Ý nghĩa xã hội học của sự hòa giải
Wednesday, December 5, 2012 6:10:37 PM
Đến đây, chúng tôi muốn điểm lại một số ý tưởng đáng chú ý về hiện
tượng hòa giải của Georg Simmel (1858-1918), nhà triết học và xã hội
học người Đức, khi ông viết về Sự xung đột (Der Streit) trong chương 4,
quyển Xã hội học (Soziologie) của ông xuất bản vào năm 1908.
13
Đối với Simmel, xung đột không nên được coi như một hiện tượng
tiêu cực, mà đúng ra cần coi đây như một hình thái tích cực của quá trình
xã hội hóa, một nhân tố của tình trạng quân bình xã hội vốn có khả năng
góp phần vào việc điều tiết xã hội cũng như việc tạo ra những chuẩn mực
và quy tắc chung cho các bên có liên quan.
14
Everett C. Hughes diễn giải
rằng “ Simmel coi xung đột là một bộ phận thuộc về cái động năng
[dynamic] mà nhờ đó một số người quy tụ lại với nhau (...) trong những
sự kết hợp không dễ dàng [uneasy] mà chúng ta gọi là các nhóm.”
Hughes coi Simmel tương tự như một “ Freud của lĩnh vực nghiên cứu về
xã hội” : “ Thay vì xem sự thay đổi như là việc gây nhiễu loạn cho một sự
vật ổn định tự nhiên mà ta gọi là xã hội, [Simmel] coi bản thân trạng
thái ổn định như một thứ quân bình tạm thời (cho dù nó có thể tồn tại
khá lâu) giữa các lực đang tương tác với nhau; và theo định nghĩa thì
các lực đều chỉ có thể được mô tả trên bình diện thay đổi. Điều này
giống một cách kỳ lạ với điều mà Freud đã làm khi nghiên cứu về nhân
cách của con người.”
15
Simmel cho rằng sau một cuộc xung đột, người ta thường đi đến
một trong những giải pháp sau đây: hoặc là thông qua sự thắng lợi của
một bên liên quan, hoặc là bằng một sự cam chịu, hoặc là bằng cách đi
tìm một sự thỏa thuận tạm thời giữa các bên đối kháng –nghĩa là: hoặc là
sự chiến thắng, hoặc là sự mệt mỏi, hoặc là sự thỏa hiệp.
16
Theo Simmel, sự thỏa hiệp (compromise) là “ một trong những phát
minh lớn nhất của nhân loại”(tr. 143), vì đây là một trong những kỹ
thuật mà con người thường sử dụng trong đời sống hàng ngày. “ Con
người nguyên thủy, cũng giống như đứa trẻ, thường hành động theo sự
thôi thúc tự nhiên bằng cách chiếm đoạt ngay lấy thứ mà mình muốn,
không cần biết nó đang thuộc về ai. Bên cạnh quà tặng [gift] thì việc ăn
cắp [robbery] là hình thức tự nhiên nhất của sự thay đổi sở hữu, và chính
vì thế mà hiếm khi không xảy ra xung đột trong các xã hội nguyên thủy.
Nhưng một khi người ta hiểu rằng có thể tránh xung đột bằng cách tặng
cho người sở hữu đồ vật mà ta thèm muốn một đồ vật khác mà ta có, làm
sao để cuối cùng thì chi phí tổng thể sẽ nhẹ hơn so với trường hợp mà ta
tiếp tục xung đột hoặc bắt đầu xung đột –đó chính là điểm khởi thủy của
mọi nền kinh tế văn minh, của mọi quá trình lưu thông hàng hóa phát
triển sau này. Mọi sự trao đổi đồ vật đều là sự thỏa hiệp”(tr. 143). Ông
viết tiếp: “ Sự thỏa hiệp thông qua sự hoán đổi –tập quán hàng đổi hàng
[exchange] là một trường hợp đặc thù của sự hoán đổi này –diễn tả khả
năng (… ) tránh cuộc chiến hoặc chấm dứt cuộc chiến trước khi cuộc
chiến này được ngã ngũ đơn giản bởi sức mạnh của các bên liên quan”
(tr. 144-145).
Theo Simmel, sự hòa giải khác hẳn sự thỏa hiệp: “ Sự hòa giải là
một phương thức thuần túy chủ quan, tương phản với tính chất khách
quan của việc kết thúc cuộc chiến thông qua sự thỏa hiệp” . Sự hòa giải
không phải là hệ quả của “ sự yếu đuối hay lòng nhân từ, luân lý xã hội
hay tình thương tha nhân” , cũng không phải là “ tinh thần yêu hòa bình”
(tr. 145) bởi lẽ sự hòa giải chỉ xuất hiện với đầy đủ tính chất của nó sau
khi người ta đã tham gia hết mình vào một cuộc chiến.
Tinh thần hòa giải là một thứ tâm thế tâm lý-xã hội rất gần với sự
“ tha thứ”(forgiving) vốn cũng không phải là do phản ứng mềm yếu (tr.
145). “ Trong sự hòa giải, cũng tương tự như trong sự tha thứ, có một cái
gì đó phi lý tính [irrational], giống như một dạng chối bỏ cái mà ngay
trước đó người ta đang là” (tr. 146).
Theo Simmel, cũng giống như sự tha thứ, người ta khó lòng hiểu
được trọn vẹn sự hòa giải nếu chỉ xét trên bình diện lý tính: “ Trong sự
tha thứ, có cái gì đó mà người ta không thực sự hiểu được xét về mặt lý
tính; trong chừng mực nào đó, đây cũng chính là đặc trưng của sự hòa
giải; và do vậy mà cả hai quá trình xã hội học này đều được tìm thấy một
cách có ý nghĩa trong sự huyền nhiệm tôn giáo [mysticism of religion];
sở dĩ chúng như vậy là bởi vì, tuy vẫn là những hiện tượng xã hội học,
chúng chứa đựng sẵn một yếu tố mang tính chất huyền nhiệm và tính
chất tôn giáo” (tr. 146-147).
Sau một cuộc xung đột, mối quan hệ “hòa giải” là mối quan hệ “ đã
trải qua một sự đoạn tuyệt [rupture] thực thụ và sau đó được nối lại trên
một nền tảng mới” (tr. 147).
Simmel nhận xét rằng “ sự hòa giải càng sâu xa và đậm đà khi mà
sự đoạn tuyệt đã kéo dài trong một thời gian khá lâu”(tr. 149). Theo
ông, điều quan trọng cần xem xét ở đây là “ tốc độ nhanh hay chậm của
quá trình hòa giải cũng như của quá trình ‘ tha thứ và lãng quên’ ” . Ông
viết: “ Cũng giống như khi người ta không nên học nhanh quá nếu người
ta muốn nhớ lâu những điều đã học được, người ta cũng không nên lãng
quên nhanh quá nếu người ta muốn sự lãng quên phát huy hết ý nghĩa xã
hội học của nó” (tr. 149).
Simmel nhấn mạnh rằng người ta chỉ có thể hòa giải “ trong một tâm
thế cởi mở, hay ít ra trong một tâm thế có ý thức cao hơn” , và mối quan
hệ sau khi hòa giải có thể có cường độ đậm đà hơn hẳn so với thời gian
trước khi xảy ra đổ vỡ; sở dĩ như vậy là do quá trình hòa giải “ tạo ra một
bối cảnh mà trong đó tất cả các giá trị và các khuynh hướng bảo vệ sự
đoàn kết trở nên nổi bật một cách rõ rệt hơn và một cách có ý thức hơn”
(tr. 149).
Đáng chú ý là Simmel còn nhận xét rằng ngay cả trong trường hợp
mà “ đối tượng của sự xung đột đột nhiên biến mất” thì vẫn có thể tiếp tục
xảy ra một giai đoạn xung đột “ phi lý tính và đầy sóng gió” , bởi vì “ xúc
cảm của chúng ta thường bảo thủ hơn cái đầu của chúng ta”(tr. 139).
Thậm chí “ khi mà cả hai bên đều thừa nhận rằng đối tượng của sự xung
đột là hão huyền và không đáng để đánh nhau” , thì theo Simmel, “ cảm
giác xấu hổ về sự sai lầm thường thúc đẩy người ta tiếp tục đánh nhau
trong một thời gian dài mà hoàn toàn chẳng có duyên cớ gì cả, và tiêu
tốn năng lượng một cách nặng nề” (tr. 140).
Simmel phân biệt hai trường hợp cực đoan của tình trạng “ bất khả
hòa giải”(irreconcilability): trường hợp thứ nhất là trường hợp “ bi thảm
nhất”và trường hợp thứ hai là trường hợp nhẹ nhất; nằm giữa hai trường
hợp này là một loạt những mức độ bất khả hòa giải khác nhau mà
Simmel không nêu ra chi tiết. Trong trường hợp thứ nhất, sở dĩ không thể
hòa giải là do cuộc chiến xung đột đã làm cho “ tâm hồn trải qua một sự
biến đổi trong bản thể của mình” , một sự biến đổi “ không thể đảo
ngược”và có thể được ví như đã bị “ cụt mất hẳn”một tay hay một chân,
chứ không phải chỉ là một “ vết sẹo” , làm như thể cuộc xung đột “ đã giết
chết một cái gì đó [trong tâm can] mà người ta không thể hồi sinh được”
(tr. 151) –theo Simmel, điều này cho thấy “ sự bất lực của ý chí trước
thực thể của con người”(tr. 151-152). Trong trường hợp thứ hai (nhẹ
nhất), tuy cả hai phía vẫn không thể hòa giải được với nhau và vẫn không
quên tất cả những sự cay cú đã từng nếm trải trong cuộc xung đột, nhưng
những ký ức ấy và những sự chịu đựng ấy không còn bị coi là những tổn
thất, mà ngược lại, “ được tháp nhập vào trong hình ảnh của người bên
kia”như là những “ yếu tố hữu cơ” , “ cũng giống như thể chúng ta yêu
mến một người với tất cả những khuyết điểm của họ” , hay nói cách khác,
những căn nguyên của sự xung đột giờ đây dường như đã “ được khoanh
lại”(localized) (tr. 152).
Thiết tưởng những ý tưởng của Georg Simmel có thể gợi lên cho
chúng ta những suy nghĩ và giả thuyết bổ ích liên quan tới chủ đề đang
bàn.
Nỗ lực của giáo hội Phật giáo
Có lẽ do sự hòa giải xét ở một khía cạnh nào đó vượt lên trên lý tính
thông thường và phần nào đó mang tính chất “ huyền nhiệm tôn giáo”
như Georg Simmel nói nên chúng ta mới chứng kiến một số nỗ lực của
giáo hội Phật giáo qua những buổi lễ cầu siêu trong những năm gần đây
theo hướng tinh thần hòa giải này.
Vào đầu năm 2007, thiền sư Thích Nhất Hạnh cùng tăng đoàn Làng
Mai (Pháp) đã tổ chức lễ “ Đại trai đàn bình đẳng chẩn tế”lần lượt tại
chùa Vĩnh Nghiêm ở TP. HCM từ ngày 16 đến 18-3-2007, tại chùa Diệu
Đế ở Huế từ ngày 4 đến 6-4-2007, và ở chùa Non, Sóc Sơn gần Hà Nội,
từ ngày 20 đến 24-4-2007,
17
với mục đích là để “ cầu siêu độ cho tất cả
đồng bào tử nạn trong chiến tranh, trong đó có chiến sĩ trận vong, nạn
nhân chiến tranh, những người bị mất tích mà hài cốt chưa tìm được...
không phân biệt chủng tộc, Bắc Nam, tôn giáo, chính kiến, già trẻ hay
trai gái” , theo lời thiền sư Thích Nhất Hạnh.
18
Đầu năm 2010, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Ban trị
sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Kon Tum đã tổ chức đại lễ “ Đại trai đàn kỳ
siêu bạt độ anh linh các anh hùng liệt sĩ, đồng bào tử nạn trong chiến
tranh ở năm tỉnh Tây Nguyên”tại chùa tháp Kỳ Quang (tỉnh Kon Tum)
từ ngày 14 đến 15-3-2010.
19
Theo lời thiền sư Thích Nhất Hạnh, trong cuộc chiến tranh ở Việt
Nam, “ phía nào cũng có người trực tiếp hoặc gián tiếp gánh chịu khổ
đau” , do vậy đại lễ cầu siêu là một “ phương pháp tâm lý trị liệu”nhằm
“ chấm dứt và không truyền khổ đau, hận thù đến thế hệ tương lai” , nhằm
“ chữa lành những vết thương rướm máu lâu ngày chưa lành (… ), nối kết
lại tình đồng bào ruột thịt” , bằng cách “ đưa những đau khổ đó lên ánh
sáng của ý thức, nhận diện nó và mới chuyển hóa nó được” . Do vậy, “nội
dung” thực sự của nghi lễ trai đàn này là “ hòa giải, xóa bỏ hận thù, là sự
trị liệu rất cần thiết để hòa hợp dân tộc” .
20
Dù sao suy cho cùng thì cũng đã đến lúc chúng ta phải đặt ra những
câu hỏi như thế nào là thắng, thế nào là bại, thế nào là được, thế nào là
mất trong cuộc đời… xét trên bình diện triết lý hay kể cả trên bình diện
tư tưởng tôn giáo thì may ra mới có thể vượt qua những tị hiềm và xung
khắc của một thời. Có những khía cạnh phức tạp của một số trường hợp
phân hóa mà nhân sinh quan của một số tư tưởng tôn giáo có thể giúp
điều trị một cách tích cực nhằm góp phần vào tiến trình hòa giải trong xã
hội.
thời đại mới
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN Số 25 tháng 7, 2012
Vấn đề hòa giải trong xã hội Việt Nam đương đại
Trần Hữu Quang
13
Xem: Georg Simmel, Le conflit, dịch từ tiếng Đức sang tiếng Pháp bởi Sybille
Muller, Belval, Ed. Circé, Coll. Poche, 2003 (những số trang trích dẫn sau đây
đều nằm trong quyển sách này); và xem: Georg Simmel, Conflict and the Web of
Group-Affiliations, bản dịch của Kurt H. Wolff và Reinhard Bendix, New York,
The Free Press (ấn bản lần đầu: 1955), paperback edition, 1964 (để cho độc giả
tiện theo dõi, sau đây chúng tôi có ghi chú một số thuật ngữ của Simmel bằng
tiếng Anh, trích từ bản dịch tiếng Anh này).
14
Xem bài giới thiệu của Julien Freund, “Préface”, trong Georg Simmel, Le
conflit, sách đã dẫn, tr. 11-12.
15
Everett Cherrington Hughes, “Foreword”, trong Georg Simmel, Conflict and
the Web of Group-Affiliations, sách đã dẫn, tr. 6.
16
Xem Julien Freund, bài đã dẫn, tr. 16.
17
Xem Y. Trinh, “ Đại trai đàn bình đẳng chẩn tế: Trị liệu vết thương lòng”,
Tuổi trẻ, 17-3-2007.
18
Lê Anh Đủ, Yến Trinh phỏng vấn, “Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Hòa hợp dân
tộc để thống nhất lòng người”, Tuổi trẻ, 23-2-2007.
19
Xem: G. Thu, “Cầu siêu cho liệt sĩ, đồng bào tử nạn trong chiến tranh”, Người
lao động, 15-3-2010.
20
Xem bài phỏng vấn của Lê Anh Đủ, Yến Trinh, bài đã dẫn.












How to use Quote function: