My Opera is closing 1st of March

Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989

Tên sách: Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989: Nhật ký thời bao cấp

Tác giả: Đặng Ph ong

Số trang: 476 trang

Khổ sách: 16 x 24 cm

Giá bìa: 80.000 VNĐ

Tủ sách Việt Nam đương đại

NHÂN ĐỌC CUỐN “TƯ DUY KINH TẾ VIỆT NAM”

GS. TRẦN PHƯƠNG*

Lịch sử kinh tế Việt Nam có một thời “rối như canh hẹ” - thời đó, kinh tế Việt Nam sa vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, cũng là thời kỳ khủng hoảng trầm trọng về lý luận và chính sách kinh tế. Đó là khoảng thời gian 15 năm sau ngày giải phóng miền Nam. Tác giả Đặng Phong đã lấy thời kỳ này làm đối tượng nghiên cứu và đặt tên cho công trình của mình là Tư duy kinh tế Việt Nam. Đối với giới nghiên cứu kinh tế, chỉ riêng việc chấp nhận một đối tượng nghiên cứu phức tạp và gai góc như vậy đã là điều “đáng nể”! Và không chỉ như vậy. Với tác phong khoa học nghiêm túc, tác giả đã dày công “đào bới” đến ngọn nguồn của các sự kiện nhằm tái hiện lịch sử một cách trung thực nhất.

Một công trình nghiên cứu lịch sử dù công phu đến mấy cũng không tránh khỏi để lại những “góc khuất”, những “góc mờ”. Có nhiều lý do, trong đó có những lý do liên quan đến các nhân vật lịch sử. Các nhân vật lịch sử bao giờ cũng là những nhân vật “đa diện”. Chúng ta biết một Lê Duẩn với ý tưởng táo bạo về “bước đi ban đầu”, về không gian phát triển cho kinh tế tư nhân ở miền Nam sau ngày giải phóng. Nhưng chúng ta cũng lại biết một Lê Duẩn - nhà cách mạng kiên định của Quốc tế Cộng sản từ những năm 20 của thế kỷ trước, người đã ký vào bản Tuyên ngôn 81 Đảng tại Moscow năm 1960. Nếu ta theo dõi Lê Duẩn qua các quyết sách chiến lược của ông thì càng thấy Lê Duẩn là một nhân vật “đa diện” như thế nào. Không thể đơn giản lấy một Lê Duẩn này để giải thích cho một Lê Duẩn kia, lấy một Lê Duẩn này để đối chọi với một Lê Duẩn kia! Phải chăng những “góc khuất” của lịch sử có thể tìm hiểu theo hướng như thế?

*

Chủ đề mà tác giả Đặng Phong nghiên cứu là Cuộc khủng hoảng về lý luận và chính sách kinh tế ở nước ta trong khoảng thời gian 15 năm từ 1975 đến 1989. Thực ra, chủ đề này có tầm không gian và thời gian rộng lớn hơn nhiều. Nó có tầm quốc tế. Đặt Việt Nam trong khung cảnh quốc tế, sẽ thấy Việt Nam càng rõ hơn.

Chủ nghĩa xã hội – với ý nghĩa là một xã hội không có chế độ người bóc lột người, không có chế độ người áp bức người, một xã hội trong đó mọi người đều sống tự do, bình đẳng, bác ái – một xã hội như thế không chỉ là mục tiêu lý tưởng của những người cộng sản, mà còn là mơ ước cao đẹp của cả loài người.

Một thế kỷ nay, hàng trăm triệu người đã dấn thân cho mục tiêu cao đẹp đó. Đã có nhiều thử nghiệm thành công. Cũng có nhiều thử nghiệm thất bại. Đã xuất hiện nhiều quan điểm, phe phái: phái Bonsevic và phái Mensevic ở Nga, phái “Chủ nghĩa xã hội nhân đạo” ở Hungari, thuyết “Chủ nghĩa xã hội thị trường” ở Tiệp Khắc, Ba Lan, Trung Quốc, Liên Xô, v.v…

Năm 1960, dựa trên kinh nghiệm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (cho đến thời điểm đó), 81 Đảng Cộng sản và công nhân họp tại Moscow đã đi đến kết luận về một Cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những điểm chủ yếu của Cương lĩnh đó là:

- Phát triển kinh tế một cách có kế hoạch,

- Lập chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất,

- Cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh,

- Tập thể hoá nông nghiệp,

- Thu hẹp, tiến tới xoá bỏ thị trường tự do,

- v.v…

Năm 1960 cũng là năm nước ta bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Xây dựng bằng cách nào? Dường như lịch sử đã chuẩn bị sẵn cho ta một túi “bửu bối”, cứ tuần tự đem ra mà thực thi, ắt đi tới thành công.

Điều trớ trêu là ở chỗ: mới chỉ đem ra thực thi vài ba năm đã thấy xuất hiện ngổn ngang những mâu thuẫn không sao xử lý được. Một bảng giá chỉ đạo của Nhà nước được các nhà khoa học thiết kế rất công phu, nhưng đưa ra cho nông dân thì nông dân quay lưng đi! Với bảng giá đó, khi mua thì Nhà nước mua như cướp, mà khi bán thì Nhà nước bán như cho. Cuối cùng, để mua được và bán được, Nhà nước phải giao nghĩa vụ, nghĩa là ra lệnh cho người nào phải bán, và phát phiếu cho người nào được mua. Cả một hệ thống thương nghiệp quốc doanh gồm hàng trăm ngàn người chỉ còn là một đội ngũ những người coi kho: nhiệm vụ của họ chỉ là nhập kho theo lệnh, và xuất kho theo lệnh! Chẳng còn gì là buôn bán, trao đổi.

Đối với công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, theo lý thuyết, thì nó phải đem lại trật tự và sự chấn hưng cho công thương nghiệp, nó phải tăng cường lực lượng cho công thương nghiệp quốc doanh. Hậu quả lại là ngược lại: cải tạo đến đâu thì công thương nghiệp tàn lụi đến đó, vốn liếng của các xí nghiệp công tư hợp doanh mau chóng biến thành đống sắt vụn.

Còn hợp tác hoá nông nghiệp? Cùng với hợp tác hoá nông nghiệp, một thứ văn hoá mới lạ (bình quân chủ nghĩa) được đưa vào nông thôn: cả làng xếp hàng ra đồng theo kẻng, rồi lại rồng rắn xếp hàng thu quân theo kẻng, hậu quả là: năng suất lao động của nông dân giảm đi một nửa, giá trị một ngày công lao động chỉ còn tính bằng lạng thóc! Cuối những năm 60, Tổng cục Thống kê đưa ra một con số làm giới quản lý phải giật mình: 70% thu nhập của hộ nông dân là do mảnh ruộng “5%” làm ra, còn 95% ruộng đất giao cho hợp tác xã khai thác thì chỉ bảo đảm được phần thu nhập còn lại. Cũng dễ hiểu! Ruộng của hợp tác xã chỉ cho sản lượng 2 tấn/hécta/vụ, trong khi đất “5%” của xã viên cho đến 10 tấn/hécta/vụ, mỗi năm lại quay vòng đến 2-3 vụ. Lúa khoai sản xuất được, họ chế biến thành bún, bánh, lấy bã nuôi lợn, phân lợn lại đem bón cho lúa, cả một vòng tuần hoàn vật chất hái ra tiền! Khi người nông dân đổ mồ hôi trên mảnh ruộng “5%” của họ thì họ tin chắc rằng mọi hạt lúa làm ra trên mảnh ruộng ấy là thuộc về họ. Đó chính là động lực mãnh liệt nhất của kinh tế tiểu nông mà các nhà lý luận về hợp tác hoá đã phần nào coi nhẹ.

Như vậy là giữa những giải pháp xã hội chủ nghĩa và thực tế cuộc sống có sự không ăn khớp. Càng đẩy tới các giải pháp xã hội chủ nghĩa thì càng vấp phải những phản ứng tiêu cực của cuộc sống.

Trước khi những xung đột này được đẩy tới cực điểm thì cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt, với việc đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh ra miền Bắc. Những vấn đề kinh tế tạm lùi xuống hàng thứ yếu, để rồi lại nổi lên hàng đầu khi chiến tranh kết thúc. Chiến tranh kết thúc cũng có nghĩa là kinh tế miền Nam mất hẳn nguồn viện trợ Mỹ và chiến phí của Mỹ, mỗi năm chừng 2 tỷ đô la. Còn kinh tế miền Bắc thì cũng không còn viện trợ của Trung Quốc vào khoảng 400 triệu đô la mỗi năm. Một nền kinh tế kiệt quệ về nhiên liệu và nguyên liệu, lại mất hẳn động lực phát triển do những biện pháp quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa được áp dụng vội vã. Trong bối cảnh ấy thì chính sách kinh tế nào có khả năng gỡ bí?

Muốn có sản phẩm hàng hóa cho xã hội thì phải trả lại tự do cho kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân. Muốn mua được, bán được thì phải chấp nhận cơ chế thị trường. Nhưng, nếu chấp nhận những biện pháp ấy thì còn gì là chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa, còn gì là cơ chế kế hoạch hóa tập trung, còn gì là mục tiêu chủ nghĩa xã hội? Những xung đột này không biểu hiện ra dưới dạng các phe phái (nếu có thì cũng chỉ lẻ tẻ) mà chủ yếu biểu hiện ra dưới dạng cuộc đấu tranh nội bộ (và nội tâm) của tầng lớp quyết sách. Những xung đột này gay gắt đến mức không có lý lẽ nào điều hòa nổi. Cuối cùng, chỉ có sức ép của cuộc sống mới từng bước hé mở ra những lối thoát. Trong nông nghiệp thì bắt đầu bằng “khoán chui”, rồi “khoán 100”, rồi “khoán 10”. Trong công nghiệp thì bắt đầu bằng “xé rào”, rồi “Ba kế hoạch”, rồi xuất nhập khẩu tiểu ngạch địa phương. Trong thương nghiệp thì bắt đầu bằng “bán thưởng hàng công nghiệp”, hợp đồng hai chiều (hàng đổi hàng), rồi giá thỏa thuận, rồi giá thị trường. Mỗi sức ép của cuộc sống là một bước lùi đối với những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội. Những gì mà chúng ta gọi là “đổi mới” đã diễn ra như thế. Đổi mới đã khơi thông dòng chảy cho các hoạt động kinh tế. Nó khơi thông dòng chảy bằng cách gạt bỏ những nguyên tắc mà một thời chúng ta tôn sùng như những khuôn vàng thước ngọc. Nó khơi thông dòng chảy bằng một bước lùi lịch sử: quay lại với kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân; quay lại với cơ chế thị trường; tạm thời từ bỏ các biện pháp quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa, tạm thời xa rời mục tiêu chủ nghĩa xã hội.

Không chỉ ở Việt Nam, cuộc sống đã buộc những người cộng sản phải thực hiện một bước lùi lịch sử, mà ở Liên Xô và Đông Âu cũng vậy. Sau 70 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và 40 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu, người ta nhận ra rằng quá trình đó là gượng ép (duy ý chí), trình độ phát triển của lực lượng sản xuất chưa đạt đến độ chín muồi cho phép thiết lập hình thái kinh tế – xã hội xã hội chủ nghĩa. Lùi lại thì thuận hơn cho sự phát triển.

*

* *

Chính sách “đổi mới” được xem là lối thoát cho cuộc khủng hoảng về chính sách kinh tế ở nước ta kéo dài mấy thập kỷ. Nó khơi thông dòng chảy cho các hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, nó không phải là lời giải cho những vấn đề cơ bản của kinh tế Việt Nam, của xã hội Việt Nam.

- Với sự phát triển của kinh tế cá thể, tư nhân, kinh tế Việt Nam sẽ đi về đâu? Sẽ trở thành một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển ư? Làm thế nào hòa hợp được với định hướng xã hội chủ nghĩa?

- Với kinh tế thị trường thì tránh sao được phân hóa giàu nghèo trong lớp người tiểu sản xuất, tránh sao được “hàng ngày hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản”? Ai đó đã gắn chủ nghĩa xã hội với nền kinh tế thị trường, nhưng chưa có ai chứng minh được chúng gắn với nhau như thế nào!

- Với chính sách “đổi mới”, chúng ta đang ở vào thời điểm nào của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội? Những chính sách kinh tế đặc trưng của thời điểm ấy là gì? Đến lúc nào thì chính sách “đổi mới” hết tác dụng và phải thay bằng chính sách khác?

- Với sự phá sản của mô hình xã hội chủ nghĩa Liên Xô, từ nay người ta phải hiểu chủ nghĩa xã hội theo mô hình nào, theo những đặc trưng nào? Phải hiểu định hướng xã hội chủ nghĩa theo những định hướng nào, đặc trưng nào?

- Đạt đến trình độ phát triển của lực lượng sản xuất như Liên Xô, như Đông Âu, mà vẫn thấy chưa đủ chín muồi để thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa, vậy thì Việt Nam sẽ phải rút ra kết luận như thế nào cho con đường phát triển hướng tới chủ nghĩa xã hội của mình? Việt Nam sẽ phải trải qua những “bước quá độ nhỏ” như thế nào để hướng tới mục tiêu đó?

- Cuối cùng thì cũng vẫn phải quay về với những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Marx-Lenin. Những phát hiện của Marx-Lenin về chủ nghĩa tư bản có còn đúng nữa không? Những dự đoán của các ông về xã hội tương lai có còn đúng nữa không? Điểm nào còn đúng, điểm nào là sai?

- Chỉ điểm sơ đầu việc đã thấy ngổn ngang những vấn đề. Những cuộc tranh luận đang chờ đón chúng ta. Nếu tiếp tục tìm tòi, tranh luận theo kiểu ấp úng, né tránh, kiêng kỵ như mấy thập kỷ vừa qua thì không biết đến bao giờ chúng ta mới tiếp cận được chân lý. Phải có những nhóm nghiên cứu, những diễn đàn, những câu lạc bộ, những “think tank” với tinh thần cởi mở, chỉ lấy chân lý làm trọng, không kiêng kỵ, không cho phép bất cứ ai lên giọng dạy đời, chụp mũ. Lại phải có những người, hoặc nhóm người, đủ khả năng gạn lọc những gì là chân lý để hình thành nên những quan điểm, những chương trình, những chính sách sẵn sàng đưa vào cuộc sống.

Con đường của tư duy kinh tế Việt Nam xem ra còn dài, còn lắm chông gai!

*****

LỜI TỰA CHO LẦN XUẤT BẢN THỨ HAI

Như đã nói trong Lời tựa lần xuất bản thứ nhất, cuốn sách này là một phần của đề tài cấp Bộ về Tư duy Kinh tế Việt Nam 1975-2005, mà tác giả là chủ nhiệm. Trong cả hai lần nghiệm thu (cấp cơ sở và cấp chính thức), đề tài được xếp hạng “khá”, cũng có phiếu xếp hạng “đạt”. Nhiều thành viên Hội đồng còn tỏ ý hơi ngần ngại với một lối viết sử có phần khác lạ so với cách viết truyền thống. Cũng có cả những lời khuyên chân tình rằng lối viết này có thể sẽ là “lành ít, dữ nhiều”.

Nhưng tác giả vẫn tin rằng sẽ không có điều dữ khi cái tâm của mình là lành - lành ở công phu tìm tòi sự thật, lành ở cách trình bày thẳng thắn, nhưng nghiêm túc và lễ độ, lành ở chỗ nói trung thực và rõ nét những khía cạnh phong phú của lịch sử, cũng lành cả ở chỗ biết tôn trọng người đọc, không để người đọc phải thất vọng nếu cầm cuốn sách lên, vừa lướt qua vài trang đã ngáp dài và cất vào tủ, vì chẳng có gì mới so với đầy rẫy những gì đã biết rồi (đối với những người viết có trách nhiệm, thì đấy mới là điều dữ đáng để tâm hơn cả)...

Với niềm tin đó, tác giả đã mạnh dạn gửi bản thảo tới Nhà xuất bản.

Cuốn sách được xuất bản lần đầu vào tháng 9 năm 2008 với lượng phát hành 2.000 bản.

Ngay sau đó, tác giả đã sớm nhận được những phản hồi của rất nhiều bạn đọc xa, gần. Trong đó, phần lớn đã bày tỏ thiện cảm bằng những chia sẻ, tâm đắc, đồng thời cũng có một số gợi ý hay. Đó là những điều lành đầu tiên với tác giả.

Ngoài những phản hồi trực tiếp, đã có hàng chục bài báo, nhiều bài bình luận ở trong và ngoài nước về cuốn sách này, mà tác giả tự thấy tất cả những phê bình đó là rất đáng ghi nhận. Tác giả coi đó cũng là những điều lành.

Đến tháng 1 năm 2009, Nhà xuất bản Tri thức cho biết là sách đã bán hết và đề nghị tác giả cho tái bản. Phải chăng đây là hệ quả của những điều lành trên?

Khi cho tái bản, tác giả đã gắng sức bổ sung, sửa chữa những điểm mà bạn đọc khắp nơi đã gợi ý. Tác giả cũng xin gặp lại những chuyên gia am tường nhất về chủ đề này để tham vấn thêm. Trước hết, đó là Giáo sư Trần Phương, một thành tố quan trọng của tư duy kinh tế thời kỳ này, người đã chỉ bảo thêm nhiều tình tiết và cách nhìn nhận các sự kiện lịch sử, mà tác giả chưa thể thấy hết. Ngoài ra, các ông Nguyễn Văn Trân, Hoàng Tùng, Đặng Quốc Bảo, Trần Việt Phương, cũng đã chỉ giáo cho tác giả nhiều điều rất bổ ích.

Trong lần tái bản này, phần lớn những điểm gọi là sửa chữa chỉ là bổ sung để làm rõ hơn những nội dung vốn có của cuốn sách. Còn về cơ cấu, về phương pháp nhìn nhận các vấn đề cơ bản thì không có sự thay đổi nào.

Cũng theo gợi ý của Nhà xuất bản Tri thức, tác giả xin đưa vào Phụ lục những bài phê bình trên các báo chí khác nhau để bạn đọc tiện tham khảo.

Tác giả chân thành cảm ơn Tiến sỹ Chu Hảo và Nhà xuất bản Tri thức đã có sự ưu ái cho tái bản cuốn sách này.

ĐẶNG PHONG

------------------









MỤC LỤC

Nhân đọc cuốn Tư duy Kinh tế Việt Nam (Khởi luận của Giáo sư Trần Phương)

Lời tựa cho lần xuất bản thứ hai

Lời tựa cho lần xuất bản thứ nhất

Nhập đề - NHỮNG THINK TANK XƯA VÀ NAY

1. Sự ra đời của các think tank

2. Think tank ở các nước xã hội chủ nghĩa

3. Think tank về kinh tế ở Việt Nam

4. Vai trò của hệ thống các trường Đảng

Chương I - GIAI ĐOẠN 1975-1979

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ CẢ NƯỚC SAU 1975

II. TƯ DUY KINH TẾ

1. “Không gian” của tư duy kinh tế

2. Giới nghiên cứu và hệ thống các cơ quan nghiên cứu

3. Lê Duẩn và sự hình thành chiến lược kinh tế cho cả nước

4. Tác phẩm “Dưới lá cờ vẻ vang...”

5. Những hướng tư duy sau ngày giải phóng miền Nam

III. ĐƯỜNG LỐI KINH TẾ

1. Sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa và ba cuộc cách mạng

2. Làm chủ tập thể

3. Chế độ kế hoạch hóa tập trung

4. Kinh tế hiện vật và vai trò của giá trị sử dụng

5. Hợp tác hóa nông nghiệp

6. Cải tạo công thương nghiệp

7. Chủ nghĩa “Tân trọng nông” (néophisiocratie)

8. Nhà nước độc quyền quản lý các quan hệ kinh tế đối ngoại

9. Tỷ giá - Một “Vạn lý trường thành” kinh tế

Chương 2 - GIAI ĐOẠN 1979-1986

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ NHỮNG NĂM 1979-1980

II. TƯ DUY KINH TẾ NHỮNG NĂM 1979-1980

1. Tình hình tư duy chính thống

2. Tâm tư và phản ứng của nhân dân

3. Suy nghĩ của các nhà quản lý, các cấp lãnh đạo cơ sở

4. Giới nghiên cứu kinh tế

5. Lớp nghiên cứu về NEP

6. Những nghiên cứu bán chính thức

7. Tư duy kinh tế của các cấp lãnh đạo ở Trung ương

III. BƯỚC ĐỘT PHÁ ĐẦU TIÊN VỀ QUAN ĐIỂM KINH TẾ

1. Xem xét lại các kế hoạch kinh tế

2. Chuyển biến về tư duy và chính sách đối với giá thu mua nông sản

3. Hội nghị Trung ương lần thứ 6

IV. NHỮNG ĐỘT PHÁ Ở CƠ SỞ

V. NHỮNG CHUYỂN BIẾN ĐẦU TIÊN VỀ CHÍNH SÁCH

1. Thay đổi nhân sự

2. Nhìn nhận lại về công cuộc cải tạo công thương nghiệp

3. Nghị quyết 40-CP

4. “Khoán 100”

5. Quyết định 25-CP và chế độ 3 kế hoạch

6. Đề án cải tiến công tác nội thương

7. Cuộc cải cách giá lần thứ nhất

8. Dẹp bỏ các cửa hàng cung cấp đặc biệt

9. Bỏ nghĩa vụ bán thịt lợn

VI. NHỮNG KHỞI SẮC TRONG ĐỜI SỐNG KINH TẾ

VII. “LẬP LẠI TRẬT TỰ” - BƯỚC LÙI VỀ TƯ DUY 1983-1984

1. Xét lại Quyết định 25-CP

2. Chỉ thị 04-CT/TƯ của Ban Bí thư

3. Nghị quyết 01-NQ/TƯ của Bộ Chính trị

4. Chỉ thị 11-CT/TƯ

5. Nghị quyết Trung ương 3 và việc lập lại kỷ cương trong Phân phối lưu thông

6. Nghị quyết 08-NQ/TƯ về công tác của Thủ đô Hà Nội

7. Chiến dịch Z.30 - một cuộc “làm chui” theo xu hướng siết lại

8. Các Hội nghị Trung ương lần thứ 4, thứ 5 và xu hướng quay lại với chủ trương cải tạo

VIII. NHỮNG BỨT PHÁ VỀ TƯ DUY TRONG CÁC NĂM 1984-1985 - VAI TRÒ LỊCH SỬ CỦA TRƯỜNG CHINH

1. Tình thế bức bách

2. Sự “phản tỉnh” của Trường Chinh trong quá trình thâm nhập thực tế

3. Những bứt phá đầu tiên về tư duy kinh tế tại Hội nghị Trung ương lần thứ 6

4. Tiến tới đột phá trong thực tế: Cuộc cải cách giá - lương - tiền năm 1985

Chương 3 - GIAI ĐOẠN 1986-1989

I. VÒNG XOÁY 1986

1. Tình hình kinh tế

2. Sự nở rộ của các think tank

3. Trước những bài toán của tư duy

II. TRƯỜNG CHINH VÀ VIỆC CHUẨN BỊ BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

CHO ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ VI

III. NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

1. Đổi mới tư duy

2. Đổi mới phong cách lãnh đạo

3. Phải tìm căn nguyên của mọi ách tắc, trì trệ, quan liêu, lãng phí... là mô hình

4. Mọi tư duy kinh tế phải lấy dân làm gốc

5. Lấy hiệu quả thực tế làm thước đo chân lý, chống bệnh chủ quan, duy ý chí

6. Quan niệm lại về thời kỳ quá độ

7. Phải tôn trọng quy luật khách quan về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

8. Phải thể hiện rõ tư tưởng năm thành phần kinh tế

9. Chuyển mạnh sang kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trường

10. Kinh tế mở

IV. ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ VI

V. HAI NĂM CHUYỂN MÌNH GIAN NAN: 1987-1988

1. Ấn tượng Nguyễn Văn Linh

2. Khởi sắc trong nghiên cứu tìm tòi

3. Các nhóm nghiên cứu chống lạm phát

4. Sự ra đời những think tank không chính thức

5. “Mở cửa” đối với các chuyên gia Việt kiều

6. “Cởi trói” về ngôn luận

7. Võ Văn Kiệt và việc đưa những tư tưởng của Đại hội VI vào cuộc sống

III. NHỮNG CHUYỂN BIẾN QUAN TRỌNG

TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ

1. Nghị định số 27/NĐ về kinh tế tư doanh và Nghị định số 29/NĐ về kinh tế gia đình

2. Cởi trói cho lưu thông phân phối

3. Nhìn nhận lại về công nghiệp quốc doanh

4. Quyết định số 217-HĐBT

5. Luật đầu tư của nước ngoài

6. “Khoán 10” trong nông nghiệp

7. Điều chỉnh hệ thống giá

8. Đưa tỷ giá lên sát tỷ giá thị trường quốc tế

9. Kiều hối

10. Cải cách hệ thống ngân hàng - sự ra đời của hệ thống ngân hàng hai cấp

11. Khơi thông các luồng hàng trong nước

IV. BƯỚC NGOẶT 1989

1. Hội nghị Trung ương lần thứ 6

2. Mở cửa biên giới Việt-Trung

3. Đưa lãi suất lên sát mức thực tế

4. Cuộc “tổng sát hạch” của thị trường và những “phản ứng thuốc”

5. Chặn đứng lạm phát

6. Chấm dứt nạn thiếu đói kinh niên

7. Đột phá trong xuất khẩu

8. Rút hết quân khỏi Campuchia

9. Xóa bỏ tem phiếu

10. Sửa đổi Hiến pháp

Kết luận

Phụ lục:

Những bài báo viết về Tư duy kinh tế Việt Nam sau lần xuất bản thứ nhất

Biên niên các sự kiện kinh tế (1975-1989)

Tài liệu tham khảo

Bảng chỉ mục

* Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam (1960-1978), nguyên Trợ lý kinh tế của Tổng Bí thư Lê Duẩn (1967-1981), nguyên Bộ trưởng Bộ Nội thương (1982), nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1983-1986), hiện là Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội.
Tin mới hơn:

* Phá rào trong kinh tế vào đêm trước Đổi mới
* 5 đường mòn Hồ Chí Minh
* Đổi mới ở Việt Nam: Nhớ lại và suy ngẫm / Renovation in Vietnam - Reco…
* Rock Hà Nội và Rumba Cửu Long – Câu chuyện âm nhạc Việt Nam
* 100 năm Đông Kinh nghĩa thục

[PDF]
NHỮNG THINK TANK XƯA VÀ NAY

AI CHE LƯNG CHO BẠN (Who's Got Yourback) - Bí quyết tìm ra 3 người sẽ thay đổi cuộc đời bạnTriết học luật pháp

Comments

Minhcineenebo Thursday, September 6, 2012 8:20:42 AM

Phá rào trong kinh tế vào đêm trước Đổi mới

I. THÔNG SỐ SÁCH

Tên sách: Phá rào trong kinh tế vào đêm trước đổi mới

Tác giả: Đặng Phong

Số trang: 532

Hình thức bìa: Bìa mềm, tay gấp

Kích thước: 16x24 cm

Giá bìa: 130.000

Năm xuất bản: 2009

Tái bản: 2012





II. GIỚI THIỆU SÁCH



Ở Việt Nam và cả nước ngoài, giới nghiên cứu thường coi năm 1986 với Đại hội Đảng lần thứ VI là thời điểm bắt đầu công cuộc Đổi mới. Trong thực tế, trước đó nhiều năm đã có hàng loạt mũi đột phá can đảm, gian nan, trầy trật, mưu trí, sáng tạo, mà theo cách gọi thời đó là những cuộc “phá rào”. Phá rào tức là vượt qua những hàng rào về quy chế đã lỗi thời để chủ động tháo gỡ nhiều ách tắc trong cuộc sống, đồng thời cũng góp phần từng bước dẹp bỏ hàng loạt rào cản cũ kỹ để mở đường cho công cuộc Đổi mới.

Mục tiêu của cuốn sách này là góp phần dựng lại một bức tranh sống động, phong phú về những tìm tòi, tháo gỡ trong thời kỳ “phá rào” đó.

Nói đến phá rào, trước hết cần trả lời câu hỏi: Hàng rào là những gì?

Đó chính là những thể chế, những nguyên tắc của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung được hình thành ở Liên Xô và sau đó được áp dụng tại hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Ở Việt Nam, mô hình này được áp dụng đầu tiên ở miền Bắc khi bước vào thập kỷ 60. Ngay từ thời kỳ đó, nó cũng đã bộc lộ nhiều nhược điểm. Đảng, Nhà nước, nhiều nhà kinh tế và nhiều cán bộ địa phương khi thấy rõ điều đó đã có ý thức tìm tòi giải pháp để khắc phục. Các phong trào “Ba xây, ba chống”, “Cải tiến quản lý hợp tác xã”, “Cải tiến quản lý xí nghiệp”… được phát động chính là do người ta đã phát hiện ra những vướng mắc của mô hình này và thử tìm cách khắc phục. Nhiều nhà kinh tế cũng đã đề xuất một số ý kiến có tính chất đột phá như: Đa phương hóa xuất nhập khẩu, vận dụng quy luật giá trị trong việc hình thành giá thu mua. Một số địa phương, do sớm nhìn ra những nhược điểm của mô hình hợp tác xã nông nghiệp, đã chủ động áp dụng cơ chế khoán (có nơi áp dụng lén lút như ở Kiến An, Hải Phòng năm 1962; có nơi tiến hành công khai và đại trà trên toàn tỉnh như Vĩnh Phúc năm 1966-1968). Tất cả những mũi đột phá đó đều không đi tới đích như dự kiến. Một phần vì quan hệ quốc tế lúc đó, một phần cũng vì trình độ tư duy chung của cả xã hội đương thời chưa chín muồi cho việc đổi mới. Vả lại, trong hoàn cảnh chiến tranh, nhiệm vụ đánh giặc được đưa lên hàng đầu, nên những ý tưởng cải cách vẫn còn phải chờ đợi nhiều thập kỷ nữa.

Từ sau giải phóng miền Nam, mô hình kinh tế của miền Bắc được áp dụng cho cả nước. Nhưng hoàn cảnh lúc này đã khác. Nền kinh tế của miền Nam có hàng loạt đặc điểm mà không thể đơn giản áp đặt mô hình kinh tế của miền Bắc vào. Những phản ứng từ cuộc sống không dễ dập tắt chỉ bằng mệnh lệnh, lại càng không thể chỉ bằng một nhát đập bàn của một ai đó. Trước sự sa sút hiển nhiên về kinh tế từ những năm 1978-1979, khó còn có thể tiếp tục giải thích bằng những nguyên nhân nào khác ngoài bản chất cơ chế kinh tế và sự bất lực của những phương sách cứu chữa cũ. Từ đây, bắt đầu thời kỳ rất sống động của việc tìm tòi.

Rất nhiều biện pháp phá rào đã diễn ra ở các đơn vị, các địa phương, rất đa dạng và phong phú về phương pháp, về bước đi, về kết quả và nhất là về những phản ứng dây chuyền dẫn tới những sửa đổi của chính sách.

Dưới đây, xin lựa chọn 20 cuộc phá rào mà tác giả thấy có thể coi là tiêu biểu cho một ngành nghề, một lĩnh vực, một “nghệ thuật”...

Tất nhiên, khi đã phải phá rào tức là hàng rào có vấn đề. Nhưng mặt khác, đã phải dùng đến giải pháp phá rào thì ngoài những kết quả tích cực, cũng khó tránh khỏi một hệ quả tiêu cực là làm suy giảm hiệu lực của kỷ cương, làm tăng tính tự phát và tạo ra thói quen tùy tiện. Có những tìm tòi lúc ban đầu là đúng hướng, nhưng sau đó, khi cơ chế chính sách đã được sửa đổi, mà cứ đi tiếp theo hướng tự phát thì rất có thể lại mắc phải những sai lầm, tiêu cực, thậm chí sa vào vòng lao lý. Đó cũng là điều khó tránh trong sự nghiệp chuyển đổi của cả một nền kinh tế từ cơ chế cũ sang cơ chế mới, với biết bao thách thức khó khăn, phức tạp, cạm bẫy. Trong cuốn sách này, mục đích chính của tác giả chỉ là tôn vinh tinh thần tìm tòi, sáng tạo của những cơ sở, của những con người đã tìm được hướng đi đúng, không những cho cơ sở của mình, mà còn tìm ra hướng đi chung cho cả nền kinh tế.

Tác giả đã quan tâm đến chủ đề này từ khoảng 15 năm qua. Đó cũng là thời gian của suy nghĩ, tìm kiếm tư liệu và tiến hành khảo sát tại hàng chục tỉnh và thành phố, sục sạo rất nhiều cơ sở, phỏng vấn hàng trăm người khắp từ Bắc chí Nam, và cả người Việt ở nước ngoài trong các chuyến đi khảo sát ở Nga và Đông Âu để hiểu tường tận hơn những luồng hàng đánh đi và đánh về; lại tận dụng những chuyến đi họp và giảng dạy ở Mỹ, Pháp, Úc, Anh để khám phá những cách thức gửi tiền và hàng về nước, đặc biệt là hệ thống ngân hàng ngầm.

Sau đó, đầu năm 2004, công trình này đã được chấp nhận là Đề tài cấp Bộ của Viện Kinh tế Việt Nam mà tác giả là chủ nhiệm. Công trình được biên soạn xong vào năm 2005 trong sự cộng tác với một số bạn đồng nghiệp trẻ mà tác giả có trách nhiệm hướng dẫn nghiên cứu. Đề tài đã được nghiệm thu chính thức tại Tp Hồ Chí Minh với một Hội đồng thật đích đáng: Chủ tịch Hội đồng là GS.TS. Đỗ Hoài Nam (mà sau đó là đồng chủ biên cuốn sách), thành viên Hội đồng kỳ này có nét rất đặc trưng là bao gồm hầu hết chính những vị “anh hùng” của thời “Phá rào” và được nhắc tới rất nhiều lần trong sách như Tư Giao ở Long An, Sáu Hơn ở An Giang, Nhật Hồng ở Vietcombank, Phan Chánh Dưỡng ở “Nhóm thứ 6”, Trần Đình Bút ở Trường Hành chính...

Nhưng suốt bốn năm sau đó, bản thảo vẫn nằm trong máy tính, không phải do bị ai bắt “ngâm” lại, mà chỉ do bản thân tác giả muốn “ngẫm” thêm cho chín hơn, tham khảo lại nhiều người trong và ngoài cuộc cho chắc hơn, nhất là đối với một số trường hợp có những khía cạnh còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau. Đặc biệt, tác giả lại vinh dự được GS.TS. Đỗ Hoài Nam, Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, vui lòng nhận lời mời làm đồng chủ biên để chỉ bảo thêm về cách xử lý trên những khía cạnh mà cho đến lúc đó, còn ít nhiều nhạy cảm. Được như thế thì lại càng phải thận trọng hơn, vì tác giả tự thấy mình không được phép để người đồng nghiệp và cũng là cấp trên khả kính của mình phải chịu bất kỳ một ảnh hưởng nào do những sơ suất dù nhỏ nhất của người viết. Để thử phản ứng của dư luận, chúng tôi đã chọn hai trường hợp phá rào đã được chính thức ghi nhận mặt tích cực để xuất bản dưới hình thức những tập sách tham khảo mỏng[1]. Sau đó, tác giả đã tự lược đi tất cả những biếm họa, hò vè hài hước của dân gian và một loạt chương mục như: Khoán Vĩnh Phúc (vì nó liên quan đến uy tín của một nhà lãnh đạo lớn mà bản thân tác giả rất kính trọng), nông trường Sông Hậu (tuy là một trường hợp độc nhất trong ngành này đã phá rào thành công nhưng sau đó lại lâm vào vòng lao lý), thuốc lá Vĩnh Hội tăng sản lượng vùn vụt thì có thể lại đi ngược với xu thế của thế giới... Đến đầu năm 2009, bản thảo mới được gửi tới Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Sách đã in xong đầu tháng 7, gồm 276 trang khổ nhỏ, với tên Những mũi đột phá trong kinh tế thời trước Đổi mới.

Cứ tưởng là chuyện đã cũ rồi, và cũng không phải là chủ đề đại sự, thì chẳng mấy ai còn quan tâm. Nhưng chỉ trong vòng một tháng sau, sách đã tiêu thụ hết. Nhiều bạn đọc thấy có tên sách trên mạng, nhưng tìm mua không được. Khó xử nhất là đối với những vị mà tác giả tri ân, từng tận tình giúp tác giả trong những đợt đi thực tế ở Vĩnh Phú, Cần Thơ, Vĩnh Hội, Nhà máy Dệt Nam Định, Công ty Xe khách Miền Đông... đã gọi điện tới tỏ nỗi thất vọng vì không thấy chuyện của họ được đưa vào trong sách!

Đòi hỏi rộng rãi đó đã sớm đến tai TS. Chu Hảo, Giám đốc Nhà xuất bản Tri thức. Ông tìm gặp tác giả và ngỏ ý muốn xem bản thảo đầy đủ. Vài hôm sau, ông ngỏ ý sẵn sàng chịu trách nhiệm trước các cơ quan hữu quan về việc xuất bản, với điều kiện tác giả phải trực tiếp đứng tên và chịu trách nhiệm trước Nhà xuất bản Tri thức về độ chính xác của các tư liệu. Điều đó thì đương nhiên tác giả sẵn sàng cam kết, vì một lẽ đơn giản: Đó đều là sự thật, mà tác giả đã gặp, đã nghe, đã đọc. Thế là bản thảo đầy đủ đã được trao cho Nhà xuất bản Tri thức và được tái bản trong khuôn khổ chương trình sách “Việt Nam đương đại” với cái tên nguyên thủy của nó: “Phá rào” trong kinh tế Việt Nam vào đêm trước Đổi mới.

Trong lần tái bản này, tác giả lấy lại để đưa vào khá nhiều cuộc phá rào ngoạn mục và tiêu biểu như:

- Khoán ở Vĩnh Phúc.

- Khoán ở Nông trường Sông Hậu

- Đột phá ở Nhà máy Dệt Nam Định.

- Đột phá ở Nhà máy Thuốc lá Vĩnh Hội.

- Khoán ở Công ty Xe khách Thành phố Hồ Chí Minh.

- Cuộc đấu tranh kiên trì gian khổ 20 năm để sửa đổi hệ thống giá.

- Những đường dây buôn bán và thanh toán với nước ngoài…

Ngoài phần lớn những chương mục do tác giả trực tiếp khảo sát và biên soạn, tác giả cũng lựa chọn để đưa lại vào đây 3 chương mà tác giả đã tiến hành cùng các đồng nghiệp trẻ, như chương Xí nghiệp Dệt Thành Công (viết cùng bạn Cao Tuấn Phong), Cơ chế một giá của Long An (viết cùng bạn Ngọc Thanh), Kho bạc (viết cùng bạn Lê Mai).

Trong việc tìm hiểu những cuộc phá rào dưới đây, tác giả đã cố gắng tìm cách tiếp cận tận nơi, tận chốn, gặp những người thật, nắm bắt những việc thật. Rất may là phần rất lớn những người chủ trương và những người tham gia các cuộc phá rào vẫn còn sống, còn khỏe mạnh, còn tỉnh táo để nhìn lại cả một chặng đường gian nan nhưng ngoạn mục mà họ đã đi qua. Dĩ nhiên, có những “chiến sĩ đột phá” không còn nữa, như ông Kim Ngọc ở Vĩnh Phúc, ông Năm Hoằng ở Hậu Giang. Ở trường hợp này, tác giả phải tìm lại những tài liệu, những người đương thời và gia đình để hiểu rõ sự việc.

Tác giả xin chân thành cảm ơn các vị đã từng đứng mũi chịu sào trong những cuộc phá rào đó, nay lại sẵn sàng kể lại cho nghe, cung cấp thêm những tư liệu, giúp đỡ về nhiều mặt để tác giả có thể khắc họa lại bức tranh sinh động của một thời tuy chưa phải xa lắm, nhưng có thể là khó hiểu đối với thế hệ trẻ hiện nay và mai sau. Các vị đó là Võ Văn Kiệt (nguyên Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Thủ tướng Chính phủ), Giáo sư Trần Phương (nguyên Trợ lý của Tổng Bí thư Lê Duẩn, nguyên Phó Thủ tướng), Đoàn Duy Thành (nguyên Bí thư Thành ủy Hải Phòng, nguyên Phó Thủ tướng), Nguyễn Văn Chính (nguyên Bí thư Tỉnh ủy Long An, nguyên Phó Thủ tướng), Nguyễn Văn Hơn (nguyên Bí thư Tỉnh ủy An Giang, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp), Bùi Văn Giao (nguyên Phó Chủ tịch tỉnh Long An, nguyên Trợ lý của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh), Lữ Minh Châu (nguyên Giám đốc Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước), Nguyễn Văn Phi (nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại thương, nguyên Giám đốc Sở Ngoại thương Thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Hồng Cẩn (nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy sản), Nguyễn Nhật Hồng (nguyên Giám đốc Ngân hàng Ngoại thương Thành phố Hồ Chí Minh) và rất nhiều vị lãnh đạo các ngành, các cơ sở kinh tế mà không thể kể hết ra đây.

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn những đồng nghiệp là những nhà nghiên cứu kinh tế và nghiên cứu lịch sử không những đã bày tỏ sự đồng tình và khích lệ, mà còn có nhiều đóng góp trực tiếp về nội dung và phương pháp tiếp cận chủ đề này. Đó là GS.TS. Đỗ Hoài Nam, Giáo sư Trần Đình Bút, Giáo sư Đào Xuân Sâm, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nhà kinh tế Vũ Quốc Tuấn, Tiến sĩ Trần Đình Thiên, nhà sử học Dương Trung Quốc cùng rất nhiều bạn bè thân thiết trong các ngành khoa học xã hội trong và ngoài nước.

ĐẶNG PHONG

*****

MỤC LỤC

Lời tác giả

Phần mở đầu

TỪ GIẢI PHÓNG ĐẤT NƯỚC ĐẾN “CỞI TRÓI” CHO SẢN XUẤT

I. Từ đại thắng đến đại hội

1. Mô hình kinh tế từ miền Bắc

2. Những vận hội sau ngày giải phóng

3. Hội nghị Trung ương lần thứ 24

4. Đại hội Đảng lần thứ IV

II. Thiếu hụt, khủng hoảng và ách tắc

1. Viện trợ Mỹ được thay bằng cấm vận của Mỹ

2. Thiên tai - địch họa

3. Viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa cũng giảm sút

4. Liệu pháp cải tạo

5. Kế hoạch 5 năm 1976-1980

Phần I

TỪ XÍ NGHIỆP "XÉ RÀO" ĐẾN NHÀ NƯỚC SỬA ĐỔI “HÀNG RÀO”

Chương 1. “Bung ra” và “cởi trói” tại hội nghị trung ương 6 (1979)

1. Thông báo số 10-TB/TƯ của Bộ Chính trị và những bừng tỉnh đầu tiên về quan điểm kinh tế

2. Đột phá tại Hội nghị Trung ương 6

Chương 2. Xí nghiệp Dệt Thành Công – từ “hấp hối” đến lá cờ đầu

Chương 3. Nhà máy Dệt lụa Nam Định – “lệ làng” thành “phép vua”

Chương 4. Nhà máy Thuốc lá Vĩnh Hội – một tháng bằng nửa năm

1. Từ buông ra…

2. Đến bung ra

Chương 5. Cơ chế ăn chia ở Xí nghiệp Đánh cá Côn Đảo – Vũng Tàu

Chương 6. Seaprodex – Mô hình tự cứu: Tự cân đối, tự trang trải, mở và hội tụ

1. “Từ đầu voi” đến “đuôi chuột” trong kế hoạch 5 năm lần thứ II

2. Từ “buông ra” đến “bung ra”

3. Mô hình tự cân đối

4. Liên doanh liên kết theo phương châm lấy mở để hội tụ

5. Tính thuyết phục của những kết quả

Chương 7. Khoán ở Công ty Xe khách Miền Đông Thành phố Hồ Chí Minh

1. Tình hình trước khi thành lập công ty

2. Sự ra đời mô hình công ty quốc doanh vận tải hành khách

3. Phương pháp xây dựng kế hoạch

4. Thực tế của Input

5. Thực tế ở Output

6. Quá trình chuyển đổi cơ chế từ “bung ra”, “phá rào” tới cải cách

Tiểu kết phần I. “SỬA RÀO”

Phần II

TỪ TIỂU NÔNG CÁ THỂ LÊN SẢN XUẤT LỚN RỒI VỀ VỚI KINH TẾ HỘ

Chương 8. “Khoán Kim Ngọc” ở Vĩnh Phúc

1. Mô hình hợp tác xã và những vấn đề

2. Con đường đi tới quyết định “đột phá”

3. Phương thức khoán

4. Phản ứng từ thực tiễn

5. Những phản ứng khác nhau từ Trung ương

6. Tự phê bình và “sửa sai” cái đúng

Chương 9. Khoán ở Hải Phòng

1. Thách đố mới: Sau giải phóng… vẫn chưa được giải phóng

2. Đoàn Xá - đốm lửa từ một xã đi ăn mày

3. Sự “sáp nhập” về tư duy

4. Từ xã Đoàn Xá đến huyện Đồ Sơn

5. Từ Đồ Sơn lên thành phố

6. Sang huyện Kiến An

7. Lên đến Trung ương

8. Từ Trung ương đến cả nước

Chương 10. Chuyện “tày đình”, nhưng trót lọt – Giải thể các tập đoàn máy kéo ở An Giang

1. Sự hình thành các trạm máy kéo

2. Chế độ thanh toán

3. Thức tỉnh và đột phá

Chương 11. Từ chính sách Tam nông ở An Giang: đến Nghị quyết 10 ở Bộ Chính trị

1. Tập thể hóa nông nghiệp ở miền Nam - chủ trương, bước đi, ách tắc

2. Từ chính sách Tam nông đến Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị

Chương 12. Khoán ở Nông trường Sông Hậu

1. Giao đất cho nông dân

2. Tạo vốn ban đầu

Tiểu kết phần II

Phần III

TỪ ”MUA NHƯ CƯỚP, BÁN NHƯ CHO” ĐẾN THUẬN MUA VỪA BÁN

Chương 13. Giá – Hơn 20 năm đấu tranh

1. Bắt đầu ở miền Bắc, với vấn đề giá nông sản

2. Tiếp diễn ở miền Nam

3. Thay đổi nhân sự và tổng điều chỉnh giá - thắng lợi bước đầu

Chương 14. Công ty Lương thực Thành phố Hồ Chí Minh dùng “xe cứu đói” vượt “đèn đỏ”

1. Từ tính cách một con người đến tính cách một tập thể

2. Tình hình lương thực thành phố những năm sau giải phóng

3. “Tổ buôn lậu gạo”

4. Từ lề đường vào chính lộ

Chương 15. An Giang phá giá mua lúa, làm rung chuyển hệ thống “giá chỉ đạo”

1. Tình hình thu mua theo cơ chế cũ

2. Đột phá về mua lúa

3. Kết quả trực tiếp: Mua lúa vượt mức kế hoạch

4. Những phản ứng dây chuyền của việc đột phá giá mua lúa

Chương 16. Long An bỏ tem phiếu, chuyển sang cơ chế một giá

1. Bối cảnh

2. Ý tưởng

3. Cuộc thử thách thứ nhất 1977-1978

4. Tìm kiếm sự đồng thuận

5. Những bước tiến tới cải tiến mua và bán

6. Những kết quả hiển nhiên

7. Sự lan tỏa của mô hình Long An

Chương 17. Từ Kho bạc An Giang đến hệ thống Kho bạc cả nước

1. Hoạt động ngân sách quốc gia

2. Thành lập Kho bạc Nhà nước tỉnh An Giang

3. Kho bạc Nhà nước An Giang thực hiện những ý tưởng sáng tạo. Tự ngân khố lo được tiền mặt

Tiểu kết phần III



Phần IV

TỪ ĐỘC QUYỀN NGOẠI THƯƠNG CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẾN NHỮNG “RỪNG” IMEX

Chương 18. Những đường dây buôn bán tư nhân với nước ngoài

1. Với Liên Xô và Đông Âu

2. Với Lào

3. Với Campuchia

4. Hàng Vosco

5. Thị trường ngầm trong nước đối với khách quốc tế

6. Thanh toán ngầm và ngân hàng ngầm

Chương 19. Các “IMEX”

1. “Trói”

2. Hai hình thức cởi trói “lén” đầu tiên sau giải phóng: “Cấp cứu” và trao đổi trực tiếp

3. Sự ra đời của các “IMEX”

4. Lách cơ chế bằng phương thức “kiều hối nguyên liệu”

Chương 20. Vietcombank – Người “tiếp tay”

1. Vietcombank và ý tưởng đột phá đầu tiên ra thị trường tài chính thế giới

2. Hai mươi năm sau

3. Vai trò đầu tàu của Vietcombank Thành phố Hồ Chí Minh

Tiểu kết phần IV

Thay kết luận

NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ TỪ NHỮNG MŨI ĐỘT PHÁ

1. “Xả lũ” chứ không “vỡ bờ”

2. Sức sống của kinh tế thị trường

3. Bắt đầu từ cuộc sống, từ dân, từ dưới lên

4. Những điểm tựa lịch sử

5. Từ mâu thuẫn đến đồng thuận

6. Vừa đi vừa mở đường

7. Hệ quả hai mặt

8. Tổng quan về lộ trình

9. So sánh quốc tế

Sách và tài liệu tham khảo

Biên niên các sự kiện liên quan đến những đột phá về kinh tế

Thao2211 Tuesday, September 18, 2012 6:10:02 PM

Anh có mang quyển này sang không?

How to use Quote function:

  1. Select some text
  2. Click on the Quote link

Write a comment

Comment
(BBcode and HTML is turned off for anonymous user comments.)

If you can't read the words, press the small reload icon.


Smilies

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28