Thời vắng những nhà văn hoá lớn? -Trần Hữu Dũng
Tuesday, August 30, 2011 3:51:54 PM
Số Xuân Tân Mão 2011
Thời vắng những nhà văn hoá lớn?
Trần Hữu Dũng
Trong một lần gặp gỡ một nhóm sinh viên trẻ ở Hà Nội vài năm trước, tôi hỏi các em: Trong xã hội Việt Nam ngày nay, đặc biệt là trong lãnh vực văn hoá, các em ngưỡng mộ ai nhất? Và tôi ngạc nhiên khi chẳng em nào trả lời tôi được! Nhớ lại hồi còn trẻ, tôi có thể kể năm bảy người mà tôi ngưỡng mộ, những Đào Duy Anh, những Nguyễn Mạnh Tường, những Trần Đức Thảo, những Hoàng Xuân Hãn, những Nguyễn Hiến Lê... Còn ngày nay? Có thể chăng chúng ta đang sống trong thời vắng những nhà văn hoá lớn?
1
Thế nào là một nhà văn hoá lớn? Tất nhiên, xã hội nào cũng có những trí thức, những người tham gia (có thể rất tích cực) vào hoạt động văn hoá trong lãnh vực này hoặc lãnh vực nọ... Song, những nhà văn hoá lớn có một vai trò vượt trội những trí thức khác, và không phải bất cứ xã hội nào, lúc nào cũng có những nhà văn hoá như thế. Đó là những người mà sự uyên thâm và nhất là tính kiên trì nghiên cứu (nhiều khi lặng lẽ), năng suất làm việc phi thường (hàng mấy chục quyển sách, hàng trăm bài báo, chằng hạn) hầu như là huyền thoại trong dân gian. Chính tư tưởng của họ “định nghĩa” tính thời đại của một nền văn hoá. Nhà “văn hoá lớn”, nói cách khác, là người có những suy nghĩ vừa sâu vừa rộng, đưa ra những khám phá, lập luận, có tính tổng hợp, liên ngành (ví dụ như lịch sử và văn học, triết học và nhân chủng học), không bị giới hạn trong một ngành chuyên môn nào. Nhà văn hoá lớn là người có những ý tưởng độc đáo, hoặc có biệt tài tổng kết nhiều luồng tư tưởng khác nhau, từ nhiều lãnh vực khác nhau. Người ấy luôn luôn bám chặt vào những tiêu chuẩn học thuật cao nhất. Qua công việc nghiên cứu của họ, họ khơi dậy sự quan tâm, nâng cao trình độ thảo luận về những vấn đề lịch sử, xã hội, văn minh... nói chung là văn hoá.
Một nhà văn hoá lớn còn phải là một nhà văn hoá dấn thân, nghĩa là, dù tư tưởng của họ có trừu tượng đến mấy, sự chọn lựa chủ đề của họ, hoặc cách tiếp cận chủ đề ấy, luôn luôn có một khiá cạnh nhân bản, hoặc là xuất phát từ những sự trăn trở đối với những vấn đề căn bản của xã hội, của con người (đặc biệt là, nếu hoàn cảnh bắt buộc, những vấn đề liên hệ đến tự do và nô lệ, đến chiến tranh và hoà bình). Nếu đã được đào luyện như là nhà khoa học, một nhà văn hoá lớn có trách nhiệm suy nghĩ về tính nhân văn, tính xã hội của ngành khoa học ấy. Văn hoá, tự thân, là một hiện tượng công cộng. Nhà văn hoá lớn có khả năng khuếch trương tính công cộng của khoa học mà không hi sinh chuẩn mực học thuật. Một nhà văn hoá lớn cống hiến cho xã hội một hệ tư tưởng, nhất là trong lãnh vực xã hội và nhân văn, có khả năng khuấy động những trao đổi, đóng góp của những người khác trong lãnh vực ấy, và qua đó, làm giàu cho sinh hoạt tư tưởng của xã hội.
Nhà văn hoá lớn ngày nay cần phải theo dõi khít khao các luồng tư tưởng về văn hoá, chính trị, kinh tế... thế giới, bởi thế khả năng ngoại ngữ là cần thiết. Tuy nhiên, một nhà văn hoá lớn Việt Nam phải là người nhìn những luồng tư tưởng ấy qua lăng kính dân tộc và văn minh của người Việt Nam. Nói khác đi, một nhà văn hoá lớn phải đặt vấn đề văn minh của dân tộc (dù chỉ để phủ nhận nó, nếu muốn!) làm một trọng điểm của ý thức. Kiến thức là thiết yếu, nhưng một nhà văn hoá lớn phải đem kiến thức ấy phục vụ mục đích nhân văn. Nhà văn hoá lớn ngày nay phải thấm nhiễm tư duy “toàn cầu hoá” nhưng cũng phải có một thái độ rạch ròi về hậu quả của hiện tượng này đến những vấn đề quốc gia và dân tộc.
Những nhà văn hoá lớn là những ngôi sao đặc biệt sáng ngời trong bầu trời có thể đã rất nhiều sao. Những nhà văn hoá lớn không nhất thiết là những thiên tài bẩm sinh (thậm chí, họ càng đáng nễ phục, càng nhiều ảnh hưởng, nếu công trình văn hoá của họ là do sự kiên trì nghiên cứu, tự học...). Một nhà khoa học xuất chúng có thể đáng ngưỡng mộ nhưng chưa chắc đã là một nhà văn hoá lớn theo nghĩa ở đây.
2
Nếu định nghĩa những nhà văn hoá lớn theo cách đó thì rõ ràng là chúng ta, hiện nay, rất thiếu những nhà văn hoá lớn. Tại sao như thế?
Nhiều người sẽ đổ lỗi cho xã hội. Xã hội không bồi dưỡng những nhà văn hoá nói chung thì làm sao có những nhà văn hoá lớn? Sự thiếu tôn vinh này quả là đáng tiếc nhưng chưa đủ để giải thích sự thưa vắng những nhà văn hoá lớn, vì sự thực là, như lịch sử cho thấy, đại đa số những ngưòi này không làm việc vì tiền, hay để được xã hội tôn vinh, khen ngợi. Họ cật lực suy nghĩ, viết lách, giảng dạy... vì một sự thôi thúc nội tâm, không phải vì những phần thưởng từ bên ngoài. Thậm chí, nhiều người hãnh diện vì đời sống “khổ hạnh” của mình.
Giả thuyết thứ hai, liên hệ đến giả thuyết thứ nhất, nhưng có vẻ thuyết phục hơn. Dường như ngày càng nhiều phát giác những vụ đạo văn, những vụ lừa bịp, nói chung là những hành động thiếu đạo đức của một số người đã có thời được xem là những “đại thụ văn hoá”. Có thể giải thích rằng những hành động thiếu đạo đức ấy là sự sa ngã do cám dỗ của một xã hội quá trọng vật chất. Những người đáng lẽ là “anh hùng” té ra lại có những cặp chân bằng đất sét.
Bởi vậy, sự thiếu vắng những nhà văn hoá lớn, tôi nghĩ, chỉ phần ít là lỗi của xã hội, mà phần lớn là nhược điểm của chính cộng đồng trí thức (là vườn ươm những nhà văn hoá lớn). Oái oăm là, như vẫn thường nói, “thời thế tạo anh hùng”, thì “thời thế” ngày nay không đến nỗi quá bức xúc để anh hùng “đứng lên”. Cái “lỗi” của xã hội hiện tại không phải vì nó tích cực trù dập những hạt giống văn hoá lớn, nhưng ở sự làng nhàng, sự tầm thường tẻ nhạt cuả nó. Các vấn đề căn bản của xã hội, của con người, đòi hỏi những công trình văn hoá dài hạn, song những “khích lệ” cho các công trình văn hoá trong xã hội ngày nay, nếu có, lại có tính ngắn hạn. Có một sự so le giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng trưởng văn hoá.
Nhiều người sẽ cho rằng sự thiếu vắng những trí thức lớn còn có một nguyên do khác, rằng một người trí thức “công cộng” phải được phép tự do phát biểu. Một việc còn rất hạn chế trong hoàn cảnh hiện nay. Nhưng theo tôi, yếu tố thật cần là những cuộc tranh luận, nghĩa là cần những nhà văn hóa lớn khác, và những cuộc tranh luận đó phải bình đẳng, tôn trọng những tiêu chuẩn học thuật phổ quát. Trong tranh luận văn hoá, không ai được quyền dựa vào một thế lực nào ngoài văn hoá.
Có thể rằng, là một nhà văn hoá lớn ngày nay cần có những kiến thức, đặc biệt là khả năng ngoại ngữ và kiến thức về sinh hoạt văn hoá toàn cầu, hơn bao giờ hết. Nhưng không hẳn là như vậy: có cả vạn người, hàng ngày luớt web khắp thế giới, nhưng chưa bao giờ thực sự là nhà văn hoá. Những thông tin họ biết là hời hợt, nông cạn. Bởi vậy, cái nghịch lý của nhà văn hoá lớn ngày nay là phải vừa biết nhiều, nhưng không cần biết hết, mà phải biết sâu. Phải biết tổng hợp những điều mình nghe thấy với những suy nghĩ của riêng mình. Đây cũng có thể là một lý do của sự thưa vắng những nhà văn hoá lớn, tuy số “trí thức khoa bảng” thì ngày càng nhiều: Với sự chuyên biệt hóa ngành học, ngày càng hiếm đi những người thông thạo nhiều ngành khác nhau, có đủ sức tổng hợp thành một hệ thống tư tưởng độc sáng.
3
Xác nhận sự thiếu vắng những nhà văn hoá lớn là một việc, kết luận rằng đó là một sự kiện đáng quan ngại lại là một việc khác! Bởi, có người sẽ hỏi: tại sao chúng ta cần những nhà văn hoá lớn? Chúng ta có rất nhiều nhà khoa học, giáo sư, kỹ sư mọi ngành cần thiết cho sự phát triển của đất nước (và chúng ta không bao giờ thiếu những nhà thơ, nhà văn!). Như vậy không đủ sao? Tôi nghĩ là không đủ. Đúng là chúng ta cần phát triển kinh tế, cần cơm ăn áo mặc, cần một đời sống văn hoá không đến nỗi nghèo nàn... Nhưng chúng ta cũng cần những tinh hoa vượt trội. Dù bầu trời đã lấp lánh muôn sao, chúng ta vẫn cần những ngôi sao thật sáng. Đó là những ngôi sao chỉ đường, bởi lẽ một xã hội phải biết hướng tiến cho văn hoá của xã hội ấy.
Nhưng tầm vóc của một nhà văn hoá không phải ngày một ngày hai mà có đuợc. Hãy hi vọng rằng ngay giờ phút này đây đang có những nhà văn hoá trẻ miệt mài xây dựng sự nghiệp văn hoá của mình. Cho những ngưòi trẻ này, vào những ngày xuân hôm nay, chúng ta nâng ly chúc mừng và chúc các bạn kiên trì, may mắn, cho bạn, mà cũng cho chúng ta.
Trần Hữu Dũng
Tháng 12, 2010












Minhcineenebo # Thursday, January 26, 2012 12:14:03 PM
(Dân trí) - Sản lượng ngành ô tô Đức cao gấp đôi Mỹ, trong khi lương công nhân cao gấp đôi. Vì sao?
Các công nhân ngành ô tô Mỹ luôn được rao giảng rằng trong bối cảnh thị trường toàn cầu hóa và cực kỳ cạnh tranh, họ phải biết thích nghi và chấp nhận lương thấp hơn để giữ việc làm. Ông Steven Rattner, chủ tịch ban cố vấn của Nhà Trắng về ngành công nghiệp ô tô, hồi tháng trước cho rằng lẽ ra chính phủ Mỹ nên ép Nghiệp đoàn ngành ô tô Mỹ (UAW) chấp nhận việc giảm lương công nhân trong thời kỳ tái cơ cấu của GM và Chrysler năm 2009, nhằm tăng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Nghe có vẻ hợp lý: cắt giảm chi phí để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nhưng ngành công nghiệp ô tô Đức đang chứng minh rằng lý thuyết đó không đúng.
Các con số tự nói lên tất cả. Năm 2010, Đức sản xuất hơn 5,5 triệu chiếc ô tô, còn Mỹ sản xuất 2,7 triệu chiếc. Cùng năm, lương trung bình của công nhân ô tô ở Đức là 67,14 USD/giờ, trong khi ở Mỹ chỉ bằng một nửa - 33,77 USD/giờ. Ngành ô tô Đức không chỉ hoạt động với năng suất cao, mà còn rất hiệu quả. Ba tập đoàn ô tô lớn nhất của Đức là BMW, Daimler (với thương hiệu Mercedes-Benz), và Volkswagen rất có lãi.
Làm thế nào? Tạp chí Remapping Debate đã có bài phân tích về vấn đề này.
Công nhân lắp ráp xe BMW tại nhà máy của hãng ở Leipzig, Đức. (Ảnh: Getty Images)
Theo tác giả Kevin C. Brown, có hai định chế ở Đức đảm bảo vấn đề tiền lương cao và điều kiện làm việc tốt cho công nhân ngành ô tô.
Thứ nhất là IG Metall, tổ chức đại diện cho người lao động trong ngành ô tô của Đức, tương tự UAW của Mỹ. Hầu hết công nhân ngành ô tô Đức đều là thành viên của IG Metall. Dù họ có quyền đình công, nhưng ít khi dùng đến, vì có một hệ thống giải quyết xung đột phức tạp thường được dùng để đi đến một thỏa hiệp nào đó có thể chấp nhận được cho tất cả các bên, theo lời ông Horst Mund, một lãnh đạo của IG Metall.
Thứ hai chính là hiến pháp Đức - cho phép tổ chức “hội đồng công tác” ở tất cả các nhà máy, nơi ban lãnh đạo và công nhân ngồi lại với nhau để thảo luận về những vấn đề như điều kiện làm việc (cả vật chất và tinh thần). Ông Mund cho biết việc này đảm bảo cho sự hợp tác, lắng nghe giữa hai bên.
Theo ông Mund, cơ chế này có hiệu quả. “Chúng tôi có những tổ chức công đoàn mạnh, chúng tôi có các hệ thống an ninh xã hội tốt, chúng tôi có lương cao. Nếu theo lý thuyết của chủ nghĩa tự do mới thì chúng tôi ắt hẳn đã phá sản, nhưng rõ ràng thực tế không như vậy. Dù lương cao, dù chúng tôi có thể tác động đến ban lãnh đạo, nhưng nhà máy vẫn hoạt động tốt,” ông Mund nói.
Việc này hoàn toàn đối lập với tình hình ở Mỹ. Ông Michel Maibach, Chủ tịch kiêm CEO của Hội đồng doanh nghiệp Mỹ - châu Âu (EABC), cho biết mối quan hệ giữa công đoàn với ban lãnh đạo tại các công ty ở Mỹ mang tính “đối đầu”, còn ở Đức là “hợp tác”.
Tuy nhiên, văn hoá Đức này không còn tồn tại khi vượt Đại Tây Dương. Các nhà máy ô tô của doanh nghiệp Đức ở Mỹ cũng áp dụng chiến lược chèn ép công đoàn và trả lương thấp cho công nhân như các nhà sản xuất ô tô Mỹ.
Bài viết trên tạp chí Remapping Debate cho biết: “BMW là một công ty Đức và có bộ máy tổ chức đặc chất Đức khi ở Đức. Nhưng khi ở Mỹ, họ đã rất nhanh chóng thích nghi với văn hoá doanh nghiệp của Mỹ.”
Người phát ngôn của BMW từ chối tiết lộ mức lương trung bình của công nhân tại nhà máy Nam Carolina, nhưng theo thông tin đăng trên Washington Post năm 2010, trung bình chỉ 15 USD/giờ.
Tình hình cũng tương tự tại nhà máy Chattanooga của Volkswagen ở Mỹ. Một người phát ngôn của công ty cho biết các công nhân được trả 14,5 USD/giờ và sẽ tăng lên 19,5 USD sau ba năm.
Do đó, đây không thực sự là vấn đề văn hoá doanh nghiệp, mà là văn hoá đất nước.
Nhật Minh
Theo Forbes/Remapping Debate
http://dantri.com.vn/c111/s111-557827/duc-san-xuat-o-to-hieu-qua-gap-doi-my.htm
Minhcineenebo # Friday, January 27, 2012 8:01:05 AM
11:50, 24/01/2012
GS - KTS Hoàng Đạo Kính
Lưu để đọc sau
Email bài này
In trang này
In bài này
Ý kiến của bạn
Liên hệ đăng lại bài
10 bài được đọc nhiều nhất
Trước khi ông mất vài ngày, báo Nhân Dân đăng bài của ông với nhan đề Những khoảng trống đáng sợ. Vấn đề cảnh báo về nguy cơ xã hội, về đạo đức xuống cấp. Phải chăng đây là lời tiên tri, ông cảm thấy chống chếnh, người ta xô vào cờ bạc, tham nhũng, rượu chè, ma túy…
Ông Hoàng Đạo Thúy có cuốn Người thầy là sách gối đầu giường của các giáo học trước Cách mạng Tháng 8, in năm 1944. Rồi cũng trong những ngày tháng đó, có một cuốn sách của ông được rất nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ yêu thích và truyền bá rộng rãi là Trai nước Nam làm gì? Lần đầu tiên có cuốn sách viết về phận sự của thế hệ thanh niên trước Cách mạng Tháng 8, yêu nước thương dân thì phải tìm con đường đi cho mình như thế nào trong bối cảnh lịch sử phức tạp và nhá nhem ấy?! Khi cuốn sách này xuất bản, toàn quyền Pháp muốn trao giải thưởng rất to nhưng ông đã từ chối vì nhận thì không khác nào mình công nhận Pháp là đô hộ. Còn một mảng lớn nữa mà ông tâm đắc là viết sách kể chuyện lịch sử ở dưới dạng tôi nhớ, tôi thấm.
Trong suốt từ những năm trước Cách mạng Tháng 8 cho đến về sau, ông vẫn dành nhiều thời gian, tâm huyết cho đề tài này. Đặc biệt ông viết một loạt bài in ở báo Quân đội nhân dân vào năm 1957, 1958 với tiêu đề Kể chuyện ông cha ta đánh giặc. Đó là một xeri về các vị tướng từ thuở Lý Thường Kiệt mang gươm đi mở cõi, đến anh hùng áo vải Quang Trung… Độc giả cứ mong chờ từng bài ra để đọc. Sau xeri đó sau được in thành cuốn sách. Ông cụ có cách truyền bá bằng văn chương nhẹ nhàng, tóm gọn, dễ hiểu để người dân thường đọc có thể dễ dàng thấm được, nhưng cũng rất hàn lâm. Và một cuốn sách ông viết trong thời kì chống Pháp về công tác hành chính là Sửa đổi lề lối làm việc. Cho đến tận giờ, rất nhiều ý tưởng trong cuốn sách vẫn còn mới.
Quan tâm đến lĩnh vực rèn người, nên ngay trong thời chống Pháp, ông viết về sách giáo khoa Công dân giáo dục. Ông viết về sự trong sáng của tiếng Việt. Và mấy chục năm sau thì Bộ Giáo dục mới có môn Giáo dục công dân phổ biến cho các học sinh tiểu học và trung học.
Nhiều người viết về lịch sử, ông cụ viết về chứng nhân, về thời của ông. Đó là thời gần như sau thế kỉ XIX nửa đầu thế kỉ XX. Ông sinh năm 1897, chất Hà Nội còn lại đến năm 1954, Hà Nội của thời mười lăm vạn dân, của Hà thành, kẻ sĩ... Cái chất của ông là kể chuyện đã trôi về dĩ vãng, Hà Nội đang trầm tích mà cũng đang dần phôi pha.
Ông nói về Hà Nội, Hà Nội không chỉ là kiến trúc, Hà Nội cũng không chỉ là phố phường, Hà Nội không chỉ là làng nghề, Hà Nội là cách ứng xử, Hà Nội là cách sống của xã hội từ cái ăn, cách mặc, đi lại, giao thiệp, lời ăn tiếng nói… Xeri cuối cùng của ông là 4 cuốn sách về Hà Nội, Thăng Long Đông Đô Hà Nội, Phố phường Hà Nội xưa, Người và cảnh Hà Nội và cuốn cuối đời là Hà Nội thanh lịch. Phải chăng, ông thấy nơi thủ đô linh thiêng văn hóa suy đồi, xuống cấp và ông muốn đề cao xây dựng cái nền nếp thanh lịch của người Tràng An xưa trong hoài niệm. Người ta gọi ông là Nhà Hà Nội học. Ông bảo ông không làm nghiên cứu, ông không thích chữ “học” ấy. Ông chỉ biết gì kể nấy, kể về Hà Nội, về những gì đã được nhào nặn, thẩm thấu, và cảm nhận của riêng ông.
Hơn 80 tuổi, cuốn sách cuối cùng của cuộc đời ông mang bao tâm huyết là cuốn Đi thăm đất nước, sau đó đổi tên thành Đất nước ta. Ông đi khắp đất nước và viết hoàn toàn bằng trí nhớ. Ông yêu vô cùng các dẻo đất miền quê Việt Nam và thuộc bản đồ ghê gớm. Vài tháng trước khi ông ra đi, khi hai cha con tôi trò chuyện cùng nhau, ông nói: “Người ta già lúc chết người ta quên bớt đi. Còn cậu lại khổ về trí nhớ, cậu không quên ai, không quên cái gì bao giờ”.
Năm 1920, 1921 ông dạy học ở Cao Bằng, Hưng Yên… cứ ba năm lại đổi một nơi dạy. Vào những năm cuối của thập niêm 80, sau 60 năm học trò khắp nơi về thăm thầy, ông không những nhớ tên học trò, còn nhớ bố mẹ, họ hàng học trò. Người ta gọi ông là pho sử sống. Ông là người rất tĩnh tại, điềm nhiên, không bao giờ bị quấy rối vào chuyện lộn xộn. Có thể bảo tồn nhiều thứ nhưng riêng bộ óc của ông không thể bảo tồn. Ông chăm chỉ, cần mẫn viết tất cả bằng trí nhớ, bằng những gì được lồng qua nhãn quan của mình.
Trước khi ông mất vài ngày, báo Nhân Dân đăng bài của ông với nhan đề Những khoảng trống đáng sợ. Vấn đề cảnh báo về nguy cơ xã hội, về đạo đức xuống cấp. Phải chăng đây là lời tiên tri, ông cảm thấy chống chếnh, người ta xô vào cờ bạc, tham nhũng, rượu chè, ma túy…
Ông giáo dục lòng yêu nước của các tầng lớp nhân dân qua phong trào hướng đạo sinh. Ngày đó, hướng đạo sinh lôi kéo hàng vạn thanh niên trí thức tiểu tư sản. Hoàng Đạo Thành, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Cơ Thạch… đều là những người đi theo hướng đạo sinh Việt Nam.
Ông Hoàng Văn Thụ trước khi bị Tây bắt xử bắn, có đến tìm đến cha tôi, nhờ cha tôi đưa hướng đạo sinh vào hoạt động Việt Minh. Năm 1945, ông Hoàng Đạo Thúy đi cùng ông Hoàng Tùng lên Việt Bắc, tham gia Đại hội Tân Trào, tại đây, lần đầu tiên ông Thúy được gặp Cụ Hồ. Cụ Hồ bảo: “Anh Thúy bày trò hướng đạo cho anh em vui đi”.
Ông Thúy bày trò đốt lửa trại, cùng hát với mọi người ở Tân Trào. Sau Cách mạng Tháng 8, phong trào hướng đạo sinh dưới sự chỉ đạo của ông Thúy ngày càng phát triển và đã lôi kéo rất nhiều tầng lớp xã hội tham gia. Từ văn nghệ sĩ, đến sinh viên học sinh hướng đạo, còn có cả những cán bộ cao cấp như Trần Duy Hưng, Tôn Thất Tùng… cũng hăng hái tham gia hướng đạo sinh.
Đời ông Thúy bi kịch lắm. Ông có ba người con mất do tai nạn. Người đầu tiên là chị cả tôi. Chị là người đẹp nổi tiếng đất Hà thành khi xưa. Chị bị tai nạn ô tô, khi đang đưa thư hướng đạo của cha tôi thì bị xe Tây cán, tất cả bác sĩ giỏi nhất của Hà Nội đều có mặt nhưng rồi cũng chẳng thể làm gì được. Đêm hôm đó, chị tôi mất ở bệnh viện Phủ Doãn, (sau này là bệnh viện Việt Đức).
Một người con trai nữa của ông lại chết tai nạn ở Sơn Tây, khi bơi bị đâm vào cọc tre rồi chết. Một người con gái nữa của ông là chị sát tôi lại cũng qua đời vì tai nạn xe máy. Chị tôi đi xe đạp ở phố Tôn Đản, bị một người đi xe máy hất chị tôi lên vỉa hè, đập đầu xuống nền gạch, chị mất. Đời cha tôi rất buồn. Ông có bài thơ về người chị cả của tôi, ông yêu chị tôi lắm, chị đẹp và tài nữa.
Ông là người cả đời không xin xỏ ai, đến chết cũng vẫn thế. Ông có gần 10 năm trời tự nấu ăn lấy. Thời bao cấp khốn khó, 16 năm trời hầu hạ vợ ốm đau bệnh tật, không nề hà gì từ chuyện đổ bô, nấu cháo, giặt giũ cho vợ. Không cần phải các con, ốm đau không bao giờ ông kêu ca, ông tự chữa bệnh. Ông tự trồng rau lấy ăn, tự trồng hoa để ngắm, tự đóng lấy đồ đạc. Ông trồng cây cà chua, trồng cây cúc đại đóa như một người nông dân làng hoa Ngọc Hà.
Khi nhà nước giao cho ông ở biệt thự Pháp, đồ vật dụng cũ của Pháp bỏ lại, ông mang về dùng. Khi về hưu, ông trả lại nhà cho nhà nước và tất cả các đồ đạc khác, tuyệt đối không lấy bất kể một thứ gì, và về ở trong cái nhà gần như cái lều. Nhà ba gian, xây tường gạch và lợp lá gồi. Đời ông Thúy khi về hưu hơn 20 năm trời ông chống chọi vật lộn với sự dột của nhà lá gồi, quan điểm của ông là thanh bạch. Sau bộ đội thương lại lợp ngói cho nhà ông.
Khi về hưu, ông có nỗi buồn gì đó, người ta bảo ông Thúy rất buồn, mọi nhà nho đều thế, buồn nhân tình thế thái. Ông Thúy đã trải qua thăng trầm dâu bể của đất nước không bao giờ ông ca cẩm. Ông đã đi theo sự nghiệp đó. Và ông chân thành với nó. Ông không bao giờ viết đơn xin xỏ, không bao giờ đòi hỏi chế độ chính sách. Không bao giờ a dua. Không bao giờ than vãn. Không bao giờ nói gì với các con muốn các con tin tưởng để làm việc. Không bao giờ bất mãn. Bất mãn ông cho là hèn. Sau ngày thống nhất đất nước đã lâu, mãi đến tận những năm cuối đời, người ta như sực nhớ ra và trao Huân chương Độc lập hạng nhất cho ông.
Ông không bao giờ viết giấy xin cho con một điều gì hết. Trước khi mất vài ba tháng, cha tôi nói với tôi: “Cậu không để lại cho các con cái gì cả. Cậu chỉ để lại cho con giấy giới thiệu”. Thời ấy, đi đâu cũng phải giấy giới thiệu, cha tôi đã để lại cho các con cái tên của ông - Hoàng Đạo Thúy.
Ông rất hay giúp đỡ người nghèo, thương trẻ mồ côi. Ông là nhà nho, nhà nho nào cũng thế, rất tiết tháo, không ưa bọn súng sính. Ai cần giúp đỡ gì cha tôi đều cho hết. Những năm cuối đời ông còn giữ lại cái mũ, ống tiêm, ống pha cà phê, cái tẩu hút ở chiến dịch Điện Biên Phủ, cái kính. Ông sống giản dị. Giải thưởng văn học đầu tiên ở Hà Nội là tặng cụ Thúy, nhưng ông không thích nói huân chương, không thích nói khen thưởng.
Ông là người hoạt động ghê gớm nhưng trước mọi chuyện lại hết sức bình tĩnh. Như khi ốm ông tự tiêm thuốc, dù khỏe hay mệt nhưng không bao giờ ông có kiểu người già gắt gỏng, mà nhỏ nhẹ ân cần.
Ngày cha tôi mất, ông ở một mình trong túp lều tại làng Đại Yên mà ông gắn bó suốt hơn 20 năm cuối đời. Ông mất vào 7 giờ sáng ngày mồng 5 Tết năm 1994, trên ghế mây. Như mọi ngày, ông ra khỏi màn là tập thể dục, pha ly cà phê sữa uống dở, rồi lặng lẽ thiếp đi. Con trai tôi đến chơi với ông gọi điện cho vợ chồng tôi bảo: “Bố mẹ ơi về đi, hình như ông có chuyện gì”. Khi chúng tôi đến nơi thì ông đã đi rồi. Hai vợ chồng tôi đặt ông xuống giường. Ông đi không một lời kêu ca, phàn nàn, ốm đau bệnh tật. Ngày hôm trước các bạn vẫn đến đầy nhà, và ông nói chuyện tỉnh táo, minh mẫn, thế mà hôm sau ông đã ra đi. Ông đi rất thanh thản.
Ông được an táng ở nghĩa trang Mai Dịch, trên mộ chỉ vẻn vẹn dòng chữ: “Cụ Hoàng Đạo Thúy 1900-1994”. Không chức tước, không huân chương, chỉ là năm sinh, năm mất. Cái tên đã là tinh thần sự nghiệp. Chữ Cụ bởi cụ đã sống gần một thế kỉ. Khi còn đương thế, cụ từng bảo: “Chết mà lên sân khấu làm gì?”
Bằng cách sống của cụ, cụ dạy lại người ta.
Bức thư của cụ Hoàng Đạo Thúy gửi lại các con trước khi mất:
“Sau khi cha mất, đừng làm như thói thường mà rước huân chương đi đường. Làm sao tránh được đồ phúng tốn và phiền đến bà con, láng giềng.
Các con và các cháu, cả cuộc đời của bố mẹ là một lời dặn các con và các cháu chữ Trung hậu. Trung với nước, với công việc. Hậu với bà con, với đồng bào. Các con, các cháu giữ nếp trung hậu cố có được hạnh phúc và thắng lợi…
Điểm tang là điểm cuối cùng của đời người. Ý của cậu là làm đơn sơ khi xảy ra thì nói với người gần nhất, người mất xin không viếng bằng tiền, đối trướng, hay hoa mà chỉ dùng mấy nén hương hay mấy chữ trên một tờ giấy. Đừng đem ảnh và huân chương đi đường. Không cần chụp ít ảnh thôi, yêu cầu đốt đi, đào một lỗ nhỏ. Sát cậu là mộ mợ, bên em Minh, bỏ gói tro cho xuống đấy, lấp đi. Đất trả lại đất. Thế là xong cả. Không làm phần mộ, không dựng mộ chí. Nếu chưa làm được, thì kỉ niệm bố mẹ bằng cách ăn ở”.
Trần Mỹ Hiền (ghi lại)
http://antgct.cand.com.vn/vi-vn/nhanvat/2012/1/55718.cand
Minhcineenebo # Wednesday, February 15, 2012 12:03:42 PM
Đi lễ chùa, nhiều người chưa hiểu gì về đạo Phật
- Đến chùa cầu tiền tài địa vị, thậm chí còn phân biệt Đức Phật ở chùa nào thiêng hơn…
Chen chân lên chùa cầu phúc, cầu an
Những hình ảnh nhức nhối nơi cửa Phật
Đền Trần 2012: Trả lại giá trị thật cho lá Ấn
Ngỡ ngàng đêm khai Ấn đền Trần bình yên
Mang tiền thật vay tiền ảo ở Đền Bà Chúa Kho
Nam Định, Thái Bình “tranh nhau” lễ hội Đền Trần?
Trước những hiện tượng xảy ra phổ biến như hoang phí vung tiền lẻ tràn ngập khắp nơi, mê muội cầu tài lộc, chen lấn xô đẩy… tạo nên những hình ảnh xấu trong các mùa lễ hội. Vietnamnet có cuộc trao đổi với Thạc sĩ Trần Văn Phương (Giảng viên Khoa Văn hóa – Phát triển, HV Báo chí và tuyên truyền) để làm rõ nguyên nhân và các yếu tố gây nên các hiện tượng xấu đáng báo động trong các mùa du lịch văn hóa tâm linh.
Đức Phật là một nhà tư tưởng chứ không phải là một vị thần!
Thạc sĩ Trần Văn Phương (Giảng viên Khoa Văn hóa – Phát triển, HV Báo chí và tuyên truyền)
- Phật Giáo tại Việt Nam đang được người Việt nhận thức thế thế nào thưa ông?
- Phật Giáo không phải là tôn giáo bản địa của người Việt, đó là một tôn giáo ngoại lai có nguồn gốc từ Ấn Độ. Phật Giáo được du nhập vào Việt Nam không hoàn toàn trực tiếp mà có thêm từ một vài nước thứ ba. Vì vậy Phật Giáo tại Việt Nam đã có nhiều bị thay đổi đi một phần và không còn nguyên bản như chính nơi xuất phát của nó. Vì vậy Phật Giáo ở Việt Nam có rất nhiều dòng khác nhau. Nhưng nguy hại, trong một số bộ phận người dân, Phật Giáo đã bị nhận thức không đúng so với giá trị nguyên bản.
- Vậy Phật Giáo ở Việt Nam bị hiểu sai như thế nào?
Đó là ở sự nhật thức đúng đắn về Đức Phật. Lối tiếp nhận đơn giản kiểu quan niệm của nhiều người Việt cho rằng Đức Phật trở thành một vị thần thánh có nhiều phép thần thông. Họ cho rằng Đức Phật càng gần gũi với họ càng tốt để dễ dàng ban phát, phù hộ cho mình. Điều này dẫn đến tình trạng họ tìm đến Đức Phật để cầu xin cho mình những giá trị thực tiễn như tiền tài, may mắn, địa vị… trong cuộc sống mà quên đi rằng Đức Phật chỉ là là một nhà tư tưởng và họ mới chính là chủ thể quyết định chính cuộc sống của mình.
- Người đến cửa Phật mới chính là người quyết định cuộc sống cho mình, xin ông làm rõ ý này ?
Phật Giáo là một tư tưởng triết học lớn, do đức Thích Ca Mâu Ni là người khởi xướng. Chính vì vậy hình tượng Đức Phật là đại diện Phật Giáo chính là đại diện cho những tư tưởng triết học và giáo lý mà bản thân Phật Giáo muốn đem đến cho người dân. Đó là những khuyên răn về việc hướng thiện, về luật nhân quả tức là tự mình làm việc thiện sẽ nhận lại cho mình những điều tốt đẹp.
Chính vì vậy người đến với Phật không phải để cầu xin ban phát những điều tốt cho mình mà để tìm đến những giáo lý của Phật Giáo để phải tự xuất phát từ bản thân mình làm những việc thiện thì mới mong tự nhận lại cho mình những điều tốt đẹp. Vì vậy Đức Phật ở đây chỉ mang ý nghĩa như một nhà tư tưởng chứ không phải là một vị thần thánh.
- Nguyên nhân do đâu khiến nhiều người Việt Nam lại có sự nhận thức sai về Phật Giáo như vậy, theo ông?
Xưa kia, vì Việt Nam là một nước nông nghiệp nên trong quá trình tồn tại và phát triển đã phải chịu sự chi phối rất nhiều của tự nhiên, trong đó có những yếu tố ảnh hưởng tích cực và tiêu cực. Thời đó với trình độ nhận thức hạn hẹp đã cho rằng “Vạn vật hữu linh” tức là mọi sự việc xảy ra đều có sự ảnh hưởng của một vị thần nào đó. Chính vì vậy khi du nhập vào Việt Nam với sự dung dị và hòa bình, dẫn đến Phật Giáo đã giảm bớt tính hàn lâm và tự biện vốn có của nó.
Đến Chùa để cầu xin may mắn và tài lộc liệu có đúng với tinh thần Phật Giáo?
Ngày nay, do nhiều tác động của cuộc sống vật chất đặc biệt là sự kém hiểu biết một bộ phận người dân do chỉ đến với Phật Giáo theo tư cách những người không nghiên cứu hay tu hành, cộng thêm tâm lí đám đông mới dẫn sự lệch lạc như vậy về quan niệm về Phật Giáo. Chính vì hiểu sai nên dẫn đến những hành động chưa đúng thậm chí là sai lệch gay ra nhiều sự biến tướng, sai lệch trong các hoạt động văn hóa tâm linh.
Cùng thờ một đức phật, có chùa lại thiêng hơn?
-Ông giải thích sao về hiện tượng một vài ngôi chùa cứ đến mùng 1 hoặc ngày rằm ùn ùn người dân đổ về cúng lễ?
Đó cũng là sự hiểu sai về Đức Phật như một vị thánh thần đã nói ở trên. Không có chuyện Đức Phật ở chùa Hà lại thiêng hơn ở chùa Thánh Chúa trong đại học Sư phạm Hà Nội gần đó. Bản chất đều là cùng thờ một Đức Phật tư bi hỉ xả, phổ độ chúng sinh. Người đến thờ Phật để tu bản thân mình chứ không phải coi Đức Phật như một vị thánh đem đi điều không may mang đến điều tốt lành mà coi thánh nơi này thiêng hơn thánh nơi khác.
- Là một người nghiên cứu, ông còn thấy những biểu hiện sai lệch nào khác về việc thờ Đức Phật của người dân?
Có rất nhiều, ví dụ như việc dân dã hóa Đức Phật nay đã biểu hiện rất rõ. Ví dụ như việc thờ cúng tổ tiên không phải là một tôn giáo nhưng khi bắt đầu khấn nhiều người lại khấn câu đầu tiên là “Nam mô a di đà phật”. Tín ngưỡng thờ mẫu không phải là phật giáo, nhưng khi nhiều người đến phủ Tây Hồ, phủ Dầy câu đầu tiên khấn cũng lại là “Nam mô a di đà phật”.
Biểu hiện về mặt vật chất như: Chùa là thánh đường thờ Phật thì nhiều nơi lại đưa cả thờ Mẫu là một tín ngưỡng nguyên thủy của người Việt thế kỉ 16 để đưa vào trong chùa. Thậm chí ngay cả đức thánh Trần Hưng Đạo cũng được vào trong ngồi chùa thờ cùng với Phật.
Cùng là thờ Phật, có chùa lại thiêng hơn...? (Ảnh: Khôi Ngô)
Hay là chuyện đi chùa thì lại cúng mặn, đốt vàng mã, thắp hương, công đức tiền lẻ bừa bãi… tất cả cũng đều bắt nguồn từ nhận thức sai lệch hoặc thiếu hiểu biết của người dân khi đến cửa Phật…
Để hiểu rõ hơn về các nghi thức cũng như nguồn gốc về các nghi thức khi tới cửa Phật làm sao cho đúng, xin mời độc giả xem tiếp kì sau: Người Việt đang "hối lộ thánh thần"?
Hoàng Nguyên (thực hiện)