràng, cậu ghét tính ba hoa và ưa tư lự. Phải chăng tính ưa thích cô độc là một đặc tính của các nhà bác học?

Vào một dịp hè, ông Julius dẫn con trai đến phòng thí nghiệm của Giáo Sư Auguste Klock, xin cho con theo học thêm về môn Hóa Học. Robert tiến bộ đến nỗi cậu ngốn hết cả chương trình một niên học trong 6 tuần lễ. Ông Klock đã phải ngạc nhiên về trí thông minh của cậu học trò mới này và đã nói : "Cậu Robert học khá đến nỗi không vị Giáo Sư nào nỡ cấm cản không cho cậu học thêm bài mới".

Khi bước chân vào trường Đại Học Harvard, Robert đã say sưa với các sách báo của thư viện nhà trường. Các tác phẩm triết học Đông Phương cũng như Tây Phương đã làm chàng thanh niên này đam mê, suy nghĩ. Trong 3 năm trường, chàng đã theo 6 môn học chính và 2 môn học phụ, trong khi các sinh viên khác chỉ có thể học tối đa 5 môn học.

Rồi vào năm 1925, Robert Oppenheimer tốt nghiệp trường Đại Học Harvard với hạng ưu và lời khen ngợi của Hội Đồng Giáo Sư. Sau đó chàng sang nước Anh và ghi tên vào trường Đại Học Cambridge. Tại Cơ Sở Thí Nghiệm Cavendish, chàng được theo học Giáo Sư J. Thomson và Lord Rutherford là các nhà tiền phong về khảo cứu nguyên tử và cũng là các nhà bác học lừng danh thời bấy giờ. Chàng cũng được gặp gỡ các nhà bác học lỗi lạc Niels Bohr người Đan Mạch, Paul Dirac người Anh và Max Born người Đức. Ông Max Born mời chàng sang Đức theo học tại trường Đại Học Goettingen.

Từ xưa, nước Đức vẫn nổi tiếng về Khoa Học và Đại Học Đường Goettingen là một ngôi trường danh tiếng của châu Âu. Robert Oppenheimer sang Đức và sau 6 tuần lễ ghi tên, chàng đã đậu văn bằng Tiến Sĩ, năm đó chàng mới 23 tuổi. Các Giáo Sư đều khen ngợi bản luận án xuất sắc của chàng về Nền Cơ Học Lượng Tử (la Mécanique Quantique). Ít lâu sau, chàng lại sang Thụy Sĩ, theo học trường Bách Khoa Zurich là một trong các trường kỹ thuật danh tiếng nhất của châu Âu.

Khi Robert trở về Hoa Kỳ, ông Julius hết sức ngạc nhiên vì thấy con trai gầy còm chẳng khác gì một chiếc gậy. Thân hình cao lỏng khỏng, má hóp, ngực lép, chàng Robert lại húng hắng ho. Ông Julius liền tìm cách cho con trai đi nghỉ ngơi tại miền quê để dinh dưỡng cơ thể. Ông mua ngay cho con một nông trại trong tiểu bang New Mexico. Tại nơi đây, cả ngày ngồi trên yên ngựa, chàng Robert ngao du khắp các đồi núi. Cái nông trại miền New Mexico này không giống với các nông trại khác. Nơi đây vắng vẻ, hiu quạnh, khiến cho người ta có cảm tưởng một bãi sa mạc hơn là một miền đồng quê. Nhờ hít thở không khí trong lành và nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, Robert Oppenheimer đã hoàn toàn bình phục.

Năm 1928, Viện Kỹ Thuật California (the California Institute of Technology = C.I.T.) là nơi tụ tập các nhà vật lý danh tiếng trên thế giới, đã gửi giấy mời ông Robert Oppenheimer giữ chức Giáo Sư của Viện. Trường Đại Học California tại Berkeley (the University of California at Berkeley) cũng đón mời. Ông Robert Oppenheimer nhận lời giảng dạy tại cả hai trường.

Trong hơn 10 năm giảng huấn, ông Robert Oppenheimer đã được cảm tình của hầu hết sinh viên. Họ đã gọi ông giáo sư trẻ 24 tuổi này là Oppie cho tiện và thân mật. Tuy giữ chức Giáo Sư Đại Học nhưng Giáo Sư Oppie lúc nào cũng bình dị và nội tâm của ông vẫn là một chàng sinh viên ưa hoạt động và hiếu học. Robert Oppenheimer không e ngại khi chính mình phải học thêm một môn học nào đó. Cũng vì vậy ông tìm tới Giáo Sư Arthur Ryder là nhà bác học chuyên về Triết Lý Ấn Độ và xin học chữ Phạn. Đây là sinh ngữ thứ tám của ông nhưng đối với ông cũng không khó và ít lâu sau, ông đã hiểu thấu nền triết học rất uyên thâm và phức tạp này.

2/ Thời kỳ khảo cứu Nguyên Tử.

Từ thập niên 1920, các lý thuyết mới về Quang Tử (Quantum) và Thuyết Tương Đối (Relativity Theories) đã gây chú ý trong giới Khoa Học nên các khảo cứu ban đầu của ông Robert Oppenheimer là về các hạt hạ nguyên tử (subatomic particles), gồm cả các âm điện tử (electrons), dương điện tử (positrons) và các tia vũ trụ (cosmic rays). Ngoài ra, ông còn huấn luyện một thế hệ mới các nhà vật lý Hoa Kỳ và những khoa học gia này chịu ảnh hưởng của Robert Oppenheimer cả về tinh thần độc lập lẫn tài lãnh đạo.

Từ năm 1933, sự việc Adolf Hitler lên nắm quyền tại nước Đức đã khiến cho ông Robert Oppenheimer quan tâm tới chính trị. Vào năm 1936, ông Oppenheimer đứng về phe các người cộng hòa trong cuộc Nội Chiến Tây Ban Nha đồng thời ông cũng có cơ hội làm quen với các người Cộng Sản. Nhưng các thảm cảnh mà Joseph Stalin gây ra đối với các nhà Khoa Học Nga đã khiến cho ông Oppenheimer không còn giao du với đảng Cộng Sản nữa mà chỉ là một người theo lý thuyết dân chủ cấp tiến (liberal democratic philosophy).

Năm 1943, Thế Chiến Thứ Hai đang ở vào thời kỳ khốc liệt. Các gián điệp của Hoa Kỳ báo tin rằng các nhà bác học Đức đã tìm ra Nguyên Tử và đang tìm cách áp dụng kỹ thuật này vào khí giới chiến tranh. Vì vậy Hoa Kỳ phải quyết định mở một cuộc chạy đua kỹ thuật nguyên tử và Lục Quân Hoa Kỳ được giao cho trách nhiệm tổ chức các nhà khoa học người Anh và người Mỹ để tìm ra một phương pháp chế ngự năng lượng nguyên tử dùng cho các mục đích quân sự. Theo đề nghị của Tướng Leslie Groves, Tổng Thống Franklin D. Roosevelt đã mời ông Robert Oppenheimer giữ chức Giám Đốc Trung Tâm Khảo Cứu Nguyên Tử Lực của Hoa Kỳ và Trung Tâm này có mục đích chế tạo ra bom nguyên tử.

Thực ra, việc bổ nhiệm này cũng hơi lạ lùng. Tuy Robert Oppenheimer nổi tiếng về ngành chuyên môn của mình tức là ngành Vật Lý Nguyên Tử, nhưng ông chỉ giỏi về mặt lý thuyết, suốt ngày sống giữa tấm bảng đen và những con số mà chưa hề sáng chế về máy móc hay điều khiển một trung tâm khảo cứu nào. Vào thời kỳ đó, tại Hoa Kỳ không thiếu gì các nhà bác học lừng danh từ châu Âu chạy sang tị nạn như Albert Einstein, Niels Bohr, Enrico Fermi. . . và ngay cả trong ngành Nguyên Tử cũng không thiếu gì các Giáo Sư tài ba, nhiều tuổi hơn Robert Oppenheimer, uy tín cao hơn để xứng đáng giữ trọng trách điều khiển Trung Tâm. Việc chế tạo bom nguyên tử là một công trình vĩ đại, nó đòi hỏi ở người chỉ huy những đức tính mà chưa chắc gì một Giáo Sư Đại Học đã có đủ, và còn cần tới một tài năng không những thuộc về địa hạt Khoa Học mà còn thuộc cả về địa hạt Kỹ Nghệ và Quản Trị nữa. Dự Án Manhattan, tên riêng của dự án chế tạo bom nguyên tử, được Tướng Leslie Groves thi hành. Ông này đã tín nhiệm Robert Oppenheimer hơn là các nhà bác học đương thời danh tiếng khác.

Từ giã Đại Học Đường, Robert Oppenheimer với tuổi 38, đã tỏ ra là một nhân vật xứng đáng giữ trọng trách đó. Ông đã thu được cảm tình của hầu hết các nhà bác học tài ba dưới quyền cũng như đối với các chuyên viên. Trung tâm nghiên cứu nguyên tử lực đầu tiên của Hoa Kỳ được đặt tại Los Alamos, gần thành phố Santa Fe trong tiểu bang New Mexico, nơi mà trước kia, ông Oppenheimer đã từng lang thang trên yên ngựa, đã biết từng đồi cát tới các con đường mòn. Nhà máy nguyên tử này thật là lạ lùng: nó vừa là nhà máy vì gồm có các cơ xưởng lớn, vừa giống như một tu viện vì mọi người làm việc quần quật suốt ngày, lại giống một trại lính vì đóng ở giữa sa mạc, chung quanh có hàng rào kẽm gai bao bọc và được canh phòng cẩn mật.

Trung tâm nguyên tử này có số vốn ban đầu là 60 triệu mỹ kim, lúc đầu chỉ gồm 400 người nhưng chẳng bao lâu tăng lên tới 4,500 công nhân. Người ta cố gắng làm việc nhưng vào thời kỳ đó, chưa ai có thể tiên đoán được sức phá nổ của nguyên tử vì từ trước tới giờ, lý thuyết nguyên tử vẫn còn nằm trong vòng giả thuyết. Tại trung tâm nghiên cứu, ông Robert Oppenheimer bắt đầu tìm kiếm một phương pháp tách chất Uranium - 235 ra khỏi Uranium thiên nhiên và xác định khối lượng tới hạn (critical mass) của Uranium là chất để làm ra quả bom. Trong giai đoạn nghiên cứu này, ông Robert Oppenheimer đã làm việc hơn 20 giờ mỗi ngày, người gầy dộc đi đến nỗi chỉ còn nặng 52 kilô, trọng lượng này thật là quá ít đối với một người cao 1,82 mét.

Ngày 16 tháng 7 năm 1945 là ngày quả bom nguyên tử đầu tiên được cho phát nổ thử tại sa mạc Alamogordo trong tiểu bang New Mexico. Một làn chớp sáng lòa rồi tiếp sau là một tiếng nổ long trời, làm cho mọi người tưởng chừng như được chứng kiến một trận động đất dữ dội vậy. Sau đó, khói đen bốc lên cao ngất trời theo hình một chiếc nấm vĩ đại. Trước cảnh tàn phá của thứ khí giới mới khủng khiếp này, ông Robert Oppenheimer mới nhớ tới một câu trong quyển Kinh Ấn Độ Bhagavad-Ghita : "Ta đã trở nên Tử Thần và làm cho nhiều Thế Giới run sợ, hãi hùng".

Sau khi 2 quả bom nguyên tử A thả xuống đất Nhật và chấm dứt chiến tranh, mọi người đều gọi ông Robert Oppenheimer là cha đẻ ra thứ bom A đó. Nhưng riêng Giáo Sư Robert Oppenheimer lại bắt đầu ngờ vực thứ võ khí khủng khiếp mà ông đã dày công chế tạo. Võ khí nguyên tử không những ảnh hưởng đặc biệt tới quân sự mà còn trở nên vấn đề liên quan tới nền Đạo Đức nữa. Sự tàn phá của bom nguyên tử lúc phát nổ rồi ảnh hưởng của bụi phóng xạ khi chất này tỏa rộng, lẫn vào trong không khí mà rơi xuống đại dương, theo gió mà bay tới các lục địa xa xôi, khiến cho mọi người e ngại về sự tồn vong của Nhân Loại.

Trong khi ông Robert Oppenheimer hối hận vì phát minh của mình thì vài nhà bác học khác lại nghĩ tới việc chế tạo một thứ bom khủng khiếp gấp ngàn lần: bom khinh khí H. Người ủng hộ dự án này một cách nhiệt liệt nhất là nhà bác học Edward Teller, người Mỹ gốc Hungary. Vì vậy tại Hoa Kỳ vào thời bấy giờ, có hai phe, người ủng hộ dự án chế tạo bom H, kẻ phản đối thứ khí giới quá khốc liệt đó. Trong khi chính quyền Hoa Kỳ còn đang phân vân thì thình lình, người ta báo tin rằng Liên Xô đã cho nổ thử một trái bom nguyên tử. Tin sét đánh này làm cho nhiều người sửng sốt, phe ủng hộ dự án chế tạo bom H đã thắng và Tổng Thống Harry Truman hạ lệnh chế tạo bom H đó. Được biết tin như vậy, ông Robert Oppenheimer liền bước ra khỏi phòng khảo cứu và tuyên bố dứt khoát: "Tôi không phải là một lái súng, tôi chỉ là một nhà bác học". Ông Robert Oppenheimer từ chức Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Nguyên Tử vào tháng 8 năm 1945.

Từ năm 1947 tới năm 1953, ông Robert Oppenheimer là Giám Đốc của Viện Nghiên Cứu Cao Cấp thuộc trường Đại Học Princeton (the Institute for Advanced Study at Princeton University) và cũng là Chủ Tịch của Ủy Ban Cố Vấn của Ủy Ban Năng Lượng Nguyên Tử Hoa Kỳ (the U.S. Atomic Energy Commission = AEC). Ông cũng là vị cố vấn cho Bộ Quốc Phòng Mỹ và giúp công vào việc soạn thảo bản đề nghị đầu tiên của Hoa Kỳ về việc kiểm soát quốc tế năng lượng nguyên tử.

Năm 1953, một số tài liệu nguyên tử của Hoa Kỳ bị mất cắp. Phong trào chống Cộng Sản tại Mỹ đang lên bồng bột. Các nhà bác học nguyên tử là những người bị nghi ngờ. Ông Robert Oppenheimer cũng ở trong số đó. Hơn nữa, ông có giao du với một số phần tử Cộng Sản. Sở phản gián đã gom góp được nhiều tài liệu để kết tội ông. Các địch thủ của ông hùa nhau vào để hạ ông. Cũng có nhiều người đứng ra bào chữa cho ông như nhà Đại Bác Học Albert Einstein và Phó Tổng Thống Richard Nixon. Vào tháng 4 năm 1954, ông Robert Oppenheimer bị lôi ra trước một ủy ban điều tra của Ủy Ban Năng Lượng Nguyên Tử nhưng Tổng Hội Các Nhà Khoa Học Mỹ (the Federation of American Scientists) đã lên tiếng bảo vệ ông Oppenheimer trước tòa án. Vụ xét xử về an ninh này đã công bố rằng ông Robert Oppenheimer không phạm tội phản bội nhưng ông không được phép tiếp xúc với các bí mật quân sự. Kết quả là chức vụ cố vấn cho Ủy Ban Nguyên Tử Lực Hoa Kỳ của ông bị hủy bỏ. Sự lên án này đã làm sôi nổi dư luận tại Hoa Kỳ và tại châu Âu. Ông Robert Oppenheimer là một biểu tượng quốc tế của các nhà Khoa Học cố gắng giải quyết các vấn đề đạo đức (moral problems) sinh ra trong công cuộc khám phá Khoa Học và ông cũng trở nên một nạn nhân của công cuộc săn tìm phù thủy (a witch-hunt). Tuy đã bị mất chức, nhưng từ năm 1947 tới năm 1966, ông Robert Oppenheimer vẫn còn là Giám Đốc của Viện Nghiên Cứu Khoa Học Cao Cấp tại Princeton thuộc tiểu bang New Jersey. Tại Viện Khảo Cứu của tư nhân này, các nhà bác học lỗi lạc được tự do tìm tòi, làm sao cho thiên tài của họ được phát triển tối đa.

Vào năm 1963, Ủy Ban Năng Lượng Nguyên Tử Hoa Kỳ đã trao tặng ông Robert Oppenheimer phần thưởng Enrico Fermi. Đây là danh dự cao quý nhất để khen thưởng các đóng góp của ông vào nền Vật Lý Lý Thuyết. Nhiều người cho rằng công việc này là một cố gắng của Chính Phủ Hoa Kỳ để sửa chữa lỗi lầm khi trước. Ông Robert Oppenheimer về hưu năm 1966 và qua đời vào ngày 18 tháng 2 năm 1967 tại thành phố Princeton vì bệnh ung thư cổ.

Khi còn sinh thời, ngoài việc nghiên cứu Khoa Học và viết sách, ông Robert Oppenheimer còn ham thích các môn Hội Họa và Âm Nhạc. Phải chăng hai Nghệ Thuật này là các món ăn phụ của các đầu óc Khoa Học phi thường?.


Còn một nhà bác học nữa được coi là cha đẻ âm thầm và là người chống đối ra chính đứa con Bom nguyên tử của mình, đó là Leo Szilrad, gốc Do Thái, sinh năm 1898 tại Hung ga Ri (Ungarn).

More infomation : http://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BB%A5_n%C3%A9m_bom_nguy%C3%AAn_t%E1%BB%AD_xu%E1%BB%91ng_Hiroshima_v%C3%A0_Nagasaki