Mục lục
Phần I
Lý do chọn đề tài................................ trang 2
1. Tầm quan trọng của vấn đề
2. Vấn đề cần giải quyết.
Phần II
Nội dung kinh nghiệm.........................trang 3
1. Cơ sở lý luận
2. Thực trạng vấn đề
3. Một số biện pháp đã tiến hành
4. Đánh giá hiệu quả
5. Phạm vi vận dụng
Phần III
Kết luận..............................................trang 12
PHẦN I
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ:
1.1. Kiểu bài văn nghị luận ở chương trình Ngữ văn lớp 9 gồm 2 dạng cơ bản: nghị luận văn học và nghị luận xã hội. Đây là một nội dung rất quan trọng, là trọng tâm của chương trình học kỳ 2. Ngoài việc tìm hiểu những văn bản nghị luận ở phân môn văn học, học sinh còn được tìm hiểu kiểu văn bản này ở phân môn tập làm văn và phải thực hành tạo lập văn bản nghị luận dưới dạng một bài tập làm văn theo yêu cầu của đề bài cho trước.
1.2. Tập làm văn là một môn học thực hành tổng hợp. Bài tập làm văn thể hiện rõ nhất, chính xác nhất trình độ, năng lực của học sinh. Qua bài viết đó, giáo viên đánh giá được kiến thức, năng lực cảm thụ văn học, khả năng tư duy, sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt, trình bày vấn đề...của học sinh.
2. VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT:
2.1. Có một thực tế là nhiều học sinh có kiến thức, có năng lực cảm thụ văn chương, có sự hiểu biết xã hội nhưng khi làm văn, nhất là văn nghị luận xã hội, lại rất lúng túng. Bài viết mắc nhiều sai sót, không phản ánh đúng năng lực thực của học sinh.
2.2. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là học sinh còn yếu cả về kỹ năng lẫn phương pháp làm bài. Vì thế, dạy phân môn tập làm văn nói chung, dạy văn nghị luận nói riêng, đặc biệt dạy làm bài văn nghị luận xã hội là phải rèn những kỹ năng làm bài, định hình được cho học sinh những thao tác tư duy cần thiết. Đó chính là nhiệm vụ của người giáo viên văn.
Qua thực tế giảng dạy, tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm trong việc dạy làm văn nghị luận xã hội cho học sinh, bao gồm các thao tác cơ bản khi xây dựng dàn bài với hệ thống luận điểm, luận cứ cho bài viết. Đặc biệt chú trọng việc rèn kỹ năng lập dàn bài tập làm văn nghị luận xã hội cho học sinh.
PHẦN II
NỘI DUNG KINH NGHIỆM
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1.1. Các bước để làm một bài văn nói chung:
- Thao tác để làm một bài văn nói chung gồm có 4 bước: tìm hiểu đề và tìm ý – lập dàn bài – viết thành bài văn – đọc lại bài viết và sửa chữa. Cả 4 khâu này đều quan trọng như nhau. Tuy nhiên, khâu tìm hiểu đề và tìm ý, theo tôi, là khâu then chốt. Bởi “có bột mới gột nên hồ”, một bài văn giống như “hồ” mà tìm hiểu đề và tìm ý giống như là “bột” vậy.
- Nhưng tìm được ý rồi còn phải biết sắp xếp các ý thành một dàn bài. Nếu không, các ý đã tìm được chỉ là một mớ kiến thức lộn xộn, không thành một hệ thống. Vì vậy, lập dàn bài cho bài văn là sự tổng hợp các ý đã tìm được, nó có yêu cầu cao hơn thao tác tìm hiểu đề và tìm ý.
1.2.Một số khái niệm:
- Dàn bài một bài văn là sự sắp xếp các ý đã tìm được theo một trình tự nhất định
- Nghị luận một vấn đề là người viết trình bày quan điểm, tư tưởng, nêu lên những ý kiến, nhận xét đánh giá của mình về vấn đề đó. Theo đó, văn bản nghị luận phải có hệ thống luận điểm rõ ràng với những luận cứ phù hợp, xác đáng, lập luận chặt chẽ để thuyết phục được người nghe, người đọc.
1.3. Mô hình thông thường của một bài văn nghị luận:
A. Mở bài: (Dẫn dắt vấn đề và nêu vấn đề)
B. Thân bài: ( lần lượt nêu từng luận điểm kèm các luận cứ để giải quyết vấn đề)
1. Luận điểm 1:
- Luận cứ 1 (lý lẽ, dẫn chứng)
- Luận cứ 2 (lý lẽ, dẫn chứng)
..........
- Luận cứ n......
2. Luận điểm 2:
- Luận cứ 1 (lý lẽ, dẫn chứng)
- Luận cứ 2 (lý lẽ, dẫn chứng)
..........
- Luận cứ n......
3. Luận điểm 3:
- Luận cứ 1 (lý lẽ, dẫn chứng)
- Luận cứ 2 (lý lẽ, dẫn chứng)
..........
- Luận cứ n......
4. Luận điểm n......
C. Kết bài: (nhấn mạnh, khẳng định lại vấn đề. Liên hệ thực tế, bản thân.)
1.4. Các dạng cơ bản của văn nghị luận ở lớp 9: Như trên đã nói, văn nghị luận có hai dạng cơ bản: nghị luận văn học và nghị luận xã hội. Ở chương trình ngữ văn 9, nghị luận văn học chủ yếu là bàn bạc về một tác phẩm văn xuôi hoặc thơ (trọn vẹn hoặc trích đoạn) mà các em được học, như: Phân tích các truyện ngắn: Làng của Kim Lân, Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng, Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long; phân tích các bài thơ hoặc trích đoạn: Đồng chí của Chính Hữu, Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải, Viếng lăng Bác của Viễn Phương. Còn nghị luận xã hội được giới hạn ở hai dạng. Dạng thứ nhất là nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống, như: Suy nghĩ của em về một tấm gương học sinh nghèo vượt khó; Ý kiến của em về cái lợi và cái hại của trò chơi điện tử; Hút thuốc lá có hại......Dạng thứ hai là nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý. Như: Đạo lý uống nước nhớ nguồn; Đức tính khiêm nhường; Tinh thần tự lực...
Vì để tài này chủ yếu đề cập đến dạng bài nghị luận xã hội nên các cụm từ văn nghị luận, bài văn nghị luận trong nhiều trường hợp dưới đây được hiểu là bài văn nghị luận xã hội.
2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
2.1. Sự trùng lặp trong thao tác làm bài văn nghị luận: Việc nêu ra 4 bước để làm một bài văn, theo tôi về cơ bản là đã cho học sinh thấy được các thao tác cần thiết để làm một bài văn. Nhưng nếu thực hiện rập khuôn, máy móc như lý thuyết tập làm văn trong sách giáo khoa đã đưa ra thì mất rất nhiều
thời gian và sẽ có sự trùng lặp, nhiều thao tác thừa thậm chí gây rối cho học sinh.
Ví dụ: Với đề bài: “ Hãy cho biết ý kiến của em về câu nói Tiên học lễ, hậu học văn”, ở khâu tìm hiểu đề và tìm ý, học sinh phải tìm hiểu bằng cách giải thích: tiên là gì, lễ là gì, hậu là gì, văn là gì; tiên học lễ, hậu học văn nghĩa là như thế nào, tại sao phải tiên học lễ, hậu học văn...Sau đó mới lại sắp xếp lại thành dàn bài. Như vậy là thừa thao tác, mất thời gian. Có thể nhập hai bước này làm một.
2.2. Xây dựng hệ thống luận điểm cho bài văn nghị luận là một thao tác cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Nếu như văn tự sự phải có cốt truyện và nhân vật, văn biểu cảm phải có yếu tố chủ đạo là cảm xúc...thì hệ thống luận điểm chính là cốt lõi của bài văn nghị luận.
Khi học sinh tìm ý cho đề văn nghị luận chính là đang xây dựng hệ thống luận điểm và các luận cứ. Nhưng nhiều học sinh lại không ý thức được điều đó mà hoàn toàn làm theo cảm tính. Dẫn đến các ý của bài văn trình bày rất lộn xộn, không theo một trình tự nào cả, nghĩa là lập luận không chăt chẽ, thiếu sức thuyết phục.
Vì vậy, cần làm cho học sinh hiểu được bản chất của văn nghị luận là phải có hệ thống luận điểm và các luận cứ, chính là các quan điểm, ý kiến, lý lẽ của mình xung quanh vấn đề đó. Nếu không có luận điểm, văn bản đó không thể coi là một văn bản nghị luận.
2.3. Khó khăn của học sinh: Khi làm kiểu bài nghị luận văn học, học sinh có nhiều điều kiện thuận lợi bởi nội dung nghị luận liên quan đến kiến thức văn học đã được học hoặc đọc trong chương trình. Ví dụ: với các đề văn như Phân tích bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương, Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của nhà văn Kim Lân, Phân tích bài thơ” Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải..., học sinh hoàn toàn sử dụng kiến thức có được trong quá trình học văn bản để làm bài.
Còn để làm bài nghị luận xã hội thì học sinh chủ yếu phải vận dụng sự hiểu biết từ thực tế cuộc sống . Ví dụ như khi phải nghị luận về các vấn đề như Bảo vệ môi trường, Lòng biết ơn thầy cô giáo, Có chí thì nên, Thời trang và cuộc sống...học sinh phải huy động sự hiểu biết của mình ở nhiều lĩnh vực như lĩnh vực đạo đức, văn hóa, nghệ thuật, lịch sử, địa lý...Điều này, ngoài kiến thức học được trong sách vở còn phụ thuộc rất nhiều vào vốn sống của các em. Đó là khó khăn của học sinh khi làm bài văn nghị luận xã hội.
3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ĐỂ GIÚP HỌC SINH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI ĐƯỢC TỐT:
3.1. Biện pháp 1: xây dựng dàn bài bằng thao tác “hai trong một”:
Khi hướng dẫn học sinh làm một bài văn nói chung, tôi nhận thấy nếu cứ để học sinh thực hiện tuần tự các thao tác làm bài theo như lý thuyết mà sách giáo khoa đưa ra sẽ mất nhiều thời gian một cách không cần thiết. Trên thực tế, với văn nghị luận, chỉ cần xác định được những luận điểm là có thể bắt tay vào làm bài. Kinh nghiệm cho thấy các luận cứ sẽ nảy sinh trong quá trình viết bài. Vì vậy, có thể gộp hai bước tìm hiểu đề, tìm ý và lập dàn ý làm một. Tôi đã hướng dẫn học sinh làm bài văn nghị luận xã hội như sau.
Ví dụ: Cho đề bài: Hiện nay vẫn còn có hiện tượng một số người thiếu ý thức hay xả rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường. Ý kiến của em về vấn đề này. Tôi đã hướng dẫn học sinh thực hiện các thao tác như sau:
* Bước 1: Vạch ra trong giấy nháp một sườn bài gồm các mục mở bài, thân bài, kết bài như bảng dưới đây.
A. Mở bài:
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
B.Thân bài:
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
C. Kết bài:
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
* Bước 2: Xác định luận điểm, tìm luận cứ bằng cách bám vào đề bài để đặt ra những câu hỏi và tự trả lời những câu hỏi đó. Cụ thể:
- Rác là gì? Thế nào là xả rác bừa bãi?
- Môi trường là gì? Thế nào là môi trường bị ô nhiễm?
- Tác hại của việc xả rác bừa bãi? ( Hay: Xả rác bừa bãi sẽ gây những tác hại gì?)
- Để ngăn chặn, chấm dứt việc xả rác bừa bãi, ta cần phải làm gì?
Bằng cách trên, học sinh sẽ xác định được 4 luận điểm. Sẽ có một dàn bài đại cương như sau:
A. Mở bài: (Dẫn dắt vấn đề và nêu vấn đề. Viết ngắn gọn khoảng 3-5 câu )
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
B.Thân bài:
1. Rác là gì? Thế nào là xả rác bừa bãi?
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
2. Môi trường là gì? Thế nào là môi trường bị ô nhiễm?
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
3. Tác hại của việc xả rác bừa bãi? ( Hay: Xả rác bừa bãi sẽ gây những tác hại gì?)
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
4. Để ngăn chặn, chấm dứt việc xả rác bừa bãi, ta cần phải làm gì?
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
C. Kết bài: ( Khẳng định, nhấn mạnh vấn đề. Liên hệ bản thân. Viết ngắn gọn khoảng 5 câu)
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
* Việc xác định luận điểm hầu như học sinh biết cách xác định. Còn việc tìm và nêu luận cứ (lý lẽ và dẫn chứng) để làm sáng tỏ luận điểm có những đòi hỏi cao hơn vì phải tự trả lời các câu hỏi đặt ra ở luận điểm. Nghĩa là việc trả lời các câu hỏi mà luận điểm đưa ra chính là các luận cứ của luận điểm ấy. Điều này lại tùy thuộc vào năng lực của từng cá nhân. Tuy vậy phải thấy rằng học sinh biết cách xác định và xác định được những luận điểm của vấn đề, nêu được một số ý làm luận cứ, tuy chưa thật đầy đủ nhưng cũng có thể được coi là đạt mức trung bình so với yêu cầu đề ra của bài làm.
* Thực tế hai bước làm bài nêu ở trên là một thao tác, rút gọn các khâu tìm hiểu đề, tìm ý và lập dàn bài trong quá trình làm bài văn nghị luận. Tạm gọi đó là thao tác hai trong một. Cách làm này giúp học sinh hình dung một cách bao quát toàn bộ các nội dung cần có của bài văn và rút ngắn rất nhiều thời gian tìm hiểu đề, tìm ý. Đặc biệt học sinh sẽ không mắc phải những lỗi như xa đề, lạc đề
* Các bước tiếp theo là dựa vào các luận điểm tìm được, viết thành bài văn theo bố cục 3 phần sau đó sửa chữa những lỗi chính tả, ngữ pháp (nếu có). Hướng dẫn học sinh mỗi luận điểm được viết thành một đoạn văn. Luận điểm sẽ là câu chủ đề của đoạn. Các câu văn sau nó bao gồm những lý lẽ, dẫn chứng, là những luận cứ làm sáng tỏ luận điểm.
3.2. Biện pháp 2: tích hợp khi dạy văn bản và dạy tập làm văn: Phân môn tập làm văn trong chương trình ngữ văn 9 chiếm thời lượng không nhiều, bình quân 1 tiết/tuần học. Để củng cố kiến thức về văn nghị luận cho học sinh, cần chú trọng sự tích hợp giữa dạy văn bản và dạy tập làm văn.
Ví dụ: Khi dạy văn bản “Phong cách Hồ Chí Minh” (Ngữ văn 9 tập 1- trang 5- nxb Giáo dục – 2009) cần chỉ ra cho học sinh thấy cách lập luận chặt chẽ, cách nêu luận cứ xác đáng, lối diễn đạt tinh tế của tác giả Lê Anh Trà. Như: khi nói về cách sinh hoạt, lối sống bình dị rất phương Đông, rất Việt Nam của Bác, tác giả đã sử dụng 3 luận cứ ( nơi ở và làm việc đơn sơ, trang phục giản dị, ăn uống đạm bạc) để chứng minh và giải thích cho luận điểm này. Hoặc văn bản “ Bàn về đọc sách” của Chu Quang Tiềm ( Ngữ văn 9 tập 2 - trang 3 - nxb Giáo dục năm 2009) cần cho học sinh xác định các luận điểm trong bài (ba luận điểm: Tầm quan trọng, ý nghĩa của việc đọc sách – Những khó khăn và sai lầm trong việc đọc sách – Bàn về cách lựa chọn sách, cách đọc sách) và ở mỗi luận điểm đều có những luận cứ (lý lẽ, dẫn chứng) rất hợp lý và xác đáng.
Như vậy, không những học sinh nắm được kiến thức, nội dung văn bản mà còn thấy được cấu trúc của một văn bản nghị luận. Qua những tiết học như thế, học sinh sẽ được củng cố, khắc sâu kiến thức về đặc điểm của văn nghị luận để từ đó có ý thức rõ rệt hơn trong việc xây dựng luận điểm, tìm luận cứ khi tạo lập văn bản nghị luận.
3.3. Một số biện pháp khác để bổ sung kiến thức giúp cho học sinh làm bài nghị luận xã hội:
- Tra từ điển để hiểu một số khái niệm, thuật ngữ chính trị xã hội như môi trường, phong cách, sinh thái, văn hóa, cộng đồng, bản sắc...
- Hệ thống hóa một số kiến thức được học trong nhà trường như môn GDCD, Lịch sử, Địa lý và một số môn học khác. Ví dụ: tính trung thực, tính tự lực, tinh thần làm chủ, tinh thần đoàn kết, tình bạn, tình yêu, hạnh phúc... (môn GDCD), tinh thần yêu nước chống ngoại xâm, những thành tựu văn hóa, sự phát triển của đất nước qua những thời kỳ... (môn Lịch sử), vai trò và giá trị của tài nguyên thiên nhiên, thắng cảnh...đối với cuộc sống con người (môn Địa lý). Đây là những kiến thức cần có giúp cho học sinh làm một bài văn nghị luận xã hội được tốt.
- Ngoài ra giáo viên cần hướng dẫn học sinh tham khảo thêm sách báo, cập nhật thông tin qua ti vi, mạng internet. Điều này đòi hỏi học sinh phải luôn có ý thức tìm hiểu, ham hiểu biết và là một việc làm có tính thường xuyên, liên tục.
4. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ:
- Khi áp dụng các biện pháp này để dạy cho học sinh, tôi nhận thấy các em đã được đặt vào những tình huống có vấn đề nhờ đó các em đã chủ động, tích cực trong học tập bộ môn. Các em nắm được phương pháp làm bài, xác định được những vấn đề trọng tâm cần phải giải quyết theo yêu cầu của đề ra. Do đó học sinh hứng thú với môn học, kết quả học tập bộ môn cũng được nâng lên.
Cụ thể: ở chương trình ngữ văn 9, bài viết số 5 là kiểu bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng của đời sống. Tôi thống kê kết quả làm bài viết số 5 của các em học sinh lớp 9 trường PTDTNT Krông Ana theo từng năm học như sau:
* Nhận xét: Theo số liệu thống kê, tỉ lệ học sinh bị điểm yếu kém giảm, tỉ lệ học sinh đạt điểm trung bình và khá tăng. Có học sinh đạt điểm giỏi. Đặc biệt, năm học 2008-2009, có một học sinh lớp 9 của trường (là học sinh dân tộc thiểu số) đã đoạt giải Nhất kỳ thi học sinh giỏi Văn cấp huyện và đoạt giải Ba kỳ thi học sinh giỏi Văn cấp tỉnh.
- Trong chương trình ngữ văn 9 còn có 2 tiết văn học địa phương yêu cầu học sinh viết bài văn nghị luận xã hội về một sự việc, hiện tượng nào đó ở địa phương. Đề tái khá phong phú và thiết thực: có thể là vấn đề môi trường, đời sống nhân dân, những thành tựu mới trong xây dựng, những biểu hiện về sự quan tâm đối với quyền trẻ em, vấn đề giúp đỡ gia đình thương binh, liệt sỹ, bà mẹ Việt Nam anh hùng, những người có hoàn cảnh khó khăn, vấn đề tệ nạn xã hội. Tiết 101, giáo viên hướng dẫn học sinh xác định đề tài để các em chuẩn bị. Tiết 143, học sinh trình bày bài viết của mình. Do có thời gian để chuẩn bị cho bài viết, cộng với việc vận dụng phương pháp tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn bài theo kiểu “hai trong một” như đã trình bày, kết quả học sinh làm bài khá tốt. Tỉ lệ bài đạt điểm trung bình trở lên là gần 70 %.
Qua một số khảo sát trên, có thể khẳng định các biện pháp rèn kỹ năng làm bài cho học sinh , cụ thể là xây dựng luận điểm, luận cứ khi làm văn nghị luận xã hội đã đạt được những hiệu quả khả quan, thiết thực góp phần nâng cao chất lượng học văn, giúp các em có thêm kỹ năng sống.
5. PHẠM VI VẬN DỤNG KINH NGHIỆM:
- Với giáo viên, có thể vận dụng kinh nghiệm giảng dạy này trong việc dạy tập làm văn nghị luận văn học ở cả lớp 8 và lớp 9. Tất nhiên, như đã nói, giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội có những đặc thù riêng nên khi vận dụng cần phải linh hoạt, sáng tạo, không nên rập khuôn, máy móc.
- Với học sinh, trong học tập và các hoạt động ngoài giờ lên lớp, khi phải bày tỏ quan điểm của mình về một vấn đề xã hội, các em đều có thể vận dụng những kỹ năng xây dựng luận điểm, tìm luận cứ đã được học để trình bày, thuyết trình. Trong giao tiếp hàng ngày, học sinh biết cách trình bày ý kiến, quan điểm của mình một cách thuyết phục.
PHẦN III
KẾT LUẬN
Để viết được một bài văn, ta phải thực hiện rất nhiều thao tác, trong đó có thao tác viết bài. Một bài văn hay phải là bài văn không những đáp ứng được về mặt nội dung mà còn phải có hành văn phù hợp. Viết như thế nào cho hay, điều này cũng hoàn toàn phụ thuộc vào tố chất cá nhân mỗi người. Vấn đề này nếu có điều kiện sẽ trình bày ở một đề tài khác. Tuy nhiên, nếu rèn được cho học sinh thuần thục những kỹ năng xây dựng dàn bài như trên đã nêu thì bài làm của học sinh tối thiểu cũng đủ ý, không lạc đề và sẽ đạt được mức trung bình trở lên. Nhưng quan trọng hơn cả là học sinh sẽ có những thao tác tư duy cần thiết để bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình một cách đúng đắn về những vấn đề mà cuộc sống đặt ra. Đó chính là hiệu quả cao nhất mà việc học tập làm văn đem lại.
NGƯỜI VIẾT
Hoàng Minh Sơn
NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CỦA HĐKH CẤP CƠ SỞ
.........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CỦA HĐKH CẤP TỈNH
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................