My Opera is closing 1st of March

IV. Cải cách giáo dục

,

Cải cách và sự phát triển - Nguyễn Trần Bạt

PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẢI CÁCH

Chương I. Quan niệm về Cải Cách
I. Khái niệm và bản chất của cải cách
1. Đổi mới, cải cách và cách mạng
2. Cải cách: Bản chất và mục tiêu
II. Cải cách - bài toán của lý thuyết phát triển
1. Những thay đổi trong quan niệm về phát triển
2. Cải cách vì mục tiêu phát triển bền vững
III. Giới hạn của cải cách
1. Tính chủ quan trong tác động nhân tạo vào đời sống tự nhiên
2. Quan hệ giữa phát triển quốc gia và phát triển toàn cầu
Chương II. Nội dung và Phương pháp luận Cải cách
I. Các cuộc cải cách cơ bản và đặc tính của nó
1. Đặt vấn đề
2. Cải cách kinh tế với vai trò tiên phong
3. Tính trễ của cải cách chính trị
4. Tính lạc hậu tương đối của văn hóa và tính tất yếu phải cải cách văn hóa
5. Cải cách giáo dục - Điểm hội tụ của tất cả các cuộc cải cách
II. Tự do - Linh hồn của các cuộc cải cách
1 . Tự do – Sản phẩm của cải cách hay cách mạng
2. Tự do - Điểm khởi đầu của mọi sự phát triển
III. Tính đồng bộ của các cuộc cải cách
1. Về khái niệm tính đồng bộ và sự cần thiết phải tiến hành đồng bộ các cuộc cải cách
2. Đảm bảo tính đồng bộ của các cuộc cải cách
IV. Xây dựng hệ tiêu chuẩn cải cách
PHẦN II: CÁC NƯỚC THẾ GIỚI THỨ BA VÀ VẤN ĐỀ CẢI CÁCH

Chương III: Các nước thế giới thứ ba trong bối cảnh Toàn cầu hoá
I. Toàn cầu hóa và những thay đổi của thế giới hiện đại
1. Tốc độ đổi mới của thế giới hiện đại
2. Tính phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng
II. Những xu thế phát triển tất yếu của thế giới hiện đại
1. Dân chủ hóa về chính trị
2. Tự do hóa về kinh tế
2.1. Toàn cầu hoá, kinh tế thị trường và sự nghèo đói
2.2. Thế giới thứ ba và tự do thương mại
3. Toàn cầu hóa về văn hóa
4. Những yêu cầu đặt ra đối với thế giới thứ ba
Chương IV: Nghiên cứu một số nội dung cải cách Các nước thế giới thứ ba
I. Cải cách kinh tế
1. Vấn đề xây dựng mô hình kinh tế
2. Kinh tế tư nhân - Động lực của quá trình cải cách kinh tế
2.1. Những sai lầm trên quy mô hệ thống
2.2. Những vấn đề của kinh tế tư nhân tại các nước đang phát triển
2.3. Kinh tế tư nhân và các giá trị chân chính của nó
2.4.Phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam
3. Phát triển khu vực kinh tế nhà nước
II. Cải cách chính trị
1. Những di sản của một cuộc giải phóng nửa vời
2. Sự chậm trễ của cải cách chính trị ở thế giới thứ ba
3. Thể chế lạc hậu và những căn bệnh của nó
3.1. Thể chế lạc hậu và căn bệnh thành tích
3.2. Thể chế lạc hậu và căn bệnh tham nhũng
4. Tổ chức và rèn luyện nền dân chủ ở thế giới thứ ba
4.1. Xây dựng thể chế cho phát triển
4.2. Nhà nước pháp quyền - Sản phẩm tất yếu của nền dân chủ chính trị
4.3. Phác thảo chương trình cải cách chính trị ở các nước thế giới thứ ba
III. Cải cách văn hóa
1. Sự lạc hậu về văn hóa của thế giới thứ ba
2. Nền văn hóa phi tự nhiên hay sai lầm chính trị của thế giới thứ ba
3. Ảnh hưởng của văn hóa lạc hậu đối với tiến trình phát triển
4. Cải cách văn hóa như thế nào?
IV. Cải cách giáo dục
1. Bàn về tính chủ thể của giới trí thức ở các nước thế giới thứ ba
2. Những căn bệnh chung của hệ thống giáo dục ở thế giới thứ ba
3. Truy nguyên tình trạng lạc hậu của hệ thống giáo dục
4. Cải cách giáo dục vì một nền giáo dục hiện đại
5. Thêm một số suy nghĩ về cải cách giáo dục
CHƯƠNG KẾT: CẢI CÁCH VÀ PHÁT TRIỂN TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA

IV. Cải cách giáo dục
Rất nhiều cuộc cải cách đã thất bại vì nó không bắt đầu từ con người. Con người không có nhận thức đúng, con người méo mó về văn hoá, méo mó về xã hội, méo mó về chính trị là nguyên nhân cơ bản nhất khiến một quốc gia không phát triển được. ở đây có một phần trách nhiệm thuộc về đội ngũ trí thức ở các nước thế giới thứ ba. Có thể nói, trí thức các nước thế giới thứ ba đã không hoàn thành sứ mệnh của mình trong việc hướng dẫn nhân dân và đi cùng nhân dân. Họ không đóng vai trò là bộ phận lãnh đạo xã hội trong vấn đề chuẩn bị lực lượng cho những giai đoạn phát triển tiếp theo của xã hội. Bắt đầu từ con người, bắt đầu từ phát triển con người chính là công việc quan trọng nhất mà một chính phủ sáng suốt phải làm. Phát triển con người đó là chiếc chìa khoá để phát triển xã hội.

Ai cũng biết phát triển con người phải thông qua giáo dục, từ ngàn năm trước người ta cũng đã biết như vậy nhưng vấn đề là giáo dục như thế nào? Nếu một nền giáo dục không vì con người mà vì những lợi ích chính trị nhất thời, thiển cận và vụ lợi thì còn tệ hại hơn, nó sẽ làm chậm sự phát triển. Tất cả các nước chậm phát triển đều bắt đầu bằng việc các nhà chính trị lợi dụng giáo dục như một phương pháp tuyên truyền chính trị. Một ví dụ rõ rệt nhất là Khổng giáo, một học thuyết xã hội vĩ đại đã bị chính trị hoá, bị những nhà chính trị lợi dụng, sử dụng như một công cụ duy trì thiết chế xã hội cũ kỹ và mục ruỗng, và kết quả là Khổng giáo đã kìm hãm sự phát triển của Trung Quốc. Đành rằng không phải tất cả các nguyên lý của Khổng giáo đều phản động và chậm phát triển nhưng vì sự "ổn định" của xã hội, Khổng giáo sắp đặt một trật tự quá chặt chẽ, ở đấy không có không gian tự do để vươn lên, để thay đổi và để phát triển. Khổng giáo đã trở thành công cụ trong tay giới thống trị, và do đó, không phải là công cụ cho sự phát triển. Chừng nào giáo dục còn tiếp tục được lợi dụng như một diễn đàn để giáo dục chính trị thì không có phát triển. Con người cần phải tự do về chính trị bởi vì phải xem chính trị là công cụ để nhận thức tính cộng đồng của con người. Chừng nào con người tự do để nhận thức tính cộng đồng và xem cộng đồng như một đòi hỏi chứ không phải là sự ép buộc thì sẽ có sự phát triển.

1. Bàn về tính chủ thể của giới trí thức ở các nước thế giới thứ ba
Giới trí thức nào cũng là sản phẩm của một hệ thống kinh tế, hệ thống chính trị, hệ thống văn hoá và hệ thống giáo dục. Trong tiến trình phát triển của một dân tộc, giới trí thức có vai trò rất quan trọng.
Khi nhân dân chưa đạt đến trình độ nhận thức cao thì việc nhận thức, đánh giá trình độ phát triển của dân tộc ấy phải bằng bộ phận tiên tiến nhất của nhân dân là giới trí thức. Tức là, giới trí thức phải là bộ não, là bộ phận tiên phong của nhân dân; giới trí thức phải nhận thức hộ nhân dân, thậm chí còn mách bảo nhân dân. Thế nhưng, một trong những khuynh hướng xấu của giới trí thức là nghĩ hộ nhân dân (nghĩ hộ chứ không phải là nhận thức hộ), cho nên giới trí thức bị cô lập ra khỏi nhân dân, đứng trên nhân dân và họ không có nguồn bổ sung. Sự có ích của giới trí thức là một trong những sự có ích quan trọng nhất của việc khai thác một cách hiệu quả nhất toàn bộ nguồn lực của xã hội. Giới trí thức phải đi cùng nhân dân, nếu không đi cùng nhân dân, không sống cùng nhân dân, không trở thành bộ não của nhân dân, không trở thành bộ phận tiên tiến của nhân dân thì giới trí thức không bao giờ đóng vai trò tích cực với sự phát triển xã hội. Vấn đề là cơ chế nào để giới trí thức đi cùng nhân dân?

Trong lịch sử phát triển của nhiều dân tộc, không phải lúc nào giới trí thức cũng đi cùng nhân dân mà luôn luôn đi cùng nhà cầm quyền vì nhà cầm quyền có điều kiện tạo cho giới trí thức chỗ đứng trong xã hội và tất cả những quyền lợi mà một con người có năng lực như giới trí thức được hưởng. Giới trí thức là một trong những nguồn lực quan trọng mà bất kỳ nhà cầm quyền nào cũng phải tranh thủ. Khi nhà cầm quyền gắn liền với nhân dân thì người trí thức tự nhiên có ích cho nhân dân cùng với sự có ích của nhà cầm quyền. Khi nhà cầm quyền trở thành kẻ cai trị nhân dân, đi ngược lại quyền lợi của nhân dân thì giới trí thức cũng đi theo, tức là, giới trí thức, cùng với nhà cầm quyền, trở thành kẻ phản động trong quan hệ với nhân dân. Vì thế, giới trí thức chỉ có ích cho dân tộc hay đi cùng với nhân dân trong một thể chế dân chủ. Tức là bản thân giới trí thức cũng phải được phân hóa thành những khuynh hướng chính trị khác nhau, những khuynh hướng nhận thức khác nhau và tạo ra tính đa dạng trong giới trí thức. Tính đa dạng trong giới trí thức đảm bảo cho một bộ phận nào đó của giới trí thức luôn luôn gắn bó với nhân dân. Tính đa dạng của hệ thống chính trị tạo ra đòi hỏi là các đảng phái chính trị phải gắn bó hay tìm kiếm lực lượng trong nhân dân của mình. Đi theo hướng này chúng ta sẽ thấy ở bất cứ đâu nền dân chủ hay những tiêu chuẩn của nền dân chủ cũng là công cụ chính trị hết sức quan trọng cho tính tự cân bằng của các lực lượng xã hội. Nếu tính đa dạng về chính trị tạo nên sự tự cân bằng xã hội thì nó cũng tạo ra tính tự cân bằng của từng giới, của từng lực lượng khác nhau, của từng tầng lớp xã hội và nó giảm thiểu cho xã hội những nguy cơ cực đoan, đó là khi mọi giới hoặc một giới trượt theo một khuynh hướng chính trị, và thông thường bao giờ cũng kết thúc bằng sự xa rời nhân dân. Đến đây, có thể kết luận là vì không đi cùng nhân dân mà đi cùng nhà cầm quyền nên giới trí thức đã đánh mất vai trò độc lập của mình, nói cách khác, sự tha hóa của giới trí thức gắn với sự tha hóa của quyền lực.

Để truy nguyên sự xa rời nhân dân của giới trí thức ở các nước thế giới thứ ba, chúng ta cần tìm hiểu nguồn gốc xuất thân của giới trí thức. Giới trí thức hạt nhân của vùng ảnh hưởng văn hóa khác với giới trí thức ở các nước thuộc địa và các nước bị ảnh hưởng. Không chỉ giới trí thức ở Việt Nam mà hầu hết giới trí thức ở các nước thuộc địa trên thế giới đều thoát ly ra khỏi nhân dân. Lý do chính là họ trở thành trí thức bằng con đường đi học, du học chứ không phải bằng con đường tự nghiên cứu, do đó họ không có giá trị chủ thể, không có nền học vấn chủ thể tức là không có tính chủ thể về mặt trí tuệ. Giới trí thức của các nước thuộc địa được hình thành bằng sự ảnh hưởng của các luồng văn hóa của trí thức ở các nước khác, cho nên họ không có nền văn hóa chủ thể, không có hệ thống tư tưởng chủ thể. Hầu hết các nước thuộc địa đều không có những nhà khoa học lớn tầm cỡ như Newton, Copernic hay Pitago... Giới trí thức của những nước thế giới thứ ba có cơ hội đi du học và chỉ có con nhà khá giả mới được đi du học. Bản thân khi là gia đình khá giả thì đã là một quá trình ly khai dần dần khỏi số đông nhân dân lao động và quá trình ly khai nhân dân lao động là quá trình ly khai nhân dân. Khi du học, giới trí thức được tiếp nhận nền văn hóa của các nước cai trị. Trong các tiêu chí của nền văn hóa tiếp nhận từ mẫu quốc đã có mầm mống của việc coi thường nhân dân bản xứ thuộc địa. Trong nội dung trí tuệ của giới trí thức các nước thuộc địa đã có sự coi thường nhân dân bản xứ. Chính vì vậy, tính ly khai nhân dân có từ trong sự du học, từ trong sự thành đạt của giới trí thức. Để trí thức gắn bó với nhân dân thì nhân dân phải thành đạt; nhân dân không thành đạt thì không có giới trí thức của nhân dân. Hầu hết các nước thế giới thứ ba chỉ có giới trí thức chính trị lợi dụng nhân dân chứ không có giới trí thức của nhân dân, quyền lợi kinh tế của giới trí thức cũng không nằm trong nhân dân. Đây chính là điểm cơ bản để nói rằng không thể nào gắn giới trí thức với nhân dân chừng nào nhân dân chưa thành đạt.

Sự lệch lạc về mặt nhận thức của giới trí thức Việt Nam rất khó dự báo bởi nó không cá lẻ. Giới trí thức Việt Nam được hình thành không theo quy luật mà là sự trộn lẫn giữa cơ hội của những cá nhân với nhu cầu sai lầm của xã hội về mặt trí tuệ. Xã hội chúng ta đòi hỏi giới trí thức một cách sai lầm, do vậy, cùng với cơ hội cá nhân đã tạo ra một đội ngũ giới trí thức rất đặc biệt, họ không dự báo được cả cái đúng lẫn cái sai của xã hội, họ ngả nghiêng trước sự thiếu trí tuệ của một dân tộc 80 triệu con người. Chúng ta nhiều tiến sĩ hơn nước Mỹ nhưng lại vắng bóng trí tuệ một cách khủng khiếp. ở Việt Nam, người ta luôn quan niệm là làm quan mới là có địa vị xã hội, tức là thay thế địa vị văn hóa bằng địa vị chính trị. Chính vì thế, giới trí thức luôn tự hào là mình thành đạt hơn nhân dân. Sự tự mãn đó của giới trí thức khiến họ không biết lắng nghe những tiếng khóc của cuộc sống, không hiểu cuộc sống, do đó xa rời cuộc sống.

Giới trí thức lạc hậu, sai lầm, tha hóa sẽ ảnh hưởng rất lớn đến giáo dục vì đó là những thành phẩm, những sản phẩm mang tính gương mẫu, là những module điển hình để con người vươn tới. Nếu vươn tới những cái sai thì người ta sẽ sai, vươn tới những cái hỏng thì người ta sẽ hỏng. Cho nên giới trí thức ảnh hưởng một cách quyết liệt đến chất lượng giáo dục. Giới trí thức thiếu tính chủ thể và cùng với nhà cầm quyền xa rời nhân dân là một trong những nguyên nhân căn bản dẫn đến sự trì trệ, loay hoay không ra khỏi được quá khứ của các nước thế giới thứ ba. Chất lượng con người ở thế giới thứ ba nói với chúng ta rất nhiều về những gì đang cản trở các nước này hội nhập và tìm kiếm một tương lai tươi sáng, trong đó không thể không kể đến sự tha hóa của giới trí thức như là một trong những nguyên nhân chính. Một quốc gia không thể phát triển được nếu không có nguồn lực con người có chất lượng và đáp ứng những yêu cầu của thời đại mới.

Chúng ta sẽ xem xét dưới đây những căn bệnh chung của hệ thống giáo dục ở thế giới thứ ba để thấy chúng đang chi phối chất lượng của nguồn lực con người ở khu vực này như thế nào.

..
Sự tha hóa của giới trí thức

Đội ngũ trí thức bao giờ cũng là ăng-ten của lực lượng lao động, là bộ phận quan trọng nhất, bộ phận dẫn hướng của lực lượng lao động. ở hầu hết các nước thuộc thế giới thứ ba, đội ngũ trí thức bộc lộ nhiều nhược điểm.

Trước hết, phải kể đến đội ngũ trí thức khoa học công nghệ. Đội ngũ trí thức này hầu như chỉ biết mải mê đuổi theo những thành tích cá nhân đối với những thành tựu khoa học mà quên mất phải làm thế nào để phổ biến nhanh chóng và dễ dàng những phát hiện của họ để tạo ra chất lượng tri thức trong lực lượng lao động. Do vậy, giới trí thức luôn luôn đứng ngoài, hay nói cách khác, xã hội phải đi qua một đội ngũ trung gian trong tất cả các loại dịch vụ mà đội ngũ trí thức buộc phải cung cấp.

Đội ngũ trí thức cao cấp buộc phải thông qua các cơ sở đào tạo, mà các cơ sở đào tạo ở các nước đang phát triển thì cực kỳ lạc hậu, do vậy đội ngũ trí thức không truyền tải được các hiểu biết, phát hiện của mình để tri thức hóa lực lượng lao động. Hệ thống giáo dục ở hầu hết các nước đang phát triển là của nhà nước và nhà nước chỉ phát triển lực lượng lao động của mình và không quan tâm đến đòi hỏi của xã hội, của đời sống và do đó lực lượng lao động rất kém năng động. Hơn nữa, với sự thiếu trách nhiệm, đội ngũ trí thức còn đi đầu trong việc sử dụng các khái niệm một cách méo mó, lệch lạc và không nhân dân, vì thế chức năng hướng dẫn lực lượng lao động không còn nữa. Chính đây là lý do giải thích tại sao trong phương pháp luận giáo dục, hệ thống giáo dục ở những nước này vẫn dựa trên khái niệm cũ, tư duy cũ, dẫn đến sự suy thoái trong phương pháp luận giáo dục so với thực tiễn và chất lượng thấp của sản phẩm đầu ra của hệ thống giáo dục.

Đội ngũ trí thức tinh thần hay những người hướng dẫn tinh thần còn tệ hại hơn nhiều. Căn bệnh phổ biến nhất của đội ngũ trí thức trong lĩnh vực này ở nhiều nước chậm phát triển là mang tính phụ hoạ. Giới trí thức cho đến nay vẫn chỉ đóng vai trò phụ họa đối với những đường lối, chính sách của nhà cầm quyền chứ hoàn toàn chưa nói lên tiếng nói của nhân dân bởi họ chưa bao giờ biết lắng nghe những tiếng khóc, những tiếng vọng thực sự của cuộc sống. Họ, thậm chí, còn tự hào là mình thành đạt hơn nhân dân. Chính vì thế, họ chưa bao giờ đưa ra những cảnh báo khách quan đối với những nguy cơ của cuộc sống, thậm chí còn góp phần hợp thức hóa những sai lầm chính trị mà hậu quả lớn nhất của nó là tình trạng chậm phát triển mọi mặt của xã hội, đặc biệt là nhận thức chính trị yếu kém của nhân dân.

Với những nhược điểm trên, hoàn toàn có thể khẳng định, đội ngũ trí thức của thế giới thứ ba đã góp phần làm trì trệ hệ thống giáo dục vì chính họ đã không dự báo được tương lai và không xây dựng cơ sở dự báo về việc hình thành các lực lượng xã hội cho những chặng phát triển tiếp theo. Đội ngũ trí thức đáng lẽ phải là những người có khả năng dự báo sự phát triển xã hội. Nhìn vào đội ngũ trí thức có thể thấy được chất lượng về mặt dự báo. Tuy nhiên, nhìn vào đội ngũ trí thức ở thế giới thứ ba chúng ta không thấy chất lượng dự báo.

Ánh Sáng Kết Tinh Bừng Châu Ngọc Tài Giỏi ...CHƯƠNG KẾT: CẢI CÁCH VÀ PHÁT TRIỂN TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA

Comments

Minhcineenebo Monday, February 11, 2013 3:16:56 PM

5. Thêm một số suy nghĩ về cải cách giáo dục
Cải cách giáo dục hướng đến sự phát triển con người, chính vì thế những người đi dạy, đi hướng dẫn con người cho tương lai phải có nhận thức, phải có những nguyên lý mang chất lượng dự báo và định hướng. Phải khẳng định, người đi dạy quan trọng nhất là nhà nước. Nhà nước phải là người tổ chức chương trình giảng dạy xã hội chứ không phải là chương trình giáo dục và chương trình đó phải thỏa mãn ba điều kiện đối với con người là tôn trọng con người, nâng cao năng lực con người và bảo vệ sự trọn vẹn của tự do của con người để con người có thể phát triển được. Nếu nền chính trị không định hướng con người theo hướng ấy thì không thể tiến hành cải cách giáo dục thành công được.

Sự nhân bản tinh thần, như đã từng nhắc đến ở trên, đã làm biến mất con người. Con người không có đời sống tinh thần theo đúng nghĩa, không còn có khát vọng tự do. Khát vọng vươn tới những giá trị cao thượng của đời sống tinh thần là khát vọng chính đáng của con người. Cải cách giáo dục có nghĩa vụ phải thổi tự do một cách có giáo dục vào đời sống tinh thần của con người để mỗi người có năng lực tổ chức đời sống, sáng tạo ra đời sống của mình. Nếu con người không còn nhu cầu đi tìm sự cao thượng trong hành vi của mình thì không còn là con người nữa, và một xã hội với những con người như vậy là xã hội chết hay xã hội tha hóa đến cội rễ. Sự tha hóa đời sống tinh thần của mỗi người là hiện tượng triết học chứ không phải là hiện tượng chính trị, hay đạo đức. Đó là hiện tượng tan rã các giá trị cao quý của đời sống tinh thần con người, khi đó con người không còn lý tưởng thẩm mỹ về chính mình. Nhiệm vụ của giáo dục là tổ chức, dạy dỗ con người ý thức về những điều như thế, hơn thế là trang bị những năng lực cần thiết để mỗi người tự bảo vệ những giá trị cao quý của mình. Cần phải khôi phục lại khát vọng vươn tới các giá trị thiêng liêng, cao cả của đời sống tinh thần của con người vì đó chính là khôi phục lại quyền có tương lai của loài người.
Cải cách giáo dục là tạo ra những con người làm chủ tương lai của xã hội, vì thế cải cách giáo dục khó hơn các cuộc cải cách khác bởi nó phải có kinh nghiệm để tiên lượng các đòi hỏi của đời sống tương lai chứ chưa phải là thỏa mãn các đòi hỏi hiện tại, trong đó vừa có ý nghĩa dự báo, vừa có ý nghĩa quy hoạch, vừa có ý nghĩa kế hoạch. Ngày nay, càng không thể dự báo tương lai của bất cứ quốc gia nào nếu quốc gia đó bị cô lập ra khỏi thế giới, vì thế dự báo tương lai xã hội là nhiệm vụ số một trong các quá trình giáo dục và cải cách giáo dục. Muốn dự báo tương lai của Việt Nam, chúng ta phải biết rất rõ diễn biến địa chính trị, địa kinh tế của Việt Nam, tức là phải dự báo cả thế giới hay là dự báo sự tương tác của thế giới đối với vùng đất được gọi là Việt Nam. Cải cách giáo dục hiện đang diễn ra quyết liệt không chỉ ở các nước có nền giáo dục kém phát triển mà còn ở các nước mà nền giáo dục đã đạt đến những trình độ phát triển vì các nước này cũng nhận ra nhu cầu phải có nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng cao và là chất xúc tác cho sự phát triển và và tiến bộ hơn nữa.

Tôi luôn luôn cho rằng, cải cách giáo dục là nhiệm vụ của hệ thống chính trị, thậm chí là của toàn xã hội chứ chưa bao giờ xem đó là nhiệm vụ của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Vì coi cải cách giáo dục là cải cách riêng hệ thống giáo dục, nên ở Việt Nam trọng trách cải cách giáo dục được giao cho Bộ Giáo dục và Đào tạo. Và cho đến nay, những gì mà Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam làm trong chương trình cải cách giáo dục là tiến hành sửa đổi sách giáo khoa, sửa đổi chương trình học, sửa sang trường học. Thật ra, tất cả những việc như vậy chỉ là cái vỏ vật chất của cải cách giáo dục chứ không phải là cải cách giáo dục. Cần phải hiểu là cải cách giáo dục là xác lập lại tinh thần tự do trong việc hình thành nhân cách ban đầu của con người thông qua phương tiện nhà trường. Và cũng không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều nước khác, người ta nhầm lẫn nhà trường là phương tiện giáo dục duy nhất. Nhà trường không phải là phương tiện giáo dục duy nhất và cũng không phải là phương tiện quan trọng nhất của nền giáo dục. Nhà trường là điểm đến của các yếu tố của cuộc sống tạo ra các sản phẩm giáo dục chứ không phải là nơi sản sinh ra các yếu tố để tạo nền giáo dục. Cũng giống như nhà máy, đó là điểm đến của năng lượng, điểm đến của người thợ, điểm đến của vật liệu... tóm lại là tất cả các yếu tố đến từ cuộc sống. Cho nên, nếu tập trung xây các xí nghiệp thì không thể tạo nên nền công nghiệp được, cũng như nếu tập trung xây dựng các trường học thì không thể tạo nên một nền giáo dục được, chứ chưa nói đến một nền giáo dục tốt. Càng toàn cầu hóa người ta càng hiểu ra rằng, cải cách giáo dục về thực chất là cải cách xã hội. Xã hội phải tiên lượng được các mục tiêu con người của mình, phải làm cho xã hội thức tỉnh về các mục tiêu xã hội về con người rồi từ đó cổ vũ về mặt tinh thần, cung ứng về mặt vật chất và kiểm soát về mặt pháp luật đối với nền giáo dục.

Hiện nay, du học đang trở thành trào lưu phổ biến ở các nước thế giới thứ ba. Mỗi quốc gia, mỗi chính phủ đều có những chính sách riêng nhằm thu hút nhân tài được đào tạo ở những quốc gia có nền giáo dục hiện đại, tiên tiến để phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Và trên thực tế, đây thực sự là nguồn nhân lực quan trọng cho những quốc gia đang phát triển. Nhưng vai trò của du học không chỉ dừng lại ở đó. Xét trên phương diện toàn cầu, tôi cho rằng, du học là một phương thức cực kỳ quan trọng để tạo ra bộ mặt văn hóa, bộ mặt sinh hoạt của thế giới hiện đại, thậm chí có thể nói, du học là tất cả tương lai của thế giới hiện đại. Tuy nhiên, hiện nay du học mới đi theo một chiều, tức là các nước lạc hậu đi du học tại các nước tiên tiến, chứ chưa có sự du học đại trà từ các nước tiên tiến sang các quốc gia lạc hậu để nghiên cứu sự lạc hậu, sự chậm phát triển. Điều này xuất phát từ quan điểm của giáo dục là đi học cái đúng chứ chưa phải là đi học từ cái sai. Chừng nào con người hiểu ra rằng, nguyên lý căn bản nhất của giáo dục là học kinh nghiệm từ sự sai trái của cuộc sống thì du học sẽ thực hiện theo chiều ngược lại và nó tạo ra giao lưu giáo dục. Giao lưu giáo dục chính là sự giáo dục của tương lai. Nếu du học diễn ra theo khuynh hướng này thì khi đó, con người bỗng nhiên thấy có kinh nghiệm về những mặt sáng tối của cuộc đời và con người tạo ra tương lai sáng dần lên của những vùng đất tăm tối của cuộc sống. Du học chính là sự giao lưu về giáo dục, sự giao lưu về giáo dục sẽ là sự giao lưu quan trọng nhất để tạo ra tương lai của nhân loại. Đây mới chỉ là dự báo nhưng tôi tin vào cơ sở của nó. Những vùng đất tăm tối là vùng đất hứa của sự phát triển vì nó chưa phát triển. Vì nó chưa phát triển nên nhiều người sẽ nghiên cứu nó để tạo ra sự phát triển cho nó, để tạo ra kỳ tích, tạo ra thành tựu của con người ở những vùng đen tối và ở những vùng đất đen tối ấy con người sẽ học kinh nghiệm của sự đen tối để tạo ra sự bừng sáng. Trung Quốc, Việt Nam hay Trung Đông là những vùng đất lạc hậu, nhưng chắc chắn trong tương lai, những vùng đất ấy sẽ được thắp sáng bằng giáo dục.

Có thể nói, về bản chất cải cách giáo dục là một trong những nội dung quan trọng nhất trong chiến lược hoạch định tương lai đất nước. Hơn nữa, giáo dục là một đối tượng cần có sự đồng thuận xã hội, vì thế nó là nhiệm vụ của toàn xã hội. Để đạt được sự đồng thuận người ta phải có cách thức, có năng lực, có sự hấp dẫn kêu gọi sự đồng thuận. Bởi một ý kiến được thể hiện ra để kêu gọi sự đồng thuận phải có những phẩm chất cơ bản, nó phải đúng, cái đúng cũng kêu gọi sự đồng thuận; nó phải đẹp, cái đẹp cũng kêu gọi sự đồng thuận; nó phải thiện, cái thiện cũng kêu gọi sự đồng thuận. Tóm lại, phải xây dựng hệ thống tiêu chuẩn của các hành động, đặc biệt là hành động chính trị để tạo ra sự đồng thuận. Đây cũng chính là bản chất của cái gọi là xây dựng nền văn hóa chính trị. Thực ra, nói rằng giáo dục cần sự đồng thuận thì không đủ mà phải khẳng định là mọi thứ liên quan đến cuộc sống đều cần đến sự đồng thuận; đồng thuận là bản chất xã hội của đời sống chính trị chứ không phải là đời sống chính trị. Để tìm kiếm sự đồng thuận người ta phải xây dựng nền văn hóa chính trị, nền văn hóa chính trị đó tạo ra chất lượng văn hóa của giáo dục. Tức là phải xem xét bằng một phương pháp chính trị nào để nhìn thấy mối tương quan giữa giáo dục và sự đồng thuận xã hội, vai trò của sự đồng thuận trong giáo dục. Phải khẳng định, sự đồng thuận trong giáo dục rất quan trọng. Đồng thuận trong giáo dục thể hiện hay được xây dựng trong các cặp phạm trù của các khái niệm; đồng thuận giữa thầy và thầy, có nghĩa là xây dựng cộng đồng người thầy; đồng thuận giữa các điều kiện vật chất của giáo dục với đòi hỏi của học sinh, và sự phù hợp giữa nội dung giảng dạy với cơ sở vật chất... Tóm lại là cần phải tìm kiếm sự đồng thuận biện chứng giữa các yếu tố liên quan đến quá trình hình thành khả năng, hình thành nhân cách và hình thành năng lực phát triển của loài người khi tham gia vào quá trình giáo dục. Chúng ta phải tìm kiếm sự đồng thuận giữa nền giáo dục với hệ thống chính trị, trong đó cái quan trọng nhất là sự đồng thuận giữa tương lai với năng lực cầm quyền của hệ thống chính trị hiện tại. Nếu không có sự đồng thuận giữa nhà cầm quyền với tương lai của dân tộc thì không thể có được sự đồng thuận của giáo dục với các nhà cầm quyền, bởi vì giáo dục tuân thủ các quy luật để thỏa mãn tương lai, mà tương lai không được tôn trọng bởi nhà chính trị thì nhà chính trị không có được sự đồng thuận với giáo dục.

Thế giới thứ ba cần có những con người mới cho sự bứt phá của mình. Muốn thoát khỏi lạc hậu và đói nghèo, thế giới thứ ba phải nhận thức lại vấn đề phát triển con người, trên cơ sở đó xây dựng tầng lớp tinh hoa làm nòng cốt cho mọi quá trình phát triển đất nước. Tầng lớp cầm quyền phải có đủ năng lực để hướng dẫn xã hội trong sự đồng thuận với những đòi hỏi và lộ trình phát triển tương lai. Tầng lớp trí thức phải đóng vai trò là những người tạo nên dòng phát triển chính lưu của xã hội, thẩm định tính hợp lý của dòng chính lưu ấy và cùng với tầng lớp cầm quyền cải cách nó từng ngày, từng giờ nhằm thích ứng với những thay đổi của thế giới. Nói cách khác, cả hai tầng lớp này phải có chất lượng chính trị tinh tuý và là bánh lái cho sự phát triển của đất nước. Đó chính là tầng lớp đại diện cho mỗi dân tộc. Trong bất kỳ một xã hội nào, một giai đoạn lịch sử nào, mỗi dân tộc cần phải đào tạo ra tầng lớp tinh hoa đại diện cho dân tộc mình.

How to use Quote function:

  1. Select some text
  2. Click on the Quote link

Write a comment

Comment
(BBcode and HTML is turned off for anonymous user comments.)

If you can't read the words, press the small reload icon.


Smilies

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28