My Opera is closing 1st of March

Câu đối và cách chơi chữ

Câu đối và cách chơi chữ



Câu Đối - Chơi chữ trong câu đối

Sáng tác và thưởng thức câu đối là một thú phong nhã của người Việt từ xưa đến nay. Những câu đối độc đáo và giá trị đều là những câu đối có vận dụng tài tình tiếng nói của dân tộc. Bởi vậy, chơi chữ giữ vai trò hết sức quan trọng trong câu đối. Có trên mười kiểu chơi chữ khác nhau trong câu đối xưa và nay:

1. Sử dụng chữ điệp âm đầu:

Thẳng thắn, thật thà thường thua thiệt
Lọc lừa, lươn lẹo lại lên lương

Tết tiếc túng tiền tiêu
Tính toán toan tìm tay tử tế

Cô kia còn kênh kiệu
Kỹ càng cố kén cậu căn cơ

Hội hè hòng hí hửng
Hỏi han hàng họ hẳn hay ho

Mới mẻ mừng mợ mạnh
Mỹ miều mà mở mặt môn mi

Aí ân êm ấm ấy
Ỡm ờ uốn éo ý yêu ai

2. Thay đối trật tự các chữ (hay nói ngược):

Vợ cả, vợ hai, (hai vợ) cả hai đều là vợ cả.
Thầy tu, thầy chùa, chùa thầy cứ việc thầy tu.

Câu đối của tri huyện Lê Kim Thằng và Xiển Bột:

Học trò là học trò con, tóc đỏ như son là con học trò.
Tri huyện là tri huyện Thằng, ăn nói lằng nhằng là thằng tri huyện.

3. Đưa các chữ cùng một đối tượng, một khái niệm vào trong câu đối

Tập trung các chữ chỉ mùa và hướng:

Chợ Đồng Xuân bán bánh trung thu, đông thì đông, nhưng không bán hạ
Người miền Đông làm nhà đất Bắc, Tây thì Tây, vẫn dựng kiểu Nam.

Tập trung nhiều tên cây:

Thầy Bá Bưởi đi xuống cầu Chanh, đồ đề chi mà bưng bồng kín mít.
Cô Tư hồng ở làng cầu Cậy, nhân duyên gì mà quấn quít cho cam.

Nhân một cuộc nhàn du, đến thăm ngôi chùa nọ, thấy Sư Cụ trụ trì có viết một vế đối ra cho khách thập phương tới lễ chùa rằng:

Đọc ba trăm sáu mươi quyển kinh, chẳng thần, thánh, Phật, Tiên nhưng khác tục!

Cụ Nguyễn Công Trứ cho rằng nhà tu hành có vẻ tự kiêu quá nên đã đốii lại:

Hay tám vạn nghìn tư mặc kệ, không quân, thần, phụ, tử, đếch ra người!

4. Vận dụng sự nói lái :

Khá hay, nhưng khi nói lái, nhiều từ ngữ lại mang nghĩa tục

Câu này khá thông dụng:

Con cá đối nằm trên cối đá

Đặc biệt, mỗi thành phần của hai vế đều là nói lái:

Thầy giáo tháo giầy, vấy đất vất đấy.
Thầy tu thù Tây, cạo đầu cầu đạo.

5. Vận dụng các chữ đồng âm :

Khá thú vị

Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa
Thằng mù nhìn thằng mù (bù) nhìn, thằng mù (bù) nhìn không nhìn thằng mù

Ngày nay Ngày Nay in nhà in nhà.
(Ngày Nay là tên một tờ báo của nhóm Tự Lực Văn Đoàn)

Trọng tài trọng tài vận động viên,
Vận động viên động viên trọng tài.

6. Tách chữ :

Các chữ công kênh, cồng kềnh, cóc cách, cọc cạch được tách ra ở hai vế:

Con công đi qua chùa Kênh, nó nghe tiếng cồng, nó kềnh cổ lại
Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi trúng cọc, nó cạch đến già.
(Chùa Kêng ở Bắc Ninh, kềnh là ngoảnh lại, vọng cách là cây dùng để ăn gỏi, cạch là chừa bỏ vì sợ)

Các chữ kim chỉ, vá may:

Ngựa kim ăn cỏ chỉ
Chó vá cắn thợ may

Tách tên nhân vật:

Thúy Kiều đi qua cầu, nhác thấy chàng Kim lòng đã Trọng
Trọng Thủy nhòm vào nước, thoáng nhìn nàng Mỵ mắt rơi Châu.

7. Vận dụng chữ trái nghĩa:

Câu đối của Tú Cát và Trạng Quỳnh:

Trời sinh ông Tú Cát
Đất nẻ con bọ hung
(Hán Việt, cát là tốt, hung là xấu)

8. Vận dụng cả đồng âm lẫn đồng nghĩa :

Câu đối của bà Đoàn Thị Điểm bắt bí Trạng Quỳnh:

Da trắng vỗ bì bạch
(Bì bạch là Hán Việt, đồng nghĩa với da trắng & đồng âm với từ tượng thanh bì bạch)

Rừng sâu mưa lâm thâm
Cô Miên ngủ một mình
Trời xanh màu thiên thanh

Lộc là hươu, hươu đi lộc cộc
Ngư là cá, cá lội ngắc ngư

Cốc cốc đánh mõ rình cót thóc,
Thử đêm nay chuột có cắn không

Tùng tùng hồi trống đào cây thông,
Ô cành nọ quạ không đậu được

Có một vế thách đối hóc búa, đang chờ người tài hoa:

Cha con thầy thuốc về quê, gánh một gánh hồi hương, phụ tử
(Các chữ Hán Việt hồi hương, phụ tử đồng nghĩa với về quê, cha con và đồng âm với tên hai vị thuốc bắc hồi hương, phụ tử)

9. Lấy hai câu thơ trong Truyện Kiều rồi thêm hoặc bớt một tiếng:

Câu đối dán ở cửa buồng vợ lẽ:

Khi vào dùng dằng, khi ra vội ..
Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng ..

(Bỏ hai chữ vàng và chung)

Câu đối Tết

Người Việt Nam chúng ta mỗi dịp xuân về có tục chơi câu đối Tết. Tục này không biết rõ phát sinh từ thời nào nhưng chắc chắn là cũng lâu lắm rồi. Câu đối sau đây chắc không ai trong chúng ta mà không biết:

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Nêu cao tràng pháo bánh chưng xanh

Xuân lai tăng lộc thọ
Phúc đáo vĩnh Khang Ninh

Những câu đối của Hy Văn tướng công Nguyễn Công Trứ:

Tả cảnh nghèo của một kẻ sĩ:

Tối ba mươi nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa.
Sáng mồng một rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.

Công nợ rối canh tàn, ước những mười năm dồn lại một.
Rượu chè tràn quy tị, trông cho ba bữa hóa ra mười.

Trong cảnh thanh bần, nhiều khi không đợi, không mong mà xuân vẫn cứ đến:

Duột trời ngất một cây nêu, tối bữa ba mươi ri là Tết.
Vang đất đùng ba tiếng pháo, rạng ngày mùng một rứa cũng xuân.

Bàn một chiếc lăn chiêng, mặc sức tam dương khai thái.
Nhà hai gian bỏ trống, tha hồ ngũ phúc lâm môn.

Cụ cũng giúp cho người mù, không biết màu sắc Xuân, hương vị Tết ra sao một câu đối tức cảnh:

Tối ba mươi nghe tiếng pháo Giao Thừa ờ ờ Tê't.
Sáng mùng một vấp nêu Nguyên Đán à à Xuân.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương với lời thơ lãng mạn, đã làm câu đối Tết rất trào lộng:

Tối ba mươi khép cánh càn khôn, đóng chặt lại kẻo ma vương đưa quỉ tới
Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước xuân vào.


Sưu tầm

Các bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt NamĐọc quyển Cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm

Comments

Minhcineenebo Monday, January 9, 2012 3:11:08 PM

Phép làm câu đối

(trích Thú Chơi Câu Đối của Nguyễn Văn Ngọc, 2001)



Câu đối: Câu đối là những câu văn đi đôi với nhau.

Liễn: Lối thơ, văn các câu đi đôi với nhau gọi là Liễn

Chữ "liễn" là đọc trạnh của chữ "liên" 聯 ra. Ta thường dùng chữ "liễn" để chỉ hai bức dài bằng giấy bồi, bằng vóc lụa, dưới có trục dùng để viết câu đối. Khi nói một đôi liễn, tức là chỉ một đôi câu đối viết vào giấy ấy.
Người Tàu thường dùng hai chữ doanh liên 楹聯 hay doanh thiếp 楹帖 để chỉ câu đối và nghĩa là liễn hay giấy dán cột nhà.

Vế câu đối - câu đối có hai câu, mỗi câu gọi là một vế.
Khi tự mình làm lấy cả hai câu, muốn phân biệt câu nọ với câu kia, thì gọi một vế là vế trên, một vế là vế dưới – Khi người ta làm một vế để cho mình làm vế kia, thì vế người ta làm gọi là vế ra, vế mình là vế đối.

Số chữ trong câu đối – Kể ra, thì có thể đối từ một chữ trở lên đến nhiều chữ.

Những câu đối từ một đến ba chữ gọi là câu tiểu đối.
Những câu đối năm chữ hay bảy chữ, thuộc về thể Thơ, nên gọi là câu đối thơ.
Những câu đối bốn chữ hay sáu chữ cũng là câu đối thơ, vì thơ cũng có lối tứ ngôn và lục ngôn. Nhưng những câu ấy không theo luật thơ .
Những câu đối tám chữ, thì cho thuộc về thể thơ hay thể phú cũng được.
Những câu từ chín chữ trở lên thuộc về thể phú (Song quan, cách cú) nên gọi là câu đối phú.

Câu đối thường chia làm hai đoạn, hoặc đoạn trên ngắn bốn, năm chữ, đoạn dưới dài bảy, tám chữ, hoặc đoạn trên dài bảy, tám chữ, đoạn dưới ngắn bốn, năm chữ.

Những câu đối dài có khi đến sáu bảy mươi chữ cũng thuộc về hạng câu đối phú.

Những câu đối bất cứ mấy chữ mà lấy chữ sẵn ở trong sách ra lại lấy chữ sẵn ở trong sách đối lại thì gọi là câu đối súc.


Luật bằng trắc – Cứ kể, thì đáng lẽ chữ vế trên này trắc thì chữ vế bên kia phải bằng, hay chữ vế bên này bằng, thì chữ vế bên kia phải trắc.

Những câu đối phú hoặc đoạn trên, hoặc đoạn dưới bảy chữ, thì đoạn bảy chữ ấy theo bằng, trắc như câu thơ thất ngôn.

Thí dụ :
Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại
Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi

Như hai câu đây, đoạn dưới bảy chữ là « thiên hạ đổ dồn hai mắt lại » đối với « anh hùng chỉ có một ngươi thôi » theo đúng luật bằng trắc của thơ.

Những câu đối phú chia làm nhiều đoạn, thì những chữ cuối cả bao nhiêu đoạn trên mà bằng, thì chữ cuối đoạn dưới cùng phải trắc ; trái lại những chữ cuối cả bao nhiêu đoạn trên trắc, thì chữ cuối đoạn dưới cùng phải bằng.

Thí dụ :
Đám công danh có chí thì nên : ơn làng giấy trắng, ơn vua giấy vàng ; chiếu trung đình ngất ngưởng ngồi trên, ngồi tiên chỉ đó cũng là rất đáng.
Nhờ phúc ấm sống lâu lên lão : anh cả bàn năm, anh hai bàn sáu ; đàn tiểu tử xênh xang múa trước, tranh tam đa ai khéo vẽ nên tranh.

Mỗi câu chia làm bốn đoạn. Vế trên ba chữ cuối ba đoạn trước là : nên, vàng, trên bằng, thì chữ cuối, đoạn sau cùng là đáng phải trắc ; - Vế dưới, ba chữ cuối ba đoạn trước là : lão, sáu, trước trắc, thì chữ cuối đoạn sau cùng là tranh bằng.

Những câu đối dài năm, bảy mươi chữ cũng theo luật bằng, trắc như những câu đối phú, nghĩa là những chữ cuối các đoạn có thể chấm đậu cũng phải đúng bằng đối với trắc, trắc đối với bằng.
Nhưng có khi không theo đúng như thế cũng được. Cần nhất là chữ chấm đậu trước đoạn cuối cùng thế nào cũng phải giữ cho đúng luật bằng trắc thì thôi.

Khổ độc - Khổ độc tức là đọc không được xuôi tai. Như trong một câu, chữ đáng bằng mà làm ra trắc, hay chữ đáng trắc mà làm ra bằng thế là khổ độc.

Mười mấy khoa còn gì, nhờ trời có phúc có phận
Năm mươi mấy tuổi thành tài, mừng ông càng dẻo càng dai.
Vế trên, chữ cuối đoạn trên "gì" đã bằng, vế dưới chữ cuối đoạn trên "tài" cũng bằng.


Thất luật - Câu đối, mà vế trên chữ cuối cùng đã trắc, vế dưới chữ cuối cùng lại trắc, hay vế trên chữ cuối cùng đã bằng, vế dưới chữ cuối cũng bằng, thế gọi là thất luật.
Thí dụ

Lúa tám, gặt chín tháng một
Nồi tư, mua năm quan sáu
Vế trên chữ cuối "một" đã trắc, vế dưới chữ cuối "sáu" cũng trắc.
Câu đối chính mình làm cả hai vế, thì vế trên chữ cuối cùng bao giờ cũng trắc. Cho nên câu đối treo bao giờ cũng treo vế trắc bên tay phải, mà tay phải của người đứng ở ngoài trông vào trong nhà.
Nhưng khi mình ra một vế cho người ta làm, thì chữ cuối câu trắc hay bằng cũng được.


Một câu đối hay - Một câu đối hay thì:

Tư tưởng phải cho tự nhiên,
Ý Nghĩa phải cho minh bạch,
Mạch lạc phải cho liên tiếp.

Nhưng vì câu văn đối ít chữ, cho nên một đôi câu đối hay lại cân nhất ở chữ dùng và âm hưởng các chữ ấy.

Chữ dùng trong câu đối cốt phải cho:

Chỉnh, nghĩa là đều nhau, bằng nhau,
Như chữ danh từ phải đối với danh từ : nhân đối nghĩa - hình dung từ phải đối với hình dung từ : xanh đối với vàng, hay đỏ; động từ phải đối với động từ : ăn đối với uống - phó từ phải đối với phó từ : vô cùng đối với bất trị v.v...
Cân, nghĩa là chữ nặng phải đối với chữ nặng, chữ nhẹ phải đối với chữ nhẹ cho xứng đáng.
Như sắc phải đối với sắc: trắng đối với đen, vị đối với vị : chua đối với ngọt, số đếm đối với số đếm : Năm đối với tám, chữ Nôm đối với chữ Nôm: tao đối với nó, chữ Hán đối với chữ Hán : Hạ vũ đối với Xuân lôi, thành ngữ đối với thành ngữ : sắn váy quai cồng đối với buông quần lá toạ, tục ngữ đối với tục ngữ : lắm kẻ yêu hơn nhiều người ghét đối với một câu nhịn là chín câu lành v.v...

Khi nào các cữ đối với như đối đầu hẳn được với nhau Phật đối với ma, người đối với vật, hay đối với dở, lành đối với dữ, giàu sang đối với nghèo khổ như thế thì là đối chọi nhau.

Âm hưởng các chữ dùng trong câu thì phải cho giòn, nghĩa là khi đọc lên tiếng kêu nghe sang sảng.

(trích Thú Chơi Câu Đối của Nguyễn Văn Ngọc, 2001)

Minhcineenebo Monday, January 9, 2012 3:12:16 PM

Câu đối Tết

Câu đối Tết là một trong những thể loại văn chương phổ biến nhất được làm vào dịp Tết để mừng xuân, mừng năm mới và cũng là để trang trí cho đẹp nhà đẹp cảnh xuân. Ngày xưa, Tết thiếu gì thì thiếu còn “thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ” là không thể thiếu.

Khái niệm câu đối

Câu đối là một sáng tác văn học, thuộc thể loại văn biền ngẫu gồm hai vế đối nhau, nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội.

Câu đối còn thể hiện tài trí thông minh, nhanh nhậy. thể hiện phong cách tài tử trong việc đối đáp ứng xử. Câu đối không dài, không nhiều chữ nghĩa như những bài văn bài thơ, tuy chỉ có hai vế nhưng nó vẫn thể hiện được những ý tưởng mhững quan điểm một cách rõ ràng, cô đọng và súc tích. Ngôn từ của câu đối được cân nhắc chọn lọc, âm điệu nhịp nhàng, kết cấu chặt chẽ, nhiều câu tài tình đến mức người đọc người nghe cảm thấy kỳ thú một cách bất ngờ khi nó bật ra ý tưởng mới lạ. “Văn hay chẳng lọ ngắn dài”.

Những câu đối trí tuệ tài hoa biểu lộ được những quan điểm tư tưởng đúng dắn thường được lưu truyền rộng rãi cũng giống như những câu ca dao, câu thơ hay sẽ mãi mãi trường tồn. Tóm lại câu đối không chỉ là thể loại văn học mà còn là một thể loại văn học đặc biệt và là một nét đẹp của phong tục cổ truyền của bản sắc văn hóa dân tộc.

Có thể cho rằng câu đối Việt Nam được bắt nguồn từ thực tế đời sống xã hội, bắt nguồn từ cách nói đối ngẫu tự nhiên của ngôn ngữ dân tộc. Từ những câu thành ngữ, tục ngữ ca dao trong văn học dân gian đến những câu nói quen miệng hàng ngày cũng thường hình thành những vế đối ứng tự nhiên.

Câu đối Tết

Những ngày giáp tết ở những nơi phố đông, những phiên chợ thường có những ông đồ ngồi viết câu đối thuê, như nhà thơ Vũ Đình Liên đã viết:

"Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua..."

Phần lớn câu đối tết của các nhà nho tự làm là những câu đối tức cảnh ngẫu hứng, những câu vịnh cảnh tết, cảnh nhà, cảnh mình nhưng cũng có nhiều câu chính luận thời đàm. Nhiều người nghĩ đến tình thế xã hội, nghĩ đến cuộc sống khó khăn nên đã viết những câu đối tết như:

"Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo
Nhân tình đã bạc lại bôi vôi"

"Tối ba mươi công nợ rối Canh Tân những ước mười năm dồn lại một
Sáng mồng một rượu chè say Quý Tỵ lại mong ba bữa hóa ra mười"

"Duyên với văn chương nên treo chữ;
Nợ cùng trời đất phải trồng nêu"

"Đuột trời ngất nghểu một cây nêu tối bữa ba mươi ri cũng tết;
Vang đất đì đùng ba tiếng pháo rạng ngày mồng một rứa là xuân"

"Mua pháo đốt chơi để anh em nghe có tiếng
Giật nêu đóng lại cho làng nước biết không xiêu"

Câu đối thờ viết trên giấy đỏ dán ở cột, ở cửa nhà nội dung thường bày tỏ lòng biết ơn của cháu con đối với tiên tổ:

"Tuế hữu tứ thời xuân tại thủ
Nhân ư bách hạnh hiếu vi tiên"

(Năm có bốn mùa, mở đầu bằng mùa xuân;
Người ta có trăm tính nhưng tính hiếu thảo là cần trước hết)

Ở làng trang Đông Hồ câu đối trên đã được cải biên chút ít và đưa vào bộ tranh chủ treo ở bàn thờ gia tiên, hai bên là chữ Phúc, chữ Thọ và đôi câu đối:

"Từ thời xuân tại thủ
Ngũ phúc thọ vi tiên"

Những chữ Hán được trang trí cách điệu: một bên là con rồng, một bên là con phượng trên nền giấy điểm xuyết hoa, lá, chim muông.

Những câu đối này thường kèm theo mấy chữ đại tự cũng viết trên giấy đỏ treo thành bức hoành: "Ấm hà tư nguyên" (Uống nước sông nhớ đến nguồn); "Ðức lưu quang" (Ðức chan hòa ánh sáng).

Dịp Tết còn có các câu đối tức cảnh xuân của các bậc văn hay chữ tốt, cũng được viết trên giấy đỏ treo ở cổng.

Vậy tục treo câu đối Tết có từ bao giờ? Sách xưa có kể phong tục của người dân Bách Việt, trong ngày Tết Nguyên Đán theo bùa gỗ có hình hai vị thần Thần Ðồ và Uất Lũy treo hai bên cửa ngõ. Ðó là hai vị thần sống dưới gốc đào lớn dưới núi Ðộ Sóc chuyên cai quản đàn quỷ, hễ quỷ nào "phá rào" đi làm hại dân thì thần hóa phép trừ đi. Sau này việc treo bùa gỗ "Ðào phù" được thay bằng câu đối hai bên cửa.

Ðời sống khấm khá dần, mỗi người, tùy hoàn cảnh, gửi gắm vào câu đối những ý tứ, những niềm vui cùng ước vọng vào một năm mới đang đến. Vào thế kỷ 15, thú chơi câu đối Tết đã trở nên phổ biến, khắp Kinh kỳ, từ dinh thự của quan lại tới các tư gia, đâu đâu cũng treo câu đối Tết. Lại có cả cấu đối nói về nghề nghiệp dán ở cửa hàng, cửa hiệu. Tương truyền, vào một năm, sắp tới giao thừa, vua Lê Thánh Tông ra phố phường xem dân ăn tết. Thấy một nhà không treo câu đối, vua vào hỏi, biết đó là nhà một người thợ nhuộm vợ góa, con trai đi vắng, vua bèn lấy giấy bút và viết.

"Thiên hạ thanh hoàng giai ngã thủ;
Triều đình chu tử tổng ngõ gia

(Xanh vàng thiên hạ đều tay tớ
Ðỏ tía triều đình tự cửa ta)

Cùng với chữ Hán, nhiều danh sĩ nước ta còn viết câu đối Tết bằng chữ Nôm. Ðầu thế kỷ 20, Nguyễn Khuyến (1835-1909) đã sử dụng tài tình chữ viết của dân tộc, đưa cả ca dao, tục ngữ, thành ngữ vào câu đối. Trong 67 câu đối hiện còn của cụ thì 47 câu đối Nôm. Ðây là cảnh Tết của một nhà nghèo mà lòng vân phơi phới sắc xuân khi giao thừa sắp đến:

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa
Sáng mồng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà"

Hiểu rõ vần xoay của tạo hóa, cụ ước ao:

"Có là bao, ba vạn sáu ngàn ngày, được trăm cái
Tết ước gì nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa xuân"

----------------------------------------------------------------------

Nguyên văn:

Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo
Nhân tình trắng thế lại bôi vôi
Không dưng xuân đến chi nhà tớ
Có lẽ trời mà đóng cửa ai
(Trần Tế Xương)

Duyên với giang sơn nên dán chữ
Nợ gì trời đất phải trồng nêu
(Bà Huyện Thanh Quan )

Một số câu đối Tết nổi tiếng:

Ai nấy dại vô cùng, pháo pháo nêu nêu kinh những quỷ
Ta nay nhàn bất trị, chè chè rượu rượu sướng bằng tiên
(Nguyễn Công Trứ )

Thiên hạ dại vô cùng, pháo nổ đì đùng thêm mất chó
Ông này khôn bất trị, rượu say túy lý lại nằm mèo
( Nguyễn Khuyến )

Tối ba mươi, khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỷ tới
Sáng mồng một, lỏng then tạo hoá, mở toang ra cho thiếu nữ rước Xuân vào
(Hồ Xuân Hương )

Bật cần nêu đem mới lại cho mau, già, trẻ, gái, trai đều sướng kiếp .
Dùng tiếng trúc đuổi cũ đi đã đáng, cỏ, hoa, non, nước cũng mừng Xuân
(Chiêu Hổ )

Bầu một chiếc lăn chiêng, mặc sức Tam dương khai thái
Nhà hai gian bỏ trống, tha hồ Ngũ phúc lâm môn
(Chiêu Lỳ )

Lá phướn phất ngang trời, bốn bể đều trông nêu Phật
Tiếng chuông kêu dậy đất, mười phương cùng tưởng pháo sư
(Một nhà sư đời Lý )

Doanh quan lớn gọi là Dinh , võng lọng, hèo hoa ngù giáo đỏ, quân kiệu sắp hàng đôi
(Nghè Tân )
Tiết ba mươi gọi là tết, chè lam, bánh chưng nhân đậu xanh, dưa hành đánh miếng một
( Nghè Cốc đối lại )

Minhcineenebo Monday, January 9, 2012 3:14:11 PM

Câu đối mừng

Câu đối đấu trí thử tài thường phát triển rộng rãi ở khắp mọi nơi mọi lúc. Ngày xưa những khi nhàn tả, những buổi đình đám hội hè, những lúc họp mặt bên mâm rượu, bàn trà các cụ thường đọc cho nhau nghe những câu đối hay, hoặc ra những vế xuất đối để cùng nhau nghiền ngẫm đối lại.

Lê Văn Hưu khi nhỏ đi học ở Cổ Bôn (Đông Sơn) có ghé vào lò rèn để rèn dùi đóng sách vở. Bác phó rèn biết đất Bôn vốn là tay hay chữ muốn thử tài cậu bé từng nổi tiếng "Thần đồng" nên đã ra vế đối:

"Than trong lò, lửa trong lò, sắt trong lò thổi phì phò rèn nêm dùi sắc"

Lê Văn Hưu đối lại:

"Sách trong túi, mực trong túi, bút trong túi viết lúi húi thi đỗ khôi nguyên"

Cụ cử Vương Thúc Quý là thầy dạy chữ Nho của Nguyễn Sinh Cung. Năm 1902 cậu Cung 12 tuổi, trong một một buổi học, lúc cậu Cung rót dầu vào đèn, do sơ ý để dầu đổ ra đế đèn, nhân đó Thầy Quý đã ra cho cả lớp một vế đối

"Thắp đèn lên dầu vương ra đế"

“Vương” vừa có nghĩa chảy dính vào vừa có nghĩa là vua.

“Đế” vừa có nghĩa là đế đèn vừa là hoàng đế. Trong lúc cả lớp còn suy nghĩ thì cậu Cung đã xin được đối lại:

"Cưỡi ngựa phi thẳng tấn lên đường"


Câu đối sách



Là câu đối lấy chữ nghĩa đã có sẵn trong sách hoặc lấy những điển cố, điển tích để đưa vào câu đối. Khi vế xuất đối lấy điển tích hoặc lấy chữ trong sách, trong truyện thì vế đối lại cũng phải lấy điển tích
hoặc chữ trong sách trong truyện có thể lấy trong cùng một quyển sách và cũng có thể lấy ở hai quyển, hai truyện khác nhau.


“Thúy Kiều đi qua cầu thấy bóng chàng Kim lòng đã Trọng

Trọng Thủy nhìn vào nước thoáng hình nàng Mỵ mắt sa Châu”


Hà Tôn Quyền đọc vế đối, lấy nguyên một câu trong sách “Trung Dung”:


“Quân tử ố kỳ văn chi trứ”


Có nghĩa là người quân tử rất ghét cái lòe loẹt bề ngoài, nhưng nghĩa bón lại hàm ý: Người quân tử rất ghét cái giọng văn của ông Trứ.

Nghe xong, Nguyễn Công Trứ cũng lấy luôn một câu trong sách “Trung Dung” để đối lại:

“Thánh nhân bất đắc dĩ dụng quyền”

Có nghĩa là bậc thánh nhân bất đắc dĩ mới phải dùng đến quyền lực.
Nhưng nghĩa bóng lại hàm ý là bậc thánh nhân bất đắc dĩ mới phải dùng đến ông Quyền.

Minhcineenebo Monday, January 9, 2012 3:17:22 PM

Câu đối thờ các vị nhân thần, thiên thần


Nhân thần là những vị có công lớn đối với dân, với nước khi chết được phong thần và các vị Thiên thần giáng thế:


Đức đại yên dân thiên cổ thịnh;
Công cao hộ quốc vạn niên trường

(Đức lớn giúp dân lưu muôn thuở;
Công cao giữ nước rạng ngàn thu)

Câu đối ở đền thờ Trần Hưng Đạo:

Gia hiếu tử, quốc trung thần, công liệt chiến đan thanh, ninh chỉ lưỡng hồi an xã tắc;
Văn kinh thiên, vũ bát loạn, anh linh tham khí hóa, thượng lưu chung cổ điện sơn hà”

(Làm con hiếu, làm tôi chung, công lớn chói sử xanh không chỉ hai lần yên đất nước;
Nào văn hay, nào võ giỏi, anh linh trùm cõi tục vẫn còn muôn thuở giúp non sông)

Câu đối ở đên thờ Lê Lai (Ngọc Lặc Thanh Hóa):

Lê triều hiển tích trung lương tướng;
Nam quốc phương danh thượng đẳng thần

Câu đối ở đền thờ hai cha con Đặng Dung, Đặng Tất (Cả hai cha con đều là dũng tướng chống giặc Minh thời hậu Lê)

Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ;
Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng

Câu đối ở đền thờ Nguyễn Công Trứ (Làng Đông Quách huyện Tiền Hải Thái Bình):

Đắc địa sinh từ Đông ấp nhất bách niên kỷ niệm;
Kình thiên trụ thạch Hồng Sơn thiên vạn cổ tề cao

(Đất tốt dựng đền thờ, làng Đông ấp trăm năm lưu kỷ niệm;
Trời cao xây cột đá, núi Hồng Sơn muôn thuở sánh công lao)

Câu đối Đức Ông tại chùa Thiên Phức (Còn gọi là chùa Bộc) ở Khương Thượng Đống Đa:

Động lý vô trần đại địa sơn hà lưu đống vũ;
Quang trung hóa phật tiểu thiên thế giới chuyển phong vân

(Bụi trần trong động không còn, non sông đất nước lưu rường cột;
Ánh sáng hóa thành phật cõi tiểu thiên thế giới chuyển gió mây)

Có tài liệu nói vua Quang Trung được thờ ở chùa Bộc, tượng Đức Ông chính là tượng Quang Trung, nhưng để tránh trả thù của nhà Nguyễn nên tượng và câu đối không dám đề rõ.

Câu đối ở Quốc Tử Giám:

Đông Tây Nam Bắc do tự đạo;
Công, Khanh, Phu, Sĩ xuất thử đồ

Câu đối ở đền thờ Thánh Gióng:

Phá tặc đãm hiềm tam tuế vãn
Đằng vân do hận cửu thiên đê

(Lên ba tuổi phá được giặc còn cho là muộn;
Vượt chín từng mây còn hận trời vẫn chưa cao)

Câu đối ở đền Hùng:

Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản, sông Thao non nước vẫn quay về đẩt tổ;
Văn minh đang buổi mới, con Hồng cháu Lạc giống nòi còn nhớ đến mồ ông

Hoặc:

Có tôn, có tổ, có tổ, có tôn tôn tổ tổ cũ;
Còn nước, còn non, còn nước, nước non non nước nước non nhà

Hoặc:

Thập bát đại thừa truyền Lô bích, Tản thanh đồ bản cựu;
Nhị thiên niên linh chức Âu phong, á vũ, miết đường cao


Câu đối thờ gia tiên


Thờ gia tiên trong các gia đình hoặc trong nhà thờ họ thường có những câu như:

Nhật nguyệt quang chiếu thập phương;
Tổ tông lưu thùy vạn thế

(Vầng nhật nguyệt chiếu mười phương rạng rỡ;
Đức tổ tiên lưu muôn thuở sáng ngời)

Mộc xuất thiên chi do hữu bản;
Thủy lưu vạn phái tổ tòng nguyên

(Cây sinh ngàn nhánh do từ gốc;
Nước chảy muôn nơi bởi có nguồn)

Đức thừa tiên tổ thiên niên thịnh;
Phúc ấm nhi tôn vạn đại vinh

(Tổ tiên tích đức nghìn năm thịnh;
Con cháu ơn nhờ vạn đại vinh)

Bản căn sắc thái ư hoa diệp;
Tổ khảo tinh thần tại tử tôn

(Sắc thái cội cành thế hiện ở hoa lá;
Tinh thần tiên tổ lưu lại trong cháu trong con)

Cúc dục âm thâm Đông hải đại;
Sinh thành nghĩa trong Thái ơn cao

(Ơn nuôi dưỡng sâu tựa biển Đông;
Nghĩa sinh thành cao như non Thái)
-------------------------------------------------------------

Thập bát Quận công, tam Tể tướng
Bách dư Tiến sỹ, nhị Trạng nguyên

Minhcineenebo Monday, January 9, 2012 3:18:32 PM

Câu đối tức cảnh cảm hứng


Câu đối của Cao Bá Quát:

Nhà trống ba gian một thầy một cô, một chó cái;
Học trò dăm đứa nửa người nửa ngợm nửa đười ươi

Tương truyền khi ông bị cùm gông trong ngục, ông còn có câu ngẫu hứng:

Một chiếc cùm lim chân có đế;
Ba vòng xích sắt bước thì vương

Vừa vịnh cảnh bị gông cùm vừa ngụ ý coi khinh bậc đế vương, coi đế, coi vương ở dưới chân mình.

Hoặc:

Tiền bạc của giời chung trống trải thế mới vòng khuyên sáo;
Công danh đường đất rộng kèn cựa chi cho thẹn chí tang bồng

Câu đối của một quan văn vịnh bạn là một ông quan võ. Ông quan võ chột một mắt nhưng vốn nổi tiếng dũng cảm trong các trận chiến đấu chống Pháp:

Cung kiếm ra tay thiên hạ đổ dồn hai mắt lại;
Triều đình cử mục, anh hùng chỉ có một ngươi thôi

(Ý: Tài cung kiếm đã ra tay chiến đấu thì cả thiên hạ phải trố mắt ra. Nhìn trong triều đình chỉ có mình nhà người là bậc anh hùng. Nhưng nghĩa bóng còn có ý cả triều đình chỉ có mình ông bị chột mắt, chỉ còn có một con ngươi).

Một ông bạn khác còn tặng ông quan chột hai câu thơ:

Bình tây sát tả thiếu chi người;
Ngó lại anh hùng chỉ một ngươi

Một anh nhà nho sinh phải đi đào kênh Hạc (Đông sơn Thanh Hóa). Hôm đó quan huyện cũng ra công trường thị sát. Quan nằm trên chiếc cáng, khi vén diềm màn nhìn thấy một thanh niên đang so vai rụt cổ gánh lèo tèo mấy cục đất. Quan cho gọi anh thanh niên lại mắng:

- Mày nhác nhưởi, không chịu làm việc, gồng gánh như thế thì đáng phải ăn đòn.

Anh thanh niên thưa:

- Bẩm quan lớn con là học trò, chưa quen gồng gánh xin quan lớn xá cho.

Quan là tay hay chữ nên khi nghe đên hai tiếng học trò, quan liền bảo:

- Nếu là học trò thì thử đối lại câu này. Đối được thì ta sẽ tha cho. Rồi quan đọc:

Gia công đào kênh Hạc, giang vai gánh đất cổ cò

Vế ra lấy việc đào kênh Hạc mà làm đề để vịnh cảnh anh học trò giang vai rụt cổ gánh đất và dụng ý của quan là nhân có tên Hạc là tên loài chim nên đã lấy tên một số loài chim như gia, công, hạc, giang cò để vận dụng vào câu đối. Anh nho sinh đối lại:

Cáng phượng mắc màn loan sáo rũ khách nằm kêu két két

Vế đối lại cũng vận dụng đủ năm loại chim, Phượng, loan, sáo khách két để đối lại năm loại của vế ra, vế đối vịnh cảnh quan thảnh thơi nằm trên cáng ngược với cảnh người đang lao động vất vả. Biết gặp phải tay không vừa nên quan vội biến.

Năm 1786, Lê Chiêu Thống nhờ Nguyễn Hữu Chỉnh đánh dẹp Trịnh Bồng. Bồng thua chạy. Được dịp trả thù nên Lê Chiêu Thống cho đốt phủ chúa. Còn Nguyễn Hữu Chỉnh thì cho thu chuông đồng ở các đình chùa để đúc tiền. Trước những sự việc như vậy nhiều người tỏ ý bất bình, có người đã làm câu đối tức cảnh dán ở cửa Đại Hưng:

Thiên hạ thất tự chung, chung thất nhi đỉnh an tại
Hoàng thượng phần vương phủ, phủ phần tức điện diệc không

(Thiên hạ mất chuông chùa, chuông mất hạc còn đâu nữa, Hoàng thượng thiêu phủ chúa, phủ thiêu điện cũng trơ thôi)

Ý: Chuông đã mất thì vạc là thứ tượng trưng cho vương quyền cũng không còn. Vua Lê dựa vào chúa Trịnh và chúa Trịnh cũng dựa vào vua Lê để cùng tồn tại nhưng nay vua đốt phủ chúa thì cung điện của vua cũng trơ.

Thuở thiếu thời Lê Tư Thành (sau là vua Lê Thánh Tông) một hôm đi dạo mát bên bờ sông đào vùng Tống Sơn (Thanh Hóa) thấy một cô gái xinh đẹo đang vo gạo ở bến sông. Tức cảnh sinh tình nên Hoàng tử đọc một vế đối nhưng còn bỏ lửng ở câu cuối:

Gạo trắng nước trong mến cảnh lại càng thêm mến cả…

Không ngờ cô gái dừng tay nhìn Hoàng tử rồi đáp lại cũng bằng một vế đối bỏ lửng:

Cát lầm gió bụi lo đời đâu đấy hãy lo cho…

Hoàng tử sửng sốt về tài ứng đối của cô gái xinh đẹp, sau đó mới biết tên cô gái là Ngọc Hằng, con của một vị quốc công, mẹ con bị thất thế nên về vùng này. Về sau khi được lên ngôi, Lê Thánh Tông đã lấy Ngọc Hằng làm vợ.

Sưu tầm

Minhcineenebo Monday, January 9, 2012 3:22:08 PM

Tết xưa qua những câu vè

TRẦN PHỎNG DIỀU

Vè là một thể loại văn vần dân gian, nó phản ánh cuộc sống xã hội, lịch sử... cũng như những sinh hoạt thường ngày của con người. Cũng như vậy, vè Nam bộ là một dạng văn vần tồn tại ở các địa phương Nam bộ. Nó phản ánh những việc có thật ở một địa phương cụ thể hay cả một vùng nhất định. Bên cạnh các bài Vè bánh tét, Vè trái cây, Vè làm ruộng, Vè gái hư, Vè chống Pháp... thì Vè Tết cũng được nhiều người nhắc nhớ. Trong cuốn Vè Nam bộ (1), Huỳnh Ngọc Trảng đã sưu tầm được ba bài vè Tết. Còn trong cuốn Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long (2) thì nhóm tác giả đã sưu tầm được hai bài. Qua số lượng bài như thế, cho thấy: Tết đã là một đối tượng phản ánh từ lâu của dòng văn học dân gian Nam bộ. Bởi Tết có niềm vui nhưng Tết cũng có nỗi buồn. Vui vì gia đình sum họp, trẻ em được thêm áo mới, được tiền lì xì, nhưng buồn vì Tết đến thì nợ đòi, nhà hết gạo mà Tết đã cận kề. Vì vậy, nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng đã xếp Vè Tết vào loại vè kể việc. Đặc điểm của vè Tết cũng như các vè kể việc khác là nó có tính liệt kê, giới thiệu sản vật của một vùng đất, nét sinh hoạt văn hóa dân gian ở địa phương.


Nhân đầu năm mới, chúng ta thử đọc lại bài "Vè Tết" (3) để xem người xưa chuẩn bị Tết và ăn Tết như thế nào.

Vè Tết

Hạ lợi bước qua,
Chánh ngày hăm ba,
Lễ đưa ông Táo.
Hai là lễ đáo,
Tảo mộ ông bà.
Cổ tích bày ra,
Truyền cho con cháu.
Từ ngày hăm sáu,
Dĩ chí ba mươi.
Cá thịt tốt tươi,
Ông bà tiếp rước.
Phải dùng cây trước (4),
Lấy nó làm nêu.
Thiên hạ cũng đều,
Lo chưng đồ đạc.
Sơ tam chánh ngoạt,
Canh giữ thường lai.
Quần rộng áo dài,
Ăn chơi ba bữa.
Bịt khăn sắm sửa,
Làm tuổi (5) mẹ cha.
Đèn đốt vậy mà,
Tứ cung tứ bái (6).
Trai thời giữ đạo,
Gái phải dằn lòng.
Xuân nhựt ngày đêm,
Đèn chong hương đốt.
Chơi bời mùng một,
Chí những mùng hai
Liên gia trong ngoài,
Ăn mừng năm mới.
Chữ an, chữ thới,
Dán trước hàng ba.
Phú quới vinh hoa,
Dán vô trước cửa.
Tài lợi lộc phước,
Dán trước hàng nhì.
Vạn trực duy tân,
Dán vô cửa giữa.
Dán thời phải lựa,
Cột cái định tường mà dán.
Trên trang ông Táo,
Đề chữ “Hiển Linh”.
Lấy câu “Thái Bình”,
Dán ngoài cửa ngõ.
Quần điều áo đỏ,
Quần rộng vãng lai.
Chánh ngoạt sơ khai,
Tháng Giêng duy thỉ.
Canh ba giờ tí,
Thức dậy làm gà,
Lễ vật bày ra:
Nhang, đèn, trà, nước.
Tiên sư giáng trước,
Ứng biện vô dò.
Rượu rót liên do,
Kim ngân tiếp đốt.
Giờ này thiệt tốt,
Thạnh lợi chủ gia.
Giờ đặng kế ba,
Làm ăn phú quới.


Tết là thiêng liêng, là một nét đẹp truyền thống của dân tộc. Ngày Tết, không chỉ có gia đình sum họp, mọi người quây quần bên nhau, cùng chung nhau chén rượu chung trà. Mà trên hết, Tết còn là việc hướng về tổ tiên ông bà, hướng về các vị thần, các đấng bề trên đã phù hộ độ trì cho mình được một năm mạnh khỏe, có cơm ăn áo mặc. Vì vậy, xưa cũng như nay, ngày Tết là ngày bận rộn nhất trong năm, người ta lo trang hoàng nhà cửa, quét dọn bàn ghế, chuẩn bị đồ ăn, thức cúng để chờ đón xuân sang. Do đó, ta thấy ở đoạn vè này, các tác giả dân gian đã chuẩn bị vô cùng chu đáo cho một ngày Tết. Từ việc đưa ông Táo, tảo mộ, dựng nêu, sắm sửa lễ vật... cho đến mừng tuổi, dán liễn trong nhà. Đây không chỉ là một cái Tết truyền thống của dân tộc, mà còn là một kinh nghiệm phổ biến cho con cháu đời sau- Tết đến, cần phải làm ngần ấy việc, không được bỏ sót vì đó là truyền thống. Qua đoạn vè này, chúng ta có thể hình dung được một cách tương đối toàn diện về một quang cảnh Tết xưa, trong đó có những thứ ngày nay không còn tồn tại nữa. Như tục dựng nêu chẳng hạn. Trong tâm thức dân gian thuở xưa thì ngày Tết, ma, quỷ xuất hiện rất nhiều để quấy phá con người, nên Tết đến người ta mới dựng nêu để trấn giữ tà ma, hầu mong được bình an vô sự.

Có chuẩn bị Tết, có ăn Tết, thì cũng phải có chơi Tết. Xem ra cách chơi Tết của người xưa cũng rất phong phú và đa dạng, như: đá gà, đốt pháo, đánh bài, bầu cua, làm trò trồng chuối... trong đó có những trò chơi ngày nay cũng không còn nữa, như trò chơi trồng chuối chẳng hạn. Đặc biệt, ngày xưa, dân gian cũng đã hết sức phê phán các trò chơi cờ gian, bạc lận. Họ xem đó là trò điếm đàng, là quân xỏ lá.

Năm mới thì phải ăn chơi.
Người nào thảnh thơi.
Thì chơi gà đá.
Em nhỏ chơi vòng bài pháo.
Mấy người hết áo,
Bị những bài cào.
Bắt kẻ mượn rào,
Là người say rượu.
Mấy người cố cựu,
Đặt chuyện cười chơi.
Trồng chuối ngược đời,
Trèo lên tụt xuống.

Kẻ ăn người uống,
Bánh trái thiếu chi.
Kẻ đánh cu di,
Người chơi bông vụ.
Gặp ai cũng rủ,
Là tụi ba que.
Ngồi lại một bè,
Là quân xỏ lá.
Con tôm, con cá,
Giống nó thiệt gian.
Bày ra giữa đàng,
Ai ai cũng chuộng,
Mấy tay cùng chuộng,
Cầm bạc lo loe.
Mới đặt con xe.
Xổ ra con pháo.
Thua rồi lơ láo,
Áo chẳng gài khuy.
Bước cẳng ra đi,
Cúi đầu lầm lũi.
Mấy người lớn tuổi,
Chơi chỗ thảnh thơi.
Mấy tay điếm đàng,
Chơi theo tửu quán.
Nhựt nguyệt khai tân,
Bầu kỳ hát ăn mừng năm mới.

Như vậy, từ lâu Tết đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong tâm thức dân gian. Vì lẽ đó, các sinh hoạt của lễ hội Tết không chỉ được phổ biến, truyền đạt kinh nghiệm từ đời này sang đời khác bằng phương thức truyền miệng giản đơn, mà để cho dễ nhớ, các tác giả dân gian đã đặt thành vè để cho có vần, có điệu, dễ đọc và dễ nhớ hơn. Qua bài Vè Tết này, chúng ta thấy được một bức tranh sinh hoạt về lễ Tết của Nam bộ ngày xưa. Trong đó, có cách chuẩn bị Tết, có cách ăn Tết và chơi Tết ngày xưa, cũng như có những điều thiêng liêng nhất là chuẩn bị nhang, đèn để khấn vái tổ tiên, và có cả những cái trần tục nhất, đó là cờ gian bạc lận của con người.

Ngày xuân, đọc lại bài Vè Tết xưa cũng là một hình thức “Ôn cố nhi tri tân”, ngẫm việc xưa và suy xét việc nay, âu cũng là một điều hữu ích.

T.P.D

(1) Huỳnh Ngọc Trảng: Vè Nam bộ. NXB Tp. Hồ Chí Minh- 1988.
(2) Khoa Ngữ văn Đại học Cần Thơ: Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long. NXB Giáo Dục -1999.
(3) Bài này được lấy trong cuốn Vè Nam bộ của Huỳnh Ngọc Trảng. Sđd. Tr.102-104.
(4) Trước: Trúc.
(5) Làm tuổi: Mừng tuổi.
(6) Tứ cung tứ bái: Bốn vái bốn lạy.

Minhcineenebo Wednesday, February 15, 2012 4:47:58 PM

Tân niên khai dư khánh
Giai tiết hạ trường xuân
(Năm mới bày tiệc lớn. Tiết đẹp mừng xuân dài)

Hiền giả quý vị đức
Thanh sơn sắc tự xuân
(Người hiền quý vì đức, Núi xanh sắc tự xuân)

Tết đến, rượu ngon đưa mấy chén
Xuân về, bút mới thử vài trang.
(Nguyễn Khuyến)

Có là bao, ba vạn sáu ngàn ngày, được trăm cái
Tết ước gì nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa xuân.
(Nguyễn Khuyến)

Đì đẹt ngoài sân, tràng pháo chuột
Lập lòe trên vách, bức tranh gà.
(Trần Kế Xương)

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.
Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.
(Nguyễn Công Trứ, câu đối làm vào dịp Tết lúc còn hàn vi.)

Chọc trời ngất một cây nêu, hết tối ba mươi, gì cũng hết
Vang đất đùng ba tiếng pháo, rạng ngày mồng một, thế là xuân.
(Nguyễn Công Trứ)

Phước thâm tự hải (Hạnh phúc nhiều sâu như biển)
Lộc cao như sơn (Của cải nhiều cao như núi)

Tối ba mươi khép cánh càn khôn
Ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỷ tới
Sáng mồng một, lỏng theo tạo hóa
Mở toang ra, cho thiếu nữ đón xuân vào
(Hồ Xuân Hương)

An khang phú quý thái thái bình
Bách lão bá niên trường trường thọ

Thiên tăng tuế nguyệt, nhân tăng thọ
Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường
(Trời đất gia tăng ngày tháng ví như con người mỗi năm tăng thêm tuổi thọ. Mùa xuân về đầy trong Trời Đất ví như hạnh phúc đầy nhà)

Thiên hạ xám rồi còn đốt pháo
Nhân tình bạc thế, lại bôi vôi
(Trần Tế Xương)

Nhân tăng phú quý nhân tăng thọ
Xuân mãn càn khôn phúc mãn đường
(Người thêm giàu sang, người thêm thọ. Xuân đầy trời đất, phúc đầy nhà)

Bộc trúc thanh trung nhất tuế trừ.
Xuân phong tống noãn nhập Đô Tô.
Thiên môn vạn hộ đồng đồng nhật.
Tổng bả tần đào hoán cựu phù
(Pháo trú kêu vang hết một năm. Rượu Đô Tô uống đón mừng xuân. Hơi xuân nồng hậu, muôn nhà sáng. Thẻ đào tống cựu, đón bình an).

Nhân tăng phú quý nhân tăng thọ
Xuân mãn càn khôn phúc mãn đường
(Người thêm giàu sang, người thêm thọ. Xuân đầy trời đất, phúc đầy nhà)

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.

Tân niên nạp dư khánh,
Gia tiết hiệu trường xuân
(Năm mới thừa chuyện vui, tiết đẹp Xuân còn mãi)

Xuân phong xuân vũ xuân sắc
Tân niên tân tuế tân cảnh
(Gió xuân mưa xuân sắc xuân, Năm mới tuổi mới cảnh mới)

Oanh đề bắc lý
Yến ngữ nam giao
(Chim oanh hót ở phía bắc, chin én kêu ở phía nam-ý nói báo mùa xuân về)

Sổ điểm đào hoa tri vãn tuế
Nhất hương địa bánh báo tân xuân
(Vài bông đào nở hay năm hết, một mùi hương bánh báo xuân về)

Vũ trụ thái hòa thiên ngọc bạch y thường thử hội
Kinh sư thủ thiện địa thanh danh văn vật sở đô
(Trời vũ trụ thái hòa là lúc áo xiêm ngày hội, Kinh sư ấy đất lành nơi tụ hội của văn vật muôn phương” Câu đối không hề có một chữ xuân hay nhắc đến mùa xuân mà vẫn thấy không khí xuân tràn đầy. Rõ ràng đây không chỉ là câu đối ca ngợi kinh đô Huế của triều Nguyễn mà còn là câu đối ca ngợi mùa xuân, sức xuân của mảnh đất tụ hội văn vật của cả nước).

Bách hoa thổ diễm xuân phong noãn
Vạn chúng cánh tân quốc vận xương
(Trăm hoa nhả đẹp khí xuân ấm, Vạn nhà thêm mới vận nước lên)

Tân niên hạnh phúc bình an tiến
Xuân nhật vinh hoa phú quý lai.
(Năm mới hạnh phúc bình an đến Ngày xuân vinh hoa phú quý về)

Phúc như Đông Hải
Thọ tỷ Nam Sơn.

Tết đã đến hiên nhà, Mẹ ngóng con trở lại quê Cha, Mong ngày bái tổ
Xuân chưa về xứ lạ, Con mở hội hướng về đất Mẹ, Đợi phút vinh quy

Mang văn hoá đến trời Tây, Đưa một phương ra tám hướng
Gom tinh hoa về đất Việt, Thu bốn biển lại một nhà

Xuân sang hạnh phúc bình an tới
Tết đến vinh hoa phú quý về

Đất nước phồn vinh câu chúc tết
Gia đình hòa thuận thiệp mừng xuân

Năm mới hạnh phúc bình an đến
Ngày xuân vinh hoa phú quý về

Tối ba mươi ra cửa đụng cây nêu Ủa Tết !
Sáng mồng một vào nhà nghe lời chúc Ồ Xuân !

Tiễn năm cũ qua đuổi lão Túng Tiền đến chỗ khác chơi
Đón xuân mới tới rước ông Thần Tài vào trong Nhà ở

Lộc biếc, mai vàng, xuân hạnh phúc
Đời vui, sức khoẻ, Tết an khang.

http://www.dulichtet.com/caudoi_chitiet.php?newsID=494

How to use Quote function:

  1. Select some text
  2. Click on the Quote link

Write a comment

Comment
(BBcode and HTML is turned off for anonymous user comments.)

If you can't read the words, press the small reload icon.


Smilies

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28