photo of Bùi Công Thuấn

CHÚT TÌNH TRI ÂM

sáng tác ca khúc, truyện ngắn và phê bình văn chương của Bùi Công Thuấn. Bạn có thể đọc tác phẩm của BCT tại http://yume.vn/buicongthuan

Subscribe to RSS feed

THƯ LUẬN HỌC- Phan Nam Sinh

Phan Nam Sinh là con cụ Phan Khôi. PHAN KHÔI là người mở đầu phong trào Thơ Mới (1930-1945) bằng bài Tình Già

Read more...

KỊCH NOEL : ĐI TÌM CHÚA TÔI- Bùi Công Thuấn

ĐI TÌM CHÚA TÔI
(Sân khấu hóa kinh thánh)
Bùi Công Thuấn

LỜI DẪN VÀO KỊCH
(Luca 2.1-20, Mt 2.1-12)

Thời ấy, hoàng đế Au-gút-tô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. Ông Giu-se dẫn Đức Maria từ Na-da-rét (miền Ga-li-lê), lên thành Bê-lem ( miền Giu-đê), để khai tên. Vì không tìm được phòng trọ, hai người phải trú trong trong hang bò lừa. Đức Ma-ri-a, lúc ấy đang có thai. Người đã sinh hạ Chúa Giêsu. Người bọc Chúa trong tã và đặt trong máng cỏ.

Khi Đức Giê-su ra đời, có ngôi sao lạ xuất hiện và có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông theo ánh sao ấy tìm đến Giê-ru-sa-lem. Họ hỏi thăm đường để đến để triều bái Người.

Vở kịch ĐI TÌM CHÚA TÔI vừa tái hiện lại sự kiện lịch sử Thiên Chúa Giáng Sinh, vừa trả lời cho câu hỏi : phải chuẩn bị tâm hồn và thái độ sống thế nào để ta có thể tìm gặp được Chúa

Kính mời quý vị và các bạn cùng trở về thời điểm lịch sử Ơn Cứu Độ cách nay hơn 2000 năm…

VÀO KỊCH


Các Nhân Vật (khoảng 20 người gồm cả trẻ em)
1. Lính
2. Dân : một nhóm đi lại trên sân khấu. Có 2 người diễn
3. Đức Maria (chọn một em có khuôn mặt đẹp giống Đức Mẹ)
4. Thánh Giuse
5. Ba vị đạo sĩ (ba vua)
6. Vua Hêrôđê
7. Cung nữ (từ 2 đến 8)
8. Thiên thần nhỏ + Mục đồng (vài em)
9. Một thầy Tư tế, một Kinh Sư

Trang cụ để diễn
1. Quần áo các nhân vật : dân, đạo sĩ, lính, tư tế, kinh sư, vua
2. Giáo, khiên của lính
3. Lừa và lạc đà (làm mô hình bằng giấy bồi khung tre)
4. Một ghế ngai vua, các tay nải của Giuse và ba vua
5. Ngôi sao, các bộ râu, khăn trùm đầu
6. Phông thành Gierusalem (Hoặc máy chiếu slide làm bối cảnh)
7. Bài hát Đêm Đông Lạnh lẽo
8. Nhạc nề : nhạc không lời Ả rập

_____________________________________

CẢNH 1: TRỞ VỀ BELEM

Phối cảnh : Trên đường phố từ thành Na-da-rét, miền Ga-li-lê, lên thành Bê-lem, miền Giu-đê, người đi về hối hả, từng tốp 2-3 người, vai mang tay nải. Họ vừa đi vừa bàn tán. Một người lính La Mã dùng loa thông báo tin kiểm tra dân số theo lệnh hoàng đế Augusto
Music : Arabic song
Slide : Cảnh dân chúng trên đường về quê (trích film)

(DIỄN HÀI)
Lính : ( cầm loa, đi đi lại lại, chốc chốc lại loan tin) loa…loa…loa.. nghe đây.. nghe đây… nghe đây! Hoàng đế Augusto hạ chiếu rằng : Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi. Đây là cuộc kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. Ai không thực hiện sẽ bị gia hình…loa…loa..loa
(người lính cầm loa, lúc thì hướng về khán giả trước sân khấu, lúc thì hướng về những người đang đi mà loa loa…)
(Những người dân đi lại trên đường vai đeo tay nải, bàn tán, lo lắng)
Dân 1: (lo lắng than thở) thân nghèo đã tha phương cầu thực, giờ lại phải bỏ công ăn việc làm về quê khai tên họ, rồi đây không biết sẽ ra sao nữa.

Dân 2: (lo lắng) Lệnh hoàng đế đã ban, dân nô lệ như bọn mình ai dám cãi. Nhưng đường thì xa mà lệnh thì khẩn cấp, làm sao về quê kịp hả bác ?

Dân 1: (quan tâm) Quê bác ở đâu ?

Dân 2 : (nhìn xa xôi) Tôi ở Bêtania.

Dân 1:(Tỏ ra hiểu biết) Xứ Giuđêa phải không? Còn tôi thì ở Emmau, chắc gần chỗ bác. Từ Galilê về đến quê phải mấy ngày đường, chúng mình đi bộ thế này có kịp không bác?

Dân 2 : (thúc giục) Thôi mau chân lên bác, mình vừa đi vừ nói chuyện. (đi vào trong)

Lính : (đi ra. cầm loa) loa…loa…loa.. nghe đây.. nghe đây… nghe đây! Hoàng đế Augusto hạ chiếu rằng : Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi. Đây là cuộc kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. Ai không thực hiện sẽ bị gia hình…loa…loa..loa .

(lính đi vào)
(Thánh Giuse và Đức Mẹ xuất hiện trong dòng người đi về kiểm tra. Đức Mẹ ngồi trên lưng con la, Giuse dắt đi bộ. Hai người dừng lại nghỉ một lát và nói chuyện)

(DIỄN TRANG TRỌNG)
Music : nhạc nhẹ không lời

Đức Maria : (Lo lắng, nhẹ nhàng) Mình đi thế này có mết lắm không? từ Na-da-rét, về Bê-lem, đường dài đến 150 cây số, mình với con lừa này đã đi 5 ngày đàng rồi.

Thánh Giuse (từ tốn- khỏe mạnh); Mình cứ yên tâm. Tôi vẫn khỏe thôi, chỉ lo cho mình đường xa thế này..

Đức Mari a: Mình đừng lo. Chúa sẽ gìn giữ chúng ta

Thánh Giuse: (giảng giải) Đường xa nhưng chúng ta vừa đi qua những nơi đầy kỷ niệm.

Đức Maria sad nhỏ nhẹ) Đây là vùng nào vậy mình?

Thánh Giuse :(chỉ tay ra phía trước) Đây là vùng đất còn vang dội bài ca chinh chiến của nữ ngôn sứ Deborah

Đức Maria :(chú ý) Cuộc chinh chiến của nữ ngôn sứ Deboraqh diễn ra thế nào?

Thánh Giuse :(hồ hởi ) lúc ấy con cái Israel bị vua Ca-na-an cai trị.Bà Deborah cùng tước Barak dẫn 10 ngàn quân từ núi Taborê đi xuống đán đội binh và doanh trại tướng Xi-xô-ra của vua Canan tan tành

Đức Maria :(nhìn quanh ) Còn đây là đâu hở mình?

Thánh Giuse :(Giảng giải) Đây là Sulam nơi tiên tri Elisê từng hoạt động. Elise làm nhiều phép lạ giúp những người sống quanh ông.

Đức Maria :(Chỉ tay) Rặng núi kia là rặng núi gì vậy?

Thánh Giuse :(giảng giải) núi Gelboe, nơi vua Saolê , vị vua đầu tiên của Israel, người đã đánh bại quân Philitinh, nhưng sau lại thua quân Philitinh ,ông phải tự sát (1.Sam.31.1-6)

Đức Maria :(Nhìn xa) Chúng ta đã đi được nhiều đường chưa mình?

Thánh Giuse :(giảng giải) Đây là khởi đầu đồi núi Samaria dân ngoại. Nơi dòng giống Giacóp và phần mộ tổ phụ (Giuse) được đưa từ Aicập về

Đức Maria : (Chân thành) Chúng ta đi trên con đường của Thiên Chúa phải không?

Thánh Giuse : (nhìn lên) Ừ, Chúa đang dẫn dắt chúng ta.
Mình thấy không. Chúng ta đang vào xứ Giuđêa, Đây Silô, Bethel những di tích thánh còn ghi hình ảnh của Samuel.

Đức Maria :(nóng lòng) Chúng ta sắp đến Giêrusalem chưa?

Thánh Giuse sad Chỉ tay, reo lên) Giêrusalem kia rồi! Thành thánh trải dài núi đồi Sion, óng ánh nắng vàng và trên kia, nổi bật Đền thờ của Thiên Chúa.

Đức Maria : (Đức Maria và thánh Giuse cùng hướng về Gierusalem ) Chúng ta hãy ca tụng Thiên Chúa :” Ai sẽ lên núi Giavê? Ai sẽ đứng chầu trong thánh điện của Người? Kẻ tay trắng trong, lòng băng tuyết. Hồn không hướng tới hư không” (Tv 24, 3-4).
(hai người tiếp tục lên đường, nhiều người tiếp tục đi lại)

Thánh Giuse : (an ủi ) Bêlem cách Giêrusalem tám cây số nữa. Thị trấn nhỏ nằm ngang trên hai quả đồi song song, bao quanh bởi những vườn cây Ôliu và cây ăn trái. Mình gắng sức chút nữa là đến rồi

Đức Maria : (Nói với thánh Giuse) 800 năm về trước, ngôn sứ Michee nói rằng : “Còn ngươi, hỡi Bêlem, đất Ephrata, không lẽ gì ngươi bé nhỏ hơn hết trong các thành trì của Giuđa, vì nơi ngươi sẽ sinh hạ Đấng sẽ cai trị nhà Israel (Mk 5,1). Ôi kỳ diệu thay việc Thiên Chúa làm.

Thánh Giuse : (nói với Đức Maria) Thôi chúng ta đi

(hai người vào trong sân khấu.
Đèn sân khấu tắt. Đèn ngôi sao treo trên cao sáng lên.

chuyển cảnh
Slide : Hang Belem chúa sinh ra đời
Mở nhạc bài ĐÊM ĐÔNG lạnh lẽo Chúa sinh ra đời..đến “Ôi Chúa giáng sinh khó khăn thấp hèn”)
Hoặc : For Unto Us a Child is born của Handel
______________________________________________________

CẢNH 2 : ĐI TÌM CHÚA TÔI
(DIỄN TRANG TRỌNG)
Sân khấu: Ở một góc sân khấu, sau khi đèn tắt, một em bé (hoặc một nhóm em bé)đóng vai thiên thần cầm đèn ngôi sao sáng đưa lên cao. Một vài em đóng vai mục đồng nằm ngồi cùng hát. Đèn sáng lên.

Ba vua xuất hiện. Học mặc áo màu khác nhau , chống gậy cao khỏi đầu, vai đeo bị. (Một người áo khoác đỏ, một người áo vàng, một người áo xanh) vừa đi vừa chỉ về phía ngôi sao và nói chuyện. Sau đó học dừng lại.

Vua 1:(chỉ tay, reo lên ) Kìa ngôi sao lạ lại xuất hiện rồi, Tôi nhớ tiên tri Đaniel nói đến sự xuất hiện của CON NGƯỜI . Đaniel nói :” Tôi mãi nhìn các thị kiến ban đêm, thì này : với mây trời, như thể một Con Người đi đến… Ngài được ban tặng quyền bính, vinh dự, vương triều. Nước của Người, nước bền mãi, và mọi quyền bính sẽ làm tôi và vâng phục Người “. Chúng ta đi thôi

Vua 2: (đưa tay ngăn lại) sách Dân số cũng nói :”Một vì sao xuất hiện từ nhà Gia-cóp, một vương trượng trổi dậy từ Israel”(Ds 24,17), chúng ta biết có một vị vua mới xuất hiện ở nhà Israel, nhưng ngài ở đâu bây giờ ? Ngôi sao tắt rồi.

Vua 3: (Tỏ vẻ am tường) Tiên tri Isaia báo loan báo :” Hãy đứng lên, hãy toả sáng ra, hỡi Giêrusalem! Vì sự sáng của ngươi đã tới, vì vinh quang của Chúa đã bừng dậy trên mình ngươi… Chư dân sẽ lần bước tìm về sự sáng của ngươi, “ Ánh sáng ngôi sao kia có phải là từ Gierusalem?

Vua 1: (Đồng thuận) Đúng là ánh sang vinh quang của Chúa rồi. Chúng ta đi Giêrusalem.

Vua 2 : Này, nhưng mà tiên tri Mikêa nói cụ thể hơn là :”Hỡi Belem Eprata, ngươi nhỏ nhất trong Giuđa, song từ nơi ngươi sẽ sinh ra Đấng cai trị trong Israel”(Mk 5,1). Vậy chúng ta hãy tới Belem.

Vua 3. (Chỉ tay ra phía trước khán giả) Chúng ta đang ở tại đất Giêrusalem rồi mà, không thấy kinh thành nguy nga và người lại tấp nập đó sao. Nhưng đường nào đi Belem? Ngôi sao tắt rồi

Vua 1 : Hay là chúng ta vào yết kiến vua ở đây để xin ngài giúp chăng

Vua 2: Ý kiến hay. Nhưng tôi rất e ngại
Vua 3: Ngài e ngại điều gì ?
Vua 2. Chúng ta từ ngàn dặm tới đây. Là người lạ, làm sao họ tin chúng ta,
với lại…
Vua 3: Với lại điều gì ?

Vua 2 : Với lại .. tôi nghe nói vua Hêrôđê rất tàn bạo. Ông ta đã giết vợ và cả gia đình bà nầy, hành quyết bao nhiêu người Isael, từng thiêu sống 14 thiếu niên để kết tội dân chúng đã gỡ hình con ó bằng vàng mà ông gắn ngay trước của
đền thờ v.v. và
Vua 3 : Và sao nữa

Vua 2 : tôi nhớ trong sách Xuất hành có nói điều này : : « 1 vị hoàng tử đến với vua Pharaon và nói rằng một Hài Nhi cao trọng sẽ sinh ra giữa Israel… xin bệ hạ hãy ra lệnh giết hết mọi con trẻ » (Ex.1, 9 – 22) . Biết đâu ông ta
sẽ lại ra tay…

Vua 1. Thì ta hãy cứ vào yết kiến Hêrôđê đã, sau đó sẽ tính. Mục đích của chúng ta là đi tìm Đấng Cứu Thế như các tiên tri đã tiên báo, vì ngôi sao của Người đã xuất hiện dẫn đường cho chúng ta.

Vua 3 : Ngài nói phải, ta hãy vào tìm vua Herode rồi hãy đi.

Music : Arabic song –Yanny
(Ba vua đi vào trong sân khấu-chuyển cảnh nhanh sang vua Hêrôđê)

________________________________________________

CẢNH 3 : HÊRÔĐÊ NỔI ĐIÊN

Lính : ( cầm loa, từ góa sân khấu đi ra) loa…loa…loa.. nghe đây.. nghe đây… nghe đây! Hỡi thần dân Giêrusalem, Hoàng đế Hêrôd giá lâm, Hoàng đế giá lâm… (chỉ vào đám đông ) các ngươi quỳ xuống, quỳ xuống mau.

(Sau lính là một đoàn cung nữ, từ 2 đến 8 cung nữ đi trước, vua Hêrôđê tiến ra sân khấu , đứng giữa sân khấu, các cung nữ quỳ chắp tay hai bên)

Music : Một đoạn nhạc kèn
Slide : Cung điện vua Herod

DIỄN HÀI

Vua : (Lẫm liệt) Lính đâu
Lính : (khúm núm) Dạ. Muôn tâu hoàng đế Ngài bảo gì ạ!
Vua : ( Nghiêm trọng ) Ta truyền chỉ cho ngươi
Lính : (Quỳ trước mặt vua vòng tay cung kính) Dạ xin tuân chỉ. Dạ thưa, Ngài hạ
chỉ cho hạ thần điều gì ạ?

Vua: Ta truyền cho ngươi mau đem ngai vàng ra đây cho ta ngồi. Người không
thấy ta mỏi chân sắp té rồi sao

Lính :(Vội vã) Dạ
Các cung nữ:(Các cung nữ vội chạy đến đỡ vua)Bẩm hoàng đế có sao không ạ

Vua : (gạt cung nữ ra ) Ta không sao.
(Lính chạy vào mang ra cái ghề đẩu)

Lính : (cung kính) Bẩm hoàng đế, ngai vàng đã sẵn sàng, mời Ngài ngự… tọa
(kéo dài giọng)

Vua : (có vẻ giận dữ) Đây là cái ghế đẩu, người bảo là ngai vàng sao!
Lính : Dạ bẩm. Hoàng đế là vua, Ngài phán thế nào thì ra thế ấy. Ghế đẩu Ngài phán là ngai vàng thì là ngai vàng a!

Vua : (bớt giận) . Thôi được. Thị nữ, đỡ trẫm ngồi lên ngai vàng.
(Thị nữ đỡ vua ngồi lên ghế, rối đứng hai bên)

DIỄN TRANG NGHIÊM

Vua : (ra oai) Các khanh, ai cho chuyện gì tấu xem.?
Lính : (ấp úng) Dạ bẩm hoàng đế ngoài đường…
Vua : (ngạc nhiên) Ngoài đường thế nào?
Lính : ( lắp bắp) Bẩm xôn xao lắm ạ!
Vua : (ra oai) xôn xao cái gì? Dân chúng muốn làm loạn à?
Lính : (quỳ mọp) Hạ thần không dám nói ạ!
Vua : (phất tay) cứ nói!
Lính : (xá lia lịa) Hạ thần không dám.., hạ thần mà nói thì.. hòang đế sẽ nổi nóng . Mà hoàng đế nổi nóng thì …nhà con… bị tru di cửu tộc ạ! Con sợ lắm.

Vua : (lại phất tay) Ta cho phép, cứ nói!

Lính : (lấm lét) Dạ, bẩm hoàng đế, dân chúng xôn xao vì tin…

Hoàng đế : (nóng ruột) Tin gì ? nói mau nào?

Lính : (lạy hoàng đế) Hoàng đế đừng giận, dạ tin vua dân Do Thái mới sinh.
(nói xong vẫn lạy)

Vua : (gằn giọng, có vẻ hoảng hốt) Vua dân Do Thái mới sinh à. Sinh ở đâu?

Lính : Dạ. con không biết ạ. Chỉ nghe dân xôn xao là Vua dân Do Thái mới sinh, Đức vua ấy sẽ giải thoát dân Do Thái khỏi ách nô lệ. Dân chúng mừng vui lắm ạ.

Vua : (giận dữ) Láo, láo! Láo! khi quân!

Lính : (sợ hãi) Bẩm hạ thần không dám, xin hoàng đế tha mạng. Hạ thần không dám khi quân ạ

Vua : (giận dữ) Ta đang làm vua thì còn có vua nào nữa! Dân này là dân nô lệ của ta, ta mới chính là vua của chúng. Chúng muốn chống theo giặc chống lại ta
à.?
Lính : (run run) Bẩm. Xin hoàng đế bớt giận, ấy là dân chúng xôn xao vậy thôi
(Các cung nữ xúm vào, người quạt, người đấm lưng, người vuốt ngực cho vua, vua gạt ra, đứng lên lẫm liệt, giận dữ)

Vua : (nổi nóng) Lính đâu, ra ngoài điều tra rõ thực hư xem sao.
Lính : da (rồi lui ra)

Cung nữ : Để chúng thần múa hát cho hoàng đế hạ nhiệt ạ !
(Có thể cho cung nữ múa một bào nào đó chọn nhạc Arập và múa kiểu lắc
hông, hoạc để vua gạt đi)

Vua : (tiếp tục giận dữ, chờ đợi) không múa hát gì cả, ta đang nóng điên người đây. Cho gọi tất cả các các Thượng Tế, các Kinh Sư trong dân lại đây, ta muốn biết việc này thế nào.

Cung nữ :(hướng ra ngoài gọi) Lính ơi…, vào vua biểu!

(trong khi đó, vua ngồi trên ngai., các cung nữ tiếp tục quạt và đấm bóp)

Lính :(chạy vào, hỏi cung nữ) Vua biểu gì dạ? Hồi nãy vua biểu chạy ra ngoài coi dân xem sao, chưa kịp ra đến đường, vua lại gọi vào là sao?

Cung nữ ( õng ẹo ra lệnh ) Vua biểu đi gọi các thầy Tư tế và các Kinh sư vào để vua tư vấn! nghe rõ chưa?

Lính : (tò mò ) tư vấn gì?

Cung nữ : thì chuyện dân xôn xao Vua Do Thái gì đó..trầm trọng rồi đó nha. Đi mau đi.
Lính : Dạ (lui ra ngoài)

Vua : (gạt cung nữ đứng lên, nói một mình)
Dân này đích thực muốn làm loạn rồi, không thế được. Số kiếp chúng mày là nô lệ, mãi mãi nô lệ.

Vua : (giằn mạnh ) Chúng mày đã làm nô lệ ở Babilon, và bây giờ là thần dân của đế quốc La mã.

Vua : (Khẳng định) Sẽ chẳng có một Môisê nào khác cứu được các ngươi. Làm gì có vua dân do Thái? Đavid đã chết, Sôlômôn cũng đã chết. Thiên Chúa của chúng đã tiêu diệt chúng.

Đavit đã phạm tội ngoại tình và tội sát nhân, còn Sôlômôn thì say mê sắc dục vô độ, hắn có 700 thê thất và 300 hầu thiếp. Bọn đàn bà này đã làm xiêu lạc lòng hắn.

Hắn không còn trung thành với Yavê Thiên Chúa. Hắn đã bỏ Chúa đi theo các thần khác và hắn đã bị trừng phạt.

Vua : (gầm lên ) Và bây giờ đến phần ta, ta sẽ trừng phạt chúng, sẽ trừng phạt bất cứ kẻ nào chống lại ta, sẽ tiêu diệt chúng trong trứng nước về tội phản loạn, sẽ đập nát như Nabukôđônosor đã phá hủy Yêrusalem cả thành lẫn đền thờ.(năm 587 TCN)

(3 người : 1lính, 1 thượng tế-1 kinh sư cùng vào)

Lính ( cùng quỳ lạy đức vua) Đức hoàng đế vạn tuế, vạn vạn tuế. Chúc an đức hoàng đế

Vua : (ngồi vào ghế) bình thân (lính và kinh sư, thượng tế ngồi xuống đất)

Vua : (vừa giận dữ, vừa lo lắng nói) Trẫm triệu tập các khanh vào triều vì có một việc trọng đại, liên quan đến vận mệnh triều đại của trẫm. (ngưng lại, nhìn mọi người)
Các khanh đã đã nghe dân chúng xôn xao ở ngoài kia về Đấng Kitô vua dân Do Thái mới sinh. Chúng sắp làm loạn rồi. Các khanh nói xem, Đấng Ki-tô, phải sinh ra ở đâu. ?

Thượng tế : (cung kính) "Tại Bê-lem, miền Giu-đê,”

Kinh sư : (nói theo) Thưa : vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa,ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời".

Vua : (lo lắng) có thật như thế sao?

Thượng tế: (sun xoe) Mấy bữa nay ở đâu dân chúng xôn xao, bọn mục đồng loan truyền tin một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa- vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa.

Kinh sư : Isaya tiên báo "Một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh con, và sẽ gọi tên là Emmanuel" (Is.7, 14).

Thượng Tế : Êzêkiel cũng nói :” "Ta sẽ cho chỗi dậy một mục tử duy nhất, Ngài sẽ chăn dắt chúng. Ngài sẽ là mục tử của chúng. ..và chúng, nhà Israel, là dân của Ta - sấm của Ðức Yave -" (Ez. 34, 23 - 24, 30).

Vua : ( sững sờ) Thế nghĩa là vị vua con nít ấy sẽ thay thế ta?

Kinh sư : (bối rối) Dạ chúng thần không biết

Vua : (lo lắng) Các ngươi trả lời cho ta xem, từ xưa đến nay các tiên tri nói có sai bao giờ không ?

Thượng tế : (rụt rè) Bẩm không ạ

Vua : (sững sờ) Thế nghĩa là nếu Vua Do Thái còn thì ta mất. Không thể nào, không thể nào. Các ngươi lui.
(Cung nữ thượng tế, kinh sư, lính đi ra. Vua Hêrod ngồi gục đầu suy nghĩ)

Lính (chạy vào) Bẩm có ba đạo sĩ xin yết kiến

Vua : (dịu lại, ngạc nhiên) Đạo sĩ nào

Lính : 3 vị đạo sĩ từ phương đông tới, họ xin được yết kiến đấng hoàng đế ạ.

Vua : Lính. Cho họ vào.
(các cung nữ lui vào sân khấu, lính đứng hầu bên vua . Ba đạo sĩ vào)

Ba đạo sĩ : (cùng cúi đầu) : Muôn lạy đức hoàng đế. Đức hoàng đế vạn tuế.

Vua : (ngồi xuống ghế ) Ta miễn lễ. Các khanh từ xa đến gặp ta có chuyện gì

Đạo sĩ 1. (Cung kính) Trước hết chúng thần vấn an đức hoàng đế

Vua : (Đưa tay ) cám ơn, cám ơn

Đạo sĩ 2 : (nói dõng dạc) Bẩm muôn tâu, chúng thần xin đức hoàng đế chỉ giáo cho , thưa “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu?

Đạo sĩ 3: (nói theo) Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông”

Đạo sĩ 1 : (khẳng định) Chúng thần đến bái lạy Người

Vua : (bắt đầu nổi giận trở lại) Các ngươi nói vua nào. Trẫm đây là hoàng đế, còn Vua Do Thái nào khác?

Đạo sĩ 1 : Bẩm Vua Do Thái. Chúng tôi thấy ngôi sao lạ. Ngôi sao đã dẫn đườngchúng tôi tới đây

Đạo sĩ 2: (Xác tín) Cứ theo lời các tiên tri thì Vua Do Thái sinh ra ở Belem.

Vua : ( thân mật) Vua Do Thái sinh ở Belem à? Đó là một nơi nghèo hèn sao lại có vua sinh ra được?

Đạo sĩ : Các tiên tri đã nói rằng :”Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa,ngươiđâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời".

Vua : Vậy các khanh cứ đi Belem, dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho trẫm, để trẫm cũng đến bái lạy Người." Các khanh lên đường đi.

Ba đạo sĩ: (Cung kính, thân thiện) Chúng thần tạ ơn hoàng đế. Sau khi tìm thấy Vua Hài Nhi, chúng thần sẽ trở lại báo tin cho người.

Vua : (dứt khoát) Lính đâu, tiễn khách
(Lính chạy ra, đưa ba vua vào trong. Còn lại một mình, vua càng nghĩ càng căm giận)

Vua : (lẩm bẩm) Đích thực là Vua dân Do Thái đã sinh ra rồi, từ bọn mục đồng khờ khạo /đến bọn đạo sĩ khôn ngoan này, cả những tiên tri của chúng nữa, cả bọn Tư tế và Kinh sư nữa, chúng đều nói giống nhau .

Vua : (trầm tư) Chúng đều xác định cụ thể ngày giờ, nơi chốn Vua Do Thái sinh ra. Sao lại trùng hợp như thế, làm sao chúng có thể nói giống nhau được. Sao lại có ngôi sao lạ. Và ngôi sao lạ này lại dẫn đắt bọn đạo sĩ từ phương đông tìm tới Gierusalem này đúng vào dịp này? Xưa nay / chỉ có đấng minh quân xuất hiện /mới có điềm lạ như thế. Chẳng lẽ/ Đấng mà chúng gọi là Đức Kitô ấy /lại là đấng giải thoát dân Israel?

Vua sad lo lắng và giận dữ) con người này tuy chỉ là một hài nhi, nhưng sự xuất hiện của nó /làm cả đất trời rung động/, các tiên tri nói về nó/, các đạo sĩ tìm đến nó/, toàn dân Do Thái hướng về nó, quá khứ và tương lai của nó, sao tầm vóc nó lại lớn lao như vậy. Bỗng dưng đế quốc La Mã của ta/ bị ánh sáng của nó che mờ. Thế nghĩa là /sẽ không còn có chỗ cho ta!
(đấm mạnh tay xuống, nghiến răng,, mắt trợn lên vì giận)

Vua :(hét lên) Không thể như thế được, ta phải giết, phải giết hết. Lính đâu!

Lính : (hốt hoảng)Dạ, bẩm hoàng đế sao mặt người tái thế kia, Người bớt giận.

Vua: (thở hổn hển) Làm sao ta bớt giận được. Giết, giết hết!
Lính : (nhìn quanh) Giết ai, xin đừng giết hạ thần, hạ thần tuyệt đối trung thành với hoàng đế
(Cung nữ chạy ra)

Cung nữ : (Xúm xít đỡ vua) Hoàng đế, hoàng đế!

Vua : (lảo đảo) giết, giết hết!

Cung nữ :(lo sợ, sụp xuống chân vua ) Đừng giết chúng thần, xin hoàng đế tha
mạng, xin tha mạng!

Vua : (quay cuồng) Giết hết bọn con nít từ hai tuổi trở xuống khắp vùng Belem và những vùng phụ cận, giết hết không được để sót đứa nào (thở hổn hển) để ta xem Vua Do Thái có thoát được không. (cười to lên ) Ha ha ha, ha ha ha (nổi điên lên, rồi té ngồi xuống ghế, xỉu, lăn xuống đất)

Lính và cung nữ : (quýnh quáng): Hoàng đế, hoàng đế đừng chết, hoàng đế đừng chết, Người bỏ chúng thần lại cho ai.(tất cả cùng khóc rống lên)

Đèn tắt, sau đó sáng lên.
Kết: Slide ba vua và ngôi sao lạ
Music : Halleluia của handel

HẾT
Tất cả cùng ra chào khán giả

NHỮNG TÍN HIỆU VUI VÀ CON ĐƯỜNG RỘNG MỞ

NHỮNG TÍN HIỆU VUI và CON ĐƯỜNG RỘNG MỞ
Bùi Công Thuấn


Hội nghị những người viết văn trẻ toàn quốc lần 8 được Hội Nhà Văn tổ chức tại Thái Nguyên từ ngày 08 đến 12.09.2011. Người trong cuộc đánh giá việc tổ chức hội nghị là rất thành công. Những người viết văn trẻ được “về nguồn”, được giao lưu, được dự hội thảo và được các nhà văn lão thành chia sẻ kinh nghiệm. Hy vọng văn chương Việt Nam sẽ có những mùa gặt mới..

1.Những tín hiệu vui…

Lâu nay người ta nói nhiều đến sự yếu kém của phê bình trẻ. Nhìn vào danh sách tham dự hội nghị, tôi thấy có các khuôn mặt phê bình đầy triển vọng. Đó là Phan Tuấn Anh, Ngô Hương Giang (Huế), Nhã Thuyên (ĐHSP Hà nội), Phùng Gia Thế (SP Hà nội 2), Đoàn Minh Tâm (tạp chí Văn Nghệ Quân Đội), Đoàn Ánh Dương, Trần Thiện Khanh (Viện Văn Học), Hoàng Thụy Anh, Hoàng Đăng Khoa (Quảng Bình), Phạm Xuân Thạch (ĐHKHXH&NV), Nguyễn Diệu Linh (ĐHKH-ĐH Thái Nguyên). Hẳn nhiên đội ngũ này rồi đây sẽ là những nhà phê bình chủ lực của văn chương Việt Nam, nhiều người trong số học có thể đi xa, bởi họ được đào tạo chuyên sâu và có những điều kiện tốt để phát huy tài năng. Chẳng hạn, Đoàn ánh Dương và Trần Thiện Khanh đang công tác ở Viện Văn Học. Trần Thiện Khanh viết khá đều. Đoán ánh Dương và Đoàn Minh Tâm cũng đã khẳng định được tên tuổi, họ cũng nhận ra thành công và thất bại của mình qua những gì đã viết. Ngô Hương Giang đã từng thử bút và chịu ném đá dữ dội trên tienv.org, có lẽ anh sẽ sớm trưởng thành. Nhà phê bình Nguyễn Hòa cũng đã có những đánh giá lạc quan về đội ngũ này [1]

Dự hội nghị lần này, nhiều khuôn mặt trẻ đã có được những đường nét riêng, ghi được dấu ấn trên diễn đàn, cũng có người nổi trội lên ở những thời điểm nhất định. Đó là Nguyễn Đức Phú Thọ (An Giang), Huỳnh Thúy Kiều (Cà Mau), Niê Thanh Mai (Dak Lak), Miên Di (Gia Lai), Trần Thị Quỳnh Nga (Hà Tĩnh),Trương Trọng Nghĩa (Tiền Giang), Trịnh Sơn (Vũng Tàu), Uông Triều, Trương Quế Chi, Nguyễn Thế Hoàng Linh (Hà Nội), Dương Bình Nguyên (Tp HCM)…Trong danh sách dự hội nghị, có 80/ 112 người để trống tên tác phẩm. Không biết điều này có trái với tiêu chí dự hội nghị hay không. Tiêu chí ghi rõ : người dự hội nghị”trong 5 năm qua phải có tác phẩm được chú ý và phải có đóng góp với nền văn học địa phương”. (Tiêu chí của Hội nghị lần 7 là : người dự hội nghị phải có 1, 2 tác phẩm xuất bản hoặc đã xuất hiện trên báo in, báo điện tử thời gian qua gây được chú ý, ấn tượng ).. Có một thực tế này. Tác giả trẻ ở các Hội Văn Nghệ địa phương có bài đăng trên tạp chí của Hội, song không có điều kiện để in tác phẩm của riêng mình. Cũng có một thực tế này. Người viết văn trẻ có năng lực thực sự ở các địa phương là rất hiếm, bởi đa phần người trẻ lo học hành và tiến thân bằng con đường kinh tế, sáng tác văn chương chỉ là một cuộc dạo chơi, rất ít người dám mạo hiểm chọn văn chương là con đường nghề nghiệp.

Tổ chức hội nghị người viết văn trẻ toàn quốc là một hoạt động phong trào. Hội Nhà Văn (HNV) muốn nắm được đội ngũ người viết trẻ có khả năng kế thừa sự nghiệp văn chương trong tương lai, để từ đây HNV có thể đề ra kế hoạch phát hiện tài năng, bồi dưỡng và tạo điều kiện cho người trẻ thăng tiến, đồng thời giúp các cây bút trẻ có ý thức trách nhiệm hơn đối với dân tộc, góp phần xây dựng đời sống và tính cách con người Việt Nam. “đây cũng có thể coi như một cuộc biểu dương lực lượng những người viết trẻ...” [2]. Dù vậy, bản thân người cầm bút phải tự khẳng định mình bằng tác phẩm, chẳng ai giúp được gì. Sẽ là ảo tưởng, rằng 112 người dự hội nghị lần này đều sẽ thành nhà văn chuyên nghiệp trong 5 năm tới và sẽ có được tác phẩm gây được sự chú ý của bạn đọc.

Quy luật đào thải trong văn chương nghệ thuật là rất khắc nghiệt. Chỉ những người thực sự có tài năng sáng tạo, có “máu” văn chương, chịu học hỏi rèn luyện và có đủ gan góc đối mặt với “phong vận kỳ oan”(Nguyễn Du) khi cầm bút mới có thể đi xa. Những người viết văn chơi, viết theo quán tính bắt chước, viết để cầu danh, để phô trương cái tôi, những người không dám sống chết với nghiệp văn thì khó có thể có thành tựu giá trị. Dù vậy, chắc chắn rằng trong số những người dự Hội nghị NNVVT lần này họ sẽ có người kế tục gánh vác lấy được sứ mệnh văn chương mà thế hệ trước để lại. Nhân tài bao giờ cũng là hiếm, nhưng chúng ta có quyền hy vọng. Nhớ lại, những người từng đi dự hội nghị người viết văn trẻ toàn quốc trước đây, nhiều người trong số họ giờ đã thành danh. Có thể kể tên : Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp, Dương Bình Nguyên, Phan Hồn Nhiên, Trần Nhã Thụy, Vũ Đình Giang, Lê Thiếu Nhơn, Lê Vĩnh Tài, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, …

2. Một thế hệ mới

Nhìn vào đội ngũ những người viết văn trẻ đương đại, người đọc có thể nhận ra một thế hệ nhà văn mới của văn chương Việt Nam và họ đã làm nên một thời đại mới, thời đại của chính họ. Thế giới nghệ thuật đã rộng mở hơn nhiều. Đó là thế hệ những người có trình độ văn hóa cao, tiếp cận được với thế giới toàn cầu hóa. Họ không còn bị trói buộc trong những nguyên tác sáng tạo của chủ nghĩa Hiện Thực XHCN (viết để phục vụ chính trị trực tiếp). Tác phẩm của họ là những mùa gặt mới về nghệ thuật. Họ hướng về người trẻ hôm nay và viết cho người trẻ. Văn chương của họ là văn chương hướng về thị trường, chịu sự tác động của thị trường cả mặt tốt và mặt xấu. Nhiều nhà văn trẻ đã vượt lên, vừa đáp ứng yêu cầu của thị trường, vừa nỗ lực sáng tác những tác phẩm có giá trị văn chương đích thực. Và vì thế, khi những xô bồ, ồn ã đã qua đi, những rác rưởi văn chương bị quét sạch, thì những giá trị của những tác phẩm văn chương đích thực đã tỏ lộ rạng rỡ hơn.

Thơ của Ly Hoàng Ly, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Thúy Hằng, Văn Cầm Hải , Vy Thùy Linh [3]…là thơ của hôm nay, thơ tiếp cận với với các kiểu tư duy nghệ thuật và thi pháp hiện đại của thơ thế giới (thơ Siêu Thực, thơ Hiện Sinh, thơ trình diễn, chủ nghĩa Hậu Hiện Đại), khác hẳn kiểu tư duy nghệ thuật của thơ truyền thống (bút pháp ước lệ, tượng trưng, lãng mạn) và nghệ thuật tả thực của thơ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Độc giả bảo thủ, quen đọc thơ truyền thống sẽ rất khó tiếp nhận kiểu thơ trẻ hiện đại. Nhiều người cho là rối rắm khó hiểu, thậm chí họ còn phủ định đó không phải là thơ. Tuy nhiên, nếu người đọc đã quen với thơ trẻ, họ sẽ đòi hỏi thơ truyền thống phải đổi mới hơn. Không thể làm kiểu thơ 7, 8 chữ với tư duy nghệ thuật Tượng Trưng, Lãng Mạn như thơ 1930-1945. Đó là một nền thơ đã hoàn thành sứ mạng lịch sử, mà Trần Dần, Lê Đạt, Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng đã vượt qua. Tất nhiên trong sự thể nghiệm, có những tác giả trẻ đã không thành công, bởi họ thiên về hình thức ngôn từ mà quên mất những đặc trưng cơ bản của thơ, không chú ý đến đặc điểm thẩm mỹ và tư duy Việt, và nhất là xa rời truyền thống văn hóa nghệ thuật Việt.

Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp. Vũ Đình Giang, Nguyễn Danh Lam, Đỗ Tiến Thụy, Phan Hồn Nhiên, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú [4]… đã đặt được những cột mốc thành tựu trên hành trình phát triển văn xuôi Việt Nam cả ở đề tài, nội dung và cách viết. Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Tiến Thuy viết về nông thôn vừa truyền thống, vừa mới mẻ. Tuy vẫn còn đó những nỗi đau nhân tình, những khát vọng đổi đời, những thân phận trôi dạt, nhưng đó không phải là nông thôn bế tắc, vô vọng, chìm trong oan ức, máu và nước mắt như người đọc đã gặp ở những tác phẩm trước đó. Phong Điệp, Vũ Đình Giang, Nguyễn Danh Lam đã có những cách tân đáng kể trong kỹ thuật viết tiểu thuyết, từ cách cấu trúc tác phẩm, kiểu nhân vật, cách miêu tả “dòng ý thức” cùng với sự phối hợp nhiều thủ pháp của các ngành nghệ thuật khác. Dương Thụy, Phan Hồn Nhiên đã mở rộng biên độ không gian tiểu thuyết khi viết về đời sống trẻ hiện đại trong môi trường toàn cầu hóa. Cả hai nhà văn này còn khả năng đi xa khi khám phá hiện thực ở những vùng văn hóa ngoài lãnh thổ Việt nam. Có một nỗ lực đáng kể nữa là nhà văn trẻ đang vươn tới kiểu tác phẩm tư tưởng,c dù để đạt tới thành tựu này còn phải mất nhiều thời gian (xin đọc : Bùi Công Thuấn- Nguyễn Ngọc Tư và hành trình đã đi. http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=12632)

Có thể khẳng định điều này, nhiều nhà văn trẻ thực sự có tài năng văn chương. Họ nỗ lực học hỏi và khám phá những kiểu bút pháp mới. Họ xông vào những “vùng cấm” mà trước đó chưa có người viết (sex, đồng tính, đời sống trẻ hiện tại, hình sự, đề tài lịch sử…). Họ thử nghiệm các hình thức mới, như trình diễn thơ (Ly Hoàng Ly), thơ bằng hình (Hùynh Lê Nhật Tấn ) thành lập nhóm sáng tạo với phong cách riêng (chẳng hạn nhóm Ngựa Trời). Họ cũng biết tiếp cận thị trường bằng nhiều kiểu PR cho tác phẩm của mình. Tuy tác phẩm của họ chưa tương xứng với tài năng, chưa đáp ứng niềm mong mỏi của bạn đọc về một nền văn chương có tầm vóc hội nhập với văn chương thế giới, chưa có những độc đáo nổi trội để ngời lên một bầu trời văn chương mới, nhiều mảng đề tài còn bỏ trống…, song điều quan trọng là, họ đã có được những tác phẩm để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc. Và họ sẽ là những cây bút chủ lực của văn học Việt Nam trong những thập niên sắp tới.

3. Những con đường đã mở ra…

Sự thành công có tính chất khai phá của lớp nhà văn trẻ đi trước mở ra con đường nào cho người viết văn trẻ dự Hội nghị NVVT lần 8?

Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Tiến Thụy cho thấy viết về nông thôn vẫn có thể thành công và thành công vang dội. Trước đây, Nguyễn Huy Thiệp cũng có những tác phẩm viết về nông thôn rất hay. Như vậy viết về nông thôn vẫn còn nhiều hứa hẹn cho những mùa gặt mới.

Phong Điệp, Dương Thụy, Phan Hồn Nhiên đã đạt được thành công ở đề tài người trẻ thành thị. Chắc chắn mảng đề tài này sẽ còn được nhiều người trẻ đọc, bởi nhà văn viết về chính họ. Những khó khăn của người trẻ trên đường lập thân, không ít người đã bị tha hóa và vấp ngã trong triết lý sống thực dụng vị kỷ, nhưng cũng đã có những nhân vật thành đạt bằng chính nỗ lực và tài năng của mình. Những câu chuyện về người trẻ quyết vươn lên những thang bậc giá trị có tầm vóc quốc tế cùng với những thất bại của họ trong những cạm bẫy cuộc đời sẽ còn là nguồn đề tài có thể khái thác sâu sắc hơn và đa dạng hơn.

Nguyễn Danh Lam và Vũ Đình Giang đã hé mở ra cách viết theo giòng ý thức của văn chương Hiện Sinh. Cách viết này cho phép nhà văn đi rất sâu vào ý thức của con người trước hiện thực để khám phá những tầng sâu của tâm hồn con người, nhờ đó văn chương có thể tiếp cận được với tư tưởng. Con đường này sẽ còn hứa hẹn nhiều nỗ lực khám phá. Văn chương Nữ quyền cũng đã hé mở những cánh cửa, tuy vậy mới chỉ được khám phá ở một vài mặt còn phiến diện, sẽ còn dành đất cho những tài năng trẻ trong tương lai ( Số Phận Lưu Vong của Trần Thu Hằng là một ví dụ[5] ). Tiểu thuyết lịch sử đối với người viết văn trẻ sẽ vẫn còn nhiều thách đố, tuy vậy Đôi Mắt Đông Hoàng của Uông Triều (Nhà văn trẻ dự Hội nghị lần này)[6] đã ánh lên được những tia hy vọng mới, và Di Li lại mở ra một hướng khác. Những câu chuyện tình lãng mạn như tiểu thuyết của Khái Hưng thời 1930-1945 vẫn chưa nhà văn nào có sách gối đầu giường của bạn đọc.

Về thơ, Ly Hoàng Ly, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Thúy Hằng, Vy Thùy Linh, Văn Cầm Hải, Trần Ngọc Tuấn đã đặt những cột mốc thơ trẻ thời gian qua. Cho đến nay dường như lối thơ phá vỡ cấu trúc truyền thống, ghép nhiều mảnh vỡ, xen vào những ngẫu nhiên hoang tưởng, dùng chữ cầu kỳ, phô trương cái tôi, chơi trò ngữ nghĩa cũng đã trở nên lỗi thời (?). Còn nhớ Hội nghị những người viết văn trẻ lần trước, Nguyễn Thúy Hằng có những phát ngôn rất cao ngạo và trình làng với tác phẩm Thời hôm nay, khoái cảm và điên rồ hợp lí, sử dụng nhiều thủ pháp của nghệ thuật Siêu Thực và chủ nghĩa Hiện Thực Huyền Ảo. Thế nhưng đến nay khó có bài thơ nào của Nguyễn Thúy Hằng đọng lại được trong lòng người đọc. Ly Hoàng Ly, Lê Vĩnh Tài vượt lên được bởi những nhà thơ trẻ này vượt qua cái tôi cá nhân, đến được với bao nỗi bi thương của tha nhân xung quanh mình, biết khai thác vừa phải những yếu tố mới của thi pháp thơ thế giới để người đọc có khả năng tiếp cận được tác phẩm. Hơn thế, cái tình của nhà thơ vượt qua kỹ thuật câu chữ, những phẩm chất nhân văn trong thơ thoát ra được cái vỏ rối rắm của ngôn từ. Và nữa, nhà thơ nào sẽ tiếp bước Trần Ngọc Tuấn làm thơ Thiền [7], nối dòng với Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng?

Có thể nhận thấy con đường rất rộng đã mở ra cho những người viết văn trẻ dự hội nghị lần này. Nếu chu kỳ mùa màng văn học gặt hái là 20 năm, thì văn chương Việt Nam đã được mùa những năm đổi mới (1986-1996), và được mùa văn trẻ thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, (ào ạt vào những năm 2005), thì người đọc có thể mong đợi một mùa gặt mới ở những năm 2020. Những ai trong 112 nhà văn trẻ hôm nay (cả những nhà văn không dự hội nghị) sẽ bước lên những đỉnh cao văn chương Việt? Có thể có những đột phá không ?…
Tháng 8/ 2011
_____________________________________
[1]. Nguyễn Hòa – Cây bút trẻ viết phê bình văn học. Báo Nhân Dân.
http://nguyennguyenbay.com/index.php?option=tusach&task=show&cat_id=54&id=2190&xem=phong-thuy
[2] Võ Thọ Xuân Hà . Tiêu chi chọn đại biểu : Tác phẩm-Tuổi đời-Thành tựu.
http://vanvn.net/news/40/628-tieu-chi-chon-dai-bieu--tac-pham-tuoi-doi-thanh-tuu.html
[3] Xin đọc Mười Khuôn Mặt Thơ Trẻ Đương Đại- Bùi Công Thuấn: http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=8942&LOAIID=33&LOAIREF=1&TGID=743
[4] Xin đọc các bài viết Bùi Công Thuấn viết về các nhà văn này
Nguyễn Đình Tú: http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=10718
Blogger và những cách tân nghệ thuật :
http://hoinhavanvietnam.vn/Details/nha-van-tre/blogger-va-nhung-cach-tan-nghe-thuat/32/0/2443.star
Ngồi và những thử nghiệm thất bại: http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=10888
Giữa Dòng Hiện Sinh : http://hoinhavanvietnam.vn/Details/nha-van-tre/giua-dong-hien-sinh/32/0/2614.star
Sắc màu nhân gian : http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=12119
Cần lắm những yêu thương : http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=12146
Song Song những phận người : http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=12245
Nguyễn Ngọc Tư và hành trình đã đi : http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=12632
[5] Thân phận lưu vong : http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=10028&LOAIID=28&LOAIREF=1&TGID=743
[6] Đôi mắt nhìn sâu vào lịch sử : http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=11261
[7] Một Mình Ra Khơi (Đọc tập Suối Reo của Trần Ngọc Tuấn ).Văn Nghệ Trẻ 28/01/2007


BÀI NÀY ĐÃ ĐĂNG TRÊN VĂ NGHỆ TRẺ NHỮNG NGÀY ĐẠI HỘI ĐANG DIỄN RA





Hội thảo VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI NHÌN TỪ MIỀN TRUNG những vấn đề còn đó

Hội thảo THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI NHÌN TỪ MIỀN TRUNG
NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN ĐÓ…
Bùi Công Thuấn


Trong 2 ngày 8 và 9-10, tại thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức hội thảo: "Thơ Việt Nam hiện đại, nhìn từ miền Trung” với sự tham dự của gần 140 nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận phê bình hiện đang công tác, sinh sống tại miền Trung và trên mọi miền đất nước. Nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch hội Nhà Văn Việt Nam chủ trì hội thảo. Hội thảo này là sáng kiến của Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam. Trước khi diễn ra Hội thảo, ngày 24/8, Hội Nhà văn Việt Nam đã có phiên họp trù bị bàn về nội dung. Theo đó, tính hiện đại của thơ được tính từ Thơ mới đến nay, giới hạn địa lý là từ Thanh Hoá đến Bình Thuận.(1)

1.MỘT “HỘI THẢO MỞ”

Nhà thơ Bằng Việt, chủ tịch Hội Đồng Thơ mở đầu “Đề dẫn” : Trước tiên, đây là một cuộc hội thảo mở. Nó mở từ ngay chủ đề của nó…Tôi nghĩ, một cuộc hội thảo mở, dù biên độ mở có vẻ hơi trừu tượng và không thật chuẩn về ngữ nghĩa theo những quy luật khắt khe của ngữ pháp, có khi lại là hay, vì nó chứa nhiều khơi gợi, tạo ra nhiều tung hứng. Và nhất là đối với Thơ, thì cái cách mở như vậy càng dễ có thêm nhiều tưởng tượng, nhiều liên tưởng, nhiều so sánh và ẩn dụ. Vậy là yên tâm rồi !.

Tôi thực sự ngỡ ngàng về lời đề dẫn đầy ngẫu hứng của nhà thơ Bằng Việt, bởi hội thảo là một hoạt đông khoa học về thơ Việt Nam hiện đại, đâu phải hội thảo là nơi nhà thơ tụ tập để làm thơ mà cần đến “khơi gợi, tung hứng, tưởng tượng, so sánh ẩn dụ”. Nhà thơ Bằng Việt biết rõ phạm vi “mở” của cuộc hội thảo này là trừu tượng và không chuẩn về ngữ nghĩa nhưng ông vẫn “yên tâm. Khi hội thảo không đề ra một mục tiêu cụ thể, khi ý thức về chính việc tổ chức hội thảo còn mơ hồ mà ban tổ chức lại yên tâm, thì kết quả hội thảo thế nào đã có thể thấy trước được.

Tôi nghĩ nhiều người sẽ đồng ý với Trần Quang Quý về mục tiêu của hội thảo. Ông viết:” Tôi nghĩ, chủ đề “Thơ hiện đại Việt Nam nhìn từ miền Trung” là một chủ đề lớn, ..đặc biệt là sự đổi mới thi ca đương đại từ sau 1975 đến nay, ..cần một sự đánh giá công phu, sâu sắc, khách quan… sau một chặng đường dài của thơ Việt, kể từ Thơ mới 1932 - 1945, nhằm thấy được bản diện của thơ Việt trong quá trình xây dựng, bồi đắp những đặc trưng nghệ thuật, khuynh hướng nghệ thuật và giá trị thẩm mỹ, giá trị nhân bản mà thơ đã và đang vươn tới; thực trạng của thơ hôm nay, thơ với công chúng…”

Thế nhưng theo dõi các tham luận và ý kiến phát biểu tại hội thảo, người đọc không khó để nhận ra rằng hội thảo đã không đạt được điều mà Trần Quang Quý mong đợi.

2. NHỮNG LẤN CẤN VỀ CHỮ NGHĨA

Theo cách nhìn của ban tổ chức thì khái niệm Thơ Việt hiện đại là tính từ 1930 đến nay. Thế nhưng Ngô Minh lại hiểu rất khác :” Hiện đại có liên quan gì đến bọn tư bản Phương Tây đang rẫy chết không ? Sao lại không “đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc”, mà lại rửng mỡ bàn chuyện hiện đại ?(1) Có sự không rõ ràng trong ý niệm “hiện đại”. Có tham luận nói Thơ Việt hiện đại là để phân biệt với thơ Việt Cận Đại, Cổ đại. Nhiều ý kiến lại nói đến Thơ Việt hôm nay, nghĩa là Thơ Việt từ sau 1975 đến nay. Tôi nghĩ, Thơ Mới đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của nó. Thơ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng đã được nghiên cứu và khẳng định giá trị. Nhưng thơ Việt từ 1975 đến nay và nhất là 10 năm đầu của thế kỷ 21 thì chưa được nghiên cứu. Dường như chúng ta cố níu kéo hào quang của quá khứ mà quên sống ở thực tại?

Nguyễn Thanh Mừng nói đến đóng góp của miền Trung về sự hình thành và phát triển tiếng Việt từ Hồ Quý Ly, lê Thánh Tôn..đến A De Rhods …, Tiếp theo dòng văn Nôm rạng rỡ, văn học quốc ngữ ra đời. Sau đó là phong trào Thơ Mới, Tự lực văn đoàn . Ông còn dông dài lần giở những thư tịch cổ nói về miền Trung trong không gian văn hóa Đông Sơn, không gian văn hóa Sa Huỳnh, không gian văn hóa Chăm-pa …Ông còn ngược lịch sử về thời đại Hùng Vương cho đến các triều đại Triệu, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, xác lập” một nước Việt co giãn từ Bắc miền Trung trở ra. Nhưng cũng từ thời Lý trở đi, vai trò “lĩnh ấn tiên phong” đã được xác lập và không ai khác, miền Trung phải gánh lấy sứ mạng ấy”. Phải chăng “nói dông dài “(chữ của Nguyễn Thanh Mừng) như thế mới đúng với yêu cầu của một hội thảo mở về thơ?

Nói thơ Việt hiện đại tính từ Thơ Mới (1930 trở đi) nhưng hầu hết các ý kiến khi nêu vấn đề lại tụ vào thơ thời kháng chiến chống Pháp và Mỹ (Văn Đắc, Vũ Quần Phương, Thạch Quỳ, nhà nghiên cứu Tôn Phương Lan, TS lê Thị Bích Hồng, Vĩnh Nguyên, Thanh Thảo, …) Có rất ít bài viết về thơ hiện nay (Inrasa ). Tại sao có độ lệch như vậy? Điều ấy dễ hiểu, vì hầu hết các nhà thơ đang dự hội thảo đều là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến và họ đã có những thành công ở giai đoạn ấy. Và họ muốn được sống mãi trong vinh quang của thời đại ấy. Nhà thơ Ngô Minh ngạc nhiên :” Điều làm tôi nhạc nhiên là Hội thảo về THƠ HIỆN ĐẠI mà trong hội trường toàn những người đầu bạc, răng long. Người trẻ nhất cũng phải tới bốn năm chục tuổi rồi. … ở đây tịnh không có nhà thơ tuổi đôi mươi nào cả, ai nói cái mới cho mà nghe.”

Nhiều ý kiến nói về yêu cầu đổi mới thơ, nhưng không một tham luận nào nói cụ thể về vấn đế này, cũng không có ý kiến nào cận cảnh về cách tân thơ từ Thơ Mới đến Xuân Thu Nhã Tập rồi Lê Đạt, Trần Dần, Thanh Tâm Tuyền và vác nhà thơ trẻ đương đại. Thậm chí có những ý kiến tỏ ra không hiểu hoặc không muốn cách tân thơ.TS Đào Duy Hiệp đã nói đến ngộ nhận này :” Đổi mới thường bị nhầm với thế sự, trong văn học, đổi mới là hằng ngày, tự thân”. (Xin lưu ý, đổi mới khác với cách tân thơ). Ý kiến của nhà thơ Thạch Quỳ có thể là tiêu biểu cho một cách hiểu đã lỗi thời:” Thưa các bạn ! Cái mới trong văn học không bắt nguồn từ sự đổi mới câu chữ, vần vè duy hình thức. Cái mới ở trong con người mới, sức sống mới, tâm hồn mới , trí tuệ mới. Khi con người mang cái mới đầy ắp trong mình thì họ nói lên tiếng nói mới. Hình thức mới trong thơ không phải là thứ hình thức do đầu óc nghĩ ra, vẽ ra, mà do dung lượng cái mới dung nạp trong tâm hồn đã biến thành công năng, nhiệt năng đòi hỏi phải thoát ra ngoài bằng hình thức ấy, theo cách ấy”. Còn nhà thơ Đông Trình lại gạt thẳngvấn đề :” liệu có cần bàn đến hiện đại với hậu hiện đại nữa không? Vì sao thơ chống Pháp hay thế? Có lẽ là tài năng? Người ta để Tâm trên Tài, tôi thì tôi nghĩ ngược lại. Thơ hay, thơ phát triển là nhờ các tài năng. “ Ngô Minh đã mỉa mai sự lấn cấn như thế này :” Nghĩa là thơ ta đang hiện đại, thơ miền Trung đang hiện đại. Nó đã đổi mới, hiện đại từ thời Nguyễn Du tới giờ. Hiện đại trước khi cuộc hội thảo này được tổ chức. Hoan hô thơ miền Trung.”

Xin hỏi rằng thơ kháng chiến khác Thơ Mới ở điều gì? Có phải từ con người mới không ? Xin thưa sự khác biệt là ở ý thức thẩm mỹ mới, ở thi pháp, ở yêu cầu văn chương phục vụ trực tiếp các nhiệm vụ chính trị , phục vụ công, nông binh, chứ không phải xuất phát ở trong con người mới.Hội thảo còn lấn cấn quá nhiều về nội hàm những vấn đề đem ra thảo luận thì sao có thể đi đến những kết luận sáng tỏ?

Lại lấn cấn về địa giới hành chính. Thơ miền trung giới hạn từ Thanh Hoá đến Bình Thuận.Điều này quả thực không ổn, bởi vì, đâu có một nền thơ riêng trong lãnh giới này. Các nhà thơ có thể sinh ra ở miền trung, nhưng tác phẩm của họ vươn tới tầm đất nước, tầm dân tộc, tầm thời đại. Hơn nữa họ hoạt động ở nhiều nơi trên đất nước, đâu cứ gì miền trung. Tố Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, Bùi Giáng là những điển hình. Cho nên Hội thảo thơ miền trung, nên có tham luận nói về thơ Thanh Hóa, Tây Nguyên (Văn Đắc, Ts Hỏa Diệu Thúy, Hữu Kim,..). Vĩnh Nguyên thì điểm tên các nhà thơ Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Huế. Mai Văn Hoan thì nói về thơ Thạch Quỳ, Thanh Thảo thì nói về thơ Nguyễn Khoa Điềm…Cứ theo đà này thì phải kể tất cả các nhà thơ ở Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận. Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng…Sẽ chẳng có một hội thảo nào đủ sức làm như thế, và dẫu có làm như thế cũng chẳng ích gì cho sự phát triển của thơ ca.

3. NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN ĐÓ…

Có ý kiến đánh giá về nhà thơ, nhà văn Việt Nam thế này:” trình độ văn hóa của văn nghệ sĩ Việt Nam ở mức lè tè thế này, một lần ngồi xem ti vi, nhìn cảnh các văn nghệ sĩ Việt mặc quần áo lôm côm, sắn áo dài tay, đi giầy thể thao… một anh bạn có nói, mọi người nhìn đi, những cầu thủ nước ngoài lên lĩnh giải thưởng, họ vận com lê đồng bộ đàng hoàng, vậy mà ở đây chúng ta toàn nghệ sĩ tên tuổi “nhớn” lại ăn mặc ba vạ, lôm côm, tùy tiện như vậy, thử hỏi văn hóa của văn nghệ sĩ chúng ta ở mức nào?(3) Sao lại có thể lấy việc mặc quần áo để đánh giá trình độ trí thức của văn nghệ sĩ Việt ?! Sao lại đi so sánh cầu thủ với nhà thơ là văn. Ý rằng vì trình độ nhà thơ nhà văn Việt Nam ở mức lè tè nên “thơ của chúng ta èo uột, làng nhàng, thiếu bứt phá, thiếu thăng hoa”. Tác giả của ý kiến này còn đi đến nhận định, chung quy sự yếu kém của văn chương Việt là do tiếng Việt lỏng lẻo và phẩm chất “hời hợt, dễ dãi, tùy tiện và buông thả, nhiều khi thiếu trách nhiệm của trí thức Việt”. “Muốn trở thành nhà thơ lớn cũng như nền thơ lớn hiển nhiên chúng ta phải nhảy vọt qua 2 đặc điểm khiếm khuyết của ngôn ngữ tiếng Việt như đã trình bày ở trên.” Tôi nghĩ, những ngoa ngôn kiểu này chỉ để gây sự chú ý đối với người nghe thôi. Nó hoàn toàn chủ quan, hàm hồ và “thiếu trách nhiệm” với hội thảo, ấy là chưa nói đến sự xúc phạm đối với nhà thơ nhà văn VN.

Nhà thơ Hữu Thỉnh đã nêu ra một vấn đề còn bỏ ngỏ khi tổng kết hội thảo :” Thơ đang có vấn đề và cần đổi mới nó”. Đó là tình trạng vè hóa thơ (Nguyễn Trọng Tạo), “thơ của chúng ta èo uột, làng nhàng, thiếu bứt phá, thiếu thăng hoa”(Nguyễn Hoàng Đức), “Cái khó mà thơ lâm phải hiện nay là thời kỳ giáp hạt tư tưởng, sự khủng hoảng của nó cũng do đó mà ra.”(Vũ Quần Phương), “thơ đang mất chỗ đứng trong ồ ạt của cạnh tranh thị trường… Nhiều bài thơ nhợt nhạt, quanh quẩn, ngô nghê, được viết với một trạng thái vô cảm… thơ Việt đang trong cơn bĩ cực trên cả hai phương diện chủ quan và khách quan”(Lê Thành Nghị),” Sự kiện thơ ca mất giá như thế diễn tiến qua nhiều năm”(Nguyễn Chí Hoan). .

Những ý kiến trên hoàn toàn trái ngược với những bài tụng ca về thành tựu chót vót của thơ miền trung. Vấn đề là không một tham luận nào chỉ ra được làm thế nào để vực dậy thơ Việt đang trong cơn khủng hoảng, đang trong cơn bĩ cực, đang mất chỗ đứng trong lòng công chúng, “thơ đang ở thời kỳ hỗn mang “(Trần Quang Quý). Đây đó có chỉ ra vài nguyên nhân. Nguyễn Hoàng Đức thì cho rằng vì tiếng Việt lỏng lẻo, trình độ văn hóa của văn nghệ sĩ Việt Nam ở mức lè tè nên thơ Việt èo uột.Nguyễn Trọng Tạo thì cho rằng nguyên nhân là từ ” sự thiếu hiểu biết, sự ngộ nhận non nớt của nhà thơ trước ma trận của cái mới luôn mai phục ở phía trước”. Nguyễn Chí Hoan cho rằng ngôn ngữ thời đại là một cản trở:” Đặc trưng của bối cảnh mới là ngôn ngữ dưới các dạng thức từ chương trở thành một loại hàng hoá.Ngôn ngữ từ chương dần dà không tránh khỏi biểu thị tính thực dụng thực tế mới của thời buổi , của truyền thông đại chúng với ba phẩm chất căn bản thông tin-giải trí-quảng cáo, của văn hoá đại chúng với các khoái cảm ngôn từ thông tục, cảm tính, dễ dãi và lặp đi lặp lại.Thực tế là thơ ca thẩm thấu vào mình toàn bộ sức ép từ cái phông ngôn ngữ hỗn tạp đó, chưa kể sức ép từ các chuỗi sự kiện hình ảnh”

Về đổi mới thơ hiện nay, nhà phê bình Lê Thành Nghị cho rằng, “đổi mới thơ bằng cách nào là một ẩn số “, còn TS Đào Duy Hiệp trở lại cách nhìn duy tâm :” Vấn đề ở trời cho”. Nhà thơ Đông Trình cũng một ý như vậy :” Thơ hay, thơ phát triển là nhờ các tài năng”. Nhà thơ Phạm Đức thì xổ toẹt :” Nói A cách tân, B bảo thủ là cách nói lừa trẻ con; thơ mỗi bài là một đổi mới, bài sau khác bài trước… bất biết anh viết nó bằng cách nào, nó chỉ cần vào tôi là được.”Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm thì nhấn mạnh :” Thơ ca phải lên tiếng, phải đến với vấn đề nhân cách cá nhân, phẩm cách của dân tộc và phải tự mình trở thành nhân cách.”

Trong những ý kiến trên, không khỏi có những chỗ chưa rạch ròi về “đổi mới” thơ và cách tân thơ. Nếu nói đổi mới là bài thơ sau khác bài thơ trước, thì đó không phải là cách tân. Đó là quy luật của sự sáng tạo. Sáng tạo là không lặp lại, là khám phá ra cái mới. Nhà thơ không sáng tạo thì đồng nghĩa với nhà thơ đã chết.Và sự vượt qua chính mình là điều khó nhất đối với hành trình sáng tạo của nhà thơ.
Nói cách tân một nền thơ, một thời đại thơ là nói sự thay đổi hoàn toàn về ý thức thẩm mỹ, về thi pháp và về mục đích sáng tác, vai trò xã hội của thi ca. Thơ Mới được viết bằng bút pháp của Chủ Nghĩa Lãng Mạn, lấy cái tôi cá nhân chủ nghĩa làm trung tâm, lấy sự thể hiện cảm xúc và suy nghĩ cá nhân làm nội dung, nhân vật trữ tình trong Thơ Mới là nhân vật tâm trạng, hình thức thơ thường là 7 chữ, 8 chữ. Thơ kháng chiến thay đổi hẳn về lý tưởng thẩm mỹ. Đó là nền thơ lấy công, nông ,binh làm nhân vật trung tâm, lấy bút pháp Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa làm phương pháp sáng tác (Miêu tả hiện thực cách mạng kết hợp với lãng mạn cách mạng thông qua điển hình hóa), lấy việc phục vụ trực tiếp nhiệm vụ chính trị làm mục đích. Thơ hướng về quần chúng mà kêu gọi, động viên chiến đấu, sản xuất, thơ tập trung ca ngợi cái mới, con người mới (thử so sánh Khi Chiều Giăng Lưới của Xuân Diệu với Tiểu Đội Xe Không Kính của Phạm Tiến Duật). Rõ ràng muốn cách tân thơ thì phải xuất phát từ sự đổi mới tư duy nghệ thuật. Ta hiểu ra thơ hiện nay rất cũ vì nhiều bài thơ vẫn được viết bằng thi pháp Thơ Lãng Mạn hay thi pháp thơ kháng chiến.

Những nỗ lực cách tân thơ Việt đã diễn ra mạnh mẽ, nhưng chưa có thành tựu đáng kể. Trần Dần, Lê Đạt tập trung vào cách tân hình thức câu, chữ. Thanh Tâm Tuyền sử dụng “dòng ý thức” của văn chương Hiện Sinh. Khế Yêm , Đỗ Quyên thể nghiệm thơ Tân Hình Thức. Các nhà thơ trẻ hiện nay (Văn Cầm Hải, Nguyễn Thúy Hằng, Ly Hoàng Ly, Lê Vĩnh tài…) đang khám phá thủ pháp Hậu Hiện Đại. Ít nhiều những thể nghiệm ấy cũng có những bài đứng được, đủ sức đánh dấu như cột mốc của sự phát triển. Hãy lấy thí dụ, thơ “dòng ý thức” của Thanh tâm Tuyền khác hẳn với thơ Lãng Mạn ở chỗ, thơ lãng mạn là dòng tâm trạng, cón thơ Thanh Tâm Tuyến là “dòng ý thức”(Xin đọc Tĩnh Vật của Thanh Tâm Tuyền). Cũng vậy, Thơ Tân Hình Thức quan trọng ở cách vắt dòng, ở câu chuyện được kể, ở những vòng lặp và cách đọc vừa là thơ, vừa như văn xuôi (xin đọc : Tân Hình Thức và Câu Chuyện Kể của Khế Yêm, Tay Trái Thơ Tay Phải Núi của Đỗ Quyên). Thơ Hậu Hiện Đại phá vỡ những yếu tố cơ bản của “thơ truyền thống” là không gian, thời gian, nhân vật, cốt truyện. Nhà thơ đưa vào những yếu tố ngẫu nhiên, hoang tưởng. Hiện thực được miêu tả là những mảnh rời rạc. Nhà thơ lật đổ những Đại Tự Sự. Hậu Hiện Đại còn “giải thiêng” và phi tâm hóa…(xin đọc Hoe Chân Lời, Sinh Tồn của Văn Cầm Hải). Ý thức thẩm mỹ của nhà thơ Hậu Hiện Đại khác hẳn với nhà “thơ truyền thống”. Inrasara nhận định thế này : “Thơ tuôn tràn tự nhiên như nói, như thở, như ăn, uống, làm tình. Vậy thôi. Không có gì trầm trọng cả.”, ” Thời đại khác, quan điểm thơ cũng khác vừa viết vừa tự khám phá chính mình. Khám phá mình ngay trong hành động viết và qua quá trình viết. Chuyển động và thay đổi. Họ viết - thế thôi. Liên tục chuyển động và thay đổi. Không nhiều nhà phê bình nhận ra điều đó. Rất ít nhà phê bình theo kịp sự chuyển động của họ. Không theo kịp, nhà phê bình mãi ở lại căn chòi mĩ học cũ để nhìn về thơ đương đại, nhận định và phán xét nó.Tiếc thay.”

Tôi nghĩ rằng bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam và thế giới thế kỷ XXI đã hoàn toàn khác với thời kỳ bao cấp trong kháng chiến. Ý thức thẩm mỹ của thời đại cũng đã khác. Muốn cách tân thơ phải xuất phát từ sự đổi mới ý thức thẩm mỹ. Đây là điều cốt tử. Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật nhận rõ điều này: “không thể chấp theo lối cũ. Thơ ca nghệ thuật không thể nằm ngoài chân lý ấy.Thế nhưng sau bao năm đổi mới, nền thơ Việt dường như vẫn quằn quã trong cái ngôi làng lặng yên. Chúng ta phải tự nhận ra rằng chúng ta tự trói lấy chúng ta, bảo thủ, tự bằng lòng thoả mãn với những gì có được.”, Ấy là chúng ta quen với lối mòn thi pháp của thơ kháng chiến viết bằng phương pháp Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa, quen với cách sinh hoạt thơ như thời bao cấp. Nhà thơ đi dự hội nghị được tỉnh cấp kinh phí. “Hội thảo 2 ngày mà có tới ba cuộc tiệc lớn : Tỉnh ủy Thanh Hóa đãi, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thanh Hóa đãi, Hội Nhà văn Việt Nam đãi. Bia rượu vui vẻ.”(Ngô Minh). Nhiều nhà thơ và bạn đọc quen với ý thức thẩm mỹ cũ,vẫn giữ cách nhìn văn chương quan điểm văn chương thời bao cấp, và vì thế sự cách tân thơ đối với họ là điều vô bổ. Nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan có một nhận xét rất xác đáng thế này :” sự hoàn chỉnh về hệ thống đó cũng là một rào cản, đặc biệt với những cái-tai-bên-trong, con-mắt-bên-trong của nhiều thế hệ độc giả cũng như tác giả đã hoàn toàn quen với khu vực đặc trưng nhất của không gian ngôn ngữ mà hệ thống kia dựng lên – khu vực của lãng mạn và kỹ xảo tu từ - coi như phạm trù và quan niệm về thơ ( - mà không hề tính đến các cực trị không gian đó đã đạt tới và do vậy đã gợi mở - ) , đến mức nếu ai đó vượt ra để làm khác đi thì sẽ không còn thơ nữa”

Để trả lời cho những lời kêu gọi khẩn thiết về tình trạng thơ khủng hoảng, đang trong cơn bĩ cực, đang mất chỗ đứng trong lòng công chúng, “thơ đang ở thời kỳ hỗn mang, tôi xin mượn ý của nhà thơ Hoàng Vũ Thuật rằng , nhà thơ không thể chấp theo lối cũ, hãy tự cởi trói khỏi sự bảo thủ của ý thức sáng tạo và thói quen sinh hoạt cũ, bởi vì Nghị quyết 23 của Bộ Chính Trị cũng đã mở đường rồi. Nghị quyết ghi rõ :” Tôn trọng, đảm bảo quyền tự do sáng tạo, tạo điều kiện thuận lợi phát huy tính độc lập, khơi dậy mọi nguồn lực sáng tạo của văn nghệ sĩ… tiếp tục đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của văn học, nghệ thuật về đề tài, nội dung, loại hình, phương pháp sáng tác, sự tìm tòi, thể nghiệm, nâng cao chất lượng toàn diện nền văn học, nghệ thuật nước nhà. “

_____________________________________

(1) Bài viết này dựa trên bản tin và kỷ yếu của Hội Nhà Văn về Hội thảo Thơ Việt hiện đại nhìn từ miền trung đăng trên http://vanvn.net
(2) Ngô Minh (http://ngominhblog.wordpress.com/2011/10/11/th%C6%A1-nghiem-tr%E1%BB%8Dng-th%E1%BA%ADt/)
(3) Nguyễn Hoàng Đức-Không thể có thơ hay nếu không có sinh hoạt thơ lành mạnh

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT và NHÀ PHÊ BÌNH

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ NHÀ PHÊ BÌNH
Bùi Công Thuấn


Đối tượng của nhà phê bình là tác phẩm văn chương, nhưng làm thế nào để đọc được mã nghệ thuật của tác phẩm, quả thật không dễ dàng chút nào. Với những tác phẩm được viết bằng tư duy nghệ thuật đi trước thời đại, chắc chắn nhà phê bình chỉ có thể đứng chiêm ngưỡng tòa lâu đài kỳ lạ đó mà thôi. Đỗ Lai Thúy đã nhận xét thế này về Hoài Thanh :” Thị hiếu của Hoài Thanh chỉ dừng lại ở thẩm mỹ lãng mạn, mà chưa vượt sang được Tượng trưng và Siêu thực như chính bản thân Thơ Mới. Vì vậy, một mặt ông đưa vào Thi nhân Việt Nam rất nhiều những nhà thơ lãng mạn bàn nhì, bàn ba, mặt khác lại sập cửa trước mũi các thi tài Tượng trưng lớn như Đinh Hùng, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Sanh. Và chính ông, Hoài Thanh, cũng nhiều lần thừa nhận mình không tìm được lối vào cổng chính của thơ Bích Khê, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử”(1)

Ở Việt Nam, người ta đã quá quen với phương pháp tiểu sử của Charles-Augustin Sainte-Beuve (1804-1869) và phương pháp phê bình Marxist. Hai phương pháp này có nhiều ưu điểm, giúp soi sáng nhiều vấn đề đối với những tác phẩm được viết bằng bút pháp Hiện Thực. Nhà phê bình tìm hiểu tiểu sử tác giả, rồi dùng tiểu sử ấy lý giải và đánh giá tác phẩm. Chẳng hạn, tại sao nhân vật Từ Hải trong Đoạn Trường Tân Thanh phải chết oan, để rồi Nguyễn Du phải đắng cay ngậm ngùi !“hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn” ? Bởi vì Nguyễn Du là ông quan phong kiến, không thể cùng một lúc thờ hai vua, vừa ca ngợi Gia Tĩnh, vừa ca ngợi Từ Hải. Mặc dù Từ Hải là một nhân vật lý tưởng của Nguyễn Du, nhưng Từ Hải phải chết. Cũng vậy, tác phẩm của Nhất linh, Khái Hưng, Vũ Trọng Phụng một thời bị coi là “có vấn đề” bởi thái độ chính trị của tác giả. Phê bình tác phẩm văn chương trở thành sự kết án con người xã hội của tác giả. Tác phẩm văn chương trở thành chứng cớ kết tội. Có nhà văn đã phải sống cái kiếp nạn văn chương hết cả một đời con người.

Phương pháp phê bình Marxist tập trung xem xét mối quan hệ của văn học với hiện thực. Giá trị văn chương của tác phẩm là giá trị phản ánh hiện thực. Tác phẩm văn chương phải góp phần vào cuộc đấu tranh giai cấp của nhân dân. Hòn Đất, Người Mẹ Cầm Súng, Sống Như Anh, Rừng Xà Nu đáp ứng những yêu cầu này. Hạn chế của các phương pháp này là không thâm nhập khám phá thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Nhà phê bình không chỉ ra được giá trị thẩm mỹ của tác phẩm là gì, đâu là cá tính sáng tạo của nhà văn. Phê bình văn chương trở thành phê bình xã hội học, thái độ phê bình trở thành thái độ chính trị. Cánh Đồng Bất Tận, Trăng Nghẹn trở thành tác phẩm “có vấn đề” dưới góc nhìn của hai phương pháp phê bình “truyền thống” bởi lý do đó.

Nếu áp dụng hai phương pháp ấy để đọc thơ Lê Đạt, Hoàng Cầm, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền thì nhà phê bình sẽ phải bỏ cuộc. Xin đọc

“Tóc trắng tầm xanh qua cầu với gió
Đùi bãi ngô non
ngo ngó sông đầy
Cây gạo già
lơi tình
lên hiệu đỏ
La lả cành
cởi thắm
để hoa bay
Em về nói làm sao với mẹ…”
(Quan họ-Lê Đạt)

Bài thơ trên phản ánh điều gì? Thể hiện cái nhìn giai cấp thế nào và góp phần thế nào vào cuộc đấu tranh giai cấp ? tất nhiên là không có câu trả lời, và nếu có cũng không quan trọng, bởi cần phải chỉ ra được những cách tân trong thơ Lê Đạt, bài thơ ấy hay ở những yếu tố nào? Tiếng nói nghệ thuật của Lê Đạt có gì đặc sắc? Lê Đạt làm thơ là tạo ra “bóng chữ”. Đọc thơ Lê Đạt là đọc “cái bóng” do con chữ gợi ra. Nghĩa của thơ không nằm trên mặt con chữ, có khi không cần hiểu nghĩa. Hãy bắt đầu thâm nhập thế giới nghệ thuật của bài thơ từ chữ “cởi thắm”. Hai chữ này tự nó không có nghĩa, nhưng nó dẫn người đọc liên tưởng đến hai bài ca dao tạo nghĩa, đó là bài ca dao về “một cô yếm thắm bỏ bùa… ” và bài Qua cầu gió bay. Lê Đạt vẽ ra một khung cảnh tình tự. Có hai người đang yêu nhau dưới gốc gạo già, rực rỡ hoa đỏ. Dòng sông nước đầy, bờ bãi ngô non. Cô gái đã cởi hết những gì phong kín hương trinh nữ, lồ lộ gọi mời. Đùi trắng như ngó sen, ánh mắt lơi tình la lả… Nhà thơ hướng ống kính camera lên cây gạo già để tả cái say tình của cô gái. Sắc hoa đỏ là tình yêu đang nồng cháy và hoa bay là sự thăng hoa của những cơn yêu không còn kềm giữ. Người con gái ấy đã để cho chàng cởi yếm thắm để nâng niu ngọc ngà, bây giờ “em về nói làm sao với mẹ”. Cởi áo cho nhau thì còn dối mẹ rằng“qua cầu gió bay”. Cởi yếm cho nhau thì dối mẹ làm sao? Hai hình ảnh thiên nhiên và con người chồng lên nhau. Chăm chú nhìn, người đọc sẽ chỉ thấy thiên nhiên, nhưng rõ ràng bài thơ là một clip yêu đương nhục thể, bên bờ sông, dưới gốc cây gạo già và bờ bãi ngô non thân quen. Cái hay của nhà thơ là diễn tả chất say đắm nhục thể của tình yêu bằng những “bóng chữ”, đủ sức gợi ra bao điều thú vị trong lòng người đọc.

Tôi vừa đọ thơ Lê Đạt với một cách đọc khác với phương pháp phê bình truyền thống. Thơ Bùi Giáng không đọc theo cách đọc “bóng chữ” của thơ Lê Đạt.

“Hỏi tên rằng biển xanh dâu
Hỏi quê rằng mộng ban đầu đã xa
Gọi tên rằng một, hai, ba
Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm
(Bùi Giáng- Người định đi tu)

Đoạn thơ gợi ra hình ảnh Mã Giám Sinh trong Đoạn Trường Tân Thanh:

Hỏi tên, rằng :”Mã Giám Sinh”
Hỏi quê, rằng :”Huyện Lâm Thanh cũng gần”
Quá niên trạc ngoại tự tuần
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao

Nếu nhà phê bình cứ chúi mũi vào giải mã từ ngữ đoạn thơ Bùi Giáng theo cách đọc truyền thống thì dù có vò đầu bóp trán đến mấy cũng không thể vỡ ra nghĩa câu chữ Bùi Giáng định nói gì. Nguyễn Du tả Mã Giám Sinh bằng bút pháp ước lệ, giống như thật. Trái lại, thơ Bùi Giáng là thơ Vô Ngôn kiểu dụng ngữ của các Thiền sư. Nhà thơ trả lời để mà trả lời. Chữ không có nghĩa :” Hỏi tên rằng biển xanh dâu/ Hỏi quê rằng mộng ban đầu đã xa”. Bùi Giáng từ chối nói tên và quê của ông. Ông trả lời bằng cách nói theo logic bình thường, nhưng dùng hình ảnh làm lạc hướng nhận thức của người nghe. Ấy là, khi anh còn xét nét tôi theo kiểu cân đong đo đếm chi li “một, hai, ba”, khi anh còn nhìn tôi bằng con mắt “diệu tưởng” và cái Tâm Sai Biệt (nghi tâm) thì anh không thể hiểu tôi. Anh hỏi tôi như thể đang kiểm tra lý lịch, soi mói, nghi ngờ. Nếu vậy, tôi chẳng có gì để nói với anh. Chỉ khi nào nhìn tôi bằng cái Tâm Bát Nhã, thì anh sẽ nhận ra tôi. Bạn đọc đã thấy lộ ra tư tưởng và mỹ học Thiền trong đoạn thơ của Bùi Giáng. Những điều như thế nằm ngoài ngôn từ, đòi hỏi một phương pháp khác để đọc tác phẩm.

Một thí dụ khác. Mời bạn đọc thử một truyện ngắn của F. Kafka

Một ngụ ngôn nho nhỏ
“Chao ôi!” Con chuột than, “mỗi ngày cái thế giới này lại trở nên bé nhỏ hơn. Ban đầu nó rộng lớn đến nỗi tôi cảm thấy e sợ, tôi cứ chạy mãi, chạy mãi và mừng làm sao khi cuối cùng tôi cũng đã thấy những bức tường hiện ra xa xa phía bên phải và bên trái, thế nhưng những bức tường dài này lại co hẹp nhanh đến độ rốt cuộc tôi đã ở trong căn phòng cuối cùng mất rồi, và ở góc phòng có một cái bẫy chuột mà tôi phải đâm đầu vào đó”. “Mày chỉ cần đổi hướng là được thôi mà”, con mèo nói rồi xơi tái con chuột.

Bạn đọc sẽ thấy phương pháp phê bình” truyền thống” bất lực trước tác phẩm này của F.Kafka. Bởi đây là một “ngụ ngôn” chứa đựng tư tưởng Hiện Sinh và được viết bằng cái nhìn Hiện Tượng Luận. Trước hết hãy hình dung ra khung cảnh sự việc. Một con chuột đang chạy trong một căn phòng rộng, sau cùng nó đến một bờ tường, dẫn đến một cái bẫy chuột. Nó ý thức rõ về cái chết không tránh được. Chưa biết phải làm gì để thoát chết thì nó nghe có tiếng nói chỉ đường :” Mày chỉ cần đổi hướng là được thôi mà”. Cả người đọc và con chuột ngộp thở, vui mừng. Nhưng ngay lúc nó nghe lời khuyên và đổi hướng, thì cũng là lúc nó phải chết. Cái chết như một tất yếu bi đát. Hiện sinh là hiện sinh quy tử. Sống là để đi về cái chết, thân phận con người là vậy, không thể khác được. Con người phải đối diện với một sự thật nghiệt ngã, tàn bạo. Điều căm phẫn là ở chỗ, kẻ chỉ đường (mèo) lại là tên sát nhân. Không có sự lưu manh, bất nhân, giả hình nào hơn thế. Về nghệ thuật, F.Kafka miêu tả không gian căn phòng qua mắt nhìn của con chuột khi nó đang chạy, khiến cho căn phòng trở nên mênh mộng và chuyển động đến chóng mặt. Truyện chỉ có hai lời thoại, lời của con chuột và lời khuyên của con mèo. Nhưng tốc độ truyện phát triển nhanh, mở rất rộng biên độ của sự tưởng tượng, giúp người đọc lần ra manh mối tư tưởng chứa đựng trong dụ ngôn. Tư tưởng Hiện Sinh được khám phá và thể hiện bằng một thái độ bi phẫn. Tác phẩm trở thành tác phẩm tư tưởng, thách đố trí tuệ người đọc.

Bạn đọc vừa cùng với tôi đọc Bùi Giáng và F.Kafka bằng chính bút pháp của tác giả. Vâng, nhất thiết cần phải lần theo bút pháp mà nhà văn xây dựng tác phẩm. Không thể đọc tác phẩm Siêu Thực bằng cách đọc của tác phẩm Hiện Thực. Bởi đọc tác phẩm Hiện Thực, người ta sẽ đối chíêu nội dung được miêu tả trong tác phẩm có giống với những gì xảy ra ở ngoài đời hay không. Và tất nhiên người đọc sẽ phản ứng với sự sáng tạo “vô lý” của nhà văn. Huy Cận viết :”Mặt trời xuống biển như hòn lửa”. Có người hỏi rằng, thưa nhà thơ, biển Việt Nam là Biển Đông, biển ở phía đông, người Việt Nam chỉ có thể nhìn thấy mặt trời mọc lên từ biển, sao nhà thơ lại viết “mặt trời xuống biển” ? Tôi nghĩ, đó chỉ là một câu hỏi đùa cho vui. Chẳng ai đọc thơ như vậy, hiện thực một cách máy móc.

Xin đọc một bài thơ Siêu Thực, bài Đàn Ghita của Lorca, thơ Thanh Thảo. Bài thơ muốn khắc họa lại hình ảnh cuộc sống, con người và cái chết bi tráng của Lorca, bằng cách dùng chính những hình ảnh Siêu Thực trong thơ Lorca : hình ảnh một chàng kỵ sĩ cô đơn "con ngựa đen, vầng trăng đỏ", với hình ảnh nàng di-gan như ngọn lửa xanh "xanh thân hình, xanh tóc".

“những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
li-la li-la li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn ...
...tiếng ghi-ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi-ta ròng ròng
máu chảy ...
(Thanh Thảo- 1979- Khối vuông rubich)

Bài thơ có nhiều hình ảnh không dễ giải mã. Có một sự thật này, nhiều thầy cô giáo đã đọc và diễn giải ý nghĩa những hình ảnh ấy rất khác nhau, và không có cơ sở để xác định rằng cách hiểu này là đúng hay là sai. Vậy thì có cách nào tiếp cận thế giới nghệ thuật của bài thơ này không? Hãy nghe nhà thơ Thanh Thảo trả lời :”

Hỏi : Trong bài có nhiều hình ảnh gợi cảm: "tiếng đàn bọt nước", "vầng trăng chếnh choáng", "yên ngựa mỏi mòn"...Vì sao Thanh Thảo lại dùng những hình dung từ này? Ý nghĩa của những hình ảnh đó trong việc thể hiện chủ đề?

Thanh Thảo: Anh hỏi tôi thì tôi biết hỏi ai ? Thực ra, tôi cũng dùng những "hình dung từ" ấy một cách tình cờ thôi, hoàn toàn không cố ý. Tôi vẫn làm thơ như vậy, không cố ý, không "mài giũa ngôn từ". Những liên hệ( nếu có) giữa các tổ hợp từ ấy trong bài thơ đều gắn một cách vô thức với số phận Lorca. Những "chếnh choáng", " mỏi mòn", "bọt nước" dường như có gần xa ám ảnh cuộc đời Lorca, chúng ám cả vào thi ca của Ông(2)

Hỏi : Câu thơ “”
Giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng
Xin Nhà thơ cho vài lời gợi mở để độc giả có thể hiểu thêm hai câu thơ rất đẹp trên?

Thanh Thảo: Cảm ơn anh! Nếu anh thấy đẹp, nghĩa là hai câu thơ ấy có thể đẹp. Mà đã đẹp rồi thì không thể cắt nghĩa, không nên cắt nghĩa.

Tác giả đã trả lời như thế thì thầy cô giáo dạy Văn 12 cũng “bó tay” thôi!

Thực ra Chủ nghĩa Siêu Thực khai thác những hình ảnh không có thực như trong giấc mơ, coi trọng cái phi lý, quyết liệt chống lại cái logic của lý trí. Trong giấc mơ, có những hình ảnh lạ, những hình ảnh chồng lên nhau, những hình ảnh không bao giờ có trong đời thực, nó ở trong vô thức. Khi ta tỉnh dậy, ta không thể ý thức được rõ ràng những hình ảnh ấy là gì. Logic lý trí bất lực. Vì thế nếu có những cách hiểu khác nhau hoặc không thể hiểu được theo cách hiểu thông thường thì cũng là tự nhiên. Tốt nhất, nói như Thanh Thảo :” Nếu anh thấy đẹp, nghĩa là hai câu thơ ấy có thể đẹp. Mà đã đẹp rồi thì không thể cắt nghĩa, không nên cắt nghĩa. “

Cùng khai thác những giấc mơ như chủ nghĩa Siêu Thực, nhưng phê bình Phân Tâm Học lại đi tìm cái xung lực tính dục gọi là Libido và mặc cảm Oedipe ở nhà văn, thăng hoa lên thành sáng tạo nghệ thuật. Người ta có thể phân tâm tác giả, phân tâm nhân vật và hình dung ra có một “vô thức văn bản” của tác phẩm.

Khi dùng phê bình Phân Tâm Học để nghiên cứu thơ Hoàng Cầm và tập thơ Về Kinh Bắc, Đỗ Lai Thúy phát hiện ra điều này :”

Đi tìm ẩn ngữ trong thơ Hoàng Cầm, tôi thấy thi phẩm Về Kinh Bắc giống như một giấc mơ. Tư duy thơ đứt đoạn, những hình ảnh mới lạ đứng cạnh nhau một cách ngẫu nhiên, lộn xộn tạo ra nhiều khoảng trống gây khó hiểu... Những đặc điểm trên của tập thơ cũng chính là ngữ pháp của giấc mơ... Trở lại với những bài thơ Em - Chị, có thể thấy được sơ đồ cảm hứng của tác giả: có sự ham muốn tình dục với một người lớn tuổi hơn, muốn cưới để thỏa mãn ham muốn này trong sự hợp thức hóa (Cây tam cúc), nhưng không được người nữ chấp nhận (Lá diêu bông, Quả vườn ổi) và cũng không được xã hội chấp nhận vì không hợp lẽ và nguy hiểm (Cỏ bồng thi), nên rơi vào tình trạng nước đôi, vừa yêu vừa ghét, vừa thương mến vừa hờn giận, vừa muốn quên vừa mong nhớ (Nước sông Thương). Đây cũng là cấu trúc cảm hứng của toàn bộ tập Về Kinh Bắc, rộng hơn toàn bộ sáng tác của Hoàng Cầm. Tình yêu của Hoàng Cầm với chị Vinh, một người chị lớn tuổi, không chỉ đơn giản là tình yêu trai gái thuần túy, mà còn là sự phóng chiếu của một mối phức tâm khác, mặc cảm Oedipe.”(3)

Đỗ Lai Thúy đã có những phát hiện mới lạ về thơ Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Gia Thiều, Hoàng Cầm…Tuy nhiên, phương pháp phê bình Phân Tâm Học không thể áp dụng cho mọi tác giả, mà chỉ có thể giúp khám phá con đường sáng tạo của những nhà thơ nhà văn mà thời thơ nhi họ không vượt qua được mặc cảm Oedipe, như trường hợp Hoàng Cầm ở trên. Dù sao, khi nhà phê bình nói những điều riêng tư như thế về một tác giả nào đó, sẽ có thể có những phản ứng không đồng thuận từ phía tác giả...GS Trần Đình Sử cho rằng:” Một tác phẩm văn học lớn tuyệt nhiên không phải vì nó biểu hiện được khát vọng tính dục của tác giả mà vì tầm tư tưởng xã hội và nhân văn sâu sắc của nó.”(4)

Nếu Phương Pháp phê Bình Marxist giúp tìm hiểu con người xã hội của tác giả và giá trị xã hội của văn chương thì phương pháp phê bình Phân Tâm Học giúp tìm hiểu con người vô thức của nhà văn, về sự tranh chấp giữa “cái Nó”, “cái Tôi” và “cái Siêu Tôi”, về sự thăng hoa của những ẩn ức, những mặc cảm tính dục thành nghệ thuật. Tuy nhiên, khi nhà phê bình đối diện với một tác phẩm mà không biết tác giả, vậy anh ta sẽ phải dùng phương pháp nào ? Chỉ có một cách là đối diện trực tiếp với văn bản tác phẩm, và sử dụng những phương pháp phê bình chỉ tập trung vào văn bản.

Hình Thức Luận Nga tìm kiếm tính văn chương của văn bản, đặc biệt là chức năng lạ hóa ngôn ngữ. Phương pháp của Phê Bình Mới Anh Mỹ tìm kiếm đâu là yếu tố chủ đạo trong việc hình thành ý nghĩa của một tác phẩm văn học.(5) Cấu Trúc Luận (structuralism) đưa cấu trúc văn bản vào vị trí trung tâm tạo nghĩa.(6) Giải Cấu Trúc (Deconstruction) phủ nhận sự tồn tại của một cấu trúc căn bản hằng định, bất biến. Văn bản là một hệ thống liên hệ giữa các ký hiệu ngôn ngữ, luôn luôn tồn tại một TRUNG TÂM (CENTER), được tạo nên từ ít nhất là một cặp đối lập nhị phân (binary oppositional pair). Việc đọc của một nhà phê bình Giải Cấu Trúc là một sự phản biện văn bản để làm bộc lộ những sự vô thức tiềm ẩn trong ngôn ngữ. Nhà phê bình giải cấu trúc thường tập trung vào một chi tiết nào đó của văn bản có vẻ như ngẫu nhiên, rồi dùng nó như một trục chính của toàn bộ văn bản và việc đọc sẽ được tiến hành thông qua phép so sánh và đối chiếu với trục văn bản đó…(7).

Ngày nay người ta đang nói nhiều về Hậu Hiện Đại. Việc đọc các tác phẩm Hậu Hiện Đại thật không dễ dàng , bởi thi pháp Hậu Hiện Đại phá vỡ cấu trúc truyền thống, thay vào đó là những mảnh vỡ, những ngẫu nhiên, những hoang tưởng (paranoia), những vòng luẩn quẩn (Vicious circles), sự diễu nhại (pastiche). Nhà văn hậu hiện đại gắng hết sức đập nát bốn yếu tố của tiểu thuyết là cốt chuyện, nhân vật, cảnh trí và đề tài, cốt chuyện bị nghiền nhỏ thành những biến cố và hoàn cảnh, nhân vật bị phân tán thành một bó của những khát vọng, cảnh trí chỉ mô tả sơ sài. Họ không thích sự liền mạch và kết thúc trong truyện thuyền thống, mà ưa chuộng phương thức đa kết, bằng cách ban cho một cốt chuyện rất nhiều hệ quả có thể có được. Tác giả có thể trực tiếp nói chuyện với độc giả, còn tự bước vào truyện như một nhân vật. Vài tác giả còn phá vỡ kết cấu văn bản, trong những khoảng trống, nhà văn ghép vào những trích dẫn, hình ảnh, biểu đồ, đồ thị, bản thiết kế… hoàn toàn không quan hệ gì đến câu chuyện. Có bản văn có màu khác nhau, chữ in đậm, in nghiêng, kiểu chữ Gothic, chữ viết tay, dấu ký âm, dấu nhấn giọng, và cả những thứ linh tinh những cột, những chú thích chen chúc bên cạnh những vết bẩn tách cà phê, dấu hoa thị…(8)…

Xin thử đọc
SINH TỒN- Văn Cầm Hải

Thuở nào xanh xao
mặt trăng má hồng hiện qua sông mây
cơn đẻ đã đến
kim loại nhành hoa
ngôn ngữ thơm máu thịt
rung rinh lưỡi chàng cuội
rì rào thắp sáng dương gian
trầm tư sinh khí
sữa trắng làm chiếc nôi cho tiếng khóc
bơi chập chững
nhiệm màu
thánh thót
tiếng khóc vạn kỷ
đêm rụng cánh đơm hoa
cho tay người xin thêm
mồi lửa.

Việc tiếp thu và vận dụng các lý thuyết phê bình vào thực tiễn phê bình một tác phẩm văn chương đòi hỏi nhà phê bình rất nhiều nỗ lực học tập và nghiên cứu. Đã có những thất bại.

Khi đọc một tác phẩm, trước tiên tôi tiếp cận trực tiếp với tác phẩm, không qua bất cứ một lăng kính nào, sau đó tôi lần theo ý thức sáng tạo, lý tưởng thẩm mỹ của tác giả, bởi ý thức này chi phối toàn bộ quá trình sáng tác của nhà văn. Rồi từ đó, phá vỡ cấu trúc tác phẩm, thâm nhập cho được thế giới nghệ thuật riêng của tác giả, để tìm những độc đáo, tìm “chất văn” trong ngòi bút của người viết. Sau cùng cố gắng vẽ cho được, ít ra là những nét phác thảo, chân dung phong cách nhà văn. Tất nhiên đọc tác phẩm là để thưởng thức cái hay cái đẹp của văn chương. GS Trần Đình Sử có kinh nghiệm này :“Tuy nhiên cho đến nay không có phương pháp phê bình văn học nào là vạn năng, mỗi phương pháp có phạm vi và vị trí riêng của nó”(đd). Tôi hiểu, nhà văn, nhà phê bình là người cũng đồng hành, cùng khám phá và sáng tạo.

Tháng 4.2011
________________________-
(1) http://dinhhatrieu.vnweblogs.com/post/11131/263017
(2) http://phanthanhvan.vnweblogs.com/post/8200/107738
(3) Đỗ Lai Thúy - Phê bình phân tâm học ở Việt Nam-Evan 2004
(4) Trần Đình Sử-Phê bình Phân Tâm Học và Đỗ Lai Thúy. http://tapchisonghuong.com.vn/index.php?main=newsdetail&pid=0&catid=7&ID=2905&shname=Phe-binh-phan-tam-h-c-va-Do-Lai-Thuy-1%20%20
(5) Nguyễn Hưng Quốc- Các lý thuyết phê bình văn học chính từ đầu thế kỷ 20 đến nay : http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=3778
(6) Nguyễn Minh Quân - http://hoangphongtuan.wordpress.com/2010/06/06/cac-ly-thuy%E1%BA%BFt-phe-binh-van-h%E1%BB%8Dc-c%E1%BA%A5u-truc-va-gi%E1%BA%A3i-c%E1%BA%A5u-truc-nguy%E1%BB%85n-minh-quan/
(7) Có thể đọc thêm Thụy Khuê phân tích bài Nguyệt Cầm bằng phê bình Cấu Trúc Luận bài của Nguyễn Văn Dân viết về Giải Cấu Trúc : Roland Barthes đã Giảu Cấu Trúc như thế đấy (http://www.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=1762:roland-barthes-a-qgii-cu-trucq-nh-th-y&catid=94:ly-lun-va-phe-binh-vn-hc&Itemid=135)
(8) Đông La- http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Suy-ngam/Chu_nghia_hau_hien_dai_va_anh_huong_o_nuoc_ta/


THÂN PHẬN NGHỆ SĨ

THÂN PHẬN NGHỆ SĨ
Bùi Công Thuấn

Năm nay kỷ niệm 10 năm ngày mất của Trịnh Công Sơn, người ta nói về ông khá ồn ào. Vẫn những tranh cãi về thái độ chính trị của TCS, đặc biệt là lời phát biểu của Trịnh ngày 30.04.1975 trên đài phát thanh Sàigòn. TCS là ai?

“Tôi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rất vui mừng và cảm động gặp và nói chuyện với tất cả các anh em văn nghệ sĩ ở miền nam Việt Nam này. Hôm nay là cái ngày mơ ước của tất cả chúng ta, đó là ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn tất cả đất nước Việt Nam này.

Cũng như những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được tất cả những kết quả đó.

Tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền nam Việt Nam (không rõ) hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam. Những kẻ đã ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước.

Chúng ta là người Việt Nam. Đất nước này đất nước Việt Nam. Chúng ta ở trên đất nước chúng ta.

...Xin chấm dứt. Và tôi xin hát một bài. Hiện tại ở trên đài thì không có đàn ghi-ta. Tôi xin hát lại cái bài “Nối vòng tay lớn”.(1)

Báo Thanh Niên tung lên loạt bài về những lá thư tình của Trịnh. Nhiều chương trình văn nghệ được thực hiện, nhiều ca sĩ có album hát nhạc Trịnh...Không biết TCS có vui không khi ông đã không còn ở cõi người? Tôi tin rằng, sau những thăng trầm, TCS hiểu rất rõ cuộc đời này, bởi vì Trịnh coi cõi đời này là cõi tạm, là ở trọ và muốn trở về, “thôi về đi, đường trần đâu có gì”.

Hoàng Xuân Sơn nói rằng, vào những năm 1980, TCS uống nhiều rượu :” TCS lúc này uống rượu nhiều, uống tợn, và trở nên nghiện rượu hạng nặng . Sáng sớm bảnh mắt chàng đã súc miệng bằng vodka sec. Và TCS cũng vẫn rít thuốc lá như điên, liều lượng có phần tăng thêm (người vẫn trung thành với Bastos xanh, cùng “gu” Gaulois/Gitane của Pháp). Rượu/ thuốc liên miên trường kỳ chắc hẳn đã gây nên tình trạng suy nhược trầm trọng cho đến cuối cuộc đời của anh (2)

Hãy trả lại cốt cách con người nghệ sĩ cho Trịnh. Trịnh là một cá thể trong một hoàn cảnh xã hội cụ thể . Trịnh có thể đúng, có thể sai, tùy theo góc nhìn của mỗi người, giống như đương thời người ta đã nhìn và đánh giá Nguyễn Du. Giá trị của người nghệ sĩ là ở chỗ TCS có để lại cho đời những tác phẩm nghệ thuật, làm giàu văn hóa nghệ thuật dân tộc không ? tác phẩm của ông có được công chúng yêu mến hay không. Và Trịnh có nói được tiếng nói của con người thời đại mình không (Tôi hiểu nghệ sĩ là người thương vay khóc mướn). Điều này thì đã rõ, nhạc Trịnh vẫn sống và hình như ngày càng sinh hóa mạnh mẽ hơn cả khi Trịnh còn sống.

Nhạc Trịnh đặc biệt hay khi được trình tấu bằng saxophone trong tiết tấu ngẫu hứng của Jazz. Các ca sĩ trẻ muốn khẳng định giọng ca của mình đều thử sức với nhạc Trịnh. Tuy nhiên, nếu nghe liên tiếp nhạc Trịnh trong một giờ đồng hồ, bạn sẽ cảm thấy đầu mình u ám và cằn cỗi, bởi những tư tưởng của Trịnh xám xịt, bế tắc “tiến thoái lưỡng nan” mặc dù Trịnh đã dùng một liều an thần rằng “tôi ơi đừng tuyệt vọng”.

Nhạc Trịnh đặc sắc ở giai điệu thuần Việt, không lai căng như nhạc trẻ bây giờ, cũng không “cải lương” như nhạc sến trước 1975 ở Sàigon. Những giai điệu đẹp kết hợp với ca từ đặc sắc, tạo nên thế giới nghệ thuật riêng của Trịnh. Trịnh đóng góp cho nghệ thuật dân tộc ở hai giá trị đặc sắc ấy : giai điệu thuần Việt và ca từ giàu chất thơ, thơ Ấn Tượng và Siêu Thực.

Xin nghe lại Diễm Xưa. Nhạc Trịnh gợi ra một không gian phi hiện thực, ta đã gặp đâu đó trong vô thức hay trong tiềm thức. Thế nhưng, giai điệu và lời ca lại chạm được vào sâu thẳm hồn ta, làm hiện ra những điều thật mơ hồ, nhưng cũng rất cụ thể. Đó là nỗi đau, đó là tình yêu thiên thần làm ta mê đắm, làm ta đi theo em mãi. Không gian mưa bỗng trở nên đẹp quyến rũ. Nhạc Trịnh dẫn ta đi mãi vào cõi riêng và mãi tới thiên thu. Không phải lạc vào cõi thần tiên hay cõi Thiền , mà là cõi người “hằn lên nỗi đau” nhưng cũng là cõi mà “ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”. Tiếng Việt trở nên đẹp kỳ diệu. Trịnh làm ta sững sờ về vẻ đẹp vừa mới lạ vừa cổ kính của tiếng Việt. Từ Văn Cao, đến Phạm Duy, Đoàn Chuẩn-Từ Linh và TCS, tiếng Việt ngày càng trở nên tinh tế, phong phú và có khả năng phi thường để diễn tả những tâm tư tình cảm con người Việt Nam.

Diễm Xưa
Mưa vẫn bay bay trên tầng tháp cổ
Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao
Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ
Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu

Mưa vẫn hay mưa trên hàng lá nhỏ
Buổi chiều ngồi ngóng những chuyến mưa qua
Trên bước chân em âm thầm lá đổ
Chợt hồn xanh buốt cho mình xót xa

Chiều nay còn mưa sao em không lại
Nhớ mãi trong cơn đau vùi
Làm sao có nhau hằn lên nỗi đau
Bước chân em xin về mau

Mưa vẫn hay mưa cho đời biến động
Làm sao em biết bia đá không đau
Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng
Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau

Mưa vẫn hay mưa cho đời biến động
Làm sao em nhớ những vết chim di
Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng
Để người phiêu lãng quên mình lãng du


Rồi đây, người ta sẽ còn nói đến nhạc Trịnh như nói đến truyện Kiều của Nguyễn Du. Không nên bận tâm đến con người xã hội của Trịnh , bởi tác giả đã chết, Roland Barthes đã nói vậy.
_______________________
(1) http://damau.org/archives/19337
(2) http://damau.org/archives/19354

PHẠM CÔNG THIỆN, người nhảy qua cái bóng của mình

PHẠM CÔNG THIỆN,
người muốn nhảy qua cái bóng của mình

Bùi Công Thuấn

Ngày 04 tháng 03 năm 2011 Gíao sư Phạm Công Thiện qua đời. Cáo Bạch của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Hoa Kỳ thông báo rằng :

Giáo sư Phạm Công Thiện, pháp danh Nguyên Tánh, sinh ngày 01 tháng 06 năm Tân Tỵ, 1941, tại Mỹ Tho Việt nam
- Tiến sĩ triết học tại đại học Sorbone , Pháp.
- Nguyên Giáo sư Triết Học tại Đại Học Toulouse, Pháp.
- Nguyên Khoa Trưởng Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn tại Đại Học Vạn Hạnh Sài gòn ; Giám đốc Soạn Thảo Chương Trình Giảng Dạy cho tất cả các Phân Khoa của Viện Đại Học Vạn Hạnh từ năm 1966-1970
- Nguyên Chủ Biên Tạp Chí Tư Tưởng của Viện Đại Học Vạn Hạnh Sàigon
- Nguyên Giáo Sư Phật Học tại các Học Viện, Cao Đẳng Phật Học tại Hoa Kỳ
- Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Hội Văn Hóa Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ, Văn phòng 2 Viện Hóa Đạo.

Cáo Bạch cũng nói đến “công đức lớn lao mà cố giáo sư Phạm Công Thiện đã đóng góp cho nền văn hóa giáo dục và hoằng pháp Phật Giáo Việt Nam trong cũng như ngoài nước suốt nửa thế kỷ qua”(1)

1.Hiện tượng Phạm Công Thiện những năm 1960-1970

Những ai từng là sinh viên ở miền Nam những năm 1960-1970 thì không thể không biết và không đọc Phạm Công Thiện. Hiện tượng PCT trở thành mốt thời thượng của người trẻ thời bấy giờ. Những cuốn sách Ý Thức Mới Trong Văn Nghệ và Triết Học, Hố Thẳm Tư tưởng, Im Lặng Hố Thẳm là sửng sốt người trẻ. Họ choáng vì khối lượng sách văn học và triết học thế giới mà PCT đọc và trích dẫn ghi chú tham khảo sau tác phẩm. Họ ngưỡng phục vì họ mù tịt trước những ngoại ngữ như tiếng Đức, tiếng Hán, tiếng Anh, tiếng Pháp, Tiếng Phạn, tiếng Hy Lạp mà PCT tỏ ra thông tuệ khi ông dẫn ra trong tác phẩm. Họ coi PCT là thần tượng vì họ có một “người hùng” thông kim bác cổ, người vứt tất cả thơ ca, tư tưởng nhân loại vào sọt rác, và đặc biệt là “người hùng” ấy đánh bại luận văn tiến sĩ của Giáo Sư Nguyễn Văn Trung lúc bấy giờ. Bởi sau bài viết của PCT, GS Nguyễn Văn Trung không hề lên tiếng. Người trẻ còn coi PCT như một mẫu người thời đại, vượt hơn tất cả, cao ngạo, quyết liệt, lật đổ, và tự do.

Do đâu có hiện tượng ấy ? Xã hội miền Nam những năm 1970 ngày càng thối nát và hỗn loạn. Chiến tranh trở nên khốc liệt và tuyệt vọng, nhất là sau biến cố Mậu Thân 1968. Người trẻ Sàigon không có lối nào để thoát. Tiếng hát phản chiến của Trịnh Công Sơn ru ngủ họ trong những quán cà phê. Hàng ngày họ chứng kiến nhiều quan tài đưa xác bạn bè từ chiến trường về. Họ cần có người dám “vượt” lên tất cả. Người ấy là PCT.

Thiện nói với Nh. Tay Ngàn :” tao vốn là một thằng kiêu ngạo và tao chẳng từng nói với mày rằng tao có thể làm bất cứ những gì mà con người đã có thể hay sẽ có thể làm được trên đời này? Shakespeare hay Goethe, Dante hay Heidegger, tao coi như những thằng hề ngu xuẩn. Tao có thể nói như thế được, vì ngày xưa tao đã từng tôn thờ những tên ấy như là những gì bất khả xâm phạm trên đời này. Ngay đến Héraclite, Parménide và Empédocle, bây giờ tao cũng xem thường, xem nhẹ; tao coi ba tên ấy như là ba tên thủ phạm của nền văn minh hiện nay; chưa nói đến Socrate, đó là một tên ngu dại nhất mà tao đã gặp trong đời sống tâm linh của tao.

Tao viết quyển Ý thức mới từ lúc 18 tuổi cho đến 22 tuổi. Bây giờ hiện nay tao vừa đúng 25 tuổi; mấy thời gian gần đây, tao thường nghĩ đến cái chết của tao. Tao thấy rằng nếu tao chết ngay bây giờ thì tao cũng chẳng hối tiếc một mảy may nào cả. Tao đã sống trọn vẹn với tao từng giây phút; tao đã khổ đến điên người, tao đã sướng đến run lên, tao có thể chết được ngay lúc này hay bất cứ lúc nào; đối với tao, thời gian chỉ là một hơi khói bốc lên hay một mùi thơm của con gái xông lên nồng ấm vào lúc ba giờ sáng; còn cái chết chỉ là sự sống bị lột truồng ra, như tao hay mày lột truồng con Nanou hay con Nicole tại xóm St. Denis ở cái thành phố Paris chó má này. “

Ở một phần khác trong Hố Thẳm Tư Tưởng, PCT viết:

…Còn Ivo Andritch và Erich Fromn, bây giờ tao thấy hai tên này hoàn toàn non nớt; còn về Somerset Maugham, André Gide, Fédérico Schmidt, Aldoux Huxley, Hemingway, Jean-René Huguenin, tao thấy chỉ nên liệng họ vào cầu tiêu công cộng…

…hôm sau tôi ngồi uống cà phê đen tại quán Flore và Les Deux Magots ở Saint Germain des Prés để ngửi cho tận cùng những thứ triết lý ba chục xu của Jean Paul Sartre và Simone de Beauvoir; khi ngồi uống cà phê ở Flore và nhìn mưa rơi trên đường phố Saint Germain des Prés, tôi đã thấy hết mọi lý luận rẻ tiền của triết lý hiện sinh, tôi muốn mửa máu đen trên những người làm văn nghệ ở Paris như Jean Paul Sartre, André Malraux, Simone de Beauvoir, François Mauriac, Michel Butor, Samuel Beckett, Ionesco, Nathalie Sarraute, André Breton, Jacques Prévert, Paul Eluard, Henry Michaux, René Char, Jean Genet, Roger Caillois.

… Còn về Jean Paul Sartre và Simone de Beauvoir, nếu họ muốn xin gặp tôi, tôi sẽ không cho gặp mà có lẽ sẽ chửi vào mặt họ…”

Những kiểu phát ngôn như thế đem đến sự khoái chá và sự êm dịu tinh thần cho người trẻ chẳng khác gì sự êm ái của thuốc phiện. PCT phơi ra một phong cách sống cao ngạo, đạp đổ và phóng đãng, để rồi có chết cũng không phải ân hận gì. Phong cách ấy dấu trong nó sự trống rỗng bi đát, hoàn toàn phù hợp với não trạng của người trẻ Sàigòn lúc bấy giờ. Người trẻ muốn nổi loạn, muốn đạp đổ. Nhưng bất lực, họ lao vào sống trác táng. Trong Ý Thức Mới Trong Văn Nghệ và Triết Học, PCT nói thẳng ra điều ấy :

” Chúng tôi, thế hệ thanh niên Việt Nam từ 15 đến 25 tuổi, muốn nói lên một sự thực đau buồn nhứt trong đời chúng tôi, sự thật bi đát ấy là: CHÚNG TÔI KHÔNG CÒN TIN TƯỞNG NƠI CÁC ÔNG NỮA. Đối

Các ông thường phàn nàn rằng chúng tôi là một thế hệ thối hoá, sống không biết ngày mai, không lý tưởng, trụy lạc, la cà rượu chè, hút thuốc, tục tằn, du côn, mất dạy, lấc xấc, ngang tàng, chỉ biết ăn chơi, non nớt, không làm gì ra hồn, đàng điếm, nhảy đầm, trác táng, hoang đàng, và một triệu hình dung từ khác.

Vâng, chúng tôi hãnh diện chấp nhận hết tất cả những hình dung từ trên. Và chúng tôi chỉ xin nở một nụ cười lễ độ và cúi đầu không biện hộ.

Các ông trách rằng chúng tôi sống không lý tưởng. Lý tưởng là gì? Lý tưởng là gì? Lý tưởng có phải là tranh đấu giữ gìn để cho các ông sống nốt cuộc đời tầm thường an phận của các ông? Mục đích của cuộc đời là Sống - Sống gì? Sống cuộc đời thực sự của mình. Cuộc đời thực sự không phải là cuộc đời của đám đông, của xã hội, của khuôn mòn lối cũ, của công thức tù hãm. Cuộc đời thực sự không phải là những phép tắc luân lý đạo đức. Cuộc đời thực sự không phải là những ông công an, những ông cảnh sát, những ông giáo sư trung học và đại học. Cuộc đời thực sự là chúng tôi là tuổi trẻ.

Chúng tôi không cần lý tưởng, vì lý tưởng là lý tưởng của các ông.

Lý tưởng (dù lý tưởng nào) đều là nhà tù để nhốt lại sức sống vỡ bờ của tuổi xuân; lý tưởng là ảo tưởng; sống không lý tưởng là sống trọn vẹn, là lao mình vào cuộc đời với trọn sự hồn nhiên bỡ ngỡ của mình.

Con người hồn nhiên là không có lý tưởng.

Đối với tuổi trẻ, đối với sự khủng hoảng hiện nay, chỉ có những lối thoát sau đây:
1. Lao vào đời sống và tự tạo trách nhiệm;
2. Tự tử;
3. Lao vào truy lạc trác táng;
4. Điên;
5. Đi tu.
…, tôi muốn tự tử cho xong đời, vì quá buồn cho tuổi trẻ Việt Nam, vì dường như tuổi trẻ Việt Nam bây giờ chỉ sống với những tuyên bố, tuyên ngôn, khẩu hiệu. Đám đông đã đem chiến tranh đến Việt Nam và cũng lại đám đông đứng lên tuyên bố về hoà bình ở Việt Nam.”

2. Chúng ta đã biết gì về Phạm Công Thiện?

Nhà phê bình Đặng Tiến kể một kỷ niệm với PCT:”
“Thiện với tôi, duyên nợ vẫn tiếp tục : tôi ra nước ngoài, làm ngoại giao tại Thụy Sĩ, khoảng 1967. Một hôm đi làm về thì thấy Thiện ôm ba lô ngồi trước cửa. Thiện ở chơi dăm ba hôm gì đó, thường uống rượu say, rồi vác ba lô lên đường. Vài ba năm sau, tôi gặp lại anh tại Paris. Anh tá túc tại nhà in của Thi Vũ, chơi thân với họa sĩ Vĩnh Ấn. Thiện sống lang bang vất vả, có đọc cho tôi nghe bài thơ về cảnh chợ trời Montreuil :

Thân anh như con chó
Đứng đợi giữa chợ chiều
Một chiều em qua đó
Con chó đứng nhìn theo.

Dường như thời đó, anh sống nhờ vào giúp đỡ của nhà văn Henry Miller gửi từ California.Sau đó cưới vợ, sang Đức, rồi trở lại Paris. Thỉnh thoảng anh đến tìm tôi, chiều thứ hai sau giờ tôi dạy học để cùng đi uống bia tại công trường Contrescarpe, khu Censier, nhìn những con chim đến đậu trên giây thép hay những cành trụi lá. Có hôm anh hỏi xin tôi bao thuốc lá. Tôi bảo « vậy tao mua cho mày cả tút » (cartouche). Thiện trả lời « vậy mày đưa tiền ấy cho tao mua sữa cho con ». Thời điểm này anh vợ con nheo nhóc, không giới hạn sinh đẻ vì theo…quy luật thiên nhiên.”

Ông kết luận về PCT:” trước những tác phẩm dồi dào, người đọc khó nói đến một « sự nghiệp » Phạm Công Thiện hay một Phạm Công Thiện « triết gia » vì tư tưởng không thành hệ thống. Cuộc đời bồng bềnh của Thiện cũng góp phần soi sáng điều này, như « đi cho hết đêm hoang liêu trên mặt đất ».... Chỉ nên dành cho Thiện một kỷ niệm, chút tình cảm, và niềm suy nghĩ, vậy là đủ.”(2)

Đặng Tiến có nhận xét này tôi nghĩ rằng ông có cơ sở :” khó nói đến một « sự nghiệp » Phạm Công Thiện hay một Phạm Công Thiện « triết gia » vì tư tưởng không thành hệ thống” .

Đúng là như vậy. Những gì PCT viết về triết học chỉ là ở dạng tùy bút đầy cảm tính chủ quan. Ông muốn phủ định tất cả, muốn vượt qua tất cả, nhưng ông không có một hệ thống tư tưởng của riêng mình vượt qua những triết gia của nhân loại. Ông to tiếng nói rằng: “tôi khinh bỉ tất cả thiền sư; tôi khinh bỉ tất cả triết lý hiện sinh “, nhưng ông lại sống Hiện Sinh, và bám víu vào Thiền. Mặt Trời Không Bao Giờ Có Thực là suy tư hiện sinh của một cái Tôi đi tìm chính tôi, cái tôi đối diện với “nắm cỏ khâu”, cái tôi hiện sinh hướng về cái chết :

” Ừ, tôi đang nhai cỏ khâu, một đám cỏ khâu, “trăm năm còn có già đâu…” .
(Chỗ này hoặc PCT nhầm, cũng có thể ông diễu nhại câu thơ của Nguyễn Gia Thiều trong Cung Oán Ngâm Khúc :”Trăm năm còn có gì đâu/Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì”, dù sao PCT cũng bộ lộ suy tư về cái chết )

Đừng bao giờ tìm ý nghĩa của cuộc đời; cuộc đời không bao giờ có ý nghĩa. Không ai có thể hiểu được bất cứ cái gì trên đời này”.

PCT sống trong trạng thái hoang tưởng :” Tôi đang sống ở nhà thương điên? Có gì bảo đảm rằng tôi không điên? Tất cả những gì xảy ra chung quanh tôi đều do trí óc điên loạn của tôi tạo ra? Có gì bảo đảm rằng tôi vẫn là người bình thường? Có gì bảo đảm rằng tôi đang sống? Tôi đã chết?
Tôi muốn phá vỡ nhà mồ, tôi thấy mình mọc nanh ở hai khoé miệng, tôi đeo năm mươi sọ người trên cổ, tôi trở thành con quỷ của thế kỷ XX: tôi mọc đuôi, tôi mọc móng, tôi mọc gai, tôi mọc lông, hai nanh miệng mọc dài và nhọn, tôi là một con quỷ có cánh, tôi bay xuống nghĩa địa, tôi nhảy từ ngôi mộ này qua ngôi mộ kia. Tôi cám dỗ tất cả thần thánh; tôi phá nhà thờ, điện thờ, đình chùa. Tôi phá trinh tất cả những gì trong sạch và thuần khiết; tôi cười ra lửa và khóc ra máu, tôi hét ra sắt, tôi nói ra thép, tôi kêu ra đá.

Tôi điên. Tôi không điên. Tôi, tôi. Chữ tôi làm tôi nghẹn; chữ tôi làm tôi mệt; chữ tôi làm tôi đau: tôi, tôi, tôi!

PCT Thú nhận điều này :
” Một tuần qua, nhất là trong ba ngày qua, tôi bị khủng hoảng dữ dội, tôi không còn biết gì nữa, tôi bước đi hoang vu chới với trong sự trống không của đời sống; hoả ngục: tôi nghiến răng chịu đựng, giây thần kinh căng lên đến độ cuối, tôi tưởng thần kinh sắp đứt và bắn máu đầu tôi ra mũi; tôi chạy trốn tôi, tôi chạy tới lui, quanh quẩn, như một con chuột đói; đau đớn nhất là tôi chạy trốn và biết rõ rằng mình đang chạy trốn mình. Chạy đâu? Tôi muốn nhảy vào thế giới xa lạ của sự chết. Chẳng biết tôi chịu đựng đến lúc nào? Tất cả lối đi đều mất rồi. Tôi đứng nhìn thẳng vào đám mây trắng trong nửa giờ.”Đọc đoạn văn này, người đọc nhận ra ngay tư tưởng Hiện Sinh trong truyện ngắn Một Dụ Ngôn Nho Nhỏ của F. Kafka

PCT mượn tứ thơ trong bài Ngôn Hoài của Thiền Sư Không Lộ để nói về Hố Thắm :” Tư tưởng của Việt Nam là tư tưởng của Việt và Tính; nguồn gốc của Việt và Tính bắt đầu từ Trung Hoa, Ấn độ và Hy lạp; thế kỷ XX là thế kỷ tựu thành của Việt và Tính; sự tựu thành ấy chính là hố thẳm: tiếng nói của hố thẳm là tiếng nói trên đỉnh núi chót vót (hữu thì trực thượng cô phong đỉnh, trường khiếu nhất thanh hàn thái hư); tiếng nói ấy, tiếng kêu trầm thống ấy làm lạnh buốt cả bầu trời và xoáy vòng cuộn tròn xuống hố thẳm, xuống niềm im lặng của hố thẳm mà người xưa gọi là “uyên mặc”.(Im Lặng Hố Thẳm)

PCT gọi hai câu thơ :“hữu thì trực thượng cô phong đỉnh, trường khiếu nhất thanh hàn thái hư“ là“tiếng kêu trầm thống làm lạnh buốt cả bầu trời và xoáy vòng cuộn tròn xuống hố thắm” . Tôi ngờ rằng PCT chưa đọc được thơ vô ngôn của Thiền. PCT hiểu hai câu ấy theo nghĩa tường minh của ngôn từ. Thực ra đó chỉ là một loại “tiếng kêu” của người lúc ngộ Thiền.

PCT theo Thiền nhưng mới chỉ ở mức độ “phá phách, lật đổ”, chưa hẳn là Phá Niệm, chưa bao giờ đạt tới Phá Chấp, Phá Ngã để Đốn Ngộ! PCT nói với Nh. Tay Ngàn :” tao muốn chửi thề với tất cả lý tưởng: tao chỉ muốn phá hoại và chỉ muốn phá hoại;”.

Tất cả những gì PCT viết ra có là thực tâm viết, để đem đến cho người đọc những tri thức đáng tin cậy, giúp người đọc nhận thức được những giá trị của tư tưởng, của nghệ thuật không? Tôi buộc phải hoài nghi những điều như thế khi nghe PCT nói với Nh. Tay Ngàn : “Tao là một thằng mâu thuẫn cùng cực; muốn nói chuyện với tao thì đừng lý luận, vì tao có thể lý luận xuôi hay ngược gì cũng được. Chẳng hạn như mới hôm qua tao chửi André Gide, tao mắng Jean Paul Sartre nhưng ngày mai mày sẽ thấy tao ca tụng Gide đến tận mây xanh hay tỏ vẻ nồng nàn với Sartre. Tại sao tao không có quyền mâu thuẫn với tao”. Hóa ra đó chỉ là sự tráo trở. Chân lý ở phía ông, xuôi ngược gì cũng được. Thành ra những gì PCT viết, trình diễn ra bên ngoài, không phải là con người thực của ông, không phải ông thực tâm muốn nói với mọi người với tư cách một trí thức uyên bác hay một Thiền sư đã an trú được Tâm, Nó chỉ là giả, bộ mặt giả, che dấu con người thật của ông. Tôi hiểu tại sao GS Nguyễn Văn Trung lại im lặng không đối thoại với PCT.

Ngày nay bạn đọc có thể thấy rõ những “nhận định” tư tưởng của ông có giá trị như thế nào.

PCT viết :
” Văn nghệ đã chết
Thi ca đã chết.
Thơ đã chết.
Tư Tưởng đã chết.
Heidegger đang tự đào mộ để tự chôn.
Arthur Rimbaud cũng đã chết.
Henry Miller thấy rằng Arthur Rimbaud đã đầu thai trong tôi.
Tôi giựt mình và nói: “Tôi sẽ giết ông”.
Tôi đòi giết luôn cả Henry Miller. …

…” Về Henry Miller, tao muốn nói lên lời tiên tri tối hậu, từ năm chục năm nữa trở đi thì Henry Miller sẽ ảnh hưởng dữ dội đến nhân loại còn hơn Jesus Christ ảnh hưởng đến Tây phương hay Phật Thích Ca ảnh hưởng đến Đông phương. Lời tiên tri của tao như lửa đánh vào máu; tao mong mày sống dai và sẽ thấy những gì tao báo trước hôm nay. “

Có lẽ không cần phải bình luận gì thêm về giá trị những gì PCT viết, bởi đúng 50 năm sau PCT nói những lời tiên tri trên, Thi ca, Tư tưởng đâu có chết, PCT cũng chẳng giết được Henry Miller, và Henry Miller đến giờ, cũng chỉ là kẻ tầm thường trước Phật hay Jesus Christ , như mọi người tầm thường khác.

3. Có phải PCT là nhà thơ nhà văn tài hoa, một nhà tùy bút xuất sắc ?

Thơ PCT không có gì đặc sắc. Ngày Sinh Của Rắn lặp lại những ý tứ PCT viết trong Hố Thẳm Tư Tưởng và Im Lặng Hố Thẳm, chỉ có thêm tình yêu, nỗi nhớ với người con gái thê Quết Hương. Đôi chỗ PCT sử dụng hình ảnh ẩn dụ và có được vài hình ảnh lạ. Giọng thơ PCT hiền hơn Văn, thật hơn Văn. Thơ PCT không có tư tưởng cũng không có gì gọi là cách tân nghệ thuật, cũng không để lại ấn tượng gì nếu đặt cạnh thơ Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng và Phạm Thiên Thư

Xin đọc một đọan trong Ngày Sinh Của Rắn
(Lưu ý, PCT sinh năm con rắn Tân Tỵ)

IV
trời mưa New York cây mọc
nhớ Hương trời mưa ngày tháng
nhớ Hương đường hoang mái vắng
New York chỉ còn Hương trong giấc ngủ
tim anh tràn máu
con chim đã bay về rừng đạn
anh không còn làm tu sĩ
anh chỉ còn Hương trong giấc ngủ
anh chỉ còn máu để đổ vào tim Hương
đổ vào tám tách cà phê đen
anh uống mỗi đêm
tại Greenwich Village
tại làng Thi Sĩ
tại đường khói bay
tại Hương trong giấc ngủ
tại chiều ba mươi tết ở Việt Nam
bây giờ anh xa, Hương đến
mấy đại dương xanh
mấy phương trời cỏ mọc
mấy phương trời Hương khóc
Hương còn ca hát
Hương còn phơi áo giữa phố buồn
Hương còn cười
mười năm rồi cây quế
vẫn mọc trên đời anh
trên mắt anh
môi anh
trên bước chân buồn phố mẹ ngày xưa
trên bước chân chiều phố lạ hôm nay
mưa làm tóc anh thơm
mùi cây quế
giữa hồ
mọc giữa hồ Quế Hương
tóc anh mọc dài
che chở Hương
lúc mưa rơi
lúc đông lạnh
lúc chim chiều đi mất
mưa trên phố đêm
trên quán cà phê Italia
trên chiến tranh
của quê hương
của Quế Hương
còn anh…

Những bài thơ PCT làm về sau này cũng làng nhàng như thế.
VÔ ĐỀ

Bôn ba ngoài vạn dặm
Cũng chỉ một trăng rằm
Bao nhiêu là hố thẳm
Xoáy về nốt ruồi đậm
TẾT XƯA
Lơ lửng bông mồng gà
Chiều ba mươi tết ta
Tôi ôm gà tre nhỏ
Chạy trốn tuổi thơ qua

PCT nói về thơ của mình như thế này : “tao thù ghét tất cả thi sĩ; thỉnh thoảng tao chỉ làm thơ để tán gái. Hoặc làm thơ để nhớ rằng Rimbaud đã chết”

Văn của PCT có khí sắc hơn, gây được ấn tượng hơn. Nguyễn Hưng Quốc nhận xét :” Phạm Công Thiện có một cái tài đặc biệt rất hiếm người có là ông có thể làm cho độc giả đọc ông một cách thích thú, say mê và thán phục mặc dù, khi gấp sách lại, người ta hoàn toàn không hiểu là ông nói cái gì cả. Bởi vậy, mặc dù tác phẩm của ông nổi tiếng là khó hiểu, ông vẫn có một lượng độc giả khá lớn, khá trung thành, và đôi khi khá bình dân. Nói như thế cũng có nghĩa là nói thế mạnh đầu tiên và nổi bật nhất của Phạm Công Thiện chính là ở khả năng diễn đạt, hay nói cách khác, ở giọng văn của ông. Đó là một giọng văn có sức hấp dẫn lạ lùng, một giọng văn vừa uyên bác vừa sôi nổi, vừa rất trí tuệ và lại rất giàu chất thơ.”(3)

Tuy nhiên tôi ngờ ngợ về nhận định này của Nguyễn Hưng Quốc : “Trùng trùng ẩn dụ trong từng trang viết của Phạm Công Thiện. Điều đó làm cho hầu hết các bài viết văn xuôi của Phạm Công Thiện đều trở thành những bài tuỳ bút. Tôi nghĩ, rất nhiều tác phẩm triết lý của Phạm Công Thiện sẽ trở thành dễ hiểu và tuyệt vời vô cùng nếu chúng được đọc như những bài tuỳ bút… Giọng văn của ông thật phóng khoáng, thật độc đáo và thật đẹp. Từ bài văn ấy, đọc lại các tác phẩm khác của Phạm Công Thiện, tôi phát hiện ra một điều khá bất ngờ, hình như chưa ai nói đến: không chừng Phạm Công Thiện là một trong những nhà tuỳ bút xuất sắc của Việt Nam.”Tôi ngờ ngợ vì đặc trưng thể loại tùy bút không phải là ở việc sử dụng tu từ ẩn dụ như Nguyễn Hưng Quốc nhận định. Cũng vậy, giọng văn không hẳn đã là đặc trưng của thể loại tùy bút. Nếu nhờ giọng văn phóng khoáng mà PCT trở thành một nhà tùy bút xuất sắc thì tôi e rằng đó sẽ là một lời khen hơi lạc đề.

Văn PCT có những đặc điểm gì?
Tôi đồng ý rằng Mặt Trời Không Bao Giờ Có Thực, Hố Thẳm Tư Tưởng, Im Lặng Hố Thẳm là những tác phẩm có chất tùy bút, bởi nhân vật chính là cái tôi tác giả, cái tôi ấy viết hoàn toàn ngẫu hứng, và thoải mái phóng ra mọi cảm xúc, suy nghĩ, thể hiện bằng mọi kiểu giọng điệu.

Xin đọc:

“Bây giờ, hiện tại, nơi đây, tôi đang nhìn. Tôi vừa đi xuống cầu tiêu của quán cà phê Dôme; bước vào nhà cầu, vừa đóng cửa lại, tôi liền nhìn thấy một trăm ngàn người trước tôi cũng đã bước vào nhà cầu này và đóng cửa lại; họ cũng cởi quần ra và ngồi xuống, rồi cũng nhìn vào chỗ trống không của bóng tối. Họ cũng nhìn. Tôi cũng nhìn và tôi thấy: trên vách tường nhà cầu có người viết câu như vầy: “Kẻ nào đã xây cất cầu tiêu này với bàn tay mình thì kẻ ấy đã phụng sự cho loài người hơn là De Gaulle đã phụng sự cho nước Pháp”.

Tôi nhìn thấy câu trên, rồi tôi nhìn thấy tất cả những quyển sách dày cộm của Platon, Aristote, Spinoza, Jaspers, Heidegger v.v., chỉ là những lời chú thích dài dòng cho câu văn cô đọng hàm súc trên; một câu văn viết trên cầu tiêu không phải là một câu văn; nó là một vết máu xuất phát từ đầu óc một người vô danh khi người ấy ngồi trong bóng tối của nhà cầu để lọc sạch thần trí và thể xác; người ấy không có tham vọng, người ấy không sắp đặt chuẩn bị; ngồi một mình trong bóng tối và nhìn vào sự trống không của tư tưởng và nhà cầu; dùng một tiếng sét, người ấy bỗng nhìn thấy máu đầu té ra thành mực than đen trên vách tường để biến thành câu sấm theo dòng Héraclite:

“Kẻ nào đã xây cất cầu tiêu này với bàn tay mình thì kẻ ấy đã phụng sự cho loài người hơn là De Gaulle đã phụng sự cho nước Pháp”.

Câu ngẫu hứng trên là một cho Tất Cả. Là Chân Lý huyền nghĩa, là Tiếng Gọi của Tính (“Ev Pánta”). “

Đoạn văn sau đây mang được đặc trưng văn phong PCT, trong đó hình ảnh ẩn dụ của văn chương (kiểu Trang Tử) được dùng dày đặc, kết hợp với từ Hán Việt và những liên tưởng trùng trùng lớp lớp, từ nhân vật này đến đến nhân vật khác, để phóng ra những nhận định. Có khi cả một chương, PCT mở đầu chương rồi liên tưởng lan man đủ kiểu rồi mới trở lại chủ đề .
“Thiền Sư Không Lộ ở thời Lý của quê hương một lần kia cô đơn bước lên tận một đỉnh núi chót vót và sực kêu lên một tiếng bơ vơ làm lạnh cả bầu trời xanh lơ đầy mây trắng; dưới kia là hố thẳm hoang sơ, hố thẳm của quê hương, niềm câm lặng của hố thẳm bỗng vọng lên Tính và Việt : triết lý của Việt Nam ra đời, vỗ cánh bay lên như phượng hoàng để rồi mười năm sau hóa thân làm rồng bay vút trời nhân loại. Máu lửa của quê hương làm hôn phối cho núi cao và hố thẳm. Trong một bài thơ đầu tiên trong đời, Nietzsche đã nói đến “hố thẳm của hiện thể”: “Des Daseins Abgrund” (An die Melancholie, 1871). Hiện thể của Nietzsche là hiện thể của Tây phương; hiện thể của Tây phương dính liền với hiện thể của Việt Nam, nhất là từ hạ bán thế kỷ XX; Việt và Tính là Việt của Việt Nam và Tính của Tính mệnh. Tư tưởng của Việt Nam là tư tưởng của Việt và Tính; nguồn gốc của Việt và Tính bắt đầu từ Trung Hoa, Ấn độ và Hy lạp; thế kỷ XX là thế kỷ tựu thành của Việt và Tính; sự tựu thành ấy chính là hố thẳm: tiếng nói của hố thẳm là tiếng nói trên đỉnh núi chót vót (hữu thì trực thượng cô phong đỉnh, trường khiếu nhất thanh hàn thái hư); tiếng nói ấy, tiếng kêu trầm thống ấy làm lạnh buốt cả bầu trời và xoáy vòng cuộn tròn xuống hố thẳm, xuống niềm im lặng của hố thẳm mà người xưa gọi là “uyên mặc”. (Im Lặng Hố Thẳm)

Về diễn đạt, PCT sử dụng kiểu chơi chữ

“Những câu hỏi trên sẽ là khởi điểm cho cuộc song thoại giữa tư tưởng Á Đông và tư tưởng Âu châu và nước Việt Nam là mảnh đất hiện nay có đủ tính kiện để cho cuộc song thoại trên được tựu thành. Tựu thành là gì?

Đối thoại tựu thành song thoại.
Song thoại tựu thành độc thoại.
Độc thoại tựu thành vô thoại.
Vô thoại tựu thành vô ngôn.
Vô ngôn tựu thành nguyên ngôn.
Nguyên ngôn tựu thành nguyên tính.
Nguyên tính tựu thành tính.
Tính tựu thành vô tính
Vô tính tựu thành không.
Không tựu thành Huyền.
Huyền tựu thành tự tính.

Tôi đã đùa chữ; nhưng đùa chữ là hoạt dụng của tự tính, gọi là hoạt dụng của Thiền. “

Nói cho đúng , sự khó hiểu trong văn của PCT xuất phát từ việc PCT sử dụng cách nói của kinh Kim Cang. Nói vậy không phải là vậy, mà chính là vậy. Kinh Kim Cang viết :”gọi là thuyết pháp là thật không có pháp gì để thuyết, như thế mới được gọi là thuyết pháp” (Vô pháp khả thuyết thị danh thuyết pháp). “ý tưởng về ngã thì Như Lai nói phi ý tưởng ngã nhưng người tầm thường thì bảo là ngã. Trưởng lão Thiện hiện, người tầm thường ấy Như lai nói là phi người tầm thường”. Cách nói này làm cho người đọc mắc vào nhị nguyên Có-Không. Chỉ khi vượt qua nhị nguyên, xả bỏ cái Tâm Sai Biệt mới có thể lĩnh hội được.

“Bất cứ kẻ nào muốn phá hủy tư tưởng Heidegger thì cũng không thể nhảy qua được chính bóng hắn. Như thế nền tảng của sự phá hủy cũng có nghĩa là sự phá hủy chính nền tảng ấy; ở đây không phải là “chơi chữ”, việc “chơi chữ” tất nhiên không phải là sự việc chính yếu của tư tưởng: câu vừa rồi chỉ muốn diễn tả ý nghĩa trừu tượng sau đây: căn thể của hư vô có nghĩa là hư vô của chính căn thể ấy”

PCT có lối viết phóng bút như thế này, kiểu viết ngẫu hứng của Tùy Bút

“Sau Hàn Mặc Tử ngôn ngữ Việt Nam vỗ cánh run rẩy sương mai trong rừng đông bàng bạc.

Trong thế giới vô hình, Rimbaud, Leopardi, Keats và Hoelderlin đều gặp nhau; khi bốn thi sĩ gặp nhau, họ đều thì thầm bàn tán nhau về con chim phượng hoàng ở trời Đâu Suất. Bỗng nhiên từ cõi vô hình một hoả diệm sơn của Thiên Thanh vụt nổ bùng lên, chấn động cả từng tượng thanh khí: Rimbaud, Leopardi, Keats và Hoelderlin hốt hoảng kinh hồn: bốn thi sĩ run lẩy bẩy, “run như hơi thở chạm tơ vàng” vì Hàn Mặc Tử vụt hiện trên ngọn núi lửa và mỉm cười đưa tay rắc máu xuống Hố Thẳm của Việt Nam; lúc bây giờ Leopardi, Rimbaud, Keats và Hoelderlin liền quì xuống cúi lạy những giọt máu cô liêu của thi ca Á Đông.

Hàn Mặc Tử vỗ cánh phượng hoàng và bay xuống đậu giữa Thiên Thanh, Rimbaud và Hoelderlin đứng dậy chắp tay, đứng về phía trái; Keats và Leopardi đứng dậy chắp tay, đứng về phía mặt; Hàn Mặc Tử bay xà xuống đậu ngay chính giữa; ngay lúc ấy, lập tức hai Thi Sĩ bên trái và hai Thi Sĩ bên mặt quì xuống lạy ba triệu lạy; khi bốn Thi Sĩ lạy xong và ngước mặt lên thì Hàn Mặc Tử đã vụt biến mất và hoả diệm sơn biến thành một quả trứng phượng hoàng khổng lồ: quả trứng phượng hoàng cô liêu xoay tròn năm vòng và thu hình nhỏ lại thành trái đất; từ ấy, trái đất liên tục xoay tròn giữa vũ trụ vô biên và con người không còn làm thơ nữa. “

Viết như thế gọi là tài hoa cũng được (cái tài hoa của Trang Tử trong Nam Hoa Kinh), nhưng cách viết như thế chỉ là một kiểu múa bút ở chỗ không người.

4. Hành trình nhảy qua cái bóng của chính mình

Lần tái bản lần thứ tư Ý Thức Mới Trong Văn Nghệ và Triết Học, PCT nhìn lại và hoạch định đời mình như sau:

“Tai nạn lớn lao nhất trong đời tôi là phải chịu đoạ đầy làm thần đồng lúc còn thơ dại, rồi lúc lớn lên làm thanh niên thì phải chịu đoạ đầy làm thiên tài.

Bây giờ gần 30 tuổi thì tôi lại xuống núi (chứ không phải lên núi như Zarathustra) để làm nước chảy ồn ào trong những lỗ cống của cuộc đời.

Thực ra còn đến hai tháng nữa, tôi mới đúng 29 tuổi. Tôi cho phép tôi làm nước chảy trong cống rãnh trong thời gian một năm nữa thôi, từ 29 tuổi đến 30 tuổi.

Từ 30 tuổi trở đi cho đến 40 tuổi thì tôi sẽ không là tôi nữa. Đó là điều bí mật chỉ có tôi mới biết rõ vì sao tôi sẽ không là tôi nữa.

Từ 40 tuổi cho đến 50 tuổi, hư vô sẽ thổi trên mặt đất.

Từ 50 tuổi cho đến 60 tuổi thì kỷ nguyên Tây lịch đã tới năm 2000.

Từ 60 tuổi cho đến 70 tuổi thì trái đất sẽ rất nhiều chim, những con chim biết nói tiếng Phạn.

Từ 70 tuổi cho đến 80 tuổi thì núi Hy mã lạp sơn sẽ sụp đổ và chảy tan thành một đại dương mới.

Từ 80 tuổi cho đến 90 thì Thái Bình Dương sẽ trở thành nấm mồ chôn hết lục địa.

Từ 90 tuổi cho đến 100 thì mặt trời trở thành mặt trăng và mặt trăng trở thành địa cầu mới. “

Những hoạch định ấy được viết bằng ngôn ngữ ngẫu hứng, có hình ảnh của thơ, đúng phong cách PCT, song nó vô nghĩa, bởi trong thực tiễn đã không có điều nào đúng như ông đã dự cảm.

Chẳng hạn, câu “Từ 50 tuổi cho đến 60 tuổi thì kỷ nguyên Tây lịch đã tới năm 2000.” Đó chỉ là một câu thông tin không có thông tin, nó bộc lộ sự trống rỗng trong tâm thức PCT. Ông dự cảm rằng :” Từ 60 tuổi cho đến 70 tuổi thì trái đất sẽ rất nhiều chim, những con chim biết nói tiếng Phạn. “ tức là những năm từ 2001 đến 2011, trái đất sẽ hòa bình trong tinh thần của Phật (đất lành chim đậu, rất nhiều chim là đất rất an lành. Ở Việt Nam nói đến chữ Phạn người ta liên tưởng đến kinh Phật) . Nhìn vào thực tại thế giới 10 năm qua (2001-2011) thế giới có bao nhiêu biến động, gần nhất là động đất ở Nhật, trong không khí đã đầy bụi phóng xạ, đất nào an lành cho chim ? Cứ theo PCT tiên tri thì từ 2011 đến 2021 sẽ có đại hồng thủy “Thái Bình Dương sẽ trở thành nấm mồ chôn hết lục địa.”?! và sau hồng thủy , từ 2021 đến 2031 sẽ là một thế giới mới. Có lẽ chẳng ai ngây thơ để tin những lời ngẫu hứng thi sĩ như thế, bởi PCT không phải là nhà tiên tri.

PCT trích một câu của của Heidegger, và cho rằng đó là “ một câu làm nền tảng cho mọi cuộc phá hủy trên đời này…”

“Không ai có thể nhảy qua chính bóng mình”.
(Keiner springt über seinen Schatten).

PCT đã thực hiện nhiều “cú nhảy” trong hành trình cuộc đời của mình , nhưng ông có vượt qua được cái bóng của mình không ?

Năm 1963 (22 tuổi) PCT đến PHV Hải Đức Nha Trang cầu pháp với Hòa thượng Thích Trí Thủ, Giám Viện khi ấy, và được Hòa Thượng ban pháp danh là Nguyên Tánh. Đó là “cú nhảy” thứ nhất từ Thiên Chúa Giáo sang Phật Giáo. Về mặt tâm linh, PCT không có lời giải thích nào về hành động này. Vậy ý nghĩa của nó là gì? Tại sao ở tuổi 22 PCT lại vào nương nhờ cửa chùa? Thời ấy nếu không là sinh viên đang học và được lên lớp, anh sẽ bị bắt quân dịch ngay. PCT không có bằng Tú Tài, chưa từng học Đại Học. Có lẽ cửa chùa là nơi an toàn nhất cho Thiện núp nhờ ?

Năm 1970 PCT sang Pháp, rồi sang Đức, trở về Paris. Tại sao PCT đang dạy ở Đại Học Vạn Hạnh lại bỏ sang Pháp? Trong khi bạn bè ông đang chết ngoài chiến trường ? “Cú nhảy” này có ý nghĩa gì? Ông trả lời phỏng vấn về việc rời bỏ quê hương:” đối với tôi danh từ quê hương chẳng có ý nghĩa gì cả, tôi chỉ biết rằng nơi tôi được sinh ra đời chỉ là nơi tôi đã trải qua những bi kịch đau đớn thảm khốc nhất trong một kiếp người; tôi hận thù Việt Nam, tôi kinh tởm Việt Nam, tôi muốn bôi xoá hai chữ Việt Nam trong tim tôi và óc tôi.”
Như vậy là đã rõ. Từ “cú nhảy” này, Thiện “nhảy “tiếp bước nữa : Tại Pháp, 1971, PCT ông cởi áo cà sa, lấy vợ, sống nheo nhóc với vợ và 5 con. Theo Đặng Tiến, cuộc sống của PCT có “cải thiện khi anh tìm được chỗ dạy học tại Đại Học Toulouse, môn Triết học… Tây Phương.”. ”Cú nhảy” thứ ba này đã làm rõ ý nghĩa “cú nhảy” thứ hai và thứ nhất. Suốt thời gian ông sống ở châu Âu ( 1970 đến 1983) không ai rõ. Năm 1983, PCT được Hòa thượng Thích Mãn Giác (trụ trì chùa Việt Nam ở Los Angeles) bảo lãnh sang Mỹ . Ông lại bỏ vợ con để nương nhờ cửa Phật. Và ông đã đi hết hành trình cuộc đời của mình. Những “cú nhảy” như thế có ý nghĩa gì ? PCT bỏ hết những “cái bóng” của quá khứ chăng, phải chăng PCT đã “ngộ” ra đời mình, những vinh nhục đã qua chỉ là những ảo ảnh, những cái bóng vô nghĩa? Không có lời giải thích nào cả.

Những tưởng với tri thức uyên bác, với sự đạp đổ tất cả, và “giết” tất cả, kể cả Henry Liller là người ông tôn sùng, PCT sẽ trở thành một triết gia vĩ đại của Việt Nam và thế giới, triết học của PCT sẽ thay thế Heidegger, sẽ vượt qua Hiện Sinh và Thiền. Nhưng điều ấy đã không xảy ra . PCT muốn làm một cuộc lật đổ tư tưởng nhưng đã chẳng lật đổ được ai, ngoại trừ ông lật đổ chính mình. Thế giới vẫn nói đến Heidegger, vẫn nói đến Satre, vẫn đọc Buồn Nôn, đọc Hữu Thể và Thời gian, không biết thế giới có ai đọc Mặt trời Không Bao Giờ Có Thực hay Hố Thẳm Tư Tưởng không? PCT đã không vượt qua được Heidegger. Ông thú nhận :” Hầu hết những quyển sách sôi nổi của tôi, từ Ý thức mới trong văn nghệ và triết học (1963), đến Hố Thẳm Tư Tưởng (1963) và Im Lặng Hố Thẳm (1966) đều được viết ra từ ý thức của một con người trẻ tuổi được nuôi dưỡng bằng tư tưởng của Heidegger từ gần mười năm trước.Thực sự, tôi đã nhiều lần muốn vượt Heidegger, nhưng chính sự vượt qua ấy cũng bị kẹt trong tư tưởng của chính Heidegger.”(Trả lời phỏng vấn)

Với tri thức uyên bác như vậy, sau Ý Thức Mới Trong Văn Nghệ và Triết Học, người ta trông đợi PCT sẽ viết bộ lịch sử tư tưởng và văn học thế giới làm tài liệu học tập cho sinh viên Việt Nam và thế giới, nhưng điều ấy đã không xảy ra. PCT đã đọc văn học và tư tưởng với cảm thức ngẫu hứng của thi sĩ, không phải với bộ óc của nhà nghiên cứu, vì thế chẳng ai coi Ý Thức Mới Trong Văn Nghệ và Triết Học là tài liệu có giá trị để tham khảo, học tập.

Cho đến nay xung quanh PCT vẫn còn nhiều điều bán tín bán nghi. Rằng học vị Tiến sĩ của ông là có thật hay không? Bởi khi ở Mỹ, ở Pháp ông đã bỏ học. PCT nói với Nh. Tay Ngàn : “Thời gian tao ở Huê Kỳ, tao đã bỏ học, vì tao thấy những trường đại học mà tao học, như trường đại học Yale và Columbia chỉ toàn là những nơi sản xuất những thằng ngu xuẩn; ngay đến những giáo sư của tao chỉ là những thằng ngu xuẩn nhất đời; tao có thể dạy họ nhiều hơn là họ dạy tao. Qua Pháp, tao đã sống nghèo đói thế nào thì mày cũng đã biết rõ rồi; những lúc tao nằm ngủ tại những vỉa hè Paris vào những đêm đông đói lạnh, những lúc đói khổ như vậy, tao vẫn còn cảm thấy sung sướng hơn là ngồi nghe mấy thằng giáo sư đại học Yale hay Columbia giảng cho tao nghe về Aristote hay Hegel, về Heidegger hay Héraclite”

Tác giả T.Vấn trong bài “nhớ đứng chờ ta ở cõi siêu” ngày 12.03.2011 đặt vấn đề rằng “Phạm Công Thiện là một triết gia hay kẻ mắc bệnh điên tư tưởng? Là một học giả hay chỉ là con mọt sách? là một thi sĩ, một nhà văn hay kẻ lộng ngôn xem chữ nghĩa như một trò chơi? Là bậc tu hành tinh thông lẽ đạo bằng trí thông minh tuyệt vời hay kẻ mượn áo cà sa trốn lánh việc đời rồi hốt nhiên trở nên “ngộ” một cách bất đắc dĩ? Là con người lập dị nhờ vào khả năng ngôn ngữ hơn người hay kẻ phá phách cậy mình thông kinh đạt quyển nên tung hoành chốn trường văn trận bút như chỗ không người? Là vị thần đồng thực sự hay kẻ kiêu ngạo coi trời bằng vung?”(4)

Và đây là câu trả lời của PCT từ ngày xưa :” một tạp chí tên gì đó đã đăng một bài dài nhan đề là “Phạm Công Thiện, ông là ai?” và gần đây hơn nữa có một tạp san khác lại đăng loạt bài “Hiện tượng Phạm Công Thiện” để rồi kết luận rằng tôi là thằng điên chữ, một tên điếm đàng, một tên côn đồ trong văn nghệ vân vân. Tôi đã say sưa đọc tất cả những gì thiên hạ nói, viết, phê phán, đề cao, chỉ trích, mạt sát tôi; tôi say sưa đọc những thứ đó như đọc chính những gì mình đã viết và đã muốn viết: vì tất cả những gì người ta đã nói về tôi đều đúng là điều tôi muốn nghĩ về tôi”(5)

Khi đã là người trưởng thành, PCT nhận ra điều này : “Tai nạn lớn lao nhất trong đời tôi là phải chịu đoạ đầy làm thần đồng lúc còn thơ dại, rồi lúc lớn lên làm thanh niên thì phải chịu đoạ đầy làm thiên tài. “Thế nghĩa là ông đã “nhảy” khỏi thế giới của “thần đồng” và “thiên tài” để trở về với thân phận một Con Người”, như bao thân phận khác trong cõi đời này.

Thời trẻ tuổi, tuổi của nổi loạn, nhờ thiên phú, ông giỏi ngoại ngữ và đọc nhiều, viết nhiều, gây hấn với xã hội để khẳng định mình. Ông đả kích luận văn tiến sĩ của Nguyễn Văn Trung, ông bá vai huyn h đệ với Henry Miller, ông đạp đổ tất cả để nâng mình lên. Nguyễn Văn Trung im lặng. Sau này (2007) Nguyễn Văn Trung nói rõ về PCT :” Tôi thật thắc mắc đời sống cụ thể của ông Phạm Công Thiện không cho thấy tỏa ra một vẻ đạo hạnh nào của nguời tu trì thánh thiện. Ngược lại, tôi thấy ông đã có những lựa chọn trong đời sống cụ thể hoàn toàn trái ngược với những gì ông nói hay viết ra. Ông nói khinh bỉ nghề dạy học làm thầy người khác, nhưng lại vào tá túc tại Đại Học Vạn Hạnh, mặc áo cà sa mang pháp danh “Đại đức Thích Nguyên Tánh” khỏi phải đi lính như những người khác, cùng tuổi không bằng cấp.... Bây giờ đọc lại bài phê bình của ông Thiện, những bức thư ông gửi cho tôi, tôi mới nhận ra, quả thực, tôi có trách nhiệm nào đó. Các thư ông viết cho thấy rõ ông mong mỏi có chỗ đứng trong giới nghiên cứu giảng dạy đại học, mà tôi lúc đó hoàn toàn có khả năng đáp lại mong muốn chính đáng của ông. Chẳng hạn đăng bài biên khảo trên tạp chí Đại Học, ra sách ông viết trong nhà xuất bản Đại học, mời ông làm giảng viên Đại học Huế, diễn thuyết ở Huế, Đà Nẵng, Nha Trang trong khuôn khổ lịch trình sinh hoạt văn hóa Đại học Huế, và sau cùng vận động cho ông đi du học, không phải vì ông là người Công giáo như tôi đã làm cho vài người khác. Tóm lại ông đã gõ cửa tôi, có lẽ sau khi đã thử gõ nhiều nơi khác, nhưng tôi đã không mở cửa cho ông, và vì thế tôi đã đẩy ông vào tình trạng thất vọng, bất mãn. Ông Phạm Công Thiện hiện còn sống ở Úc. Nếu quả thực ông đã thất vọng vì cách đối xử của tôi hồi đó, thì tôi nhìn nhận có trách nhiệm về phần tôi và xin lỗi ông. Nói cho rõ hơn, ông Thiện oán giận bất mãn, những trí thức nói chung, thuộc giới đại học và trí thức Công giáo nói riêng, cụ thể như Nguyễn Văn Trung, Lê Thanh Minh Châu, Cao Văn Luận, là những người đồng đạo của ông ở Đại học Huế đã không tạo điểm tựa cho ông tiến thân.”(6) Như vậy, đã rõ cội nguồn của những nổi loạn, những đạp đổ, nhưng bất mãn của PCT trong các tác phẩm của ông thời những năm 1960-1970.

PCT cũng bày tỏ thái độ chính trị của mình. Ông nói về các nhà thơ Cách Mạng và nói về Cách Mạng :” Đó là chưa nói đến những nhà thơ cách mạng, tôi muốn để họ yên, vì họ cũng bị nhốt trong xà lim, họ khác tôi là họ bị nhốt, mà không phản đối hay đã phản đối, họ khác tôi là họ bị nhốt mà không biết bị nhốt, họ là Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Pablo Neruda, Paul Eluard, Aragon, v.v.

Hỡi các anh làm cách mạng, anh phá một xã hội định thể để rồi bị nhốt vào một xã hội định thể khác. Tôi đã bị nhốt trong xà lim, tôi không phá, tôi không hy vọng, tôi không chịu rửa tội vì tôi hoàn toàn vô tội; tôi đã bị nhốt trong xà lim, nhưng tôi có thể nhốt xà lim lại, xà lim sẽ bị tôi nhốt tù.”(Hố Thẳm Tư Tưởng)

Tháí độ ấy của PCT giúp người đọc hôm nay hiểu rõ hơn các “cú nhảy” của ông khỏi Việt Nam năm 1970:” tôi hận thù Việt Nam, tôi kinh tởm Việt Nam, tôi muốn bôi xoá hai chữ Việt Nam trong tim tôi và óc tôi”. Có lẽ không một người Việt Nam nào lại có suy nghĩ, tình cảm và thái độ như thế đối với đất nước mình, dân tộc mình, trong thời đại dầu sôi lửa bỏng của những thử thách quyết liệt ý chí sức mạnh và sự tồn tại của dân tộc.

Có thể chia sẻ với PCT những suy nghĩ này chăng? :” tôi chỉ thích người ta đọc những gì tôi viết bằng một tâm thức mơ mộng của thi sĩ đãng trí ...
...Bây giờ đây, đối với tôi, danh từ “thiên tài” chỉ là một trò ngu xuẩn, ngu xuẩn như tất cả danh từ cao đẹp hoa mỹ khác. Động từ “sáng tạo” hay danh từ “nghệ sĩ” cũng là ngu xuẩn nốt. Thiên tài, nghệ sĩ, cô đơn, thi sĩ, nổi loạn, hư vô, hiện sinh, triết lý, tất cả đều ngu xuẩn. Càng ngu xuẩn, càng sống với tất cả ngu xuẩn ấy, tôi càng thấy tất cả những ngu xuẩn đều cần thiết trong một giai đoạn để chuẩn bị cho một sự ngu xuẩn lớn nhất: đó là cái chết của tôi, của anh, của em, của tất cả mọi sự trên mặt đất. Sống là ngu xuẩn, chết cũng là ngu xuẩn, thế thì chỉ còn một con đường là ngu xuẩn với ngu xuẩn qua ngu xuẩn trong tất cả ngu xuẩn của mọi sự ngu xuẩn. Đẩy tất cả mọi ngu xuẩn đến ngu xuẩn đầu tiên và cuối cùng: mơ mộng trong khi vẫn mở mắt, cười tất cả mọi sự bi thảm, yêu tất cả những cái gì không có ở tại đây và bây giờ, đùa chơi với tấn trò đùa của thời gian vũ trụ, đóng vở tuồng chèo của đời mình cho đến độ xuất thần ngã ngửa. (Trả lời phỏng vấn, đd)

...Và đây là độc thoại của tôi, của một người không biết nói và khi nói thì chỉ nói một mình để chỉ cho mình nghe... Các ngài còn muốn hỏi nữa không? (Hố Thẳm Tư Tưởng)

Tháng 3. 2011
__________________
(1) http://phamcongthien.com/
(2) http://www.diendan.org/nhung-con-nguoi/pham-cong-thien/
(3) Theo Blog Nguyễn Hưng Quốc, http://hung-viet.org/blog1/2011/03/16/ph%E1%BA%A1m-cong-thi%E1%BB%87n-nha-tuy-but-xu%E1%BA%A5t-s%E1%BA%AF
(4) (T.Vấn- Nhớ đứng chờ ta ở cõi siêu*- 12.03.2011- http://damau.org/archives/18864)
(5) Trả lời phỏng vấn. http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=22BB903CF12899656FA69776E6B76897?action=viewArtwork&artworkId=12430
(6) http://www.viet-studies.info/NguyenVanTrung_OngPhamCongThien.htm


DỊ HƯƠNG, KIẾM SẮC và...

DỊ HƯƠNG, KIẾM SẮC và…
Bùi Công Thuấn

Văn chương là nghệ thuật ngôn từ, là sự sáng tạo cái đẹp bằng ngôn từ, cái đẹp của chính ngôn từ. Yếu tính của nghệ thuật là sự sáng tạo. Phẩm giá, tài năng của nhà văn được xác lập bằng chính sự sáng tạo nghệ thuật của anh ta. Trong nghệ thuật, mọi sự sao chép đều là hàng giả. Nhìn một bức tranh sao chép, tranh giả, dù đường nét màu sắc có tinh vi đến mấy, người xem vẫn thấy bực bội, thất vọng. Khi được nhào nặn trong cùng một khuôn, tất yếu sẽ cho ra đời hai vật thể giống nhau, cái sau mang nguyên vẹn hình hài của cái trước. Một tác phẩm được xây dựng bằng cùng một cách viết với tác phẩm khác, thì dù có được gia công tô vẽ thêm bao nhiêu, nó cũng chỉ là bản nháp của tác phẩm trước đó, nó không mang đến chút thú vị nào cho người đọc, thậm chí nó có thể để lại vết nhơ không tẩy xóa được cho người cầm bút. Nam Cao bảo rằng “ Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có “ (Đời Thừa).

Lẽ ra tôi không nên viết những dòng dưới đây.

DỊ HƯƠNG, KIẾM SẮC, và…

Kiếm Sắc (1988) của Nguyễn Huy Thiệp nói về một Nguyễn Ánh cơ mưu và tàn ác trong công cuộc giành lấy thiên hạ. Mục đích của Nguyễn Huy là “giải thiêng” những định kiến thần thánh hóa mà nhân gian đã gán cho nhân vật lịch sử. Hơn thế, Thiệp dùng nhân vật này để nói về thời đại nhà văn đang sống, nghĩa là cách mượn chuyện xưa để nói những vấn đền hôm nay, một cách nói ám chỉ.

Dị Hương cũng “giải thiêng” Nguyễn Ánh như thế. Đó là một Nguyễn Ánh tầm thường, dâm tục, không phải một bậc anh hùng. Nguyễn Ánh không có một chút cơ mưu nào, không một ý nghĩ đến đại cuộc, không một cử chỉ hành xử trượng phu, trái lại chỉ như một đứa “thảo dân vô học”. Một nguyễn Ánh mà run sợ ngay trong giấc mơ của mình, một Nguyễn Ánh mà khi thấy Ngọc Bình trong bồn tắm thì “ Lòng Ánh nôn nao, không chịu nổi mùi gợi dục, cuống cuồng cởi quần áo. Ánh hấp tấp y như chàng trai mười sáu tuổi lần đầu nhìn thấy thân thể người đẹp trắng nuột nà, nhào vào bồn tắm, làm nước tràn quá nửa”, “Hai người lại chìm vào biển ái ân nóng bỏng. Đang lúc Ánh sướng quá tru lên như con ngựa hoang động đực”.

Vâng, dù tác giả có viết gì thêm nữa cũng chỉ là để “giải thiêng” thần tượng, như Nguyễn Huy Thiệp đã làm trong Kiếm Sắc. Chẳng có cái nhìn nhân văn hay sự cảm thông chia sẻ bi kịch nào ở đây cả (1). Thái độ viết của tác giả Di Hương, cũng như Nguyễn Huy Thiệp không phải là thái độ cảm thông, mà là thái độ đạp đổ thần tượng. Thái độ ấy bộc lộ trong cách gọi tên nhân vật, trong cách gán cho nhân vật những hành vi hạ cấp. Nguyễn Huy Thiệp gọi Nguyễn Ánh bằng tên Ánh trống không, mà không gọi bằng chức danh xã hội . Đó là cách gọi xếch mé theo kiểu người Bắc, khi muốn bày tỏ sự khi miệt, hạ bệ đối tượng. Điều này nằm trong tâm thức Hậu Hiện Đại, đạp đổ những Đại Tự Sự, giải thiêng những tín niệm, hạ bệ những thần tượng. Thâm ý của Nguyễn Huy Thiệp ai cũng rõ, chỉ có điều là không ai nói ra, sợ có khi vạ miệng (!) Nguyễn Huy Thiệp đã đi trước Sương Nguyệt Minh khá xa.

Trong Kiếm Sắc, Nguyễn Huy Thiệp nhấn mạnh cái ý này, mặc dù thấp thoáng, nhưng nó cũng là một chủ đề tư tưởng, ấy là Nguyễn Ánh ghét bọn nho sĩ Bắc Hà. “Ánh bảo :Ta chỉ ghét bọn chữ nghĩa thôi…Chữ nghĩa chúng nó thôi lắm, ngụy biện, xảo trá tinh vi. Hành tung chúng, ta chẳng lo. Toàn lũ ốm o, như dòi chồn hèn mọn cả. Lân bảo : Đa số như thế, chôn cũng đáng, chỉ có đôi người khá, chúa công được họ thì thêm sang cho chúa công. Ánh bảo :Ta không tin bọn nó theo ta. Chúng nó quen tỉ tê chữ nghĩa thì sẽ coi ta là vô đạo, không có tâm thế. Rửa đầu óc chúng mệt lắm “ Những câu văn này không phải Nguyễn Huy Thiệp dùng để nói về Nguyễn Ánh mà nói về thời đại ông đang sống. Chữ nghĩa nho sĩ Bắc Hà thật thâm hiểm. Bảo sao Ánh không căm ghét!

Trong Dị Hương, tác giả cũng lặp lại tư tưởng này. “ ánh rất ghét bọn hủ nho làm thơ. Chúng thường xúm vào tâng bốc, ngợi ca Ánh như một bậc kỳ tài trong thiên hạ chí lớn ngùn ngụt”. Ánh tin dùng Sán, vì “kho tàng tri thức Nho học của Sán đã giúp Nguyễn Ánh được cái danh thâm sâu, khỏi tiếng võ biền, mà cánh sĩ phu Bắc Hà cao ngạo thường mỉm cười coi rẻ”. Chỗ khác biệt là ngôn ngữ Nguyễn Huy Thiệp tầng tầng lớp lớp nghĩa, còn câu văn tác giả Dị Hương thì thẳng đuột chỉ có một nghĩa tường minh, vì thế bút lực của Nguyễn Huy Thiệp mạnh mẽ bao nhiêu thì bút lực của tác giả Dị Hương èo ọt bấy nhiêu.

Trở lại với cách kể chuyện của Kiếm Sắc và Dị Hương, người đọc dễ dàng nhận ra Dị Hương lặp lại khuôn mẫu này ở Kiếm Sắc:

Mở đầu Kiếm sắc, Nguyễn Huy Thiệp viết về nhân vật Đặng Phú Lân thế này :”Trong số những người gần gũi với thế tổ Nguyễn Phúc Ánh những năm mưu phục lại cơ đồ nhà Nguyễn có một hào kiệt mà không sử sách nào nhắc đến. Người đó là Đặng Phú Lân”.Ấy là Nguyễn Huy Thiệp bảo, Lân chỉ là một nhân vật hư cấu thôi. Và Kiếm Sắc là kiểu truyện hư cấu.Đừng tin những gì Thiệp viết là thật. Dị Hương cũng viết về nhân vật Trần Huy Sán như vậy :”Dưới trướng Ánh có một nhân vật rất kỳ dị chỉ thấy chép trong dã sử. Y tên là Trần Huy Sán”. Sán cũng chỉ là một nhân vật hư cấu, cho phép nhà văn tha hồ bịa đặt những gì muốn bịa đặt, để nói cái điều mình muốn ám chỉ. Sao lại có sự giống nhau kỳ lạ đến vậy trong cách giới thiệu nhân vật và kiểu nhân vật giữa hai tác phẩm ? Từ đây Trần Huy Sán được xây dựng cùng một số phận với Đặng Phú Lân, nghĩa là, cả hai cùng tận tụy phục vụ Nguyễn Ánh, cả hai cùng dự cảm về cái chết của mình dưới tay Ánh, và sau cùng và cùng bị Ánh chém Đầu.

Trên cái khuôn của Kiếm Sắc, Di Hương đã triển khai câu chuyện giống Kiếm Sắc đến cả những tình tiết. Về hình tượng chủ đề, Nguyễn Huy Thiệp tập trung vào thanh kiếm gia truyền của Đặng Phú Lân, để thể hiện cái tư tưởng, kẻ dùng gươm sẽ chết vì chính thanh gươm của mình. Đó là một oan nghiệt ; còn Dị Hương tập trung vào hình ảnh chiếc yếm có mùi hương lạ của Trần Huy Sán. Dị Hương muốn nói điều này, những kẻ võ biền thô bạo như Ánh thì không thể chiếm được hương thơm thanh khiết của châu ngọc tinh thần Bắc Hà, dù anh ta có bao nhiêu sức mạnh bạo lực.”Cái yếm thắm vụt khỏi tay Ánh chấp chới lượn đi lượn lại rồi thăng thiên”. May mà, nhờ hai hình tượng này khác nhau nên chủ đề của Dị Hương có khác đôi chút với Kiếm Sắc. Nhưng ở bề sâu tư tưởng của hai tác phẩm thì vẫn giống nhau. Đối với kẻ sĩ Bắc Hà, những kẻ võ biền thô bạo, gian hiểm, dâm tục không thu phục họ được. Chỉ có một cách là tiêu diệt họ, như Nguyễn Ánh đã giết Đặng Phú Lân hay Trần Huy Sán.

Kiếm Sắc miêu tả cái chết của Lân như sau : khi Ánh chém đầu lân thì “máu phun ra không đỏ mà trắng như nhựa cây, một lúc sau thì bết lại”. Một cái chết kỳ lạ. Dị Hương cũng kể rằng :’Sán vươn cổ cò ra như thách thức. Một chớp sáng ngoằn ngoèo như sét đánh giữa trời quang mây tạnh. Lần này Ánh chém thật. Cái “chõ xôi”lăn lông lốc rồi dừng lại, mắt Sán hấp háy, miệng nhếch mép cười cợt. Bỗng dưng , mùi dị hương ở đâu đó ào ạt xông lên, rồi mất hẳn”, cũng là một cái chết kỳ lạ, không khác gì cái chết của Lân trong Kiếm Sắc. Trong suốt truyện, Di Hương bắt chước Kiếm Sắc trong việc tô vẽ những chi tiết kỳ dị hoang đường thường thấy trong cách kể truyện duy tâm dân gian, trong kiểu chí quái chí dị, truyện truyền kỳ (Truyền Kỳ Mạn Lục, Liêu Trai Chí Dị). Nhưng nếu ở Kiếm Sắc đó là cái mới, là sự sáng tạo, thì ở Dị Hương đó là bản sao vụng về. Bởi khi Kiếm Sắc ra đời, văn chương Việt Nam vẫn còn đang được viết bằng bút pháp của Chủ Nghĩa Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa. Mọi điều miêu tả trong tác phẩm giống y như ngoài đời, như thể “Áo anh rách vai/ quần tôi có vài mảnh vá”; còn Nguyễn Huy Thiệp thì đã quyết liệttừ bỏ Chủ Nghĩa Hiện Thực XHCN rồi. Anh đang mày mò những kiểu bút pháp khác.

Lại thấy điều này. Phần đầu Kiếm Sắc có bài hát của Vinh Hoa. Cuối truyện có bài hát của cô gái chủ quán. Bài hát được dùng để tạo màu sắc thẩm mỹ và nhấn mạnh chủ đề. Bài hát này cũng chứa đựng ý nghĩa tư tưởng làm cho Kiếm Sắc trở nên sâu sắc, thú vị . Dị Hương cũng dùng kỹ thuật này. Ngay sau phần mở đầu là câu hát của bọn trẻ chăn trâu thả ra khắp triền sông. Những câu hát này được lặp lại nhiều lần trong suốt truyện để tô đậm chủ đề. Tuy nhiên, những câu hát trong Dị Hương không tạo được màu sắc thẩm mỹ-tư tưởng. Đơn thuần nó chỉ là dấu chỉ đường để người đọc lưu ý chủ đề về Dị Hương mà thôi. Dị Hương đã không học được nghề của Kiếm Sắc

Câu văn của Nguyễn Huy Thiệp nói chung và trong Kiếm Sắc nói riêng có đặc trưng tạo nên phong cách nghệ thuật của anh. Câu văn tạo nên một lối kể chuyện, khắc tạc được cốt cách nhân vật, mở ra một một thế giới nghệ thuật mà trước Nguyễn Huy Thiệp chưa có, để rồi, sau Nguyển Huy Thiệp, nhiếu người đã bắt chước cách viết ấy. Đó là những câu văn trần trụi, băm bổ, nhưng lại chứa đựng một bút lực thật mãnh liệt, và một thâm ý văn chương sâu xa. Xin đọc Kiếm Sắc :”Lân gặp Ánh. Ánh thấy Lân khôi ngô, ăn nói khoan hòa mà thủ đoạn táo bạo thì thích lắm, cho ở luôn bên mình. Một lần thuyền Ánh qua cửa Tiền Giang, có bốn người đi theo, trong đó có Lân. Bấy giờ có con cá sấu rất to cứ bơi theo, đuổi thế nào cũng không được. Mọi người lo sợ, thấy phải có người nhảy xuống làm mồi cho cá sấu thì mới thoát. Ánh hỏi : Ai vì nước Việt mà chết ? Ba người kia tình nguyện chết, chỉ có Lân ngồi im. Ánh trừng mắt hỏi Lân: Trượng phu quý mạng sống thế à? Lân chắp tay : Chúa công đừng giận. Nước Việt thì không ai hại được. Còn thoát hàm cá sấu, cần gì phí một mạng người! Nói rồi nhặt hòn đá ở mạn thuyền ném con vịt giời bay qua. Vịt giời rơi xuống nước, cá sấu thấy vậy vội bỏ thuyền lao đến chỗ vịt giời. Ánh cười ha hả bảo rằng: Thế này thì nghiệp ta thế nào Trời cũng cho thành”. Đó là một đoạn văn chứa đựng được đặc sắc câu văn, cách kể chuyện, cách xây dựng nhân vật và những ngụ ý thâm trầm, ma mị và tài hoa của Nguyễn Huy Thiệp trong Kiếm Sắc.

Dị Hương cũng dùng cách kể như vậy, kiểu câu văn như vậy, giọng điệu như vậy, nhưng hơi văn bạc nhược, tình ý hời hợt, chất thẩm mỹ nhạt nhòa, không sao thoát được ảnh hưởng Nguyễn Huy Thiệp, không hiển lộ ra được phong cách nghệ thuật riêng của tác giả. Xin đọc:

“Nửa đêm về sáng, Ngọc Bình mệt quá, mềm oặt, nằm không động đậy, như con cá chuối chết ươn. Ánh nhìn thân thể ngọc ngà đang có chiều trắng bệch, xót xa, bảo:

“Có phải ta ham quá làm nàng đau và mệt mỏi?”.

“Không! Tự nhiên thần thiếp thấy mình trống rỗng. Lúc đầu ân ái đam mê cuồng nhiệt bao nhiêu thì sau đó lãnh cảm bấy nhiêu”.

Ánh thở dài. Lại nghĩ: Ngọc Bình nhìn long sàng, thuyền rồng mà nhớ nhung Quang Toản trong lúc ái ân. Đang khi tranh tối tranh sáng, Ánh kêu quân hầu mang võng tía lên sườn núi tìm cây giăng mắc. Ánh bế Ngọc Bình đi lên theo. Sương đêm lành lạnh bay mỏng nhẹ như màn buông. Gió sông vẫn thổi không dứt quằn quặn. Gai người.

Đại giám quân Lê Văn Duyệt thức khuya, mệt phờ phạc ra sức can ngăn:

“Chúa vương hãy giữ mình rồng. Trước đây bôn tẩu gặp đâu ngủ đấy, cùng đường chạy giặc cỏ thì không nói làm gì. Nay đã có kinh kỳ Phú Xuân vàng son lộng lẫy, chúa vương nên về long sàng mà ngủ. Sao người cứ phải vui thú dập dạ trên cỏ cây như lối bọn thợ sơn tràng hạ dân”.

Ánh đang ẵm mỹ nhân, tức giận quá một tay quắp nàng một tay chỉ vào mặt Duyệt:

“Sao đế vương khổ thế!? Ta muốn sống như một người dân bình thường không được ư? Chả lẽ cái việc ngủ với gái mà còn phải hoãn cơn động cỡn lại chờ về nơi lầu son gác tía? Ta là chúa vương tối cao, ta thích sang trọng sẽ được sang trọng, ta muốn dân dã, lấm láp là được lấm láp. Ta không bằng một thợ cày sao? Đêm nay ta muốn ngủ với nàng trên cỏ cây như một thảo dân vô học”.

Mắng xong, Ánh bế phắt mỹ nhân đi như chạy. Bọn Lê Văn Duyệt không dám kêu can nữa. »

Tôi đã trích một đoạn khá dài, nhưng không thể tìm thấy bóng hình tác giả ở đâu trong đoạn văn ấy. Hồn cốt không thăng hoa lên được.

Như vậy, khi xem xét các yếu tố của cấu trúc tác phẩm, tôi thấy Dị Hương sao chép cách viết của Kiếm Sắc. Đó thật là điều đáng tiếc trong sáng tạo nghệ thuật, cũng thật là đáng thương cho một cây bút chưa đủ sức đi bằng chính đôi chân của mình. (Tôi xin lỗi nếu điều tôi nói làm buồn lòng tác giả và những ai thích Dị Hương). Xin lưu ý rằng, tôi không có ý nói Dị Hương giống Kiếm Sắc về nội dung. Cũng không nói rằng Dị Hương không hay. Nhưng cần nhìn rõ rằng, Dị Hương không đem đến cho văn chương đương đại điều gì mới trong nghệ thuật viết truyện ngắn, điều mà Kiếm Sắc đã làm được những năm đầu đổi mới.

DỊ HƯƠNG, KIẾM SẮC, và…

Việc trao giải cho Dị Hương là thẩm quyền của ban tổ chức giải. Mỗi cuộc thi đều có những tiêu chí nhất định và ban giám khảo căn cứ vào tiêu chí đó để đánh giá và trao giải. Đó là quyền và trách nhiệm của họ. Quần chúng nếu có tham gia ý kiến thì vẫn chỉ là người ngoài cuộc. Tuy vậy, có điều này cần phải ngẫm nghĩ. Đã có những cách đọc khác nhau về Dị Hương, gây nên những tranh cãi về những vấn đề bên ngoài văn chương. Ít có người chú ý đến đặc điểm kiểu truyện hư cấu của Dị Hương để khám phá từ trong bản chất sáng tạo của nhà văn. Và dường như, trong tiêu chí của cuộc thi truyện cũng không có tiêu chí về sự sáng tạo? Nếu vậy, mọi tranh cãi sẽ chẳng mang đến lợi ích gì cho văn chương cả.

Không phải chỉ có Dị Hương mới sao chép cách viết. Cả Đất Trời Vần Vũ, một tác phẩm đạt giải khác cũng vậy, tác giả cũng sao chép cách viết từ nhiều nguồn, mà đậm nhất là cách viết của Lời Nguyền Hai Trăm Năm (1). Tôi trộm nghĩ rằng, một giải văn chương chỉ nên trao cho tác phẩm có sáng tạo nghệ thuật. Bởi sự sao chép, dù ở góc độ hay yếu tố nào, cũng không phải là sáng tạo, cũng đồng nghĩa không phải là nghệ thuật.

Tháng 3.2011
_________________________________________
(1) Nguyễn Trọng Bình - Góp thêm một cái nhìn về truyện ngắn Dị Hương của Sương Nguyệt Minh
http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=12249
(2) CHUYỆN CỦA NHỮNG KẺ CHƠI DAO. BCT đọc Đất Trời Vần Vũ của Nguyễn Một
http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=9181

SONG SONG NHỮNG PHẬN NGƯỜI

Bùi Công Thuấn đọc văn trẻ
SONG SONG NHỮNG PHẬN NGƯỜI
(tiểu thuyết Song Song của Vũ Đình Giang. Nxb Văn Nghệ 2007)


Song Song là câu chuyện của những người đồng tính. Kết thúc truyện, tác giả viết “Đừng hồ nghi trí tưởng tượng, hãy tiếp tục suy diễn đi. Tôi khuyến khích sự suy diễn...Trò bịp nào cũng khởi đi từ một cội nguồn khốn khổ...Ngày 1 tháng Tư, bạn nhớ không... Cả thế giới thừa biết đó là ngày gì”(tr. 319) .Vâng, như vậy là đã rõ. Song Song chỉ là một trò bịp của ngày cá tháng tư. Nói một cách khác, đó chỉ là truyện hư cấu, truyện bịa đặt của trí tưởng tượng. Vì thế người đọc không cần bận tâm đến những gì nhà văn miêu tả, cũng không cần phải xét xem trong thực tế có những con người và những câu chuyện như thế không, bởi Vũ Đình Giang (VĐG) chủ trương “Văn chương là nghệ thuật của hư cấu, hướng vào những khai phá mang tính mới lạ và khác biệt”...” Tôi luôn quan niệm, viết là sáng tạo nên cuộc sống. Thế giới hiện ra dưới ngòi bút của nhà văn là những con người và cuộc đời khác biệt, mới mẻ, thú vị như chưa từng được biết”(1).Vấn đề là qua tác phẩm, nhà văn nói gì và tiếng nói nghệ thuật của anh ta có gì mới mẻ, đặc sắc hay không !
Nhà văn Phong Điệp cho rằng :” Với Song Song, tác giả đã thể hiện bản lĩnh sáng tạo của mình. ... Xác lập một dấu ấn riêng, không trộn lẫn - cá tính, khác lạ - đó những điều Vũ Đình Giang đã và đang làm trong hành trình văn chương của mình…”(2). Nhà văn Bích Ngân thì nhận xét : “Với Song Song, Vũ Đình Giang đã giải tỏa cơn dằn vặt của ý thức. Giang và một vài người viết trẻ khác, đã không chấp nhận lối viết giống với những gì đã có, không trượt theo đường mòn quen thuộc, không viết theo xu hướng thỏa hiệp với chính mình. Giang viết trong khát vọng muốn tìm kiếm những giá trị mới cho văn học trong xu thế mới. ” (tr.325).
Vậy thì, “bản lĩnh sáng tạo, dấu ấn riêng, khát vọng tìm kiếm những giá trị mới cho văn học” của Vũ Đình Giang là gì?
Xin hãy nghe VĐG trình bày : “Sở thích của tôi là hành hạ các nhân vật của mình, bằng cách ném chúng vào những trường hợp gian khó, quá trình chúng quẫy đạp tìm cách thoát hoặc tự huỷ hoại, cũng là lúc chúng thách thức ngược lại tôi. Giải quyết xong vấn đề của nhân vật là mọi khó khăn chấm dứt. Có thấm mệt đôi chút nhưng tôi dễ dàng sa ngay vào những trò nhảm nhí hấp dẫn khác, nhờ thế tôi bắt đầu sáng tác mới. Thú thật, tôi là người chỉ thích mổ xẻ nội tâm phức tạp của con người trên trang viết, ngoài đời tôi lảng tránh mọi kiểu đau khổ dù nó cố lao vào.”(3)

Kỹ thuật viết của VĐG có gì đặc biệt ? -” Ở cuốn Song Song, tôi thử tách - nhập nhân vật ra làm nhiều lớp, đặt các điểm nhìn cùng lúc để nghiên cứu chúng dưới từng góc độ, trong các giả định và chiều kích không gian khác nhau - loại kỹ thuật mà trước đây tôi hầu như không sử dụng đến. Tôi cũng chú tâm nhiều hơn đến nhịp điệu tổng thể, tông giọng và những chuyển đổi khác biệt giữa từng mạch văn, sao cho các loại không gian tâm trạng khác nhau được bày ra một cách cố ý”(4).

VĐG cho biết thêm :” Nghề thiết kế mỹ thuật giúp tôi ứng dụng vài kỹ thuật vào viết, ví dụ như sáng tạo các chi tiết cách điệu nhằm gây ấn tượng mạnh, chú trọng vào bố cục chặt chẽ, tính nhịp điệu, hiệu ứng thị giác sinh động khi miêu tả đối tượng...”

VĐG nhận thức thế nào về hành trình sáng tạo của mình ? Khi được hỏi :” Vậy là viết để giải mã chính mình hay…?” VĐG trả lời : - Vâng, tôi cũng thấy như vậy! “Một hành trình tự nhận thức” Càng viết, tôi càng thấy mình giống như bị dẫn sâu vào một đường hầm bí ẩn, chỉ có đi vào chứ không thể lùi ra. Tình trạng đó khiến mình phải tập thói quen nhận diện rõ ràng mọi thứ trong tăm tối, đồng thời kiểm soát nỗi sợ hãi và dè dặt bước chân nếu không muốn sa lầy”(4)
Quan sát ý thức sáng tạo của VĐG ở trên, tôi không thấy điều gì là mới lạ hay là cá tính độc đáo cả. Tiểu thuyết hư cấu (fiction) đã có từ lâu trong văn chương. Kỹ thuật mổ xẻ nội tâm, hay kỹ thuật phân thân, tách nhập nhân vật ra làm nhiều lớp cũng không phải là mới. Nói cho đúng VĐG chú ý đến kỹ thuật viết nhiều hơn. VĐG không có ý thức cách tân nghệ thuật tiểu thuyết. Anh cũng chưa có được một kiểu tư duy nghệ thuật mới. Điều mà người đọc thấy là “mới” của VĐG ở Song Song là tiếng nói trực tiếp của người đồng tính, là cách viết gây rối khiến người đọc không sao phân biệt được nhân vật xưng Tôi là ai (G.g, H hay Kan). VĐG có thêm góc nhìn Camera để cho sự việc hiện lên khách quan. Nếu nói “cái mới lạ” nữa trong Song Song thì đó là những trò chơi giết chóc quái gở như trong ảo giác của những người bị tâm thần phân liệt. Màu đỏ máu được tô đậm suốt tác phẩm. Nếu bỏ đi những đoạn đối thoại và miêu tả, thì Song Song chỉ còn lại là những cảnh làm tình của những người đồng tính nam, thuần túy bản năng và hết sức quái gở (bạo dâm, khổ dâm ) theo khả năng tác giả có thể tưởng tượng được. Đọc Song Song thì rất nặng đầu mà gấp Song Song lại, thì nhẹ hẫng, bởi Song Song chẳng để lại được điều gì trong lòng người đọc.
Nhà văn Phong Điệp có cảm nhận này:” Không thể phủ nhận đây là một cuốn sách khó đọc, thậm chí nên có “chống chỉ định” rằng: những ai đang trong tâm trạng trầm uất thì không nên đọc”. Thú thực đọc Song Song tôi nặng đầu kinh khủng. Nhiều lần định buông không đọc nữa, bởi không chỉ nhà văn “hành hạ nhân vật” mà chính anh ta đang hành hạ độc giả bằng những kỹ thuật gây “ấn tượng”.
Ngoài kia, cuộc sống cao rộng, sôi nổi biết bao. Xung quanh ta có bao điều thú vị nhưng ta cũng phải đối mặt với những vấn đề nóng bỏng có thể làm nổ tung cả trái đất. Ta day dứt không nguôi với bao điều nhức nhối tâm can, nhưng ta cũng tìm được những phút dịu êm trong vòng tay của những người thương yêu. Cuộc sống cuồn cuộn chảy về tương lai với bao nhiêu hy vọng. Khi tôi viết những dòng này thì ở Libia hàng trăm ngàn người tỵ nạn đang khốn khổ cần cứu giúp. May mắn thay hơn bốn ngàn công nhân Việt Nam ở Libia đã được đưa về nước. Nhưng trong nước, bão giá đang quất những ngọn gió rất mạnh vào mái tranh của nhiều gia đình, khiến mặt người nhìn nhau se sắt, ái ngại. Hoàng sa vẫn dậy sóng. Nhưng dù thế nào, Việt Nam vẫn đang lớn lên, cuồn cuộn trong dòng chảy vươn ra biển lớn.
Vậy mà Song Song lại dẫn ta vào một căn nhà gỗ nhỏ, tăm tối, rồi nhét ta vào bồn tắm, thậm chí chôn ta xuống một cái hố ngoài vườn, bắt ta mở mắt xem những trò quái gở như đổ thuốc trừ sâu và mực đen vào chậu thau nước để giết mặt trời, làm cho cái ghế thành thương tật, dùng dây thòng lọng cột những con rối lên trần, tìm cách thủ tiêu con cú bằng đồng. Bắt ta chứng kiến những cảnh khổ dâm bằng roi da, cảnh làm tình trên giường đinh, chân thõng xuống xoa vào những con rắn, dìm ta xuống hồ nước massage trong G.World... Ta bị nén chặt trong một không gian tăm tối trầm uất không lối thoát . Ngột ngạt không sao chịu nổi. Chưa hết, VĐG đổ lên người ta những loáng nước đỏ máu (máu rắn lục pha máu ngỗng, nhiều lắm, cả nước sơn màu đỏ) và để lưỡi dao lam lên đầu ta, giương cái búa tạ lên và liên tục hét vào tai ta : Giết! Giết! Giết! Ta kinh hãi tột độ. “roẹt! “thế là xong đời....Ta tưởng mình đã chết ngọt lịm. Nhưng không…Đấy chỉ là trò bịp của trí tưởng tượng. Nhảm nhí hết sức, mất thời gian, vô ích. Tôi tiếc cái công sức mình đã bỏ ra để đọc tác phẩm. Đó là cái “ấn tượng “ mà Song Song để lại trong tôi. Có lẽ VĐG đã đạt được mục đích viết của mình. Anh bảo : “Tôi hy vọng mình có thể viết một cuốn gây chút ấn tượng. Giữa “hay” và “ấn tượng”, tôi thích chữ sau hơn!”. Liệu những “ấn tượng” như thế có ích gì cho văn chương không ?
Nếu người đọc chỉ đọc để giải trí, để tiêu khiển, để tìm cảm giác lạ, để phiêu lưu vào những thế giới chưa hề có chưa hề biết, thì nhà văn nên viết cho có “ấn tượng”. Bởi sau khi đọc xong , người đọc sẽ quên ngay, thậm chí vứt cuốn truyện ấy vào sọt rác của bộ nhớ. Tôi không tin rằng VĐG định tìm kiếm những “ấn tượng” như thế. Anh bảo “Viết là một hành trình nhận thức”. Vậy anh nhận thức thế nào về người đồng tính nam trong Song Song ?
Anh miêu tả họ có hai con người. Con người xã hội bình thường, họ là họa sĩ, là nhân viên công ty như mọi người, và một con người trống rỗng, cô độc, sống trong những ảo giác giết chóc. Tất cả ý thức, tri giác và hành động của họ chỉ còn là tìm kiếm thỏa mãn bản năng tình dục. Vấn đề là ở chỗ, VĐG không miêu tả con người xã hội của họ như họ đang tồn tại, mà chỉ tập trung tô đậm tính quái gở ở họ. Khiến cho nhân vật trở nên méo mó, tính chân thực nghệ thuật bị xuyên tạc. Nhân vật trở thành “nhận thức” hết sức lệch lạc của nhà văn về hiện thực. VĐG cũng không lý giải được nguyên nhân đồng tính nam là do đâu? Không lý giải được điều gì bên trong con người họ thôi thúc họ tìm đến nhau để thỏa mãn tình dục. Nói cách khác VĐG chỉ miêu tả hiện tượng đồng tính mà không có khả năng thâm nhập sâu vào cái căn cốt bên trong để khám phá, giải mã những hiện tượng đồng tính. Anh áp đặt cho nhân vật đồng tính của mình những ý niệm như cô đơn, trống rỗng, cuộc sống của những sinh vật lạc loài, bệnh hoạn, tật nguyền.(307) Anh không đưa ra được lời khuyên hay giải pháp nào cho họ, có chăng một chút cảm thông hời hợt (tr.288) .
Tôi cho rằng đó là chỗ thất bại của VĐG trong Song Song. Tiểu thuyết hư cấu tồn tại được là ở hình tượng nghệ thuật và tư tưởng. VĐG không có tư tưởng. Nói cho cạn nhẽ, anh có nói đến “cơn buồn nôn” (tr.50, 129…) nhưng đó không phải là trạng thái buồn nôn triết học trước hiện sinh, mà thuần túy là cảm giác tâm lý. Hình tượng nghệ thuật của VĐG mới ở dạng trứng nước, chưa đủ tượng hình, lại bị làm cho xô dạt đi, thành méo mó. Cuối cùng, Song Song chỉ còn là một cuốn truyện giải trí đơn điệu.
Vũ Đình Giang chọn lối viết khó đọc. Vậy lối viết khó đọc của VĐG có những độc đáo và giá trị gì? Thông thường khi nói một tác giả khó đọc, một tác phẩm khó đọc là nói về độ khó trong khám phá tư tưởng và nghệ thuật của tác giả và tác phẩm ấy. Chẳng hạn F.Kafka, Gabriel Garcia Márquez . Đó là cái khó của tư tưởng mà người đọc bình thường không có vốn tri thức triết học sẽ không thâm nhập được. Đó là cái khó của tư duy nghệ thuật và bút pháp, (chẳng hạn chủ nghĩa Siêu Thực, mà người quen đọc tác phẩm Hiện Thực khó tiếp cận được). Xin lưu ý điều này. Viết khó đọc không phải là giá trị văn chương của một tác giả hay tác phẩm. E.Hemingway được vinh danh vì ông là nhà văn “viết một áng văn xuôi đơn giản và trung thực về con người “ còn A. Schopenhauer thì bảo rằng :”không gì dễ hơn là viết khiến cho không ai hiểu gì cả, ngược lại, không có gì khó hơn là diễn tả những điều sâu xa bằng một cách mà tất cả mọi người, từ ngu phu, ngu phụ đều nhất thiết hiểu được....Sự đơn giản bao giờ cũng được coi như một dấu hiệu của sự thật, nó còn là một dấu hiệu của thiên tài...một bút pháp tối tăm hay tồi tệ có nghĩa là một đầu óc trì độn hay rối loạn “(5)
“Cái khó “ của văn chương VĐG không thuộc về tư tưởng và nghệ thuật mà thuần túy thuộc về kỹ thuật gây rối của tác giả.
Trong 108 phân đoạn cùng với những ngày tháng và lời giới thiệu ở đầu cuốn sách, mỗi phân đoạn đều được nhân vất TÔI kể lại sự việc . Nhưng TÔI là ai? Là G.g, H, hay Kan? Nếu người đọc không làm bản thống kê và phân tích dữ liệu thì không thể biết TÔI là ai, thế là câu chuyện rối tung lên. Và dù khi đã biết Tôi là ai, thì người đọc cũng bất lực theo dõi câu chuyện, vì cả ba nhân vật G.g, H và Kan cũng chỉ là một, nhạt nhòa vào nhau. Chỗ non tay của VĐG là không xây dựng được từng nhân nhật như một cá tính độc đáo, khác biệt hẳn với nhân vật khác, mặc dù anh có đắp cho nhân vật một chút lai lịch quá khứ. ( lai lịch Kan đoạn 33-lai lịch G.g, đoạn 95) .
Cái khó đọc khác của VĐG là sự trộn lẫn thực - ảo. Nhà văn Bích Ngân gọi là “mới lạ ngay trong chính nội dung song song của nó về cái tính gỉa- thật, thật-giả, về trạng thái thực-ảo lẫn lộn” (tr.325). Đúng là kỹ thuật trộn lẫn thật-ảo có làm cho người đọc ngạc nhiên và khó hiểu đôi chút, nhưng nó chỉ mang đến sự ngạc nhiên cơ giới của một trò hú tim mà thôi. Nó không tạo ra những giá trị tư tưởng và thẩm mỹ. Chẳng hạn cảnh khổ dâm trên giường đinh, thõng chân xuống xoa đầu lên những con rắn có làm cho người đọc kinh hoàng (đoạn 94-95), song ngay sau đó, VĐG bật mí : đó chỉ là những đinh cao su và những con rắn cao su. Thế là toàn bộ cảm giác người đọc có được khi ngỡ rằng đó là cảnh thật đã tan biến nhanh. À! thì ra văn chương chỉ là trò chơi thôi mà! Nhưng có điều này : Nếu VĐG để cho G.g và H giết ông già và thằng bé hàng xóm là thực , việc tự sát của G.g là thực, thì chính tác giả là kẻ thủ ác, bởi nhà văn đã không lý giải được nguyên nhân và hậu quả của hành vi tàn ác này. Tôi tin rằng, một lần nữa VĐG lại chơi trò cá tháng Tư với độc giả?
VĐG miêu tả các nhân vật rất ý thức về chính bản thể của mình. Họ có cái nhìn tỉnh táo và hành xử rất lý trí trước mọi sự việc xảy ra. Nhận thức của họ tưởng như đạt tới chiều sâu triết lý. Vậy mà cũng chính những con người ấy lại trườn đi như những robot bị điều khiển bởi bản năng mà không hề cố thoát ra hay cố tìm nguyên nhân để tự sửa chữa, để trở về đời sống bình thường. H sống và làm tình với G.g, nhung nhớ G.g như một người yêu. Nhưng H lại lén lút ăn nằm với Kan, tránh không cho G.g biết. Và Kan, lại buông thả nhục dục với G.g. trong sự chứng kiến của H. Tại sao có hiện tượng ấy? Hoặc là nhà văn cố ý miêu tả như vậy do không lý giải được ; hoặc nhà văn trộn lẫn hai đặc điểm ấy để tạo ra sự giả ngụy, thật-giả, giả-thật như nhà văn Bích Ngân nhận xét, để vừa thuyết phục người đọc rằng những điều nhà văn viết về đồng tính là thật, vừa nói rằng họ đáng thương bởi họ bị điều khiển bởi bản năng mù quáng. VĐG không miêu tả họ mù quáng, trái lại, nhà văn chỉ rõ họ ý thức trạng thái sống giả, họ tìm kiếm những trải nghiệm chung đụng thân xác với nhiều đối tượng, nhiều kiểu hành dâm. Họ biết rõ sống như thế là tội lỗi, nhưng họ vẫn chọn lựa thái độ sống ấy.
Điều đáng tiếc là VĐG đã không miêu tả được những phẩm chất Người khác ở họ. Chẳng hạn tình yêu giữa những người đồng tính. VĐG có để cho nhân vật nói : Tôi yêu ông ấy, nhưng tình yêu ấy cụ thể được khám phá thế nào, khác với tình yêu nam nữ ra sao, tình yêu ấy dẫn những con người đồng tính đi về đâu, tình yêu ấy trả lại cho họ những giá trị nhân bản nào? Trong thực tế đã có những cặp đồng tình cưới nhau và chung sống như vợ chồng. Họ khẳng định hạnh phúc của chính họ. VĐG chưa chạm tới được những giá trị ấy, thành ra những gì VĐG viết về họ cũng chỉ là trò bịp (chữ của VĐG) mà thôi. Và chính trò bịp ấy làm cho văn VĐG trở nên khó hiểu. Tiếng nói bênh vực, cảm thông với họ trở nên nhợt nhạt. Những gì VĐG khám phá về họ trở nên vô nghĩa, và cái được gọi là “táo bạo, mới lạ” của ngòi bút VĐG chẳng qua chỉ là trò cá tháng tư, chẳng có giá trị tư tưởng nghệ thuật gì !
Dầu vậy, đọc Song Song, tôi đã thấy hé lộ những trang văn của một ngòi bút tài năng. Anh miêu tả thật sống động những cảnh sống, những trạng thái tâm hồn ; miêu tả được “dòng ý thức “trôi chảy bên trong của nhân vật. Ngôn ngữ tiểu thuyết chuẩn xác và đặc quánh. Ngôn ngữ chứa đựng năng lượng làm vỡ ra một thế giới nghệ thuật rất riêng. Ngôn ngữ có sức khủng bố não trạng người đọc. Ngôn ngữ có ma lực làm người đọc hôn mê ú ớ, không thoát ra được. Kỹ năng miêu tả tâm lý, phân tích tâm lý của anh gần đạt đến cách miêu tả Hiện Tượng Luận trong văn chương Hiện Sinh. Cách miêu tả như thế ít nhà văn trẻ Việt Nam có được. Chỉ tiếc rằng văn chương của anh thiếu tư tưởng. Chỉ tiếc rằng anh chưa xây dựng được kiểu nhân vật tư tưởng, bởi đó là hai yếu tố để một tác phẩm hư cấu đứng được. Và tất cả những gì trong quan niệm sáng tạo nghệ thuật của anh chưa giúp anh viết được một tác phẩm giá trị, tương xứng với tài năng của anh, ngoài cái “ấn tượng” mà anh có thể gieo vào đầu người đọc.

Tôi ngờ rằng người đọc chỉ đủ can đảm bị cái “ấn tượng” ấy ám ảnh một lần thôi. Họ sẽ không bao giờ để VĐG chôn trong bồn tắm mà đổ ngập nước đỏ lòm máu rắn, máu ngỗng và phẩm màu vào người họ một lần nữa. Họ sẽ không dại dột cho anh để dao lam trên đầu họ. Lạnh lùng giết họ : “roẹt”. Và ném lại một lời :”Tôi đi đây” (tr.313). Bởi ngoài kia còn bao điều tươi đẹp hạnh phúc đang chờ họ. Sẽ chỉ có mình anh đi vào đường hầm sáng tạo . Anh bảo :” Càng viết, tôi càng thấy mình giống như bị dẫn sâu vào một đường hầm bí ẩn, chỉ có đi vào chứ không thể lùi ra.”Dù nhà văn đi trong đường hầm nhưng văn chương cần có ánh sáng minh triết soi dẫn và một tấm lòng nhân hậu đủ sưởi ấm mọi nẻo giá băng của lòng người. Văn chương ấy mới cần cho đời.

Tháng 3. 2011

_________________________________________________

(1) http://www.baomoi.com/Viet-la-sang-tao-nen-cuoc-song/152/4842827.epi
(2) http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=4892
(3) http://tintuc.xalo.vn/00-1240887043/Nha_van_Vu_Dinh_Giang_Toi_thich_hanh_ha_cac_nhan_vat_nbsp.html
(4) http://tintuc.xalo.vn/001786814445/Vu_Dinh_Giang_Lam_la_hoa_nhung_dieu_binh_thuong.html
(5) Con Đường Sáng Tạo- Nguyễn Hữu Hiệu dịch và giới thiệu.-A.Schopenhauer nói về bút pháp-Quế Sơn ấn hành lần thứ I năm 1971, Hồng Hà ấn hành lần II năm 1973, Sàigon

CẦN LẮM NHỮNG YÊU THƯƠNG

Phê bình văn chương của Bùi Công Thuấn

Read more...

February 2012
M T W T F S S
January 2012March 2012
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29