My Opera is closing 1st of March

The Beginning...

---mãi mãi và thức tỉnh

truyện | thỏa hiệp với dịu dàng

1.

Còn nhớ, lúc bắt đầu mối quan hệ yêu đương này, tôi và Triết đã nói với nhau, tuyệt đối không chia tay ở một trong ba địa điểm sau: nhà ga, rạp chiếu và tiệm bán thức ăn nhanh.

Cuối cùng, đúng như thế thật, chúng tôi đã chia tay nhau ở trước một tiệm bánh kem nhỏ.

Nó bé tí xíu, ế khách, trông như cái nấm con cô độc biết tỏa ra mùi thơm hấp dẫn khi đứng bên cạnh một shop hoa tươi.

Hơn nữa, còn là tiệm bánh kem ở một thị trấn lạ. Để đến đó, Triết phải chạy xe máy mất hết 120 phút, còn tôi ngồi xe buýt cũng hơn hai tiếng rưỡi đồng hồ.

Vậy mà, lúc bảo hết yêu, còn chưa đến ba phút.



2.

Lỗi tại cái nắng Sài Gòn quá gắt gao và trung thực, đứng dưới nó người ta chẳng cách nào khống chế nổi lòng mình. Chúng tôi yêu nhau như một cảnh phim viễn tưởng nói về khung cảnh hoang tàn. Từ hai đầu đổ nát của một trái đất lầm lũi đau thương, có hai kẻ chạy thục mạng như điên. Ai cũng tin mình là kẻ sống sót duy nhất. Niềm tin ấy lớn đến thế nào không biết, nhưng đau lòng không kể xiết. Thế nên ngày qua ngày trên cái tinh cầu điêu tàn ấy vẫn một mình ra sức chạy. Rồi đến một hôm, mặt trăng không lên, thủy triều im tiếng sóng, thấy trước mặt một kẻ rã rời y như mình.

Như thế, có thể không yêu?

Đó là chuyện của nửa năm trước, khi tôi còn là đứa con gái vừa rời nhà và Triết là chàng thanh niên vừa bước ra khỏi cổng trường đại học. Tôi rèn giữa bao nhiêu là cô gái tinh anh của một môi trường giáo dục lý tưởng, thế nhưng anh vẫn chưa thể thành nhân, vẫn muốn bản thân mình kinh qua nhiều thử thách. Yêu tôi. Đấy là một hành động mang tính quyết chiến với chính mình.

Hân bảo, từ sớm tao đã đánh hơi thấy một kết cuộc không lành. Mày và nó sẽ chia tay.

Dáng cô đầy ngạo nghễ, một tay nhét vào túi quần bò, tay kia vỗ đánh “bốp” bọc bánh snack vị khoai lang nướng. Rồi ba tháng sau đó, vẫn nhai snack vị khoai lang nướng ở sảnh chờ sân bay Tân Sơn Nhất, bỏ quê hương, sang làm dâu xứ người.

Lúc đó, tôi chẳng để tâm nhiều đến lời tiên đoán thiếu may mắn của Hân. Cái gọi là linh cảm của phái nữ, tôi cũng có. Hôm lần đầu tiên hôn Triết, tôi đã mơ thấy linh hồn mình bị co rút một cách dữ dội. Thân xác rộng thùng thình như một bao vải lớn, linh hồn bị quẳng vào đó, rồi ai đó rút dây ở miệng bao. Tôi muốn thoát ra nhưng không còn đường nào. Cuối cùng, chấp nhận bị tán ra thành muôn hạt nhỏ, đào thoát bằng cách thấm dần qua từng sợi vải bố thô. Kết quả, trở thành một linh hồn dị tật chỉ vì khao khát tự do.

.

3.

Hân ở Trung Quốc, lấy một chàng trai họ Quách, con út trong một gia đình ba anh em. Hai người họ vốn từ lúc quen đến khi cưới chỉ gặp mặt mỗi ba lần. Dì Hân là người mai mối chuyện hôn sự này. Người trước đó đã tác thành hơn mươi cặp vợ chồng. Kiếm được rất nhiều tiền từ công việc không thể công khai này. Riêng với cô cháu ruột, dường như cũng không đến nỗi quá nhẫn tâm.

Gia đình chồng Hân có truyền thống bán quán ăn đã hơn ba đời. Đến đời Quách mọi thứ không có gì thay đổi. Ngay sau khi Hân về làm dâu, ông bố giao lại cho vợ chồng nó quán ăn đang kinh doanh phát đạt nhất. Âu cũng là sự ưu ái dành riêng cho đứa con út quá hiền lành của mình. Hàng ngày, Hân đi đi về về giữa cửa hàng và nhà. Công việc bận rộn, thời gian nhàn rỗi không nhiều, cách hai năm lại được về thăm nhà một lần.

Nhưng không khổ.

Câu cuối cùng này rõ ràng là ý nhấn mạnh, vì giữa chừng vô cớ xuống hàng, ý tứ lại gọn gàng, dứt khoát. Chắc vì không muốn tôi rớt nước mắt thương cảm. Thời gian đó, chuyện cô dâu Việt bị khinh khi, rẻ rúng, đối xử tệ bạc ở Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, là chuyện thường ngày trên mặt báo. Cuộc sống hôn nhân bị vạch trần và săm soi. Nỗi đau từ của riêng cá nhân trở thành một nỗi đau chung. Những bài phóng sự dài kỳ chứa đầy trăn trở. Những tấm ảnh ghi lại chân dung vô số thiếu nữ có duyên số lỡ làng. Tất cả cứ nóng lên từng ngày.

Đến nỗi, chỉ cần biết tao là người Việt thôi, bất kể cuộc sống thế nào, đám người bên ấy cũng lập tức thay đổi thái độ. Ánh mắt hếch lên, nhảy lên trên đầu mình ba bậc mà ngồi. Hình như là, cứ cô dâu Việt là sẽ khổ lên bờ xuống ruộng ấy. Xuân, tao yêu Quách đó. Yêu khủng khiếp. Không phải như mày yêu Triết vì nó là người duy nhất còn sót lại trên thế gian. Mà chính trong hơn 6 tỷ rưỡi người trên thế gian này, tao đã chọn yêu Quách. Một đám đông loạn xì ngầu hết cỡ: giết người, cướp bóc, hãm hiếp, hành hung, giật nợ, chiến tranh, tao cóc cần quan tâm tới, chỉ bước đi và nhìn thẳng, vì trong tay đã luôn nắm chặt bàn tay của người đàn ông tao yêu.

Vậy nên, Hân sống hai năm ở đất nước đó, sinh cho chồng hai đứa con trai. Sau khi lên chức, cuộc sống của nó cũng khác đi một chút. Nhà kêu cô cháu họ ở quê lên phụ việc. Việc ở quán ăn cũng thuê thêm người quản lý. Hân chỉ việc mỗi ngày ở nhà lo cơm nước, chăm sóc con và quán xuyến việc nhà. Rảnh rỗi lại còn làm đất trồng thêm ít rau trái ở mảnh vườn bên hông nhà. Mỗi cuối tuần lại cùng chồng lên phố đi công viên, siêu thị, xem phim, shopping. Mỗi tháng, cả gia đình bốn người rủ thêm mấy người bạn thân cùng đi picnic. Hơn hai năm ở Trung Quốc, ngoài Thượng Hải ra, Hân chẳng biết nơi nào khác. Hỏi nó, Thượng Hải có gì đẹp? Là lúc vườn rau của nhà tao bắt đầu ra lá, xanh thiệt là xanh, còn đẹp hơn cả bầu trời.

Mail nào viết gửi cho tôi cũng toàn kể tíu tít cuộc sống gia đình hạnh phúc của mình. Một tiếng buồn cũng không có, khiến tôi tìm hoài cũng không ra một lý do để rớt nước mắt khóc thương cho bạn mình.

Sau khi chia tay Triết, trong một lá mail, tôi kể cho Hân nghe.

Kẻ sống sót thì cuối cùng cũng chết đi thôi. Ý trời đó. Ngay từ cái tên gọi tao đã thấy mong manh quá trời.

Tôi đoán Hân sẽ nói vậy sau khi biết chuyện. Dáng vẻ vẫn ngạo nghễ như cũ, ánh mắt dù xa muôn dặm vẫn ánh lên vẻ tinh quái thuở nào, như vẫn chờ mãi đến lúc cái kết cuộc không lành do mình đánh hơi thấy xảy ra.

Nhưng lại có chuyện phiền phức khác, lá thư viết xong, thì tôi bị viêm họng. Bệnh nặng đến mức tắt tiếng, một lời cũng không thể nói ra. Thời tiết chuyển lạnh đột ngột, không bỏ được tật uống nước đá lạnh bất kể ngày đêm, đi khuya lại luôn quên mang theo áo khoác. Cộng ba lý do đó, tôi tự thấy mình nhiễm bệnh là việc không thể nào kêu ca.

Tắt tiếng.

Một nhân viên của tổng đài thành phố, mỗi ngày tám tiếng đồng hồ trực điện thoại, chuyên giải đáp thắc mắc về lịch trình đi lại của hệ thống xe buýt thành phố, thế mà lại chẳng biết giữ gìn sức khỏe. Ngay cả giọng nói, là tài sản duy nhất kiếm ra tiền của mình cũng đánh mất. Chẳng còn cách nào khác, tôi đi khám bệnh, nộp đơn xin nghỉ bệnh một tuần liền.

Khi đó là cuối tháng 12.

Mùa xuân gần kề.

Chim én bay đến phương Nam.

Hoa đào nở rộ trên đất Bắc.

Tôi ở Sài Gòn, trả căn nhà thuê chung với Triết dù hợp đồng cho đến tháng ba mới hết. Viết cho anh vài dòng sau cùng. Để ở ngay trên bàn phòng khách. Tôi linh cảm biết chỉ cần tôi đi khỏi nơi đây, Triết sẽ lập tức đến. Thứ tự kẻ trước kẻ sau nhưng mục đích thì chỉ một. Thu dọn vật dụng cá nhân. Thu dọn những tàn tích của một cuộc tình.

Tôi đến tiệm quần áo cũ bán hết những bộ quần áo đắt tiền do Triết mua tặng. Việc này chẳng mất nhiều thời gian mấy. Người chủ chừng như đánh hơi thấy món hời to, mắt sáng ngời, trả ngay giá theo ý tôi. Ông dò hỏi vì sao lại phí phạm như thế? Tôi chỉ cười, dẫu có muốn cũng không thể đáp gì.

Dùng lại số điện thoại cũ. Mặc lại chiếc quần jeans cũng cũ. Đi cắt tóc. Sẵn tiện nhờ người thợ rửa sạch nước sơn ở những đầu móng tay.

Rồi trở về quê tảo mộ.

.

4.

Ký ức sau cùng về người thân còn lại trong trí nhớ là bố.

Ông lái xe máy chở tôi đi nộp hồ sơ dự thi ngôi trường cấp 3 trên tỉnh. Hôm ấy là cuối tháng 8, trời đổ nắng rất to. Bố đội chiếc mũ bảo hiểm màu bạc, mặc chiếc áo khoác to, sau lưng có tấm ảnh vẽ hai chữ C&K lồng vào nhau. Tôi mặc đồng phục quần xanh áo trắng, ngồi ngoan ngoãn sau lưng ông. Lúc xuất phát, mẹ đứng ở đầu ngõ vẫy tay với bố con tôi. Trời mờ sương, còn nghe rõ tiếng gà gáy vọng sang từ mảnh vườn rộng của nhà hàng xóm. Hàng cây hai bên đường mỗi đợt gió thổi qua lại reo lên xào xạc. Chúng tôi xuất phát chuyến đi như thế.

Đường quả thật rất xa. Chiếc xe máy của bố cứ chạy mãi, chạy mãi trên con đường nhựa xanh đen. Trời từ râm chuyển sang có nắng. Nắng ấy từ nhạt chuyển sang đậm màu. Ngôi trường chẳng rõ trú ngụ ở nơi chốn nào, tôi lần đầu tiên đi lên thành phố lớn, thấy nó xa như thể không tồn tại.

Cuối cùng bố cũng nộp được hồ sơ dự thi cho tôi vào lúc 3h chiều. Bữa trưa, hai bố con ăn ở quán cạnh bên trường. Tôi còn nhớ rõ bố gọi hai đĩa cơm tấm, rồi sau đó gắp bớt phần thức ăn của mình bỏ sang cho tôi. Trên bàn có một bình trà đá rất to. Bố ăn xong thì uống liền một lúc ba ly. Sau đó còn ợ một tiếng to khiến cho hai người khách gần đấy phải ngoái lại nhìn. Tôi cúi mặt xuống đĩa cơm, không dám ngẩng đầu lên.

Trên đường về, bố dừng xe bên vệ đường, cho tôi ghé vào một cửa hàng quần áo đang có đợt giảm giá lớn. Bề ngang của nó rộng gấp 3 lần cửa nhà tôi, trang hoàng biết bao nhiêu băng rôn và vật trang trí. Lần đầu tiên tôi trông thấy một cửa hàng quần áo to đến thế. Như một quả núi lớn, hùng vĩ và vô cùng hào nhoáng, choán ngang chặng đường về, khiến tôi đã một mực đòi bố phải ghé lại.

Lúc đó, trong người tôi không có bao nhiêu tiền. Nhưng vì trên băng rôn giảm giá ghi rất rõ những con số nên tôi tin chắc ít nhất mình cũng có thể mua được một chiếc áo của cửa hàng này. Bố cùng chiếc xe máy đứng lại bên kia đường. Tôi một mình băng qua dòng xe cộ tiến về phía cửa hàng nguy nga. Niềm tin của đứa con gái mười bốn tuổi đầu có thể mãnh liệt đến mức như thế đó.

Khi tôi lựa áo trong cửa hàng, bố luôn nhìn tôi. Chỗ đậu xe của ông ngay cạnh một cột điện. Mớ dây điện đủ kích cỡ chồng chất nhau hầu như làm oằn vai cây cột điện đó. Nhìn xa, trông chúng như bầy quạ đen xấu xí, nhưng cứ cố chờn vờn trước mắt người ta.

Tôi đi từ giỏ áo này đến sạp áo nọ, nhưng có thế nào cũng thấy mình luôn trong tầm mắt của bố. Tôi không nhìn lại nhưng vẫn biết bố luôn luôn nhìn tôi. Người đàn ông bên kia đường, cách tôi dòng xe đông đúc của thành phố và cửa hiệu trang hoàng rực rỡ, nhưng trong ánh mắt luôn luôn có tôi.

Cuối cùng, tôi rời khỏi cửa hàng quần áo ấy mà không mua sắm một thứ gì. Mớ tiền ít ỏi đập từ ống heo nằm lại trong túi quần. Lại đứng hồi lâu chờ len qua dòng xe đông đúc. Cuối tháng tám. Nắng nhiễu từng giọt bỏng rát xuống mặt đường. Bố tôi cưỡi xe máy, đội mũ bảo hiểm màu bạc, mặc áo khoác có in hai chữ C&K, mang tôi từ thành phố lớn trở về nhà.

Kỳ thi dự tuyển vào ngôi trường ấy diễn ra vào hai tuần sau đó. Tôi không tham gia. Khi ấy, trùng với lễ cúng cơm mười ngày của bố. Một đêm trời đầy sao, bố tôi đi thăm ruộng mãi không thấy về. Tảng sáng, người nhà vội vã đổ đi tìm. Ai cũng lo ban đêm không thấy đường, bố sẩy chân té sông.

Cuối cùng, khi tìm đến cái chòi canh trộm giữa đồng, mọi người nhìn thấy bố nằm một mình trong góc. Mọi người đến đông như thế mà bố vẫn không thèm để ý đến. Cứ nhắm mắt và mỉm cười. Người bố lạnh ngắt, như cả đêm thay vì đắp chăn thì đã ướp bằng nước đá. Nguyên nhân tử mạng được xác định rất nhanh. Bố bị trúng gió. Gió đồng ngày thường rất hiền lành nhưng lại có khi độc đến mức mang cả một mạng người ta ra đi.

Tôi không tin lời người lớn.

Đêm qua trời đầy sao. Từ căn gác của mình, nhìn qua cửa sổ tôi đếm thấy có hơn cả trăm ông sao. Nóc căn chòi lại thủng lỗ chỗ. Chắc chắn đêm qua bố cũng đã ngắm sao rất lâu trước khi đi ngủ. Tôi thích ngắm sao là do bố. Chẳng ai biết được bí mật to lớn của bố tôi. Người đàn ông thích đếm những ngôi sao.

Bố mất. Hẳn là do một ngôi sao nào đây vừa mới rơi xuống mặt đất đêm qua. Ngôi sao không vâng lời. Ngôi sao đi chơi rong. Nhưng lại là sao bổn mạng của bố.

Về sau này, luân phiên qua nhiều thành phố lạ không có chỗ dừng chân nhất định, tôi hay bị mất ngủ về đêm. Thế là, ra ngồi ở bậc cửa, đếm những vì sao.

Người đàn ông đã luôn muốn giữ tôi trong tầm mắt của mình. Đang ở ngay bên cạnh. Trong một hình hài mới. Trong sáng vô biên. Và mênh mông vô biên.

Như thế.

Ngắm sao hay đếm sao đều được.

Chỉ cần ở dưới bầu trời, trong bóng đêm, nơi còn nhìn thấy ánh sáng của những vì sao, là tôi sẽ không đơn độc.

.

5.

Khi tôi trở lại Sài Gòn, trời đã sang xuân. Mùi hương cây cảnh tỏa ra từ mọi ngóc nghách trong thành phố. Nhà nhà quét vôi mới. Mặt trời cũng qua gột rửa, ánh sáng vàng tỏa ra thanh trong và yên ả hơn rất nhiều.

Khu nhà trọ lúc trước giờ đây vắng teo. Đa phần khách trọ đều là nhân công đến từ nơi khác. Theo lẽ thường, họ đã về quê ăn Tết đến giờ vẫn chưa vào Nam lại. Tôi hỏi thuê lại căn phòng cũ. Ông chủ sau khi đưa chìa khóa, còn kèm theo một phong thư. Của Triết. Một tàn tích sau cùng chứa đầy kỷ niệm. Cuối cùng cũng xuất hiện. Từ đợt ấy cho đến nay.

“Em có từng yêu anh sâu đậm không?”

Câu hỏi là một cái cầu thang. Mỗi chữ là một nấc thang, càng lúc càng dẫn người ta lên cao. Triết muốn tôi lên đến nơi cao nhất. Anh muốn tôi chênh vênh. Như cảm giác anh đã từng có lúc tôi đột ngột nói ra lời chia tay.

“Em có từng yêu anh sâu đậm không?”

Tôi cười. Vác mớ đồ nặng trịch về phòng. Chẳng có gì thay đổi hết. Căn phòng vẫn có thứ mùi đó. Mùi chó con, dù cả khu này không ai được phép nuôi súc vật. Tôi bỏ dép ở cửa, giẫm chân lên tấm thảm, chà đi chà lại lòng bàn chân trên mớ lông cứng đờ của nó. Lúc ngửa lên nhìn thì da đã đỏ ửng lên cả rồi.

Tủ trên của bếp vẫn còn hai gói mì chay của Triết. Dạo ấy anh tập tành ăn chay để tích đức hành thiện. Hai gói mì ấy là cố gắng đầu tiên và cũng là duy nhất. Triết mua chúng ở tiệm tạp hóa ngay bên dưới nhà. Rồi cũng vứt xó, sà vào món ăn tôi nấu, một lần nhớ đến cũng không.

Cửa sổ ngoài phòng khách kính bị một vết nứt nhỏ, gần như song song với tường. Lỗi do tôi trong phút nóng giận đã cầm chiếc giày cao gót của mình ném mạnh vào nó. Gót giày va vào, gây ra vết nứt đẹp đẽ. Sau đó dĩ nhiên không dùng được nữa, phải đem đi ký gửi ở xe rác. Đôi giày cao gót đầu tiên tôi tự bỏ tiền ra mua. Một trăm hai mươi ngàn, thứ vật dụng giúp tăng thêm dũng khí cho những cô gái.

Chịu khó tìm thêm chút nữa quả nhiên trong góc phòng ngủ vẫn còn sót lại nhúm xác hoa hướng dương. Ở ngoại thành, có một nhà vườn trồng rất nhiều hoa. Hai kẻ lãng mạn chúng tôi tóm được ông ta trong một chương trình nhà nông trên ti vi. Khi ống kính zoom vào cả mảnh vườn bát ngát rực rỡ tưng bừng dưới nắng Mặt Trời, trái tim như được tiếp thêm liều thuốc phấn khởi, đập loạn cả lên. Ngay chiều hôm ấy, Triết chở tôi ra ngoại thành, mang về hai chậu hướng dương to tướng. Một chậu để ở bửng xe, một chậu tôi ngồi phía sau dùng tay ôm lấy. Mặt trời ngả về Tây, căn hộ ở hướng đông. Xe máy phóng vận tốc 50km/h. Thế mà hai cây hoa ương ngạnh ấy vẫn không chịu từ bỏ. Chúng mềm oặt thân mình, ngả về phía Mặt Trời. Những bông hoa hướng dương ủ dột kề sát bên tóc tôi. Trong tiếng áo gió bay lật phật, cứ như nghe thấy tiếng chúng nói: “Một chút nữa thôi, chỉ cần một chút nữa thôi!”. Cứ như tự động viên, hoặc an ủi chính mình.

Tôi mang về, cho đến khi chúng héo rũ vẫn không bỏ đi. Mang bỏ trên bệ cửa sổ phòng ngủ. Mỗi khi đứng soi gương tiện thể đưa mắt sang ngắm chúng. Lúc uống dở ly nước cũng nhân thế tưới cho những mặt trời bé con ấy một ít nước mát.

Bệ cửa sổ phòng ngủ. Không đâu tốt bằng nơi đó. Vì mỗi sáng sớm, hướng dương sẽ được nhìn thấy người tình của mình. Anh ta đến, rải lên đóa hoa bé nhỏ hơi thở màu vàng trong của mình. Ban mai. Mặt Trời. Hoa hướng dương. Những cuộc gặp gỡ và chia ly diễn ra bất tận.

Triết bảo, tôi đang sắp đặt một vở diễn khiến người ta không thể cười.

Trên bức tường ở chỗ cửa ra vào có ba lỗ đinh sâu hoắm. Khi đó, cũng vào dịp năm mới, cô bạn phòng bên vốn là nhân viên văn phòng của một công ty bao bì Trung Quốc, mang sang tặng tôi và Triết một tấm lịch rất to. Có tất cả 53 tấm. Mỗi tấm in hình một phong cảnh, chú thích bằng chữ Hoa in lả lướt rất đẹp, bên dưới cùng biểu hiện bảy con số, là bảy ngày trong tuần. Năm mươi ba tấm lịch cũng tức là năm mươi ba tuần. Rất tròn một năm.

Tôi rất thích món quà này, sau khi cô bạn ấy về, bắt Triết phải treo nó lên tường ngay lập tức. Phần trên tờ lịch được thiết kế có ba lỗ tròn, rõ ràng chỉ có thể treo lên bằng đinh. Triết bắt ghế, đóng ba cây đinh ở vị trí tôi yêu cầu. Tiếng gõ búa của anh giữa một buổi trưa mùa xuân. Quạt trần không đủ sức xua đi cái oi bức lúc giao mùa. Nắng vàng ong óng đến mức phát ngộp thở. Triết đánh rơi búa ở cây đinh thứ ba. Anh nhảy xuống ghế, vung vẩy cánh tay trái, mặt mày nhăn nhó. Đầu ngón tay cái đỏ ửng, rồi dần xuất hiện một cục u to tướng. Tôi không nghĩ ra được việc gì khả dĩ, vội vàng dùng nước bọt trong miệng mình xoa vào tay anh.

Tờ lịch phút trước còn là mối quan tâm hàng đầu, nay nằm lăn lóc trên sàn nhà như một kẻ thất sủng. Chúng tôi đứng ở cửa, tôi nắm tay anh, ba lỗ đinh chỉ mới xong hai, ngón tay cái trở thành quả chanh non. Đinh, búa, ghế vứt chỏng chơ trên sàn nhà. Mùa xuân.

Hết năm, tôi gỡ bỏ tờ lịch cuối cùng. Năm mươi ba tờ đã xé bỏ. Năm mươi ba tuần trôi qua. Ba trăm sáu mươi lăm ngày của một năm không nhuận. Thời gian trở thành thẻ đánh dấu trang sách cuộc đời. Đến cuối cùng, nhờ nó đánh dấu lại quãng thời gian chúng tôi đã cho nhau. Cũng vì đã đoán biết trước nên chia đều yêu thương và đau buồn thành năm mươi ba phần bằng nhau. Sức nặng của chia ly và chút luyến tiếc của lần sau cùng đều không có.

Ở tiệm bánh kem ngày hôm đó, tôi nói với Triết.

“Chúng ta chia tay đi!”

Điệu bộ quả thật rất chân tình. Như một đứa trẻ tự nhiên mở miệng mời bạn mình, “cùng ăn bánh kem đi”.

Chính điều đó khiến Triết đau lòng. Và vì đau lòng nên anh mới hỏi, tôi có từng yêu anh sâu đậm không? Rất rõ ràng, khi bị tổn thương, cơ thể lập tức xuất hiện bản năng tự bảo vệ mình. Cần phải xác nhận lại thứ tình cảm chúng ta đã từng dành cho nhau. Có từng là người quan trọng của nhau? Có từng chiếm được chỗ trong lòng đối phương? Xuất hiện trong giấc mơ của người đó? Thật sự đã từng yêu nhau?

Rốt cuộc, Triết lại là người đàn ông tỉnh táo hơn tôi tưởng. Anh không muốn đau lòng một cách vô ích.

Lịch gỡ ra rồi, dù có đem đốt thành tro hay vứt ngoài bãi rác công cộng, vẫn nhìn thấy trên tường ba lỗ đinh sâu hoắm. Mùa xuân này, tôi một mình nhìn chúng, không cách nào cười nổi. Vì tay Triết vẫn đang sưng to, ngày càng giống như một quả chanh.

.

6.

Mùa xuân, tôi là cô gái đã chủ động chia tay với bạn trai. Năm tháng đã qua, nhưng vẫn chưa có ý định bắt đầu yêu một ai khác. Vì bên tai luôn văng vẳng giọng Triết gọi tên tôi. Xuân. Tiếng gọi của anh khiến tôi nhìn thấy chim én bay, và hoa đào nở rộ. Ngay từ lần đầu tiên đã thế. Một trong hàng ngàn lý do tôi quyết định yêu anh cũng là vì thế. Tôi nghĩ, khi nào xuất hiện một người có thể đánh tan ảo giác do giọng nói của Triết mang lại thì tôi mới có thể yêu.

Mùa xuân, Hân gọi điện thoại đường dài từ Thượng Hải về Sài Gòn. Trên màn hình điện thoại hiện ra mã số vùng xa lạ. Rồi giọng nói của Hân tràn ra, như nhựa cây, bạn tôi dường như đang xanh tốt vô cùng.

“Tao nhớ mày. Sang Thượng Hải gặp tao đi. Tao hiện không thể về Việt Nam. Đang trong thời gian chờ nhập quốc tịch, không thể đi đâu cả. Ba năm. Mày có biết con số nhân lên là dài như thế nào không?”

“Thượng Hải đang có tuyết rơi. Mặt Trời hiếm hoi đến độ trở thành vẻ đẹp được ao ước. Chồng tao vừa khai trương một nhà hàng nhỏ bên sông Hoàng Phố. Chờ đợi mãi cuối cùng năm mới cũng đến. Tao cho rằng không có điều gì đủ quan trọng để không thể gác sang bên mà thoải mái làm cho bản thân mình vui vẻ. Thượng Hải hiện giờ với tao như một giấc mộng. Và mộng sẽ vui hơn nếu có mày. Hơi ích kỷ nhỉ? Nhưng, nếu mày có thể sang đây thì thật tốt biết mấy…”

Suốt một tháng, tôi suy nghĩ về lời đề nghị của Hân. Mọi thứ dường như đều chờ đợi đến cùng một thời khắc mới cùng nhau xuất hiện. Mùa xuân. Hai từ này có lúc gọi ra nghe đắng nghét. Tôi có phải là người mong mỏi năm mới nhiều đến thế đâu.

Trong thời gian một tháng đó, ngoài giờ làm lúc nào tôi cũng lang thang trên phố đến tối mịt mới về. Vào siêu thị ngắm rất lâu gian hàng trưng bày các loại đồ sứ. Đi ra sông xem tàu bè. Đến nhà văn hóa tham gia những buổi học thử về nấu ăn hay nữ công gia chánh. Có khi buổi tối chủ nhật đến phòng trà xem chương trình ca nhạc của người ca sỹ vốn yêu thích từ lâu.

Chỉ khi về đến phòng, tôi lại nhớ đến những gì Hân nói.

Khi tiền trợ cấp và tháng lương cuối cùng được chuyển vào tài khoản, tôi đi đặt vé máy bay. Rồi sau đó, cũng bắt đầu thu dọn hành lý.

Ông chủ nhà trọ hỏi có phải lại trả phòng không? Tôi cười, nhờ ông giữ phòng cho. Tôi đi rồi sẽ về.

Trên đường ra sân bay, bỗng nhiên cảm thấy rất đói, ghé lại mua một cái burger bên đường, thêm một ly Pepsi to đùng sủi đầy bọt gas. Tài xế nhìn tôi ăn qua kính hậu, vẻ hiếu kỳ nhưng không nói. Trong mắt ông, tôi có thể là một dạng khách lạ lùng. Nhưng trong đêm hôm đó, chỉ là cô gái mệt mỏi đang đặt trọn niềm tin còn lại vào chiếc vé trong tay. Chiếc vé là chìa khóa mở cửa chuyến bay đưa tôi đến một đất nước khác. Trước khi du hành, tôi lâm vào trạng thái trống rỗng. Đồng ý để mọi thứ bên trong bị khoét rỗng, vì tin rằng sau đấy sẽ có ánh sáng mới xuất hiện và lấp đầy.

Đến sân bay lúc 11 giờ đêm. Sau khi làm thủ tục thì mới biết bị nhét vào cùng chuyến bay với một đoàn khách du lịch trong nước. Chúng tôi rồng rắn xếp thành hàng, co ro vì lạnh, quấn chân bên mớ va ly nặng trĩu, tiến lên từng bước. Thượng Hải ở đích đến, tỏa ra sự ấm áp mơ hồ. Tôi bước lên một bước, gần nó thêm một chút. Lấy đó làm động lực rõ ràng cho sự kiên trì đang bỏ ra.

Lúc lên máy bay đã 0 giờ 13 phút. Đám khách bên cạnh còn đang bàn nhau các điểm đến trong chuyến du lịch bốn ngày ba đêm của mình. Leo núi. Dạo phố cổ. Ngắm sông Hoàng Phố về đêm. Cuộc trò chuyện rôm rả. Ai cũng quấn đầy quần áo ấm. Tôi gần như kiệt sức, lôi áo ra đắp lên mặt rồi lăn ra ngủ. Trong giấc mơ, thấy Thượng Hải là một chỏm núi u phiền, sông Hoàng Phố chảy mãi bên cạnh, như dòng nước mắt không thể lau khô. Hân đứng trên đó, là hình người nhỏ xíu tuyền màu xanh lam, trông thấy tôi đang lượn lờ trên mây thì vẫy tay kêu rối rít. Cái kiểu mừng vui trên mặt nó, giống hệt như Robinson lạc ngoài hoang đảo lâu ngày, lần đầu tiên trông thấy Thứ Sáu.

Lúc hơn 6 giờ sáng một chút, máy bay đáp xuống sân bay Phố Đông. Mây dày đặc. Thượng Hải hầu như chìm trong một màn sương trắng. Từ mặt đất nhô lên vô số tòa cao ốc. Chúng giống như ống khói cũ, có trăm ngàn con mắt, miệng thở ra hơi thở xám màu, cũ kỹ nhưng kiêu kỳ.
Hân cùng chồng đến đón tôi. Chạy một chiếc ô tô màu đỏ. Đứng ở cổng ra, không tìm kiếm tôi. Chỉ nhẫn nại trong đám thân nhân đông đúc, giương cao tấm bảng đề tên tôi. Xuân. Trên tấm bảng, chỉ viết như thế. Xuân. Ngoài ra không còn gì khác. Lúc đó, khi từ xa phát hiện ra điều đó, tôi bỗng nhiên thấy sợ hãi. Rồi sau đó, nỗi xúc động mới tràn đến. Tên tôi đang hiện lên giữa một mùa xuân Thượng Hải.

“Cuối cùng mày cũng đến nơi. Mày khiến cho giấc mộng của tao được trọn vẹn. Ý nghĩa của chuyến đi này là như thế. Không phải tốn công suy nghĩ nhiều làm gì. “

Hân nói. Tôi ôm ghì lấy nó, nước mắt tự nhiên rơi ra. Mặc cho Quách đứng bên cạnh nhìn ngắm với vẻ thú vị. Tôi không sợ phơi bày sự yếu đuối của mình. Ở nơi đây, ngoài Hân ra, chẳng ai biết tôi là ai. Ở cái đất nước xa lạ này, thành phố miền Nam phồn hoa này, chỉ có một người duy nhất lưu giữ tôi trong ký ức của cô.

Lát tôi thành từng mảnh nhỏ, cho vào ngăn kéo trong lòng bạn. Trước khi ra khỏi nhà, đừng quên ghé qua thăm chừng. Như là thăm chừng quên không tắt đèn, quên không tắt ti vi. Có như thế sẽ không bao giờ quên nhau.

.

7.

Quách là một người tầm thước, có dáng vẻ đặc trưng của đàn ông Trung Quốc. Điều này tôi cho là thuộc về cảm nhận. Có những người mà chỉ vừa nhìn qua thôi, bạn sẽ nghĩ ngay anh ta là người Trung Quốc. Không cần lý do, không rõ căn cứ, nhưng tin chắc chắn là như vậy.

Lúc lên xe rời khỏi sân bay, Quách giữ tay lái. Hân ngồi băng sau cùng với tôi. Nó liên tục nói về cảnh tượng hai bên đường. Đám cưới trong nhà thờ nhỏ. Ngôi trường trung học có bọn học sinh vừa tan. Một hiệu ảnh đang treo băng rôn dày đặc tiếng Hoa. Cả việc một đoàn người rồng rắn kéo nhau xếp hàng trước quán ăn nọ.

Mặt trời cuối cùng cũng ló dạng. Cây xanh hai bên đường reo rào rạt trong tiếng gió. Đường phố Thượng Hải rất sạch sẽ. Người nhàn tản dạo chơi trong công viên khá nhiều. Ngồi cạnh tôi, Hân nói không dứt chuyện. Những từ ngữ tiếng Việt tuôn ra luyến láy như nước. Đôi mắt nó sáng ngời, trông rất hạnh phúc vì được sử dụng lại ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Cho nên cứ kiếm hết chuyện này đến chuyện kia để nói. Quách chăm chú lái xe, nhưng thỉnh thoảng lại nhìn vào kính. Tôi cho rằng anh ta cảm thấy lạ lùng với biểu hiện của Hân. Hoặc giả có chút lo lắng, tự hỏi, vợ mình đang huyên thuyên những điều gì?

Ở sân bay, lúc vừa gặp, Hân có giới thiệu đôi bên với nhau. Tôi gật đầu cười. Còn Quách thì ấp a câu xin chào bằng tiếng Việt. Khi đó, anh có vẻ ngượng ngùng. Dường như là một học trò không mấy nhanh nhạy của Hân. Song, tôi lại cảm thấy được đó là nét dễ mến của người đàn ông này. Chủ quán ăn. Hàng ngày sau khi xử lý công việc, trở về nhà, theo vợ học tiếng Việt. Mục đích không phải vì muốn nắm bắt một ngôn ngữ khác, chỉ là vì muốn làm cho người phụ nữ bên cạnh mình vui vẻ. Bao nhiêu lần Hân bật cười vì cách phát âm dở tệ của anh?

Vợ chồng Hân đưa tôi đi ăn ở một quán nhỏ ở khu Xuyên Tân Giáp. Gọi món há cảo và tôm luộc bóc vỏ. Thêm vài loại thức ăn làm từ bột mà tôi không rõ tên. Tất cả đều ăn kèm nước chấm. Thức uống là nước ngọt Cocacola rất có tiếng.
Quán ăn có khu khuôn viên xanh mướt. Giữa bãi cỏ, mọc lên mấy bụi hoa sống đời. Lúc ăn, cứ nghe thấy tiếng nước chảy và chim kêu lích chích.

“Tạm thời mày cứ ở khách sạn. Tao đã đăng ký phòng trước rồi. Nơi đó cũng gần nhà tao, có cả nhân viên biết tiếng Việt nữa đấy, có việc gì cũng tiện hơn. Hôm nay cứ nghỉ ngơi trước đi nhé. Ngày mai tao đến dẫn mày đi tham quan.”

Tôi nghe theo sự sắp xếp của Hân. Trên thực tế, đây không phải một chuyến du lịch. Tôi không có bất kỳ kế hoạch nào đối với thành phố này. Đến đây, chỉ vì nơi đây có một người bạn của mình.

Phòng trên lầu tư. Thang máy có mùi kỳ lạ khiến tôi không chịu được. Sau khi nhờ người nhân viên mang giúp hành lý lên phòng thì tôi tự mình leo thang bộ. Anh ta trố mắt nhìn theo, hỏi bằng thứ tiếng Việt ngọng nghịu: “Thưa cô, cô đang giảm cân ư?”

.


.

Tôi lại mơ thấy Triết.

Giường ngủ trong hầu hết khách sạn đều thích trải ra trắng. Trên tường có treo một bức tranh tĩnh vật. Nước suối sắp thành hàng dài ngay trên bàn soi gương. Bộ bàn ghế dùng để ngồi uống trà kê ngay cửa sổ hẹp. Ban công quyến rũ người ta bởi phong cảnh lãnh đạm của mình.

Đêm đầu tiên ở Thượng Hải, tôi ngủ trong căn phòng như thế. Căn phòng mà ít nhất có đến cả ngàn anh em song sinh. Hàng trăm người khác nhau nằm ngủ trong những căn phòng bày trí giống nhau. Nhưng không thể nào cùng mơ một giấc mơ y hệt.

Trong giấc mơ bạn thấy gì?

Còn tôi lại mơ thấy Triết. Anh quỳ gối bên giường, dáng vẻ giống như một lữ khách vừa vượt qua vạn dặm đường xa. Vai áo ướt đẫm, đôi mắt mỏi mệt, bàn tay khép chặt im lìm và đi chân trần. Cho nên tôi nhìn thấy rất rõ móng chân anh đã dài ra rất nhiều so với lần gặp nhau trước đây. Đôi dép đi nhà bị anh quăng đi mất. Giống như một đứa trẻ mới tập đi, bị buộc mang vào đôi dép vướng víu, anh không những cố tình mang dép ngược, mà còn ác ý vứt nó đi.

Vứt dép rồi, anh đi chân trần tìm kiếm tôi. Từ Việt Nam sang Thượng Hải. Tôi ngồi máy bay lướt đi vù vù. Còn anh lặn lội bên dưới, vừa đi vừa động viên đôi chân mình. Anh trò chuyện với chúng, dáng vẻ còn dịu dàng hơn cả lúc chăm sóc cho tôi. Anh nói, tụi mày là đôi cánh của tao, nhưng không thể giúp tao bay lên được. Chỉ là do tao quá nặng nề. Tụi mày không có lỗi gì cả. Chúng ta cùng nhau cố gắng đi nhanh lên. Đi nhanh lên…

Anh còn nói, giọng đầy vẻ tức tưởi, cô ấy bay đi mất rồi.

Lặp lại.

Mùa xuân bay đi mất rồi.

Hiện ra một gương mặt vô cùng đau khổ. Hình như đang khóc. Giấc mơ méo mó như một gương mặt không rõ khóc cười.

Tôi choàng tỉnh. Cả căn phòng tối om. Thành giường lạnh lẽo. Không có bất kỳ hơi ấm nào còn lưu lại. Không có bất kỳ người đàn ông nào đã từng quỳ bên.

Ai đó đốt pháo hoa giữa Thượng Hải. Pháo hoa bay lượn giữa bầu trời, sau đó bị kẻ xấu truy đuổi, hoảng hốt chui vào cửa sổ phòng tôi. Ở phòng tôi. Đóa hoa bảy màu tưng bừng xòe nở. Ảo giác cứ tiếp diễn. Tôi không còn yêu người đàn ông đó nhưng vẫn nhìn thấy hoa đào nở và chim én bay.

Đêm tối tĩnh mịch. Cô gái tỉnh dậy giữa giấc mơ cũ kỹ. Soi gương. Tự nói với mình, đột nhiên tôi muốn ngắm một đóa quỳnh.

.

8.

Chuyến tham quan của ngày hôm sau kết thúc, tôi nói với Hân muốn ở lại Thượng Hải trong vài tuần. Tiền bạc mang theo không đủ cho việc ở khách sạn trường kỳ. Tuy rằng không yêu thích lắm căn phòng có pháo hoa đi lạc đó, nhưng không hề ghét bỏ nó. Còn chưa ngắm qua một lần thành phố từ trên cao mà phải rời đi cũng rất tiếc. Nhưng tỉnh táo một chút, không thể phung phí tiền bạc vì những việc như thế.

Ngày hôm đó tôi vẫn ở lại khách sạn, vẫn leo cầu thang về phòng. Cậu nhân viên không còn theo hỏi lý do của việc làm đó nữa. Thay vì nói về “giảm cân”, cậu ta ấp úng một mẫu câu khác: “Vì sao cô không thích đi thang máy?”.

Buổi tối, lúc rất khuya, đang xem một chương trình ca nhạc trên ti vi. Đến bài hát có tựa “You shi jimo” thì Hân gọi điện đến. Phòng tiếp tân chuyển máy cho tôi.

“Xuân ơi, tao tìm được chỗ cho mày rồi. Một căn hộ của người bà con của Quách. Cô em họ ấy dọn đến Bắc Kinh đã hơn tháng nay, hiện đang bỏ trống chờ cho thuê. Quách nói mày có thể đến đấy ở. Nó hơi xa trung tâm thành phố nên người ta không mặn mà lắm. Mày đến đấy ở, tuy không thể thường gặp mặt nhưng tao cũng yên tâm hơn. Khu đó an ninh và có nhiều người Việt mình sinh sống. Nhưng nếu nói là thuộc địa phận Thượng Hải thì sẽ chẳng ai tin.”

“Tao làm cho mày mất công quá.”

“Phải ráng chịu thôi. Ai bảo tao lại mong gặp mày đến thế. Còn nói như thế nữa thì tao bảo Quách lấy tiền trọ gấp ba.”

“…”

“…”

“Hân này, từ hôm tao sang tới giờ, mày không check mail phải không?”

“Kẻ sống sót duy nhất cuối cùng cũng sẽ chết đi, nhỉ? Tao ước gì có thể biết được mày buồn nhiều như thế nào?”

“Không nhiều lắm đâu. Tao là người chủ động đề nghị chia tay. Nếu buồn quá thì coi không hợp lẽ chút nào, đúng không?”

“…”

“Có điều, không hiểu sao tao cứ mơ thấy Triết. Ngón tay Triết bị sưng do sơ ý khi đóng đinh, sưng to lắm, như một quả chanh non. Còn đi chân không tìm tao, tìm được rồi thì không chịu nói gì, cứ quỳ bên giường và im lặng…”.

“…”

“Chúng tao giống nhau quá, đều là những kẻ sống sót, cho nên cuối cùng cũng từ từ chết đi trong lòng nhau.”

“…”

“Tao chưa từng nghĩ đến một lúc nào đó, Triết đến trước mặt và bảo, không còn yêu tao.”

“…”

“Chủ động chia tay là vì muốn tránh xảy ra thời điểm đó. Tổn thương đối phương trước để bảo vệ mình. Câu trả lời là đã từng yêu nhưng không đến mức sâu nặng.”

“…”

“Trước khi đến đây luôn nghĩ Thượng Hải là một thành phố chỉ có phồn hoa. Nhưng hôm qua, lúc trên xe về khách sạn, tao nhìn thấy một vị khách mua bắp luộc bên đường. Tuy là ngồi trong xe taxi, không bước xuống nhưng thò hẳn đầu ra ngoài. Cảnh tượng tình cờ ấy khiến cho thành phố này đáng mến hơn một chút. Tao sẽ không ghét Thượng Hải đâu, Hân à.”

Đêm khuya. Điện thoại chỉ có thoại một chiều. Lúc đặt máy xuống, đã bước sang một ngày mới. Có lúc nghe thấy tiếng ngáp của Hân trong điện thoại. Như mèo gừ. Rất dễ thương.

Điện thoại cầm tay trở nên vô dụng ở nơi này. Tôi biết rất rõ sẽ không có cuộc gọi hay tin nhắn nào gửi đến, nhưng lại không đủ can đảm tách nó ra khỏi bản thân mình. Vẫn dùng nó xem giờ thay cho đồng hồ đeo tay. Có lúc lục lại xem những tin nhắn cũ. Có lúc cảm thấy mình như đang mơ hồ chờ đợi điều gì đó.

Sim điện thoại ở đây 200 tệ một chiếc. Mua về, lắp vào, bấm số. Rồi chờ đợi đầu dây bên kia giọng nói trả lời. Nghe tiếng người đó thở. Thử hình dung ra vẻ mặt, bộ quần áo đang mặc trên người, những đầu ngón tay đang gõ nhịp vào không khí.

Con người từ đầu dây điện thoại bước ra, bước đến gần, ôm lấy tôi. Hơi thở anh nóng. Bàn tay miết nhẹ lưng áo. Chiếc cổ rám nắng áp sát bên tai tôi. Thế giới không tiếng động. Thời gian dằng dặc trôi. Đến khi máy báo hết tiền, anh ta tan biến.

.

9.

Điều thú vị ở Thượng Hải là nó thỏa mãn trí tưởng tượng của độc giả lắm yêu cầu.

Căn hộ tôi dọn tới ở nằm cạnh một sân bay cũ. Trong khu người Việt nhập cư. Giống như một làng nhỏ. Tất cả nhà cửa, hàng quán đều quây mặt vào một cái sân to. Người ở nơi đây gọi nó là quảng trường Lẻ Bảy. Lúc chiều tà, thường có bọn trẻ con mang bóng ra chia làm hai phe cùng chơi.

Rất hiếm khi nghe tiếng động cơ trườn nhẹ. Sân bay cũ đã qua thời huy hoàng. Giờ chỉ còn là nơi cất giữ ký ức của một số người. Chẳng hạn như Tiểu Cát.

Tôi gặp Tiểu Cát vào ngày thứ ba dọn tới đây. Đó là mẫu đàn ông phụ nữ có thể yên tâm yêu ngay sau khi vừa gặp gỡ. Sạch sẽ, dễ ngượng ngùng, sống một mình, và là chủ một tiệm tạp hóa nhỏ. Biết tôi là người Việt, Tiểu Cát rất vui. Anh nói, xin chào, cô có khỏe không? Anh nói, thời tiết hôm nay rất đẹp, cô có muốn đi dạo không? Anh nói, mẹ tôi là người Việt, nên tôi rất yêu con gái Việt Nam.

Lần đầu tiên gặp, Tiểu Cát nói rất nhiều, còn tôi chỉ lắng nghe. Sau này vẫn thế.

Xung quanh quảng trường Lẻ Bảy có tổng cộng mười ba nhà dân, một hiệu cắt tóc, một quán mì xào, một tiệm cho thuê băng đĩa, một tiệm cầm đồ, một tiệm giặt ủi, và một cửa hàng tạp hóa do Tiểu Cát làm chủ. Hầu hết đều biết nói ít nhiều tiếng Việt. Nguồn gốc hàng hóa cũng từ những nguồn hàng vận chuyển lậu sang từ biên giới. Có thể tìm thấy đĩa hài Hoài Linh, đĩa cải lương các tuồng cũ rích, món phở Hà Nội lừng danh. Buổi trưa, còn nghe thấy tiếng ru con bằng ca dao Việt Nam.

Ngày thứ ba sau khi dọn tới, tôi ra khỏi nhà, muốn tìm mua một vài chậu cây cảnh để trên ban công. Tầng trệt là gara để xe, không người ở. Căn hộ ở lầu trên, tuy hơi cũ nhưng đồ đạc vẫn còn tốt. Chỉ là vắng hơi người bấy lâu nên hơi lạnh lẽo, bày trí cũng đơn điệu. Ban công rộng lớn như sân thượng mà chỉ có vài chậu xương rồng khô quắt queo. Từ dạo cô chủ đó dời đi chắc chúng chẳng được giọt nước nào.

Tôi lang thang đi qua quảng trường Lẻ Bảy. Lúc còn đang đứng ngắm nghía sân bay từ xa xa thì phát hiện ra tiệm tạp hóa của Tiểu Cát. Trước cửa tiệm có một dây hoa dại xúm xít leo đầy sạp hàng trưng bày các loại nón. Ánh nắng chiếu trực tiếp vào tủ kính, dội ra chói lòa cả mắt. Trong quầng sáng ấy, một người thanh niên chăm chú nhìn tôi.

Bị người lạ quan sát, tôi không quen. Phút sau đó, tôi bỏ đi về.

Lần thứ hai, mọi việc vẫn diễn ra như thế. Tôi đứng giữa quảng trường Lẻ Bảy, lặng lẽ quan sát anh ta. Đối phương từ bên trong chốn náu thân an toàn, chăm chú nhìn tôi không chút e dè. Tiết trời càng lúc càng ấm hơn. Có thể gỡ bỏ khăn quàng cổ và cúc áo trên cùng của áo len. Thượng Hải vẫn người và xe đông như mắc cửi. Chưa biết cuộc giao đấu bằng mắt này đến khi nào sẽ kết thúc.

Đến lần thứ ba, xuất hiện tình tiết mang tính thú vị. Lúc tôi vừa quay lưng đi, thì người lạ đột nhiên vẫy tay chào. Tôi không phản ứng. Người lạ lập lại động tác đó ba lần. Sau đó, anh ta bỏ cửa tiệm, đi về phía tôi. 10h trưa, ánh nắng dội trực tiếp vào tủ kính, khi dội lại vẫn làm chói lòa mắt kẻ nhìn nó từ phía xa.

“Xin chào, tên của tôi là Tiểu Cát. “

Bóng một người thanh niên cao lớn hiện ra. Người lạ nói tiếng Việt. Tôi kinh ngạc mất mấy phút, cứ ngẩn ra nhìn anh.

“Tôi biết, cô là người Việt Nam. Áo len cô đang mặc là mua ở Hà Nội, có phải không? Mẹ tôi cũng có một chiếc giống như thế. Mùa đông nào, bà cũng mặc nó. Vừa nhìn thấy cô, tôi đã nhận ra ngay.”

“Chúng ta là đồng hương ?”

“Bố tôi là người Trung Quốc, chỉ có mẹ tôi là người Việt Nam.”

“Anh nói tiếng Việt sõi quá!”

“Tiếng mẹ đẻ cũng giống như linh hồn của chúng ta. Ngoại ngữ là hoa thơm cỏ lạ, mọc ở chân trời xa. Phải biết gìn giữ linh hồn của mình. Khi dùng nó đón nhận hoa thơm cỏ lạ, phải thật thành tâm. Nhưng cuối cùng không phải ai cũng có thể thành Phật. “

Tôi không hiểu lắm những lời anh vừa nói song vẫn mỉm cười.

“Thế thì anh có đến hai linh hồn. Xin chào Tiểu Cát, con người có hai linh hồn, tôi ghen tỵ với anh. Nhưng cũng thật vui vì có một linh hồn giống như anh. “

.

10.

Sau lần gặp gỡ đó, tôi và Tiểu Cát thường xuyên qua lại với nhau.

Một mình Tiểu Cát trông coi tiệm tạp hóa từ sáng đến chiều, hầu như lúc nào cũng phải túc trực, không có thời gian rảnh, nên chúng tôi thường gặp nhau vào buổi tối.

Cũng có lúc tôi đến cửa tiệm của anh chơi đến giờ đóng cửa mới ra về. Cửa tiệm chẳng có nhiều khách hàng lắm. Thỉnh thoảng mới có một hai người khách tạt qua mua vài món đồ lặt vặt. Khăn giấy, tã em bé, thuốc lá, bao diêm, đậu xanh, đường trắng, bột mì,…Trên bệ cửa sổ, Tiểu Cát trồng năm chậu hoa cẩm tú. Chúng xếp thành một hàng dài, cây lá xanh um, thi thoảng mới nhô lên một vài nụ hoa tím. Trên quầy thu ngân có quyển sách đang đọc dở, đánh dấu ở trang 80. Vì nội dung hoàn toàn bằng tiếng Hoa nên tôi chẳng biết Tiểu Cát đọc sách gì. Gian nhà trong chỉ kê một tấm phản gỗ, một bệ thờ có ảnh đôi vợ chồng độ tuổi trung niên. Hoa cúc trắng cắm trong bình sứ trong vắt nhìn thấy cả đám rễ um tùm. Lúc bước vào ngay lập tức nghe thấy mùi hương nhẹ. Lúc nào trong lư hương cũng có nhang cháy đỏ. Tôi hỏi Tiểu Cát sống một mình có buồn không? Anh chỉ bàn cờ tướng trong góc tấm phản, hỏi tôi có biết cách chơi không?

Tôi gật đầu. Chúng tôi hẹn ngày đấu với nhau một ván. Thái độ Tiểu Cát từ lúc ấy trở nên hơi kỳ lạ. Tôi gặng hỏi, anh mới nói, lúc sinh thời bố mẹ anh là đối thủ của nhau. Từ đối đầu yêu nhau lúc nào không biết. Bao giờ bố cũng chấp mẹ một quân mã. Bao giờ mẹ cũng thua bởi chính quân mã còn lại của bố. Sau khi đấu xong, mẹ lại xuống bếp làm cơm. Thiếu đi ván cờ cũng chẳng ảnh hưởng gì đến cuộc sống hàng ngày của họ. Nhưng cứ 3h chiều mỗi ngày, hai người nhất định sẽ lại đấu cờ. Cho đến một hôm, mẹ Tiểu Cát đổ bệnh. Ba Tiểu Cát túc trực đêm ngày ở bệnh viện. Lúc bà nhắm mắt, ông nói một câu, lần này, tôi có nhường bao nhiêu quân mã bà cũng sẽ không chịu ở lại, có phải không? Bà không đủ sức trả lời. Mắt nhắm nghiền mãi. Ông khóc. Đó là lần đầu tiên ông khóc trước mặt anh.

Bố mẹ anh rất thương yêu nhau. Tôi nói. Nhưng không vì vậy mà chúng ta tránh xa bàn cờ này. Tôi cũng không cần anh chấp một quân mã. Hôm nào đến chỗ tôi thì nhớ mang theo nó, nhé.

Nói thế nhưng sau lần đó, chúng tôi ít khi nào nói về cờ tướng. Cuộc hẹn đấu cờ bị gác lại, như cột cây số thứ hai mươi bên vệ đường, vĩnh viễn bị những chuyến xe đường dài đi qua. Lần sau gặp lại, tính từ điểm xuất phát, hai mươi đã không còn là hai mươi.

.
.
.
.

Từ sau khi tôi dọn đến nơi đây, Hân ghé qua khoảng ba lần. Lần nào đến cũng mang theo thực phẩm và đồ dùng cá nhân. Nó nán lại khoảng nửa ngày, trở nên lười biếng và lắm lời không thể tả. Đi loanh quanh trong nhà, mở nhạc ầm ĩ, rồi nằm úp mặt trên ghế sofa mà kể chuyện lúc nhỏ cho tôi nghe.

Tôi biết Hân không quên được Việt Nam. Ba năm không thể về khiến lòng nó âm ỉ một nỗi nhớ khó nói ra. Như một đám lửa cháy tàn còn rất nhiều than hồng âm ỉ, chỉ cần một chút gió thôi, ngọn lửa bùng lên sẽ vô cùng khủng khiếp.

Có lần, nó mang theo cả đứa con trai đầu lòng. Thằng bé mới hơn 4 tuổi, suốt ngày bám theo mẹ. Hân dạy nó tiếng Việt, vui mừng khi thấy nó có thể phát âm rõ ràng những âm khó. Kiếm ở đâu đó ra quyển tập đọc lớp Một, Hân dạy thằng bé đánh vần. Hai mẹ con ê a với nhau cả ngày. Đến giờ, thằng bé biết từ vựng tiếng Việt còn nhiều hơn tiếng Hoa.

“Quách không nói ra nhưng tao biết anh ấy không thích lắm. Cả nhà bốn người như thế. Ai nấy đều nói tiếng Hoa. Riêng tao với thằng nhóc lại thầm thì với nhau bằng thứ tiếng xa lạ, lỡ có mưu mô gì cũng chẳng ai hay. Không thích cũng phải!”

“Sống ở đây có vui không hở mày?”

“Rất yên tĩnh. Rất thích hợp cho một đứa vừa mới chia tay người yêu, đang có bệnh tình về tim mạch.”

“Có khi tao thèm được như mày…”

Tôi nhíu mày ngó nó.

“Thoải mái đến phát ghen! Hình như mày chưa từng vì yêu ai mà đẩy bản thân mình vào cảnh khó xử cả!”

“Ờ.”

“Không phải không muốn hy sinh vì đối phương. Mà là không thể hy sinh vì đối phương. Cứ đến lúc quan trọng nhất tự nhiên lại sinh ra tâm lý muốn nhượng bộ. Một đầu dây chùng rồi, đầu kia có kéo căng cách nào cũng vô ích.”

“Hân này?”

“Gì hở?”

“Có con người như thế tồn tại trên đời này không?”

“…”

“Con người mà sẽ khiến cho tao vứt bỏ tất cả mọi thứ để đi theo anh ta. Bất kể là thân phận, tiền bạc, gia đình. Cứ như trúng phải bùa mê vậy, bằng mọi giá bám theo anh ta đến cùng trời cuối đất.”

“Tao không biết nữa”

“Tao cũng không biết. Nếu như có con người như thế thì cũng chẳng biết tìm anh ta ở đâu.”

“Nếu là mặt hàng phổ biến hơn thì cứ ra siêu thị là bao nhiêu cũng có. Cái thứ tình yêu mãnh liệt như thế tao chưa thấy qua bao giờ.”

“Quách thì sao?”

“Chân mạng thiên tử đó mày”

“Mà có thật chỉ cần phổ biến hơn thì ra siêu thị nào cũng có không?”

“…”

“Hai mươi bảy tuổi, bố mẹ mất, sống một mình, ông chủ cửa tiệm tạp hóa, thích chơi cờ tướng và trồng hoa cẩm tú,… Như vậy có phổ biến hơn không?”

“Này?”

Siêu thị gần nhất đi cũng phải nửa tiếng mới tới, nhưng người đàn ông như vậy chỉ cách tôi có 500 bước chân. Bí mật này làm sao mà Hân biết. Tôi không nói. Không thể nói ra.

.
.
.
.

You shi jimo.

Là tên của một bài hát tiếng Hoa. Khi người ta đọc nó lên, tôi nghe có cảm giác buồn. Giai điệu nghe cũng được, giọng ca sỹ cũng không có gì đặc sắc hay nổi trội. Chỉ là mấy âm tiếng Hoa lạ lùng này, khi đặt bên nhau làm tôi thấy buồn.

Muốn kiếm ai đó hỏi xem nghĩa của nó thật ra là gì. Một ai đó tốt bụng, nghe xong câu hỏi sẽ chỉ trả lời mà không hỏi gì thêm. Một ai đó đủ thân thiết, để không phì cười vào mặt đứa mù tịt tiếng Hoa là tôi. Đủ nhạy cảm cũng cần thiết. Để không phải hỏi mà cũng biết vì sao tôi thấy buồn.

Thượng Hải mùa xuân có bài hát gây vương lòng du khách phương xa.

You shi jimo.

Tiểu Cát biết chuyện, bảo, Xuân, cô không nên nghe bài hát đó. Tựa của nó không tốt lành. Không người tử tế nào lại giới thiệu cho phụ nữ độc thân một bài hát như thế. Nếu cô thấy buồn, tôi sẽ cho cô mượn đĩa phim để xem. Còn bài hát đó, tốt nhất là hãy quên nó đi.

Vì sao? Tiểu Cát, vì sao?

Có lúc cô đơn.

Tiếng động cơ ì ầm từ xa vọng đến. Qua tấm mành che, sân bay sáng rực trong ánh đèn. Bầu trời đen thẫm ở trên cao. Chiếc máy bay có thân hình to tướng tưởng như phủ kín cả đường chân trời. Thế nhưng khi rời bỏ mặt đất, ngay lập tức biến thành chấm nhỏ trên bầu trời mênh mông. Một tuần kể từ lúc tôi đến, sân bay cũ sống lại cảnh huy hoàng khi xưa. Nhúm hành khách bé teo cô đơn ngồi dõi mắt qua cửa sổ. Như đàn chim đang trên đường phiêu bạt trước mùa đông. Tôi từng trải qua cảm giác như họ. Nơi mình vừa rời khỏi. Nơi mình sẽ thuộc về. Cứ suy nghĩ mãi. Để khỏi phải đau đầu tốt nhất cứ trùm kín mặt và ngủ.

8h 20 phút. Tôi đứng bên cửa sổ nhìn theo chuyến bay vừa mới cất cánh. Tiểu Cát từ ghế sofa bước lại, đặt một tay lên vai tôi.

Xuân. Tôi đã nói, tựa của bài hát đó không tốt lành.

Giọng anh lẫn trong mớ tạp âm sau cùng. Chỉ nghe rõ mỗi cái tên tôi. Sân bay như người khổng lồ sau khi vươn vai thức dậy lại chìm vào một giấc ngủ sâu hơn. Sau đó, không nhớ rõ tôi đã hỏi Tiểu Cát điều gì, anh đáp lại bằng cách ca váng cả lên. Rồi có tiếng ô tô nổ máy bên ngoài. Tiếng chim ăn đêm làm huyên náo trên tán lá. Tiếng Tiểu Cát thở gấp sau một câu hát phải lấy hơi thật dài.

Rồi sau đó, mọi thứ dần yên ắng trở lại.

.

11.

Ba ngày sau, Tiểu Cát mang đĩa phim qua thật. Hôm ấy, suýt chút nữa tôi không nhận ra anh. Áo sơ mi đóng thùng, đi giày da, còn thắt cả cravat. Sở dĩ có dáng vẻ trang trọng như thế là do anh vừa đi dự lễ cưới một người bà con xa.

Ngoài đĩa phim, anh còn mang theo một lọ nước hoa nhỏ. Lúc đưa đĩa phim tự nhiên thế nào thì lúc tôi hỏi về lọ nước hoa lại đâm ra luống cuống. Tặng cô. Tiểu Cát nói hai từ ấy một cách khó khăn. Tôi nhận lấy, sau khi cám ơn xịt luôn một ít vào lòng bàn tay. Bước lại gần đưa tay cho anh ngửi thử, có thơm không? Mặt Tiểu Cát đổi màu. Anh lắp bắp, có, thơm lắm. Rồi vội vã tránh xa khỏi tôi.

Nếu là Triết, nhất định sẽ có một nụ hôn. Từ lòng bàn tay ướp đầy hương thơm đó, lần theo cánh tay và sau cùng sẽ kết thúc ở môi. Vì thế, Triết có câu cửa miệng, em dùng nước hoa nào cũng quyến rũ, cơ thể tỏa ra mùi hương nào anh cũng muốn hôn. Rất sến. Nhưng tôi không thoát ra được.

Đĩa phim Tiểu Cát mang qua có tên là Tân Thế Kỷ Luyến Ái. Dàn diễn viên nổi tiếng và quen thuộc: Lê Minh, Thư Kỳ, Lưu Gia Linh. Quan trọng nhất là có thuyết minh tiếng Việt. Tôi hỏi kiếm ở đâu, Tiểu Cát chỉ cười cười ra vẻ bí mật. Chúng tôi cùng xem phim. Ngồi ở hai đầu của ghế sofa, người này cách người kia một khoảng dài. Xem ra Tiểu Cát cố tình muốn thế. Anh không hề biết tôi vừa chia tay người yêu nhưng lại sẵn sàng ngăn ngừa mọi tình huống. Tôi cho rằng, người đàn ông này hiểu rõ hơn ai hết cảm giác cô đơn.

Phim bắt đầu chiếu. Lê Minh trong vai Bill, một nhân viên văn phòng say mê làm giàu, ngay cả trong giờ ăn trưa cũng ôm khư khư quyển sách Kinh Tế Học. Mỹ Tuệ là bạn gái của anh, một cô gái đẹp, làm việc bán thời gian ở cửa hàng mỹ phẩm. Họ yêu nhau đã hai năm. Ngày hôm đó là một ngày xui xẻo. Từ sáng, Mỹ Tuệ đã bị ông chủ mắng, lại còn gặp phải khách hàng xấu tính. Giờ trưa, cô rất muốn được một ai đó an ủi nên đã gọi điện hẹn gặp Bill. Cuộc điện dài ba phút. Trong ba phút đó, Bill đọc cho cô nghe một đoạn anh tâm đắc trong quyển sách Kinh Tế anh đang xem. Cuối cùng, họ hẹn nhau buổi tối sẽ cùng tới nhà hàng ăn sushi. Mỹ Tuệ hài lòng với cuộc hẹn đó nhưng vẫn không hết buồn. Cô đi đến cửa hàng ngắm món đồ mình yêu thích. Một trái táo làm bằng pha lê trong suốt. Mỗi tuần cô đến đây ba lần. Chỉ im lặng. Áp mặt vào tấm kính ngắm món đồ pha lê đẹp đẽ ấy. Rất muốn mua nhưng vẫn e ngại giá tiền. Hơn nữa, vì không thuộc về mình nên mới càng khao khát sở hữu.

Tôi ngủ thiếp đi ở cảnh ấy. Mỹ Tuệ xinh đẹp cô đơn một mình đứng ngắm quả táo thần kỳ. Dòng người nườm nượp qua lại sau lưng cô. Ánh hoàng hôn rơi rớt trên những tòa cao ốc xa xa. Nhưng trong đôi mắt của cô gái ấy chỉ có ánh sáng tỏa ra từ món báu vật của riêng mình. Loáng thoáng nghe Tiểu Cát nói, tôi đã khóc khi xem bộ phim này. Ở đoạn cuối.

Tôi ngủ rồi, Tiểu Cát cũng không xem nữa. Trước khi về, anh cẩn thận đóng kín tất cả cửa sổ. Làm mọi việc rất nhẹ nhàng, cố gắng không gây ra tiếng động. Nhưng tôi vẫn nghe thấy tiếng chân anh. Muốn ra tiễn nhưng lại lười biếng đến mức không nhấc mình lên nổi. Trời chiều có những ráng vàng sẫm đặc quánh như dầu. Tiểu Cát chỉ đóng cửa chứ không kéo mành, cả căn phòng khách ngập trong một màu vàng huyễn hoặc. Tiếng chân trên cầu thang xa dần. Đồng hồ treo tường báo hiệu 4 giờ đúng. Một con chim cúc cu nhảy ra, hót véo von mấy tiếng. Tôi đột nhiên tỉnh hẳn. Nhìn ra, thấy một chậu xương rồng bị gió thổi ngã chỏng chơ ngoài ban công.

.
.
.
.

Ngày hôm sau, Hân mang máy tính của nó đến cho tôi. Có ba lá mail mới đang chờ đọc. Một là tin tức về mặt hàng mới của công ty quần áo trên mạng. Hai là thông tin tạm ngưng cung cấp dịch vụ để sữa chữa, nâng cấp hệ thống của trang chủ một site tôi hay ghé. Lá mail thứ ba do Triết gửi đến. Anh hỏi, em hiện đang ở đâu?

Tôi delete tất cả.

“Như thế có được không?”. Hân ngồi cạnh, nhíu mày.

“Hai tuần nữa tao về Việt Nam. “

“Thì sao?”

“Vé máy bay đã đặt rồi.”

“Thì sao?”

“Nhưng còn một bộ phim chưa xem xong.”

“Quan trọng lắm sao?”

“Phải. Chuyện tình giữa Bill và Mỹ Tuệ. Tiểu Cát đã khóc khi xem đến đoạn cuối. Tao muốn biết vì sao anh ấy khóc.”

“Tiểu Cát là ai?”

“Hai mươi bảy tuổi, bố mẹ mất, sống một mình, chủ một tiệm tạp hóa, tuy thích nhưng từ lâu đã bỏ chơi cờ tướng, hiện tại đang trồng đến năm chậu hoa cẩm tú. Quan trọng nhất là, tuy là mặt hàng phổ biến nhưng không phải đến siêu thị nào cũng có thể tìm ra.”

“Này !”

“Còn nữa, không thèm hôn tao.”

“Xuân.”

“Thượng Hải thì đã sao? Mày vẫn luôn nghĩ tao đến đây là để trốn tránh Triết à?”

Tôi không rõ mình có làm cho Hân tức giận. Nó nhìn tôi trân trân, sau đó không nói một tiếng nào mà đã bỏ về. Nếu Hân tức giận thật, tôi có thể đoán được lý do. Khi tôi đến đất nước này, dáng vẻ hẳn như một kẻ cùng đường đang trốn chạy. Hân là cọc bám sau cùng, luôn phải chăm sóc, vỗ về cho tôi. Thế mà giờ đây, sau khi xuất hiện một người đàn ông tên gọi Tiểu Cát, tôi thay đổi hẳn nét mặt. Chẳng những không nhớ nhung tình cũ, còn thản nhiên phơi bày tâm trạng bị rung động.

Hân thật ra là đứa rất tình cảm, cứ cố làm vẻ ngang nghạnh bên ngoài để che đi điểm yếu mềm đó. Nó mong tôi và Triết làm hòa. Dù lúc trước đã tiên đoán điều không may thì đến sau cùng vẫn mong tôi và Triết gắn bó với nhau. Nhưng trên thực tế, lời chia tay đã nói ra rồi, đối phương cũng đã chấp nhận, gặp anh trong mơ rồi đau lòng cũng là chuyện có thực. Vết thương theo thời gian sẽ kéo da non, gây ngứa rồi lành hẳn. Không thể có chuyện tự mình bóc toạc lớp băng gạc quấn kín để kéo dài thời gian chịu đớn đau.

Hân về rồi, tôi thừ người ra suy nghĩ. Cuối cùng gửi lại một email cho Triết. Vỏn vẹn chỉ một lời. Hãy để nỗi đau chìm xuống. Là ăn theo một bài hát của Mai Khôi. Hơi sến nhưng mà hợp hoàn cảnh và đối tượng nên nghĩ mình áp dụng cũng không sai.

Lại hoàng hôn. Từ Sài Gòn sang Thượng Hải. Ở nơi đâu, sau khi đi qua một mối quan hệ, giữa những dư âm còn tồn đọng, tôi vẫn chỉ ngắm hoàng hôn một mình.

.
.
.
.

Buổi tối. Tôi đóng cửa từ lúc 7h. Tắt đèn hành lang và đèn phòng, khoác tấm chăn dày ngồi trên ghế sofa xem đoạn phim tiếp theo.

Như đã hẹn, tối nay Bill và Mỹ Tuệ cùng đi ăn sushi sống. Trời đổ mưa to, họ che chung chiếc dù đứng xếp hàng trước cửa tiệm Nhật. Khách bên trong đông nghẹt. Khách bên ngoài cũng đông. Đa số đều có đôi có cặp. Dòng người trong lúc nhẫn nại chờ đợi thì thầm nói chuyện bên tai nhau. Mỹ Tuệ có vẻ không vui. Tâm trạng cô vốn định nhờ bữa tối này làm cho khá lên, thế nhưng lại lâm vào tình thế khó khăn ngoài dự đoán. Bill phân trần, đã gọi điện đặt bàn từ chiều nhưng không hiểu nổi cách làm ăn của nhà hàng này. Có thế nào thì cũng không còn nơi nào để đi trong cơn mưa tầm tã này. Giữa lúc ấy, một đôi tình nhân xếp hàng phía sau họ bắt đầu to tiếng với nhau. Nguyên nhân vô cùng đơn giản. Lần nào hẹn hò người con trai cũng dắt người con gái đi ăn sushi ở quán này, sau khi ăn xong thì đi xem phim, xem phim xong thì dạo phố. Rồi đưa

tùy bút | cuối xuân, đầu hạ

Write a comment

New comments have been disabled for this post.

February 2014
M T W T F S S
January 2014March 2014
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28