Sunday, 20. December 2009, 13:01:34
Bài này mình tự làm, ý tưởng lấy từ
http://my.opera.com/vudangthanh/blog/show.dml/1534811 , chủ yếu là để tham khảo. Đừng chê.
Trăng là hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ tình. Trăng đã trở thành đề tài thường xuyên xuất hiện trong những bài thơ của các thi sĩ qua bao thời đại. Mỗi thi sĩ đều mượn hình ảnh ấy để nói lên cảm xúc sâu kín của mình. Nếu như Chính Hữu dùng hình ảnh ánh trăng để miêu tả một cảnh đêm trăng trữ tình, gắn bó tình đồng chí; Bác Hồ “nói chuyện” với trăng nhằm nói lên tâm tư, nguyện vọng về việc cứu dân, cứu nước, thì trong bài thơ “Ánh Trăng” của Nguyễn Duy ta lại thấy một đạo lí làm người : Uống nước nhớ nguồn.
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Duy mô tả cảnh làng quê gắn bó với ánh trăng như một ngưởi bạn thân thiết, tri kỉ ngỡ không bao giờ quên được.
“Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ.”
Hai câu đầu chứa những từ ngữ giản dị, dùng những hình ảnh quen thuộc như : đồng, sông, núi,... cho ta thấy sự gắn bó của tác giả với cảnh làng quê. Rồi đến lúc chiến tranh, tac giả sống ở rừng. Ở nơi đâu, tác giả cũng bầu bạn với ánh trăng, cùng nhau qua bom đạn của kẻ địch, và ánh trăng đã trở thành người bạn thân thiết, một người bạn giúp cho tác giả quên đi nỗi nhớ nhà. Dưới những cây rừng, ánh trăng đã thật sự thành một người “tri kỉ”.
“Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa.”
Những cảm xúc, suy nghĩ của tác giả với ánh trăng vang lên, trần trụi, hồn nhiên, như tâm hồn của những người lính trong chiến tranh. Chính những hình ảnh so sánh ẩn dụ “thiên nhiên”, “cây cỏ” rất dỗi chân thực ấy đã miêu tả trăng như một người chất phác, thuỷ chung, tình nghĩa, như anh em cột chèo, ngỡ sẽ không bao giờ quên được nhau.
Trong cả hai khổ trên, những vần lưng như “đồng-sông”, “nhiên-nhiên” cùng với điệp từ “với” trong khổ một như đã nối liền các câu thơ thành một dòng cảm xúc liền mạch, dòng cảm xúc mãnh liệt về tình thương yêu, nhớ nhung quê hương đất nước của tác giả.
“Từ hồi về thành phố
quen ánh điện, cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường.”
Chiến tranh đã kết thúc, thời gian trôi qua vùn vụt, và con người cũng dần thay đổi. Tác giả về thành phố, cũng bị cuốn theo dòng thay đổi liên tục, làm quen dần với sự xa hoa của “ánh điện-cửa gương”. Và trước sự thay đổi choáng ngợp đó, tác giả đã quên đi người bạn tri kỉ của mình, khi tác giả và ánh trăng xưa gặp nhau chỉ như người dưng qua đường.
Trong khổ này, tác giả đã sử dụng phép nhân hoá một cách tài tình, khiến cho vầng trăng giống như một con người, và nhờ chính sự nhân hoá tài tình đó khiến cho người đọc cảm thấy gần như xót thương cho ánh trăng vì đã bị người bạn thân, người tri kỉ của mình lãng quên.
“Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn.”
Bỗng dưng đèn điện tắt, tác giả chợt phải đối diện với sự tối tăm. Trong sự hoảng loạn bất chợt ấy, tác giả vội bật tung cửa sổ, và chợt thấy ngoài kia, lúc nào cũng ở nơi ấy, là người bạn tri kỉ mà bấy lâu nay tác giả đã lãng quên. Vầng trăng ấy không oán hờn, trách móc tác giả, mà vẫn luôn đúng đó, chờ đợi đến một ngày nào đó, những người đã lãng quên vầng trăng ấy sẽ quay trở lại.
“Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng.”
Khi mặt người ngẩng lên ngắm nhìn mặt trăng ấy, tác giả cảm thấy hối hận, ăn năn dù không bị trách cứ một lời nào. Tác giả đã cảm thấy xúc động trước lòng bao dung của người bạn tri kỉ của mình. Và trong nỗi niềm, cảm xúc ấy, những hình ảnh kí ức cũ xưa chợt ùa về, gợi nhớ tác giả về ngày xưa cũ của mình như thế nào: đồng, bể, sông, rừng.
“Trăng cứ tròn vành vạnh
kề chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình”
Khổ thơ cuối cùng như đã đúc kết lại tất cả. “Trăng tròn vành vạnh” như chỉ rằng trăng dù có sau bao nhiêu thăng trầm, phải chịu nhiêu sự quên lãng, thì trăng vẫn luôn giữ lòng chung thuỷ, vẫn đẹp đẽ, nguyên vẹn. Ánh trăng không nói gì cả, chỉ im lặng ở đó, mà sao đủ khiến cho tác giả giật mình mà nhớ lại sự vô tình của mình đối với trăng, cũng như đối với quê hương, quá khứ của mình như thế nào. Và qua đó, tác giả đã nhận ra được một sai lầm lớn, cũng là một bài học lớn : Cần phải sống sao cho thật tình nghĩa, thuỷ chung.
Bài thơ vận dụng những nghệ thuật rất tài tình : Thể thơ năm chữ tạo nhịp nhanh, cộng với những nghệ thuật nhân hoá, so sánh, ẩn dụ, và với nội dung đầy tính nhân văn, Nguyễn Duy đã giúp bài thơ nâng cao giá trị lên rất nhiều.
Con người, dù có ở nơi đâu, dù có sống như thế nào, thì vẫn phải sống theo đạo lí “ Uống nước nhớ nguồn”. Đó là nội dung mà Nguyễn Duy muốn truyền đạt qua bài thơ này. Với những giá trị về nội dung lẫn nghệ thuật đó, baài thơ này xứng đáng là một bài thơ tiêu biểu trong phong trào thơ hiện đại.