Mềm mãi mà không cứng

free html hit counter
Mềm ta luôn phải siêu
Còn cứng luôn phải chắc
Làm cho khách hàng sướng
Ta mới sống yên vui

Mới đó mà đã hơn 8 năm, từ một nhóm nhỏ 12 chiến sĩ "không quần, không áo", FPT đã trở thành một cái tên không thể thiếu được trong các báo cáo về hiện trạng hay thực tại tin học Việt nam. Khó có thể nói được FPT bắt đầu như một công ty tin học. Tại thời điểm đó, đơn giản là phải làm một cái gì đó để bắt kịp với xu hướng đổi mới lúc đó đang manh nha thành hình. Và các anh Bình, Trung Hà, Hùng Râu... đã lập ra Công ty Công nghệ Thực phẩm FPT.
Ngồi viết lại những dòng này tôi vẫn như thấy rõ ràng trước mặt cảnh Hùng Râu hai tay đầy sơn đang quùa quạng bôi lên những rọ sắt của toà nhà 224 Đội Cấn, và còn tự hào rằng mình đã phát minh ra công nghệ tiên tiến.
Trong tất cả những người đã bắt đầu FPT, tôi giật mình nhận ra rằng mình là người duy nhất còn theo đuổi phần mềm. Tự nhiên thấy trách nhiệm hơn hẳn. Tôi không có ý định khoe khoang những thuật toán, công trình. Cũng chẳng có gì mà khoe. Đã có thời chúng ta quá tung hô những thuật toán, những công trình mà chẳng đếm xỉa đến ứng dụng của chúng cũng như cuộc sống của những ngời sáng tạo ra chúng. Đơn giản là chỉ muốn kể lại những gì mà bọn tôi đã phải trải qua để hôm nay có FPT và FSS. Sai, đúng tôi xin chịu phần trách nhiệm cá nhân. Các bạn trẻ có thể tin rằng đó thật sự là một cách nhìn của 8 năm lịch sử. Không quảng cáo. Đơn giản là nhớ đâu viết đấy, nói chung là không theo trình tự thời gian, mong các bạn trẻ thông cảm. Cũng phải nói trước, đây không phải là toàn bộ lịch sử phần mềm của FPT mà chỉ là những phần mà tôi được chứng kiến, trực tiếp tham dự và còn nhớ.




Chương 1: Khởi đầu
Như bất cứ một công ty tham vọng khác, ngay từ khi thành lập FPT đã nung nấu mục tiêu trở thành những người khai phá cho công nghiệp phần mềm tại Việt nam. Để đạt được mục tiêu đó, anh Trương Gia Bình đã cất công mời những chuyên gia hàng đầu về phần mềm của Việt nam lúc đó.
Anh Nguyễn Chí Công
Chuyên gia nổi tiếng uyên bác về UNIX và Mạng, lãnh đạo phòng Tin học FPT. Anh Công dễ nhớ nhờ luôn đòi hỏi ở nhân viên hai việc:

- Nhân viên mới đến làm việc phải quét nhà, pha nước, bưng bê.

- Số lượng sách đọc được phải tính bằng cân.

Chính theo sự hướng dẫn đặt hàng và chỉ đạo của anh, FPT đã lắp đặt thành công mạng cục bộ đầu tiên vào giữa năm 1989. Đó là mạng theo kiểu nocentric chạy hệ điều hành 10Net và là niềm tự hào của Viện Công nghệ Quốc gia thời đó.

Nhắc đến anh Công, không thể không nhắc đến dự đoán của anh là năm 1993, nửa Việt nam sẽ dùng UNIX. Đã có lúc tưởng như đó là một dự báo buồn cười, nhưng thực tế cho thấy anh Công cũng có lý khi TCP/IP, hạt nhân của UNIX đang tràn ngập ở không những ở Việt nam mà cả thế giới. Và tất nhiên những chuyên gia về UNIX có nhiều ưu thế hơn trong cuộc mạng hóa đất nước.

Anh Công là người đã cài đặt SCO Unix và terminal tại FPT cùng thời điểm đó. Sau đó một số chương trình chạy Foxbase cho UNIX đã được Trần Ngọc Trí phát triển.


Anh Đỗ Cao Bảo

Chuyên gia lập trình Pascal số 1 lúc đó. Chuyện kể rằng, có một tay Việt kiều tự xưng là chuyên gia hàng đầu đến xin hợp tác tại một cơ quan, khi trả lời không biết Đỗ Cao Bảo là ai đã bị từ chối thẳng thừng. Anh Bảo lúc đó đang là chủ chốt của nhóm lập trình nhận dạng chữ của Viện Tính toán và Điều khiển (Viện CNTT hiện nay).

Anh Nguyễn Trung Hà

Chuyên gia về Fortran của Viện Cơ học. Từ khi còn đi học ở Liên xô, anh đã nổi tiếng về tài nhìn trộm và phá khóa trong hệ điều hành của máy mini CM-4 của Nga. Tại Viện Cơ, công trình đáng kể của anh là thiết kế bộ thư viện đồ họa cho Fortran. Các chương trình Fortran vẽ được đồ thị tại thời điểm đó cũng gây ấn tượng không kém gì Emotion của Nguyễn Minh bây giờ.

Anh Bùi Quang Ngọc

Lúc đó là người có bằng cấp cao nhất về Tin học chính cống, một ngôi sao trẻ đầy hứa hẹn của nền Giáo dục và Đào tạo Tin học Việt nam. Lúc đó anh Ngọc đang là Phó khoa Tin học của Đại học Bách khoa Hà nội, không thiếu tham vọng lên Bộ trưởng.

Anh Võ Mai

Chuyên viên của Viện Vũ Khí, đã từng tham gia thiết kế hệ thống bỏ phiếu cho quốc hội Việt nam. Anh là chuyên gia về Assembler. Anh cũng là người đầu tiên lập trình truyền tin cho UNIX tại FPT

Anh Nguyễn Thành Nam


Người viết những dòng này khi đó như một con cừu non giữa bầy sói. Hồi đó, mặc dù chưa thành lập, nhưng Trung tâm dịch vụ Tin học (ISC) của FPT đã được bác Vũ Đình Cự tin cậy gọi lên giao phó nhiệm vụ chế tạo siêu máy tính. Và kỳ lạ thay, anh Công đã nhận lời. Tối về trong căn phòng chật hẹp của vợ chồng Trung Hà tại Hàng Bông, anh Công họp cả hội lại triển khai làm siêu máy tính. Vì mọi người chưa quen biết nhau, nên phải tự giới thiệu. Anh Bảo tự nhận là siêu nhân về Pascal, Trung Hà điêu luyện về Fortran, anh Mai demo assembler liên tục. Còn mỗi anh Nam ngồi im chẳng nói gì. Khi anh Công ép: "Thế mày biết ngôn ngữ gì?", anh bẽn lẽn nhận là có biết tiếng Việt và tiếng Nga!!!

Năm 1988, nói chung khi nói đến Tin học, ai cũng nghĩ là sẽ làm phần mềm. Một không khí sáng tạo hừng hực khắp nơi. Viện tính toán điều khiển có các chương trình nhận dạng và trí tuệ nhân tạo, AIC có CAMAP miêu tả các lục địa trôi trong tiếng nhạc véo von, Tô Thành (ĐHBK) có chương trình hoa thơm bướm lượn,.... Tiếc thay trào lưu đó đã không được nâng đỡ nên đã bị xu hướng mua đi bán lại đánh bại dễ dàng. Nhiệm vụ phát hiện ra Bill Gate Việt nam đành bị lùi lại cho lớp đàn em những thế hệ sau. Thật tiếc thay.

Thật tình mà nói buổi ban đầu chẳng ai giao cho chúng tôi việc gì ngoài việc chế tạo siêu máy tính, do đó tha hồ mà thử mà mày mò. Cả hội chỉ có một máy tính XT Foremost (máy này hiện nay vẫn còn ở nhà 224 Đội Cấn) và một máy ổn áp Đức mỗi khi có khách tham quan lại bốc khói mù mịt.

Ngồi chán anh Bảo quyết định chuyển toàn bộ các mã nguồn của chương trình nhận dạng sang Turbo C, một quyết định mà bây giờ mới hiểu hết tính đúng đắn của nó. Như trên đã nói, tôi chỉ biết tiếng Việt và tiếng Nga, do đó thấy các đàn anh làm gì đều ra sức học hỏi. Chương trình đầu tiên mà tôi làm được cũng khá gây ấn tượng. Đó là việc dùng debug để đổi hết các message trong command.com sang tiếng Việt. Trong máy tính của FPT lúc đó khi bạn gõ một lệnh không tồn tại, máy sẽ trả lời: "Lam quai gi co file nay". Khó nhất là đổi câu hỏi: "Y/N" sang "C/K”.

Đến bây giờ đôi khi tôi vẫn nghĩ mình là một người lập trình giỏi, (Mặc dù thực tế còn xa mới như vậy. Đơn cử là hồi đó anh Bảo có hướng dẫn tôi làm 1 chương trình kiểu Star Field Screen Saver cho NC. Chương trình của anh Bảo thì sao nở rất đều bất luận chạy trên máy nào AT hay XT. Chương trình của tôi chỉ chạy được trên AT, còn trên XT bầu trời sao trông cứ như một đám hắc lào vậy )

Tôi thì tôi biết tại sao. Bí quyết chính là phải may mắn rơi vào mắt xanh của 1 người nổi tiếng, rồi sau đó ra đi đúng lúc. Tất nhiên được một vĩ nhân chú ý thường là rất khó khăn. Có một con đường dễ hơn nhưng không chắc chắn bằng là demo cho thằng bạn của mình. Sau đó nếu nó nổi tiếng thể nào mình cũng có lợi. Đó là trường hợp của tôi với Trung Hà. Hôm đó 2 đứa được phân đi gõ tài liệu vào máy tính cho một cuộc hội thảo quan trọng giữa Viện Hàn lâm khoa học Nga và Việt nam. Trung Hà gõ tiếng Nga rất siêu bằng một chương trình soạn thảo gọi là Beta, các bác chưa kịp phát biểu dứt lời hắn đã gõ xong rồi. Cuối buổi, anh Đạo (cha nuôi của FPT, lúc đó là Viện trưởng Viện Cơ) đề nghị in hộ ra thật đẹp. Anh em luống cuống, vì máy laser hồi đó rất khó kiếm, fonts chữ Nga cho nó còn khó hơn. May quá Mr. Thế thông báo Viện TTĐK (Tính toán và Điều khiển) có máy in và fonts. Sẵn trong máy có Turbo C 1.0, tôi viết ngay một chương trình để chuyển mã từ beta sang bộ font máy in. Cả hội phi gấp sang Đồi Thông. Đến nơi mới biết là họ không có font hiển thị, trên màn hình là một mớ giun dế loằng ngoằng. Anh em bụng bảo dạ thế này thì chỉnh sửa bằng tay biết bao giờ mới xong. Kỳ lạ và may mắn thay, in ra lại đúng phóc không sai sót gì.

Mr. Thế cũng là một tay rất gây ấn tượng cho tôi về khả năng làm việc và sự hiểu biết về máy PC lúc đó. Sau này tôi có gặp lại anh và được biết anh đang thực hiện một chương trình rất hấp dẫn về thiết kế mẫu thảm đay cho Nhà máy nào đó. Hiện tại không biết anh đang ở đâu.

Việc ấy rồi cũng qua đi, cho đến một hôm anh Việt tròn, vốn là thầy của tôi về máy tính khi làm luận án ở Nga, bỗng dưng cứ năn nỉ dạy cho lập trình. Tôi ngạc nhiên cho đến tận lúc anh bảo: "Thôi đi, thằng Hà nó đã phải khen mày cơ mà".

Tóm lại, tôi có mấy cái may: Thứ nhất là anh Bảo đi công tác vắng nên tôi đi với Trung Hà. Thứ hai là Trung Hà không thạo C, Thứ ba là Trung Hà lại quen với Việt tròn và cuối cùng không hiểu sao cả hai tay này đều trở nên nổi tiếng.

Sau một thời gian chẳng thấy siêu máy tính tiến triển gì cả, Trung Hà thường bỏ đi giúp các anh Kỳ, Tiến trong việc bán máy tính đổi hàng cho Viện Hàn lâm Nga. Về chuyện này, anh Tiến cũng thường tâm sự trong các buổi nói chuyện. Trong các chuyện của anh đáng nhớ nhất là chuyện về Đức béo (hiện Giám đốc Trung tâm Bảo hành FPT). Đức béo hồi đó chưa làm cho FPT. Anh và Đinh Thế Lam (hiện Giám đốc của Thiên nam tin học) làm thành một cặp rất ăn ý để kiếm thêm. Chúng thường hoạt động trong lĩnh vực tiếng Việt. Chiếc máy tính đầu tiên của FPT cũng do bọn chúng cài tiếng Việt. Gây ấn tượng nhất là có một cái công tắc, bật một cái là màn hình chuyển sang tiếng Việt, cái nữa là tiếng Nga, cái nữa là tiếng Anh. Thật là thuận tiện, hơn hẳn các kiểu Shift phải trái vớ vẩn của ABC và VNI bây giờ. Trong trí tưởng tượng của anh Trương Gia Bình lúc đó, cặp này cũng ngang với khu công nghệ cao bây giờ. Đó là nói tại sao Đức béo được anh Tiến nhắc đến. Anh Tiến nói: "Khi đó FPT bán máy Olivetti sang Nga bị hư hỏng nhiều, phải mời chuyên gia Đức sang giúp đỡ. Hôm đó thấy Đức bệ vệ đến, mấy chú Tây hì hụi bê máy ra. Chẳng thấy ông Đức chữa gì chỉ thấy hai tay đút túi quần, đi đi lại lại, bắt các chú Tây xoay ngang xoay dọc, đập đập vào máy tính, rồi lại bắt mang vào. Thế mà cái máy lại tự nhiên chạy. Tây phục lắm, còn anh em ta thì ngạc nhiên. Đến lúc lên xe về mới vỡ lẽ là hôm đó thế nào mà cúc quần của anh lại đứt mất, thắt lưng lại không có do đó hai tay anh cứ phải đút trong túi quần để giữ cho nó khỏi tụt xuống. Anh em vẫn gạn hỏi, sao mày biết hỏng chỗ nào mà bảo nó vỗ tài thế. Anh thú nhận: "Biết đ. đâu, mình cứ phán bừa đấy chứ"
Chương 2: Demo


Xu hướng demo là xu hướng dominate trong các sản phẩm phần mềm của Việt nam. Người demo công nghệ, kẻ demo thuật toán, có công ty thì chỉ đơn giản là demo người. FPT cũng không tránh khỏi trào lưu đó. Tổ sư của các sản phẩm demo (ngày nay người ta còn hay gọi là presentation & presenter) là anh Đỗ Cao Bảo tức BảoDC@fpt ngày nay.

Vào năm 1989, các loại chương trình như PowerPoint, ScreenCam còn chưa tồn tại. Tuy nhiên IBM có một chương trình tương tự rất độc đáo, gọi là StoryBoard. Chương trình này có nhiều điểm hay mà cho đến nay các chương trình tiên tiến kể trên vẫn không có, tỉ dụ như khả năng định nghĩa một màn hình ảo trong một phần bất kỳ của màn hình máy tính, và cho các chữ, hình chỉ thể hiện trong đó. Anh Bảo là người đầu tiên thiết kế bộ chữ tiếng Việt cho StoryBoard. Các màn trình diễn độc đáo do anh Bảo thiết kế lúc đó thường là quả đấm thép của Công ty trong việc đi ký các hợp đồng. Hơn thế nữa chúng còn được dùng cho các mục đích khoa học và ngoại giao. Thông thường là màn hình được mở ra với hai bàn tay đang nắm chặt và dòng chữ chạy: "Hoan hô đồng chí ...". Trong các đồng chí được hoan hô phải kể đến các Ông Đồng Sĩ Nguyên, bộ trưởng GTVT, Ông Vũ Đình Cự, Viện trưởng Viện công nghệ, Giáo sư thủy lực Obermayer của Viện Max Plank-Đức, Ông Trần Lâm, Tổng Giám đốc THVN,... nhiều khôn xiết. Tiếp theo là từng đoàn ô tô, máy tính và các kiểu chữ uốn lượn, cụp xòe miêu tả các hoạt động của FPT liên quan đến vụ việc. Kết thúc thường là một cành đào, hoặc một bức tranh phong cảnh.

Tôi còn nhớ lúc đầu, khi chưa làm được bộ font tiếng Việt, anh Bảo đã bỏ công ra viết hẳn 1 chương trình tương tự như StoryBoard. Không hiểu có bạn trẻ nào bây giờ có ý tưởng viết lại PowerPoint chỉ vì nó chạy chậm quá không?!

Chương trình demo nổi tiếng thứ hai của FPT mà anh Bảo lại là nhân vật chính là chương trình "Đèn đường". Số là hồi đó (1989) AIC có một chương trình rất nổi tiếng gọi là CAMAP. Khi chạy, bản đồ năm châu bốn biển hiện lên và trôi dạt theo điệu nhạc rất du dương. Khi kích chuột vào các vị trí trên bản đồ ta có thể thu nhận được những thông tin về khu vực đó. Phải nói rằng AIC vào quãng năm 1989-1992 là một Công ty rất tập trung vào công nghệ phần mềm, đặc biệt là đồ họa và cũng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Họ còn được mời sang tận Pari để thực hiện một hợp đồng cho kinh thành ánh sáng. Tôi thỉnh thoảng cũng mò sang chỗ họ chơi và rất lấy làm khâm phục khi thấy anh Phạm Tiến Dũng có trong tay đến hơn 20 cô thiếu nữ xinh đẹp ngày đêm di digitize, vào số liệu bản đồ thành phố Pari. Không hiểu vì sao về sau không còn thấy nhắc đến AIC nữa.

FPT, cụ thể là anh Bảo, cũng không phải là tay vừa. Vừa may, lúc đó có Mr. Nguyễn Viết Tuyển giám đốc Xí nghiệp đèn đường Hà nội đến để đặt vấn đề làm chương trình quản lý hệ thống chiếu sáng công cộng của Hà nội. Lúc đó FPT chẳng có ai thành thạo về Fox cả, nên chỉ có một ý tưởng là làm kiểu GIS. Ban chuẩn bị đề án được cấp tốc thành lập gồm có anh Công chủ trì, anh Bảo lo phần vẽ và xử lý bản đồ, tôi lo phần quản trị và thể hiện các đèn sáng-tối, anh Ngọc lo phần âm nhạc. Chương trình được hoàn thành trong hai tuần, mở đầu bằng cảnh bản đồ Hà nội trôi trong tiếng nhạc "Trùng trùng quân đi như sóng ...". Tiếp đến là sơ đồ nối các bốt đèn gọi là mạch vòng, các đường phố,... Tóm lại rất ấn tượng. Tiếc rằng khi đến trình bày cho Xí nghiệp, anh Công lại chỉ ra quá rõ sự yếu kém về chuẩn bị của đội bạn, do đó đội bạn sợ chạy mất. Giả sử lúc đó chúng tôi có đôi chút kinh nghiệm về thương mại hay láu cá hơn một chút thì có lẽ sự phát triển phần mềm của FPT đã đổi sang hướng khác và biết đâu ngày hôm nay nước Việt nam đã có một Bill Gates ?!



Tuy nhiên chương trình "Đèn đường" - 4D thực sự đã có một tác dụng demo tích cực và được chạy đi chạy lại hàng trăm lần cho các quan khách khắp nơi xem. Cũng có thể coi 4D là sản phẩm Multimedia đầu tiên của FPT.

Mr. Nguyễn Viết Tuyển quả là người có tầm nhìn xa trông rộng. Tất cả những kiến thức sơ đẳng về GIS mà chúng tôi học được hồi đấy giờ đây vẫn tỏ ra còn có tác dụng. Tiện đây cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới anh cùng gia quyến.

Nếu tôi không nhầm, chương trình vẫn còn được lưu trữ trong server FPT_SS. Thiết tưởng các nhóm GIS và Multimedia khắp nơi của FPT cũng nên ngó qua tí chút cho các bậc đàn anh được mát lòng thỏa dạ.

Tiêu biểu cho trường phái lập trình lãng mạn của FPT là chương trình "Flight Simulation" - "Mô phỏng bay". Cuối năm 1992, anh Tô Dũng, PTS Hàng không Kiev về, đã tìm đến Thành Nam đặt vấn đề: "Xí nghiệp sửa chữa máy bay A76 quyết định trình lên chính phủ duyệt đề án xây dựng cabin tập lái máy bay TU134, do đó A76 muốn tìm các cộng sự mạnh về tin học, toán và điều khiển". Không một chút do dự, FPT nhận lời ngay. Cùng tham gia dự án còn có các nhóm chế tạo đầu đo của Viện Vật lý, nghiên cứu tên lửa của Không quân, AIC.

Bài toán khá phức tạp, đòi hỏi phải thể hiện được sự thay đổi của không gian 3 chiều xung quanh người lái dựa trên các tham số đầu vào đo được như độ cao, tốc độ, hướng gió, hướng bay, vị trí bay,.... dự tính sẽ chi 400.000 USD, một con số khổng lồ đối với thời bấy giờ và có lẽ đối với mọi thời đại.

Để được tham gia chính thức vào đề án, FPT phải làm một chương trình demo và dự án. Nam, Bảo, Hữu được giao lo chuẩn bị. Dự án có 3 phần, anh Hữu viết về các phương trình khí động học, anh Bảo viết về việc thể hiện những cảnh 3 chiều. Nam lo phần thiết kế mạng và các máy tính. Đối với tôi, đó quả là một nhiệm vụ hết sức nặng nề bởi vì chúng tôi hiểu rằng phải đưa các trạm làm việc (WorkStation) đồ họa vào mạng, mà tại thời điểm đó lại không có một tí thông tin nào về chúng cả. Nghe người ta mách, tôi mò lên Trung tâm Thông tin Khoa học của UBKHKT (ngay đối diện với FPT 25 Lý Thường Kiệt cũ). ở đấy quả là có một lô các đĩa CD với đầy đủ thông tin về máy tính. Sau một hồi tán phét, anh Nguyễn Khắc Sơn, giám đốc Trung tâm đã cho tôi ngồi để chọn ra tất cả các thông tin có chữ "WorkStation". Nhờ thế trong bản dự án lúc đó, FPT mới có thể chào được cả máy SunSpac và RS/6000. Nói thêm đôi chút về anh Sơn. Anh luôn băn khoăn tìm cách sử dụng kho thông tin vô giá trong tay. Vừa có lợi cho xã hội, tập thể và bản thân. Vậy mà không được. Lúc đó anh nổi tiếng hơn về cung cấp các bộ font tiếng Việt cho Ventura, PageMaker. Theo như anh khẳng định, đa số các loại fonts tiếng Việt khác đều có nguồn gốc từ anh. Sau đó tôi được biết Sở Khoa học & Công nghệ & Môi trường Tp HCM chổ anh Nguyễn Trọng đã triệt để thương mại hóa được nguồn thông tin tương tự.

Lại nói về phần demo của chương trình, theo thiết kế chung sẽ có 2 modules chạy trên hai máy khác nhau. Một để tính toán ra các thông số về tốc độ và độ cao dựa trên các phương trình khí động học lúc máy bay cất cánh. Các thông số tính được sẽ được truyền qua cổng COM sang máy thứ hai chạy chương trình mô phỏng visual cảnh máy bay cất cánh. Chương trình tính toán do anh Lê Quốc Hữu chịu trách nhiệm, vì phải tính toán nhiều nên được ưu tiên chạy trên chiếc máy 486 duy nhất lúc đó: NipponTech. (Máy này hiện vẫn còn trong danh sách tài sản cố định của FPT. Xuất xứ của nó khá buồn cười: hồi đó FPT muốn kinh doanh máy ĐNA, tìm được một hãng cung cấp cực củ chuối, thậm chí còn đồng ý cho mình đặt mark máy luôn, nhãn hiệu NipponTech là do Trung Hà đưa ra làm người ta dễ nghĩ rằng đây là một loại máy cao cấp do Nhật sản xuất).

Chương trình truyền/hứng dữ liệu qua cổng COM do Phan Minh Tâm viết. Chương trình máy bay cất cánh do Đỗ Cao Bảo viết cũng thấy đường băng chạy giật lùi và máy bay ngóc đầu lên trời mây. Kỳ lạ thay là cả hệ thống phức tạp như vậy đã hoạt động. Hôm bảo vệ đề án, quân ta đã dùng máy chiếu chiếu lên tường toàn bộ cảnh tính toán và máy bay cất cánh, rất gây ấn tượng. Tiếc rằng sau đó đề án không được lãnh đạo Hàng không phê duyệt. Chẳng hiểu tại sao, có lẽ tại Việt nam đang muốn vứt TU134 đi. Giá dụ như mà chúng tôi mạnh dạn theo phương hướng đổi mới của Đảng và nhà nước mà đặt béng tên đề án là "Buồng lái Boeing 767", thì không khéo đã được chấp nhận.


Lễ hội 1993


Năm 1993 là năm quan trọng với tôi, cũng là năm FPT kỷ niệm 5 năm ngày thành lập. Cho đến bây giờ tôi vẫn thấy rằng đó là một năm thành công nhất với FPT cả về kinh doanh, công nghệ, văn hóa cũng như STiCo.

Sở dĩ quan trọng đối với tôi vì năm đó tôi được đi nước ngoài. Tôi được cử đi Hong Kong học về PB (Platform for Banking) của Olivetti. Đây là lần đầu tiên FPT cử một cán bộ kỹ thuật đi học không nhằm mục đích kinh doanh trực tiếp gì cả. Có thể coi đó như một cam kết của công ty với công nghệ. Mặc dù trước đó đã học hơn 8 năm ở Nga, và cũng đã đi khá nhiều nước như Bun, Ru, Tiệp, Hung, Đức song Hong Kong là nước tư bản đầu tiên mà tôi đặt chân đến.

Theo dự định có 2 người đi là tôi và Hùng xoăn. Tuy nhiên khi đội bạn gửi chương trình sang thì thấy toàn học phần mềm nên Hùng xoăn phải ở lại. Hình như lúc đó anh cũng hơi buồn. 20 ngày ở HongKong một mình thật là đáng nhớ. Bài học đầu tiên mà tôi rút ra được là mọi thứ cũng không đến nỗi đắt như mình nghĩ. Sau khi đi xe buýt đến tận khách sạn, phát hiện ra khách sạn quá sang (sau khi xài thử video đen) tôi vội vàng gọi điện nhờ anh Thăng hiện là giám đốc Đồng Nam tìm cho chỗ ở khác rẻ hơn. Hiếm thấy anh Việt kiều nào nhiệt tình như anh Thăng. Mặc dù trước đó không hề quen biết tôi và hết sức bận bịu, anh đã tận tình giúp tôi trong việc ổn định chỗ ăn ở. Anh có mời tôi đến nhà chơi, lấy thuyền đưa tôi đi thăm cảnh chèo thuyền truyền thống ở Discovery Bay . Bây giờ anh vẫn là người bạn tốt của FPT.

Học trên lớp được 3 ngày, tôi đã cảm thấy chán. Mặc dù PB là một môi trường rất hấp dẫn và hứa hẹn, nhưng cách dạy của Tây rất chậm. Tốt hơn hết là copy hết tài liệu mang về mò sau. Sau một tuần tôi quyết định không tham gia tiếp khóa sau mà nhờ Angelo Canepa (hiện là giám đốc Olivetti Việt nam) giới thiệu cho cấu trúc và các bộ phận của Olivetti Hong Kong. Sau đó tôi tìm cách đi đến các Công ty như Microsoft, Novell, Sun,... những tên tuổi lẫy lừng của công nghệ thông tin thế giới mà lúc đó ở Việt nam vẫn chưa có dấu vết. Đến Hong Kong, tất nhiên không thể không đến Golden Center, trung tâm mua bán các thiết bị vi tính và phần mềm sao lậu. Bây giờ tôi vẫn nhớ cảm giác như mình lạc vào thiên đường vậy, thấy cái gì cũng quý. Chỉ nhớ lúc về xách cho anh Đức bảo hành hai thùng đủ các loại cable, board và copy hàng trăm đĩa mềm khác nhau. Sau này tôi còn ghé lại Golden Centre nhiều lần nữa, nhưng chẳng bao giờ thu hoạch được như lần đầu.

Sau hơn 1 tuần đấu tranh tư tưởng, tôi đã quyết định mua một bộ Multimedia đầy đủ của Creative: Sound Blaster và Video Blaster gồm đủ cả Video-in và Video-out, giá chính xác là 995 USD. Cũng được các xếp khuyến khích vì năm đó là năm kỷ niệm lần thứ Năm thành lập Công ty. BGĐ quyết định sẽ tổ chức đại lễ hội cực kỳ ầm ĩ. Để góp vui ISC và STC quyết định sẽ liên doanh để cống hiến một chương trình Super Multimedia đặc biệt.

Nhóm Hùng xoăn và Đức béo được giao nhiệm vụ thiết kế một hệ thống tương tự như truyền hình cáp trong khuôn viên phòng họp lớn của Khu biệt thự Hồ Tây. Mục tiêu là để replicate lại chương trình trên nhiều màn hình. Sau một hồi thử nghiệm, thất bại chán chê, bọn chúng quyết định nhờ anh Võ Mai (lúc đó đang ở Singapore) mua 4 bộ Commandor là thiết bị Multidisplay có thể nhân hình ra nhiều màn hình. Tất cả các TV của cán bộ FPT ở khu Thủ lệ đều bị trưng dụng.

Nội dung chương trình được giao cho tôi và anh Bảo. Lại một lần nữa anh Bảo thể hiện là một chuyên gia lập trình xuất sắc, bất kể ngôn ngữ nào. Hồi đó, trong bộ Video for Windows của Creative có một chương trình thương mại là Action, không hiểu thế nào hỏng béng đĩa setup, tìm mua cuống cả lên không thấy. Anh Bảo quyết định dùng một chương trình khác có tên là Tempra cũng đi kèm nhưng là miễn phí. Đó là một kiểu ngôn ngữ lập trình đơn giản (script) cho phép người dùng có thể điều khiển các objects multimedia như bài hát, âm thanh, ảnh và băng video. Phải thừa nhận là tuy có khó sử dụng nhưng Tempra rất giàu về tính năng và mềm dẻo. Và anh Bảo đã nhanh chóng thành thạo.

Để có nguồn dữ liệu chế biến, anh Bảo xách máy quay video (của anh Bình) đi quay lung tung: khách hàng, công ty, các hoạt động STC. FPT cũng đã có sẵn một số băng. Chúng tôi cũng phát minh ra một phương án đưa các bức ảnh lịch sử vào máy tính mà không cần scaner màu: kê một cái bệ thật chắc cho camera (cho nó khỏi rung), dí ảnh cần lưu vào. Sau đó play băng đó trên máy tính và capture ảnh. Tuy có vất vả một chút nhưng vẫn đưa được hầu hết các cảnh lịch sử vào máy tính. Chẳng hạn như chiếc xe máy nổi tiếng của Hùng râu có cuộn dây trong hộp đèn pha. Chỉ có điều là những ảnh đó có palette màu đối lập với Windows nên khi show nó, những thứ xung quanh có màu không giống cũ nữa. Nguồn âm thanh rất đơn giản, về nhạc có bạn Hưng đỉnh, trong nhóm Hoa sữa vác Organ đến và ghi lại tất cả các bài hát truyền thống của STC. Về lời, Mr. Bảo ra sức luyện giọng để đọc lời bình, song câu "Vỗ tay..." với âm lượng kéo dài the thé có dáng dấp của một Công Công là thành tựu nhất. Lại còn thuê cả một hội vỗ tay rào rạt để chêm vào trong những chỗ quan trọng. Khẩu hiệu "Vỗ tay..." nổi tiếng của anh Bảo được phát kiến chính trong dịp này. Sau khi đã hoàn tất các phụ kiện, chúng tôi ngồi lắp ghép. Đầu tiên cũng định play ra màn hình và ghi hết vào một băng. Sau đó phát hiện ra rằng, ngay cả với cái đầu ghi hiện đại nhất của anh Ngọc, cũng không có cách nào ghép các băng lại thành một băng duy nhất mà không bị ngắt đoạn ở giữa. Đành quyết định ghép nối bằng tay tại sàn diễn. Anh Bảo lập tức dựng lên một menu để nhắc nhở tôi là người điều khiển khi nào phải ấn cái gì. Kịch bản được dàn dựng khá công phu, theo đó thì các cảnh video và nhạc nền sẽ thay đổi liên tục để khớp với bài phát biểu tổ hợp của anh Bình, Tiến, Ngọc, Trản

Cuối cùng thì cũng đến ngày công diễn. Hội trường này trước đó chỉ dành cho các cuộc họp của TW Đảng. Thật là một cảnh ấn tượng. Các đại biểu (kể cả quân ta) được tiếp đón từ dưới thềm, hoa cài ngực. Mỗi bộ phận được phân một góc khoe khoang những thành tựu của mình. Góc Sotico đông như kiến cỏ vì là nơi trưng bày tờ báo ảnh nổi tiếng do Tú Huyền và Khánh hói làm tổng biên tập (hiện không hiểu tờ báo này lưu lạc ở đâu?) Tuy nhiên nếu bạn muốn xem đầy đủ thì có thể xem lại bức ảnh chụp lại trong Album của STC, còn nguyên bản đã bị chú Đào Vinh xóa mất bức ảnh gây ấn tượng nhất.
Cả một hội trường rộng lớn bày la liệt các màn hình máy tính và TV thể hiện cảnh sông Đà hùng vĩ (đề án Thủy điện) trong tiếng nhạc "Đoàn FPT". Được một lúc thì có sự trục trặc, đúng lúc anh Bình đang hùng hồn cao giọng thì tôi lại ấn nhầm vào nút vỗ tay, tiếng vỗ tay trong máy được phóng to nghe cũng rất ấn tượng. Quan khách ngơ ngác, rồi cũng theo đà vỗ tay ầm ĩ. Luống cuống tôi lại bồi thêm nhạc bài "Công ty sáng tác". Từ đó trở đi ảnh, hình một nơi, nhạc một nơi, người phát biểu một nơi, không còn khớp với nhau như kịch bản nữa. Tuy nhiên sau đó mọi người đều có nhận xét: "như thế FPT hơn". Đó là câu nhận xét mà tôi rất tâm đắc và thường xuyên đem ra kiểm nghiệm mỗi khi có dịp.

Toàn bộ hệ thống demo đó về sau còn được trưng bày tại trụ sở ISC ở 146 Nguyễn Thái Học, đặc biệt là được đem sử dụng trong dịp khai trương Ngân hàng Chinfon (lúc đó gọi là Cathay Trust), ông khách sộp của SIBA. Về sau chỉ còn mỗi Cù Huy Minh Tuấn là nhớ cách chạy demo. Sau mấy lần chuyển qua chuyển lại, giờ không thấy đâu nữa. Thật đáng tiếc cho một sự nghiệp khởi đầu hứa hẹn nhưng đã nhanh chóng mai một, để bây giờ Hùng Râu không kiếm đâu ra người lập trình Multimedia cho các trường phổ thông.


Lễ hội năm 1993 thực sự là một ngày hội vĩ đại. Ngoài việc kích thích công nghệ multimedia phát triển, còn phải kể đến cuộc đua xe đạp xuyên Hà nội do Hùng Râu đứng ra tổ chức. Cuộc đua gay go và căng thẳng không kém gì Tour de France. Mở màn bằng cảnh pe-dan bị gẫy gục dưới sức dướn của TGĐ Trương Gia Bình và anh phải dắt xe chạy bộ đoạn của mình. Kết thúc bằng pha lâm ly: em Bình (hiện ở phòng kế toán FPT), buông tay lái ngất xỉu trong lúc Hùng kều (Zodiac) bật sampanh mừng chiến thắng. Nếu hồi đó ISC có thêm một số nữ nữa thì chắc đã thắng cuộc. Chặng cuối, từ Láng Hạ về Giảng Võ, Vũ Mai Hương đã dẫn trước cả ki-lo-met. Các chàng trai kiểu Tiến béo, Hải kều,Thắng còm, Nam béo,... phi xe máy bám theo đông như kiến, anh nào cũng cố sờ tay vào xe của nàng vừa để lấy danh vô địch, vừa để lấy oai với người đẹp. Chẳng hiểu bọn chúng ghét nhau hay tay chân loạng quạng thế nào mà em Hương tự dưng ngã lăn đùng, xe thành hình số 8, người đầy xây xước. Về sau họp kiểm điểm, Hương chỉ khóc mà không nói được câu nào. Bí mật đấy coi như bị đi vào quên lãng.


Client/Server

Một chương trình ấn tượng khác là chương trình Ngân hàng Client-Server. Hồi năm 1993-1994, thuật ngữ "Open System" rất được ưa chuộng. Trong các cuộc khẩu chiến, cánh UNIX, ORACLE thường thắng thế. Chúng tôi được IBM xúi rằng, "Open System" là cái đinh, Client-Server mới là ác chiến.

Sau khi Nam đi học về PB (Platform for Banking), một môi trường C/S của Olivetti, FPT quyết định mua một bộ các công cụ demo ngân hàng của Oliveti, trị giá tới hơn 7000 USD. Có lẽ đây là một trong những đầu tư quan trọng, phức tạp và tốn kém nhất của công ty. Bộ công cụ bao gồm:

Máy chủ Olivetti LSX 5010, to đùng, tráng kiện, có cài UNIX SVR4 và LanManager
Cơ sở dữ liệu Informix
Card X.25, cho phép ghép nối mạng LAN với mạng X.25
Máy đọc thẻ từ
Máy ghi thẻ từ
Máy in sổ có đầu đọc và ghi thẻ từ
PB for UNIX
PB for Windows
Tóm lại là một mớ những phần mềm và thiết bị đầy công nghệ. Để thấy mức cao của công nghệ, xin kể một chuyện: Hồi đó FPT đang còn duy trì việc thi chuyên môn cho những nhân viên mới. Phải thừa nhận đó là một cuộc thi khá phức tạp, thậm chí có phần khó hơn luận văn tốt nghiệp. Tỷ dụ như câu hỏi ưa thích của Đức béo là: "Làm thế nào để cắt đôi con 8866?" (hoặc con gì đó, tôi không nhớ rõ). Của Trần Ngọc Trí là: "Hãy viết một chương trình bat có 500 dòng lệnh để tìm được file cần thiết" (tương tự như find file của Word bây giờ). Nhiều chí sỹ đã có kinh nghiệm hẳn hoi mà vẫn phải ngậm ngùi nhận 0 điểm. Đình Anh khi đó vì mới vào nên cũng phải thi. Hắn là một tay láu cá, biết có học cũng trượt bèn dùng võ cùn. Khi được hỏi đang làm gì, hắn dõng dạc tuyên bố: "Đang lập trình PB" và nhìn các vị giám khảo một cách rất thông cảm. Quả nhiên không ai dám hỏi gì và hắn được nhận vào cho đến tận ngày nay.

PB là một môi trường lập trình phân tán được thiết kế khá mềm dẻo, cho phép người lập trình có thể tạo ra và sử dụng các services không phụ thuộc vào services đó đang được cài đặt ở máy nào. Đại loại có thể viết các chương trình như print server, com server một cách không phức tạp lắm. Đội quân thiện chiến nhất của ISC gồm Phương và Đình Anh được tung vào cuộc. Bọn chúng mày mò cài đặt, sử dụng non-modem cable để giả lập đường X.25 và lập một chương trình thực sự, chương trình quản lý tiết kiệm cho Ngân hàng. Khách hàng được cấp một sổ tiết kiệm có băng từ, khi đến Ngân hàng thì máy sẽ tự động đọc và update sổ đó, và nhiều features khác tựa như thay vì gõ password thì cầm thẻ kéo xoẹt một cái qua. Bản thân tôi thấy rất ấn tượng. Vậy mà không hiểu sao các bọn Ngân hàng mà chúng tôi đem đi demo chẳng có phản ứng gì và chương trình Client-Server đầu tiên mãi mãi vẫn chỉ là demo. Tuy nhiên việc nghiên cứu môi trường PB cũng đã đặt những nền móng đầu tiên cho việc xây dựng NICS và sau này là TTVN. Chỉ tiếc rằng ngoài Phương và Đình Anh ra chỉ có 2 tay thạo PB khác là giáo sư Văn và Hưng K34 đều không ở lại FPT cho đến bây giờ.

Bây giờ nhìn lại mỗi chương trình demo đều thực sự là những thử nghiệm lớn, đã mang lại cho những người lập trình và thiết kế những kinh nghiệm kỹ thuật hết sức quý báu. Tiếc thay những kinh nghiệm, những kết quả đúc kết được đã không được đem sử dụng triệt để mà dần dần bay hơi theo thời gian. Bây giờ thì tôi hiểu rằng chúng tôi đã bỏ qua một khía cạnh quan trọng của việc phát triển phát mềm: thương mại hóa. Nghe có vẻ như xủng xoẻng hơi hướng tiền bạc. Làm sao lại có thể là động lực khoa học. Vâng, tiền tôi nghĩ không phải là yếu tố quyết định lúc đó. Thương mại ở đây phải hiểu rằng khả năng áp dụng vào cuộc sống. Chính cuộc sống mới là thước đo cao nhất đánh giá các phần mềm máy tính.

Có lẽ việc sớm nhận ra điều đó và kiên quyết coi phần mềm như một doanh nghiệp độc lập chứ không phải là công cụ trợ giúp cho việc kinh doanh đã giúp cho chúng ta vẫn giữ được đội ngũ như hiện nay.

Chương 3: Thương mại


Nếu như hiểu chương trình có khả năng thương mại là chương trình có thể bán được ra tiền thì chương trình thương mại đầu tiên của FPT là chương trình tính dự toán công trình do anh Bảo, Nam và Hùng râu làm cho anh Nhuận. Lúc đó FPT còn có một xí nghiệp Cơ-Điện-Lạnh do anh Nguyễn Đức Nhuận làm giám đốc chuyên nhận các công trình thiết kế hệ điều hòa. Thấy các kỹ sư cặm cụi tính toán các dự toán rất phức tạp, nhất là mỗi khi phải thay đổi kinh phí hay Nhà nước thay đổi các thông tư nghị định cho xây dựng cơ bản, Hùng Râu nảy ra ý định tự động hóa. Khi nghe hắn trình bày xong, anh Bảo cười khẩy, rồi cặm cụi lập trình luôn. Tôi khi đó đang học nghề cũng mon men xin một chân viết chương trình đọc các file tham số để truyền cho chương trình tính và in của anh Bảo.

Khi in ra được một tập giấy dày, anh Nhuận phấn khởi lắm. Hùng Râu khẳng định là anh có trả cho 3 chúng tôi 1.000.000 đồng (một số tiền khá lớn vào năm 1989 khi lương của chúng tôi chỉ là 30.000/tháng) và hắn đã chia đều cho 3 người. Tuy nhiên tôi chẳng nhớ là mình đã nhận được đồng nào cả. Có lẽ vợ đã thu hết từ lúc nào mà không biết. Không biết chương trình của chúng tôi có giúp được gì không, nhưng anh Nhuận đã thắng thầu đề án lắp đặt hệ thống thông gió cho Đài truyền hình Việt nam trị giá hơn 1 tỷ đồng. Một cuộc đấu thầu có tính chất lịch sử đầu tiên của FPT, mở màn cho seri thắng lợi của anh Ngọc và anh Bảo sau này. Tôi vẫn còn nhớ là được dự liên hoan ở Nhà hàng Quốc Tử Giám cực kỳ sang trọng. Về sau này cũng có nhiều công ty chuyên về làm và bán các phần mềm dự toán này. FPT không hiểu sao không quan tâm nữa.

Sau vụ này anh Nhuận trở thành nhân viên tiếp thị máy tính đắc lực. Câu nói cửa miệng của anh là "Máy tính hay lắm, ấn một cái là nó in ra lung tung cả", rất có ấn tượng với khách hàng. Sau một thời gian, anh Nhuận tách ra khỏi FPT lập thành Emeco, nghe nói làm ăn cũng phát đạt. Rất lâu sau đó, chiếc máy tính Foremost lịch sử đầu tiên của FPT vẫn còn chạy ở văn phòng xí nghiệp. Đã có lúc nghe nói FPT sẽ mua lại để làm kỷ niệm nhưng chẳng thấy ai thực hiện cả.

Typo4

Không hiểu những người khác thế nào, đối với tôi, đề án có tính chất quyết định trong việc trưởng thành như một người lập trình và quản trị dự án là đề án với mật danh là Typo4. Chắc là tôi phải dành nhiều trang hơn cho đề án này.

Số là trong thời gian du học tại Grenoble, Pháp, anh Ngọc có quen được với một anh Việt kiều tên là anh Long, cũng là một fanatic trong lập trình. Chắc chắn là đã nghe không ít hơn một lần bài giảng của anh Ngọc về sự thông minh của các lập trình viên Việt nam, anh Long ôm mộng về nước tổ chức lập trình làm ăn lớn. Và anh làm thật.

Lần đầu tiên tôi gặp anh là khoảng giữa năm 1989, trong buổi họp đầu tiên với các lập trình viên "tài năng và giàu kinh nghiệm" của Việt nam. Tôi còn nhớ là rất ngạc nhiên, quái lạ ông Việt kiều này còn gầy hơn cả mình. Vâng một người nhỏ thó, nhưng kế hoạch của anh thì không hề nhỏ. Thửơ đó Windows còn là một thuật ngữ hết sức xa lạ. Bản thân tôi mới nhìn thấy một lần bản Windows 1.0 tại Viện nghiên cứu Khoa học Giáo dục, và thấy nó hết sức không thân thiện. Tuy nhiên, anh Long đã nhìn thấy trước tương lai tươi sáng (?) của Windows, anh quyết định bỏ tiền túi, về Việt nam chiêu mộ quân sĩ. Typo4 là code name của chương trình lên trang chuyên nghiệp chạy trên Windows mà anh Long định thực hiện. Nói chuyên nghiệp là để phân biệt với chương trình Ventura lúc đó đang rất thông dụng. Theo anh Long, Typo4 không nhằm mục tiêu đại trà mà chỉ để dành cho các nhà in chuyên nghiệp. Tôi còn nhớ sở dĩ gọi là Typo4 là để nhấn mạnh khả năng tách làm 4 màu của mỗi bản in chứ không phải là version xiếc gì !



Qua anh Ngọc, anh Long liên kết với khoa Tin học BK để thuê địa điểm và tuyển mộ quân sỹ. Do có chân trong FPT, vả lại hồi đó chúng tôi cũng chưa có việc làm, anh Ngọc kết nạp tôi với anh Bảo vào đội. Anh Bảo thì rõ vì lúc đó anh đã tham gia vào rất nhiều đề án lập trình và đã là một người nổi tiếng. Còn đối với tôi đó là một sự may mắn. Trong mấy tháng đầu tôi toàn lo bị đuổi. Có đến hơn 10 người tham gia vào đề án. Sau đó rơi rụng bớt chỉ còn có a. Ngọc, tôi, a. Bảo, Mr. Vũ Đức Vợng, Mr. Nguyễn Văn Lợi, Mr. Tô Thành. Sau này có thêm Trần Ngọc Trí viết về truyền tin và Mr. X chuyên dịch các lệnh in của Windows sang dạng Postscript.

Cũng muốn nói thêm một chút về những đồng nghiệp này. Thực ra thì tôi cũng nhận bừa là đồng nghiệp vì lúc đó chưa thể dám coi mình là lập trình viên.

GS Đại học Bách khoa Tô Thành hồi đó có một chương trình rất ấn tượng mà chúng tôi hay gọi là Hoa thơm Bướm lượn (tôi có nhắc tới lúc đầu). Chương trình này có thể coi như là chương trình Multimedia đầu tiên giới thiệu những khúc thơ tình trong cảnh một đàn bướm và chuồn chuồn dập dờn với tiếng nhạc réo rắt. Bây giờ tôi thấy vẫn còn có chỗ dùng chạy demo. Hay nhất là cách anh vẽ những bông hoa bằng các đường Sin ngẫu nhiên, rất đẹp.

Vũ Đức Vượng, học ở Bungari về, về sau còn có một thời gian dài hợp tác với FPT để làm các chương trình lễ tân khách sạn và kế toán. Có thể nói không ngoa là anh có mặt trong buổi ban đầu của Balance. Hiện nhà tôi còn có cái tủ do anh môi giới một người đóng hộ.

Nguyễn Văn Lợi là một trong số ít những người Việt nam được học ở Bỉ. Đó là lứa năm trước chúng tôi, cả một khóa được phân đi Rumani, vì lý do gì đó bọn Ru từ chối, thế là lại được sang tư bổn. Đúng là Tái ông mất ngựa. Anh Lợi làm ở Viện Điện tử, cũng là một địa chỉ Tin học nổi tiếng thời bấy giờ.

Lại nói về Typo4. Việc đầu tiên chúng tôi phải làm là lăn ra học Windows và MS C. So với Turbo C đang rất phổ biến hồi đó, lập trình MS C là cả một cực hình: vừa chậm, vừa không có WorkBench, không có debug. Tuy nhiên đổi lại MS C có khả năng Link thành file to để load từng đoạn và hơn nữa tương thích với Win. Để nghiên cứu, anh Long mua hẳn bộ SDK của Win 2.1 rất tân tiến. Và chúng tôi bắt đầu làm quen với WinMain, GetMessage, GetDC, BitBlt,... Tất nhiên so với các bạn làm Visual Basic bây giờ, chúng tôi trông giống những ông thợ xây chứ không phải nhà kiến trúc. Còn nhớ, điều làm tôi rất bất mãn lúc bấy giờ là Win không có hàm OpenFile() standard. Mỗi đứa viết một kiểu.

Như một người thiết kế tổng thể, anh Long đã bỏ ra rất nhiều thời gian để quy định các phương thức để mọi người có thể làm việc với nhau. Một trong những cách đó là hàm của ai viết phải có tên của người đó ở đầu, chẳng hạn Vdv_MenuX() hiểu ngay là hàm của Vũ Đức Vượng. Chúng tôi còn học cách chia sẻ và chuyển các cấu trúc dữ liệu. Rất bổ ích. Chỉ riêng có một điều anh Long không thành công, đó là bắt chúng tôi làm tài liệu một cách có bài bản. Không hiểu là tự chúng tôi dốt hay thực sự việc đó cũng không cần thiết.


Làm được một thời gian, anh Bảo được hội làm nhận dạng mời đi Pháp dài hạn. Chúng tôi chính thức còn 5 người. Anh Ngọc chuyên lo vẽ và lập trình các loại DialogBox, trong Win 2.x còn khá phức tạp. Anh Lợi chuyên trách về Editor. Vượng về menu và các hàm khung. Tôi và Tô Thành làm việc khá chặt chẽ với nhau. Theo thiết kế, trang in sẽ là một tổ hợp các hình hình học có chứa text hoặc image ở bên trong. Kiểu như Frame trong Word. Tô Thành chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ các objects đó bao gồm các hình chữ nhật, elip và zigzag. Nhiệm vụ của anh là thông báo cho tôi trên một line, chỗ nào là chỗ trống cho text. Nhiệm vụ của tôi là đọc text từ buffer của Editor và fill vào những chỗ trống đó theo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của typography. Thiết kế đòi hỏi rất cao, các hình là tùy ý và có thể quay, chồng chéo lên nhau, có thể transparent hoặc solid. Về mis en page (lên trang) cũng rất khắt khe. Tôi còn nhớ chúng tôi phải phân biệt đến 8 loại space (ký tự trắng) thể hiện như nhau trong điều kiện bình thường nhưng khác nhau cơ bản khi co giãn để lên trang. Một ví dụ để nói lên sự đòi hỏi đó: thửơ đó, Win chưa có font true type. Để thể hiện đúng kích thước của từng chữ, tôi phải dùng các font scalable như Roman. Tuy nhiên chúng có nhược điểm là display rất chậm. Một hôm tôi mới láu cá, tính sẵn từng dòng và play cả dòng kiểu máy in dòng. Tốc độ được cải thiện đáng kể. Phấn khởi, hôm sau gọi anh Long đến demo, không dè anh chửi cho té tát. "Tôi không cần các anh làm nhanh, mà cần các anh làm đúng. Anh phun ra từng dòng, thì ai đảm bảo khoảng cách giữa các chữ là đúng" Vậy đó, chúng tôi phải tính chi li khoảng cách giữa các chữ cái trong bảng font để đảm bảo phân bố text một cách tối uư nhất theo yêu cầu của người dùng.

Tất nhiên không phải chỉ có được. Chúng tôi cũng đã bao nhiêu lần kéo nhau ra quán, đòi đập chén bỏ việc vì chẳng hiểu vì sao làm mãi vẫn thối. Chẳng hiểu vì sao ông Long vẫn không hài lòng. Lòng tự trọng nhiều lúc cao ngùn ngụt. Mâu thuẫn chủ yếu là cách đánh giá công việc giữa cá nhân từng người và anh Long. Sau này khi có dịp phụ trách thiết kế tôi mới hoàn toàn thông cảm với những lo toan của anh Long.

Cũng may là hồi đó tôi chưa biết gì, nên toàn ngồi im, vả lại anh Ngọc luôn luôn là người đứng ra hòa giải. Vì thế anh em tôi vẫn đi được đến cùng mà không sứt mẻ.

Sau chín tháng 10 ngày, sản phẩm cũng được ra đời. Vì in là in ra file Postscript nên phải mang sang tận Bộ Nội vụ có một máy LaserWriter mới in được. Khi anh Long mang bản in thử về, anh em chúng tôi ai cũng thấy sướng. Đến bây giờ tôi vẫn chưa biết một chương trình khác có thể lên được những trang đẹp như vậy. Không hiểu anh Ngọc còn giữ mẫu nào không.
Tuy như anh Long nói, định 10 mới chỉ làm được 3, Typo4 thực sự đã là trường học lớn đầu tiên cho tôi. Lần đầu tiên tham gia một chương trình lớn tôi đã gặp may khi được tiếp xúc với những công nghệ hiện đại nhất, được làm việc dới sự chỉ huy của một người giàu tham vọng và biết cách thực hiện nó, được làm việc đòi hỏi tính đồng đội cao trong một môi trường gần gũi và thoải mái. Cám ơn anh Long và Typo4 rất nhiều.


Bài học Typo4 cũng chỉ ra rất rõ những điểm mạnh và yếu của những người lập trình trong nước. Rõ ràng chúng ta có những lập trình viên giỏi, sáng tạo, có khả năng thực hiện được những công việc đồ sộ, phức tạp. Nhưng chúng ta thiếu những người có tầm nhìn xa hơn, đoán được trước xu hướng phát triển, đi vào lĩnh vực mới. Trong số ít ỏi những người có khả năng đấy, than ôi, hầu như không ai có đủ sự dũng cảm và tự tin để chọn đó làm sự nghiệp của đời mình. Các đề án xuất sắc của 3C, AIC, Viện Tin học mãi mãi chỉ là những kỷ niệm đẹp vì không có người dám đặt cược sự thành đạt của mình vào những sản phẩm đó.

Năm tháng trôi đi, càng ngày chúng ta càng nhận thức được rằng tiềm năng duy nhất của Công ty và Đất nước chỉ là con người. Và công nghệ phần mềm dường như đã thuyết phục được các chính khách như là con bài chủ đạo trên con đường Việt nam tiến lên xã hội mới. Ngày nay chúng ta ngậm ngùi nhớ lại những cơ hội đã bị bỏ qua để bắt tay vào làm lại từ đầu?!



Phòng vé Việt nam Airlines

Hợp đồng phần mềm thương mại đầu tiên của FPT là Hệ thống đặt vé giữ chỗ cho Phòng vé Hàng không Việt nam Hà nội, cuối năm 1990. Trước đó một chút, nhờ nỗ lực của anh Phan Quốc Việt (Việt tròn - nguyên chánh văn phòng PetroViệt nam), Trần Ngọc Trí cũng đã triển khai một cái gì giông giống như chương trình truyền tin cho Ngân hàng Công thương Hải Hưng. Tuy nhiên cũng mới chỉ dừng ở giai đoạn demo.

Quá trình dẫn dắt đến hợp đồng, tôi không được rõ lắm, chi tiết xin hỏi anh Bùi Quang Ngọc (nay là NgocBQ@fpt).

Phòng vé máy bay lúc đó có thể coi là một tụ điểm, bởi vì vé máy bay cực hiếm, nhất là những chuyến đi Nga. Phòng vé lúc nào cũng đông như hội. Trưởng phòng vé Hà nội lúc đó là chị Phan Hạnh Thỏa, thiếu tá quân đội. Cũng nhờ có công giúp đỡ lớn của chị Thỏa và chị Hòa phó phòng mà chúng tôi mới hoàn thành được chương trình. Nhóm đề án do anh Ngọc chủ trì có tôi, Đinh Thế Phong, Trần Ngọc Trí, Phan Minh Tâm và Cường. Tôi nhớ là làm việc rất bài bản, buổi họp đầu tiên là anh Ngọc trình bày về các tình huống xảy ra deadlock trong quản trị dữ liệu. Với công cụ FoxBase, Trần Ngọc Trí đã tạo ra cả một thư viện những hàm giúp cho chúng tôi có thể trình bày màn hình đẹp chẳng kém gì FoxPro bây giờ. Cũng cụp xòe, có Shadow, Windows, chữ trôi,...


Chương trình được xây dựng trên mạng 10Net. Cũng phải nhắc đến lịch sử mạng này một chút vì dù sao nó cũng là cơ sở cho chương trình thương mại đầu tiên của FPT. Ngay từ khi mới thành lập ISC, anh Công đã khẳng định LAN là tất yếu và do đó chúng ta phải tìm cách xây dựng 1 mạng LAN, ít nhất là tại FPT. Thời gian đã chứng minh là anh rất có lý. Cho đến bây giờ, FPT vẫn chưa có gì cao hơn ngoài việc lắp các mạng LAN. Tôi luôn luôn kính trọng anh Công không phải vì kiến thức mà vì anh là người dám đưa ra các dự báo. Cũng ít người hiểu được vì sao anh lại rời FPT. Còn nhớ khi phân đất tại khu Thủ lệ, anh nói rất tự hào: "Bây giờ có cơ hội để cho con tao được ở gần bọn mày cho có trí thức". Chả là nhà anh ở làng Kim Liên, anh cho là rất nhà quê.

Theo đề nghị của anh, giữa năm 1989, FPT đã đặt mua 5 card mạng Ethernet của hãng 10Net, được kèm luôn cả hệ điều hành mạng kiểu peer-to-peer, tốc độ 10M. Sau một hồi mày mò, cuối cùng Võ Mai cũng dựng lên được và đó là niềm tự hào về công nghệ đầu tiên của FPT. Đứng về khía cạnh người dùng, mạng này có một số tính năng lý thú như khả năng chating, mail, BBS included. Về khía cạnh quản lý, nó cho phép supervisor kiểm tra toàn bộ access vào mạng thậm chí cả các actions cụ thể như người dùng sử dụng interrupt nào,... rất tiện lợi cho việc bẫy lỗi chương trình. Bây giờ tôi vẫn ngạc nhiên là tại sao Novell Netware lại không có những utilitties như vậy.

Lại quay về Phòng vé. Đúng ngày 1/1/1991, sau 3 tháng lập trình, Phòng vé chính thức khai trương sử dụng chương trình mới với một mạng 1 máy chủ Olivetti M300 và 6 máy con Olivetti PCS286 và PCS86. Lần đầu tiên, khách hàng được nhận những tờ hóa đơn và PNR do máy tính in ra. Anh Bình lúc đó sướng lắm đọc diễn văn khen ngợi luôn luôn.

Như trên có nói, cùng tham gia vào đề án có Mr. Cường. Đó là một thanh niên khá bảnh trai nhanh nhẹn và thông minh. Tốt nghiệp Toán, Đại học Tổng hợp. Anh được nhận vào FPT rất đơn giản: anh đích thân gặp anh Bình và tuyên bố "Em là nhân tài, anh nên nhận em". Anh Bình đã choáng váng và không thể từ chối lời đề nghị đấy. Tiếc thay giờ đây ít người dám học Cường ở điểm này. Trong thời gian thực hiện hợp đồng, Cường đã có những quan hệ rất tốt với HKVN, khi đó mới bắt đầu xây dựng lại bộ máy tin học của mình. Tôi rất tiếc vì không giữ được anh ở lại FPT.

Chúng tôi kịp đưa thêm nhiều dịch vụ mới. Đầu tiên là thay máy Telex bằng chương trình của Phan Minh Tâm, cho phép gửi/nhận các yêu cầu giữ chỗ qua SITA từ bất kỳ máy tính nào. Chương trình này của Tâm sau đó được giải nhất cuộc thi các công trình sinh viên ở Đại học Bách khoa Hà nội, Tâm đã tốt nghiệp với loại xuất sắc. Đó cũng là một kiểu như chương trình mail bây giờ, chạy 24/24, ban ngày thì nối vào mạng, tối lại tách ra chạy độc lập. Đối với Đức béo, mỗi khi phải bảo hành máy tính Telex là hắn lại kêu trời vì bàn phím toàn nước chè với vỏ hạt hướng dương. Chương trình này là tiền thân cho Telex Server của Nguyễn Khánh Văn sau này, hiện vẫn đang chạy ở hàng chục chi nhánh ngân hàng Việt nam và nước ngoài. Phan Minh Tâm, nhờ có những tài năng đột xuất trong việc bắt Virus cho UNDP đã được cất nhắc lên phụ trách kinh doanh của ISC. Cuối năm 1994, anh đột ngột rời FPT sang TOGI để lại niềm tiếc thương vô hạn cho bọn Tiến béo, Hải kều.

Sau đó, theo yêu cầu của chị Hòa phó phòng, chúng tôi thiết kế một chương trình kiểu như Queue Management cho phép theo dõi tình trạng làm việc của từng máy để bảo đảm phân khách tối ưu. Hồi đó tôi có viết một chương trình thường trú nhỏ để capture màn hình một cách thường xuyên và gửi về máy theo dõi. Mr. Phong phục lắm, nói hồi xưa dùng các hệ thống kiểm tra chỉ biết được thông số chứ chưa bao giờ nhìn được màn hình cả. Lại nói về Mr. Phong, anh là phó tiến sĩ (chẳng biết môn gì) từ Tiệp về, lúc đó đang dạy ở Bách khoa. Đối với tôi, anh là thần tựơng vì đã phá lên cười ha hả khi có một cậu Tây xì xồ cái gì đó. (Tiếng Anh của tôi lúc đó không hơn gì trẻ con 1 tuổi). Phong cũng là một tay STico có hạng. Hồi đó anh có một bất mãn là khi lập trình thường bị anh Ngọc đứng đằng sau nhìn nên hay rủ tôi đi uống cafe cạnh bờ Hồ để chia sẻ. Sau này còn gặp anh làm cửa hàng trưởng cho anh Trần Xuân Thuận.

Tuy nhiên cuộc đời không chỉ toàn hoa thơm. Chạy được quãng 1 tháng, chương trình giở chứng thỉnh thoảng lại treo cứng toàn mạng. Chỉ có cách boot tất cả lại mới thôi. Đó là một điều cực kỳ bất tiện cho các chị bán vé vốn đều tuổi cao lười học cả. Chúng tôi rình mò để bẫy được thời điểm treo. như trên đã nói, chúng tôi còn có khả năng in toàn bộ tình trạng data và các thanh ghi tại thời điểm đó. Vậy mà vẫn không phát hiện được tại sao. Đành đưa ra phương pháp cổ điển, cử Trần Ngọc Trí ngồi làm việc ngay tại 1A Quang Trung, có sự cố thì xử lý luôn. Nhưng tôi vẫn ức lắm, không chịu thua. Hôm 2 Tết Âm lịch năm 1991, phòng vé đóng cửa chưa tiếp khách, tôi buồn tình xông ra đó ngồi, bật mạng lên hy vọng kiếm được cái gì đó không bình thường. Đúng là gái có công, chồng chẳng phụ, tất cả các dòng config.sys đều specify IRQ=2 là default lúc cài đặt. Như trên đã nói 10Net đã có từ lâu và đặt default cho máy XT, mà các máy chúng tôi cài ở phòng vé lại là AT286. Tôi mừng quýnh, đặt lại IRQ=3 và gọi điện báo cho mọi người đều biết. Quả nhiên sau đó lỗi treo vô duyên đó biến mất.

Hệ thống đặt chỗ cho hàng không là khá phức tạp theo số lượng, tần suất giao dịch cũng như sự đòi hỏi về tính ổn định tức là những vấn đề về khai thác sử dụng. Có lẽ đó là điểm mà chúng tôi đã bỏ qua trong giai đoạn thiết kế vì quá tập trung vào những vấn đề có tính kỹ thuật. Khi khối lượng giao dịch lớn đến một mức nào đấy, các vấn đề về tổ chức sử dụng và quản trị giao dịch trở nên quan trọng hơn nhiều bản thân các thuật toán xử lý giao dịch đó. Cùng thời gian chúng tôi thực hiện chương trình ở phía Bắc, các đồng nghiệp ở AppInfo cũng thực hiện chương trình tương tự ở Phòng vé Phía Nam. Đội AppInfo lúc đó có anh Khúc Trung Kiên (hiện ở FSS, tức kien@fpt), anh Trường, anh Tâm. So với phòng vé Hà nội, thì chương trình phía Nam có tính thực dụng hơn hẳn. Điều đó có được do nhiều nguyên nhân, nhưng lý do chính theo tôi là nhờ sự khảo sát chi tiết các phòng vé của các Hãng nước ngoài tại HCM, điều mà chúng tôi đã hoàn toàn bỏ qua. Có vô khối những vấn đề tưởng như là vụn vặt nhưng với một quy mô giao dịch lớn lại trở nên vô cùng quan trọng, chẳng hạn việc sử dụng menu hay dòng lệnh, việc chặt các chặng bay riêng rẽ hay lưu trữ thống nhất.

Thực chất chúng tôi đã tự động hóa đúng quy trình bằng tay hiện có của các nhân viên bán vé cũ mà không phải đưa ra quy trình mới trên máy tính. Kinh nghiệm các đề án về sau cho thấy, phương pháp đó chỉ áp dụng được cho những bài toán có tính ngắn hạn mà thôi.

Với tất cả những thành công và thiếu sót trên, trong suốt hơn 1 năm hoạt động, Phòng vé 1A Quang Trung đã là trường học lớn của chúng tôi về việc ứng dụng tin học vào cuộc sống. Nếu sự phát triển của phần mềm FPT có thể coi là thành công thì không thể không kể đến đề án này. Tôi muốn cám ơn tất cả các đồng nghiệp đã tham gia thực hiện đề án, các Mrs Thỏa, Hòa, Khanh, Trang, Mr. Hậu, Cường ở Hàng không Việt nam về sự kiện đó. Sau này HKVN đã thay chương trình bằng hệ giữ chỗ toàn cầu Gabriel-2.

Nhờ kinh nghiệm thu được ở đây, năm 1992, chúng tôi đã giúp FPT-HCM thực hiện chương trình cho Pacific Airlines, một hãng hàng không cổ phần mới ra đời. Cùng làm với tôi có Nguyễn Tuấn Hùng (FPT.HCM hiện nay, tức hungnt@fpt.hcm) và Mr. Sơn béo (tức net.lab@fpt), hiện là trưởng phòng má

Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT được cấp phép thành lập và hoạt độngFPT - Niềm tin bị đánh cắp

Comments

chungta Tuesday, October 23, 2007 6:16:27 AM

hiện là trưởng phòng mật mã của Ban IT-2000. Chương trình đó còn chạy cho đến thời gian gần đây mới bị thay bằng Gabriel sau những cố gắng thuyết phục nâng cấp không thành công của Tuấn Hùng. Nhắc đến Pacific Airlines không thể nhắc đến em Thiên Nga, trợ lý đắc lực của chúng tôi lúc đó. Không biết bây giờ em làm gì, ở đâu?



MSB

Có lẽ đề án Tin học hóa Ngân hàng Hàng hải là đề án lớn nhất về quy mô, nhanh nhất về thời gian triển khai và hiệu quả nhất cả về kinh tế, hiệu dụng cho Ngân hàng và đào tạo cán bộ của FPT.


Lúc đó là vào khoảng đầu năm 1991. Không hiểu do xui khiến thế nào, anh Trương Gia Bình gặp được anh Chu Quang Thứ lúc đó đang là Phó Tổng Giám đốc Liên hiệp Hàng hải. Cả hai đều là những người quyết đoán và mộng mơ nên đã nhanh chóng thỏa thuận được về việc FPT sẽ giúp MSB (lúc đó mới chỉ tồn tại trên giấy tờ) tin học hóa toàn bộ các nghiệp vụ của mình. Đổi lại FPT sẽ có 5% cổ phần và được góp 5% cổ phần nữa trong tổng số X tỉ đồng vốn đăng ký của MSB. Cho đến tận bây giờ, đây vẫn là hợp đồng có một không hai của FPT. Quán cafe Emotion nếu thành công, cũng chỉ là một cái bóng mờ của thỏa thuận này. Tuy nhiên, về các khía cạnh kinh tế, xin nhường lời cho các anh Bình, Tiến, Hà. Chúng ta lại quay về kỹ thuật.

Tháng 3/1991. Lúc đó chương trình ở Phòng vé Quốc tế mới tạm yên, anh em đang trong giai đoạn thư giãn. Anh Ngọc (Bùi Quang), gọi tôi ra ngoài hành lang trao đổi: "FPT đã đạt được thỏa thuận với Ngân hàng Hàng hải. Về mặt kỹ thuật nhóm Lộc-Đồng-Châu trong HCM sẽ đảm đương. Tuy nhiên với FPT, Ngân hàng là một hướng đi chiến lược, Công ty muốn em xông vào." Tất nhiên là chẳng có lý do gì để từ chối, tôi về nhà tắm rửa sạch sẽ, chay tịnh để vào trận chiến mới. Phải nói là cũng hồi hộp vì trước đó tôi hoàn toàn không có khái niệm i-tờ gì về ngân hàng cả. Đề án ở HKVN cho thấy việc thiếu hiểu biết cặn kẽ về nghiệp vụ có thể dẫn đến những hậu quả như thế nào. Đấy là đứng từ quan điểm bây giờ mà nói, chứ hồi đó chúng tôi cũng vẫn đang còn hào hứng lắm.

Trước mắt là chuyến đi thụ giáo vào HCM để gặp nhóm các đàn anh Lộc-Đồng-Châu, chuyến công tác xa đầu tiên của tôi. Nếu không kể những chuyến xuống Hải phòng để áp tải sắt thép do đổi máy tính Olivetti mà có. Đó cũng là những kinh nghiệm hết sức thú vị, tiếc rằng các bạn lập trình trẻ bây giờ khó có hy vọng mà được trải qua cảm giác lo sợ, hoảng hốt khi đống thép trên xe vì quá nặng rơi béng hết xuống đường trong đêm tối.

Lại nói về bộ ba: Lê Tấn Lộc (hiện là giám đốc FiBI), Hoàng Minh Châu (giám đốc FPT-HCM) và Ngô Vi Đồng (Giám đốc HiPT-HCM). Các anh chơi với nhau đã lâu. Lúc đó anh Lộc là trưởng phòng kỹ thuật của Trung tâm máy tính Ngân hàng Công thương HCM (ICB-HCM). Anh chính là người khởi xướng và điều hành việc vi tính hóa các hoạt động của ICB-HCM từ năm 1988. Thời gian đầu, anh đã mô phỏng các hoạt động của mạng bằng cách copy đĩa mềm chạy từ máy nhân viên sang máy giám đốc. Anh và anh Đồng cũng là những người đầu tiên đa mạng LAN chạy trên Netware 2.11 vào hoạt động năm 1989. Anh Châu lúc đó cũng đã nổi tiếng là một tay bán font chữ Việt và thầy dạy máy tính cho các học viên mà bây giờ đều đang ở chức vụ cao cả...

Bộ Tam này có một tài uống bia hết sức đáng nể. Lần đầu tiên đi theo các anh từ 7h tối đến 11h00, thấy lục tục đứng lên tôi mừng quýnh. Ai ngờ các anh chuyển sang quán khác để thay đổi khung cảnh. Vì là đi thụ giáo, nên tôi cũng sẵn lòng đi theo. Buồn cười nhất là tự nhiên tôi trở thành ma bia rượu dưới con mắt của Mr.Lộc. Chẳng là anh không thể hiểu được có thằng không uống mà lại mất công đi khuya như vậy. Do đó anh kết luận là chắc tôi cũng uống như điên, có điều anh hơi xỉn nên không nhận thấy. Thậm chí anh còn thông báo với 1 số bạn bè: "Thằng Nam uống được lắm" làm tôi cũng có lúc lấy làm hãnh diện lắm.

Để bắt đầu việc học tập, tôi được anh Lộc đưa cho một cuốn sách: "Kế toán Ngân hàng" cũ kỹ không thể tưởng tượng, xuất bản từ năm 1966 gì đó. Cuốn sách in Roneo trên giấy đen sì đó đã cho tôi những khái niệm cơ bản nhất về các hoạt động nghiệp vụ của một ngân hàng thương mại. Sau khi liếc qua chương trình thấy cũng chỉ gồm có một ít các menu, tôi yên tâm bay ra, thông báo với các sếp là có thể bắt đầu dự án.

Nói đến Ngân hàng Hàng hải, không thể không nhắc đến anh Chu Quang Thứ, một người cuồng tín về máy tính. Lần đầu tiên được gặp anh, chúng tôi thấy anh đang chăm chú debug một chương trình. Tôi và anh Ngọc không tin vào mắt mình. Cũng nhờ có chỉ thị của anh "Tôi muốn tất cả những báo cáo của Ngân hàng đều được in ra bằng máy tính, ngay từ ngày đầu" mà cái thằng tôi, đang võ vẽ về Ngân hàng với Mr. Nguyễn Hữu Đức, thậm chí còn ậm ờ cả về máy tính giữ được cho toàn bộ hệ thống hoạt động. Khi đó văn phòng của anh cách Ngân hàng khoảng 500 mét. Anh chỉ thị phải thường xuyên có số liệu trên máy. Nhờ sự nỗ lực của Hùng xoăn, máy của anh được cài đặt remote workstation và hàng ngày download dữ liệu về. Anh thường xuyên ra quyết định dựa trên các thông tin có trong máy của mình. Vì thế, có lần chương trình lỗi cập nhật số dư không chính xác, bị chuyển tiền sai, khách hàng kiện, chúng tôi lo lắm. Gặp anh, anh chỉ cười: "Cái gì mới mà chẳng sai, các em cứ thế mà làm". Nhờ có lãnh đạo như vậy, hệ thống tin học của Ngân hàng Hàng hải đã phát triển khá nhanh trong một thời gian ngắn. Những bài toán mà các Ngân hàng khác hiện vẫn đang đau đầu như thanh toán tập trung, quản lý và điều hòa vốn, báo cáo toàn ngân hàng, đã được giải quyết tại NHHH từ lâu. Có người nói là tại Ngân hàng có quy mô nhỏ. Tôi thì tin chắc rằng vì họ có một người lãnh đạo như anh Thứ: quyết đoán, có yêu cầu rõ ràng và tôn trọng chất xám.

Mr. Nguyễn Hữu Đức cũng là một tay gàn, Mặc dù tốt nghiệp về kinh tế, chẳng biết gì về máy tính, vậy mà anh cũng dám nhận chức trưởng phòng máy tính đảm đương việc triển khai chương trình trong toàn hệ thống. Tôi có với anh một kỷ niệm rất đáng yêu. Hồi đó tôi được coi là thượng khách của Ngân hàng, được bố trí ở Nhà khách Hàng hải, ăn theo chế độ cộng sản, hôm nào cũng cua, tôm, đặc sản. Một hôm anh Đức bất chợt đến thăm tôi, chắc là cũng hy vọng ăn ghé. Rủi thay, đúng hôm đó tôi đã quá chán đặc sản, nên đã gọi cô bé phục vụ lại để đổi lấy cặp lồng cơm với tép rang và rau muống luộc của cô bé đó. Vì lịch sự nên anh Đức không dám nói. Tôi thì vốn cũng hay vô tâm nên cũng chẳng để ý. Sau này mỗi khi gặp lại chúng tôi cũng thường nhắc đến việc này luôn.

Một nhân vật nổi tiếng nữa của FPT là anh Khắc Thành cũng được rèn luyện trong lò Hàng hải. Khi đó mới chân ướt chân ráo về nước, máy tính còn đang ú ớ, anh đã được giới thiệu là chuyên gia hàng đầu và biệt phái về Ngân hàng 6 tháng làm việc cùng anh Đức. Sau đó quả nhiên anh thành chuyên gia hàng đầu thật. Có lẽ vì quá say mê với công việc hoặc vì Ngân hàng có quá nhiều em xinh đẹp mà cả anh Thành lẫn anh Hữu Đức đến bây giờ vẫn: "Phòng không, giờng trống tàn hoang". Chắc chắn anh Thành có nhiều kỷ niệm với chị em ở đó, không biết bao giờ anh mới kể ra thôi. Lại nói về Khắc Thành, nhân tiện đi Hải phòng, hắn liền bị phân công thực hiện hợp đồng cho Liên hiệp Hàng hải Việt nam. Một hợp đồng có thể coi là ăn theo hợp đồng Ngân hàng. Bên đội bạn lúc đó có anh Bình là một người rất ưa kỹ thuật. Thấy một thằng trông mặt mũi lơ ngơ đến, anh rất coi thường. FoxProLan lúc đó đang là môn mới. Anh Bình demo luôn một chương trình với các loại menu phức tạp kín màn hình. Khắc Thành bèn rủ Lâm Phương luyện chưởng lập ra một chương trình kiểu như Xtree trên Fox, gọi là báo cáo nhanh. Anh Bình có vẻ nể, từ đó hợp tác với ta. Với võ công luyện được, Khắc Thành còn viết vô khối chương trình trên Fox, trong đó có hẳn một trò chơi gọi là Dragon, xứng đáng được nhận danh hiệu chuyên gia lập trình Fox.


Chương Hàng hải cũng là một chương quan trọng trong lịch sử phần mềm của FPT. Chúng tôi gồm có Nam, Thành, Phương, Tấn Vinh thường xuyên phải xuống. Riêng Thành ở lâu nhất, tổng cộng có đến 6 tháng. Hàng ngày ở Nhà khách Thương nghiệp 15000đ/phòng, ăn cơm quán em Thắm, theo lời kể khi cảm động thường bế bổng anh Thành lên lòng. Tôi rất khoái món bánh đa cua Hải phòng, 700đồng/bát.

Trong lúc anh Thành chỉ biệt phái thì có một người FPT hiện vẫn đang làm cho MSB. Đó là chị Quyên. Chị là học sinh tốt nghiệp ĐHBK xuất sắc nhất năm 1989 và được anh Ngọc giữ làm nghiên cứu sinh. Chính chị là người lúc đó đã cùng xuống Hải phòng với tôi tháng 6/91 để trợ giảng cho khóa đào tạo về chương trình Ngân hàng mà cả thầy lẫn trò đều còn đang mù mờ. Kinh nghiệm chị Quyên và Tú Huyền cho thấy, một khi phụ nữ đã lập trình, họ có thể lì không kém gì anh em quanh chiếu bạc.



Balance

Nói đến Software ở FPT không thể không nhắc đến Balance. Một trong những cố gắng lớn nhất của FPT để xây dựng phần mềm đóng gói. Mọi sự bắt đầu từ xa xa, cuối năm 1991 khi anh Ngọc ký hợp đồng Tin học hóa khách sạn Thắng lợi. Bao gồm có 2 chương trình chính: phần lễ tân và phần kế toán. Phần lễ tân được giao cho Nguyễn Tấn Vinh chủ trì. Anh làm cũng khá công phu. Chương trình này sau cũng còn được triển khai ở khá nhiều khách sạn nữa, nhưng chủ yếu là do đội bạn tự copy, ta chẳng thu được gì. ở đây chỉ muốn nhắc đến phần kế toán. Để làm việc này, anh Ngọc mời anh Vũ Đức Vượng, cán bộ của Trung tâm máy tính Đại học Bách khoa làm cộng tác viên của FPT. Một phần vì anh Vượng đã giới thiệu hợp đồng, phần nữa là do anh Vượng cũng đã có một số kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Toàn bộ hợp đồng được nghiệm thu suôn sẻ. Thừa thắng, ta ký tiếp hợp đồng với Ngoại giao Đoàn và triển khai chương trình giống hệt. Tuy nhiên vẫn có cảm giác cái đó không phải là của mình. Vượng có vẻ không mặn mà với việc đi lâu dài với FPT.

Thời điểm có ý nghĩa quyết định là sau khi Phan Quốc Khánh hủy hợp đồng với Generalexim, đơn giản vì lý do ta chưa nắm đầy đủ về nghiệp vụ kế toán. Khánh đề xuất lập nhóm Kế toán và đầu tư chiều sâu. Chúng tôi viết đơn đề nghị và được anh Phan Ngô Tống Hưng ký duyệt 1.000.000 đồng. Lúc đó là khoảng tháng 5/1992. Thực ra cũng chưa biết dùng tiền đó vào việc gì. Tôi quên mất nhờ đâu, chúng tôi may mắn gặp được một chị làm kế toán ở Nhà máy sợi Hà nội nhưng lại rất yêu thích máy tính, đã từng viết nhiều module tự động hóa tính toán. Đó là chị Hiền. Chị đã giúp chúng tôi rất nhiều lúc ban đầu, nhất là những khó khăn mà chị gặp phải chưa giải quyết được. Chẳng hiểu sao chị cũng có cảm tình với chúng tôi. Sau này khi đã chuyển sang VinaTex, chị vẫn thường xuyên giúp đỡ chúng tôi kiếm khách hàng. Hồi đó, nhờ chị Hiền giới thiệu, tôi và Khánh còn mò đến tận nhà chị kế toán trưởng 3C là chị Hoa vừa để học thêm nghiệp vụ vừa hy vọng kiếm được hợp đồng. Đứng trong danh sách những người đã bắt đầu sự sống cho Balance, không thể không kể đến anh Lợi Petrolimex. Nhờ nghiên cứu bản phân tích nghiệp vụ dày cộp của anh mà Khánh hói đã học thêm được bao nhiêu võ lạ. Anh cũng đã ký hợp đồng đầu tiên với nhóm kế toán FPT. Kinh nghiệm ở ta cho thấy, một chương trình ứng dụng mà không được phát triển dựa trên môi trường thực, có rất ít giá trị. Chỉ sau khi thực hiện hợp đồng với Petrolimex, chúng ta mới dám nói mình có chương trình kế toán. Cũng phải nói lời cảm ơn với phòng kế toán FPT, nơi đã cung cấp một môi trường kiểm nghiệm chương trình không thể chê được.

Giữa năm 1993, Phan Quốc Khánh bắt đầu tìm kiếm một cái tên thích hợp cho chương trình để dễ bề quảng cáo. Tôi không nhớ chính xác, nhưng khi đó có một tờ tạp chí có đăng ở bìa 4 quảng cáo của một hãng tên là Data Control, với 1 cái cân và tiền rơi vung vãi. Hình vẽ đấy đã gợi cảm hứng cho Khánh đặt tên Balance và chọn luôn cái cân làm biểu tượng của chương trình. Có thể nói Balance là một tên rất thành công về mặt ngữ nghĩa.

Sau khi có tên, bắt đầu có hợp đồng. Nhờ sự môi giới của TT&C, chúng tôi đặt chân được vào các nhà máy sản xuất. Đầu tiên là Super Lâm Thao, sau đó là Apatit Laocai, rồi Than Quảng ninh, Phân lân Ninh bình, rồi Kim khí Đông Anh, Kim khí Hà nội, Kim khí Hải phòng,... Khách hàng hơi nhiều, các bạn cứ chịu khó ngó vào tờ quảng cáo sẽ thấy. Về phát triển Balance, tôi nhớ 1 chuyện vui vui. Đó là vào năm 1994. Sau khi quyết định sát nhập QLVT vào Balance, Khánh tổ chức một cuộc họp dã ngoại để bàn về thiết kế chương trình. Chúng tôi mò lên khu Hồ tây để thuê phòng, nhưng rủi thay không chỗ nào họ muốn cho thuê cả. Hỏi ra mới biết họ thấy một hội bặm trợn kéo theo một cô gái (Vũ Mai Hương), nên họ nghi ngờ lý do thuê phòng. Đành phải quay về nhà tôi họp suông rồi đi ăn cơm bình dân.


Quá trình hình thành và phát triển của Balance đã phơi bày tất cả những điểm mạnh và yếu của phần mềm FPT. Với một sự bắt đầu khôn ngoan, biết lợi dụng thiên thời và có những bước đi hợp lý, chúng ta vẫn không dựng lên được một sản phẩm xứng đáng với tầm vóc công ty. Doanh số Balance năm 1996 bắt đầu chựng lại, là hệ quả tất yếu của việc đầu tư không kiên quyết kiểu đánh trống bỏ dùi, cũng như việc không chú trọng xây dựng một đội ngũ đủ để nhân rộng chương trình khi cần thiết. Một bệnh kinh niên nữa của ta là không duy trì được sự nhạy bén kinh doanh một cách lâu dài, nhiều lúc bị lý trí chi phối làm phức tạp hóa vấn đề. Sự ra đi của Khánh khỏi FPT năm 1996, chắc chắn sẽ có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ sản phẩm này ở FPT. Tuy nhiên Balance đã giúp chúng ta khẳng định chắc chắn rằng, nếu chúng ta đi đúng hướng, chúng ta chắc chắn tồn tại được một cách đàng hoàng trong cuộc sống đầy biến động này. Sau này khi có dịp tiếp xúc với những người tâm huyết trong lĩnh vực tin học hóa kế toán như anh Nguyễn Văn Trứ, tác giả KTSys, anh Phan Đức Trung, tác giả Keyman, chúng tôi mới nhận thức đựơc sự khó khăn to lớn đang chặn đứng con đường phát triển của những chương trình đó. Đã đi hết đà của mình, các chương trình đòi hỏi một sự thay đổi cơ bản về chất. Ai thay đổi được người đó sẽ thắng.



TTVN - Trí tuệ Việt nam

Không ai ở FPT không biết đến TTVN. Năm 1996 là năm đăng quang của TTVN. Nhưng nguồn gốc của nó đã bắt đầu từ rất xa xa. Ngay từ hồi đầu mới thành lập, truyền thông đã là một lĩnh vực mà FPT thường xuyên quan tâm

Từ năm 1989-1990, dưới sự chỉ đạo của anh Công, Võ Mai đã bắt tay vào viết chương trình truyền tin trên UNIX. Sau khi anh Trần Xuân Thuận đi khỏi FPT, không ai quan tâm đến việc đó dưới khía cạnh thương mại cũng như kỹ thuật. Cho đến năm 1992. Khi FiBI triển khai chương trình liên hàng cho Ngân hàng Công thương Việt nam, tôi với Lợi con có bàn với anh Lộc về việc làm một chương trình truyền tin để gắn với các chương trình ứng dụng. Nhưng việc chưa thành vì thời gian thực hiện quá gấp. Tuy nhiên mong muốn vẫn còn quanh quẩn đâu đó trong lòng.

Ngày 16/12/1993. Chúng tôi gồm anh Lộc, anh Sơn (ICB) và tôi phải quyết định một việc khẩn cấp. Ngân hàng công thương dự định triển khai chương trình tiết kiệm gửi rút nhiều nơi. Một công ty phọt phẹt của Việt kiều ở Australia tên là VANACO đã trực tiếp tiếp xúc và ký được biên bản ghi nhớ với Ngân hàng về việc công ty này sẽ cho ngân hàng vay để cung cấp thiết bị và phần mềm cho dự án, tổng cộng đến 2 triệu USD. Chúng tôi phải chặn bằng được. Và ngày hôm đó, FiBI đã ký với Ngân hàng Công thương hợp đồng trị giá 16000 USD (giá chuẩn hồi đó) để viết chương trình cho phép quản lý tài khoản tiết kiệm của khách hàng tập trung và triển khai tại 20 chi nhánh của Hà nội và HCM trong tháng 1/1994! Một hợp đồng kỷ lục ngắn về thời hạn thực hiện. Tôi và anh Lộc chỉ có vẻn vẹn 3 ngày để thiết kế. Client bằng VB, Host trên Fox. Tâm đắc nhất là hai anh em thống nhất được cách chuyển/nhận số liệu từ/đến các chi nhánh lên cuối ngày bằng xe máy hon-da và đĩa mềm. Vừa an toàn vừa tạo công ăn việc làm thêm cho nhân viên. Việc đồng bộ hóa số liệu giữa Hà nội và HCM thống nhất sẽ dùng SmartCom III. Bí nhất vẫn chưa nghĩ được cách để tra cứu số dư tức thời. Tạm thời chúng tôi thiết kế có mã tra cứu để trong trường hợp bí, giao dịch viên có thể gọi lên nhờ Trung tâm duyệt hộ và ghi lại mã, giao dịch vẫn được coi là hợp lệ. Lúc đó đang có phong trào lập trình bằng Visual Basic sau chương trình cho Hội sở Ngân hàng đầu tư. Sau khi liếc thấy một Control có chữ Modem và biểu tượng điện thoại, tôi bàn với Đình Anh: thế, thế,.... có làm được trước ngày 1/1 không. Chơi luôn! Thế là hắn xông vào cật lực. Cù Tuấn thì vẽ màn hình giao dịch, Lâm Phương viết báo cáo. FiBI viết chương trình Host bằng Fox. Cả bọn làm việc như điên. Nhờ vậy mà tôi cũng học được VB trong nửa ngày. Ngày 25/12 Cù Tuấn bay vào HCM để ghép chương trình. Ngày 28, đội HCM lại bay ra thử tiếp. Đúng ngày 2/1 khai trương dịch vụ mới, tôi ngồi tại Hội sở 10 Lê Lai, bọn Đình Anh, Cù Tuấn mỗi đứa 1 chi nhánh. Thật là kỳ diệu khách hàng có thể gửi được tiền thật. Đó là chương trình truyền tin đầu tiên áp dụng vào thương mại của FPT. Đáng nhớ nhất trong vụ này là Cù Tuấn vì chạy đôn đáo lo chương trình đánh mất mất xe đạp. Sau được anh Sơn tài trợ một xe mới.

Cuối năm 1994, chúng tôi quyết định phát triển theo hai hướng. Một thiên về thư tín điện tử do Khánh Văn chủ trì với server trên Windows. Một là giải pháp tích hợp vào các chương trình ứng dụng trên Fox/Netware do Đình Anh chủ trì.

chungta Tuesday, October 23, 2007 6:17:31 AM

Chương 4: Diệt phát xít

Việt nam bao năm ròng rên xiết lầm than
Dưới ách quân tham tàn đế quốc sài lang

Bây giờ tôi nghĩ chúng ta vẫn chưa qua được cái hạn "rên xiết lầm than" dưới sự bóc lột ngày càng tinh vi hơn của các cường quốc ngoại bang. Bởi thế tôi muốn dành một ít tâm sự cho chương "Diệt phát xít" nói về các hợp đồng mà chúng ta đã làm với các khách hàng là đối tác nước ngoài. Trong chuyến đi gần đây nhất sang Singapore, tôi được nói chuyện với Giám đốc của hãng ISIS, một hãng phần mềm nhỏ nhưng rất chuyên về communication trên AS/400 của Singapore. Thật tình cờ nhưng con đường ông ta đã đi từ đầu năm 80 khá gần với cái chúng ta đang làm. Một trong những bài học của ông là "lấy Tây đánh Ta". Ông ta nói, ban đầu không ngân hàng Singapore nào chịu chấp nhận công nghệ của ông cả. Ông ta bèn quay sang dùng mọi cách để cưa đổ Standard Chatered Bank tại Singapore, và dùng họ như một điểm reference, sau đó là các Ngân hàng địa phương mới chịu lần lượt quy phục.

Công lớn trong công cuộc diệt phát xít này là anh Lê Tấn Lộc, lúc đang chức tại Ngân hàng Công thương. Năm 1990, nhờ có liên doanh giữa Ngân hàng Công thương và Indonexia, anh đã học được đôi chút kinh nghiệm đánh Tây. Giữa năm 1992, từ HCM anh gọi ra cho tôi, thông báo với giọng cực kỳ sung sướng: "Nam ơi, thắng đậm rồi". Đó là anh nói đến việc thuyết phục được chi nhánh Ngân hàng BNP (Banque National de Paris) tại HCM sử dụng chương trình của Việt nam. Cái giá 16.000 USD lúc đó có một ý nghĩa khác xa bây giờ. Theo lời mời của anh Lộc và anh Châu, chúng tôi gồm có Nam, Thành, Phương bay vào HCM để trực tiếp tham gia vào đề án. Thành và Phương còn tiện thể tham gia thực hiện hợp đồng cho EximBank và VietsoPetro.


Lại quay về đánh Tây. Đội bạn cử một đoàn từ Singapore sang để thẩm định và đặt yêu cầu, có cả Tàu, Pháp. Phải nói rằng tiếng Anh của tôi lúc đó phọt phẹt kinh khủng. Không ngờ gặp bác Lộc cũng chẳng hơn gì. Thế nhưng có vẻ như anh hiểu hết bọn nó và luôn mồm "No problem", bọn kia khoái lắm, chắc là lần đầu tiên gặp phải thằng bán hàng mà cái gì cũng làm được. Chúng gọi luôn anh Lộc là Mr. No Problem. Lần đó, nhân một lần đội bạn mời đi ăn, tôi còn phát hiện ra Mr. Lộc có biệt tài nói tiếng Anh suốt buổi mà chỉ cần khoảng 20 từ. Phải nói là lần nào cùng làm việc với anh tôi cũng học thêm được nhiều thứ.

Đội ta ngoài tôi làm thiết kế và tài liệu và Phương làm về security, còn có anh Lộc, Bùi Văn Dũng, Tuấn, Lợi và Mrs Trâm. Sau khi thực hiện HĐ xong, Mrs Trâm được tổ chức phân sang hẳn bên BNP làm việc để bảo hành chương trình luôn. Bùi Dũng bây giờ ở IndoVina, vẫn hợp tác với FSS thường xuyên, Tuấn là cán bộ lập trình chủ chốt của Ngân hàng Công thương lúc đó, hiện là phụ trách máy tính của Ngân hàng Công thương Khu vực II. Lợi con đang là giám đốc BitCo, một công ty chuyên về mạng ở HCM. Tay này trước đi thi Lý quốc tế, rất thích làm về các vấn đề mạng. Chính hắn đã dựng nên mạng diện rộng không dây đầu tiên, nối tất cả 14 chi nhánh của Ngân hàng Công thương thành phố Hồ Chí Minh. Mạng đã hoạt động được một thời gian, sau phải ngưng vì bên cung cấp là một công ty củ chuối không có khả năng cung cấp các thiết bị thay thế. Năm 1992, khi thiết kế chương trình liên hàng cho Ngân hàng Công thương, sau khi khảo sát một số chi nhánh, tôi với Lợi đã ấp ủ ý định làm lấy một chương trình truyền tin của mình. Thậm chí đã viết một số thiết kế. Có thể nói đó là những ý đồ đầu tiên của TTVN bây giờ. Lúc đó Đình Anh vẫn còn đang thực tập và vật lộn với những số dư và tài khoản. Nếu quyết tâm biết đâu TTVN bây giờ đã trở thành CompuVietnam rồi?

Sau gần 1 tháng cọ xát với đội bạn, chúng tôi đã thực sự hấp thụ được một cách làm việc bài bản. Nhất là tài liệu. Niềm tự hào nhất của anh Lộc lúc đó và FIBI sau này là 4 tập hồ sơ dày cộp về chương trình SIBA cho BNP. Trong đó có tập Data Dictionary là tập đáng quý nhất, mô tả toàn bộ các trường dữ liệu của chương trình.

Một bài học nữa là khả năng tìm lỗi. Đội bạn cử hẳn một mẹ Tàu để test chương trình của ta. Lúc đó tôi và Dũng Bùi cũng đã làm việc rất cẩn thận thế mà mẹ đó cứ ngồi vào là đỏ lòm màn hình. Chúng tôi rất lấy làm khâm phục. Võ này sau tôi cũng dùng được nhân một lần Tú Huyền thách tìm lỗi chương trình 5000 đồng/lỗi. Trong có 5 phút tôi đã tìm được 3, 4 lỗi. Tú Huyền phải tuyên bố sập tiệm. Test chương trình cũng là một nghệ thuật đáng phải học không kém gì lập trình nếu bạn làm chương trình thương mại chứ không phải đồ án tốt nghiệp. Người test bắt buộc phải là người có cái nhìn xuyên suốt toàn chương trình chứ không locate ở từng menu nhỏ.

Thời điểm này cũng có thể coi là thời điểm ra đời của chương trình SIBA, có lẽ là một trong những chương trình phần mềm thành công nhất về mặt thương mại ở Việt nam. Chính xác hơn là quãng tháng 4/1992. FIBI đang ở trong giai đoạn thành lập. Do có mật báo của Ngân hàng, chúng tôi được biết Văn phòng cộng đồng châu Âu EC tại Việt nam đang gọi thầu một chương trình quản lý tín dụng nhằm quản lý việc cho vay từ quỹ EC cho các thuyền nhân Việt nam hồi hương. Tôi phải bay vào HCM để bàn. Không biết anh Lộc moi từ đâu ra được bộ tài liệu chào thầu của một Hãng phần mềm Thái lan. In ấn rất đẹp và chuyên nghiệp. Nhờ nó mà chúng tôi biết được rằng muốn có một bộ hồ sơ chào thầu, chương trình chúng tôi phải có một cái tên. Như trên đã nói, tôi mới tìm hiểu về Ngân hàng từ năm 1991 nên có thể coi là còn non. Nhưng không hiểu sao, anh Lộc tỏ ra rất tin cậy, có lẽ vì thấy tôi một mình xoay xở được với Ngân hàng Hàng hải mà không phải gọi hắn. Hôm đó hai anh em quyết định phải nghĩ cho bằng được một cái tên. Trên tầng 2, trụ sở Ngân hàng Công thương HCM, Mr. Lộc đi đi lại lại mồm tuôn ra những chữ tiếng Anh còn tôi thì ghi lại và ghép các chữ xem chữ nào hay nhất. Sau một lúc chỉ còn vài chữ Banking, Integrated, Software, Solution, Application, System. Các chữ cái lơ lửng. Bất giác tôi nhớ đến bộ phim mới xem trên truyền hình "Nữ hoàng Siba" nói về thời văn minh Ai cập. Chữ SIBA được anh Lộc nhất trí tức thời vì rất hợp với những chữ đã được lựa chọn. Sau này tôi có kể lại cho anh Lộc chữ SIBA từ đâu ra, anh có vẻ hơi bất mãn vì lại là tên đàn bà. Tuy nhiên cũng chẳng sao, vẫn bán được.

Lại nói về chương trình của EC. Hẳn mọi người còn nhớ, vấn đề thuyền nhân Hong Kong là vấn đề nóng bỏng của Việt nam trên trường quốc tế trong những năm đầu 1990. Cộng đồng châu Âu quyết định viện trợ cho Việt nam một số tiền lớn để hỗ trợ những người hồi hương và những cơ sở tạo công ăn việc làm cho họ. Hình thức thực hiện là cho vay lãi suất nhẹ thông qua các ngân hàng Công thương và Nông nghiệp Việt nam. Tại thời điểm đó, các Ngân hàng Việt nam hầu như chưa triển khai bất cứ một chương trình phần mềm quản lý tín dụng nào. Cách thức theo dõi tín dụng của ta cũng chưa bài bản, chủ yếu dựa trên quan hệ, do đó mấy ông Tây không thoả mãn. Dẫn đến việc đấu thầu như đã nói ở trên. Chương trình dự kiến triển khai trong toàn quốc tại gần 200 chi nhánh ngân hàng.

Sau khi bất ngờ nhận được hồ sơ đấu thầu của Trung tâm Tính toán Ngân hàng Công thương HCM, văn phòng EC rất ngạc nhiên và tìm cách tiếp xúc. Để tiện giao dịch, anh Lộc lập ra hồ sơ một nhóm gọi là VinaSoft (một vài chi tiết về nhóm này các bạn có thể xem ở chương sau) trong đó kể ra tất cả những người nào mà chúng tôi biết về phần mềm ở Việt nam. EC rất khâm phục. Có thể đó cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc họ ký với ICB HCM một hợp đồng trị giá 23.000 USD (sau đó được mở rộng thành 28.000 USD) để mua một chương trình mà chúng đặt một cái tên rất hay là LAMIS. Sau này anh Lộc bắt chước cũng đặt tên các module của SIBA là SAMIS, TAMIS,... Tuy nhiên chúng (những cái tên) đều không sống được. Hợp đồng do anh Lộc ký, tôi đứng tên là Contact Person. Tất nhiên là chẳng cần dấu má gì. Luật Tây cũng vui. Mỗi khi đến hạn đòi tiền, tôi xông đến phòng tài vụ của chúng. Câu đầu tiên chúng hỏi sau khi xem hợp đồng là:

- Anh có phải là anh Lộc không?

Tôi trả lời:

- Không, tôi là Nam.

Chúng xem lại hợp đồng và gật gù:

- Đúng là Nam rồi.

Thế là đếm tiền cho tôi, chẳng cần chứng minh thư, phiếu thu,... lằng nhằng. Vậy mà vẫn suôn sẻ, chẳng ai lừa bịp ai cả.

Thực tế sau này cho thấy hợp đồng quản lý tín dụng EC là hợp đồng được tiến hành có bài bản nhất và được triển khai rộng rãi nhất ở Việt nam. Công lớn trong việc này là do nhóm triển khai hợp đồng của Nguyễn Khắc Thành với sự hỗ trợ đắc lực của Lê Thái Thường Quân (FiBI). Ngoài ra còn có Nguyễn Khắc Tâm (FPT), Mai Thanh Long (FiBI, nay là acb.longmt@fpt) hiện đều đang làm tại ACB. Thực ra ban đầu còn có nhóm Ngân hàng Nông nghiệp HCM gồm Thành và Thảo tham gia. Sau chừng một tháng, thấy phong cách làm việc có vẻ không hợp, mới quyết định Khắc Thành thay thế.

Bài học lớn nhất của anh em trong vụ này là tiếng Anh. Cả tôi, Thành, Quân trước đó đều chưa dùng tiếng Anh trong công việc hàng ngày bao giờ. Giai đoạn khảo sát và thiết kế chúng tôi phải làm việc với 2 ông Tây người Anh và một tay chỉ huy người Xcotlen. Tiếng Anh của lão Xcotlen có tên là Francis thật là khó mê. Của chúng tôi cũng vậy. Làm việc cứ như một buổi cãi lộn. Phải thừa nhận là các ông Tây đã thể hiện một tinh thần chịu đựng đáng nể. Trong quá trình làm việc họ tỏ ra rất ủng hộ chúng tôi và mọi việc có vẻ đều thuận buồm xuôi gió. Tôi còn nhớ ông già tên là Ross rất phúc hậu còn mời chúng tôi có dịp sang nghỉ tại trang trại của ông tại Anh.

Sau chừng 3 tháng chúng tôi đã nghiệm thu chương trình giai đoạn 1 và triển khai thí điểm tại 2 chi nhánh dưới Hải phòng. Sau đó 2 ông Tây nghiệm thu và cắp đít về nước. Anh em yên trí rút về Hà nội, bụng thầm nghĩ "Moi tiền Tây cũng dễ thật". Nào dè, bẵng đi một thời gian, tôi được văn phòng EC thông báo là sẽ có chuyên viên của hãng Earns & Young, một hãng kiểm toán hàng đầu thế giới đến kiểm tra chương trình. Không hiểu gì, tôi dò hỏi mới biết việc của bọn này là kiểm tra tính tương thích giữa quy trình và chương trình. Bọn chúng nhận mỗi ngày ít nhất 1000 USD. Tên tôi gặp là một tay trẻ măng. Bằng những võ in ấn học được trong vụ BNP, tôi in cho hắn mấy tập tài liệu. Hắn cười nhạt rồi phi ô-tô xuống Hải phòng. Hai hôm sau, cả văn phòng EC nhốn nháo vì tin tay Financial Controller, một tay cực kỳ quyền thế, bị bọn Việt nam sỉ nhục. Mấy hôm sau Khắc Thành về mới rõ sự tình. Số là, tay kiểm toán đại bợm nọ mò xuống, không chịu làm việc theo chỉ đạo của ta mà xông thẳng đến hỏi mấy cô kế toán. Gặp mấy cô thật thà khai hết, nào là cả tháng này chúng em bận quá chưa vào số liệu gì cả, nào là máy tính để trong lồng kính nhiều khi không có khoá không mở được, nào là các anh Thành, Quân gọi có lúc được lúc không,... Hắn cứ thế ghi lại và báo cho tay controller kia. Tay kia xông xuống chi nhánh gặp trần Thành, chửi bới lung tung. Không ngờ trần Thành quắc mắt mắng lại "You, you ... " tên kia cụp đuôi bỏ về, quát tháo quân sĩ loạn xạ, gây nên scandal như đã kể. Sau vụ đó, quân ta cũng khá vất vả. Nhưng lợi bất cập hại. Văn phòng EC trước đây chỉ loăng quăng không chú ý lắm, nay cũng phải dồn sức để cho việc triển khai chương trình được hiệu quả. Do nắm được cái chính là tiền, nên những yêu cầu, quyết định của EC cho các chi nhánh ngân hàng có khi còn được thực thi nhanh chóng hơn bản thân những quyết định của ngân hàng. Việc đó đã giúp đội triển khai khá nhiều.

Kết thúc giai đoạn 1, quân ta triển khai chương trình xong tại gần 40 chi nhánh của 3 tỉnh Hải phòng, Quảng ninh và Hồ Chí Minh. Thu được toàn bộ tiền, kết thúc một trong những hợp đồng hợp tác thành công nhất giữa FPT và FiBI. Sau đó văn phòng EC vì tiếc 56000 USD mà chúng tôi đòi để triển khai trong toàn quốc, đã chuyển sang phương án thuê người thực hiện, chúng tôi cũng không quan tâm nữa.

Đóng một vai trò đắc lực trong hợp đồng này là Lê Thái Thường Quân. Tốt nghiệp Đại học kinh tế HCM, anh lại rất có duyên và yêu Hà nội. Anh đại diện cho trường phái đào tạo của HCM làm việc rất bài bản, một tay viết tài liệu kiểu như Phan Văn Hưng bây giờ. Với Quân tôi có một số kỷ niệm vui vui. Khi đó trụ sở của đội lập trình ngân hàng nằm ở 25 Phan Đình Phùng. Một hôm cả bọn kéo nhau lên Phủ Tây Hồ ăn bún ốc. Lúc về tôi mới rủ Quân và Vũ (hiện là giám đốc kinh doanh của FiBI-HCM) đi bộ về. Bọn chúng nhất trí ngay. Chúng tôi đi vòng ra bờ đê, men theo các lò gạch của bãi sông. Nhìn dòng sông Hồng đỏ quạch phù sa, tôi thốt lên: "Giá mà được bơi qua sông nhỉ". Không ngờ hai tay nọ tụt quần áo lội ra bơi thật. Lúc đó là quãng đầu tháng 4, trời còn khá lạnh. Bơi một lúc, quay lại thấy tôi vẫn đứng trên bờ, bọn chúng mới quay lại.

Quân và Vũ cũng đã tham gia tích cực vào việc đặt nền móng cho phiên bản SIBA hiện nay ở FSS cùng với Thành, Huyền, Hồng Sơn, Đình Anh, Phương. Hồi đó, quãng tháng 8/1993, chẳng hiểu vì sao chúng tôi quyết định là phải thiết kế lại chương trình. Thế là cả bọn kéo nhau lên Tam đảo. Gồm có tôi, Khắc Thành, Lâm Phương, Quân, Vũ. Gần cuối tuần có Hồng Sơn phi xe máy lên tham gia. Chúng tôi phân nhau thiết kế và trình bày, có ghi âm lại hẳn hoi. Ăn uống có một chị rất xinh giúp, gọi là chị nhà. Suốt ngày, chúng tôi loay hoay trong sương mù Tam đảo và cãi nhau về các thuật toán cập nhật dữ liệu và xử lý giao diện. Ý tưởng ngông cuồng nhất là thiết kế một kiểu Client/Server trong một môi trường hoàn toàn monotask là DOS/Foxpro. Do toàn bộ hệ thống được thiết kế thành nhiều module độc lập, chúng tôi quy định việc cập nhật vào file dữ liệu thuộc module khác được thực hiện thông qua các hàm do module đó export ra. Phải nói đó là bước tiến bộ đáng kể trong việc abstraction data ra khỏi chương trình, nhất là trong môi trường một chương trình do nhiều người thực hiện. Tuy nhiên điều đó cũng gây giảm tốc độ đáng kể và tạo thêm một số khó khăn trong việc lưu giữ và phục hồi môi trường trước và sau khi gọi hàm. Lần đầu tiên Lâm Phương cũng đưa ra một thiết kế chi tiết cho module quản trị các tài nguyên của chương trình: các file dữ liệu và index, các chương trình ứng dụng, các báo cáo và màn hình, hệ thống menu và người sử dụng, data dictionary. Module này còn có khả năng kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu, đặc biệt là các lỗi "Not a database file".

Ngoài giờ làm việc, mỗi đứa một ý thích. Riêng Vũ thì tha thẩn ngoài rừng để kiếm quà tặng chị Tú Huyền. Cuối cùng hắn cũng bắt được 1 con chuồn chuồn rất đẹp ướp trong chiếc hộp đĩa mềm bằng nhựa trong. Rất thẩm mỹ. Phải nói là Tú Huyền lúc đó là thần tượng của Hồng Sơn và Vũ. Có lẽ cũng hợp lý, mới chân ướt chân ráo vào FPT, chị đã bị giao cho toàn bộ đề án bảo hiểm Hà nội và đã thành công. Theo chỗ tôi được biết đến bây giờ chương trình vẫn đang hoạt động.

Làm việc căng thẳng, hôm nào chúng tôi cũng được chị nhà chiêu đãi thịt lợn, nai rừng với rau bí xào. Tuy tiêu chuẩn có 10.000đ/người, nhưng thức ăn khá tươm tất. Chúng tôi cứ cho rằng vì thịt rừng rẻ hơn thịt nhà. Mãi đến hôm chia tay, anh nhà mới gọi vào nói nhỏ: "Thịt lợn nhà đấy, móc đâu ra cho các chú thịt rừng với giá đấy" cả bọn mới ngã ngửa. Dù sao cũng rất ngon miệng.

Việc thiết kế bài bản đã mang lại những hiệu quả thiết thực. Ngày 12/9/1993, FPT ký một trong những hợp đồng phần mềm lớn nhất của mình với Ngân hàng Cathay Trust của Đài loan, thực chất là bán bản thiết kế Tam đảo của chúng tôi. Hôm đó đối với tôi là ngày thật hạnh phúc, lần đầu tiên trong một đề án, tỷ lệ phần mềm chiếm hơn 50%: 63000 USD cho phần mềm và hơn 50000 USD cho thiết bị. Đây cũng là lần đầu tiên FPT quyết định triển khai cáp UTP và mạng cấu trúc cho khách hàng. Trước đó chỉ dùng độc cáp đồng trục theo hình bus. Còn nhớ khi bảo vệ đề án mạng cho Bộ Thủy lợi, khi anh Khắc Sơn ở Trung tâm Thông tin, phản biện rằng ở các nước trong khu vực chẳng thấy ai dùng cable đồng trục cả, cả hội đã ồ lên phản đối. Bây giờ nghĩ lại thật xấu hổ, mong anh Sơn cũng bỏ quá cho.


Lại quay về với hợp đồng với Cathay Trust. Tôi và anh Ngọc trực tiếp đàm phán hợp đồng này. Việc đàm phán chia làm nhiều giai đoạn. Sau khi không thỏa thuận được với phái đoàn của Đài loan sang trong vòng 1, chúng tôi đã tưởng thất bại rồi. Tuy nhiên bọn Ngân hàng tại VN thì lại rất ủng hộ chúng tôi. Mr. Michael Hsieh, phụ trách đàm phán của chi nhánh Hà nội còn thì thầm: "Bọn nó (tức là bọn head quater) mà bê chương trình ở nước mẹ sang thì chúng tao chết". Chắc bên đó bọn máy tính vênh váo lắm nên không được cảm tình của dân nghiệp vụ. Khi được yêu cầu dẫn đi xem một địa điểm cài đặt, chúng tôi lại thấy hy vọng sống lại. Sau khi đã dặn dò chân gỗ MooSun ở ngân hàng VID-Public, tôi tống 4 tay Đài loan béo ú lên ghế sau của chiếc xe Service, niềm tự hào của ISC thửơ đó. Đến nơi, cả bọn mừng rú vì thoát được cảnh chen chúc vô cùng nóng nực trên xe nên chẳng đứa nào quan tâm đến việc hỏi cặn kẽ nữa ngoài việc chứng kiến có máy tính đang hoạt động. Lúc về, bọn chúng hội ý rồi xin phép được đi bộ. Chúng tôi đã ghi được 1 điểm quý giá. Đến bây giờ tôi vẫn ân hận một điều là đã không giảm giá một xu nào từ giá đầu tiên đưa ra. Michael có vẻ không hài lòng. Sau khi ký hợp đồng hắn nói với tôi: "Như thế là không lịch sự, đã có đàm phán thì phải có thỏa hiệp chứ". Bù lại, chúng tôi nhận tổ chức cho chúng một lễ khai trương thật công nghệ. Còn nhớ ngày khai trương là ngày 25/10/1993. Sẵn bộ Multimedia ở Lễ hội, chúng tôi mông má lại rồi bê ra. Cả bọn gồm có Hùng Xoăn, Cù Tuấn, Khắc Thành,... làm đến tận tối muộn đêm hôm trước. Hôm sau, băng khánh thành vừa cắt, cửa mở, tay giám đốc khoát tay một cái, tất cả các màn hình bật sáng, mặt trời đỏ nhô lên với dòng chữ Cathay Trust và nhạc hùng tráng. Cực kỳ ấn tượng. Michael chắc cũng thỏa mãn lòng tự ái của mình. Hơn nữa, sau này tôi còn phát hiện ra mình bị hớ trong hợp đồng khi đồng ý cho bọn chúng có toàn quyền cài đặt chương trình cho các chi nhánh trong Việt nam. Điều khoản này cũng đã gây ra một mối bất đồng nhất định trong quan hệ giữa hai bên khi chúng mở chi nhánh tại thành phố HCM.

Việc triển khai thành công hợp đồng này cũng nhờ công lớn của Khắc Thành và Hùng xoăn về mặt thiết bị. Vì thời gian rất gấp, từ ngày ký HĐ đến ngày cài đặt chương trình chỉ có 1 tháng. Chương trình lại chỉ mới tồn tại trên giấy, nên thời gian đầu tất cả đều bị phân vào việc. Ngay cả em Thủy (cùng năm với Hương còm), mới xin vào đang lớ ngớ, cũng bị bắt đi dạy. Đúng ngày khai trương, các module Demand Deposit, GL và System Management đã đi vào hoạt động. Tuy nhiên "đầu voi, đuôi chuột", sau đó việc phát triển tiếp chương trình bị phó mặc cho Khắc Thành. Bây giờ hắn vẫn tiếc là nếu hồi đó tập trung cả bọn làm tiếp với tinh thần Tam Đảo thì chắc đã bớt được bao nhiêu nỗi vất vả sau này. Nhắc đến em Thủy, lại nhớ đến một chuyện vui vui. Em Thủy trông cũng dễ thương, thực tập ở Viện Tin, bị chúng bạn lôi kéo sang FPT. Anh em toàn gán ghép cho Khắc Thành. Tuy nhiên em hơi bị quá rụt rè. Trong kỳ thi tuyển về chuyên môn (cùng một lần với Đình Anh như đã nhắc đến ở trên), em run bần bật không trả lời được câu hỏi nào. Anh Gia Bình lúc đó là thành viên của Hội đồng Giám khảo (nghiêm trọng chưa!), lấy làm lạ lắm bèn kéo tôi ra chỗ vắng hỏi: "Em này là thế nào, ở đâu ra?". Tôi trả lời: "Khắc Thành đang để ý đấy", Anh Bình gật đầu cười ra dáng hiểu. Nên trong cột điểm của Thủy mới có hiện tượng: 0,0,0,10,0. Về sau em đã thi lại đỗ, nhưng có lẽ do mặc cảm em đã xin đi chỗ khác, để lại nhiều niềm tiếc nuối.

Làm hợp đồng với Chinfon (tên sau này của Cathay Trust), cũng không thể không nhắc đến anh Hoàng Phương Đông, phụ trách máy tính của Ngân hàng. Anh vốn là bạn cùng lớp với Trung Hà và Phan Ngô Tống Hưng. Khi mới vào làm việc, được biết giá trị hợp đồng anh thì thào: "Sao chúng mày bóp bọn nó ác thế". Sau này, khi đã làm với nhau lâu, anh đúng là người "Tuy đi với địch nhưng làm cho ta". Anh thường xuyên giúp chúng tôi lấp liếm các lỗi và tìm cách áp đặt các điều kiện có lợi cho ta. Tháng 12 năm 1995, anh theo phu nhân sang NewYork làm việc, chúng tôi tiếc mãi.

Tuy thành công có vẻ bất ngờ nhưng hợp đồng Chinfon là kết quả tất yếu của việc đầu tư lâu dài của FPT trong lĩnh vực Ngân hàng. Bằng cách vừa làm vừa mày mò học, chúng ta đã có thể đạt được những hiểu biết khá sâu sắc trong lĩnh vực hệ thông tin ngân hàng trong một thời gian khá ngắn. Kinh nghiệm sau này khi làm việc với VietComBank đã minh chứng khá rõ ràng cho điều đó.

Về khía cạnh "bám thắt lưng Tây để học" mà nói, tiêu biểu nhất có lẽ là toàn bộ quá trình hợp tác của FPT với Ngân hàng VID-Public Bank.

VID-Public Bank (viết tắt là VPB) là ngân hàng liên doanh giữa Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam với Public Bank, Ngân hàng lớn thứ ba ở Malaysia. FPT đến với VPB khá bất ngờ. Tháng 8/1992, FPT đạt được những thành công vượt bậc trong việc tiêu thụ máy Olivetti tại thị trường Việt nam. Tổng giám đốc khu vực của Olivetti khi đó là Mr. Unduraga đã sang thăm và làm việc với FPT. Có lẽ đó là đoàn đại biểu cấp cao đầu tiên của các hãng có tên tuổi đến thăm FPT. Hồi đó Olivetti còn mang sang nhiều thiết bị và phần mềm về ngân hàng để demo. Kinh nghiệm quý nhất mà chúng tôi học được của bạn là nếu chương trình có lỗi thì cứ tắt béng máy đi rồi bật lại.

Trong các cuộc nói chuyện, tình cờ ông ta nhớ ra ông bạn là Chan Kok Choy, Tổng Giám đốc của VPB. Ông ta bèn dẫn anh Bình đến giới thiệu. VPB đồng ý mua luôn máy Olivetti, đồng thời cũng muốn ta đưa ra giải pháp phần mềm toàn diện thay cho hệ thống nửa thủ công lúc đó. Được trang bị bằng kiến thức của hai vụ MSB và BNP, tôi liền bắt tay ngay vào đàm phán hợp đồng. Nhờ đó, tôi gặp MooSun (tức moo@vpb.han), người đã góp phần không nhỏ vào thành công của nhóm Ngân hàng. Những hôm đầu tiên là những hôm cực kỳ khó khăn. MooSun có vẻ hoàn toàn không hiểu chương trình của chúng tôi làm được gì. Câu hỏi làm anh băn khoăn nhất là mở tài khoản như thế nào. Hồi đó chúng tôi cũng thấy bất lực lắm. Chương trình của ta cứ thấy tài khoản mới là mở cần gì phải module riêng. Một việc nhỏ như thế mà thằng này cũng không nhận thức được. Mãi sau này chúng tôi mới hiểu. MooSun vốn được đào tạo như một người Operation, nhìn nhận chương trình như một công cụ cung cấp việc tự động hóa các nghiệp vụ của Teller. Còn SIBA khi đó đơn giản chỉ là một chương trình Accounting thuần túy, back-end (tất tần tật làm vào cuối ngày). Tuy nhiên, chắc do tin lời giới thiệu của Olivetti, Mr. Chan cũng ký với chúng tôi một hợp đồng phần mềm trị giá 16.000 USD (theo chuẩn của BNP).

Đây là đề án có nhiều kỷ lục, kỷ lục thứ nhất là thời hạn. Đây có lẽ là đề án kéo dài nhất. Cho đến bây giờ vẫn chưa có bản nghiệm thu HĐ mặc dù tiền đã đòi hết từ lâu, thậm chí đã ký thêm và đòi tiền mấy hợp đồng nữa rồi. Sở dĩ có chuyện đó là vì MooSun là người không bao giờ thỏa mãn với cái hiện có mà luôn luôn tìm các ứng dụng mới. Do đó anh chấp nhận ký thêm hợp đồng mới mà chẳng cần nghiệm thu HĐ cũ. Chính anh đã mạnh dạn áp dụng Passbook Printer, một loại máy in có khả năng in trên các form in sẵn với độ chính xác tới 1/240 inch. Trong lời giới thiệu của TTVN cũng có lời cám ơn ông MooSun vì anh đã chấp nhận đưa chương trình vào cho hệ thống thông tin nội bộ Ngân hàng.

Một trong những hệ quả hiển nhiên của kỷ lục thứ nhất là biến đề án này thành đề án qua tay nhiều người nhất từ xa đến nay. Sau khi ký hợp đồng, do toàn bộ đội phần mềm của cả FPT và FiBI đều đang bận chinh chiến trong thị trường phía Nam là BNP và EximBank, tôi phải mượn Tấn Vinh (lúc đó đang làm cho khách sạn Thắng lợi) để thiết kế màn hình nhập giao dịch. Tuy trước đó anh chưa hề biết về ngân hàng, nhưng kỳ lạ thay giao diện đó vẫn còn giữ được cho đến nay. Sau đó anh Phạm Anh Tuấn bên Công thương tham gia viết các báo cáo kế toán, chị Quyên bên Hàng hải viết phần tổng hợp, Tú Huyền sau khi chạy khỏi Bảo Việt Hà nội viết phần tiền gửi và Tín dụng, Hồng Sơn và Vũ FiBI chịu trách nhiệm phần Remittance. Phạm Anh Đức tham gia một phần viết các chương trình in trên Passbook Printer. Module hệ thống do Đình Anh viết có cả chức năng cấp phép tức thời cho các giao dịch vừa là niềm tự hào vừa là nỗi lo âu khi tự nhiên các trạm làm việc không bắt được liên lạc. Đinh Quang Thái (tức thai@fpt) cũng góp một phần khi triển khai lại hệ thống Remittance. MooSun chịu trách nhiệm toàn bộ về phần tài liệu. Số là sau khi đọc các tài liệu mà chúng tôi cấp cho (vì không trốn tránh được), hắn chẳng hiểu gì cả nên đành phải bắt tay vào viết lấy. Phải nói tài liệu của MooSun đã cho chúng tôi hiểu được thực sự thế nào là User Manual. Trong đó miêu tả chi tiết cách một nhân viên phải làm thế nào để thực hiện được một giao dịch, kể cả việc bố trí máy, cắm điện, bật máy,... Tuy nhiên hiểu là một chuyện, còn làm được lại là chuyện hoàn toàn khác. Cho đến bây giờ các tài liệu sử dụng của FPT vẫn nổi tiếng là không giống với chương trình thật. Làm với MooSun còn có một thuận lợi lớn nữa, đó là anh luôn luôn viết rất chi tiết và có hệ thống những yêu cầu của mình. Những bản yêu cầu đó, thực chất đã góp phần đào tạo nghiệp vụ cho cả một lớp nhân viên FPT. MooSun gần như mê tín Tú Huyền, Hồng Sơn, Đình Anh và Xuân Chung (Bảo hành - chungnx@fpt). Đám cưới gây đầy thất vọng cho Khánh hói là của Tú Huyền cũng có vợ chồng anh tham dự. Có một chuyện nhỏ, như khi Ngân hàng mở chi nhánh ở Đà nẵng, anh cứ kỳ kèo anh Chung đi lắp mạng bằng được mặc dù biết rằng ở Đà nẵng có vô khối đội lắp được mạng. Vui nhất là khi anh Chung kể lại chuyện Hồng Sơn chiều chiều rủ anh ra bãi biển ngắm hoàng hôn, bỏ mặc các cô giao dịch viên ngân hàng xinh như mộng. Phải công nhận Sơn là người lãng mạn mà lại chung thủy - thế mới hay chứ. Là thần tượng của các em ngân hàng xinh đẹp, anh vẫn giữ được sự trong trắng. Nghe đồn là anh sắp lấy vợ.

Tháng 6/96, MooSun hết hạn về nước, FSS họp chia tay với anh tại quán ăn Huế Lý Thường Kiệt. Chúng tôi cùng hát với nhau. Anh cảm động nói: "Bây giờ tôi mới thấy thực sự buồn khi quyết định trở về". Hy vọng anh đang làm ăn thành đạt ở đâu đó trên đất nước Malaysia xa xôi và có nhiều duyên nợ với FPT. Những kỷ niệm về mối quan hệ với MooSun đã minh chứng rằng kiến thức và tình người không biết đến ranh giới địa lý và dân tộc cũng như ngôn ngữ.


Sở dĩ tôi nói là FPT có duyên nợ với Malaysia vì chính đề án VID-Public đã đưa SIBA ra ngoài biên giới Việt nam. Sau khi triển khai xong giai đoạn đầu, chúng tôi hân hạnh được đón ông Joseph Heathcote sang kiểm tra. Ông này là một chuyên gia hàng đầu về các hệ thống tin học ở Australia. Nghe đâu cả nước chỉ có dăm ba người. Ngân hàng mẹ của VID-Public là Public Bank thuê ông này trong 5 năm để chủ trì việc thay đổi toàn bộ hệ thống thông tin của mình. Public Bank là ngân hàng lớn thứ Ba tại Malaysia, và dự định sẽ down size và chuyển toàn bộ các chi nhánh của mình sang PC. Tổng dự án lên đến hàng trăm triệu đô la Mỹ. Nghe đâu đã ngã ngũ và người thắng cuộc hình như là HP Malaysia. Không hiểu sao ông Heathcote tình cờ lại quan tâm đến một hợp đồng bé tí có 16.000 USD ở Việt nam. Có lẽ vì liên quan đến giải pháp PC, nhưng nhiều phần chắc hơn là ông ta muốn thăm Việt nam. MooSun và Tổng Giám đốc Chan sợ lắm. Sau khi đã làm việc tại Ngân hàng, chúng mới dẫn ông ta đến trụ sở ISC tại Giảng Võ. Có lẽ đấy là bất ngờ lớn đối với ông ta vì thay vào những cơ sở lập trình sang trọng thì ông ta lại bắt gặp một sân trường đúng giờ ra chơi, ồn ào và hỗn loạn. Tôi có ngồi nói chuyện với ông ta chừng 1 tiếng đồng hồ về đủ thứ trên đời trong máy tính. Cũng tương đối thôi vì tiếng Anh giọng Úc của lão, tôi chỉ hiểu được chừng 30%. Không ngờ hôm sau lão mang đến một hợp đồng dày cộp đề nghị ký với FPT để mở rộng chương trình. Ngoài những điểm tôi và MooSun đã thỏa thuận trước, hợp đồng có chứa một điều khoản quan trọng cho phép Public Bank sử dụng SIBA trong các chi nhánh của mình tại nước ngoài. Quá bất ngờ và sung sướng vì chương trình của mình được tôn trọng thế, tôi đã đồng ý ngay với khoản phí bản quyền là 5000 USD/chi nhánh, bụng cũng không tin rằng có lúc nào đó điều này lại trở thành hiện thực. Sau này khi triển khai tại Lào và Campuchia, cố gắng bịa ra mọi thứ chúng tôi cũng chỉ nâng hợp đồng lên được tới 20000 USD (kể cả ăn ở). Thiệt hại sơ sơ cũng tới 50000 USD và còn có thể bị thiệt nữa. Tuy nhiên đổi lại ông Heathcote đã cho chúng tôi một cơ hội để khẳng định mình. Đối với cá nhân tôi điều đó là vô giá. Ông còn sang thăm Việt nam nhiều lần nữa. Lần nào tôi cũng dẫn ông và Chan đến ăn ở quán Huế, vừa rẻ và ngon. MooSun thì thầm với tôi: "Mr. Heathcote rất nể chúng mày, thỉnh thoảng ông lại bảo sang chơi để nói chuyện với Mr. Nam". Vì thế nên Tổng Giám đốc Chan luôn luôn coi chúng tôi là thần tượng. Hôm cuối năm vừa rồi, tôi nói Hồng Sơn muốn gặp Chan tại Emotion, cũng chỉ để gặp nhau cho vui, tôi quên mất rằng hôm đó là ngày bận rộn nhất của Ngân hàng. Thấy 2 cậu hớt hải phóng xe Mercedes đến tôi mới thấy hơi xấu hổ vì đã quá lạm dụng lòng tốt của bạn. Chính Chan đã mời tôi sang Malaysia chơi mấy ngày tháng 8/1994. Nhân dịp đó, Heathcote đã dẫn tôi đến thăm một chi nhánh được coi là tiên tiến nhất của Public Bank. Chương trình ở đó chạy trên Windows, tuy nhiên so về tính tích hợp giữa các modules thì coi bộ có vẻ kém của ta. Phần nào đó chuyến thăm này cũng liên quan đến TTVN sau này. Chẳng là hồi đó, ở VN đang rộ lên làm Internet. Cuộc đấu ác liệt giữa Viện Tin học, anh Trần Xuân Thuận, Trung tâm Thông tin Thương mại, Bưu điện. Ai cũng đưa ra dự án, nghe nói đến 500.000 USD. Anh Bình có nói tôi nên tham gia. Tuy nhiên lúc đó hoàn toàn mù tịt chẳng biết gì nên tôi làm ngơ. Nhân chuyến thăm Malaysia, được Peter Bate, một tay gián điệp của FPT nằm trong nội bộ Olivetti giúp đỡ, tôi gặp được 1 tay tự xưng là chuyên tư vấn về các giải pháp mạng. Sau này khi tôi mời chú tư vấn cho đề án Internet VN (vẫn võ cũ để khai thác thông tin), chú than rằng chẳng có tiền tôi mới ngã ngửa ra là các phần mềm và công cụ cho Internet lúc đó hầu hết là cho không. Cuộc cạnh tranh chủ yếu là tổ chức khai thác và nội dung, các vấn đề mà các nhà khoa học ở ta hoàn toàn không đề cập đến. Khi làm TTVN chúng tôi vẫn luôn luôn tuân theo các nguyên tắc đấy. Xin nói 1 chút đến Peter Bate. Anh làm ở Olivetti Malaysia và là người đấu tranh để Olivetti đầu tư chiều sâu vào Việt nam thông qua FPT. Những năm 91-92, Olivetti đang có khoảng 60% thị trường Ngân hàng ở Việt nam. Ru ngủ bởi những thắng lợi đó, những lời khuyên của Peter bị lãnh đạo hãng bỏ qua. Khi Olivetti bắt đầu nhận thức được điều đó, cam kết vào Việt nam thì có thể nói cơ hội tốt nhất đã bị qua. Từ vị trí dẫn đầu, Hãng lại phải bắt tay vào cuộc chiến mới để dành lại các thị trường đã mất. Một phần đó cũng là thất bại của FPT. Thiết nghĩ tất cả nhân viên FPT có thể rút ra những kinh nghiệm sâu sắc cho riêng mình. Peter sau đó chán lại bỏ về Australia. Xin mở ngoặc thêm là chính Peter đã giới thiệu SilverLake đến FPT từ đầu năm 1993.

Một đề án lý thú về mặt marketing mà tôi muốn nêu ra đây hợp đồng với chương trình cấp nước Phần lan gọi tắt là YME. Chính phủ Phần lan tài trợ cho Hà nội để cải tạo hệ thống cấp nứơc sạch của thành phố. Trong đó có việc xây dựng lại chương trình Quản lý thu tiền (gọi là Billing). Đột nhiên một ngày đẹp trời cuối năm 1992 chúng tôi nhận được đơn mời tham gia đấu thầu chương trình Quản lý Thu tiền. Đây là lần đầu tiên FPT tham gia vào một cuộc đấu thầu phần mềm. Chúng tôi rất lúng túng không biết xoay xở thế nào. Cùng tham gia có các công ty Gen Pacific và Viện Tin học. Trong đó đáng ngại nhất là Viện Tin học vì có các chuyên gia kinh nghiệm trong việc viết dự án. Tôi và anh Bảo được phân công chuẩn bị hồ sơ. Chúng tôi quyết định sẽ gồm 2 phần: Giải pháp kỹ thuật và Giới thiệu Công ty. Trong giải pháp kỹ thuật, phần phức tạp nhất là giải trình việc tại sao dùng Fox. Còn nội dung công việc, rất may là đội bạn đã chuẩn bị khá chi tiết. Lý thú nhất là phần giới thiệu Công ty. Anh Bảo nghĩ ra kế kể thật nhiều những người sẽ tham gia đề án. Và thế là danh sách những chuyên gia của FPT sẽ tham gia thực hiện đề án bao gồm cả các Tiến sĩ Thủy lực (chúng tôi cho rằng cũng gần với nước) như Trương Gia Bình, Lê Thế Hùng, Trần Văn Trản,... tổng cộng mấy trang. Quả nhiên hồ sơ chúng tôi gây ấn tượng. Sau mấy lần thất bại trong việc thuyết phục tôi giảm giá, anh chàng Seppo to béo và vui tính người Phần lan đồng ý ký với FPT hợp đồng trị giá 13000USD, cao hơn gấp rưỡi so với giá của Viện Tin là 7000 USD. Tôi còn nhớ ngày ký hợp đồng là ngày 2/1/1993. Tôi và anh Ngọc đèo nhau lên tận chỗ rẽ cầu Thăng long. Anh Ngọc thú nhận đây là hợp đồng dày nhất mà anh ký. Sau đó chúng tôi có ăn cắp lại mẫu này và áp dụng cho hầu hết các hợp đồng phần mềm khác. Về anh chàng Seppo này tôi nhớ nhất là chuyện khi tôi hỏi: "Are you married?", anh ta trả lời "Many times". Đề án này cũng góp phần làm cho anh ta thấy rõ tính mềm dẻo của người Việt nam. Do đã liệt kê danh sách những người tham gia quá nhiều, tôi với anh Bảo bàn nhau lúc đầu cũng phải đi họp cho đông thật. Thế là Nam, Bảo, Khánh, Phương, Thành, Huyền,.... được huy động hết. Đến lúc triển khai hợp đồng còn mỗi Phạm Anh Đức. Thế mà vẫn xong, Seppo lại còn rất kính trọng Đức và ký thêm mấy hợp đồng nữa.

Hợp đồng này tuy không lớn lắm về giá trị nhưng có ý nghĩa lớn vì lần đầu tiên chúng tôi chủ động tham gia đấu thầu với Tây và đã thắng. Tôi chắc rằng trong thành công ngày nay của anh Bảo cũng có ít nhiều kinh nghiệm từ vụ này.

Nhắc đến Marketing không thể không nhắc đến lần xuất ngoại đấu thầu đầu tiên của tôi và Khắc Thành. Đó là vụ MayBank. MayBank là Ngân hàng lớn nhất Malayxia, quyết định mở chi nhánh tại Việt nam vào giữa năm 1995. Nhờ môi giới, họ biết được FPT đã cung cấp giải pháp cho VID-Public và Chinfon Bank. Sau mấy lần gặp gỡ, Mr. Wan Kup, giám đốc chi nhánh Việt nam bảo tôi: chúng mày phải sang bên Trụ sở chính của Ngân hàng bọn tao để giới thiệu cho bọn máy tính ở đó. Thế là tôi và Thành khăn gói quả mướp sang đó. Đối thủ của chúng tôi là một công ty Malayxia tên là InfoPro. Bọn này tôi đã từng gặp khi sang Phnompenh. Chương trình của chúng cũng chạy trên Fox, tuy nhiên do có sự đầu tư và tham gia bài bản của Unisys, nên chương trình khá chuyên nghiệp. Mặc kệ chúng, bọn tôi miệt mài chuẩn bị slides và chương trình mẫu. Không ngờ, tay chịu trách nhiệm chính, Mr. Azip người Ấn độ lại ủng hộ chúng tôi nhiệt liệt. Sau khi liếc qua chút ít, anh trực tiếp đứng ra giới thiệu và bảo vệ SIBA trước đại diện của các phòng ban nghiệp vụ khác. Buồn cười nhất là trong khi Azip đang ca ngợi SIBA thì chúng tôi tìm cách ăn trộm bản InfoPro để về nghiên cứu. Một hôm tôi mượn cớ kéo mấy tay quân địch ra một góc để nói chuyện cho Khắc Thành "backup" dữ liệu. Tất nhiên là thay vì backup, anh đã nhanh tay copy tất cả những file đã được chúng tôi bí mật nén trước vào đĩa mềm (Có một điểm chúng tôi quên mất là không nhìn trộm mã khóa người dùng supervisor, may mắn làm sao khi về Triều cái lại mò ra được). Khó nhất là ăn cắp tài liệu. Quyển user manual to tướng là nỗi thèm muốn của chúng tôi. Cuối cùng tôi quyết định ngỏ lời với Azip hy vọng cậu ta giúp đỡ. Không ngờ hắn ta cười lên hô hố: "Chương trình này thối lắm, của chúng mày hay hơn nhiều lấy làm gì" thế là chúng tôi ngọng. Tuy nhiên sau này khi thực hiện hợp đồng, cuối cùng Tú Huyền cũng trộm được.

Chúng tôi để chương trình lại và ra về trong bụng cũng không hy vọng lắm. Không ngờ ít lâu sau tự nhiên thấy gọi đến để ký hợp đồng khẩn cấp cả phần cứng lẫn phần mềm. Để lấy tiền nhanh, Khánh hói đã ký đại mà chẳng cần đóng dấu gì. Có lẽ sự tự tin của chúng tôi đã thuyết phục được Azip và đến lượt mình sự tự tin của anh đã thuyết phục được các vị kiểm tra khó tính của một trong những ngân hàng lớn nhất khu vực này.

Biết chuyện chúng tôi sang tận nước bạn để bán hàng, bè bạn ở chỗ khác cũng có vẻ nể lắm.

Có lẽ điều đáng kể nhất mà tôi học được trong các cuộc hợp đồng với nước ngoài đó là sự tự tin. Nhờ may mắn tôi được gặp gỡ và làm việc với khá nhiều chuyên gia của các nước bạn. Từ Âu, Á, Mỹ, Úc đều có. Chân thật và thẳng thắn, chưa bao giờ chúng tôi làm cho bạn phải thất vọng. Cả chúng tôi và đối tác đều thừa biết là còn rất nhiều điều chúng tôi chưa làm được, thậm chí còn chưa biết tới. Nhưng khả năng học hỏi và áp dụng nhanh chóng của những lập trình viên Việt nam đã làm cho đội bạn phải tôn trọng. Tôi thật sự tin rằng nếu tất cả mọi người đều nhận thức được điều đó chúng ta sẽ có một cơ hội tốt để thực hiện bước nhảy vọt trong công nghệ thông tin. Tin học là một ngành đặc biệt, đến một ngày nếu chúng ta cho rằng mình đã quá giỏi và không cần lắng tai nghe, thì sản phẩm dù có tốt đến đâu cũng sẽ nổ tung không còn dấu vết như bong bóng xà phòng.

chungta Tuesday, October 23, 2007 6:18:53 AM

Chương 5: Sự tiến hóa của Tổ chức và Con người
Như đã nhắc tới ở chương đầu, FPT bắt đầu sự nghiệp với một mong muốn rõ ràng trở thành một công ty kiểu mới. Rõ nét nhất là trong lĩnh vực Tin học. Tập hợp được một lực lượng tin học thuộc loại cứng cựa của năm 1988 là công lao to lớn của anh Trương Gia Bình. Tôi rất may mắn là ngay từ đầu được tiếp xúc với những người giỏi và sẵn sàng chia sẻ kiến thức như anh Mai, anh Bảo, Trung Hà, anh Công, anh Ngọc. Tổ chức tin học đầu tiên của FPT có tên gọi là Trung tâm Dịch vụ Tin học (Informatic Service Center) viết tắt là ISC. Tên này do anh Công nghĩ ra và lần đầu tiên được đóng biển treo trên một căn phòng tầng 3 của tòa nhà 224 Đội Cấn của Viện cơ. Còn nhớ một lần trong các máy của Olivetti có cài sẵn phần mềm demo lúc chạy hiện lên chữ ISC chúng tôi đã vô cùng ngạc nhiên không hiểu vì sao bạn biết được tên của mình. Sau này mới biết đó là tên của một công ty phần mềm Mỹ bị Olivetti mua lại. Thời gian ở Đội Cấn, thực sự hầu như chúng tôi chẳng làm dịch vụ Tin học cho ai cả, ngoại trừ việc phục vụ anh Nhuận và thỉnh thoảng cho anh Đạo, anh Điệp Viện Cơ. Đại đa số thời gian là đọc sách và làm tất cả những gì mà có ai đó cần. Thường xuyên nhất là soạn các văn bản cho anh Đào Vinh và chị Thu Hà (phụ trách nhân sự FPT hiện nay). Hồi đó anh em hay dùng một chương trình tiếng Việt tên là Don Joan có nhiều chức năng rất tiện lợi và dùng chế độ graphic của màn hình để hiển thị tiếng Việt. Một chương trình nữa là VietStar chạy nhanh hơn nhiều nhưng kém chức năng nên hay được dùng cho bọn chế bản. Ngoài kiểu gõ telex, chương trình này còn có một cách bỏ dấu rất dễ nhớ, dùng ngay các phím tương tự trên bàn phím, tỷ nhưo. tương đương với ọ, o,= ơ, o' = ó, o~ = õ, o? = ỏ, o` = ò,o^ = ô, . Nói thêm một ít về chị Thu Hà. Thực ra thì chị không có mặt tại FPT từ ngày đầu tiên mà chỉ ngay sau đó. Lập công ty xong, Anh Bình có một suất đi Đức học 1 năm. Trước khi đi, để vớt vát, anh tổ chức một cuộc thi chọn thư ký. Rất phức tạp, công ty sử dụng điệp viên đi thông báo dụ dỗ những thiếu nữ xinh đẹp đang ôm mộng kiếm việc và kiếm chồng. Kết quả có mấy chục em kéo đến. Sau một buổi làm việc trong buồng kín, kết quả 5 em được chọn làm việc thử một tuần. Cuối cùng còn lại mỗi Thu Hà. Có thể coi chị là người thắng cuộc cuộc thi hoa hậu đầu tiên ở Việt nam. Anh Võ Mai quả là may mắn. Thực ra còn một em nữa tên là Thám Hoa. Em này nghe đâu nhà Hàng Ngang, Hàng Đào nên luôn miệng bĩu môi chê các anh Phó tiến sĩ mà cũng đòi đi buôn. Vì thế chẳng ai dám đuổi. Mãi sau, lấy hết can đảm anh Lê Vũ Kỳ hạ bút ký xoẹt và ngay lập tức lên máy bay chuồn sang Nga mặc cho anh Đào Vinh xoay xở. Anh Kỳ lúc đó là phó giám đốc công ty. Anh Lê Quang Tiến cũng hay ký tên là Phó Giám đốc nhưng anh thường biện hộ "Phó Giám Đốc" là bí danh họ Phó tên Đốc chứ không phải là chức vụ, mỗi khi bị lộ tẩy. Quay về ISC, không phải lúc nào chúng tôi cũng được làm việc nhàn hạ. Hai việc mà tôi nhớ nhất đó là mỗi khi máy đi/về phải khênh lên khênh xuống tầng 3 và những chuyến xuống Hải phòng áp tải sắt thép do đổi được bằng máy tính mang về. Do không được phân công chức năng rõ ràng nên anh Ngọc rất ít khi lảng vảng đến. Trung Hà thì suốt ngày tham gia vào các phi vụ buôn bán đổi chác. Anh Bảo thì lúc đó đang tham gia đề tài nhận dạng cùng với Viện Tin học. Anh Mai hì hụi viết một chương trình truyền tin trên UNIX, tôi chẳng hiểu gì cả, thỉnh thoảng lại được anh cho xem menu, rất lấy làm khâm phục. Hồi đó còn có hai anh sinh viên đến thực tập là Long và Cường. Thường xuyên bị anh Công bắt quét nhà. Anh còn giao cho chúng việc debug một chương trình truyền tin, hình như là Procom thì phải. Được một hồi chúng sợ quá chạy mất. Sau đều thành cứng cựa của 3C. Cường bây giờ chuyển về Ngân hàng Đầu tư Phát triển Việt nam. Chúng tôi vẫn gặp luôn. Đầu năm 1990, cùng với FPT, ISC chuyển về trường phổ thông cơ sở Giảng Võ. Được ra chỗ rộng, anh Công mừng ra mặt. Anh tự tay theo dõi việc lắp từng ổ điện. Chúng tôi được bổ sung Trần Ngọc Trí, Phan Thị Quyên. Phan Minh Tâm cũng đang làm thực tập. Gần cuối năm có thêm Phan Quốc Khánh. Khi mới vào anh Khánh trông cực giống thổ phỉ, đại úy quân đội nhân dân Việt nam nhưng tóc dài đến vai, râu quai nón xồm xoàm. Giá như lúc đó đã có Balance thì chắc không ai dám từ chối không mua.

Lúc đó ISC đã bắt đầu có ban bệ: Hệ thống, Nhận dạng, Unix,...

Và bắt đầu có những xi-can-dan. Đó là sự kiện liên quan đến anh Trần Xuân Thuận. Anh Thuận lúc đó đang lãnh đạo một nhóm nghiên cứu lập trình truyền tin cho Unix dưới sự hướng dẫn của anh Công. Sang Giảng Võ, có thêm chỗ mới, anh Công còn mời cả nhóm chuyển về. Cùng với anh Thuận là Châu, Cường những sinh viên tài năng của Đại học tổng hợp. Trần Ngọc Trí cũng được phân sang nhóm này. Cũng chia sẻ quan điểm về sự thống trị của UNIX, anh Thuận và cả nhóm đã làm việc miệt mài và tạo ra nhiều ứng dụng thú vị. Tiếc rằng không hiểu sao anh không coi FPT là môi trường xứng đáng để anh đóng góp. Do đó anh đã ký những hợp đồng kinh tế nhưng không cho FPT.


Về mặt mình, những thỏa thuận không rõ ràng về tổ chức cũng như do sự thiếu sâu sát, anh Công đã vô tình tạo ra một lỗ hổng trong quản lý. Sự việc không hay đã xảy ra và FPT chia tay với anh Thuận không trong hòa thuận. Cần nhắc lại rằng, anh Thuận là một trong những người tôi rất khâm phục vì niềm tin sâu sắc vào khả năng của mình và lực lượng tin học Việt nam. Những năm 92-95, một mình anh kiên trì triển khai chương trình T-Net, chương trình truyền tin trên UNIX nhưng không theo chuẩn TCP/IP mặc cho những lời công kích về tính du kích của nó (chương trình) của các đồng nghiệp trong Viện Tin học và giới quản lý Tin học Nhà nước. Không thể không thừa nhận là anh là người đặt nền móng cho những mạng diện rộng đầu tiên và khá phổ biến ở Việt nam hiện nay là VinaNet và VietNet (xuất thân từ E-News của Khánh Hòa). Là một người làm Tin học tôi nghĩ anh Thuận thừa hiểu tính ổn định lâu dài của các chuẩn. Tuy nhiên, các cuộc tranh luận về chuẩn của trường phái chính thống làm tôi chán ngấy. Họ chẳng mang lại lợi ích gì cho xã hội cả.

Sau này anh lập ra Liên hiệp Công nghệ Phần mềm CSE thuộc Viện Vật lý và Công ty TDACO, khá thành đạt trong lĩnh vực truyền thông. Tôi cũng chưa bao giờ hỏi tại sao hồi đó anh lại xử sự như vậy với FPT. Không biết có ai đặt câu hỏi đó không? Tôi không tin rằng ngoài chúng ta ra mọi người đều ích kỷ và chỉ biết có tiền.

Tuy nhiên sự kiện bi thảm trong lịch sử phát triển của ISC phải là việc ra đi của anh Công. Vào thời điểm thành lập Công ty tháng 9/1988, không ai có thể nghĩ đến việc anh phải chia tay FPT trong một tư thế như vậy. Sau khi chuyển sang Giảng Võ, bắt đầu có cảm giác không ổn trong việc phát triển Tin học ở FPT. Có lẽ tiên đoán ra điều đó sớm nhất là anh Bình. Anh đã nhận ra rằng việc bán máy tính sang Liên xô cũ tuy rất có lời nhưng chỉ là tạm thời. Thị trường trong nước mới thực sự là nơi FPT có thể phát triển những tham vọng công nghệ của mình. Nửa cuối năm 90, đội mktg do anh Phan Quốc Việt chỉ huy bắt đầu chạy. Hợp đồng với Hàng Không Việt nam tương đối thành công đã làm lung lay một cách đáng kể vị trí lãnh đạo về Tin học của anh Công. Bùi Quang Ngọc nổi lên như một ngôi sao mới.


Mầm mống đầu tiên của sự chia tay là quyết định tách ISC làm hai, một tiếp tục hướng cũ do anh Công lãnh đạo. Một sẽ mang tên mới là IDAC (Informatic Development Application Center) do anh Ngọc chỉ huy. Tôi còn nhớ như in buổi họp nặng nề hôm đó do anh Công chủ trì có anh Bình tham dự. Từng người một tự quyết định mình ở đâu. Trừ Trung Hà đã chính thức thôi làm tin học, Võ Mai, Bảo quyết định chuyển sang IDAC. Còn mỗi mình tôi, anh Công nhìn tôi hy vọng. Than ôi, tôi không thể chia sẻ với anh sự mất mát đó được. Tôi nghĩ anh bị tổn thương lớn. IDAC tồn tại cũng không lâu. Tháng 5 năm 1992, khi đang ở HCM làm cho Pacific Airlines, tôi được anh Bình gọi điện báo anh Công đã quyết định chia tay FPT. Thực ra lúc đó mọi người đều cảm giác đó là một việc tốt đẹp cho cả hai bên. Ban lãnh đạo FPT, kể cả tôi nữa, lúc đó thực chất đã không hiểu vai trò của anh Công là gì trong cơ cấu mới. Cho đến tận năm 1996. Sự phát triển liên tục của Tin học tại FPT những năm 1993-1994-1995, ngoài việc mang lại lợi nhuận còn thường xuyên đặt ra những câu hỏi nhức đầu. Tại sao chúng ta không chơi với ORACLE? tại sao không dùng HP? không tham gia Internet? không thành công trong GIS?, không có phần mềm nhân bản như BKED, ATV? .... Chẳng ai hiểu tại sao cả, cho đến khi chúng ta nhận ra rằng FPT muốn dẫn đầu không thuần túy trong doanh số mà thực sự trong việc ứng dụng các công nghệ. Trong thách thức đấy, chúng ta thiếu người định hướng. Tôi vẫn nghĩ là anh Bình đã không nhầm khi chọn anh Công làm cố vấn về Tin học. Sai lầm ở đây chỉ có thể là vấn đề về tổ chức và quản trị, nỗi đau muôn thuở của những Giám đốc nghiệp dư đầy ý tưởng sáng tạo. Và làm thế nào để hòa hợp về công nghệ và thương mại?

Sau khi chia tay FPT, anh Công lãnh đạo một trung tâm cũng có tên là ISC trên Viện Công nghệ (giờ là Bộ KH&CN). Mang nặng mặc cảm bị đánh giá là không biết kiếm tiền, anh đã bỏ nhiều công sức cho thương mại và đạt được những thành công đáng kể trong thương thường (với tư cách cá nhân). Tuy nhiên anh phải trả giá đắt cho việc làm những việc không phải là sở trường của mình. Gặp anh, tôi thấy anh tiều tụy, không còn đầy hào hứng và phong độ khi hô anh em quét rác, dọn nhà, lắp mạng như thời 224 Đội Cấn nũa, và cũng không có dáng vẻ oai vệ của các giám đốc kinh doanh. Anh lại rủ tôi: "hay tao với mày lại làm phần mềm đi". Tất nhiên phải làm chứ anh Công.

Sau khi chia tay anh Công, chúng tôi lại lấy tên ISC, IDAC đã vĩnh viến biến mất không dấu vết vì nó chỉ là hậu quả của một sự ngây thơ trong kinh doanh công nghệ. Đại bản doanh của ISC ở Trường Giảng Võ. Cần phải nhắc lại rằng trước đó tất cả Công ty đều ở Giảng Võ. Giai đoạn này thật vui. Ăn tập thể chia ra đĩa. Mỗi bữa ăn là một trận cãi nhau nổ trời. Đặc biệt phải chú ý anh Trương Gia Bình. Vì ăn có xuất mà anh lại ăn rất khỏe, nên thường quãng 11h anh đã chuồn ra xơi một xuất trước. Xong đợi cho đến 12h15 anh mới chạy ra ngạc nhiên: "Đã có cơm rồi cơ à" Và điềm nhiên xơi tiếp một xuất nữa. Đôi lúc, nhìn quanh không ai để ý, anh trút luôn đĩa thịt của tay bên cạnh vào mình. Tất nhiên những cấp dưỡng như em Hòa, chị Thịnh và mọi người đều biết cả. Nhưng thấy xếp ăn được ai cũng mừng. Một khẩu hiệu thường nghe thấy là "của chung ăn trước, của riêng ăn sau" đã nuôi béo biết bao nhiêu thanh niên FPT vốn còm nhom thành những tên bụng bự ngày nay. To mồm nhất trong các cuộc cãi vã là Nguyễn Chính Nghĩa, còn gọi là Nghĩa đen. Đỉnh cao là cuộc chiến tranh vùng Vịnh đã chia rẽ FPT sâu sắc thành hai phe: chống Mỹ và chống những ai chống Mỹ.

Năm 1991 là năm chia ly. Đầu tiên là Zodiac tách ra. Sau đó HQ chuyển lên Lý Thường Kiệt. Chỉ còn dân Tin học ở Giảng Võ. Có thể nói đó là nơi có nhiều kỷ niệm với anh em Tin học. Chắc chắn sâu sắc nhất là Khắc Thành đã từng hai lần bị chó cắn nhưng kiên quyết không chịu đi tiêm. Cuối năm 1993, đội kinh doanh của ISC quyết định chuyển ra mặt phố ở 146 Nguyễn Thái Học. Một tụ điểm cũng khá gây tai tiếng. Bà chủ nhà đã từng tuyên bố: "Tưởng các anh Tin học là trí thức, ai ngờ giám đốc thì chửi bậy (chỉ anh Ngọc), nhân viên nam thì đánh bài uống rượu (chỉ bọn Hoài, Tiến béo, Phan Minh Tâm, Hải kều), nhân viên nữ thì ăn mặc hở hang (chỉ Mỹ Hương), lại còn ôm nhau (chỉ SonTT và bồ)". Thật là một nhận xét sắc sảo. Do đó chưa được một năm thì anh Ngọc chuyển lên Nguyễn Bỉnh Khiêm, rộng rãi và độc lập hơn.

Sau khi anh Ngọc đi ở Giảng Võ chỉ còn bọn phần mềm và kho. Và tháng 7/1994 chúng ta có buổi liên hoan toàn bộ phần mềm sơ kết 6 tháng đầu tiên tại nhà hàng Ngọc Khánh, ăn toàn món ăn Tàu chưa bày ra đã hết. Tháng 8/1994, đến lượt phần mềm cũng phải rời khỏi Giảng Võ. Nhờ có việc liên hệ mượn máy chiếu để tài trợ cho cuộc thi hoa hậu, Phan Quốc Khánh có mối quen tại xưởng phim tư liệu Ngọc Khánh. Tháng 8/1994 nhóm phần mềm tiền thân của FSS chuyển sang 115 Ngọc Khánh, nằm ngay cạnh rạp chiếu phim. Cũng tại rạp chiếu phim này, ngày 31/12/1994 đã chính thức ra đời FSS (còn có tên nữa là ABC: Accounting Banking and Communication). Thực ra ban đầu anh Bình muốn thành lập một bộ phận kiểu như đặc nhiệm có khả năng bao hết mọi vấn đề từ hardware cho đến maintenance, nhưng chỉ nhằm 1,2 khách hàng chiến lược. Tuy nhiên tôi và Khánh đã quá gắn bó với phần mềm để có thể nghĩ đến một cái gì khác và anh Bình cũng nhượng bộ. Sau khi đã có quyết định thành lập bộ phận phần mềm, chúng tôi nghĩ mãi vẫn chưa được tên nào ưng ý. Cuối cùng sau chuyến đi công tác lên Lâm Thao của Khánh, chúng tôi thống nhất gọi là Xí nghiệp các giải pháp phần mềm. Đặt tên là Xí nghiệp, chúng tôi mong muốn nhấn mạnh tính sản xuất chứ không đơn thuần là Value Added Services. Khắc Thành sau nghĩ thêm tên tiếng Anh là ABC. Tuy nhiên không được anh Bình chấp nhận.

Một nhân vật mà tôi rất muốn nhắc đến nữa là Trần Ngọc Trí. Trí là ngôi sao của K30 Đại học bách khoa Hà nội. Khi còn là sinh viên anh đã tham gia đề án Typo4, được phân công viết phần tự động nhận/chuyển bài đến nhà in và đã được anh Long đánh giá cao. Tốt nghiệp xong anh về FPT và làm náo động dư luận bằng việc mời anh em đi ăn cưới ngay trong tháng đầu tiên của cuộc đời công chức. Tôi nhớ đến trường hợp của bản thân, công ty thành lập ngày 13/9, tôi cưới vợ ngày 25/9. Sau này trong lúc thân tình anh Bảo mới hé mở: "hồi đó lão Công chửi mày, chưa làm được gì đã cưới vợ". Trí thì may mắn hơn vì lúc đó anh đã làm được nhiều thứ. Anh lập tức được triệu vào đội lập trình cho ngân hàng công thương rồi Phòng vé HKVN. Với năng khiếu thẩm mỹ và sáng tạo, có thể nói anh đã tạo ra các thư viện giao diện cho tất cả các chương trình mà chúng tôi viết hồi đó. Anh cũng rất mê tiếng Anh và ham đọc sách. Anh là người đã viết lại chương trình bán vé cho HKVN trên SCO-Fox, chạy qua terminal. Cũng không đến nỗi chậm lắm. Tóm lại là một ngôi sao mới nổi của ISC. Sau khi xảy ra vụ chia ISC-IDAC, Trí tiếp tục làm với anh Công trên UNIX. Khi anh Công chia tay FPT, anh cũng đã lưỡng lự rất lâu trước khi quyết định đi cùng với anh Công, có lẽ anh vẫn nặng nghĩa với người đã từng hướng dẫn mình và có lẽ anh vẫn còn vương vấn con đường học vấn. Tôi còn nhớ là khi anh Bình thông báo cho tôi chuyện anh Công, điều làm anh tiếc nhất là sự ra đi của Trí. Khi tôi ở HCM ra, Phan Minh Tâm có nói chuyện rằng Trí vẫn muốn ở lại FPT. Tôi và Tâm có gặp Trí, nhưng anh buồn rầu thông báo rằng mọi chuyện đã muộn rồi. Nhưng không hẳn là thế. Cuối năm 1992, anh lại quay lại ISC. Tôi cũng không hỏi vì sao. Có lẽ anh vẫn luyến tiếc đội ngũ anh em đã từng cùng chiến đấu. Và Trí lại xông vào trận chiến với Nhà máy Phân đạmHà bắc, hợp đồng phần mềm đầu tiên của FPT với một đơn vị sản xuất. Đề án này phá mọi kỷ lục về thời gian thực hiện, giá tiền/quy mô công việc, số người tham gia. Chính nó đã sản sinh ra chương trình QLVT nổi tiếng của anh Lê Quốc Hữu. Tuy nhiên số anh không yên vị được lâu. Sau khi trụ sở FPT chuyển lên 25 Lý Thường Kiệt được ít lâu, anh Bình cho rằng đã đến lúc phải làm ăn bài bản. Và anh lập ra phòng Kinh doanh để đảm đương việc đàm phán, lập kế hoạch và nhập hàng. Thích hợp nhất cho việc đó là anh Võ Mai. Mặc dù anh Ngọc không đồng ý lắm, nhưng anh Mai vẫn bị bốc lên ngồi ở HeadQuater (theo cách gọi của Hùng Râu là Het-quát-to). Được chừng 1 năm, vì công việc đòi hỏi, anh Mai được phân sang Singapore quan sát tư bản giãy chết. Sau khi cân nhắc, Trần Ngọc Trí được bổ sung vào phòng kinh doanh do anh Đào Vinh rồi anh Ngọc làm trưởng phòng. Mặc dù được anh Bình hết sức quan tâm và đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng nên bộ mặt quảng cáo hấp dẫn của FPT, Trí vẫn có vẻ không phù hợp với công việc. Cuối năm 1994, ISC đã lớn mạnh đến mức cơ cấu tổ chức của nó không phù hợp nữa. Buổi họp lịch sử ngày 20/12/1994 đã chấm dứt sự tồn tại của ISC, đóng lại một trong những chương hào hùng nhất của FPT-Tin học. Từ ngày đó, Tin học sẽ không chỉ còn là một phần, dù là đáng kể chăng nữa, mà trở thành toàn bộ sự nghiệp của FPT. Từ ISC đẻ ra bốn đứa con, đó là FIS, FSS, FCO, FCD. Năm 1996, thêm FSI. Các bộ phận mới thực sự đã tiếp thêm nguồn sinh lực mới cho Công ty, biến năm 1995 thành một trong những năm thành công nhất về kinh doanh. Nhưng cũng đặt ra những câu hỏi nhức đầu nhất về tổ chức, quản lý và tài chính. Vượt qua được những khó khăn ấy, chắc chắn FPT sẽ có thêm động lực để phát triển.

Quay về Trần Ngọc Trí, nhân sự cải tổ ISC, anh làm đơn xin bỏ phòng Kinh doanh. Anh có hỏi tôi là nên về đâu, FSS hay FIS. Tôi chẳng biết khuyên thế nào. Thực tình tôi luôn muốn có Trí, nhưng tôi biết anh Hữu cũng đang rất muốn điều đó. Tôi dành phần quyết định cho Trí. Và anh xin về FIS. Rất bất ngờ, chỉ 3 tháng sau, anh xin ra khỏi FPT, chuyển sang một công ty nước ngoài. Mặc dù có biết là anh có những vấn đề không hài lòng, đặc biệt là do những lần chuyển đi chuyển lại trong công ty, anh có chịu nhiều thiệt thòi về thu nhập. Và công việc của anh không phải lúc nào cũng đủ độ hấp dẫn và thách thức. Tôi vẫn có cảm giác bất ngờ.

Gần đây mới thấy anh xuất hiện lại cùng FPT trong Trí tuệ Việt nam với cái tên NET.TRITN. Chắc chắn là không nhiều thần dân TTVN biết rằng chính Trí là tác gỉa của logo Trí Tuệ Việt nam hình bản đồ đất nước với dải lụa bao quanh. Đó là quãng tháng 4/1995. Và logo này đã được sử dụng trong buổi giới thiệu sản phẩm NICS (anh em ruột của TTVN) lần đầu tiên do FPT tổ chức. Mỗi khi nhìn logo đó tôi lại nhớ đến mấy câu thơ học từ lớp một:

Tổ quốc ta đẹp lắm
Cong cong hình lưỡi liềm
Trên núi cao trùng điệp
Dưới biển sóng mênh mông
Những cánh đồng phì nhiêu
Nằm phơi mình ở giữa
Những con sông xanh hồng
Uốn quanh trăm giải lụa

Không biết anh có cùng chung ý nghĩ khi sáng tác ra nó không?

Có thể nói Trí là người duy nhất đã trải qua tất cả các cơ cấu Tin học của FPT. Con đường của anh phần nào đó đã phản ánh những mâu thuẫn đầy rẫy trong sự phát triển của Tin học Việt nam những năm 1990-1995. Tôi tin rằng chỗ đứng hiện nay của anh tại Digital vẫn chưa là chỗ đứng cuối cùng. Chỉ hy vọng là anh vẫn giữ những ấn tượng đeẹp đẽ về FPT, nơi anh đã có quá nhiều kỷ niệm vui buồn.

Năm 1991, FPT HCM chính thức đi vào hoạt động. Anh Hoàng Minh Châu, giám đốc chi nhánh là dân kỹ thuật. Có lẽ trong tay anh cũng đã có hàng chục chương trình phần mềm để kiếm sống. Vì thế cũng dễ hiểu khi ngay lập tức anh bắt tay vào xây dựng đội ngũ software cho chi nhánh. Khác với anh Bình, anh Châu quan điểm: không cần định hướng nhiều lắm, mình chỉ làm ứng dụng, việc gì mà chẳng làm được. Cần nhất là có khách hàng, nếu không làm được thì thuê. Trung thành với bản thân, anh ký ngay hợp đồng làm chương trình cho Pacific Airlines, công ty hàng không cổ phần đầu tiên và duy nhất ở Việt nam. Tôi được cử vào làm phần bán vé và giữ chỗ. Cả đội ngũ kỹ thuật của FPT HCM hồi đó có mỗi Mai Sung. Phải nói đây là nhân vật hết sức đặc sắc. Mặc dù không hề có một sự đào tạo cơ bản nào về tin học, anh đã nhanh chóng làm chủ tất cả những công cụ tin học cả phần mềm cũng như phần cứng. Một con virus, modem không chạy, card mạng chập chờn, hay Visual Basic lộn xộn, Web server có vấn đề,... Tất cả Mai Xung đều có thể giải quyết. Thật là một con người tài ba, xứng đáng là Trí tuệ Việt nam tay không bắt giặc. Lại nói về phần mềm, hồi đó anh Châu đang kéo Quốc Hùng từ bên Đại học kinh tế sang. Tôi có hứa sẽ mời Tuấn Hùng đang cộng tác với AppInfo. Trong hợp đồng với Pacific Airlines, anh Châu trực tiếp viết và triển khai phần kế toán. Phó Giám đốc Ngô Vi Đồng cũng phải xắn tay áo đi dây mạng cho phòng vé Lê Thánh Tôn và trụ sở 27 Nguyễn Đình Chiểu. Một thời hào hùng. Anh Châu còn tâm sự: "trước làm lẻ kiếm được nhiều hơn nhiều, bây giờ vẫn phải thỉnh thoảng về nhà lén lấy vài chỉ đi tiêu. Nhưng sướng hơn". Đấy cũng là cảm hứng cho bài hát: "Miền Nam chúng em xiết bao tài nguyên phong phú".

Cho đến khi tôi, Thành, Phương vào cùng làm hợp đồng cho EximBank và VietsoftPetro, FPT-HCM đã có đội phần mềm chuyên gồm Tuấn Hùng, Quốc Hùng, Bảo Lâm (cùng năm với Phan Minh Tâm, từ ngoài Bắc chuyển vào theo gia đình). Lúc đó còn có em Yến, rất chịu chơi. Ai dè một thời gian sau em bỏ sang GenPacific, nghe đồn là còn copy cả chương trình EximBank. Hiện tại Yến đang làm cho ORACLE tại HCM.Từ đội ngũ ban đầu đó, FPT-HCM Software đã thực sự lớn mạnh với những lớp đàn em rất nổi tiếng như Phong, Dũng nhỏ, Khiêm, Minh, Thọ,... và nhiều người nữa tôi không biết. Chỉ tiếc rằng có lẽ anh Châu vẫn chưa đủ độ tin tưởng để có thể coi phần mềm như một mũi nhọn về kinh doanh của FPT-HCM. Anh hài lòng với việc là một trong số ít ỏi những công ty có khả năng dùng phần mềm để nuôi phần mềm. Nhưng đối với một số anh em đã đa mang với ngành, mục tiêu quá khiêm tốn như thế chưa đủ để kích thích sự tìm tòi và sáng tạo. Biết anh Châu đã lâu, rất kính phục tài kinh doanh và khả năng nhạy bén trong kỹ thuật của anh, tôi vẫn cảm thấy còn quá nhiều điểu chưa hiểu hết anh.

Việc phát triển phần mềm ở Tp HCM, nơi chiếm 75% thị trường tin học của cả nước, thực sự là một sự băn khoăn lớn đối với tôi. Tại sao lại không thể có sự kết hợp chặt chẽ giữa hai bộ phận, thực chất là cùng một công ty? Được rèn luyện bằng Typo4, ngay từ đầu tôi đã hoàn toàn tin tưởng rằng chỉ có sự hợp tác thật sự mới có thể làm nên chuyện lớn trong việc phát triển phần mềm. Nhưng không phải ai cũng chia sẻ điều đấy. Các nhà lãnh đạo thì luôn luôn lo mất uy tín, không có danh. Anh em kỹ thuật thì tự ái. Cái gì mình chẳng làm được, việc gì phải hợp tác với người khác. Anh Long Việt kiều đã có lần nói với tôi: "Nếu các anh muốn kiếm việc gì mà chưa có ai làm cả, chắc phải quay ngược lại thời gian". Từ năm 1991, chúng tôi đã có ý định tập hợp tất cả những anh em lập trình lại dưới một danh nghĩa nào đấy. Buổi gặp mặt đầu tiên được tổ chức ở nhà anh Đinh Thế Lam (hiện là giám đốc Tin học của Thiên Nam), còn có anh Quân (Viện Tin học) lúc đó đang là người phụ trách đề án Tin học hóa Bộ Tài chính, anh Hùng hiện là phó cho anh Lam, anh Dũng (lúc đó đang ở AIC, bây giờ phụ trách Vitranet). Sau có thêm anh Lộc, Quang Sơn. Mọi người đều nói về sự cần thiết của việc tập hợp lực lượng, tiếc thay chẳng ai có kế hoạch gì cụ thể. Thành viên của nhóm này đều được anh Lộc đưa vào danh sách của VinaSoft Group để đấu thầu cho vụ EC như đã nhắc đến ở trên. Cuộc đời đưa đẩy cuối cùng cũng chẳng còn ai mạo hiểm gắn bó với phần mềm ngoài Lê Minh Quốc, giám đốc VietSoft. Anh em đã từng làm ởAIC, AppInfo, 3C, Idea chắc chắn đều còn nhớ đến anh. Mặc dù chưa lần nào có việc hợp tác cụ thể với Quốc, tôi rất thích cách đặt vấn đề rõ ràng và một sự đam mê sâu sắc của anh.

Trong một lần đi thăm một công ty phần mềm nước ngoài, tôi đặc biệt chú ý đến các khẩu hiệu họ dán lên tường cho nhân viên: "Open Mind!". Tạm dịch là "Hãy mở rộng Tư duy". Chỉ có qua các cuộc cọ xát, trao đổi, hợp tác với khách hàng, với đồng nghiệp và người cạnh tranh, người lập trình mới có thể kiểm tra đánh giá mình một cách chính xác nhất. Năm 1991, khi AppInfo đang tiếp tục triển khai hợp đồng cho khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, tôi đã nhận lời mời của anh Nguyễn Long vào đó làm chương trình cho kho hàng, tạm thời giải phóng cho Kiên nghỉ dưỡng sức sau đợt triển khai phòng vé khá vất vả. Vốn không tài làm chi tiết, tôi chỉ làm cái khung rồi giao lại cho Tuấn Hùng và Cơ lúc đó đang làm cộng tác viên cho AppInfo phát triển chương trình. Có lẽ Hùng & Cơ chưa nhận thức được điều đó nên không dám sửa. Tất nhiên chỉ vài tháng sau là chương trình không phù hợp nữa. Kiên già lại phải bay vào làm lại từ đầu. Dù sao cũng đã mở đầu một sự hợp tác về phần mềm giữa FPT và một công ty khác. Thành công nhất là giai đoạn có đội phát triển chung giữa FiBI và FPT. Chúng tôi đã cùng nhau làm được nhiều việc, có hiệu quả kinh tế cao, anh em gắn bó chặt chẽ và đoàn kết. Từ đó trở đi chưa có sự kết hợp nào có thể kể ra được nữa.

Chúng ta cùng nhau xây dựng một cái tên chung, tự hào là người FPT. Nhưng đó cũng là một trở ngại lớn cho việc hợp tác. Người FPT thường không quen được với ý nghĩ là mình có thể đóng góp cho một sự thành đạt nào đó mà không phải là FPT. Trong một ngành công nghiệp đòi hỏi kiến thức như lập trình, không có công ty to và công ty nhỏ, chỉ có sự đam mê và sáng tạo mới là thước đo để đánh giá, để hợp tác.

chungta Tuesday, October 23, 2007 6:19:47 AM

Phần kết

Con số doanh số 35.000 USD/người của Ấn độ từ năm 1995 vẫn là thách thức sừng sững cho FSS và cho công nghiệp phần mềm Việt nam. Có điều chúng ta đang đi đúng đường.

Từ cuối năm 1993, khi mà ISC đang kinh doanh rất thành công, tôi đã đề nghị với anh Bình và anh Ngọc tách phần mềm thành bộ phận riêng. Khách quan mà nói thì chưa chắc đã có lợi cho riêng từng người. Nằm trong ISC, dân phần mềm rất được trọng vọng và thường là được ưu đãi về mặt vật chất. Tuy nhiên tôi tin rằng, phần mềm tự thân nó phải chứng minh được mình là một sự nghiệp hứa hẹn, may ra mới có cơ giữ được đội ngũ.

Ngày thành lập, trong sổ lương FSS vẻn vẹn 12 người: Nam, Khánh, Phương, Thành, Đình Anh, Huyền, Mai Hương, Phạm Trung, Thắng, Hồng Sơn, Khánh Văn, chị Hòa. Nhóm sinh viên thực tập gồm có Triều, Hùng Sơn, Quang Anh, Việt Anh. Đinh Quang Thái và Phạm Anh Đức chuyển sang FIS để tăng cường về mặt kỹ thuật. Tháng 4/1995, thêm Kiên, Nguyễn Minh, Tiêu, Lộc, Băng Thương. Chưa đầy một tháng sau, Thương bỏ chạy sang Úc. Tháng 6/1995 bọn Triều, Hùng Sơn, Hồng Nguyên, Công Nguyên, Trí Hùng, Khánh Hưng ký hợp đồng chính thức. 15 ngày sau, Khánh Hưng phải trả giá cho đam mê Karaoke của mình và sang ACT. Tháng 12/1995 Khánh Văn đi học theo gót Băng Thương.

Tháng 1/1996, Hồng Nguyên chuyển sang FSI. Quốc Bình trở thành nhân viên đầu tiên của phòng Mktg. Chu Thanh Hà chuyển từ bộ phận anh Tô Tuấn sang, manh nha xây dựng TTVN. Tháng 6/1996: Phan Hưng, Quỳnh, Quang Anh, Việt Anh, Việt Dũng , chính thức gia nhập FSS. Lê Văn Hưng chuyển từ FIS sang hỗ trợ cho đội VCB. Tháng 8/1996: Đỗ Văn Khôi, Nguyễn Tịnh Tâm là những sinh viên đầu tiên không phải chuyên môn máy tính được tiếp nhận.

Từ sau năm 1995, có lẽ thay đổi có ý nghĩa nhất đối với sự nghiệp phần mềm FPT là sự ra đi của anh Phan Quốc Khánh. Tuy nhiên hãy còn quá ít thời gian trôi qua để có thể coi nó là lịch sử. Dù sao Khánh cũng là người đã để lại dấu ấn khá sâu sắc ở phần mềm nói riêng và FPT nói chung. Chỉ bằng lòng nhiệt tình vô tận anh đã dựng lên cả một cái tên thành công Balance với sự đầu tư hầu như không đáng kể của Công ty. Chắc chắn anh sẽ rút ra được những bài học kinh nghiệm từ FPT để lãnh đạo công ty mới phát triển mạnh mẽ.

*****



Chúng ta đã đi những bước đầu tiên trên một con đường con chưa rõ đích đến. Trên con đường đó, chưa có nhiều bạn bè, chúng ta thường xuyên phải tìm ra những thách thức cho chính mình. Sẽ có nhiều sai lầm, có khi phải trả giá đắt nhưng tôi tin và ước mong tất cả mọi người cùng chia sẻ: không bao giờ chúng ta phải xấu hổ cho Trí tuệ Việt nam.


Nguyễn Thành Nam

chungta Wednesday, November 14, 2007 2:18:14 AM

Người giỏi làm Toán: Rất lãng phí!
Nhúng tay vào hàng chục lĩnh vực: điện ảnh, bất động sản, ngân hàng, quảng cáo, PR, báo chí, tin học, thiết bị văn phòng...Sở hữu và đồng sở hữu vài chục công ty, trong đó đã và đang gây ấn tượng với những cái tên nổi tiếng như FPT, Zodiac (Hoàng đạo), ACB, TOGI, Vĩnh Trinh Company, Thiên Ngân Galaxy... Từ một sinh viên Toán cách đây 20 năm, Nguyễn Trung Hà đã từ bỏ lối đi được dọn sẵn để hiện tại trở thành một nhà đầu tư "có máu mặt" của Việt Nam.
Trong quá trình đi tìm nhân vật cho loạt bài này, với mục đích tiếp cận những cựu HSG quốc tế thành danh trong lĩnh vực kinh doanh, tôi nhận được không dưới 10 lời giới thiệu của nhiều doanh nhân thành đạt về Nguyễn Trung Hà.

Cuộc phỏng vấn được thực hiện cuối tháng 11/2005. Thẳng thắn và thực tế, đôi chút cực đoan (?), nhiều ý kiến của anh có thể sẽ gây ra tranh cãi hay dư luận trái chiều.

Toán học không có nhiều ý nghĩa với xã hội



Trước khi là một nhà đầu tư, anh từng là một học sinh giỏi Toán?

Năm 1978, đạt giải ba HSG Toán quốc tế ở Rumani, cùng 40 người đạt điểm cao nhất trong kỳ thi đại học, tôi được gửi lên trường quân sự trên Vĩnh Phúc để ôn luyện tiếng, chuẩn bị cho việc sang Nga.

Năm sau, tôi sang MGU (ĐH Tổng hợp Moskva) học khoa Toán Cơ, ngành Toán lý thuyết, lại chọn Lý thuyết số, môn cổ điển và kém ứng dụng nhất trong các nhánh của Toán học. Nhưng chưa hết đại học thì tôi chán. Tôi tự nhận thấy học Toán xong, rồi cũng không để làm gì.

Vì sao?

Tôi cho rằng, những gì dân Toán làm là: Tự đặt vấn đề, Tự giải quyết vấn đề rồi lại Tự hoan hô. Nói chung là một chuỗi công đoạn “tự sướng” và ít có ích cho người khác. Nói cách khác, giá trị của việc học Toán và làm Toán không cao.

Toán học vẫn được coi là nền tảng của nhiều môn khoa học khác. Những điều anh nói dường như phủ nhận một quan niệm được rất nhiều người thừa nhận?

Kiến thức Toán khá cần thiết trong nhiều lĩnh vực, trong cuộc sống. Nhưng, những thứ thực sự cần thiết cũng chỉ ở tầm vừa vừa thôi, nói nôm na là 1+1=2, chứ không phải những cái hoành tráng, trừu tượng, cao siêu. Mà, Toán học bây giờ đi xa lắm rồi, ở tận chân trời nào rồi.

Đa phần những vấn đề mà các nhà Toán học nghiên cứu, là do họ tự đặt ra, tự thấy rằng nó rất có ích, rồi tự đi tìm lời giải và cũng chỉ có họ, hoặc những người theo đuổi Toán ở tầm của họ mới hiểu được.

Vì không có ai hiểu được ngoài mấy ông Toán biết với nhau, nên cũng là các ông tự hoan hô nhau. Ông này khen ông khác giỏi, khen những vấn đề xyz nào đó là giải quyết được mấu chốt, là có ý nghĩa, ảnh hưởng rất lớn... và dân chúng, xã hội, thực ra là chẳng hiểu tẹo nào về vấn đề đó... tung hô theo.

Anh có nghĩ rằng những điều này sẽ động chạm?

Tất nhiên, bất cứ chuyện gì nhạy cảm cũng có thể động chạm. Nhưng, tôi nói với tư cách không phải người ngoại đạo. Tôi cũng từng học Toán. Rất, rất nhiều bạn bè tôi cũng là dân Toán... Trong giới Toán nói chuyện với nhau cũng rất hiểu điều đó. Chúng tôi còn dùng nhiều từ "trần trụi" hơn nhiều: chẳng hạn thủ dâm tư tưởng (cười to). Vô nghĩa! Ông này Tiến sỹ, anh kia Tiến sỹ... toàn giải quyết vấn đề vô nghĩa.

Anh từng học Toán, tức là cũng đã từng thấy rằng nó có ích. Mất bao lâu để anh đi đến kết luận ngược như bây giờ?

Tất nhiên, ngày xưa, tôi không nghĩ ngay được cái điều mà tôi thấy bây giờ. Thời đầu, cũng như rất nhiều SV Toán khác, tôi rất thích làm Toán. Mỗi lần tự giải quyết được một bài toán, một vấn đề nào đó thì thấy rất sướng. Và, nếu có ai đó xung quanh hoan hô thì càng vui, hay tự mình hoan hô cũng thấy hay, cũng đủ để thoả mãn (cười).

Nhưng, cuộc đời có những thời điểm, những cột mốc có thể làm người ta thay đổi cách suy nghĩ. Thay đổi một cách sâu sắc, về chất.

Năm 1982, tôi bị lao phổi và phải vào nằm trong Viện lao Moskva mất 1 năm. Thời gian này, rảnh rỗi nên tôi có nhiều thì giờ suy ngẫm về cuộc đời. Sau khi ra Viện, tôi trở thành người khác hẳn, trong cách nhìn cuộc sống. Tự dưng, tôi nhận thấy một cách rất rõ ràng sự vô nghĩa của những cái mình đang theo đuổi, cụ thể là việc học Toán, hay việc mình muốn đạt cái nọ, cái kia.

Người giỏi làm Toán là sự lãng phí

Nhưng, có một thực tế là dân Toán đa phần là những người giỏi và họ dễ thành công, kể cả khi chuyển sang các ngành khác. Tức là Toán học có ích, ít nhất về mặt đào tạo?

Có một số khái niệm bị đóng khung trong suy nghĩ. Nói thịt nghĩ ngay là thịt lợn, chứ không phải thịt gà, thịt cừu, thịt bò... Nói giỏi hầu như chúng ta cũng hiểu là giỏi Toán, nếu giỏi Văn, giỏi Lý, Hoá, Nhạc, Hoạ... sẽ cần phải chua thêm mấy cái danh từ phụ.

Cá nhân tôi nghĩ có sự nhầm lẫn ở đây. Nhiều người nghĩ những người học giỏi Toán khi nhảy sang các ngành khác làm cái gì cũng dễ giỏi, dễ thành công, tôi lại cho rằng, những người giỏi Toán, bản thân họ là những người giỏi, tức là họ có nhiều tố chất về trí tuệ để dễ thành công... Mà người giỏi thì học gì, làm gì cũng dễ giỏi kể cả học Toán.

Chẳng qua, người có trí tuệ tốt từ bé thường được hướng, hoặc tự chọn vào những môn mang tính khoa học, nhất là Toán. Thành ra, mật độ những người giỏi "dính dáng" đến Toán là tương đối cao, nên dẫn đến sự đánh đồng khái niệm: dân Toán là dân giỏi. Sự lãng phí ở đây là lẽ ra phải cho những người giỏi đó học ngành khác hữu ích hơn là Toán.

Nhưng rõ ràng, rất nhiều kiến thức của Toán đã và đang được áp dụng trong rất nhiều ngành nghề khác nhau?
Chúng ta nhầm lẫn trong việc định nghĩa thế nào là ứng dụng, dẫn đến hiểu Toán có ứng dụng trong nhiều ngành. Không phải vậy. Toán hoàn toàn không có ứng dụng. Tôi nghĩ kiến thức Toán ở bậc ĐH là bắt đầu không cần thiết. Càng nghiên cứu lên cao, Toán càng ít tính ứng dụng hơn. Lúc đó, nó chỉ phục vụ cho những sự phát triển nội tại của bản thân nó thôi. Tôi cho rằng vô ích. Nếu muốn nước ta đi nhanh hơn thì có lẽ nên bỏ qua ngành học này.
Anh có mạnh miệng quá không?
Đó là sự thực. Để nói là vô ích hay không thì xác định xem ta đứng ở điểm nào đó để nhìn. Nhiều người cứ lý luận, hoặc có thể chính họ tin rằng, Toán hữu ích. Nhưng, nhìn ở góc độ phát triển kinh tế xã hội nước ta hiện tại, cống hiến của Toán thực sự không có gì.
Vậy, anh nói thế nào, khi vẫn luôn có những hình thức tôn vinh đóng góp của các nhà Toán học? Và, cả những nỗ lực và sự đầu tư để Toán phát triển. Phải chăng xã hội nhầm lẫn hết?

Toán là một trò chơi. Tôi ví dụ, thi nhảy cao chẳng hạn, cũng là một trò chơi, một trò thể thao. Bản thân cái việc nhảy cao, chẳng có ý nghĩa gì cả, ngoài 1 điều duy nhất là có tác dụng về tinh thần. Nó có thể thoả mãn khát khao chinh phục một cái gì đấy, hay thúc đẩy cho nhiều người yêu thích và hứng thú luyện tập thể dục.

Toán học cũng vậy. Học tiếp lên, nghiên cứu tiếp lên, có thể ra được những cái khá hơn cái cũ, cũng như nhảy cao, cố gắng 2m10, rồi 2m12 sẽ đạt được mục tiêu là chinh phục kỷ lục nào đó. Ngoài ý nghĩa này thì toàn bộ công đoạn nỗ lực đó là vô nghĩa.

Vô nghĩa? Giải thưởng Clay của Ngô Bảo Châu được nhiều người coi là niềm tự hào là một ví dụ phản bác lại nhận định của anh?

Đúng, nó là sự tự hào. Về khía cạnh này thì rất có ý nghĩa.

Những nhà Toán học thành công, cũng như những VĐV thể thao thành công sẽ nuôi dưỡng được niềm tự hào cho những người liên quan, trong gia đình, thậm chí trong cộng đồng của họ. Nhưng, điều ấy có ý nghĩa gì khác, cũng như kỷ lục thế giới có ý nghĩa gì, ngoài cái danh kỷ lục?

Đừng vẽ son, tô hồng quá cho dân Toán. Phát triển xã hội thì đừng đưa những đầu óc tinh tuý nhất vào ngành Toán, để họ trăn trở với những việc tự đặt vấn đề rồi tự giải quyết vấn đề. Lãng phí. Những đầu óc ấy có thể làm được việc khác, hữu ích hơn nhiều lần.

Anh lấy những tiêu chí nào để đánh giá một cái gì đó là hữu ích?

Đơn giản thôi, một cái gì đó hữu ích là khi người ta dùng nhiều. Thực ra, chính xác hơn, dùng nhiều mới là có khả năng hữu ích chứ chưa dám chắc là hữu ích thật sự. Chứ nhiều kiến thức Toán cao siêu, trừ một bộ phận rất nhỏ của xã hội hiểu được, còn đa phần chẳng ai hiểu gì, thế thì nói gì đến dùng hay ứng dụng.

Những nhà Toán học hi sinh vì xã hội để đi lừa đảo đám đông. Họ có đóng góp rất ít ngoài việc việc làm gương để khích lệ thêm nhiều trí tuệ tinh hoa khác đi theo vào con đường đó, mà chính ra, ngay cả điều này không nên nhìn nhận là đóng góp.

Cố gắng không lấy bằng nếu không bắt buộc

Quay lại trường hợp của anh, sau khi ra viện và thay đổi nhận thức về cuộc sống, anh hiện thực hoá suy nghĩ của mình như thế nào?

Sau đó, thực sự tôi chỉ học tiếp sao cho cốt hoàn thành nốt bậc học vì không còn cảm thấy hứng thú nữa. Tôi dành thời gian để học những thứ khác, tự học và học qua các thầy. Định kiếm thêm cái bằng Tâm lý nhưng thậm chí, tôi thấy ngay cả việc này cũng vô nghĩa nốt.

Về sau này, tôi vẫn theo học nhiều thứ khác, nhưng cố gắng không lấy bằng làm gì nếu không bắt buộc.

Năm 1985, tốt nghiệp MGU, tôi xác định ngay tinh thần không học tiếp làm gì, và về nước. May mắn, tôi có việc ngay tại Viện Cơ học, thuộc Viện Khoa học Viện Nam.

Thời đó, cơ chế chưa thoáng và xin việc không dễ, chắc anh có thuận lợi về mặt quan hệ?

Không biết vì lý do gì đấy, tôi được nhận ngay (cười). Có thể nói con đường sự nghiệp của tôi rất thuận lợi.

Anh bắt đầu nghiêng sang việc kinh doanh như thế nào?

Hồi đó, Viện Cơ thuộc dạng khá nhất về mặt năng động ứng dụng, làm kiểu chân trong chân ngoài...

Các bác lãnh đạo Viện lúc đó như bác Đạo (Nguyễn Văn Đạo), bác Điệp (Nguyễn Văn Điệp) đều yêu quý và tạo điều kiện cho nhân viên làm thêm bên ngoài. Chúng tôi lập nhóm ứng dụng cơ học vào điện lạnh, sấy… Hợp đồng ký dưới danh nghĩa của Viện, và Viện được phần trăm. Sau này, khi thấy việc tách ra riêng, có con dấu riêng sẽ thuận lợi hơn về mặt kinh doanh và cũng có lợi hơn, chúng tôi lập công ty.

Năm 1989, tôi lập công ty Zodiac (tên tiếng Việt là Hoàng đạo), trực thuộc Hội Tin học, kinh doanh máy móc, thiết bị tin học. Sau khi có Luật Doanh nghiệp (năm 1991), chuyển thành công ty TNHH. Dần dần, do nhu cầu phát triển mà những mảng kinh doanh sau này như ngân hàng, bất động sản, tin học… là sự tiến lên và mở rộng theo sự phát triển tất yếu.

Tức là, anh đến với kinh doanh do sự đưa đẩy của thời cuộc? Thời đó, với các nhà khoa học như các anh, tính riêng lương có đủ sống không?

Đủ, bằng chứng là tôi vẫn sống đây (cười). Không thể nói do đồng lương không đủ sống mà người ta chuyển sang kinh doanh được. Kinh doanh là việc tự thân.

Có thể, có những sai lầm lại dẫn đến thành công. Mình tưởng rằng mình giỏi và có thể làm được điều gì đó, nên cứ thế làm, và làm được, đâm ra lại càng nghĩ rằng mình giỏi thật. Sau này, khi có nhiều kinh nghiệm hơn rồi, nhìn lại mình biết trong những cái làm ấy có nhiều sai sót.

Tôi ra kinh doanh bắt đầu từ việc nghĩ rằng, mình làm kinh doanh giỏi. Thực sự, bây giờ tôi không ưa kinh doanh, mà lại thích làm Toán hơn.

Có mâu thuẫn với điều anh khẳng định: Toán là lãng phí và vô nghĩa?

Không mâu thuẫn. Làm Toán như một trò chơi thì vẫn thấy nó hay, nó đẹp. Làm Toán như một sự thủ dâm tinh thần thì vẫn tự thấy sướng, thấy hứng thú (cười). Mặc dù đúng là những trò chơi, hay sự "tự sướng" chẳng có ý nghĩa gì đối với xã hội. Còn kinh doanh không thấy vui, vì nó càng ngày càng bẩn.

Cụ thể hơn là cái gì bẩn: môi trường?

Tôi quen với môi trường logic hơn. Môi trường kinh doanh bây giờ có nhiều sự phi logic, đôi khi kết quả đạt được không phụ thuộc bản thân ý tưởng kinh doanh mà còn nhiều điều kiện phụ khác.

Muốn đầu tư vào những lĩnh vực liên quan đến công chúng

Cùng một lúc sở hữu nhiều công ty trong nhiều lĩnh vực, anh làm thế nào để vận hành và quản lý tốt?

Nói chung, ở tất cả mọi công ty, tôi đều không làm gì quá sâu sát. Thực ra thì người ta không thể biết được nhiều thứ, quan trọng là biết tổ chức. Quản lý kinh doanh đòi hỏi các kỹ năng, còn đầu tư đòi hỏi những ý tưởng.

Tôi ít biết (và vì thế không thích) quản lý kinh doanh nhưng tôi có nhiều ý tưởng và có thể nhận biết người chuyên môn giỏi và sâu hơn mình để làm các việc. Phần việc của tôi là đưa ra định hướng, chiến lược: chẳng hạn quyết định hướng đi, xác định mục đích, thời điểm làm, khả năng sinh lời, lên kế hoạch tài chính, huy động tiền vốn, lựa chọn đội ngũ lãnh đạo chủ chốt...

Anh có mặt trong rất nhiều lĩnh vực sôi động trong nền kinh tế thị trường, trong đó anh ưu tiên cho lĩnh vực nào?

Tôi muốn đầu tư vào những lĩnh vực liên quan đến công chúng: điện ảnh, bất động sản, ngân hàng, quảng cáo, báo chí...Sự thành bại trong kinh doanh ở những lĩnh vực này ít bị ảnh hưởng bởi các cơ quan công quyền.

Hiện tại anh coi "mảng" đầu tư lớn nhất của mình là gi?

Hiện tại, tôi đang cho mình nghỉ hưu. Thời gian lúc này dành nhiều cho việc đọc sách.

Anh đọc những sách gì?

Đọc rất tạp (cười) sách lịch sử, tiểu thuyết, triết học phương Đông...

Một chút về cá nhân anh?
Tôi sinh năm 1962, dân chuyên Toán Chu Văn An, lấy vợ được 21 năm, có 2 con gái. Vợ tôi là Tiến sỹ Toán - Lý, dân chuyên Toán ĐH Tổng hợp. Tôi là người lười biếng, thích suy nghĩ hơn là hành động, thích nói phét hơn là làm.
Cảm ơn anh vì cuộc trò chuyện này.



chungta Wednesday, November 14, 2007 2:21:01 AM

Ông Nguyễn Trung Hà: “Tôi không có ý định kích giá cổ phiếu”
Tối 6/3, sau khi nhận được xác nhận từ Tập đoàn Goldman Sachs (GS), báo giới đã có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Trung Hà - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Chứng khoán Thiên Việt (TVS).
Ông đã công bố là TVS là đối tác nội địa của GS tại Việt Nam nhưng tập đoàn này lại khẳng định, họ không có mối liên kết chính thức nào với TVS. Ông giải thích thế nào về việc này?

Trong các văn bản mà chúng tôi đã ký với GS, TVS được GS định nghĩa trong văn bản là "local partner"; dịch ra tiếng Việt thì thành "đối tác nội địa". Về mặt bản chất, chúng tôi là một nhà cung cấp dịch vụ cho GS tại Việt Nam.

Nếu như vậy, tại sao ông không dùng từ cho đúng bản chất: TVS là đơn vị cung cấp dịch vụ cho GS mà lại dùng từ "đối tác nội địa", rất dễ gây hiểu lầm trong giới đầu tư là TVS có vai trò ngang với GS (do là đối tác), TVS được GS coi như một đối tác chiến lược tại Việt Nam?

Tôi chỉ dùng đúng từ trong văn bản mà GS định nghĩa và dịch sang tiếng Việt cũng như vậy, tôi không dùng sai từ. Việc người khác hiểu "đối tác nội địa" có ý nghĩa như đối tác chiến lược hoặc GS sẽ đầu tư vào TVS là một sự cố ngoài mong muốn của tôi.

Nhưng tôi cũng đã từng trả lời một số lần và cả trả lời trên báo là GS không đầu tư vào chúng tôi.

Tuy nhiên, từ "đối tác nội địa" lại giống như một yếu tố kích giá cổ phiếu của TVS?

Tôi tuyệt đối không có ý định đó bởi tôi là người điều hành nên khi giá cổ phiếu cao, áp lực đối với tôi chỉ ngày càng lớn hơn mà thôi. Tôi có bán cổ phiếu của tôi đâu mà có ý định kích giá cổ phiếu. Giá cổ phiếu TVS cao chỉ có lợi đối với những người được phép mua bán mà thôi.

Cuối tháng 1, có một sự trùng hợp "ngẫu nhiên" giữa việc tăng vốn điều lệ của TVS từ 43 tỉ lên 86 tỉ đồng và việc tin TVS là đối tác nội địa của GS trước đó. Điều đó có phải là sự sắp đặt?

Chúng tôi đưa ra thông tin đó thực tình không phải để để kích giá cổ phiếu. Tôi chỉ có thể nói đấy là một sự tình cờ và có thể coi là một tai nạn của chúng tôi.
Nhưng việc cổ phiếu TVS lên giá lại xảy ra trong thực tiễn?
Đúng rồi, nên việc xảy ra nghi ngờ là điều tự nhiên. Thực tế, tôi không muốn cổ đông của chúng tôi phải mua cổ phiếu với mức giá cao (những cổ phiếu đã được mua đi bán lại - PV) bởi nếu Ban điều hành không làm việc xứng đáng với mức giá cổ phiếu mà họ đã mua thì tôi là người có lỗi.

Tôi cũng xin nói thêm là việc tăng vốn là quyết định cá nhân của tôi và tôi không tham khảo ý kiến của ai khác (ông Hà chiếm 70% cổ phần khi TVS mới thành lập).
Là một cổ đông lớn nhất của TVS mà ông lại nói là ông không muốn giá cổ phiếu của TVS tăng. Điều này có vẻ khó tin?

Tôi không biết giải thích như thế nào, con người tôi nó như vậy. Từ trước đến nay tôi không làm điều gì sai phạm, nhìn vào lịch sử tôi làm tại các công ty và hỏi những người đã từng làm với tôi thì có thể thấy điều đó.

(Theo Thanh Niên)


Write a comment

New comments have been disabled for this post.