Hà Nội đâu của riêng ai...
Saturday, April 23, 2011 1:00:00 PM
Thỉnh thoảng có dịp, tôi lại cao giọng kẻ cả: “Hà Nội ấy à, các cậu có biết không…”, và tôi thao thao kể, rằng Hà Nội thế này, Hà Nội thế kia. Các ông bạn đáng kính của tôi, hầu hết là người miền trong, cứ nắc nỏm: “Chu cha, ổng không phải người Hà Nội mà rành Hà Nội quá ta!”…
Những điều tôi kể có rất ít phần trăm là thực tế bản thân, còn lại toàn là những điều có trong sách vở. Các bạn tôi chắc cũng biết vậy nhưng chẳng ai chê trách. Bởi họ hiểu tôi huyên thuyên như thế chẳng qua cũng chỉ vì yêu Hà Nội. Có ai nỡ trách một người đang yêu, hơn nữa đó lại là tình yêu với Hà Nội!
Chứ thực ra tôi có được bao nhiêu lần dạo gót trên đường phố Hà Nội đâu.
Ngày còn bé, tôi chỉ biết Hà Nội qua những câu chuyện người lớn kể. Những lúc ấy, tôi cứ tròn xoe mắt ra. Hà Nội đẹp thế à, Hà Nội vui thế à! Hà Nội sướng thế… Thỉnh thoảng được xem chiếu bóng ngoài bãi thấy những hình ảnh về Hà Nội hay khi xem những tấm bưu ảnh Hồ Gươm, Chùa Một Cột,… tôi cứ mê mẩn cả người. Và tôi ước ao được một lần đi chơi Hà Nội.
Ước mơ ấy thật xa xôi khi mà hàng ngày phải ăn cơm độn ngô, mặc quần áo vá đi học. Hà Nội ở xa lắm, cách những ba trăm cây số, đâu phải như đi chợ phiên, muốn đi là được.
Tuy vậy, chẳng biết do đâu, tôi cũng như những đứa bạn ở cái vùng quê hẻo lánh ấy vẫn thuộc những câu ca về Hà Nội khi đó. Nào là: Hà Nội có xích lô/ Liên Xô có máy cày/ Trung Quốc có giày ba ta, nào là Hôm nay thứ bảy anh ơi/ Ngày mai chủ nhật đi chơi Bờ Hồ/ Bờ Hồ có cái xích lô…
Hà Nội trong tuổi thơ tôi là một miền cổ tích. Tôi nghĩ về Hà Nội như “mơ về nơi xa lắm”. Thế đấy.

Nhưng tôi lại biết một Hà Nội khác. Hà Nội với bóng đá và bánh mì.
Tôi và lũ bạn cùng phố rất mê đá bóng (trẻ con mà, thời nào chẳng thế). Mà bóng thì chỉ ở Hà Nội mới có bán chứ ở quê làm gì có. Bèn góp tiền mua, mỗi đứa hai hào, được tất cả hai đồng rưỡi (ngày ấy năm hào là mua được bát phở thịt lợn ngon lành rồi). Góp được tiền rồi, xem có ai đi Hà Nội thì nhờ người ta mua hộ. Từ lúc gửi tiền đến khi mua được bóng phải chờ đợi cả nửa tháng trời. Đứa nào cũng sốt ruột.
Hai đồng rưỡi chỉ mua được một quả bóng cao su (còn bóng da thì phải năm đồng). Với chúng tôi thế là hạnh phúc lắm. Ngắm quả bóng đỏ mới mua về còn thơm nức mùi cao su, chúng tôi cứ trầm trồ: Hà Nội thích thật, cái gì cũng có.
Bánh mì cũng vậy. Thời ấy chỉ ở Hà Nội mới có bánh mì, ở tỉnh lẻ làm gì có. Vì thế bánh mì là của ngon vật lạ với người dân quê tôi. Ai đi Hà Nội cũng đều mua bánh mì về làm quà. Ngoài người trong gia đình, chỉ những ai thân thiết lắm, tình nghĩa lắm mới được chia phần, gọi là “biếu bác quà Hà Nội”.
Phải nói là bánh mì Hà Nội hồi ấy rất ngon. Vỏ bánh sẫm màu nâu đỏ, có những đường khía chéo nổi từng múi trên mặt. Ruột bánh đặc mà mềm, ăn một lần nhớ mãi. Người ta bảo nhiều khi người Hà Nội phải ăn bánh mì trừ bữa. Sướng thế mà còn kêu. Mình ấy à, có thể ăn bánh mì suốt đời được, ngon thế kia mà. Tôi cứ nghĩ như vậy.
Và cuối cùng thì tôi cũng được đặt chân đến Hà Nội.
Đó là mùa hè năm 1977, khi đó tôi mới đang học cấp 2, được theo mẹ đi thăm chị gái tôi ở Vĩnh Phúc. Trên đường đi phải qua Hà Nội. Lần đầu tiên được đến Hà Nội, thấy cầu Long Biên, thấy sông Hồng,… tôi thích lắm. Nhưng cũng chỉ vậy thôi vì hai mẹ con tôi lại mua vé tàu ngược Vĩnh Phúc ngay. Chỉ đến khi về, vì phải nằm chầu chực mất hai ngày ở Bến Nứa để chờ mua vé ô tô, tôi mới có dịp “thăm thú” Hà Nội. Tôi một mình la cà qua chợ Bắc Qua, tìm đường ra Bờ Hồ chơi quanh quẩn ở đấy, ngắm Hồ Gươm, cầu Thê Húc. Thấy có tàu điện, tôi cứ lên bừa, theo tầu đi chơi, ngắm phố phường Hà Nội. Tôi ngạc nhiên thấy những đứa trẻ trạc tuổi tôi đi bán kem, bán báo, bán quà rong. Tôi nghiệm ra không phải ai ở Hà Nội cũng sướng cả.
Lớn lên, đi học xa nhà rồi đi làm, tôi cũng nhiều lần qua Hà Nội. Toàn là những lần “vội vàng đến, vội vàng đi”. Hoàn cảnh mà. Ở lâu có mà chết tiền. Nên tôi cũng chẳng được thưởng lãm gì nhiều về Hà Nội ngoài những ấn tượng không lấy gì làm thoải mái ở bến xe, nhà ga.
Lần gần đây nhất là mùa hè 2007, tôi lại đến Hà Nội. Tôi lại đến Bờ Hồ, lại quanh quẩn ở đấy ngắm Tháp Rùa, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn. Tôi lại thấy tôi mấy chục năm về trước, khi còn là thằng bé con tỉnh lẻ, ngơ ngác trước phố phường Hà Nội. Mới thấy thời gian trôi đi nhanh quá.
Tuy vậy, thỉnh thoảng có dịp, tôi vẫn cao giọng kể: “Hà Nội ấy à, các cậu có biết không…”. Tôi kể về Hà Nội, say sưa như ông Hai kể về cái làng chợ Dầu của ông trong truyện ngắn Làng của Kim Lân. Phần lớn những điều tôi kể toàn là những điều ai cũng biết. Nhưng các bạn tôi chẳng ai chê trách cả. Có ai nỡ trách một người đang yêu, hơn nữa đó lại là tình yêu với Hà Nội!
Bởi Hà Nội, tình yêu đâu của riêng ai...
Những điều tôi kể có rất ít phần trăm là thực tế bản thân, còn lại toàn là những điều có trong sách vở. Các bạn tôi chắc cũng biết vậy nhưng chẳng ai chê trách. Bởi họ hiểu tôi huyên thuyên như thế chẳng qua cũng chỉ vì yêu Hà Nội. Có ai nỡ trách một người đang yêu, hơn nữa đó lại là tình yêu với Hà Nội!
Chứ thực ra tôi có được bao nhiêu lần dạo gót trên đường phố Hà Nội đâu.
Ngày còn bé, tôi chỉ biết Hà Nội qua những câu chuyện người lớn kể. Những lúc ấy, tôi cứ tròn xoe mắt ra. Hà Nội đẹp thế à, Hà Nội vui thế à! Hà Nội sướng thế… Thỉnh thoảng được xem chiếu bóng ngoài bãi thấy những hình ảnh về Hà Nội hay khi xem những tấm bưu ảnh Hồ Gươm, Chùa Một Cột,… tôi cứ mê mẩn cả người. Và tôi ước ao được một lần đi chơi Hà Nội.
Ước mơ ấy thật xa xôi khi mà hàng ngày phải ăn cơm độn ngô, mặc quần áo vá đi học. Hà Nội ở xa lắm, cách những ba trăm cây số, đâu phải như đi chợ phiên, muốn đi là được.
Tuy vậy, chẳng biết do đâu, tôi cũng như những đứa bạn ở cái vùng quê hẻo lánh ấy vẫn thuộc những câu ca về Hà Nội khi đó. Nào là: Hà Nội có xích lô/ Liên Xô có máy cày/ Trung Quốc có giày ba ta, nào là Hôm nay thứ bảy anh ơi/ Ngày mai chủ nhật đi chơi Bờ Hồ/ Bờ Hồ có cái xích lô…
Hà Nội trong tuổi thơ tôi là một miền cổ tích. Tôi nghĩ về Hà Nội như “mơ về nơi xa lắm”. Thế đấy.

Nhưng tôi lại biết một Hà Nội khác. Hà Nội với bóng đá và bánh mì.
Tôi và lũ bạn cùng phố rất mê đá bóng (trẻ con mà, thời nào chẳng thế). Mà bóng thì chỉ ở Hà Nội mới có bán chứ ở quê làm gì có. Bèn góp tiền mua, mỗi đứa hai hào, được tất cả hai đồng rưỡi (ngày ấy năm hào là mua được bát phở thịt lợn ngon lành rồi). Góp được tiền rồi, xem có ai đi Hà Nội thì nhờ người ta mua hộ. Từ lúc gửi tiền đến khi mua được bóng phải chờ đợi cả nửa tháng trời. Đứa nào cũng sốt ruột.
Hai đồng rưỡi chỉ mua được một quả bóng cao su (còn bóng da thì phải năm đồng). Với chúng tôi thế là hạnh phúc lắm. Ngắm quả bóng đỏ mới mua về còn thơm nức mùi cao su, chúng tôi cứ trầm trồ: Hà Nội thích thật, cái gì cũng có.
Bánh mì cũng vậy. Thời ấy chỉ ở Hà Nội mới có bánh mì, ở tỉnh lẻ làm gì có. Vì thế bánh mì là của ngon vật lạ với người dân quê tôi. Ai đi Hà Nội cũng đều mua bánh mì về làm quà. Ngoài người trong gia đình, chỉ những ai thân thiết lắm, tình nghĩa lắm mới được chia phần, gọi là “biếu bác quà Hà Nội”.
Phải nói là bánh mì Hà Nội hồi ấy rất ngon. Vỏ bánh sẫm màu nâu đỏ, có những đường khía chéo nổi từng múi trên mặt. Ruột bánh đặc mà mềm, ăn một lần nhớ mãi. Người ta bảo nhiều khi người Hà Nội phải ăn bánh mì trừ bữa. Sướng thế mà còn kêu. Mình ấy à, có thể ăn bánh mì suốt đời được, ngon thế kia mà. Tôi cứ nghĩ như vậy.
Và cuối cùng thì tôi cũng được đặt chân đến Hà Nội.
Đó là mùa hè năm 1977, khi đó tôi mới đang học cấp 2, được theo mẹ đi thăm chị gái tôi ở Vĩnh Phúc. Trên đường đi phải qua Hà Nội. Lần đầu tiên được đến Hà Nội, thấy cầu Long Biên, thấy sông Hồng,… tôi thích lắm. Nhưng cũng chỉ vậy thôi vì hai mẹ con tôi lại mua vé tàu ngược Vĩnh Phúc ngay. Chỉ đến khi về, vì phải nằm chầu chực mất hai ngày ở Bến Nứa để chờ mua vé ô tô, tôi mới có dịp “thăm thú” Hà Nội. Tôi một mình la cà qua chợ Bắc Qua, tìm đường ra Bờ Hồ chơi quanh quẩn ở đấy, ngắm Hồ Gươm, cầu Thê Húc. Thấy có tàu điện, tôi cứ lên bừa, theo tầu đi chơi, ngắm phố phường Hà Nội. Tôi ngạc nhiên thấy những đứa trẻ trạc tuổi tôi đi bán kem, bán báo, bán quà rong. Tôi nghiệm ra không phải ai ở Hà Nội cũng sướng cả.
Lớn lên, đi học xa nhà rồi đi làm, tôi cũng nhiều lần qua Hà Nội. Toàn là những lần “vội vàng đến, vội vàng đi”. Hoàn cảnh mà. Ở lâu có mà chết tiền. Nên tôi cũng chẳng được thưởng lãm gì nhiều về Hà Nội ngoài những ấn tượng không lấy gì làm thoải mái ở bến xe, nhà ga.
Lần gần đây nhất là mùa hè 2007, tôi lại đến Hà Nội. Tôi lại đến Bờ Hồ, lại quanh quẩn ở đấy ngắm Tháp Rùa, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn. Tôi lại thấy tôi mấy chục năm về trước, khi còn là thằng bé con tỉnh lẻ, ngơ ngác trước phố phường Hà Nội. Mới thấy thời gian trôi đi nhanh quá.
Tuy vậy, thỉnh thoảng có dịp, tôi vẫn cao giọng kể: “Hà Nội ấy à, các cậu có biết không…”. Tôi kể về Hà Nội, say sưa như ông Hai kể về cái làng chợ Dầu của ông trong truyện ngắn Làng của Kim Lân. Phần lớn những điều tôi kể toàn là những điều ai cũng biết. Nhưng các bạn tôi chẳng ai chê trách cả. Có ai nỡ trách một người đang yêu, hơn nữa đó lại là tình yêu với Hà Nội!
Bởi Hà Nội, tình yêu đâu của riêng ai...











