My Opera is closing 1st of March

Lược khỏi Hiến pháp những gì chưa thể 'luật hóa'

,

Lược khỏi Hiến pháp những gì chưa thể 'luật hóa'
0 0 12345

- Các điều khoản của Hiến pháp đều phải có nội hàm rõ ràng, đều có khả năng “luật hóa” và đều phải luật hóa. Vì vậy, đương nhiên cần bỏ ra khỏi Dự thảo Hiến pháp sửa đổi những điều khoản, những khái niệm chưa xác định được nội hàm chính xác, chưa thể hoặc không thể “luật hóa” - chuyên gia Bùi Đức Lại viết.


>> Dự thảo sửa đổi Hiến pháp lấy ý kiến nhân dân

1- Theo nghị quyết của Quốc hội, hiện nay việc góp ý kiến sửa Hiến pháp 1992 đang được khởi động. Sửa Hiến pháp - một việc hệ trọng của đất nước được ban lãnh đạo cao cấp và các cơ quan tham mưu bỏ nhiều công sức chuẩn bị từ sớm, nhưng có vẻ như chưa thu hút được sự chú ý thực sự xứng tầm của xã hội. Không phải chỉ vì vào thời điểm hiện nay xã hội phải đối mặt và bận lòng với những vấn đề “nước sôi lửa bỏng” bức xúc hơn, như độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của đất nước bị đe dọa, suy thoái và tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp, kinh tế khó khăn, mức sống giảm sút, tệ nạn phát triển… Một nguyên nhân không kém phần quan trọng là tâm trạng chưa tin vào hiệu quả góp ý kiến xây dựng Hiến pháp. Đất nước đang đứng trước nhiều vấn đề trọng đại, trong đó có những vấn đề mà thực tiễn những năm qua (và phần nào sự phát triển của nhân thức lý luận) đã tạo ra những tiền đề để điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp, hoặc ít ra tổ chức nghiên cứu, trao đổi nghiêm túc, khoa học và thiết thực.
Sửa đổi Hiến pháp lần này chính là một cơ hội như vậy. Tiếc rằng, có nhiều nguyên nhân khiến người ta vẫn dè dặt, thậm chí muốn né tránh một số chủ đề được cho là “nhạy cảm”, một số luận điểm tưởng như thuộc diện “miễn bàn”, đúng sai đâu chưa biết, chẳng những không được nghe mà có khi còn mang vạ. Nếu không khắc phục điều này thì việc tổ chức lấy ý kiến sẽ không thể có hiệu quả.



Hiến pháp 1992 đã có những điều khoản về việc trưng cầu ý dân (Khoản 14 Điều 84 về nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội, Điều 53 về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân). Như vậy, đã có cơ sở pháp lý để thực hiện việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp sửa đổi - văn bản xứng đáng nhất để được đưa ra trưng cầu ý dân. Thực hiện trưng cầu ý dân chắc chắn mang lại hiệu quả tích cực rõ rệt về nhiều mặt, mà cái có thể thấy ngay được chất lượng dự thảo sẽ tốt hơn, thu hút được nhiều hơn trí tuệ xã hội. Đương nhiên, đưa ra trưng cầu ý dân Dự thảo Hiến pháp sẽ đặt ra hàng loạt vấn đề cho ban lãnh đạo và ban dự thảo, nhưng đây là việc đáng làm vì lợi ích to lớn có thể thu được, kể cả vì sự đồng thuận cao của xã hội đối với Hiến pháp mới. Đảng lãnh đạo đã có kinh nghiệm tốt xử lý tình huống tương tự khi năm 1985-1986 đã kiên quyết thay hẳn bản dự thảo báo cáo chính trị đã được chuẩn bị để đưa ra Báo cáo chính trị tại Đại hội VI, phù hợp với thực tiễn, được đồng tình cao, thu hút được trí tuệ của toàn dân, toàn Đảng, chính thức khai mở thời kỳ đổi mới của đất nước.

Nếu có những lý do xác đáng để không thực hiện trưng cầu ý dân về Hiến pháp sửa đổi mà chỉ thực hiện lấy ý kiến như hiện nay, thì ban lãnh đạo cần có những biện pháp thiết thực để “giải phóng tư tưởng” xã hội, góp phần giảm đi những kiêng dè và ngờ vực, tạo ra niềm tin về thiện ý và sự chân thành của mình. Không chỉ với những lời lẽ chung chung như “không có cấm kỵ góp ý sửa đổi Hiến pháp” mà bằng hành động thực tế. Ví dụ khuyến khích báo chí đăng tải và tổ chức thảo luận công khai những ý kiến khác nhau về Dự thảo Hiến pháp, kể cả những “nội dung nhạy cảm”, trong đó lý luận và kinh nghiệm thực tiễn, các quan điểm và nhận thức có dịp đối sánh, bổ sung, điều chỉnh nhau, trước khi có quyết định cuối cùng theo thủ tục lập hiến.

2- Về hình thức Dự thảo Hiến pháp sửa đổi.

Bản Dự thảo đã có những mặt tích cực, đã phản ảnh được một phần thực tiễn và yêu cầu phát triển đất nước giai đoạn hiện nay. Góp một số ý kiến sau đây về hình thức Dự thảo - vốn dĩ là vấn đề kỹ thuật lập pháp - điều mà các thành viên Ban soạn thảo rất thành thạo- xuất phát từ suy nghĩ rằng đây không còn là vấn đề kỹ thuật lập pháp nữa.

- Dự thảo Hiến pháp là văn kiện pháp lý cơ bản, là luật cơ bản của đất nước. Vì vậy cần lược bớt, có thể thì bỏ hẳn, những nội dung, lời lẽ khác không trực tiếp liên quan đến tính chất đó (những lời lẽ tuyên ngôn, cam kết, thiện ý, mô tả, giãi bày..). Cũng cần hết sức hạn chế khi đề cập những vấn đề không trực tiếp chịu sự điều chỉnh của Hiến pháp và luật pháp.

- Hiến pháp với tính chất khế ước, là cam kết chung, ràng buộc đối với mọi thành viên xã hội (công dân, tổ chức, kể cả nhà nước), mà vấn đề trung tâm là quan hệ giữa công dân và nhà nước, giữa các cơ quan nhà nước với nhau. Quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm công dân không phải là do nhà nước định ra, sang nhượng hoặc ban phát mà ngược lại, quyền hạn và trách nhiệm của nhà nước là do nhân dân ủy thác. Tinh thần này phần nào đã được thể hiện trong Dự thảo, nhưng còn nhiều điều khoản, nhiều ý mà nội dung và văn phong vẫn chưa thoát khỏi quan niệm cũ đặt nhà nước ở vị trí cao hơn giao quyền cho dân kèm theo những dự phòng về chế tài hạn chế quyền đó khi nhà nước muốn. Những điều như vậy cần được sửa đổi, biên tập lại. Chỉ cần quán triệt và thống nhất nhận thức đúng vấn đề thì việc sửa đổi, biên tập lại hoàn toàn trong tầm xử lý của Ban soạn thảo.

- Hiến pháp là luật cơ bản, là luật mẹ. Vì vậy:

* Các bộ luật, luật, các quy phạm luật pháp khác đều mang tính chất cụ thể hóa Hiến pháp, không được trái mà còn phải xuất phát tinh thần và lời văn của Hiến pháp. Trong một số không ít điều khoản của Dự thảo, vẫn kèm một câu “thòng” “theo luật định” là thừa. Bởi vì hầu hết - nếu không phải tất cả mọi điều khoản của Hiến pháp - trước sau đều phải được cụ thể hóa bằng luật. Vậy nói “theo luật định” không những thừa, mà còn có hại, vô hình trung hạ thấp vị trí của Hiến pháp và dễ bị lạm dụng, làm sai tinh thần cơ bản của Hiến pháp.

* Các điều khoản của Hiến pháp đều phải có nội hàm rõ ràng, đều có khả năng “luật hóa” và đều phải luật hóa. Vì vậy, đương nhiên cần bỏ ra khỏi Dự thảo những điều khoản, những khái niệm chưa xác định được nội hàm chính xác, chưa thể hoặc không thể “luật hóa”. Mặt khác các điều khoản phải đảm bảo tính nhất quán, giữa chúng không có mâu thuẫn nội tại, ít ra là trên phương diện logic hình thức.

3- Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 trên lãnh thổ Việt Nam đã tùng có nhiều bản hiến pháp. Có nhiều hiến pháp, có nguyên nhân lịch sử khách quan, cũng có những nguyên nhân chủ quan, nhưng nhìn chung không phải là điều hay. Hiến pháp 1946 đầy sức sống và tiềm năng khai mở nhưng không có điều kiện thực hiện. Hiến pháp 1980 chịu ảnh hưởng nặng nề của quan niệm cũ về chủ nghĩa xã hội và tư tưởng chủ quan duy ý chí không phù hợp với thực tế và đã bị phủ định. Dự thảo đánh giá chung “ Mỗi bản Hiến pháp đều ghi nhận những thành quả cách mạng to lớn mà nhân dân Việt Nam đã đạt được, tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển đất nước” là không sát đúng. Vấn đề không phải là phê phán cái đã qua mà là từ đó rút ra bài học cho hiện tại và ngăn ngừa lặp lại cái sai cũ.

Ai cũng biết rằng giá trị một bản hiến pháp cuối cùng nằm ở chỗ nó đáp ứng được các yêu cầu cuộc sống hiện thực, có khả năng thực thi trong tính chất toàn vẹn của nó, từ đó giải phóng các tiềm năng, tạo ra chất lượng phát triển mới cho đất nước.

Sửa Hiến pháp trước hết phải minh định thật rõ ràng đất nước đang ở giai đoạn nào của sự phát triển. Đảng cầm quyền đã nêu trong Cương lĩnh, nước ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Hãy tạm bỏ qua những điều chưa rõ, những ý kiến còn khác nhau về “chủ nghĩa xã hội”, để có thể thống nhất một điều với phát biểu của nhiều vị lãnh đạo là thời kỳ quá độ sẽ kéo dài năm bảy chục năm. Hiến pháp sửa đổi phải phù hợp và đáp ứng những vấn đề hiện thực về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước trong năm bảy chục năm quá độ đó, chứ không phải là đất nước xã hội chủ nghĩa theo một mô hình còn đang tìm kiếm.

Dự thảo có những điều đã thể hiện tinh thần đó. Ví dụ như các Điều 53, 54, 55 đã bỏ nội dung “sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng” nêu trong Hiến pháp 1992. Nhưng còn những điều vẫn chưa thoát khỏi cách tiếp cận duy ý chí. Ví dụ như vấn đề đất đai và ruộng đất. Luật và hàng mấy trăm văn bản quy phạm luật pháp trong vấn đề này trong thời gian qua đã làm sơ sở cho việc thực hiện các hành vi mang lại hệ lụy nặng nề về chính trị, kinh tế, xã hội cho đất nước (trong đó có tham nhũng và phần lớn các khiếu kiện, xung đột quyền lợi hiện nay). Tất cả các quy phạm luật pháp đó vẫn nằm trong tinh thần và lời văn của các điều khoản có liên quan trong Hiến pháp 1992. Vậy liệu có căn cứ gì để Hiến pháp tiếp tục “kiên trì” những điều đó như thể hiện trong Điều 57, 58 của Dự thảo?

Thông qua bản Hiến pháp 1946, Hồ Chí Minh đã đưa ra một hình mẫu về cách xây dựng và nội dung của hiến pháp của Việt Nam thời kỳ quá độ. Bản Hiến pháp đó dù còn những thiếu sót và điều kiện lịch sử trong nước và quốc tế đã có nhiều thay đổi lớn, nhưng những giá trị tinh thần cơ bản của nó vẫn rất sống động và thiết thực, có sức hấp dẫn, khai mở mạnh mẽ. Rất nhiều trong số những giá trị đó không chỉ nên học tập mà có thể và nên dựa vào để sửa Hiến pháp. Sau những thăng trầm và những bước đi quanh co, xét về bản chất và trên những nét cơ bản, đất nước có lẽ vẫn rất gần với điểm xuất phát khi đó.

Bùi Đức Lại (nguyên chuyên gia cao cấp Ban Tổ chức Trung ương)

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/106209/luoc-khoi-hien-phap-nhung-gi-chua-the--luat-hoa-.html

Trả lời Lữ PhươngBài viết sắc sảo về tình hình ............... Công Vinh :D

Comments

Minhcineenebo Tuesday, January 22, 2013 5:52:57 PM

Bài 2:
Hiến pháp và nguyên tắc tập trung dân chủ
1 0 12345

- Điều 8 dự thảo Hiến pháp sửa đổi viết: “Nhà nước tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”.

Bài 1: Lược khỏi Hiến pháp những gì chưa thể 'luật hóa'
Điều nói trên thay cho điều 6 trong Hiến pháp 1992: “Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”.

Nguyên tắc tập trung dân chủ trong cơ quan nhà nước là gì? Nội hàm của nó thế nào là vấn đề cần trao đổi.

Nguyên tắc tập trung dân chủ trong cơ quan nhà nước không chỉ được nêu trong Hiến pháp 1992 mà trong cả nhiều luật quan trọng khác như: luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 (điều 4 “Quốc hội tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số”); luật Tổ chức Chính phủ năm 2001 (điều 6: “Chính phủ tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ... Chính phủ thảo luận tập thể và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng được quy định tại Điều 19 của luật này”); luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 (điều 4: “Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”).

Tuy được đề ra nhiều như vậy, nhưng ngoài một ý cụ thể kèm theo "làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số" như trên, không thể tìm thấy nội dung của nguyên tắc này được minh định trong một văn bản quy phạm pháp luật nào. Chỉ có thể tìm thấy những nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ trong Điều lệ Đảng (Điều 9):

“Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nội dung cơ bản của nguyên tắc đó là:

1- Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử mà lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

2- Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đai hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp ủy).

3- Cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp, trước cấp ủy cấp trên và cấp dưới; định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện tự phê bình và phê bình.

4- Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương.

5- Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp ủy cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Đảng. Cấp ủy có thẩm quyền nghiên cứu xem xét các ý kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số.

6- Tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi thẩm quyền của mình, song không được trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên”.

Đảng và nhà nước là những thực thể chính trị có vị trí, vai trò, chức năng, tính chất khác nhau, nên đương nhiên không thể áp dụng hoặc “diễn dịch” một cách đơn giản nguyên tắc tổ chức của Đảng sang Nhà nước, dù cho đó Đảng duy nhất lãnh đạo - cầm quyền. Muốn làm như vậy cũng không thể. Chỉ cần “áp” thử sáu nội dung cơ bản của nguyên tắc này trong Đảng vào các cơ quan nhà nước, sẽ thấy ngay sự khiên cưỡng mà lý trí thông thường khó chấp nhận.

Có thể xem đây là một trường hợp cụ thể về việc trong dự thảo Hiến pháp có những điều khoản, những khái niệm chưa xác định được nội hàm, điều mà chúng tôi đề cập trong bài trước.

Có lẽ Ban soạn thảo cũng cảm nhận thấy phần nào vấn đề này, nên đã tiến hành sửa đổi, điều chỉnh điều 6 Hiến pháp 1992 bằng điều 8 trong dự thảo.

Điều 8 có ba ý chính, trong đó hai ý đầu là thừa vì dự thảo ngay từ đầu đã khẳng định Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thì lẽ đương nhiên là “Nhà nước tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật” là điều không cần nhắc lại (thậm chí phải xem đây là định nghĩa về nhà nước pháp quyền).

Những người soạn thảo biết rõ điều này hơn ai hết, cho nên khi viết như vậy, chắc chắn không phải vói ý định để nhấn mạnh hay đề phòng nhầm lẫn, mà có lẽ để có thể kèm vào cái câu “thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”. Bỏ qua cách diễn đạt không thật chỉnh về văn phạm, với những lý lẽ trình bày trên đề nghị bỏ hẳn điều khoản này vì nội dung của nó. Giữ lại điều khoản này có thể gây những ngộ nhận và nhầm lẫn trong việc cụ thể hoá Hiến pháp và xây dựng các luật liên quan.

Cần phải nói thêm rằng, ngoài Quốc hội, Hội đồng nhân dân làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số (điều mà hiện nay trong thực tế nhiều lúc, nhiều nơi chưa thực hiện nghiêm chỉnh), còn nhiều cơ quan nhà nước khác không làm việc, hoặc chỉ làm việc một phần theo nguyên tắc này. Chính phủ cũng chỉ quyết định theo đa số trong một số vấn đề, trong khi Hiến pháp 1992 và dự thảo đều vẫn khẳng định một cách đúng đắn vai trò người đứng đầu Chính phủ của Thủ tướng.

Trong điều kiện mới cũng cần đổi mới nhận thức, cách hiểu, thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Cách hiểu và thực hành như cũ trên thực tế đã vô hiệu hoá sức sống và tinh thần cách mạng của nó, khiến cho nó không còn “sức mạnh vạn năng” như lầm tưởng. Bằng chứng là nhiều đảng cộng sản cầm quyền ở Liên Xô và Đông Âu dù về hình thức không ngừng đề cao nó, nhưng đã biến nó thành tập trung quan liêu, làm tê liệt sức chiến đấu của đảng, không ngăn chặn được sự suy thoái toàn diện cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, dẫn họ đến sụp đổ và bị loại khỏi vũ đài chính trị.

Bùi Đức Lại (nguyên chuyên gia cao cấp Ban Tổ chức Trung ương)

Minhcineenebo Thursday, January 24, 2013 5:43:34 PM

Hội đồng Hiến pháp phải độc lập
1 0 12345

- Nguyên Chủ tịch HĐND TP.HCM Phạm Phương Thảo đề xuất xem xét lập Hội đồng Hiến pháp độc lập để xử lý mạnh những vấn đề liên quan đến vi hiến.


>> Dự thảo sửa đổi Hiến pháp lấy ý kiến nhân dân
>> Hiến pháp nên đề cập về Đảng thế nào?
Ngày 24/1, HĐND TP.HCM tổ chức hội nghị lấy ý kiến của những người nguyên là lãnh đạo HĐND TP, lãnh đạo sở ngành, trường cán bộ TP...

Quyền tài phán

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đã có thêm một chương với ba điều về Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán Nhà nước.



Nguyên Phó chủ nhiệm VPQH Trần Quốc Thuận: Hội đồng Hiến pháp phải có quyền tài phán
Dự thảo ghi rõ “Hội đồng Hiến pháp kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật” và có chức năng “kiến nghị Quốc hội xem xét lại các văn bản quy phạm pháp luật của mình khi phát hiện có vi phạm Hiến pháp” và “yêu cầu Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ QH, Chính phủ…sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật…”.

Các đại biểu cho rằng, chức năng “kiến nghị” và “yêu cầu” chỉ là nhiệm vụ tham mưu, giúp việc tương ứng như cơ quan hiện hành, hoàn toàn chưa có quyền tài phán.

Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội đề nghị, Hội đồng Hiến pháp phải có quyền tài phán, ra quyết định về tính hợp hiến của văn bản.

Đồng tình với đề nghị này, nguyên Chủ tịch HĐND TP.HCM Phạm Phương Thảo nói, nên làm rõ chức năng và chế tài của Hội đồng Hiến pháp.



Nguyên Chủ tịch HĐND TP.HCM Phạm Phương Thảo: Nếu Hội đồng Hiến pháp chỉ có chức năng tham mưu thì quá yếu
“Làm thế nào để chúng ta có một Hội đồng Hiến pháp mạnh để xử lý những vi phạm Hiến pháp. Tôi cho đây là một vấn đề quan trọng. Nếu Hội đồng Hiến pháp chỉ có chức năng tham mưu như xem xét, kiến nghị, đề xuất... thì tôi thấy là quá yếu. Nên chăng, xem xét lập Hội đồng Hiến pháp độc lập để xử lý mạnh những vấn đề liên quan đến vi hiến”, bà Thảo đề nghị.

Theo bà Thảo, trong vấn đề vi phạm Hiến pháp thì không chỉ Quốc hội, hệ thống chính quyền dễ bị vi hiến mà ngay cả người dân cũng dễ bị vi phạm pháp luật.

“Nếu chúng ta chưa lập được Tòa án Hiến pháp thì Hội đồng Hiến pháp nên có tư cách độc lập để có chế tài xử lý mạnh hơn”, bà Thảo nói tiếp.

Nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM Ngô Minh Hồng cho rằng, khi chúng ta xác lập Hội đồng Hiến pháp mà như dự thảo thì “thà đừng có còn hơn”.

“Quốc hội đâu có thiếu cơ quan kiểm tra tính hợp hiến, rồi thì kiến nghị Quốc hội, yêu cầu ông này ông kia bãi bỏ… Khi kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật nếu thấy vi hiến là phải bãi bỏ chứ không phải là “ông kiến nghị”. Hội đồng Hiến pháp phải có quyền độc lập với các cơ quan hành pháp, tư pháp và cơ quan lập pháp thì chúng ta mới thành lập cơ quan này, nếu không đừng thành lập. Hay là vấn đề giám sát quyền công dân, là cái chỗ dựa để cho công dân khi người ta cảm thấy quyền của mình bị vi phạm thì tôi có quyền kiện ra hội đồng này”, bà Hồng đề nghị.

‘Ai cũng sợ TP.HCM đòi quyền tự trị’

Trong chương Chính quyền địa phương, nhiều đại biểu nhận xét dự thảo không có bước đột phá mới.

Bà Ngô Minh Hồng cho rằng, khi TP.HCM có đề xuất gì thì ai cũng sợ TP.HCM đòi quyền tự trị.

“Nhưng chính vì đặt TP.HCM hiện nay cũng như các tỉnh thành khác rõ ràng là gò bó không cho thành phố phát triển. Mà sự phát triển này là góp phần vào phát triển chung cho cả nước chứ hoàn toàn không phải đòi hỏi tự trị hay đòi hỏi gì hơn thế. Trong số đó có những quyền rất căn bản là quyền của HĐND TP.HCM phải được quyết những vấn đề của TP trong vấn đề phát triển kinh tế - xã hội”, bà Hồng nói.



Nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM Ngô Minh Hồng: Đặt TP.HCM cũng như các tỉnh thành khác rõ ràng là gò bó
“Chúng ta phải được sử dụng tiền làm ra chứ. Chúng tôi biết là hiện nay chính quyền TP có mấy trăm tỷ chẳng hạn nhưng không được sử dụng trong khi chúng ta cần cho hạ tầng… mà vẫn phải chấp hành đồng nào mua nước mắm, đồng nào mua nước tương”, bà Hồng lý giải.

Theo bà Hồng, trong sửa đổi Hiến pháp lần này cần phải có nguyên tắc mở rộng hơn quyền tự quyết cho chính quyền địa phương.

Là người gắn bó nhiều năm với chức vị Chủ tịch HĐND TP.HCM, bà Phạm Phương Thảo cũng nhìn nhận dự thảo sửa đổi Hiến pháp “không như mình muốn” là “dưới thành phố lớn thì có thành phố vệ tinh”.

“Đối với những đô thị đặc biệt như TP.HCM thì nên có một quy định là thành phố trong thành phố. Tôi cũng kiến nghị đổi luôn UBND thành Ủy ban hành chính và có chế định rõ trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu chính quyền các cấp”, bà Thảo đề nghị.

Trong chương 2 về quyền con người, các đại biểu cho rằng dự thảo Hiến pháp nói nhiều về quyền công dân mà ít nói về quyền con người. Điều 21 ghi “con người có quyền được sống” là còn quá sơ sài, theo các đại biểu nên chăng thêm quyền được “mưu cầu hạnh phúc” và quyền được “tự nguyện chết” vào điều này.

Điều 39 qui định rõ “nam, nữ có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện” nhưng nhiều đại biểu băn khoăn, trong năm qua đã có nhiều đám cưới của người đồng tính làm xôn xao dư luận mà chưa thấy đưa vào Hiến pháp thì sẽ xử lý thế nào. Cho nên đề nghị đưa vấn đề này vào Hiến pháp.

Tá Lâm


Mời bạn đọc theo dõi các bài viết về Hiến pháp tại địa chỉ http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/sua-hien-phap/

Mọi ý kiến đóng góp cho dự thảo sửa đổi Hiến pháp xin gửi về banchinhtri@vietnamnet.vn

Chú thích ảnh:
Hình 1: Bà Phạm Phương Thảo - nguyên Chủ tịch HĐND TP.HCM khóa 7 trả lời báo chí về sửa đổi Hiến pháp.
Hình 2: Luật sư Trần Quốc Thuận – nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội phát biểu.
Hình 3: Bà Ngô Minh Hồng – nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM: "Hội đồng Hiến pháp mà như dự thảo thì thà đừng có còn hơn”.

Minhcineenebo Friday, February 1, 2013 5:23:17 PM

Cạnh tranh để ngày càng trong sạch

- "Một đảng cầm quyền nên chấp nhận cạnh tranh, chính là chấp nhận sự tự rèn luyện để ngày càng trưởng thành, trong sạch và vững mạnh. Nhân dân sẽ giúp loại bỏ những phần tử suy thoái tư tưởng, thoái hóa biến chất, tham nhũng", nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Trần Quốc Thuận góp ý sửa Hiến pháp.

TIN LIÊN QUAN:


Hiến pháp nên đề cập về Đảng thế nào?
Vắng phản biện, cạnh tranh dễ độc đoán, chuyên quyền
Ngày 1/2, tại TP.HCM, Hội đồng tư vấn Dân chủ pháp luật (Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam) đã tổ chức hội thảo lấy ý kiến dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992.



Ông Lê Hiếu Đằng, Phó chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân chủ pháp luật, Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam
Nhiều ý kiến góp ý và khuyến nghị của nhân sĩ, trí thức đã tập trung ở tất cả các điều khoản của dự thảo này, đặc biệt là điều 4.

Khoản 1 điều 4 dự thảo ghi rõ “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Ông Phạm Vĩnh Thái - ủy viên Hội đồng tư vấn Dân chủ pháp luật cho rằng, về nguyên tắc trong nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân thì nhân dân là chủ thể quyền lực. Vai trò Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội về bản chất là do nhân dân ủy thác cho Đảng. Sự ủy thác đó có thể được ghi nhận trong Hiến pháp thông qua thủ tục lập hiến.

“Với tinh thần đó, điều khoản về Đảng trong Hiến pháp không nên thể hiện nguyên văn như Điều lệ Đảng. Không đưa vào điều khoản này những nội dung không thuộc đối tượng điều chỉnh trực tiếp của Hiến pháp và pháp luật. Những nội dung đó chịu sự điều chỉnh của Điều lệ Đảng và các qui định nội bộ của Đảng”, ông Thái nói.



Luật sư Nguyễn Hữu Danh
Theo ông, để thể hiện quyền giám sát của nhân dân (khoản 2 điều 4 của dự thảo) thì cần xây dựng luật về Đảng. “Vấn đề này là minh bạch, cần thiết với cả đất nước và Đảng. Thực tế đã chứng minh rằng, nếu chỉ đơn thuần dựa vào giám sát nội bộ, tự cho phép mình đứng ngoài sự giám sát của nhân dân và pháp luật thì Đảng càng có nguy cơ suy thoái, biến chất nhiều hơn và không còn giữ được vai trò lãnh đạo”, ông Thái lý giải.

Ông Lê Hiếu Đằng - Phó Chủ nhiệm Hội đồng chia sẻ: “Tôi thấy Bác Hồ có một câu nói rất hay là “Đảng chỉ trở thành người lãnh đạo các đảng viên gương mẫu khi các tổ chức đảng gương mẫu và nhất là khi Đảng đưa ra các đường lối chủ trương đúng đắn và phù hợp với lòng dân thì lúc đó Đảng mới là Đảng lãnh đạo”.

Đồng tình, luật sư Nguyễn Hữu Danh khẳng định: “Không thể nói Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nếu nhân dân không trao quyền lãnh đạo Nhà nước cho đảng viên qua các cuộc bầu cử dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện theo điều 6 của dự thảo Hiến pháp này”, luật sư Danh nói.

Luật sư Trần Quốc Thuận - nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cho rằng, dự thảo đã có sự tiến bộ khi bổ sung quyền con người. Tuy nhiên, theo ông, dự thảo vẫn phản ánh sự áp đặt ý chí, quan niệm cũ về Hiến pháp, quan tâm nhiều đến sự ổn định chế độ hơn là tự do và hạnh phúc của nhân dân và một số điều khoản mang tính tuyên ngôn thiếu nội hàm cụ thể.

Theo ông Thuận, một đảng cầm quyền nên chấp nhận cạnh tranh, chính là chấp nhận sự tự rèn luyện để ngày càng trưởng thành, trong sạch và vững mạnh. Nhân dân sẽ giúp loại bỏ những phần tử “suy thoái tư tưởng, thoái hóa biến chất, tham nhũng”.

Tá Lâm

Từ khóa: hiến pháp , Điều lệ Đảng , đảng viên , cạnh tranh , tham nhũng , giám sát , luật về Đảng

How to use Quote function:

  1. Select some text
  2. Click on the Quote link

Write a comment

Comment
(BBcode and HTML is turned off for anonymous user comments.)

If you can't read the words, press the small reload icon.


Smilies

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28