My Opera is closing 1st of March

Memory's blog

Enjoy and share!

Translating - How a CD-ROM drive work?

, , , , , ,

This entry will show you how a CD-ROM drive work in VietNamese.



Nguyễn Thị Hoàng Hạnh:

Một đĩa CD Rom làm việc như thế nào

1.Một động cơ thường biến đổi theo tỉ lệ hằng số ở vị trí đĩa CD ROM kéo để ko chú ý tới nơi mỗt bộ phận được gọi là bộ cảm biến,nơi vị trí của nó lien quan đến bán kính của đĩa,phần chia của đĩa ngay khi bên trên bộ cảm biến thì luôn chuyển động cùng tốc độ.

CÙng phần quay cũ

Đĩa từ, như những cái đó được sử dụng trong ổ đĩa cứng,có dữ liễu được sắp xếp trên vòng đồng tâm được gọi là rãnh, cái mà được chia theo phần hình quạt,việc sử dụng biểu đồ được gọi là hằng số vận tốc góc,đĩa từ luôn kéo cùng tỉ lệ,đó là những cái rãnh gần phía ngoài cùng của đĩa thì chuyển động nhanh hơn những phần rãnh gần trung tâm.Bởi vì những khu phần bên ngoại đang chuyển động trước đầu đọc hoặc viết nhanh hơn,những bộ phận theo vật lí phải hớn hơn để giữ cùng một lượng dữ liệu như phần bên trong.Phần định dạng này thường tốn một lượng khoảng trống nhiều nhưng chạy tốc độ lớn dữ liệu có thể được truy hôì.

Mỗt phần quay khác

Tiêu biểu như một đĩa CD ROM sử dụng m,ột hệ thống khác hơn là đĩa từ để đánh cọc khỏi những phấn của đĩa nơi dữ liệu được ghi lại.Thay vì một vài rãnh được sắp xếp trên vòng đồng tâm,trên đĩa CD Rom dữ liệu được chứa ở một rãnh độc lập cái mà xoắn từ trung tâm của đĩa tới chu vi của nó.Cái rãnh vẫn được chia bởi các phần,mỗi phần đều có cùng kích thước.Việc sử dụng một phương pháp gọi là hằng số vận tốc dài.Ổ đĩa biến đổi theo tỉ lệ hằng số ở vị trí nó đang chạy để khi bộ cảm biến di chuyển vế phía trung tâm của đĩa thì tốc độ chạy châm lại.Sự hiệu quả là một đĩa thường có thể chứa nhiều phần hơn một đĩa từ ,vì vậy co nhiều dữ liệu hơn.

2. Lazer chiếu một tia sang trung tâm cái mà một đầu vào và cuộn dây điều tiêu tập trung xa hơn.

3.Cần lazer xuyên qua một lớp bảo vệ của nhựa và đánh một lớp phàn chiếu cái má nhìn giống lớp nhôm bên trên của đĩa.

4. Bề mặt của lớp phản chiếu luân chuyển giữa phần đầy và lõm.Những vùng đầy thì bề mặt phẳng.Những phần lõm là những phần rãnh nhõ bên trong lớp phản chiếu.Hai phần được ghi lần lượt là 1 và o để lưu dữ liệu.

5. Ánh sang chiếu một chỗ lõm thì được phân tán,nhưng ánh sang chiếu vào một chỗ đấy thì bị phản chiếu trực tiếp trở lại ở bộ cảm biến, nơi má ánh sáng xuyên qua một lăng kính cái mà khúc xạ tia lazer phản chiếu tới một đi -ốt cảm biến sáng.

6. Mỗi mạch của tia sang chiếu vào đi-ốt cảm biến sang phát ra một hiệu điện thế nhỏ.Những hiệu điện thế này được ghép nối để chống lại dòng điện tạm thời phát ra một chạy của 1 và o cái mà máy tính có thể hiểu.







Nguyễn Thị Như Ý:
1. Một động cơ liên tục thay đổi tốc độ mà một đĩa CD-ROM quay như vậy đó, không phân biệt nơi các thành phần, được gọi là một máy dò, được đặt trong mối quan hệ với bán kính của đĩa, các phần của đĩa ngay lập tức trên máy dò luôn chuyển động cùng tốc độ.
Cùng tuổi spin
Đĩa từ, chẳng hạn như những đĩa được sử dụng trong các ổ đĩa cứng, có dữ liệu được sắp xếp theo vòng tròn đồng tâm gọi là rãnh, được chia toả tròn vào các khu vực. Sử dụng một chương trình gọi là hằng số vận tốc góc, các đĩa từ luôn luôn quay cùng một tỷ lệ, đó là, các rãnh ghi gần vùng ngoại biên của đĩa đang di chuyển nhanh hơn so với các rãnh ghi gần trung tâm. Bởi vì các thành phần bên ngoài là sự di chuyển qua đầu đọc / ghi nhanh hơn, các khu vực phải được lớn hơn để giữ cùng một lượng dữ liệu như các thành phần bên trong. Định dạng này tốn rất nhiều không gian lưu trữ nhưng tối đa hóa tốc độ mà dữ liệu có thể được lấy ra.
Một spin khác nhau
Thông thường, CD-ROM sử dụng một chương trình khác với đĩa từ để chia ra thành các lĩnh vực của đĩa mà dữ liệu được ghi lại. Thay vì một số rãnh ghi sắp xếp theo vòng tròn đồng tâm, trên đĩa CD-ROM, dữ liệu được chứa trong một rãnh duy nhất có hình xoắn ốc từ trung tâm của đĩa với chu vi của nó. Các rãnh được phân chia theo khu vực, nhưng mỗi khu vực có kích thước vật lý như nhau. Sử dụng một phương pháp gọi là hằng số vận tốc tuyến tính, ổ đĩa liên tục thay đổi tốc độ quay để làm chuyển động máy phát hiện về phía trung tâm của đĩa, tốc độ đĩa nhanh lên. Hiệu quả này là một đĩa nhỏ gọn có thể chứa các thành phần nhiều hơn một đĩa từ và, do đó, nhiều dữ liệu hơn.

2. Các công trình laser tập trung một chùm ánh sáng mà một thấu kính và một cuộn dây điều tiêu hội tụ hơn nữa.
3. Các tia laser thâm nhập vào một lớp bảo vệ bằng nhựa và làm mỏng một lớp phản quang giống như giấy nhôm trên dưới cùng của đĩa.
4. Bề mặt của lớp phản chiếu thay đổi giữa dải định hướng và hố thăm dò. Dải định hướng có diện tích bề mặt bằng phẳng, rãnh này có áp suất thấp trong các lớp phản chiếu. Hai bề mặt là những bản ghi của số 1 và số 0 được sử dụng để lưu trữ dữ liệu.
5. Ánh sáng làm mỏng hố thăm dò thì rất phân tán, nhưng ánh sáng làm mỏng dải định hướng được phản ánh trực tiếp trở lại tại các máy dò, nơi nó đi qua một lăng kính làm lệch các tia laser được phản ánh đến đi-ốt cảm quang.
6. Mỗi nhịp đập của ánh sáng đập vào diode cảm quang tạo ra một hiệu điện thế. Các điện áp được kết hợp với một mạch thời gian để tạo ra một dòng gồm các số 1 và số 0 mà máy tính có thể hiểu được.





Cổ Nguyễn Cúc Hạ - Rainie Green:
1. Một động cơ biến đổi với tốc độ không đổi tại nơi một đĩa CD-ROM quay vì thế, bất kể nơi nào của bộ phận, được gọi là bộ cảm biến, được đặt tại vị trí trong vùng bán kính của đĩa, một phần đĩa bên trên bộ cảm biến luôn luôn di chuyển ở cùng một tốc độ.
Các kiểu quay cũ tương tự
Ổ đĩa từ, như những loại sử dụng trong ổ cứng, có dữ liệu được sắp xếp thành các vòng tròn đồng tâm được gọi là rãnh (track), được phân thành các cung/khu vực (sector) tỏa tròn. Sử dụng một sơ đồ được gọi là tốc độ góc không đổi, đĩa từ luôn quay cùng một tốc độ; điều đó là, các rãnh gần ngoại biên của đĩa sẽ quay nhanh hơn các rãnh nằm gần trung tâm đĩa. Bởi vì để các cung bên ngoài di chuyển qua đầu đọc/ghi nhanh hơn, thì các cung này phải rộng hơn về mặt vật lý để mà có thể trữ được một lượng dữ liệu tương đương như các cung bên trong.
Một kiểu quay khác
Điển hình, đĩa CD-ROM sử dụng một sơ đồ khác so với đĩa từ để chia ra các vùng của đĩa để ghi dữ liệu. Thay vì một vài rãnh được sắp xếp theo các vòng tròn đồng tâm, trên đĩa CD-ROM, dữ liệu được chứa trong một rãnh đơn có hình trôn ốc từ trung tâm ra chu vi của nó. Các rãnh vẫn được chia thành các cung nhưng mỗi cung thì có cùng một kích thước vật lý. Sử dụng một phương pháp được gọi là vận tốc dài không đổi. Ổ đĩa biến đổi với tốc độ không đổi tại đĩa đang quay để khi bộ cảm biến di chuyển tới trung tâm của đĩa thì đĩa tăng tốc. Kết quả là đĩa có thể chứa nhiều cung hơn, cũng như nhiều dữ liệu hơn đĩa từ.
2. Máy phát lượng tử ánh sáng phát ra một chùm ánh sáng tập trung vào một thấu kính và một cuộn dây điều tiêu để hội tụ xa hơn.
3. Chùm laser xuyên qua một lớp chất dẻo và tới một lớp phản xạ nhìn như một lá nhôm ở dưới cùng của đĩa.
4. Bề mặt của một lớp phản xạ được xen kẽ giữa khoảng trống và các lỗ. Khoảng trống là các vùng bề mặt phẳng. Lỗ là các chổ lõm nhỏ trên bề mặt phản xạ. Hai mặt này là bản ghi cho 0 và 1, đơn vị dùng để lưu trữ dữ liệu.
5. Ánh sáng tới các lỗ được phân tán, nhưng ánh sáng tới khoảng trống thì bị phản xạ thẳng lại bộ cảm biến, nơi mà nó xuyên qua một lăng kính làm lệch chùm laser phản xạ đến một đi-ốt cảm quang.
6. Mỗi xung ánh sáng tới đi-ốt cảm quang phát ra một hiệu điện thế nhỏ. Những hiệu điện thế này được nối với nhau để phản lại một mạch định thời để phát ra một dòng 0 và 1 để máy tính có thể hiểu.


Huỳnh Thị Mỹ Diệu:
1..Để một động cơ luôn thay đổi tốc độ khi đĩa CD_ROM quay , một bộ phận hợp thành gọi là máy dò tìm được nằm trong vùng bán kính của đĩa, máy dò rà một phần đĩa với cùng một tốc độ.



VÒNG QUAY CŨ GIỐNG NHAU

Những chiếc đĩa từ như những cái nằm trong những ổ cứng ,dữ liệu được sắp xếp trên những vòng tròn tập trung gọi là những cái track (đường ray) , chúng được chia thành những sector(đường cánh quạt).Sử dụng một khái niệm gọi là vận tốc góc không đổi , đĩa từ luôn quay với tốc độ bằng nhau; Tuy nhiên , những đường ray ở vùng ngoài của đĩa di chuyển nhanh hơn những đường ray ở vùng trung tâm .Do những đường cánh quạt bên ngoài di chuyển qua đầu đọc/viết nhanh hơn nên chúng phải có kích thước lớn hơn để có thể giữ được khối dữ liệu bằng với lượng dữ liệu của những cánh quạt bên trong.Sự định dạng theo hình thức này làm hao phí một vùng lưu trữ dữ liệu lớn nhưng ngược lai ta có thể thu được dữ liệu với tốc độ tối đa.

VÒNG QUAY KHÁC NHAU

Một cách đặc trưng, một đĩa CD_ROM dùng một chu trình khác so với những đĩa từ thực hiện hành động đánh dấu vùng thu nhận dữ liệu.Thay vì vài đường ray được sắp xếp trên những đường tròn tập trung,trên đĩa CD_ROM dữ liệu được chứa trong một đường ray đơn được xoắn từ tâm đĩa đến đường tròn ngoài cùng.Đường ray vẫn được chia theo hình cánh quạt, nhưng mỗi cánh quạt lại có kích thước giống nhau.Dùng một khái niệm gọi là vận tốc dài không đổi , ổ đĩa luôn luôn thay đổi tốc độ khi đĩa quay để mà máy dò tìm có thể di chuyển tới vùng trung tâm của đĩa , tốc độ đĩa tăng lên.Và kết quả là ổ đĩa đầy có thể chứa nhiều cánh quạt hơn một đĩa từ và do đó chứa nhiều dữ liệu hơn.

2..Một tia laze phóng ra một luồng ánh sáng mạnh để lăng kính và thấu kính hội tụ nhận đươc dù ở xa.

3.. Tia laze xuyên qua lớp bảo vệ bằng nhựa và làm phát sáng lớp phản chiếu _trông giống như một lá nhôm trên đầu của cái đĩa .

4..Bề mặt lớp chiếu sáng xen giữa vùng bằng phẳng và vùng lõm.Hai vùng trên là những máy thu 1s và 0s dùng để lưu trữ dữ liệu.

5..Anhs sáng chiếu vào vùng lõm được phân tán ra, nhưng ánh sáng chiếu vào vùng băng phẳng thì phản xạ lại máy dò tìm khi qua thấu kính, làm tia laze chệch hướng đối với điôt cảm quang.

6.. Mỗi dòng ánh sáng khi chiếu vào điôt cảm quang thì phát ra một điện áp nhỏ. Những điện áp này được tạo ra để chống lại một mạch điều chỉnh nhằm phát ra một dòng 1s và 0s để máy tính có thể hiểu được.

Software-Uniblue PowerSuite 2010

Write a comment

New comments have been disabled for this post.

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28