Tập hợp những bài đăng báo

Subscribe to RSS feed

Mùa mác mật

TTO - Mùa này, đến Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn… bạn sẽ được thưởng thức những loại trái cây đặc trưng của xứ đồng rừng. Đặc biệt, những quả mác mật chín mọng với hương vị ngòn ngọt, chua chua, thơm thơm rất hấp dẫn sẽ khiến người đi xa nhớ mãi.



Mác mật là tên gọi theo tiếng Tày, Nùng, tạm hiểu là quả ngọt. Vào mùa này, ngày chợ phiên, mác mật được bày bán la liệt. Những chùm mác mật lúc lỉu, tươi rói. Quả to thì bằng đầu ngón tay cái, nhỏ thì chừng ngón tay út. Quả nào quả nấy tròn căng. Lớp vỏ ngoài màu vàng nhạt, trong suốt, có những đường gân mỏng mảnh như sợi chỉ. Thoạt trông đã thấy thích.

Hiếm có loại quả nào lại thơm đến thế. Hương thơm lạ lùng, rất đặc trưng của loại quả chỉ có ở miền núi cao. Cầm chùm quả mác mật trên tay, mùi thơm cứ thoang thoảng, quyến rũ. Nhón một quả, đưa lên miệng cắn nhẹ. Nước quả ứa ra từ lớp cùi trắng, đặc và trong như thạch. Một vị ngòn ngọt, chua chua, the the khiến bạn xuýt xoa, thích thú.

Vị ngọt chua thanh thanh cùng với hương thơm dìu dịu pha chút ngầy ngậy cứ lưu luyến mãi nơi đầu lưỡi. Cảm giác thật thú vị.

Ngày chợ phiên, các bà, các mẹ ai cũng mua lấy dăm chùm mác mật. Phần cho trẻ nhỏ ăn chơi, phần để nấu với các món ăn. Mác mật kho cá, mác mật kho thịt, mác mật ninh chân giò… Thật lạ, cũng cá ấy, thịt ấy, chân giò ấy mà khi có vốc quả mác mật nấu cùng sao mà ngon đến thế. Cá thì hết mùi tanh, vừa bùi vừa ngọt. Thịt thì thơm phức. Nhất là nồi chân giò, có mác mật ninh cùng, ăn không mỡ không ngấy.

Mác mật còn được ướp măng ớt để dành ăn quanh năm. Quả mác mật rửa sạch, để cho ráo nước. Măng tươi thái lát mỏng. Một ít ớt tươi. Tất cả cho vào hũ thủy tinh, đổ ngập nước muối pha loãng. Chỉ mươi bữa nửa tháng, mác mật lên men là dùng được.

Mác mật ướp vẫn giữ được vị chua ngọt và hương thơm đặc trưng lại có thêm vị chua giòn của măng, vị cay thơm của ớt, thật đặc biệt. Món này để bao lâu cũng không sợ hỏng, dùng để khai vị, pha nước chấm, gia giảm vào các món kho hoặc xào… đều ngon tuyệt.

Mác mật ngon từ quả đến lá ngon đi. Lá mác mật dùng để quay vịt, quay lợn thì khỏi phải nói. Lợn quay, vịt quay mác mật của Lạng Sơn, Cao Bằng ngon nổi tiếng, trở thành đặc sản thì ai cũng biết. Nhưng có những món dân dã thường ngày thì không chắc nhiều người đã được thưởng thức. Đó là món thịt trâu lá mác mật.

Thịt trâu, loại thịt bầy nhầy bạc nhạc chẳng ngon lành gì, nhưng nếu được nấu cùng lá mác mật thì lại trở thành đặc sản, đã ngon lại lạ miệng. Cứ xếp một lượt thịt trâu lại rải một lượt lá mác mật lên trên, đun lửa âm ỉ, ninh kỹ cho nhừ. Thịt trâu vừa mềm vừa giòn, lá mác mật vừa dai vừa bùi quyện với nhau cứ thơm phức, càng nhai càng thấy ngon thấy ngọt.


Mùa mác mật kéo dài đến khoảng cuối tháng 7 đầu tháng 8. Nhưng với mác mật ướp, mác mật phơi khô, mác mật tán bột… được bày bán ở nhiều nơi thì thứ quả bình dị này của xứ đồng rừng đã được nhiều người biết đến. Từ lâu, trong thực đơn của nhiều nhà hàng, khách sạn ở các thành phố đều có các món nấu với mác mật để thực khách lựa chọn, thưởng thức.

Ruộng bậc thang quê tôi (10/06/2011)


Quê tôi miền sơn cước, núi đồi nhiều, ruộng ít. Ruộng cũng chỉ có vài đám ven suối trong thung lũng là bằng phẳng. Còn lại là ruộng bậc thang.



Những người già trong bản vẫn bảo: xưa kia, những quả đồi này chỉ toàn cỏ hoang, cây dại. Dân bản đã bạt đồi, san đất, đắp bờ, đào mương... Từng nấc, từng tầng, từng bậc. Mùa lại mùa, năm lại năm, đời ông đời cha tiếp đến đời con đời cháu. Thành ruộng bậc thang như ngày nay.

Ruộng bậc thang thật lắm hình nhiều vẻ. Những triền đồi thấp, ruộng như những bậc cấp đều tăm tắp. Những quả đồi chon von, ruộng chỗ thì cong như cánh cung, chỗ lại vòng vèo uốn lượn như dải lụa mềm quấn ngang sườn dốc. Có những mảnh ruộng chỉ rộng vài đường bừa. Có đám chỉ to bằng vài mảnh chiếu, trâu quay đầu còn khó.

Ruộng trên núi, nước để cày cấy cũng lấy từ trên núi. Từ những mạch nước rỉ ra ở những hốc núi, vách đồi, dân bản đã khơi nguồn, thông mạch, xẻ rãnh, đào mương dẫn nước về. Dòng nước len lỏi qua những triền đồi, men theo những sườn dốc cheo leo đến từng chân ruộng. Có chỗ, người ta phải bắc những máng tre nối đôi bờ khe sâu cho nước vượt qua. Thật gian nan, vất vả.

Dân bản còn làm những chiếc cọn đưa nước từ dưới suối chảy ngược lên đồi. Không biết ai là người đã chế tạo ra chiếc guồng nước kiểu này và không biết những chiếc cọn nước của người Tày có được coi là chiếc máy bơm nước đầu tiên của loài người hay không, chỉ biết chắc chắn đó là một thành tựu từ rất xưa của nền văn minh lúa nước, một biểu tượng của sự thông minh sáng tạo, rất đáng tự hào.

Mùa cày, bờ cao bờ thấp được phát dọn sạch sẽ, tươi rói màu đất mới. Nước trắng xóa những tràn ruộng, lấp lánh ánh bạc. Mùa làm cỏ, ruộng như những vành khăn nhung xếp từng nếp xanh mượt. Nhưng đẹp hơn cả vẫn là khi lúa chín. Lớp lớp lúa vàng óng vấn vít quanh đồi, tươi thắm những bình minh, vàng ối những chiều tà, rực rỡ giữa màu xanh của rừng núi

Khi trở thành một chàng trai áo chàm, tôi một buổi đến trường, một buổi cũng đi ruộng như gái trai trong bản. Cày bừa, gánh phân, làm cỏ, gặt hái... Có những buổi dừng trâu nghỉ giữa buổi cày, đứng trên mảnh ruộng cao ngang trời, nhìn về bản, thấy những ngôi nhà sàn chỉ bé bằng bàn tay, khói lam chiều đang nhè nhẹ lan dài trong thung lũng, tự nhiên trong lòng thấy xốn xang đến lạ. Lúc đó, tôi không hiểu vì sao mình lại có cảm xúc ấy, chỉ cảm nhận được rằng dẫu còn bao nhọc nhằn nhưng mảnh đất này đáng yêu biết mấy.

Hồi còn nhỏ, những buổi chăn trâu ven đồi, nhìn lên những thửa ruộng chót vót trên đỉnh non cao, tôi vẫn thầm nghĩ quê mình chỉ toàn ruộng bậc thang, không bằng những nơi khác. Mãi sau này, khi dấn thân trên những nẻo đường đời, tôi mới hiểu đó chính là vẻ đẹp của quê hương tôi, một vẻ đẹp thấm đẫm sự nhọc nhằn, vất vả mà chứa chan biết bao tình đất, tình người.



Truyền lửa đam mê

Học sinh (HS) bây giờ ít chọn ngành khoa học xã hội (KHXH) để học. Cụ thể, ở bậc trung học phổ thông, ban KHXH thì lèo tèo, thưa thớt bởi đa số HS chọn ban Khoa học tự nhiên hoặc ban Cơ bản để học. Ở bậc đại học, các trường đào tạo các ngành KHXH ngày càng thu hẹp quy mô đào tạo, nhiều trường tuyển sinh không đủ chỉ tiêu.

Từ đó, HS thi khối A, khối B có nhiều cơ hội chọn trường để thi, chọn ngành nghề phù hợp với năng lực học tập của mình, khả năng đậu đại học nhiều hơn; ra trường dễ kiếm việc làm, lương bổng lại cao, như các ngành thuộc khối các trường kinh tế, kỹ thuật. Còn các trường đào tạo khối C vừa ít trường vừa không nhiều ngành nghề để lựa chọn, ra trường khó xin việc, lương lại thấp. Nên việc HS ít chọn các trường đào tạo ngành KHXH để theo học là tất yếu, như thực tế hiện nay.

Tuy nhiên, đó chỉ là một mặt của vấn đề. Việc lựa chọn ngành nghề của HS chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố: gia đình, nhà trường và xã hội… Trong đó, vai trò của người thầy là rất quan trọng. Để HS yêu thích các môn KHXH, thì chính các thầy cô giáo dạy các bộ môn này phải truyền cho các em ngọn lửa đam mê qua mỗi tiết dạy của mình. Một tiết học văn mà cho các em thấm nhuần được ý nghĩa sâu sắc của nội dung tác phẩm, cảm thụ được cái hay cái đẹp của nghệ thuật ngôn từ; một bài học lịch sử mà khơi gợi được ở các em lòng tự hào về những trang sử vẻ vang của dân tộc, của loài người... cũng chính là đã bồi dưỡng cho các em những giá trị nhân văn, sẽ khiến các em yêu thích môn học. Từ yêu thích đến đam mê, các em sẽ không còn chán học Văn, ngại học Sử, lười học Địa như tình trạng phổ biến bấy lâu.

Tất nhiên không phải cứ yêu thích là các em sẽ thi vào các trường đại học đào tạo các ngành KHXH. Nhưng với các HS có thiên hướng về các môn XH, niềm đam mê sẽ khiến các em tự tin hơn trong việc định hướng nghề nghiệp, giúp các em vượt qua những rào cản của sự toan tính về việc làm, lương bổng sau này cũng như vượt qua những áp lực từ phía gia đình và XH để đến với ngành học mà mình yêu thích. Còn với các HS khác, đó cũng là một yếu tố giúp các em có những nhận thức tích cực, học các môn XH tốt hơn cho dù các em chọn ngành nghề gì chăng nữa.

Để làm được điều đó, người thầy cũng phải vượt qua những gánh nặng của cuộc sống đời thường để làm tròn sứ mệnh, truyền ngọn lửa đam mê từ chính mình cho HS.

Thác đại ngàn còn đâu?

SGTT.VN - Ngày 8.2.2011 (ngày mùng 6 tết), tôi và bạn bè đi chơi thác Gia Long và thác D’Ray Nur, hai điểm du lịch sinh thái nổi tiếng thuộc xã D’Ray Sáp, huyện Krông Ana, Đăk Lăk.

Nhưng đến nơi, chúng tôi vô cùng thất vọng. Cả hai dòng thác không còn vẻ hùng vĩ vốn có của nó. Thác Gia Long, dòng thác đã được bộ Văn hóa - thể thao và du lịch công nhận là di tích văn hóa - lịch sử cấp quốc gia, giờ chỉ còn hai khe nước nhỏ len lỏi giữa những khối đá khổng lồ. Chân thác, nước quẩn lại trông như một cái ao nhỏ. Thác D’Ray Nur cũng trong tình cảnh tương tự. Ngọn thác được mệnh danh là “đệ nhất hùng vĩ thác Tây Nguyên” với mặt thác rộng hơn 100m, cao 50m bây giờ chỉ còn một góc có nước. Chân thác, nhiều chỗ nước cạn, người lội ra giữa dòng được.

Trước đây, hai dòng thác quanh năm tràn đầy, sôi réo, là hai thắng cảnh biểu tượng cho vẻ đẹp của đại ngàn Tây Nguyên. Những ngày lễ tết, người dân trong vùng cũng như du khách khắp nơi đến tham quan, vui chơi rất đông. Bây giờ, thác cạn nên giữa những ngày tết nhưng khách đến tham quan rất thưa thớt.

Được biết, nhà máy thủy điện Buôn Kuôp nằm phía trên đã chặn sông Krông Ana để tích nước nên thác mới trở nên khô kiệt như vậy. Biết là không thể được nhưng vẫn cứ ước giá như có cách gì đó để hai dòng thác vẫn giữ được vẻ đẹp như ngày xưa.

Thác Gia Long chụp đầu năm 2010


Thác Gia Long chụp đầu năm 2011


Thác D’Ray Nur chụp đầu năm 2010


Thác D’Ray Nur chụp đầu năm 2011



Hà Nội đâu của riêng ai...

Thỉnh thoảng có dịp, tôi lại cao giọng kẻ cả: “Hà Nội ấy à, các cậu có biết không…”, và tôi thao thao kể, rằng Hà Nội thế này, Hà Nội thế kia. Các ông bạn đáng kính của tôi, hầu hết là người miền trong, cứ nắc nỏm: “Chu cha, ổng không phải người Hà Nội mà rành Hà Nội quá ta!”…



Những điều tôi kể có rất ít phần trăm là thực tế bản thân, còn lại toàn là những điều có trong sách vở. Các bạn tôi chắc cũng biết vậy nhưng chẳng ai chê trách. Bởi họ hiểu tôi huyên thuyên như thế chẳng qua cũng chỉ vì yêu Hà Nội. Có ai nỡ trách một người đang yêu, hơn nữa đó lại là tình yêu với Hà Nội!

Chứ thực ra tôi có được bao nhiêu lần dạo gót trên đường phố Hà Nội đâu.

Ngày còn bé, tôi chỉ biết Hà Nội qua những câu chuyện người lớn kể. Những lúc ấy, tôi cứ tròn xoe mắt ra. Hà Nội đẹp thế à, Hà Nội vui thế à! Hà Nội sướng thế… Thỉnh thoảng được xem chiếu bóng ngoài bãi thấy những hình ảnh về Hà Nội hay khi xem những tấm bưu ảnh Hồ Gươm, Chùa Một Cột,… tôi cứ mê mẩn cả người. Và tôi ước ao được một lần đi chơi Hà Nội.

Ước mơ ấy thật xa xôi khi mà hàng ngày phải ăn cơm độn ngô, mặc quần áo vá đi học. Hà Nội ở xa lắm, cách những ba trăm cây số, đâu phải như đi chợ phiên, muốn đi là được.

Tuy vậy, chẳng biết do đâu, tôi cũng như những đứa bạn ở cái vùng quê hẻo lánh ấy vẫn thuộc những câu ca về Hà Nội khi đó. Nào là: Hà Nội có xích lô/ Liên Xô có máy cày/ Trung Quốc có giày ba ta, nào là Hôm nay thứ bảy anh ơi/ Ngày mai chủ nhật đi chơi Bờ Hồ/ Bờ Hồ có cái xích lô…

Hà Nội trong tuổi thơ tôi là một miền cổ tích. Tôi nghĩ về Hà Nội như “mơ về nơi xa lắm”. Thế đấy.


Nhưng tôi lại biết một Hà Nội khác. Hà Nội với bóng đá và bánh mì.

Tôi và lũ bạn cùng phố rất mê đá bóng (trẻ con mà, thời nào chẳng thế). Mà bóng thì chỉ ở Hà Nội mới có bán chứ ở quê làm gì có. Bèn góp tiền mua, mỗi đứa hai hào, được tất cả hai đồng rưỡi (ngày ấy năm hào là mua được bát phở thịt lợn ngon lành rồi). Góp được tiền rồi, xem có ai đi Hà Nội thì nhờ người ta mua hộ. Từ lúc gửi tiền đến khi mua được bóng phải chờ đợi cả nửa tháng trời. Đứa nào cũng sốt ruột.

Hai đồng rưỡi chỉ mua được một quả bóng cao su (còn bóng da thì phải năm đồng). Với chúng tôi thế là hạnh phúc lắm. Ngắm quả bóng đỏ mới mua về còn thơm nức mùi cao su, chúng tôi cứ trầm trồ: Hà Nội thích thật, cái gì cũng có.

Bánh mì cũng vậy. Thời ấy chỉ ở Hà Nội mới có bánh mì, ở tỉnh lẻ làm gì có. Vì thế bánh mì là của ngon vật lạ với người dân quê tôi. Ai đi Hà Nội cũng đều mua bánh mì về làm quà. Ngoài người trong gia đình, chỉ những ai thân thiết lắm, tình nghĩa lắm mới được chia phần, gọi là “biếu bác quà Hà Nội”.

Phải nói là bánh mì Hà Nội hồi ấy rất ngon. Vỏ bánh sẫm màu nâu đỏ, có những đường khía chéo nổi từng múi trên mặt. Ruột bánh đặc mà mềm, ăn một lần nhớ mãi. Người ta bảo nhiều khi người Hà Nội phải ăn bánh mì trừ bữa. Sướng thế mà còn kêu. Mình ấy à, có thể ăn bánh mì suốt đời được, ngon thế kia mà. Tôi cứ nghĩ như vậy.

Và cuối cùng thì tôi cũng được đặt chân đến Hà Nội.

Đó là mùa hè năm 1977, khi đó tôi mới đang học cấp 2, được theo mẹ đi thăm chị gái tôi ở Vĩnh Phúc. Trên đường đi phải qua Hà Nội. Lần đầu tiên được đến Hà Nội, thấy cầu Long Biên, thấy sông Hồng,… tôi thích lắm. Nhưng cũng chỉ vậy thôi vì hai mẹ con tôi lại mua vé tàu ngược Vĩnh Phúc ngay. Chỉ đến khi về, vì phải nằm chầu chực mất hai ngày ở Bến Nứa để chờ mua vé ô tô, tôi mới có dịp “thăm thú” Hà Nội. Tôi một mình la cà qua chợ Bắc Qua, tìm đường ra Bờ Hồ chơi quanh quẩn ở đấy, ngắm Hồ Gươm, cầu Thê Húc. Thấy có tàu điện, tôi cứ lên bừa, theo tầu đi chơi, ngắm phố phường Hà Nội. Tôi ngạc nhiên thấy những đứa trẻ trạc tuổi tôi đi bán kem, bán báo, bán quà rong. Tôi nghiệm ra không phải ai ở Hà Nội cũng sướng cả.

Lớn lên, đi học xa nhà rồi đi làm, tôi cũng nhiều lần qua Hà Nội. Toàn là những lần “vội vàng đến, vội vàng đi”. Hoàn cảnh mà. Ở lâu có mà chết tiền. Nên tôi cũng chẳng được thưởng lãm gì nhiều về Hà Nội ngoài những ấn tượng không lấy gì làm thoải mái ở bến xe, nhà ga.

Lần gần đây nhất là mùa hè 2007, tôi lại đến Hà Nội. Tôi lại đến Bờ Hồ, lại quanh quẩn ở đấy ngắm Tháp Rùa, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn. Tôi lại thấy tôi mấy chục năm về trước, khi còn là thằng bé con tỉnh lẻ, ngơ ngác trước phố phường Hà Nội. Mới thấy thời gian trôi đi nhanh quá.

Tuy vậy, thỉnh thoảng có dịp, tôi vẫn cao giọng kể: “Hà Nội ấy à, các cậu có biết không…”. Tôi kể về Hà Nội, say sưa như ông Hai kể về cái làng chợ Dầu của ông trong truyện ngắn Làng của Kim Lân. Phần lớn những điều tôi kể toàn là những điều ai cũng biết. Nhưng các bạn tôi chẳng ai chê trách cả. Có ai nỡ trách một người đang yêu, hơn nữa đó lại là tình yêu với Hà Nội!

Bởi Hà Nội, tình yêu đâu của riêng ai...

Chẳng ai muốn sống trong đói nghèo

Con người ai chẳng mong muốn có cuộc sống đàng hoàng, tốt đẹp. Ít nhất cũng là có đủ cơm ăn, áo ấm. Chẳng ai muốn sống trong đói nghèo cả. Thế nhưng, do hoàn cảnh, nhiều người vẫn phải chịu cảnh sống cơ cực.



Vẫn còn đó bao mảnh đời bất hạnh: trẻ em lang thang cơ nhỡ, người già không nơi nương tựa. Vẫn còn biết bao trẻ em phải bỏ học vì nhà nghèo, không có tiền mua quần áo, sách vở hoặc phải đi làm để kiếm tiền giúp đỡ gia đình…

Xã hội không phải là không quan tâm đến những cảnh đời như vậy. Nhưng không phải một sớm một chiều là mọi việc có thể trở nên tốt đẹp ngay được.

Cho nên khi đọc xong bài Trông rét, nghĩ về sự chịu đựng của dân ta (SGTT.VN ngày 19-11-2011) tôi muốn bàn bạc thêm đôi điều.Cụ thể tôi không đồng ý với cách nhìn nhận vấn đề của tác giả bài viết đó.

Trước hết, về việc những em bé vùng cao đi chân đất trong trời rét buốt, cái rét đến mức trâu bò phải chết. Phải khẳng định rằng báo chí đưa tin không sai. Nhưng nhìn nhận sự việc ấy thế nào? Phải thấy rằng miền núi, vùng cao vẫn còn nhiều khó khăn. Vẫn còn những người nghèo đến mức không có tiền mua áo ấm, giày tất cho con. Còn nếu cho rằng việc đi chân đất trong giá rét của những em bé vùng cao không phải là do nghèo khó mà là do thói quen như bài báo viết thì là một cách nhìn phiến diện.

Và nếu ai đó choáng vì ý nghĩ vì sao cha mẹ, thầy cô giáo của các em lại có thể để cảnh đó diễn ra thì rõ ràng người đó chưa hiểu hết về cuộc sống của giáo viên vùng cao và người dân vùng cao. Ở đó, có những nơi heo hút, vài mươi nóc nhà rải rác trên sườn núi. Đường xá lắm đèo nhiều dốc, đi lại là chủ yếu bằng đi bộ. Từ bản đến trung tâm xã, trung tâm huyện cả đi lẫn về mất cả ngày đường. Thầy cô giáo có thương cũng không thể lo hết cho học sinh của mình được. Bố mẹ các em lo làm để có đủ gạo, bắp ăn hàng ngày cũng là quá sức rồi. Nên đến mùa lạnh muốn sắm áo bông, giày tất cho con nhưng không có cũng đành chịu.

Tác giả bài viết cho rằng khó chấp nhận việc các em bé vùng cao đi chân đất vì lý do nhà quá nghèo, nhưng thật tiếc, đó lại là thực tế. Cũng như ở thành phố vẫn còn cảnh những đứa trẻ phải bỏ học đi bán báo dạo, đánh giày, bán vé số để kiếm ăn. Chẳng ai muốn có những cảnh đời như vậy nhưng không phải hễ cứ muốn là được.

Cho nên, với sự việc này thì ta cần có một cái nhìn cảm thông, chia sẻ hơn là đưa ra những ý kiến rằng thầy cô giáo, gia đình, xã hội phải có trách nhiệm thế nào, rằng việc đi chân đất giữa mùa đông là thói quen chẳng dễ chịu!

Bài viết còn cho rằng dân ta từ xưa tới nay hầu như không biết chủ động chống rét, chỉ biết thụ động chịu đựng. Nhà cửa cứ thông thống. Nếu xây cất kín đáo rồi vẫn không có hệ thống sưởi ấm toàn bộ như nước ngoài. Tác giả còn viện dẫn ra việc người Pháp xây nhà ở ta với kiểu kiến trúc phù hợp, hệ thống lò sưởi, sưởi ấm và nêu vấn đề tại sao ta không học tập mà chỉ biết ngồi co ro, xuýt xoa kêu rét?

Đó là sự so sánh quá khập khiễng. Tại sao không nghĩ đến việc xã hội cần làm gì để nâng cao đời sống cho người dân nói chung, để họ có đủ ăn đủ mặc, để không còn cảnh những đứa trẻ đi chân đất trong mùa đông rét buốt, không còn cảnh "Các em học sinh ngất xỉu vì lạnh, đói".

CÀ PHÊ, MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

Sáng ra, trước khi làm gì cũng phải nhâm nhi ly cà phê cái đã. Nếu hôm nào thong thả, không sợ muộn giờ làm việc thì rút điện thoại ra, gọi mấy “bạn hiền” ra quán để cùng nhau tào lao, bốc phét, nói như ngôn ngữ cửa miệng của nhiều người bây giờ là cùng ngồi “chia sẻ”. Chuyện gẫu, cũng chẳng chết ai, cho cuộc sống thêm hương vị ấy mà.
Bù khú với nhau khoảng nửa tiếng, hoặc hơn, tùy hứng, tùy lúc. Xong, gọi: thanh toán đi, em ơi. Ai trả tiền đây. Ai trả mà chẳng được. Mấy ly cà phê chứ gì đâu mà lăn tăn. Chuyện vặt.
Nghĩa là cà phê sáng bây giờ là “điều giản dị” của hầu hết cánh đàn ông bọn mình. Kể cả việc giành nhau trả tiền cũng là thực lòng, không phải là “giải quyết khâu oai” hay khách sáo gì cả.
Thế nên nhiều lúc đâm ra vẩn vơ, nghĩ ngợi.
Cái thời ấy sao mà khổ đến thế. Sinh viên, lại là sinh viên thời bao cấp... khỏi nói thì ai cũng biết đói dài dài như thế nào rồi. Mỗi sớm, cắp sách lên giảng đường, ngang qua căng-tin, nhìn mấy thằng sinh viên con nhà khá giả đang ngồi ăn sáng, uống cà phê trong đó, lại chửi thầm đời mình sao chó chết thế. Rồi cứ thế với cái bụng rỗng lủi thủi vào lớp, giở “Những người khốn khổ” của Huy-gô ra “nghiên cứu”.
Nói vậy nhưng năm thỉnh mười thoảng cũng có vài đồng trong túi. Cũng chẳng nhiều nhặn gì, chỉ đủ gọi ly cà phê. Mấy thằng uống chung. Cùng cảnh con nhà nghèo đi học xa nhà, thèm khát như nhau mà. Mấy thằng một ly cà phê, làm sao uống. Đã có cách. Xin đường nhiều nhiều một chút. Cô bán căng-tin quá quen với cung cách ấy rồi. Nhỏ mấy giọt cà phê đầu tiên đặc sánh vào ly đường, ngoáy đều tay. Cho đến khi đường quánh lại thành thứ keo trắng ngà, sền sệt. Thứ keo-đường này tụi mình gọi là kem, pha với cà phê vừa ngon vừa được nhiều, giúp cho những cái dạ dày rỗng của cả bọn tạm yên đôi chút.
Học sau mình hai khóa có một “đàn em” nhà ở Đăk Mil. Ngày ấy, Đăk Mil là nơi trồng cà phê nhiều vào hạng nhất nhì của Đăk Lăk (không như bây giờ nhà nhà trồng cà phê, người người trồng cà phê). “Đàn em” thỉnh thoảng về nhà. Lần nào lên cũng có một túi cà phê bột. “Cây nhà lá vườn” đấy, “đàn em” khoe vậy. Thế là đêm đêm, cả bọn túm tụm trên chiếc giường tầng của “đàn em”, tán phét và...chờ uống cà phê. “Đàn em” mở rương, lấy túi cà phê ra, cẩn thận xúc từng thìa cho vào phin. Vừa làm, “đàn em” vừa “thuyết minh”: pha cà phê cũng phải biết cách. Trước hết, đổ một chút nước sôi vừa đủ để thấm ướt cà phê, gọi là “chế nở”. Chờ một lúc mới tiếp tục chế nước sôi đầy phin. Làm không đúng cách, cà phê chảy như “mưa rơi trên thành phố” thì nhạt thếch, cà ngon cũng thành cà dở...Mấy thằng “đàn anh” dân Bắc là bọn tôi cứ trố mắt ra nghe, xuýt xoa, thán phục (hay là cố tình làm ra vẻ như thế). Thấy vậy, “đàn em” khoái trí lắm.
Còn có một anh bạn cùng khóa nhưng học bên khoa Sử, hay đàn hát, rất “nghệ sỹ”. Người nhỏ thó, ngăm đen, gầy. “ Nghệ sỹ” người Quảng nhưng nhà ở Krông Bông. Nghiện cà phê nặng, không ngày nào là không có cữ cà phê. Có hôm, “nghệ sỹ” cứ loanh quanh đi ra đi vào, vẻ bồn chồn. Mình mới hỏi: hôm nay không đi học à? “ Nghệ sỹ” thiểu não: thèm cà phê quá, chịu không nổi, cúp tiết về. Mượn đâu mấy đồng bây chừ...Nghe mà tội nghiệp. Tầm trưa, mình đi học về, đói muốn xỉu, nằm dài chờ đến giờ cơm thì “nghệ sỹ” lò dò vào phòng, ôm ghi ta hát vang, rất hùng tráng “ xin hát mãi về anh, người chiến sỹ biên cương”. Chắc là được nạp cà phê rồi.
Năm ấy, mình về phép. Từ Buôn Ma Thuột ra Bắc, chỉ có vài lạng cà phê làm quà. Cà phê ngày ấy còn thuộc dạng quí hiếm. ( Thảo nào ngày ấy người ta cứ truyền tụng nhau câu: “ Anh đi công tác Buôn Mê. Thuột ra một cái cà phê uống liền” ). Bạn bè, anh em đến nhà chơi, mình pha cà phê mời. Đông người, và cũng để tiết kiệm, mình pha theo kiểu “cà phê kho”: bỏ cà phê vào túi vải màn rồi đun trong chiếc xoong nhỏ. Cà phê hơi loãng nhưng ai cũng khen ngon. Phải cái hao đường vì mọi người ưa uống ngọt.
Mình có người chú dượng, cũng làm việc Nhà nước, cán bộ huyện hẳn hoi nhưng ngoài giờ làm ở cơ quan ông làm ruộng không khác gì nông dân. Hôm ấy, cả nhà đang ăn cơm tối thì ông vào, bảo mình cho một ít cà phê để ông đem theo ra ruộng uống cho tỉnh táo, đêm còn thức canh nước vào ruộng. Mình gói cà phê cho ông, bảo: chừng này tha hồ chú uống. Hôm sau, ông bảo cà phê sao mà đắng ngắt. Thì ra, ông đổ cà phê vào bình, pha như pha trà. Thế gì lấy đâu ra cà phê ngon.
Mình có thằng em họ ở quê, làm thợ xây. Hắn tuyên bố: thà uống rượu chứ không chịu uống cà phê. Vì say rượu còn dễ chịu hơn say cà phê. Thì ra có một lần chú chàng uống cà phê nhiều quá, kiểu như uống nước chanh, bụng lại đang đói nên đâm ra cồn cào, khó chịu trong người suốt cả buổi. Sau lần đó đâm hãi.
Đấy, thỉnh thoảng ngồi cà phê một mình, mình lại cứ vẩn vơ nghĩ ngợi như thế.

KINH NGHIỆM DẠY HỌC SINH LẬP DÀN BÀI MỘT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

Mục lục

Phần I
Lý do chọn đề tài................................ trang 2
1. Tầm quan trọng của vấn đề
2. Vấn đề cần giải quyết.

Phần II
Nội dung kinh nghiệm.........................trang 3
1. Cơ sở lý luận
2. Thực trạng vấn đề
3. Một số biện pháp đã tiến hành
4. Đánh giá hiệu quả
5. Phạm vi vận dụng

Phần III
Kết luận..............................................trang 12

















PHẦN I
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ:
1.1. Kiểu bài văn nghị luận ở chương trình Ngữ văn lớp 9 gồm 2 dạng cơ bản: nghị luận văn học và nghị luận xã hội. Đây là một nội dung rất quan trọng, là trọng tâm của chương trình học kỳ 2. Ngoài việc tìm hiểu những văn bản nghị luận ở phân môn văn học, học sinh còn được tìm hiểu kiểu văn bản này ở phân môn tập làm văn và phải thực hành tạo lập văn bản nghị luận dưới dạng một bài tập làm văn theo yêu cầu của đề bài cho trước.
1.2. Tập làm văn là một môn học thực hành tổng hợp. Bài tập làm văn thể hiện rõ nhất, chính xác nhất trình độ, năng lực của học sinh. Qua bài viết đó, giáo viên đánh giá được kiến thức, năng lực cảm thụ văn học, khả năng tư duy, sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt, trình bày vấn đề...của học sinh.
2. VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT:
2.1. Có một thực tế là nhiều học sinh có kiến thức, có năng lực cảm thụ văn chương, có sự hiểu biết xã hội nhưng khi làm văn, nhất là văn nghị luận xã hội, lại rất lúng túng. Bài viết mắc nhiều sai sót, không phản ánh đúng năng lực thực của học sinh.
2.2. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là học sinh còn yếu cả về kỹ năng lẫn phương pháp làm bài. Vì thế, dạy phân môn tập làm văn nói chung, dạy văn nghị luận nói riêng, đặc biệt dạy làm bài văn nghị luận xã hội là phải rèn những kỹ năng làm bài, định hình được cho học sinh những thao tác tư duy cần thiết. Đó chính là nhiệm vụ của người giáo viên văn.
Qua thực tế giảng dạy, tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm trong việc dạy làm văn nghị luận xã hội cho học sinh, bao gồm các thao tác cơ bản khi xây dựng dàn bài với hệ thống luận điểm, luận cứ cho bài viết. Đặc biệt chú trọng việc rèn kỹ năng lập dàn bài tập làm văn nghị luận xã hội cho học sinh.






PHẦN II
NỘI DUNG KINH NGHIỆM


1. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1.1. Các bước để làm một bài văn nói chung:
- Thao tác để làm một bài văn nói chung gồm có 4 bước: tìm hiểu đề và tìm ý – lập dàn bài – viết thành bài văn – đọc lại bài viết và sửa chữa. Cả 4 khâu này đều quan trọng như nhau. Tuy nhiên, khâu tìm hiểu đề và tìm ý, theo tôi, là khâu then chốt. Bởi “có bột mới gột nên hồ”, một bài văn giống như “hồ” mà tìm hiểu đề và tìm ý giống như là “bột” vậy.
- Nhưng tìm được ý rồi còn phải biết sắp xếp các ý thành một dàn bài. Nếu không, các ý đã tìm được chỉ là một mớ kiến thức lộn xộn, không thành một hệ thống. Vì vậy, lập dàn bài cho bài văn là sự tổng hợp các ý đã tìm được, nó có yêu cầu cao hơn thao tác tìm hiểu đề và tìm ý.
1.2.Một số khái niệm:
- Dàn bài một bài văn là sự sắp xếp các ý đã tìm được theo một trình tự nhất định
- Nghị luận một vấn đề là người viết trình bày quan điểm, tư tưởng, nêu lên những ý kiến, nhận xét đánh giá của mình về vấn đề đó. Theo đó, văn bản nghị luận phải có hệ thống luận điểm rõ ràng với những luận cứ phù hợp, xác đáng, lập luận chặt chẽ để thuyết phục được người nghe, người đọc.
1.3. Mô hình thông thường của một bài văn nghị luận:
A. Mở bài: (Dẫn dắt vấn đề và nêu vấn đề)
B. Thân bài: ( lần lượt nêu từng luận điểm kèm các luận cứ để giải quyết vấn đề)
1. Luận điểm 1:
- Luận cứ 1 (lý lẽ, dẫn chứng)
- Luận cứ 2 (lý lẽ, dẫn chứng)
..........
- Luận cứ n......
2. Luận điểm 2:


- Luận cứ 1 (lý lẽ, dẫn chứng)
- Luận cứ 2 (lý lẽ, dẫn chứng)
..........
- Luận cứ n......
3. Luận điểm 3:
- Luận cứ 1 (lý lẽ, dẫn chứng)
- Luận cứ 2 (lý lẽ, dẫn chứng)
..........
- Luận cứ n......
4. Luận điểm n......
C. Kết bài: (nhấn mạnh, khẳng định lại vấn đề. Liên hệ thực tế, bản thân.)
1.4. Các dạng cơ bản của văn nghị luận ở lớp 9: Như trên đã nói, văn nghị luận có hai dạng cơ bản: nghị luận văn học và nghị luận xã hội. Ở chương trình ngữ văn 9, nghị luận văn học chủ yếu là bàn bạc về một tác phẩm văn xuôi hoặc thơ (trọn vẹn hoặc trích đoạn) mà các em được học, như: Phân tích các truyện ngắn: Làng của Kim Lân, Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng, Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long; phân tích các bài thơ hoặc trích đoạn: Đồng chí của Chính Hữu, Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải, Viếng lăng Bác của Viễn Phương. Còn nghị luận xã hội được giới hạn ở hai dạng. Dạng thứ nhất là nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống, như: Suy nghĩ của em về một tấm gương học sinh nghèo vượt khó; Ý kiến của em về cái lợi và cái hại của trò chơi điện tử; Hút thuốc lá có hại......Dạng thứ hai là nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý. Như: Đạo lý uống nước nhớ nguồn; Đức tính khiêm nhường; Tinh thần tự lực...
Vì để tài này chủ yếu đề cập đến dạng bài nghị luận xã hội nên các cụm từ văn nghị luận, bài văn nghị luận trong nhiều trường hợp dưới đây được hiểu là bài văn nghị luận xã hội.
2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
2.1. Sự trùng lặp trong thao tác làm bài văn nghị luận: Việc nêu ra 4 bước để làm một bài văn, theo tôi về cơ bản là đã cho học sinh thấy được các thao tác cần thiết để làm một bài văn. Nhưng nếu thực hiện rập khuôn, máy móc như lý thuyết tập làm văn trong sách giáo khoa đã đưa ra thì mất rất nhiều




thời gian và sẽ có sự trùng lặp, nhiều thao tác thừa thậm chí gây rối cho học sinh.
Ví dụ: Với đề bài: “ Hãy cho biết ý kiến của em về câu nói Tiên học lễ, hậu học văn”, ở khâu tìm hiểu đề và tìm ý, học sinh phải tìm hiểu bằng cách giải thích: tiên là gì, lễ là gì, hậu là gì, văn là gì; tiên học lễ, hậu học văn nghĩa là như thế nào, tại sao phải tiên học lễ, hậu học văn...Sau đó mới lại sắp xếp lại thành dàn bài. Như vậy là thừa thao tác, mất thời gian. Có thể nhập hai bước này làm một.
2.2. Xây dựng hệ thống luận điểm cho bài văn nghị luận là một thao tác cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Nếu như văn tự sự phải có cốt truyện và nhân vật, văn biểu cảm phải có yếu tố chủ đạo là cảm xúc...thì hệ thống luận điểm chính là cốt lõi của bài văn nghị luận.
Khi học sinh tìm ý cho đề văn nghị luận chính là đang xây dựng hệ thống luận điểm và các luận cứ. Nhưng nhiều học sinh lại không ý thức được điều đó mà hoàn toàn làm theo cảm tính. Dẫn đến các ý của bài văn trình bày rất lộn xộn, không theo một trình tự nào cả, nghĩa là lập luận không chăt chẽ, thiếu sức thuyết phục.
Vì vậy, cần làm cho học sinh hiểu được bản chất của văn nghị luận là phải có hệ thống luận điểm và các luận cứ, chính là các quan điểm, ý kiến, lý lẽ của mình xung quanh vấn đề đó. Nếu không có luận điểm, văn bản đó không thể coi là một văn bản nghị luận.
2.3. Khó khăn của học sinh: Khi làm kiểu bài nghị luận văn học, học sinh có nhiều điều kiện thuận lợi bởi nội dung nghị luận liên quan đến kiến thức văn học đã được học hoặc đọc trong chương trình. Ví dụ: với các đề văn như Phân tích bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương, Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của nhà văn Kim Lân, Phân tích bài thơ” Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải..., học sinh hoàn toàn sử dụng kiến thức có được trong quá trình học văn bản để làm bài.
Còn để làm bài nghị luận xã hội thì học sinh chủ yếu phải vận dụng sự hiểu biết từ thực tế cuộc sống . Ví dụ như khi phải nghị luận về các vấn đề như Bảo vệ môi trường, Lòng biết ơn thầy cô giáo, Có chí thì nên, Thời trang và cuộc sống...học sinh phải huy động sự hiểu biết của mình ở nhiều lĩnh vực như lĩnh vực đạo đức, văn hóa, nghệ thuật, lịch sử, địa lý...Điều này, ngoài kiến thức học được trong sách vở còn phụ thuộc rất nhiều vào vốn sống của các em. Đó là khó khăn của học sinh khi làm bài văn nghị luận xã hội.


3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ĐỂ GIÚP HỌC SINH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI ĐƯỢC TỐT:
3.1. Biện pháp 1: xây dựng dàn bài bằng thao tác “hai trong một”:
Khi hướng dẫn học sinh làm một bài văn nói chung, tôi nhận thấy nếu cứ để học sinh thực hiện tuần tự các thao tác làm bài theo như lý thuyết mà sách giáo khoa đưa ra sẽ mất nhiều thời gian một cách không cần thiết. Trên thực tế, với văn nghị luận, chỉ cần xác định được những luận điểm là có thể bắt tay vào làm bài. Kinh nghiệm cho thấy các luận cứ sẽ nảy sinh trong quá trình viết bài. Vì vậy, có thể gộp hai bước tìm hiểu đề, tìm ý và lập dàn ý làm một. Tôi đã hướng dẫn học sinh làm bài văn nghị luận xã hội như sau.
Ví dụ: Cho đề bài: Hiện nay vẫn còn có hiện tượng một số người thiếu ý thức hay xả rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường. Ý kiến của em về vấn đề này. Tôi đã hướng dẫn học sinh thực hiện các thao tác như sau:
* Bước 1: Vạch ra trong giấy nháp một sườn bài gồm các mục mở bài, thân bài, kết bài như bảng dưới đây.


A. Mở bài:
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................

B.Thân bài:
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................

C. Kết bài:
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................


* Bước 2: Xác định luận điểm, tìm luận cứ bằng cách bám vào đề bài để đặt ra những câu hỏi và tự trả lời những câu hỏi đó. Cụ thể:
- Rác là gì? Thế nào là xả rác bừa bãi?
- Môi trường là gì? Thế nào là môi trường bị ô nhiễm?
- Tác hại của việc xả rác bừa bãi? ( Hay: Xả rác bừa bãi sẽ gây những tác hại gì?)


- Để ngăn chặn, chấm dứt việc xả rác bừa bãi, ta cần phải làm gì?
Bằng cách trên, học sinh sẽ xác định được 4 luận điểm. Sẽ có một dàn bài đại cương như sau:

A. Mở bài: (Dẫn dắt vấn đề và nêu vấn đề. Viết ngắn gọn khoảng 3-5 câu )
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................

B.Thân bài:
1. Rác là gì? Thế nào là xả rác bừa bãi?
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................

2. Môi trường là gì? Thế nào là môi trường bị ô nhiễm?
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
3. Tác hại của việc xả rác bừa bãi? ( Hay: Xả rác bừa bãi sẽ gây những tác hại gì?)
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
4. Để ngăn chặn, chấm dứt việc xả rác bừa bãi, ta cần phải làm gì?
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................

C. Kết bài: ( Khẳng định, nhấn mạnh vấn đề. Liên hệ bản thân. Viết ngắn gọn khoảng 5 câu)
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
* Việc xác định luận điểm hầu như học sinh biết cách xác định. Còn việc tìm và nêu luận cứ (lý lẽ và dẫn chứng) để làm sáng tỏ luận điểm có những đòi hỏi cao hơn vì phải tự trả lời các câu hỏi đặt ra ở luận điểm. Nghĩa là việc trả lời các câu hỏi mà luận điểm đưa ra chính là các luận cứ của luận điểm ấy. Điều này lại tùy thuộc vào năng lực của từng cá nhân. Tuy vậy phải thấy rằng học sinh biết cách xác định và xác định được những luận điểm của vấn đề, nêu được một số ý làm luận cứ, tuy chưa thật đầy đủ nhưng cũng có thể được coi là đạt mức trung bình so với yêu cầu đề ra của bài làm.
* Thực tế hai bước làm bài nêu ở trên là một thao tác, rút gọn các khâu tìm hiểu đề, tìm ý và lập dàn bài trong quá trình làm bài văn nghị luận. Tạm gọi đó là thao tác hai trong một. Cách làm này giúp học sinh hình dung một cách bao quát toàn bộ các nội dung cần có của bài văn và rút ngắn rất nhiều thời gian tìm hiểu đề, tìm ý. Đặc biệt học sinh sẽ không mắc phải những lỗi như xa đề, lạc đề
* Các bước tiếp theo là dựa vào các luận điểm tìm được, viết thành bài văn theo bố cục 3 phần sau đó sửa chữa những lỗi chính tả, ngữ pháp (nếu có). Hướng dẫn học sinh mỗi luận điểm được viết thành một đoạn văn. Luận điểm sẽ là câu chủ đề của đoạn. Các câu văn sau nó bao gồm những lý lẽ, dẫn chứng, là những luận cứ làm sáng tỏ luận điểm.
3.2. Biện pháp 2: tích hợp khi dạy văn bản và dạy tập làm văn: Phân môn tập làm văn trong chương trình ngữ văn 9 chiếm thời lượng không nhiều, bình quân 1 tiết/tuần học. Để củng cố kiến thức về văn nghị luận cho học sinh, cần chú trọng sự tích hợp giữa dạy văn bản và dạy tập làm văn.
Ví dụ: Khi dạy văn bản “Phong cách Hồ Chí Minh” (Ngữ văn 9 tập 1- trang 5- nxb Giáo dục – 2009) cần chỉ ra cho học sinh thấy cách lập luận chặt chẽ, cách nêu luận cứ xác đáng, lối diễn đạt tinh tế của tác giả Lê Anh Trà. Như: khi nói về cách sinh hoạt, lối sống bình dị rất phương Đông, rất Việt Nam của Bác, tác giả đã sử dụng 3 luận cứ ( nơi ở và làm việc đơn sơ, trang phục giản dị, ăn uống đạm bạc) để chứng minh và giải thích cho luận điểm này. Hoặc văn bản “ Bàn về đọc sách” của Chu Quang Tiềm ( Ngữ văn 9 tập 2 - trang 3 - nxb Giáo dục năm 2009) cần cho học sinh xác định các luận điểm trong bài (ba luận điểm: Tầm quan trọng, ý nghĩa của việc đọc sách – Những khó khăn và sai lầm trong việc đọc sách – Bàn về cách lựa chọn sách, cách đọc sách) và ở mỗi luận điểm đều có những luận cứ (lý lẽ, dẫn chứng) rất hợp lý và xác đáng.
Như vậy, không những học sinh nắm được kiến thức, nội dung văn bản mà còn thấy được cấu trúc của một văn bản nghị luận. Qua những tiết học như thế, học sinh sẽ được củng cố, khắc sâu kiến thức về đặc điểm của văn nghị luận để từ đó có ý thức rõ rệt hơn trong việc xây dựng luận điểm, tìm luận cứ khi tạo lập văn bản nghị luận.
3.3. Một số biện pháp khác để bổ sung kiến thức giúp cho học sinh làm bài nghị luận xã hội:
- Tra từ điển để hiểu một số khái niệm, thuật ngữ chính trị xã hội như môi trường, phong cách, sinh thái, văn hóa, cộng đồng, bản sắc...
- Hệ thống hóa một số kiến thức được học trong nhà trường như môn GDCD, Lịch sử, Địa lý và một số môn học khác. Ví dụ: tính trung thực, tính tự lực, tinh thần làm chủ, tinh thần đoàn kết, tình bạn, tình yêu, hạnh phúc... (môn GDCD), tinh thần yêu nước chống ngoại xâm, những thành tựu văn hóa, sự phát triển của đất nước qua những thời kỳ... (môn Lịch sử), vai trò và giá trị của tài nguyên thiên nhiên, thắng cảnh...đối với cuộc sống con người (môn Địa lý). Đây là những kiến thức cần có giúp cho học sinh làm một bài văn nghị luận xã hội được tốt.
- Ngoài ra giáo viên cần hướng dẫn học sinh tham khảo thêm sách báo, cập nhật thông tin qua ti vi, mạng internet. Điều này đòi hỏi học sinh phải luôn có ý thức tìm hiểu, ham hiểu biết và là một việc làm có tính thường xuyên, liên tục.
4. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ:
- Khi áp dụng các biện pháp này để dạy cho học sinh, tôi nhận thấy các em đã được đặt vào những tình huống có vấn đề nhờ đó các em đã chủ động, tích cực trong học tập bộ môn. Các em nắm được phương pháp làm bài, xác định được những vấn đề trọng tâm cần phải giải quyết theo yêu cầu của đề ra. Do đó học sinh hứng thú với môn học, kết quả học tập bộ môn cũng được nâng lên.




Cụ thể: ở chương trình ngữ văn 9, bài viết số 5 là kiểu bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng của đời sống. Tôi thống kê kết quả làm bài viết số 5 của các em học sinh lớp 9 trường PTDTNT Krông Ana theo từng năm học như sau:




* Nhận xét: Theo số liệu thống kê, tỉ lệ học sinh bị điểm yếu kém giảm, tỉ lệ học sinh đạt điểm trung bình và khá tăng. Có học sinh đạt điểm giỏi. Đặc biệt, năm học 2008-2009, có một học sinh lớp 9 của trường (là học sinh dân tộc thiểu số) đã đoạt giải Nhất kỳ thi học sinh giỏi Văn cấp huyện và đoạt giải Ba kỳ thi học sinh giỏi Văn cấp tỉnh.
- Trong chương trình ngữ văn 9 còn có 2 tiết văn học địa phương yêu cầu học sinh viết bài văn nghị luận xã hội về một sự việc, hiện tượng nào đó ở địa phương. Đề tái khá phong phú và thiết thực: có thể là vấn đề môi trường, đời sống nhân dân, những thành tựu mới trong xây dựng, những biểu hiện về sự quan tâm đối với quyền trẻ em, vấn đề giúp đỡ gia đình thương binh, liệt sỹ, bà mẹ Việt Nam anh hùng, những người có hoàn cảnh khó khăn, vấn đề tệ nạn xã hội. Tiết 101, giáo viên hướng dẫn học sinh xác định đề tài để các em chuẩn bị. Tiết 143, học sinh trình bày bài viết của mình. Do có thời gian để chuẩn bị cho bài viết, cộng với việc vận dụng phương pháp tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn bài theo kiểu “hai trong một” như đã trình bày, kết quả học sinh làm bài khá tốt. Tỉ lệ bài đạt điểm trung bình trở lên là gần 70 %.
Qua một số khảo sát trên, có thể khẳng định các biện pháp rèn kỹ năng làm bài cho học sinh , cụ thể là xây dựng luận điểm, luận cứ khi làm văn nghị luận xã hội đã đạt được những hiệu quả khả quan, thiết thực góp phần nâng cao chất lượng học văn, giúp các em có thêm kỹ năng sống.



5. PHẠM VI VẬN DỤNG KINH NGHIỆM:
- Với giáo viên, có thể vận dụng kinh nghiệm giảng dạy này trong việc dạy tập làm văn nghị luận văn học ở cả lớp 8 và lớp 9. Tất nhiên, như đã nói, giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội có những đặc thù riêng nên khi vận dụng cần phải linh hoạt, sáng tạo, không nên rập khuôn, máy móc.
- Với học sinh, trong học tập và các hoạt động ngoài giờ lên lớp, khi phải bày tỏ quan điểm của mình về một vấn đề xã hội, các em đều có thể vận dụng những kỹ năng xây dựng luận điểm, tìm luận cứ đã được học để trình bày, thuyết trình. Trong giao tiếp hàng ngày, học sinh biết cách trình bày ý kiến, quan điểm của mình một cách thuyết phục.



PHẦN III
KẾT LUẬN

Để viết được một bài văn, ta phải thực hiện rất nhiều thao tác, trong đó có thao tác viết bài. Một bài văn hay phải là bài văn không những đáp ứng được về mặt nội dung mà còn phải có hành văn phù hợp. Viết như thế nào cho hay, điều này cũng hoàn toàn phụ thuộc vào tố chất cá nhân mỗi người. Vấn đề này nếu có điều kiện sẽ trình bày ở một đề tài khác. Tuy nhiên, nếu rèn được cho học sinh thuần thục những kỹ năng xây dựng dàn bài như trên đã nêu thì bài làm của học sinh tối thiểu cũng đủ ý, không lạc đề và sẽ đạt được mức trung bình trở lên. Nhưng quan trọng hơn cả là học sinh sẽ có những thao tác tư duy cần thiết để bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình một cách đúng đắn về những vấn đề mà cuộc sống đặt ra. Đó chính là hiệu quả cao nhất mà việc học tập làm văn đem lại.


NGƯỜI VIẾT




Hoàng Minh Sơn


NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CỦA HĐKH CẤP CƠ SỞ
.........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CỦA HĐKH CẤP TỈNH
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................
...........................................

Chợ Cá Buôn Trấp

Những ai lần đầu đến Buôn Trấp, một thị trấn nhỏ bên sông Krông Ana (Krông Ana) đều cảm thấy ngạc nhiên đến thích thú trước vẻ đẹp mang nét đồng bằng trên cao nguyên: dòng Krông Ana êm đềm in bóng núi, đôi bờ là đồng ruộng mênh mông, ngút ngát. Nhưng ngạc nhiên và thích thú hơn cả khi thấy ở chợ Buôn Trấp la liệt những hàng bán cá, tôm, cua, ốc, lươn, rắn nước… những sản vật mà dòng sông Mẹ hiền hòa đã ban tặng cho vùng đất này.

Cá ở đây thật nhiều loại: cá trắm, cá trôi, cá mè, cá bống, cá trạch, cá dâu, cá sặt, cá thát lát… Nhưng nhiều nhất, sẵn nhất và được chuộng nhất vẫn là cá lóc. Cá lóc lúc nhúc trong những chậu nhôm lớn, những thùng tôn lớn đầy nước, bày từng dãy. Khách chỉ con nào, người bán mới thò tay bắt con đó. Cá to và dài như chiếc chày tay, nặng cân rưỡi, hai cân là điều bình thường, con nào nhỏ lắm cũng chừng bằng cổ tay. Những con cá lóc sông đen trũi, mình tròn lẳn, tươi roi rói, quẫy đành đạch, trông thật thích mắt.
Cá lăng là loại cá ngon có tiếng vì có vị ngọt, thịt chắc, mềm mà không bở, ít xương. Nhiều người vẫn bảo rằng đây là loại cá xưa kia vẫn được dùng để tiến vua, không phải nơi nào cũng có. Quí hiếm là thế vậy mà ở chợ Buôn Trấp lại có bán ê hề. Cá lăng sông Krông Ana vàng nhẫy, mập mạp, to nhỏ đủ loại. Loại cá này dùng để nhúng lẩu thì thật tuyệt.

Người ta vẫn hay nói đến món chả cá Buôn Trấp, ngon không kém chả cá ở bất cứ nơi nào. Chả được làm từ cá thát lát. Những con cá to chừng ba bốn ngón tay màu trắng bạc, mỏng mình săn thịt, dùng làm chả thì chẳng chê vào đâu được. Cô hàng cá thát lát chiều khách, sẵn sàng mổ cá, dùng chiếc thìa nhỏ thoăn thoắt nạo thịt, rồi trộn, tẩm ướp gia vị ngay tại chỗ, viên thành từng viên hoặc nặn thành từng miếng mỏng dẹt chừng bàn tay tùy ý…Khách chỉ việc đem về, bắc chảo lên rán là được đĩa chả cá thơm phức, ngọt lừ, khoái khẩu.

Lươn cũng là một đặc sản của Buôn Trấp. Dòng Krông Ana dạt dào phù sa bồi đắp mỡ màu cho đồng ruộng, tạo nên những bàu, đìa, đầm, láng ven sông. Vì thế lươn rất nhiều. Nhưng mùa mưa mới chính là mùa lươn. Mùa này, chợ lúc nào cũng có lươn bán. Lươn đồng từng chậu đầy nhóc, vàng ươm, bóng nhẫy. Có những mớ lươn con nào con nấy to bằng ngón chân cái người lớn, béo căng da thịt. Lươn nấu cháo vừa ngon vừa bổ. Lươn vằm xả ớt, lươn nướng, lẩu lươn… là những món vừa dễ làm vừa ngọt lại có tính lành, được nhiều người ưa chuộng.

Thật là thiếu sót nếu không nói đến rắn, người dân ở đây còn gọi là liu điu – một loại rắn nước. Cũng như lươn, rắn có nhiều về mùa mưa. Người yếu bóng vía sợ hãi khi nhìn những con rắn cuộn từng búi trong xô nhựa, trong bao sợi dứa. Nhưng thực ra lũ rắn này lại rất hiền. Người bán rắn nhanh tay chộp đầu con rắn và chỉ với một chiếc kéo nhỏ, họ nhanh nhẹn làm thịt. Rắn được lột da, bỏ ruột, cắt thành từng khúc trắng nuột, loáng cái là xong. Thịt rắn đem vào cối xay nhuyễn với xả ớt, nêm muối, tiêu, bột ngọt, trộn với trứng vịt rán thành chả rất ngon. Ngoài ra, rắn còn được chế biến thành các món nướng, luộc hoặc xào xả ớt. Những món ăn từ rắn vừa ngon vừa có tác dụng bồi bổ sức khỏe, rất tốt cho gân cốt.

Dòng sông Krông Ana đã tạo nên vựa cá cho người dân nơi đây. Từ Buôn Trấp, cá, tôm, cua, ốc, rắn, lươn… được các tiểu thương đưa đến các huyện thị, làm phong phú thêm sản vật của quê hương Dak Lak, thêm quyến luyến lòng du khách mỗi khi đến thăm thú, thưởng ngoạn vùng đất cao nguyên này.

Sinh viên tại chức, họ là ai?

SGTT.VN - Những người theo học hệ đại học tại chức có thể tạm phân làm hai bộ phận. Một bộ phận gồm những cán bộ, công chức, viên chức đang công tác tại các cơ quan nhà nước. Bộ phận còn lại là học sinh phổ thông, bộ đội xuất ngũ, công nhân…nhưng đông nhất vẫn là học sinh phổ thông.

Mục đích học tập của những người này cũng khác nhau. Cán bộ, công chức, viên chức đi học đại học tại chức, đa phần là những người đã có bằng trung cấp, cao đẳng. Có người đi học với khát khao chiếm lĩnh kiến thức, nâng cao trình độ nhằm đáp ứng nhu cầu công tác. Nhưng bên cạnh đó, có không ít người đi học là để mong được chỉnh lương, ăn lương bậc đại học; có người thì nằm trong diện qui hoạch cán bộ nguồn, buộc phải có bằng đại học nếu muốn được đề bạt vào các chức vụ quản lý; có người thì đi để kiếm cái bằng đại học cho bằng anh bằng em…

Với những học sinh phổ thông, họ học đại học tại chức vì thi trượt đại học chính qui. Tất nhiên trong số này, có những em có năng lực học tập (tôi biết có em điểm thi đại học chỉ thấp hơn điểm sàn 0,5-1 điểm). Có những em vì hoàn cảnh khó khăn, không có tiền để học đại học chính qui nên theo học tại chức, vừa lo mưu sinh hàng ngày vừa đi học. Nhưng cũng có những em con nhà khá giả, đi học tại chức với tâm lý “đi cho biết đời sinh viên đại học” ...còn mọi chuyện tính sau. Không ít những em có cha mẹ, người thân là cán bộ có chức có quyền, trượt đại học chính qui nên theo học hệ tại chức, cốt có tấm bằng đại học, còn đầu ra đã có người lo.

Như thế, đầu vào của hệ đại học tại chức gồm nhiều thành phần. Điều đó, suy cho cùng cũng là bình thường trong xu thế xã hội hóa giáo dục ngày nay. Điều đáng nói là chất lượng đào tạo của hệ tại chức. Hệ đại học tại chức được đào tạo dưới nhiều hình thức: mở lớp ngay tại trường đại học, song song với hệ chính qui; mở lớp ở Trung tâm giáo dục thường xuyên các tỉnh, thành phố ( dạng vừa học vừa làm). Ở các trường đại học, hệ chính qui còn nhiều tồn tại như số sinh viên / giảng viên còn cao, nhiều giảng viên chỉ có trình độ đại học (giảng dạy kiểu “cơm chấm cơm”), phòng ốc, thư viện…còn thiếu thì tin chắc rằng các lớp đào tạo tại chức trong trường còn nhiều bất cập hơn.

Còn các lớp đại học tại chức được mở ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên các tỉnh, thành phố thì càng có nhiều điều đáng nói. Tình trạng dồn tiết, cắt xén chương trình, giảng viên được thỉnh giảng đến dạy hết số tiết cho xong, không cần biết học viên học thế nào…là chuyện bình thường. Và với những mục đích học tập khác nhau như trên đã nói cộng với sự quản lý lỏng lẻo của các cơ sơ giáo dục tại chức thì tình trạng mua điểm, “học giả bằng thật” (dù là bằng tại chức) là điều không tránh khỏi. Điều đó ai cũng biết nhưng chẳng ai nói ra vì đó là điều khá phổ biến.

Chính vì vậy, chất lượng đào tạo đại học tại chức đã không được xã hội tin cậy. Cho nên, việc Đà Nẵng nói “ không” với bằng tại chức trong tuyển dụng cũng là điều có lý.