Ngôi nhà yêu dấu
Tuesday, December 23, 2008 3:49:14 AM
bài đăng báo Tuổi trẻ Online ngày 16-11-2008
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=288026&ChannelID=194
TTO - Đó là ngôi nhà của ông nội tôi. Một ngôi nhà sàn đơn sơ ở một bản Tày dưới chân núi. Tuổi thơ ấu của tôi đã có những tháng ngày đi qua trong ngôi nhà ấy, êm ái, bình lặng như con suối nhỏ róc rách nơi góc rừng lặng lẽ.
Hồi đó, tôi được về quê ở với ông bà nội một thời gian. Khoảng thời gian ấy thật ngắn ngủi so với một đời người và khi ấy tôi còn bé nên cũng chẳng nhớ được gì nhiều. Ký ức chỉ là những mẩu chắp nối, rời rạc. Nhưng không hiểu sao cho đến bây giờ khi tóc trên đầu đã có sợi bạc, hình bóng ngôi nhà thân thương ấy vẫn in sâu trong ký ức.
Nhà ông tôi nghèo. Cha tôi và các chú đi công tác xa, chẳng ai giúp được gì cho ông cả. Mà hồi ấy hình như ai cũng nghèo như thế. Nhà lợp tranh, vách nhà bức thì trát đất, bức thì bưng bằng phên nứa. Sàn nhà chỉ có gian giữa lát bằng ván, những tấm ván dày mỏng khác nhau, mỗi bước đi lại động lịch kịch. Các gian còn lại, sàn được ghép bằng những cây vầu, lâu ngày lên nước nâu bóng. Chiếc cầu thang lên nhà làm bằng thân cây rừng. Bậc thang là những khúc cây tròn không đẽo gọt cứ xù xì, nham nhám. Những ngày đầu chưa quen, mỗi khi lên xuống tôi cứ run run sợ ngã.
Ông tôi ngày ấy đã già nhưng vẫn nhận nuôi mấy con bò của hợp tác xã. Có những buổi chiều mùa đông, tôi thấy ông đi bò về. Ông lùa bò ngang qua cánh đồng đã gặt xong chỉ còn trơ gốc rạ, vai vác một bó củi lấy từ trong núi.
Dáng ông cao gầy, lưng còng còng in trong bóng chiều xám nhạt. Gió lạnh từng cơn hiu hắt. Cho bò vào chuồng, cài gióng cẩn thận xong ông còn lụi hụi xếp lại bó củi cho ngay ngắn dưới gầm sàn. Rồi mới chậm rãi lên nhà. Bà tôi đang nấu ăn, vừa bỏm bẻm nhai trầu vừa ca cẩm rằng ông đừng tham công tiếc việc quá, lỡ ốm đau thì khổ. Ông chỉ cười xòa rồi ngồi xuống, vừa xuýt xoa vì lạnh vừa hơ hơ đôi tay gày gò xương xẩu bên bếp lửa bập bùng.
Ông tôi là người thạo chữ Nho. Nhiều đêm, ông mở chiếc tráp gỗ cũ kỹ, lôi ra những quyển sách bằng giấy dó, ngồi đọc hàng giờ. Ông ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu trải ở trước bàn thờ, bên ngọn đèn dầu leo lét, vừa lẩm nhẩm đọc vừa gật gù. Tôi ngồi bên ông, tò mò sờ lên những cuốn sách. Những trang giấy mềm nhũn, ram ráp, mép sờn quăn cả lên.
Những hàng chữ viết bằng mực Tàu đen nhánh. Chẳng biết sách viết những gì mà khi đọc bao giờ ông cũng tỏ ra rất kính cẩn. Có lúc ông ngừng đọc, ngồi hồi lâu như đang nghĩ ngợi gì đó. Đôi khi ông giảng giải cho tôi nghe về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín…, những điều mà trí óc non nớt của một đứa trẻ như tôi hồi đó khó có thể hiểu hết được.
Đêm, tôi ngủ với ông. Cái màn vải nhuộm chàm. Cái chăn thổ cẩm cũng nhuộm chàm. Dạo đầu, cái mùi chàm ngai ngái khiến tôi lạ lẫm khó ngủ. Tôi nằm im, lắng nghe tiếng mọt nghiến cọt kẹt trên xà nhà. Tiếng thở phì phì của con bò dưới gầm sàn, đuôi quật đen đét đuổi muỗi. Tiếng nhà hàng xóm thức khuya nói chuyện rì rầm. Tiếng bà mẹ nào cất giọng ru ngái ngủ dỗ đứa con giật mình đang oe oe khóc. Rồi chỉ còn sự tĩnh lặng mông lung của đêm khuya bao trùm bản nhỏ.
Nhà ông tôi có những thứ rất lạ. Đó là những chiếc ghế bện bằng rơm dày chừng gang tay, hình tròn, trông từa tựa như chiếc rế nồi, ngồi rất êm. Có chiếc đã dùng lâu, mặt rơm nhẵn lỳ, trơn bóng, những cọng rơm ở mép đã sờn rách, xơ ra. Còn chiếc mâm ăn cơm làm bằng gỗ, hình chữ nhật, mỗi bề chừng vài gang tay, cao chừng một gang tay. Thật ra đó là những đồ dùng thông thường mà nhà nào trong bản cũng có. Nhưng với một đứa trẻ vốn quen sống ở phố phường là tôi hồi ấy thấy thật xa lạ.
Thỉnh thoảng tôi lại được ăn món thịt gà xào gừng do bà tôi làm. Thịt gà mềm ngọt, vị gừng thơm cay, ấm nóng. Cơm cũng nóng hổi. Ăn vào cứ ấm sực cả người, quên cả cái rét mướt của buổi trưa mùa đông. Bao giờ cũng vậy, tôi luôn được phần cả hai chiếc đùi gà. Bà bảo phong tục của người Tày, nhà có trẻ nhỏ, đùi gà phải để nguyên không được chặt ra, dành cho trẻ ăn cho mau lớn. Bà ép tôi phải ăn bằng hết.
Rồi tôi trở về phố, năm thỉnh mười thoảng mới về thăm quê. Rồi tôi đi xa. Năm tháng trôi qua, cuộc sống nặng những nỗi lo cơm áo. Ở quê tôi giờ cũng chỉ còn có vài người bà con họ hàng xa. Bản quê tôi cũng khác xưa nhiều lắm. Tôi càng ít về quê hơn. Nhưng trong tôi vẫn đau đáu về nơi ấy. Ngôi nhà của ông tôi, những ngày mùa đông, mùi vải chàm ngai ngái, những đêm khuya hoang vắng, miếng thịt gà xào gừng…sao tất cả cứ khắc sâu trong ký ức?
Cho đến một ngày, trên những nẻo đường đời xa xôi, tôi mới hiểu tất cả những điều đó đã làm nên một điều mà người ta hay nhắc đến, điều mà chẳng ai có thể quên được. Đó chính là quê hương.
------(_^_^_)------
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=288026&ChannelID=194
TTO - Đó là ngôi nhà của ông nội tôi. Một ngôi nhà sàn đơn sơ ở một bản Tày dưới chân núi. Tuổi thơ ấu của tôi đã có những tháng ngày đi qua trong ngôi nhà ấy, êm ái, bình lặng như con suối nhỏ róc rách nơi góc rừng lặng lẽ.
Hồi đó, tôi được về quê ở với ông bà nội một thời gian. Khoảng thời gian ấy thật ngắn ngủi so với một đời người và khi ấy tôi còn bé nên cũng chẳng nhớ được gì nhiều. Ký ức chỉ là những mẩu chắp nối, rời rạc. Nhưng không hiểu sao cho đến bây giờ khi tóc trên đầu đã có sợi bạc, hình bóng ngôi nhà thân thương ấy vẫn in sâu trong ký ức.
Nhà ông tôi nghèo. Cha tôi và các chú đi công tác xa, chẳng ai giúp được gì cho ông cả. Mà hồi ấy hình như ai cũng nghèo như thế. Nhà lợp tranh, vách nhà bức thì trát đất, bức thì bưng bằng phên nứa. Sàn nhà chỉ có gian giữa lát bằng ván, những tấm ván dày mỏng khác nhau, mỗi bước đi lại động lịch kịch. Các gian còn lại, sàn được ghép bằng những cây vầu, lâu ngày lên nước nâu bóng. Chiếc cầu thang lên nhà làm bằng thân cây rừng. Bậc thang là những khúc cây tròn không đẽo gọt cứ xù xì, nham nhám. Những ngày đầu chưa quen, mỗi khi lên xuống tôi cứ run run sợ ngã.
Ông tôi ngày ấy đã già nhưng vẫn nhận nuôi mấy con bò của hợp tác xã. Có những buổi chiều mùa đông, tôi thấy ông đi bò về. Ông lùa bò ngang qua cánh đồng đã gặt xong chỉ còn trơ gốc rạ, vai vác một bó củi lấy từ trong núi.
Dáng ông cao gầy, lưng còng còng in trong bóng chiều xám nhạt. Gió lạnh từng cơn hiu hắt. Cho bò vào chuồng, cài gióng cẩn thận xong ông còn lụi hụi xếp lại bó củi cho ngay ngắn dưới gầm sàn. Rồi mới chậm rãi lên nhà. Bà tôi đang nấu ăn, vừa bỏm bẻm nhai trầu vừa ca cẩm rằng ông đừng tham công tiếc việc quá, lỡ ốm đau thì khổ. Ông chỉ cười xòa rồi ngồi xuống, vừa xuýt xoa vì lạnh vừa hơ hơ đôi tay gày gò xương xẩu bên bếp lửa bập bùng.
Ông tôi là người thạo chữ Nho. Nhiều đêm, ông mở chiếc tráp gỗ cũ kỹ, lôi ra những quyển sách bằng giấy dó, ngồi đọc hàng giờ. Ông ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu trải ở trước bàn thờ, bên ngọn đèn dầu leo lét, vừa lẩm nhẩm đọc vừa gật gù. Tôi ngồi bên ông, tò mò sờ lên những cuốn sách. Những trang giấy mềm nhũn, ram ráp, mép sờn quăn cả lên.
Những hàng chữ viết bằng mực Tàu đen nhánh. Chẳng biết sách viết những gì mà khi đọc bao giờ ông cũng tỏ ra rất kính cẩn. Có lúc ông ngừng đọc, ngồi hồi lâu như đang nghĩ ngợi gì đó. Đôi khi ông giảng giải cho tôi nghe về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín…, những điều mà trí óc non nớt của một đứa trẻ như tôi hồi đó khó có thể hiểu hết được.
Đêm, tôi ngủ với ông. Cái màn vải nhuộm chàm. Cái chăn thổ cẩm cũng nhuộm chàm. Dạo đầu, cái mùi chàm ngai ngái khiến tôi lạ lẫm khó ngủ. Tôi nằm im, lắng nghe tiếng mọt nghiến cọt kẹt trên xà nhà. Tiếng thở phì phì của con bò dưới gầm sàn, đuôi quật đen đét đuổi muỗi. Tiếng nhà hàng xóm thức khuya nói chuyện rì rầm. Tiếng bà mẹ nào cất giọng ru ngái ngủ dỗ đứa con giật mình đang oe oe khóc. Rồi chỉ còn sự tĩnh lặng mông lung của đêm khuya bao trùm bản nhỏ.
Nhà ông tôi có những thứ rất lạ. Đó là những chiếc ghế bện bằng rơm dày chừng gang tay, hình tròn, trông từa tựa như chiếc rế nồi, ngồi rất êm. Có chiếc đã dùng lâu, mặt rơm nhẵn lỳ, trơn bóng, những cọng rơm ở mép đã sờn rách, xơ ra. Còn chiếc mâm ăn cơm làm bằng gỗ, hình chữ nhật, mỗi bề chừng vài gang tay, cao chừng một gang tay. Thật ra đó là những đồ dùng thông thường mà nhà nào trong bản cũng có. Nhưng với một đứa trẻ vốn quen sống ở phố phường là tôi hồi ấy thấy thật xa lạ.
Thỉnh thoảng tôi lại được ăn món thịt gà xào gừng do bà tôi làm. Thịt gà mềm ngọt, vị gừng thơm cay, ấm nóng. Cơm cũng nóng hổi. Ăn vào cứ ấm sực cả người, quên cả cái rét mướt của buổi trưa mùa đông. Bao giờ cũng vậy, tôi luôn được phần cả hai chiếc đùi gà. Bà bảo phong tục của người Tày, nhà có trẻ nhỏ, đùi gà phải để nguyên không được chặt ra, dành cho trẻ ăn cho mau lớn. Bà ép tôi phải ăn bằng hết.
Rồi tôi trở về phố, năm thỉnh mười thoảng mới về thăm quê. Rồi tôi đi xa. Năm tháng trôi qua, cuộc sống nặng những nỗi lo cơm áo. Ở quê tôi giờ cũng chỉ còn có vài người bà con họ hàng xa. Bản quê tôi cũng khác xưa nhiều lắm. Tôi càng ít về quê hơn. Nhưng trong tôi vẫn đau đáu về nơi ấy. Ngôi nhà của ông tôi, những ngày mùa đông, mùi vải chàm ngai ngái, những đêm khuya hoang vắng, miếng thịt gà xào gừng…sao tất cả cứ khắc sâu trong ký ức?
Cho đến một ngày, trên những nẻo đường đời xa xôi, tôi mới hiểu tất cả những điều đó đã làm nên một điều mà người ta hay nhắc đến, điều mà chẳng ai có thể quên được. Đó chính là quê hương.
------(_^_^_)------











