100 CUỐN SÁCH ẢNH HƯỞNG KHẮP THẾ GIỚI
Sunday, July 15, 2012 6:54:32 AM
Dịch từ nguyên bản Hoa văn
"Ảnh hưởng thế giới đích nhất bách bản thư"
do Nhà xuất bản "Quảng Tây nhân dân" ấn hành năm 1995
Nhà xuất bản hội nhà văn, Hà Nội 2002.
KINH THÁNH - Trang 351
Cuốn sách lưu truyền rộng rãi nhất trên thế giới - (.. trải qua sự chỉnh lý không ngừng ..)
.. Kinh điển mà tôn giáo tín ngưỡng dựa vào chính là Kinh Thánh. Cơ đốc giáo hình thành tại đế quốc La Mã vào thế kỷ I đến thế kỷ II. Nguyên tắc bình đẳng mà Cơ đốc giáo tuyên truyền thời kỳ đầu có ảnh hưởng sâu rộng trong dân chúng tầng lớp dưới và cũng có tác dụng nhất định, phản đối sự thống trị của La Mã, tư tưởng "Chúa Cứu Thế" và tin lành từ Thượng đế được tuyên truyền trong Kinh Thánh khiến cho những người không có gì giúp đỡ biết cậy nhờ và hướng về tinh thần. Ở Châu Âu thời Trung thế kỷ, câu từ của Kinh Thánh luôn có quyền uy pháp luật tại tòa án các cấp vì vậy kẻ thống trị phản động của các thời đại đều lợi dụng Kinh Thánh làm công cụ thống trị của mình. Tư tưởng của Kinh Thánh có các liên hệ nội tại với tư tưởng triết học duy tâm chủ nghĩa, nhưng Kinh Thánh không phải chịu trách nhiệm về những việc ấy. Trên thực tế, nếu xét về quan điểm văn học, Cựu ước là sự tập hợp gom góp di sản văn học của dân tộc Heb-rơ từ thời đại bộ lạc đến năm 586 trước Công nguyên sau khi nước Do Thái bị Babilon tiêu diệt rơi vào cảnh "từ phạm của Babilon". Cái có giá trị văn học nhất là Nhã ca, nó được tạo nên bởi tám bài thơ trữ tình, có thể sánh ngang với thơ tình yêu trong Thi kinh. Quốc phong của Trung Quốc mà tình cảm của nhân vật chính trong Nhã ca thì hừng hực và sôi nổi hơn...
..nhiều sách khác là tiểu thuyết lịch sử hoặc tác phẩm văn học kiểu tiên tri khá nổi tiếng trong Kinh Thánh. Rất nhiều đề tài của Kinh Thánh có ảnh hưởng to lớn đối với văn học Châu Âu, do đó có ảnh hưởng đến ý thức xã hội, quan niệm thẩm mỹ, phương thức sinh sống của nhân dân các nước châu Âu. Rất nhiêu nhân tài văn học đã lấy đề bài, rút ra tình cảm từ Kinh Thánh sáng tác ra nhiều tác phẩm truyền đời..
.. Tóm lại, ảnh hưởng của Kinh Thánh đối với văn hóa phương Tây là vô cùng sâu rộng và toàn diện, không chỉ trong phương diện tôn giáo tín ngưỡng mà còn trên các mặt văn hóa, nghệ thuật tạo hình, âm nhạc, kiến trúc, thậm chí ẩm thực, đồ dùng gia đình, .. không gì không chịu ảnh hưởng của nó. .. cái cảm nhận được không chỉ là không khí tôn giáo mà hơn nữa là một hình thái văn hóa.












Minhcineenebo # Sunday, July 15, 2012 6:56:36 AM
của Ludwig Feuerbach (1804-1872)
"Bí mật của thần học chính là nhân bản học"
Thập niên 30-40 của thế kỷ XIX là thập niên mà kinh tế tư bản chủ nghĩa của nước Đức phát triển nhanh chóng, điều kiện cách mạng của giai cấp tư sản dần dần chín muồi và nổ ra cách mạng vào năm 1848, cũng là thập niên mà lĩnh vực tư tưởng văn hóa xảy ra sự biển đổi chưa từng thấy. Sự thống trị chuyên chế phong kiến của quốc vương nước Phổ đã khiến chính trị trở thành lĩnh vực gai góc mọc thành bụi, đấu tranh đã áp dụng hình thực triết học và tôn giáo. Là con đẻ của thời đại này, Feuerbach coi tôn giáo là chủ đề trong các tác phẩm của cả cuộc đời mình, tích cực tham gia đấu tranh trong lĩnh vực tư tưởng. Năm 1835 việc xuất bản tác phẩm Truyện Ki Tô của Strauss đã dẫn đến sự giải thể của học phát Hegel.
Năm 1837 Feuerbach nhận lời mời viết bài cho tập san "Niên giám Halay" của phái Hegel. Từ cuối thập niên 30 đến cuối thập niên 40, ông công bố một loạt những tác phẩm và luận văn phê phán triết học duy tâm chủ nghĩa của Hegel, phê phán tôn giáo, trình bày triết học duy vật chủ nghĩa nhân bản học và triết học tôn giáo của mình, đồng thời nảy sinh ảnh hưởng sâu sắc rộng rãi. Đặc biệt là cuốn Bản chất Cơ đốc giáo có vai trò to lớn đối với sự giải phóng tư tưởng con người đương thời, người ta kinh ngạc nói rằng tác phẩm của ông sẽ làm cho "quan hệ xã hội của toàn bộ giáo hội đều sắp sụp đổ".
..
Chính văn của Bản chất Cơ đốc giáo chia làm hai phần lớn. Phần đầu trình bày chính diện bản chất của Cơ đốc giáo, phân sau thông qua việc phê phán giáo lý thần học của Cơ đốc giáo, phần sau thông qua việc phê phán giáo lý thần học của Cơ đốc giáo, nói rõ bản chất của đối tượng nghiên cứu từ phản diện. Tư tưởng trung tâm của toàn cuốn sách là: Bí mật của thần học chính là nhân bản học.
Triết học nhân bản học là cơ sở lý luận để Feuerbach phê phán tôn giáo và thần học. Những người mà ông nói là người có xương có thịt, là sự tồn tại cảm tính nhất, chân thực nhất, hiện thực nhất. "Không có xương thịt, cơ thể coi như không có. Xương thịt chính là tính mạng, mà chỉ có tính mạng mới là tính hiện thực của cơ thể". Bất luận sự ra đời của cơ thể người hay cuộc sống tinh thần của con người đều cần phải lấy sự tồn tại của nam và nữ, anh và tôi làm cơ sở. Quan hệ giữa con người và tự nhiên là: Tự nhiên là cơ sở để con người sinh tồn, con người có thể tồn tại quy về tự nhiên. Nhưng con người có thể trở thành người thì quy về người. Vì thế xét về mặt thời gian, tự nhiên là cái thứ nhất, con người là cái thứ hai; nhưng xét về vị trí thì con người là cái thứ nhất, tự nhiên lại là cái thứ hai.
Con người giống như động vật đều là sản vật của tự nhiên phát triển đến một giai đoạn nhất định. Sự khác biệt giữa người và động vật là ở chỗ người không chỉ có cuộc sống bên ngoài, còn có cuộc sống bên trong, tức cuộc sống tinh thần, tức cuộc sống mà có thể con người nảy sinh quan hệ với loài của anh ta, còn động vật chỉ có cuộc sống bên ngoài đơn nhất tức là hoạt động sinh tồn. Con người có lý tính, ý chí và cái tâm (tình cảm), do đó tự nhiên và các sinh vật khác của tự nhiên chỉ có sinh sôi, còn con người thì có thể chế tạo. Chế tạo là một khái niệm chân tính và căn bản của con người. [không giải thích được các kết quả nghiên cứu trên loài vật]
Tất cả các tôn giáo đều do con người sáng tạo. Không phải Thượng đế dựa vào hình tượng của mình rồi sáng tạo ra con người, mà con người dựa vào hình tượng của mình sáng tạo ra Thượng đế. Tôn giáo ra đời do thực tiễn của con người tức nhu cầu chủ quan, là ý thức của con người đối với quan hệ giữa mình với tự nhiên, đối với quan hệ giữa cá thể và chủng loại, tức sản vật ý thức được sự nương tựa của con người đối với chúng, đồng thời mong muốn thoát khỏi sự nương tựa này. Con người là điểm mở đầu, điểm trung tâm và điểm kết thúc của tôn giáo.
Vì vậy, đối tượng của tôn giáo tồn tại trong con người. "Tôn giáo - chí ít là Cơ đốc giáo, chính là quan hệ của con người đối với bản thân, hoặc nói chuẩn xác hơn một chút, chính là quan hệ của con người đối với bản chất của mình. Có điều anh, anh ta đối đãi với bản chất của mình như một bản chất khác, còn nói trong tôn giáo, con người nhờ vào sức ảo tưởng, sự tưởng tượng, trừu tượng hóa, đối tượng hóa, độc lập hóa, thần hóa bản chất của mình, trở thành một thực thể độc lập tự tồn tại khác với mình, chi phối, điều khiển, nô dịch mình, tiếp đó gọi nó là thần Thượng đế. Có thể thấy thần Thượng đế là hình ảnh của con người, là sự dị hóa bản chất con người. COn người vốn là cái thứ nhất, là nguyên bản, Thượng đế là cái thứ hai, là abnr mẫu. Nhưng Thần học Cơ đốc giáo lại đảo lộn lên. The nó Thượng đế là cái thứ nhất, con người là cái thứ hai. Thần học Cơ đốc giáo là thế giới quan đảo lộn, là nhân bản học lộn ngược".
Feuerbach chỉ ra thêm một bước rằng, thần, Thượng đế do con người sáng tạo ra tịnh không hề tồn tại thật sự. Nhưng giáo hội và thần học lại ra sức làm cho tín đồ tin tưởng nó tồn tại thật sự, có thể ban cho con người hạnh phúc hoặc khiến anh ta gặp tai họa. Vì thế, tìn ngưỡng, ký tích tín ngưỡng đã trở thành nhân tố tất yếu hoặc nội dung quan trọng của tôn giáo. Làm gì có sự mở đầu của tôn giáo, cũng làm gì có sự mở đầu của tín ngưỡng, kỳ tích. Cái gọi là ký tích chính là một nguyện vọng của chủ nghĩa siêu tự nhiên bị hiện thực. Con người không thể trường sinh bất tử nhưng có thể khỏe mạnh trường thọ. Bất tử chính là nguyện vọng của chủ nghĩa siêu tự nhiên.
[Tiến hóa hay tạo hóa: vì sao những người trong kinh thánh có tuổi như vậy mà ko nhiều hơn hay ít hơn? Thượng đế phải biết về việc giao phối cận huyết làm giảm tuổi thọ - giả sử Adam Eva sống mãi, rồi cũng tới lúc con cháu giao phối cận huyết, dù không ăn trái cấm thì loài người cũng dần diệt vong? và nếu về sau giao phối xa huyết thống cũng ko làm cải thiện tuổi thọ - tức là không thể nào rửa sạch tội, vậy thì số tội càng tăng thì càng nhiều khổ đau, tuổi thọ càng giảm mới đúng chứ?]
Nhưng sự toàn trí, toàn năng, cái gì cũng biết của Thượng đế đã đáp ứng được nguyện vọng này của chủ nghĩa siêu tự nhiên. Kỳ tích dựa vào cái gì để gắn bó? Dựa vào tín ngưỡng. "Đối với tín ngưỡng, khong có chuyện gì là không thể; kỳ tích chỉ là thực hiện tín ngưỡng, mọi thứ rõ ràng minh bạch ở đó cũng sẽ biến mất trong đám sương mù của áo tưởng và tâm tình. Thế giới, hiện thực không phải là chân lý thì không phải là thế giới, hiện thực thật sự".
Feuerbach còn phân tích, phê phán cụ thể giáo lý Cơ đốc giáo và thần học, vạch trần vai trò tiêu cực của Cơ đốc giáo đối với con người và đời sống xã hội loài người. Ông chỉ ra, thuyết sáng thế của Cơ đốc giáo là sáng tạo ra thế giới từ chỗ không có gì, tức là bịa đặt hoàn toàn. Đây là một trong những kỳ tích lớn nhất được Cơ đốc giáo tuyên dương, là biểu hiện lộ liễu nhất của chủ quan tùy hứng. Thuyết sáng thế là không tạo ra có này cực kỳ mâu thuẫn với giới tự nhiên tồn tại chân thực khách quan. "Muốn đồng thời tín thờ tự nhiên và tôn giáo sẽ là sự giả dối đáng thương và buồn cười biết bao!". Cũng như thế, các chứng minh của Thần học Cơ đốc giáo về sự tồn tại của Thượng đế cũng không thể thành lập được. Sự chứng minh luận bản thể là sự chứng minh cơ bản nhằm khẳng định Thượng đế tồn tại. Nhưng từ sự tồn tại của quan niệm suy luận ra sự tồn tại của hiện thực vừa vặn biểu thị rõ thực chất duy tâm chủ nghĩa của sự chứng minh này. Cơ đốc giáo là tôn giáo duy tâm chủ nghĩa. Còn Gia tô Cơ đốc là sự thuyết giáo của thần nhân tức vừa có tính thần, vừa có tính người, là sự thuyết giáo của loài người, tức là vừa là cá thể vừa là chủng loại cùng với các nội dung của thuyết Cơ đốc như là một thể ba ngôi phục sinh và sự ra đời của siêu tự nhiên .. cũng là kỳ tích lớn nhất mà Cơ đốc giáo tuyên dương, là một số sự việc khó tin nhất, bất hợp lý nhất và không đáng tin cậy nhất.
Feuerbach chỉ ra một cách sắc bén, Cơ đốc giáo khiến người ta hy sinh cái yêu đối với con người, vì cái yêu đối với Thượng đế, hy sinh mọi thứ của con người. Thượng đế ngày càng giàu có, còn con người ngày càng tận cùng. Cơ đốc giáo không có chuyện tế người máu chảy ròng ròng; nhưng nó có việc tế tinh thần người rất tàn khốc. Tôn giáo cuồng nhiệt bức hại kẻ bất tín, dị đoan, dị giáo đồ khiến cho nhân gian tràn đầy những bất hạnh và tai nạn. Cơ đốc giáo là cảnh sát về mặt tinh thần, nó cầm cố tư tưởng của con người, bóp chết sự tự do của con người, cản trở sự phát triển và tiến bộ của khoa học. [ở các nước có Quốc đạo mạnh, chi phối chính trị, thì đều có biểu hiện tương tự]
Thượng đế là chúa tể cao nhất của thế giới. Cơ đốc giáo và cả thế giới nước trời, quân chủ chuyên chế là kẻ thống trị cao nhất của thế giới thế tục hoặc thế giới nhân gian. Một số nhà chính trị của thế giới thế tục "coi tôn giáo là thủ đoạn đắc sách nhất để chinh phục và áp bức con người". [Trình độ lao động sản xuất trong kinh thánh thế nào? có tiến bộ không? điều gì đảm bảo cho việc tiến bộ của xã hội hiện đại?]
Thế nhưng, mục đích và giá trị của con người chính là bản thân con người. Triết học nhân bản cho rằng tình yêu của con người đối với người là tình yêu nguyên thủy nhất, căn bản nhất của con người, là nguyên tắc căn bản nhất và đứng hàng đầu trên thực tiễn của con người. Vì vậy càn phải dùng tình yêu của con người đối với con người, tức tôn giáo của tình yêu thay thế tình yêu của con người đối với Thượng đế, tức cái gọi là Cơ đốc giáo yêu con người [Hội thánh Tin lành xây dựng tình yêu thương thật giữa những con người với nhau, dựa trên sự thành thật khi đứng trước Chúa?]
Feuerbach chỉ ra, mục đích phê phán tôn giáo suốt đời của ông chính là muốn dùng ngọn đuốc lý tính soi sáng sự tối tăm của tôn giao, phải phóng con người ra khỏi vũng bùn tôn giáo mà họ lâm vào; từ kẻ yêu thần biến thành kẻ yêu người; từ kẻ tín ngưỡng cuộc sống nước trời biến thành kẻ theo đuổi hạnh phúc của cuộc sống trần thế. Sự phê phán tôn giáo của Feuerbach cũng có đặc trung của chủ nghĩa khải mông cận đại, có ý nghĩa và vị trí lịch sử tương ứng. Nhưng hạn chế của thuyết duy tâm lịch sử của học thuyết về con người đã quyết định việc phê phán tôn giáo của Feuerbach có tính hạn chế lịch sử không thể tránh khỏi. Tôn giáo của tình yêu của ông là kiến giải phi khoa học. [
Bản chất Cơ đốc giáo là tác phẩm khiến Feuerbach trở thành nhân vật vạch thời đại. Marx, Engels đã khẳng định rõ ý nghĩa và vai trò của nó, đồng thời cũng phê bình mặt tiêu cực của nó, đặc biệt là bác bỏ và đấu tranh gay gắt đối với những người theo chủ nghĩa xã hội chân chính của nước Đức thập niên 40 của thế kỷ XIX chịu ảnh hướng của nó đã biến chủ nghĩa cộng sản thành lời nói mê của tôn giáo của tình yêu.
Minhcineenebo # Monday, July 16, 2012 6:46:05 AM
Một nhánh di chuyển theo ngả Ấn Độ, dừng lại ở châu thổ sông Hồng, và lập ra nền văn hóa Hòa Bình (20.000 – 5.000 năm TCN). Từ đây, họ di cư lên phương Bắc, đến tận sông Dương Tử, ra tận biển, định cư ở các đảo Đài Loan, Nam Dương, Mã Lai.
GS Kim Định