My Opera is closing 1st of March

Các Triết Thuyết Lớn (Bộ Sách Giới Thiệu Những Kiến Thức Thời Đại)

Tài liệu “Các triết thuyết lớn” được xuất bản trong khuôn khổ chương trình hợp tác xuất bản, được sự giúp đỡ của trung tâm văn hóa và hợp tác của đại sứ quán pháp tại nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Giới thiệu về nội dung
Cuốn sách này sẽ giới thiệu đến các bạn những nội dung chính như sau:
- Chương 1: Triết học tự tìm kiếm mình.
- Chương 2: Triết học và Kitô giáo.
- Chương 3: Lý trí chiếm lĩnh.
- Chương 4: Thời đại phê phán lý trí.
- Chương 5: Cái tuyệt đối và hệ thống.
- Chương 6: Triết học ở bên ngoài bản thân nó.
- Chương 7: Khủng hoảng của tri thức và sự sống.
- Chương 8: Tồn tại và hiện tượng.
Đây là cuốn sách được xuất bản trong khuôn khổ của chương trình hợp tác xuất bản, với sự giúp đỡ của Trung tâm Văn hóa và Hợp tác của Đại sứ quán Pháp tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chiến lược xung độtThe Future of Power (Tương lai của Quyền lực) by Joseph S. Nye, J

Comments

Minhcineenebo Wednesday, February 1, 2012 6:28:12 PM

Người dịch: Huyền Giang.
Lời nói đầu:
..nếu quả một triết học xứng với tên gọi ấy, trước hết là một sự bàn luận về cái cốt yếu; mà cái cốt yếu ấy sau đó lại phát triển và đâm nhánh như một cái cây hay nổ tan như một tên lửa nhanh hơn hoặc chậm hơn, thì một số nhỏ trong những thái độ căn bản cao thượng hẳn là sẽ điều chỉnh được con số tác phẩm nhiều vô hạn. Tiêu chuẩn triết học đích thực này đủ để làm cho mọi sự phân phát điểm số và phần thưởng là không thể được. Điều quan trọng là khôi phục lại những giai đoạn lớn của sự mạo hiểm về tư tưởng, mà không phải là lập ra một bảng danh mục, một công trình sưu tập lại hay tưởng niệm. Chúng tôi hy vọng giới thiệu được nhiều nhất những "tinh thần" khác nhau tạo nên những hạt nhân cứng của các tác phẩm, đem lại sức sống của chúng và làm cho chúng sống được đến tận những giai đoạn kéo dài sau này của chúng, những giai đoạn phổ cập nhất.
.. Chúng tôi đã tìm cách để đưa sự chú ý tới tính rõ ràng đến tận giới hạn đòi hỏi của tính phức hợp nội tại của đối tượng. Nhưng có khi cái đơn giản trở thành cái sai lầm. Vì triết học không thể hiểu được một cách dễ dàng, nên mỗi bạn đọc phải "đi vào" những tư tưởng đã trình bày mà không coi chúng như những đối tượng có thể mô tả hay kể lại từ bên ngoài. Mỗi người phải tự mình xác định năng lực tư duy để tiếp tục tiếp nhận những quan điểm triết học.

Minhcineenebo Wednesday, February 1, 2012 8:33:13 PM

Chương 1: Sự ra đời của triết học.
.. Par-mé-nide nói tới "cha đẻ" của thực thế và "cha đẻ" của cái hư vô: có thực thể, nhưng không có cái hư vô. .. nói tới sự cấu tạo thể loại triết học đúng nghĩa của nó. Đối tượng của triết học là thực thể của cái tồn tại. Bàn luận triết học tức là nói tới thực thể, chân lý triết học là sự đồng nhất của thực thể và ngôn từ. Sự lựa chọn căn bản là sự lựa chọn giữa đúng và sai, dựa vào sự đối lập giữa thực thể và hư vô.

Platon

Bài học Socrate:

Socrate tự giới thiệu mình như một người chẳng biết điều gì cả - điều này làm cho ông luôn luôn biết nhiều hơn những kẻ không biết sự ngu dốt của mình. .. Socrate chỉ muốn làm một người đỡ để cho các linh hồn ẩn chứa chân lý vĩnh hằng bị chúng quên đi... Ông không truyền một tri thức hoàn hảo nào cho một đồ đệ trống rỗng (làm như thế người ta có thể đặt cái nhìn vào đôi mắt mù! như sau này Platon nói).
..Ông chỉ muốn chỉ ra rằng một kẻ làm điều ác muốn coi điều mình đã làm như một điều thiện. Vì vậy, con người đức hạnh chính là con người đạt tới sự tuyệt vời khi muốn điều mình biết phải là điều thiện thật sự.
..Trung thành với bản chất và mục tiêu chân lý của nó, ngôn từ là cái đối lập với bạo lực. Khi không trung thành với chính nó, ngôn từ thoái hóa thành một thứ nghệ thuật hình thức (hùng biện khoa trương), hoặc biến chất thành một thứ kỹ thuật thuyết phục, một thứ vũ khí trong các quan hệ sức mạnh (ngụy biện).
.. Nếu đúng là nhà triết học và kẻ ngụy biện giống nhau như chó và chó sói, vì cả hai đều sử dụng ngôn ngữ, thì cần phải xác lập và chứng minh sự khác nhau của họ, bắt đầu bằng cách gạt bỏ những vẻ bên ngoài lừa phỉnh đi.

2. Triết học như hành trình khai tâm

.. những người chưa được khai tâm được mô tả như những tù nhân chìm đắm trong tối tăm, mãi mãi bị xiềng vào chỗ mình, coi bóng của những vật mà những kẻ làm ra uy tín giả tạo nên sau lưng họ nhờ vào ánh sáng của một đống lửa lớn, như những hiện thực tự thân. Điều khiến họ đau khổ không phải là sự thiếu thốn mà họ không biết, mà là do quá đầy những vẻ bên ngoài trực tiếp được họ tin vào một cách cuồng nghiệt.
.. nói cách khác phải có một người trung gian hòa giải. Không có người đó, anh ta không thể thoát khỏi sự ràng buộc, không thể có một sự lùi lại cần thiết và nắm bắt được sự khác nhau.
.. Nhưng cần phải đề phòng: khi quay về những hiện thực quá đột ngột, người tù vừa mới được cởi trói sẽ bị lóa mắt, bị mù lòa và chìm vào một đêm tối mới, lần này không phải vì thiếu, mà là vì có quá nhiều ánh sáng.
..Nói cụ thể, điều đó có nghĩa là trước tiên phải trải qua những môn học cơ sở để có thể học tới biện chứng.
Định nghĩa của Platon về triết học, vì thế, thật đơn giản: nó là quá trình đi tới cái chân, mà không theo một hành trình khai tâm, từ một điểm xuất phát mà không phải là thế, vì thật ra đó là điểm đi tới. Thật vậy, người tù không phải là một kẻ hoang dã hay một kẻ mù bẩm sinh, mà là một thực thể bị chế ngự.
..Mọi nhận thức trên thực tế là nhận thức lại...
..Phương pháp không thể được suy nghĩ bằng các quy tắc cơ học mà bất cứ ai cũng có thể dùng vào bất cứ cái gì. Có một khoa sư phạm về khoa học, mà không phải là khoa học về sư phạm.

3. Đi tìm cái hiện thực đích thực.

Platon gọi nó là Ý tưởng, một thuật ngữ muốn nói tới hình thức (căn bản) có thể (được linh hồn) nhìn thấy. .. không có những sự vật ngang nhau và những sự vật đúng; chỉ có cái ngang nhau tự thận mới thật sự ngang nhau, chỉ có cái đúng tự thân mới thật sự đúng.
Nhờ có Ý tưởng, người ta tự nâng mình lên cái một, mà bỏ qua muôn vẻ bề ngoài, chính là sự thống nhất của vô số, nhưng không phải là một sự trừu tượng hóa - nghĩa là được đưa ra khỏi: - những sự vật có thể cảm nhận chính là những sự vật "trừu tượng" được rút ra từ Ý tưởng.
Quá trình nâng lên tới Ý tưởng là phép biện chứng, mà Platon định nghĩa nó là nghệ thuật "hỏi và làm cho có lý".
.. Đối thoại rất phù hợp với cách thức tìm kiếm này. Nhưng hình thức bên ngoài của nó không được bị lạm dụng: nếu sự hiện diện của một đối tác thích làm vừa ý và ngoan ngoãn làm cho các thao tác được dễ hơn thì đối thoại thật sự trước hết là đối thoại của linh hồn với chính nó - điều đó được gọi là suy nghĩ.

4 Những khó khăn của ngôn từ

Ông phải chứng minh khả năng và hiện thực của một ngôn từ sai.. ông phải chứng minh rằng ngôn từ sai không phải không nói lên cái gì.. mà là nói lên cái Khác ( khác với cái đúng).
Vũ trụ được tạo nên bởi Đấng toàn năng với các vật liệu có trước (cái Giống nhau, cái Khác, cái Hỗn hợp).
..linh hồn dửng dưng với chu kỳ sống và chết.
.. nói cách khác triết học không thế là sự hiểu biết tuyệt đối về cái tuyệt đối. Nó bị buộc phải sống với một tình yêu đối với sự hiểu biết mà nó không bao giờ đạt tới được. Ngôn ngữ lý tính phải đi qua nơi chuyển tiếp để tới một cái nằm đằng sau ngôn từ: sự suy tưởng.

5 Sự tồn tại của con người

Con người sẽ không thoát được những sự giằng co bám theo nó.
..Ngay cả khi các ông vua đều là những nhà triết học và những nàh triết học đều là vua, thì những điều kiện của thế giới cũng sẽ đưa mọi ý đồ như vậy tới thất bại.
..Ý nghĩa thật sự của Cộng hòa, do đó, là ý nghĩa đạo đức. Do biết rằng có một sự tương đồng chặt chẽ giữa vũ trụ vĩ mô là quốc gia và vũ trụ vi mô là linh hồn con người ( lý trí, trái tim và các khuynh hướng đối chọi nhau) nên quốc gia đúng là khuôn mẫu của linh hồn đúng, mà con người phải thực hiện trong bản thân mình.
Nhưng làm sao một linh hồn nằm tụt vào thể xác sẽ có thể đạt tới một cuộc sống thật được? Chính ở đây, sự môi giới của cái dâm xem vào..
"ĐẠO ĐỨC" :Sự tìm kiếm cái Đẹp được thúc đẩy bởi Eros - kể môi giới giữa con người và Thượng đế.
Tính dâm của nhận thức là đặc trưng của triết học Platon: đó là một học thuyết và một phương tiện cứu rỗi,chứ không phải chỉ là một biểu hiện tư biện. Ở thế gian này, nếu nhà triết học phải thích nghi với cuộc sống pha trộn, mà vật trang sức quý báu nhất là mức độ, thì anh ta vẫn phải hi vọng được đồng hóa với Thượng đế bằng cách tự giải thoát khỏi những yếu tố thấp kém là những cái tạo thành những thức ăn cho sự bay bổng của linh hồn.




Minhcineenebo Thursday, February 2, 2012 6:59:12 AM

II- Aristote
Ông đã đóng một vai trò to lớn trong sự cấu tạo ý thức phương Tây. Ông đặt lên hàng đầu khát vọng hiểu biết, sự tìm kiếm hạnh phúc và hành động. Ông đã khởi xướng cuộc phiêu lưu của siêu hình học và sự suy nghĩ về cách tổ chức chung của những tri thức khác nhau.

1 Khát vọng hiểu biết - Tất cả mọi người đều khát khao hiểu biết một cách tự nhiên.

Vị trí ấy cho phép tạo nên một hình tháp của tri thức, được xếp theo những trình độ gián đoạn, tùy theo người ta gần gũi nhiều hơn hay ít hơn với những nguyên nhân, với cái tại sao, với nền tảng, với lí do tồn tại.

2 Sự bàn luận về hiện thực tự nhiên

..đối tượng của vật lý -cấu tạo: chất liệu và hình thức -, một sự hiểu biết lý luận, có tổ chức và nhất quán. Cái không trở thành một vẻ bên ngoài đơn giản và tàn lụi dần, vì những gì hiện lên bằng hành vi thì trước đó đã tiềm tàng, cái đó không phải là không có gì cả.
..chất liệu là nguyên lý không xác định (không quy định) một sức mạnh thuần túy của những mặt mâu thuẫn. Cái hiện có, đó là hợp chất. .. ngay trong bản thân những sinh vật đã có nguyên lý vận động.

3 Bàn luận về ngôn ngữ

Để ngôn ngữ phải nói lên thực thể mà không lẫn lộn với nó, diễn đạt rành rọt, phân biệt cái đúng cái sai .. Aristote xây dựng LOGIC bằng cách nêu lên các nguyên lý không mâu thuẫn và loại trừ yếu tố thứ ba, phân tích hoạt động của mệnh đè và nêu lên các qui tắc lập luận.
Tam đoạn luận chứng minh chân lý bằng cách thống nhất hai yếu tố bởi sự trung gian của cùng một yếu tố thứ ba. Biện chứng, trái lại, chỉ tạo ra những kết luận có thể có bằng cách đối chiếu các ý kiến trong đối thoại, còn tu từ học chỉ nhằm tới mối liên hệ sinh động với thính giả nói chung cùng với sự say mê của họ.

4 Vấn đề siêu hình - Hiện thực vật lý không phải là tất cả cái hiện thực.

Nhấn mạnh vào cái đầu tiên -> Thần học bàn về Thần thánh, Thượng đế. Nó là Nguyên Nhân cao nhất, Động Lực Thứ Nhất làm chuyển động tất cả những cái khác. Nhưng nếu cái tối cao có thể hiểu được chính là Thượng đế, đồng thời cũng là Tư tưởng tối cao, thì Thượng đế tự mình suy nghĩ, ngài là Tư tưởng của Tư tưởng. Trong điều kiện ấy, triết học là khoa học cao nhất của các khoa học mà con người không với tới được và dành riêng cho Thượng đế.

Nếu coi tính phổ quát của thực thể là cao nhất, thì khoa học cao nhất sẽ là bản thể học, hoa học về thực thể với tư cách là thực thể.

Aristote bác bỏ học thuyết về các Ý tưởng, những hình thức chuyển ngôi vị, tách khỏi cái hiện thực toàn vẹn một cách không đúng, Aristote đã nêu rõ khó khăn của triết học, nó bị giằng xé giữa ngôn từ về thực thể và thần học là cái cũng nói tới thực thể - nhưng thực thể ở đây là "một" thực thể.

5 Con người và hành động - Con người là gì? Một sinh vật toàn vẹn mà không phải là kết quả của một sự trồi lên (tự nảy ra).

Linh hồn không còn là một thực thể tách rời và đang sa ngã, nó là hình thức của thể xác mà nếu không có nó thì thể xác không phải là thể xác. Ở con người, linh hồn kiêm tất cả các chức năng: thực vật, cảm giác, trí tuệ (thụ động và chủ động, siêu việt, mang bản chất thần thánh).

Thứ nhân học này cho phép nhắc lại những vấn đề đạo đức học, chống lại Platon là người đưa ra một cái Thiện tự thân, tách biệt về căn bản, không thể với tới được.
..cái thiện như một mục đích (tương đối và tuyệt đối -> cái thiện cao nhất là Hạnh Phúc). .. dễ dàng lấy một cái thiện tương đối làm cái Thiện tuyệt đối.
Thực hiện cái Thiện bằng cách ứng xử theo lý trí, tức là bằng cách trở nên đức hạnh .. là con đẻ của "những tập quán tốt" nó tạo ra ở con người một "tự nhiên thứ hai" - như "chỗ chính giữa" của những thói tật đối kháng nhau, nhưng ko phải trung bình mà là đỉnh cao của xuất sắc tối ưu.
Vì hành vi đức hạnh hoàn toàn đáp ứng được những yêu cầu của bản chất con người, nên nó được thưởng bằng khoái cảm - không còn là mục đích tự thân.

6 Cuộc sống trong quốc gia- Con người là động vật chính trị trong Quốc gia có sự tổ chức, định chế như những tác phẩm của tự do và lý trí.

Cơ sở của Quốc gia là Công lý - nếu bao hàm một quan hệ với người khác -> đức hạnh toàn thiện - mà động lực của nó là bình đẳng - lý tưởng cao nhất là tình bằng hữu.

7 Hạnh phúc cao nhất: Phần lớn chỉ trở thành những công dân tốt, ko thể là những nhà triết học.

Hạnh phúc cao nhất chỉ được dành cho giới tinh hoa ít ỏi chuyên về hoạt động suy tưởng của tinh thần.
Hoạt động này phải được đặt lên hàng đầu, vì nó là hoạt động cho chính nó, mà không phải cho một cái gì khác như hoạt động có ích. Nó cho phép đạt tới hạnh phúc cao nhất, kèm theo một khoái cảm không thể vượt qua, tùy theo mức độ của hoạt động được triển khai.
Kết luận ấy là logic, nhưng nó đưa chúng ta tới một nghịch lý đáng kinh ngạc: khi một người đạt tới mục đích cao nhất, thì chính là đã vượt qua nó và trở thành hơn cả con người. Thật vậy, một mục đích như vậy không còn là của con người nữa, mà là của thần thánh.
Do đó, mọi cái diễn ra như thể con người là một thực thể phải hơn chính nó để là chính nó. Phải chăng con người được đo bằng cái không đo được? Cuộc sống không phải bị giằng co giữa hai thế giới tách biệt, như ở Platon, song nó sẽ không phải là cuộc sống nếu không có sự căng thẳng bên trong ấy.



Minhcineenebo Thursday, February 2, 2012 7:23:18 AM

III- Plotin

Vì ông đã phát triển một cách chặt chẽ nhất và thuần túy nhất chiều thần bí của triết học, đến mức biến nó thành một thái độ khác có tính tiêu biểu nhất trước sự bàn luận của thần học-bản thể và siêu hình học, nên Plotin còn hơn là người chủ chốt của chủ nghĩa Platon mới. Thực thể nhường vị trí thứ nhất cho một và nhường ngôn từ cho im lặng.
Đó là một triết học gắn với cái không còn là một triết học nữa.

Một (A đứng trong tập hợp A, A không phụ thuộc tập A, - nguyên lý phi giả thuyết)
Một sẽ không phải là cái hoàn hảo nhất nếu nó chỉ có một mình, nhưng nó lại không cần tới những cái nó đẻ ra.
Một không phải là Thượng đế, không phải là khuôn mẫu, là sức mạnh của tất cả, sức mạnh của nó tỏa ra khắp nơi, tỏa ra Trí tuệ, Linh hồn, Thế giới vật chất.
..Là nguyên lý của ngôn từ, nó nằm lại bên kia ngôn từ, nó thoát ra khỏi những sự kiểm soát của ngôn từ, là nguyên lý của trí tuệ, nó nằm bên trên trí tuệ vì trí tuệ không hiểu được nó.
Chúng ta chỉ còn con đường thực nghiệm thần bí mà thôi.

Nguyên lý phi giả thuyết là ngọn nguồn: Linh hồn quy phục tới Một (mảnh thần thánh) và thống nhất với nó, bị tước đi những gì không sạch sẽ, không thuần khiết. Một đi xuống tới vật chất (sự vận động diễu hành). Trong sự xuất thần, nhà hiền triết trở thành "thần".
Phép biện chứng trí tuệ đã nhường chỗ cho đời sống tâm linh. Triết học Plotin là một triết học tôn giáo nhưng ko có tôn giáo.

Minhcineenebo Thursday, February 2, 2012 8:42:08 AM

V- Triết học như nghệ thuật sống
Con người liệu có thể sống như con người và sống hạnh phúc không? (từ bỏ triết học, tôn giáo, chủ nghĩa hoài nghỉ, thái độ vô sỉ, sự thô bảo)
Có thể như vậy nếu nó chấp nhận cái vốn có, nhưng vẫn có thể xây dựng trên đó một sự sáng suốt làm cho nó sung sướng.
Chủ nghĩa khoái lạc và chủ nghĩa khắc kỷ đưa ra cho chúng ta cái cần và cái đủ - chúng là "con đẻ của sự tuyệt vọng" - chúng bỏ qua hiểu biết hay cứu rỗi, bác bỏ những ảo vọng của sự ham muốn, chúng chỉ quan tâm tới nghững hệ quả của nó, chúng làm thay đổi thái độ của chúng ta, mà ko phải là trật tự và tiến trình của thế giới.

Chủ nghĩa khoái lạc và chủ nghĩa khắc kỷ đã có một thành công vô cùng lớn ngay trước thời Cổ đại. ..triết học chỉ là một cách sống. Phần lý luận của nó chỉ còn là một phương tiện.

Chủ nghĩa khoái lạc giải thoát con người khỏi tất cả những mê tín và những nỗi sợ hãi. ..Tự nhiên như tính toàn bộ tự tại, mà tính hiện thực và những qui luật của nó là thuần túy vật chất.

Thứ chủ nghĩa duy vật ấy là một chủ nghĩa hư vô siêu hình; ở nền tảng của mọi cái, không có Thực thể cũng không có Tinh thần, mà chỉ có vật chất sơ đẳng, hỗn loạn và vô nghĩa. Con người không tồn tại như nó đang có.

..để chúng ta có thể giải thoát khỏi những sợ hãi và những giải thích hão huyền. .."sinh vật thấy thích thú trong khoái cảm và trốn bỏ đau khổ". Sự thích thú chỉ thuộc về thể xác, mà nó là hiện thực duy nhất.
Nhưng nến không có hiểu biết, chúng ta sẽ không biết được các quá trình đang diễn ra dưới những vẻ ngoài của nó và đang tạo ra đau khổ.
1) Chẳng có gì phải sợ thần thánh.
2) "Cái chết" không là gì cả.
3) Người ta có thể chịu đựng đau khổ.
4) Hạnh phúc là dễ có,

..bằng lòng với bản thân mình và với cái ít ỏi. Sự tiết độ chính là đức hạnh của nhà hiền triết, vì nó cho phép đạt tới sự bình thản, không bị bối rối, tức là cái chìa khóa của hạnh phúc.

2- Chủ nghĩa khắc kỷ.

Là nhà triết học, trước hết phải thực hiện sự lựa chọn ban đầu, quyết đinh về loại người mà người ta muốn được như thế. Từ đó, mọi cái gắn với nhau: triết học được so sánh với một quả trứng mà vỏ sẽ là logic, lòng trắng là đạo đức, và lòng đỏ là vật lý.
..Tự nhiên là tất cả cái hiện thực, ở đó mọi cái vĩnh vieecn trở về với Cái vốn thế - là sự sống của thế giới, cái có quy luật là Số phận.
Con người trong Toàn thể Lớn, sống phù hợp với Tự nhiên, trong sự hòa hợp hoàn toàn với Tự nhiên.
Chủ nghĩa khắc kỷ chính là một thứ điền kinh của đức hạnh. Đức hạnh là cái Thiện vì nó là sức mạnh.
..tội lỗi là sự yếu ớt..Mọi sự bất lực của ý chí là một điều xấu.
Đức hạnh không đem lại phần thưởng cho nhà hiền triết. Nhà hiền triết là người tự cảm thấy đầy đủ. Khi đạt được một sự hòa hợp hoàn toàn, người đó sẽ hạnh phúc. Nếu điều đó quá khó khăn, thì ít ra người ta cũng có thể biến nhà hiền triết thành một khuôn mẫu và hành vi đức hạnh thành một bổn phận, và do đó, tự đi tìm những phương tiện để bắt chước sự sáng suốt.


part 6
..châm ngôn (luật pháp) của hành động ấy có thể được nêu lên mà không mâu thuận với luật pháp phổ quát hay không..
Không hiểu được những động cơ thầm kín của mình, chúng ta không biết đã có một hành động duy nhất nào thật sự đạo đức trong thế giới này chưa..điều đó không ngăn cản phải đặt bổn phận lên mọi người có lý trí nói chung - một con người là mục đích tự thân mà không phải là phương tiện. Đó là lẽ tại sao phải hành động như thế nào, để người ta coi tính người như một mục đích và không bao giờ như một phương tiện, ở bản thân mình cũng như ở mọi người khác - điều này đã cấm đoán việc tự sát, chế độ nô lệ và mại dâm. Con người không có giá cả, nhưng nó tuyệt đối có giá trị.
Ý chí chỉ buộc phải tuân thủ luật pháp của chính mình: nó là độc lập.
Mọi người gắn kết bằng luật pháp khách quan chung, điều này tạo thành một sự ngự trị của những mục đích - tạo nên pháp chế phổ quát - là lý tưởng phải được sự tự do thực hiện.

Minhcineenebo Saturday, February 18, 2012 8:42:56 AM

Part 4

Triết Học và Ki-tô giáo

(Phật giáo có triết lý, Phật tổ như một nhà triết học, giáo lý có tính hệ thống và giải đáp nhiều câu hỏi căn bản)

Việc du nhập cái tuyệt đối của Kito giáo đã làm đảo lộn cách nhìn cổ sơ về thế giới. Kito giáo không phải là một triết học, nhưng nó đã làm biến đổi những dữ kiện, những chủ đề và chức năng của triết học.

Kito giáo không bằng lòng với việc chiếm một vị trí giữa các tôn giáo có trước đó.. Lòng tin Kito giáo được dành cho mọi người, bất kể là ai, thậm chí cả cho các nhà triết học, những người nay không còn có thể tự do bám lấy những lập trường của mình nữa.
1- Triết học bị coi là lỗi thời - giống như một thứ đạo lý tự nhiên đơn giản.
2- Triết học cũng tìm kiếm chân lý như tôn giáo đích thực..
3- Triết học trở thành nữ tỳ của nhà thần học bằng cách cung cấp vật liệu khái niệm và những hình thức logic mà nhà thần học cần đến

Những chủ đề mới - Kito giáo có những chủ đề riêng, nhưng chúng dần dần rơi vào lĩnh vực suy nghĩ chung, rồi được các nhà triết học lấy lại để hoàn thiện, nhào nặn theo cách của họ.

Thượng để là cái tuyệt đối duy nhất - chủ thể cá nhân, đấng sáng tạo, minh triết, toàn năng -> số phận bị xóa bỏ. Tự nhiên được tạo ra từ chỗ không có gì cả, ko có vật liệu nào trước đó -> ko có thần thánh -> con người có thể sử dụng và chi phối (tự nhiên - bản thân nó phải tuân theo những quy luật có thể hiểu được).
Con người được tạo ra theo hình ảnh và giống với Thượng đế - ko còn là linh hồn bị lưu đày (so sánh với Phật giáo chăng?) mà là một cá nhân riêng biệt, thể xác được hứa hẹn phục sinh, nguyên lý bình đẳng của (giữa) mọi người sẽ được khẳng định với một sức mạnh ngày càng tăng.

"Được giải thoát khỏi Số phận và khỏi thời gian chu kỳ, con người hiện ra như một thực thể LỊCH SỬ, theo một tính thời gian được định hướng, có Ý NGHĨA. TỰ DO trở thành chìa khóa của hành động với mục tiêu được cứu rỗi hay bị mất đi."

Minhcineenebo Saturday, February 18, 2012 10:15:55 AM

Một cuộc chia bài mới đã diễn ra. Toàn bộ triết học sau này bắt nguồn từ đó, dù là để chống lại Kito giáo.

I- Thành Augustin
1- Hành trình nội tâm - mọi sự tìm kiếm đều nằm ở một hành trình tâm linh mang bản chất trải nghiệm. "Không ngừng tìm kiếm cái Thiện tối thượng, tìm Thượng đế.. nhưng nó chỉ có thể làm được như vậy sau này ("Người sẽ không đi tìm ta nếu người đã tìm thấy ta rồi", Thượng đế nói).
Chừng nào một người chưa theo đạo, người đó vẫn còn ở bên ngoài Thượng đế và bên ngoài bản thân mình, vẫn còn coi phương tiện và mục đích, chẳng đi đến đâu cả. VÌ không biết tới Thượng đế, người đó không tự biết mình. .. để tự biết mình, cần phải qua Thượng đế: đó là logic của sự theo đạo.
Ký ức về hiện tại đóng vai trò quyết định - sự bừng sáng.
Nhớ tới Thượng đế, tức là đi tới sự hiện hữu đã bị quên lãng này. Nhưng sự quên lãng nằm ngay trong ký ức, và cái mà con người vừa vùi lấp đi vừa thú nhận như vậy, đó là Thượng đế và bản thân mình, như hình ảnh của Thượng đế.

2. Trí tuệ của lòng tin. - Thánh Kinh là một nguồn chân lý không thể thay thế, và lý trí thì rõ ràng là không thể thay cho Thiên khải (revelation):"Không có lòng tin, các người sẽ không hiểu được đâu".
(đây là lý trí!?) nếu ko có lý trí này, thì làm sao biết được điều mình tin vào? (nếu lý trí chỉ được quy vào những sức mạnh của nó thì chỉ tạo ra những thất bại và sự hoài nghi).
..lý trí không còn thực sự là lý trí nữa. (lý trí và lòng tin đều đến từ Thượng đế).. với sự giúp sức của lòng tin, lý trí trở lại là chính nó.
..lòng tin là một suy nghĩ có kèm theo sự đồng tình!!! nó chỉ là một hiểu biết không hoàn hảo, không chứng minh (bắt đầu có tư tưởng áp đặt từ đây? tin là tin ko thắc mắc? giáo dục áp đặt dành cho mẫu giáo? ...)
..khi chúng ta nhìn thấy được Thượng đế, chúng ta sẽ không tin nữa, mà chúng ta sẽ hiểu. Tóm lại, phải tin, nhưng là để hiểu; và phải hiểu để tin thật sự. Triết học không thể trao cho chúng ta điều bí ẩn và Thượng đế, Một trong ba Ngôi, như Kinh Thánh đã làm. Nhưng một khi triết học hiểu điều đó, nó có thể tìm thấy khắp nơi hình ảnh của Ba ngôi. Chân lý lúc đó sẽ không còn xa lạ với chúng ta nữa, và thế giới của chúng ta sẽ được hoàn toàn sáng rõ.

3- Sự tồn tại của con người trong thế giới.
Con người do Thượng đế tạo ra!
Cái ác không còn phụ thuộc vào một Nguyên lý xấu nữa (đạo thiện ác), nó không còn là hậu quả của một tất yếu bi thảm nữa (Số phận), nó cũng không còn là hậu quả tất yếu của một sự thấp kém có tính bản thể do những chất liệu không thể tạo ra được, nó là tội lỗi.
Tội lỗi là sự từ chối tặng phẩm của Thượng đế bởi sự tự do của con người, con người tưởng nó giải thoát được khỏi thân phận của nó, trong khi chính nó gây ra sự sa ngã của nó.
""Tại sao Thượng đế lại tạo ra con người tự do, nếu tự do làm cho nó bất hạnh""!!!
Cuối cùng, tội lỗi tổ tông, mà chúng ta cần phải có một vị cứu thể như Christ, lại là một "tội lỗi may mắn".
Hành trình theo nhịp bước tội lỗi, tha thức và cứu rỗi ấy tạo thành cấu trúc của thần học về lịch sử, cái khuôn của các triết học về lịch sử sau này.
Nước Trời (trong đó tình yêu Thượng đế bị đẩy tới chỗ coi thường bản thân mình)
Nước Thần Thế (trong đó tình yêu bản thân mình bị đẩy tới sự khinh thường Thượng đế)
Lý tưởng cao nhất của con người không phải là chính trị, sự cứu rỗi của nó là Thượng đế, chứ không phải ở nơi nào cả.

Thành Anselme đưa ra "bằng chứng bản thể luận" - bằng chứng căn bản của tư tưởng đi tìm cái Tuyệt đối - minh họa xuất sắc chủ để trí tuệ của lòng tin.
"..cái làm cho người ta không thể nghĩ tới cái lớn hơn được chỉ nằm trong trí tuệ hay cũng nằm cả trong hiện thực..có nghĩa là bao giờ người ta cũng có thể suy nghĩ "lớn hơn" điều người ta nghĩ ra, chừng nào sự suy nghĩ chưa đạt tới sự tồn tại tất yếu - đồng nhất với sự suy nghĩ hiện thực về cái lớn nhất. Nếu khác đi, suy nghĩ sẽ không có quan hệ gì với thực thể, và sẽ không thật sự là suy nghĩ."
"..không thể có suy nghĩ đoán chắc rằng Thượng đế không tồn tại, với cái cớ là nó nghĩ rằng Thượng đế như là không tồn tại.."
Ý tưởng về cái lớn nhất là điểm giới hạn, ở đó cái có thể nghĩ tới và cái không thể nghĩ tới, bản chất và tồn tại, lý tưởng của ý tưởng và ý tưởng, thực thể và tư tưởng, ăn khớp với nhau. Chính vì thế, như Hegel nói sau này, triết học rốt cuộc chỉ là một bằng chứng bản thể luận được phát triển trọn vẹn.

..Những luận điểm của Duns Scot về hình thức riêng biệt của mỗi cá nhân, về tự do như quyền tán thành hay bác bỏ một cách triệt để, quyền được nói có hay không đối với Thượng đế, sẽ có một ảnh hưởng quan trọng và vẫn giữ được tất cả tính thời sự của chúng. Càng không nên quên tất cả những gì mà cuộc phiêu lưu lớn của Cải cách và, khiêm nhường hơn, của giáo lý Jansen (chủ trương khắc khổ)..

II- Thành Thomas d'Aquin

Ông mở đầu một truyền thống lớn khác, đối thủ của học thuyết Augustin, mà lúc đầu đã gây ra một sự bê bối. Phải làm lại mọi cái dưới ánh sáng (bỏi) những dữ kiện mới của Kito giáo. Phương pháp và những luận điểm của thánh Thomas, bị tầm thường hóa và thường bị nhào nặn lại, đã góp phần rộng lớn vào việc xây dựng lớp đất phì nhiêu của triết học cổ điển.

1- Triết học như người nữ tỳ - bà chủ.

Ở thánh Augustin, người thấm nhuần học thuyết Platon, thế giới được tạo ra bị bao bọc trong tôn ti trật tự của những mức độ tồn tại mà chỉ có ánh sáng thần thánh mới soi sáng được.
(sự vững bền của Logos và physis (tự nhiên) )-> Thượng đế không thể tự mâu thuẫn với mình trong những sự nghiệp của ngài, và Thượng đế của lòng tin cũng là Thượng đế của lý trí.
Nhưng sự sáng tạo phải được xem xét trong bản thân nó, trong tính độc lập của nó. (có quy luật trong vương quốc Tự nhiên) -> Triết học có một lĩnh vực riên và có thể tự hoàn tất bên ngoài lòng tin. -> là một môn học nhà trường (kinh viện); có thể được giảng dạy, trở thành mục tiêu tranh luận.
Đời sống trí tuệ của phương Tây trung đại đã in dấu sâu sắc điều đó.

2- Thực thể và bản chất.
"..một trực giác ban đầu về thực thể đã có.." "..thực thể không giống nhau .. có thể loại suy (phân loại) .. trí tuệ chó mang bản chất chó, trí tuệ người mang bản chất người và trí tuệ của Thượng đế mang bản chất Thượng đế."
Sự tồn tại là một hành vi, không phải là một bản chất thêm vào, ko phải là một bản chất cấp cao.!
"Hành vi tồn tại có đặc tính ở cái nó bị thiếu"-bản chất.
Tóm lại, tất cả các thực thể đều nằm trong một quan hệ nào đó với sự tồn tại riêng của chúng, sự tồn tại này là tính thức thời của bản chất của chúng.
Học thuyết này về sự tồn tại gắn liền với học thuyết về sự sáng tạo.
(Giả sử tồn tại Thượng đế) Thượng đế sáng tạo là một kẻ đang tồn tại, một cá nhân, mà không phải là một Ý tưởng, một Nguyên lý hay một Chất. Chính vì thế Thượng đế không thể được diễn dịch, Thượng đế đang tồn tại này có thể bị phủ định,-> sự tồn tại của Thượng đế này phải là đối tượng của một sự chứng minh bằng lý trí.
Thánh Thomas đề nghị chúng ta chứng minh sự tồn tại của Thượng đế theo năm con đường:
- bằng vận động
- bằng nguyên nhân gây hậu quả
- bằng ngẫu nhiên
- bằng những mức độ tồn tại
- bằng trật tự của thế giới

Đó không phải là vấn đề về sự khởi đầu của thế giới: dù cho thế giới là vĩnh hằng và không bao giờ bắt đầu đi nữa, thì nó vẫn phải có một nguyên ủy luôn có tính tức thời.

3- Con người như cá nhân đang tồn tại.
Thomas lấy lại học thuyết Aristote coi linh hồn như hình thức của thể xác. Không có thể xác không linh hồn và linh hồn đúng là nguyên lý về tổ chức và đời sống của thể xác. -> Con người không phải là một kẻ xa lạ trong thế giới, mà nó được đặt đúng vào phạm vi của cái thể xác và cái tâm linh.
Làm thế nào tránh khỏi việc coi đỉnh cao tinh tế của linh hồn (tư tưởng) là của chung ở tất cả mọi người, do đó là phi cá nhân, và chỉ có nó là bất tử? ..nếu người ta đặt một linh hồn - hình thức riêng cho mỗi cá nhân, thì sẽ phá vỡ tính độc nhất bản chất con người. ..sự cá nhân hóa được thực hiện bằng việc cấu tạo theo chất liệu, điều này có lợi thế là chứng minh được rằng tư tưởng không thuộc về linh hồn, mà thuộc về toàn thể con người. Những phương thức hành động của nó đòi hỏi sự hóa thân để thu nhận những dữ kiện và để chiết ra những khái niệm.
Moi thực thể đều khao khát đi tới tận cùng. Sự tận cùng của con người là Thượng đế, cái Thiện tối thượng và Hạnh phúc. Những cái thiện có hạn không làm hài lòng người ta. Sự tự do của chúng ta nằm ở độ chênh giữa Thượng đế và cái có hạn ấy. Mục đích cao nhất của chúng ta không phải là đối tượng để lựa chọn, vì nó được tạo nên từ thực thể chúng ta và nó hướng dẫn sự ham muốn của chúng ta.
Cái ác nằm ở chỗ luôn luôn có thể có sự không phù hợp giữa mục đích cao nhất và những phương tiện, ở sự lẫn lộn giữa mục đích ấy và vô số những cái thiện thứ yếu, cái ác không tồn tại như một hiện thực tự thân: nó là sự phủ định cái Thiện, là cái ít thiện nhất.
Nó hoàn toàn phụ thuộc vào con người, mà con người thì lại chịu trách nhiệm về sự cứu rỗi của chính mình.

Minhcineenebo Monday, February 27, 2012 7:00:47 PM

Chương III
Lý trí chiếm lĩnh

I.- Descartes

1596.-1650. - Có ấn tượng sâu sắc về sự bừng sáng trong đêm 11/11/1619 hé lộ cho ông "những nền tảng của một khoa học tuyệt diệu",.. hoàn chỉnh phương pháp để lý trí chiến thắng trong tất cả các lĩnh vực.
Descartes đã tạo ra một sự đứt đoạn có ý nghĩa quyết định, đến mức người ta có thể nói tới một cái trước và một cái sau ông.
Nếu ông chưa xây dựng được sự nghiệp lớn mà ông kỳ vọng, thì ông cũng đã chứng minh "những điều kiện khả năng và hiện thực của khoa học thực chứng hiện đại", đã tạo nên cách nhìn của những con người hiện đại chúng ta bị ám ảnh bởi tính lý trí khoa học và kỹ thuật.

1. Một sự khởi đầu mới.
Hoài nghi ..??!! .. đối với các cảm giác, các thói quen và các định kiến không phải là mới mẻ gì. Tính độc đáo của ông là đã "tạo ra một phương pháp để khám phá ra cái hiểu nhiên".
Công thức thật đơn giản: Phải và chỉ cần làm như cái đôi khi bị nghi ngờ đã luôn luôn bị nghi ngờ. Sự hoài nghi "quá mức" giống như một chủ trương tiêu thổ.
Cái gì chống chọi được với thử thách ấy sẽ là đúng một cách hiển nhiên, và tạo thành nền tảng trên đó đặt những nền móng của tòa nhà mới.
Như vậy, người ta không những chấm dứt được sự lộn xộn mù mờ do thời Phục hưng để lại, mà còn - một cách chung hơn - chấm dứt được trạng thái ấu trĩ của đầu óc con người. Chân lý sẽ chỉ được do bằng tính hiển nhiên, và lý trí chỉ còn phải tính sổ với chính nó mà thôi.
.. Liệu chúng ta có chắc chắn, rằng một Thượng đế toàn năng đã không tạo ra chúng ta với những hình dung chẳng phù hợp với cái gì cả, hoặc một Thiên tài Láu cá đã không lừa phỉnh chúng ta?
Liệu có thể có một chân lý của chân lý, một ý nghĩ của ý nghĩ, một tính lý trí của lý trí không?

Nhưng sự hoài nghi đẻ ra phương thuốc giải nó: nếu tôi hoài nghi, nếu tôi bị đánh lừa, nếu mọi cái là sai, tất cả những điều mà tôi nghĩ đều là sai, thì tôi vẫn phải tồn tại để tư duy về điều đó.
Tôi không thể hoài nghi tư duy, dù tư duy cái gì đi nữa, vì việc sử dụng sự hoài nghi đòi hỏi như vậy. (giả thiết tạm). Dù để loại bỏ tư duy thì tôi vẫn phải tư duy. Và vì tôi tư duy nên tôi tồn tại.

2. Chủ thể tư duy. - Cái Tôi tư duy (cogito) không phải là một lập luận logic, dựa vào những nguyên lý bên ngoài: nó là sự thể nghiệm cái Tôi tự biến mình thành chủ thể tư duy (tư duy là thuộc tính duy nhất không thể tách ra khỏi tôi được: Suy tưởng II).

Sự thể nghiệm ấy là của một kẻ đang tồn tại: để tư duy thì phải tồn tại. Tôi chỉ tồn tại với tư cách thực thể tư duy, nhưng như thế cũng đủ để tôi tồn tại đầy đủ rồi. Cuối cùng, vì tôi nghĩ rằng (biết rằng) tôi đang tư duy - điều đó phân biệt tôi với tất cả những gì không thể tự mình suy nghĩ -,nên một cogito được phú cho tính suy nghĩ. Chủ thể tư duy chính là một ý thức, đó là ý thức về bản thân mình.
Việc xuất hiện một sự hiển nhiên tuyệt đối, tránh được tất cả mọi hoài nghi, cogito biểu hiện sự đồng nhất của sự xác thực (certitude) và chân lý, dưới hình thức của ý tưởng sáng rõ nhất (hiện ra với đầu óc) và khác biệt nhất (đủ sáng rõ để không bị lẫn lộn với một ý tưởng nào khác).

..Sự thể nghiệm có ý nghĩa quyết định đầu tiên của con người không phải là sự thể nghiệm về thế giới cảm giác, mà là về chính bản thân tư duy.
..Như vậy, mô hình duy nhất của chân lý - biểu hiện ở tính hiển nhiên của ý tưởng sáng rõ và khác biệt - đáp ứng với mô hình hoài nghi nhất.
Đoạn tuyệt với thực tiễn triết học thông thường, cốt để khắc sâu vào một truyền thống, làm cho di-sản sinh-sôi nảy nở, lấy lại một vận động đang diễn ra, nhà tư tưởng kiểu Descartes quét sạch tât cả những gì có trước đó, và bắt đầu tất cả với những phí tổn mới, được trang bị bằng những sức mạnh của lý trí.

3- Khoảng rộng thuần nhất.
Về mặt triết học, cách giải quyết vấn đề thật đơn giản kiểu thiên tài: tất cả những gì không được tư duy, chủ thể, ý thức, tất cả những thứ đó đều thuộc chất mở rộng, được điều tiết bởi vài quy luật đơn giản và phổ quát.
..ví dụ nung nóng một mẩu sáp thì màu sắc, mùi vị, âm thanh do nó phát ra như những hiện thực khá xác thực, thì tất cả những phẩm chất ấy đều thay đổi.
Cái vẫn không thay đổi là cái duy nhất có thể là đối tượng của khoa học, đó là khoảng rộng, nó không tự trao mình cho kinh nghiệm cảm tính và đòi hỏi một công việc đầu óc.
..Tư duy không thể trở thành đối tượng khoa học, do bản chất, nó ẩn lánh (nó không trải rộng), nhưng chính nó điều khiển mọi cái, vì nó mở ra khoảng rộng của những bề ngoài muôn hình. Vì tinh thần con người là độc nhất, nên khoa học cũng là độc nhất. Vì khoảng rộng là độc nhất, nên đối tượng nói chung của khoa học cũng là độc nhất. Đó là khuôn mẫu của cái khoa học thực chứng hiện đại. ..khoa học có một phạm vi khá xác định, có những giới hạn, những mô thức cụ thể.
Luận điểm này có những hậu quả vô cùng to lớn.
Thể xác chỉ khoảng rộng thuần túy, được hoàn toàn giao phó cho nhận thức khoa học; khi đó tư duy bị tách khỏi sự sống.
..để giải thích sự thống nhất của con người ("linh hồn và thể xác thống nhất" ) -> qua tuyến tùng, chất này tác động tới chất kia: khi linh hồn tác động tới thể xác qua tuyết tùng, người ta có một hành động, còn khi thể xác tác động tới linh hồn thì người ta có một ham mê.

4. Thượng đế.

Bảo đảm tất cả những gì chúng ta vừa nêu ra bằng cách nào? nếu Tôi tư duy đúng là sự khởi đầu của triết học, thì nó không phải là nguồn gốc theo nghĩa chặt chẽ.
Tư duy của tôi đòi hỏi sự tồn tại của tôi, nhưng nó không phải là tác giả - tôi rất có thể nghĩ rằng tôi không tồn tại một cách tất yếu.
Độ chênh gắn liền với thử thách hoài nghi ấy là do sự tồn tại, mà sự đồng nhất này xác định đúng bản chất của nó: Thượng đế.
Thượng đế chính là cái trái ngược với cái tôi: ở Thượng đế, tồn tại không có trước tư duy - nếu đó là trường hợp của tôi, thì tôi sẽ là Thượng đế, và Descartes nói đùa thêm rằng, tôi có thể chăm lo sao cho tôi được đẻ ra tốt hơn chính tôi rất nhiều.
Tuy đã được trang bị đầy đủ bằng sự gần như trùng hợp giữa tồn tại và tư duy ấy, cogito rốt cuộc cũng chỉ là một cái thay thế tạm thời cho Thượng đế mà thôi. Bây giờ phải qua Thượng đế để chứng minh chân lý một cách thật sự.

Minhcineenebo Friday, August 3, 2012 3:48:06 PM

Nhưng ý tưởng về cái vô hạn thì sao? nó không thể có nguyên nhận của nó trong tôi, vì tôi là hữu hạn và không hoàn thiện, vì thế, nó phải dựa vào một nguyên nhân vô hạn và hoàn thiện: Thượng Đế. Do đó, ý tưởng về cái vô hạn là dấu của đấng sáng tạo in trên công trình của ngài.
Thượng Đế sẽ không phải là thực thể tuyệt đối hoàn thiện mà ý tưởng về ngài đòi hỏi. Ở Thượng đế, sự tồn tại không tách khỏi bản chất.
Sự đồng nhất của bản chất và tồn tại thần thánh này làm cho Thượng đế trở thành cái bảo đảm duy nhất có thể có cho sự bền vững của trật tự thế giới.
Do đóm ngài cũng là người sáng tạo ra những chân lý vĩnh cửu.. Ngài có thể đánh lừa tôi, nhưng ngài không muốn thế.
Sự sáng tạo không được chuyển vào quá khứ, nó diễn ra trong từng khoảnh khắc: đó là học thuyết về sự sáng tạo liên tục.
.. nhà bác học nào biết được những quy luật của thế giới thì sẽ có thể tạo ra những quá trình mà Thượng đế cũng đã qua đó để tạo ra anh ta! nếu trên thực tế anh ta bị lầm lẫn (vì sự tự do của con người rộng đến mức nó vượt quá tri thức của nó), thì quyền của khoa học vẫn được bảo đảm.
Nhưng chừng nào sự tồn tại của một Thượng đế như vậy chưa được xác định, thì chẳng có gì chắc chắn cả (và như Descartes nói, vô thần không có khoa học vững chắc).

5- Dự án Descartes
Biểu hiện triết học của Descartes là 1 cái cây, mà siêu hình học là rễ cây, vật lý là thân cây, và cơ học, y học và đạo đức là các cành cây. Triết học ấy là công trình của lý trí, được phương pháp điều chỉnh.

Lương tri - hay "sức mạnh phán xét đúng" - là một vật trên thế giới được phân chia đều nhất.
Bốn châm ngôn (tính hiển nhiên, sự phân tích, sự tổng hợp, sự liệt kê đầy đủ) là một nghê thuật khám phá.
.. người ta sẽ đi từ cái đã biết đến cái chưa biết bằng cách tiền lên từng mức độ và sẽ dựng lại được cái hiện thực để hiểu chúng và để hành động.
Khoa học mang tính thực tiễn, phải đem lại lợi ích cụ thể.. đi tới chỗ làm cho chúng ta trở thành "những ông chủ và những người chiếm hữu Tự nhiên".
Chừng nào tri thức còn chưa hoàn chỉnh, chừng đó chúng ta còn phải bằng lòng với một thứ đạo đức "dự phòng" để đáp ứng với tính khẩn cấp của hành động hiện tại, và để đoán trước tương lại của sự Sáng suốt (Descartes khuyên tuân theo những phong tục tập quán của nước mình; thay đổi những ham muốn của mình hơn là thay đổi trật tự thế giới; kiên định trong những hành động của mình khi đã lựa chọn được một hướng chính xác). Để đi xa hơn, phát đạt tới chỗ làm chủ những ham mê bằng sự hiểu biết. Ở trên đỉnh cao, người ta sẽ thấy được sự Hào hiệp, đức tính cao nhất của Descartes, tức là sự tôn trọng của nhà hiền triết đối với chính mình khi đạt tới ý chí tự do, như Thượng đế. Bằng cách đó con người có thế tự nâng mình trong một sự vươn lên của tình yêu thương, mà qua những quan hệ của mình với người khác, tình yêu thương ấy cuối cùng sẽ cho phép mong muốn có được ý chí của Thượng đế.

II- Pascal

1- Vị thế của con người.
Sự tồn tại của con người là một tấn kịch gắn liền với cái chết.
Nó loại trừ mọi lối thoát và đụng tới chúng ta ở nơi quan trọng nhất: hạnh phúc hat bất hạnh vĩnh cửu ("Giữa chúng ta và địa ngục hay thiên giới, chỉ có sự sống là cái mong manh nhất thế giới")
Lý trí không thiếu tính tất yếu, nhưng nó không đủ.
Bị cô lập, bị vứt bỏ cho chính nó, lý trí chỉ có thể sai lầm mà thôi: "lý trí sẵn sàng đứng ra, nhưng nó có thể bị cuốn theo mọi hướng".
"hai điều thái quá: loại bỏ lý trí, chỉ chấp nhận có lý trí".
Phương thuốc cứu chữa là sự tuân phục - ai đã trải qua một giai đoạn nhục nhã, thì sự nhục nhã ấy cho phép phục hồi một cách khác.
Điều có lợi cho lý trí chính lá thừa nhận rằng lý trí có những giới hạn, và nó không phải là cái duy nhất nhập cuộc:"sự vận động cuối cùng của nó" là "thừa nhận có vô số sự vật vượt qua nó". "Chế giễu triết học, chính là làm triết học thật sự".

Nhưng lý trí còn phải thừa nhận có hai khả năng: Thượng đế tồn tại hay không tồn tại. Đối với ai giữ quan niệm này, sự lựa chọn trở thành sự đánh cuộc (pari). Sự đánh cuộc này không tự nguyện, vì không đánh cuộc có nghĩa là còn có thể tán thành một trong hai lời giải.
Thế nhưng, bằng cách tính toán may rủi, người ta chứng minh rằng, nếu hưởng một cuộc sống hữu hạn để đánh đổi vô số cuộc sống sung sướng nhưng phải giành lấy, thì sẽ không cò sự cân nhắc nữa. Vậy mà, người ta vẫn cứ ngập ngừng, người ta vẫn chán chường.
Nếu lý trí buộc phải tin nó nhưng người ta lại không tin, thì đó không phải là một vấn đề của lý trí. Như vậy, sự bất lực về lòng tin không phải đến từ một trở ngại lý trí, mà là từ những ham mê.
Do đó, không phải là cố gắng để "tăng thêm những bằng chứng về Thượng đế", mà để "giảm bớt những đam mê của chúng ta". Làm như vậy trước hết người ta sẽ đổi một cách sống lừa dối lấy một cuộc sống đức hạnh và sung sướng hơn. Độ chênh giữa lý trí và hiện thực cho thầy có một cái gì khác nhập cuộc. "cái nằm bên dưới trò chơi" đó là tôn giáo, nó sẽ cho chúng ta thấy điều đó.

2. Sự cùng khốn và sự lớn lao của con người.
Sự phê phán này bắt rễ từ trong thân phận con người của chúng ta, hiện ra đầy mâu thuẫn.
Khiếp sợ trước những không gian vô tận, bị ném vào một nơi nào đó và một lúc nào đó mà không biết tại sao, con người tỏ ra thật khốn khổ. Nó bị những sức mạnh lừa phỉnh lợi dụng. Những tiêu chuẩn chân lý của nó là đáng ngờ. Những đầu óc dối trá có vô số. Không thể có hạnh phúc theo những ham muốn của nó. Lúc đó nó liền phản ứng một cách tồi tệ nhất bằng cách tự cấm mình suy nghĩ bằng cách tự an ủi bằng giải trí, như cờ bạc, đi săn, chiến tranh, quyền lực, tất cả những hoạt động đẻ ra "tiếng ồn áo và sự động đậy" có thể làm cho nó sung sướng, trong khi sự giải trí lại "đến từ chỗ khác và đến từ bên ngoài" và làm cho những đệ tử của nó bị phụ thuộc.
Con người trở thành một quái vật khó hiểu - chìa khóa chỉ có thể tìm thấy ở tội tổ tông, điều duy nhất làm cho bản chất bị tổn thương của chúng ta trở thành có lý.

Ki-tô giáo, không ngược lại với lý trí (nó hiểu rất rõ con người). chính nó, và chỉ có nó, mới làm cho bản chất chúng ta với tất cả những mâu thuẫn trở thành có lý và hứa hẹn với chúng ta hạnh phúc thật sự như ân sủng của Thượng đế.

III- Leibniz

Người ta càng biết nhiều hơn, càng thấy được nhiều hơn sự khác biệt và tính muôn hình muôn vẻ của cái hiện thực hơn, thì càng đi lên tới sự thống nhất của tất cả mọi cái mà thoạt nhìn không thấy được. Leibniz là một môn đồ và một người tiên phong của hệ thống.

Thượng đế có thể làm được nhiều hơn, nhưng nếu ngài lựa chọn, ngài cũng ko thể làm gì khác hơn là lựa chọn cái tốt nhất.
Thượng đế không tạo ra trật tự có thể được trí tuệ nhận biết, vì trật tự này là năng lực trí tuệ vĩnh hằng và vô hạn của ngài. Thượng đế không tạo ra quy luật, ngài chính là quy luật, ngài là Logos tuyệt đối. Cái xuất hiện vào lúc sáng tạo ra thế giới, đó chỉ là toàn bộ những tồn tại mà không phải là vũ trụ của những bản chất.
Thượng đế tồn tại một cách tất yếu, nếu có thể được. Thượng đế không thể mâu thuẫn với bất cứ cái gì. Sự tồn tại đang diễn ra là phù hợp một cách tất yếu tới bản chất vô hạn của Thượng đế.

2. Thế giới tốt nhất trong những thế giới có thể có

Trong vô số những thế giới có thể có, Thượng đế lựa chọn thế giới tốt nhất.
.. bao gồm sự có thể cùng tồn tại. Sự hài hòa này được gọi là định sẵn, vì nó bắt nguồn từ quy luật cấu tạo..
.. chúng ta nhận thấy nhiều hỗn loại .. là cái ác
Thượng đế không muốn có cái ác, ngài chỉ muốn có trật tự.
Nhưng cách hiểu của con người về cái hiện thực là không đủ. Giống như nhìn bức tranh quá gần.
Mỗi thực thể có một bản chất riêng biệt, đều thể hiện cũng 1 Thượng đế duy nhất.

3. Phân tích và hệ thống
Những gì xẩy đến với chúng chỉ là những thuộc tính - những tính chất biểu hiện sự phát triển bản chất của chúng.
Nhưng để tránh khỏi vật chướng ngại của thuyết định mệnh, cần phải phân biệt tính tất yếu về quyền với tính tất yếu về thực tế.
Những gì thực sự đang xẩy ra vẫn chưa hết tính ngẫu nhiên, và những gì không xẩy ra vẫn không trở thành không thể có.

Thượng đế chỉ tiên đoán, ngài không quyết định. Do biết trước những lựa chọn tự do của chúng ta, ngài đưa chúng vào sự hài hòa định sẵn.
Mỗi người chỉ là một quan điểm riêng về cái toàn thể, vì nó nằm vào một chỗ giao nhau riêng của không gian và thời gian. Vì thế mà có ngu dốt và sai lầm.

IV - Spinoza

1- Phương pháp triết học

Đối với Spinoza, cách sử dụng lý trí không quan trọng, mà quan trọng là cải cách năng lực trí tuệ (réforme de l'entendement)


Minhcineenebo Friday, August 3, 2012 4:06:04 PM

Cái gọi là phương pháp chỉ là sự phản ảnh ý tưởng vào chính nó, là ý tưởng của ý tưởng. Chính vì thế triết học là nhận thức phản ảnh. Nó hiện ra bằng cách tự thực hiện: bằng cách triết lý.

2. Cái hiện thực như Cái tự nó.

Chả có cái gì khác ngoài nó cả. Nó tuyệt đối là cái nó đang có trong sự đồng nhất giữa bản chất và tồn tại của nó. Cũng ko cần phải phân biệt hiện tượng với thực thể tự thân.
Cái hiện thực toàn bộ là Cái tự nó đang tồn tại và được nhận biết trong cùng một sự vận động. Cái người ta gọi là Thượng đế, đó là cái tự nó. Thượng đế chẳng phải là cái gì khác với Tự nhiên duy nhất, vô hạn, tích cực.

- part 5 -

How to use Quote function:

  1. Select some text
  2. Click on the Quote link

Write a comment

Comment
(BBcode and HTML is turned off for anonymous user comments.)

If you can't read the words, press the small reload icon.


Smilies

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28