My Opera is closing 1st of March

Triết học Hiện Sinh


Thụy Khuê

Triết học Hiện Sinh

(Giới thiệu cuốn Triết học Hiện Sinh của Trần Thái Ðỉnh)


Ngay ở Pháp hiện nay cũng khó tìm được một cuốn sách viết về triết học Hiện Sinh vừa đầy đủ, vừa dễ hiểu như cuốn của Trần Thái Ðỉnh, do nhà Thời Mới in năm 1967 tại Sài Gòn. Võ Phiến, lúc đó là chủ nhà xuất bản Thời Mới, ghi lại: "Hai cuốn sách bán được nhanh nhất và nhiều nhất (thời ấy) là hai cuốn liên quan đến triết học tức là cuốn Triết Học Hiện Sinh của Trần Thái Ðỉnh và cuốn Những Trào Lưu Lớn Của Tư Tưởng Hiện Ðại, dịch của André Maurois" (Văn Học Miền Nam Tổng Quan, Nxb Văn Nghệ, 1986). Tại sao cuốn sách best sellers năm 1967 không phải là tiểu thuyết mà lại là sách về triết học? Ðó là câu hỏi cần được đặt ra. Hiện tượng này mang nhiều ý nghĩa: Phải chăng thời kỳ những năm 60-70 triết học đã đi vào đời sống thường ngày? Phải chăng các giáo sư thời ấy đã thành công ít nhiều trong việc giảng dậy môn triết ở nhà trường và đại học, họ đã bình dân hóa triết học hơn các thời kỳ khác và đó có thể cũng là một trong những lý do khiến miền Nam, sau 54, đã có những thành tựu đáng kể trong việc đổi mới văn học, với những tác giả đào sâu vào nỗi đau nội tâm, vào bi kịch phi lý của cuộc hiện sinh con người như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Vũ Khắc Khoan, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu, Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Ðình Toàn, Trần Thị NgH. v.v...


Tác dụng triết học vào sáng tác thời ấy, đem lại cho văn học một chiều sâu mới. Tác dụng này đã được giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, cựu khoa trưởng Ðại Học Văn Khoa, Sài Gòn, tức nhà thơ Trần Hồng Châu nhắc đến bằng những lời sau đây: "Thời 60-70, triết học phương Tây tương đối phát triển mạnh ở miền Nam [...] Triết lý này phát triển mạnh ở đại học Pháp [sau thế chiến], sau đó bước hẳn vào đời sống, đặc biệt ở thị thành với giới trí thức và thanh niên. Dĩ nhiên sang Việt Nam, cũng đồng hoàn cảnh chiến tranh, đồng tâm lý hoang mang, chán nản và mất hướng, những hạt giống hiện sinh tha hồ nẩy nở. Nhất là lúc đó, từ nửa sau thập niên 50, có một số trí thức Việt Nam du học ở pháp và Bỉ, về nước đã phổ biến các triết thuyết Hiện Sinh, hình thái Sartre và Merleau Ponty. Cộng thêm vào đó là lý thuyết phi lý (théorie de l'absurde) của Camus, rồi tới trào lưu nhân vị, personnalisme, của E. Mounier, một hệ tư tưởng được bồi đắp và đề cao ở Việt Nam bởi những người cầm quyền đương thời, đồng tôn giáo với tác giả.

Khi nói trí thức du học thời đó, tôi muốn đề cập đến một vài tên tuổi quen thuộc, nhất là "tứ trụ" của triều đình triết Tây tại miền Nam Việt Nam: Trần Văn Toàn và Lê Tôn Nghiêm, cả hai uyên bác và tường tận thấu đáo, Nguyễn Văn Trung sáng sủa, hệ thống và sắc bén, Trần Bích Lan Nguyên Sa tài hoa, uyển chuyển, "văn chương". Tất cả, ít nhiều trong từng giai đoạn, đều làm công việc tông đồ có hiệu năng cho trường phái của Sartre và tư tưởng Camus. Cần ghi nhận thêm nữa là những cố gắng của triết gia thần học Bửu Dưỡng -cũng thuộc đại học Văn Khoa-, người đã sáng tác ra tữ ngữ "nhân vị" và từng đơn thương độc mã rao giảng, phổ biến triết thuyết của E. Mounier. Nhìn chung các tác giả kể trên đều có ảnh hưởng tới sinh viên, rồi từ đó lan ra giới trí thức và văn nghệ ngoài đại học, luôn luôn khao khát những sản phẩm tinh thần mới của Tây phương. Họ là những gạch nối, những người trung gian, chất súc tác không thể thiếu được trong sinh hoạt văn nghệ của thời 60-70" (phát biểu trong chương trình Văn Học Nghệ Thuật RFI tháng 3/1998, đăng lại trên báo Văn Học, California, số 147, tháng 7/1998 và in lại trong Dăm Ba Ðiều Nghĩ Về Văn Học Nghệ Thuật của Trần Hồng Châu, Nxb Văn Nghệ, 2001)


*


Cuốn Triết Học Hiện Sinh của Trần Thái Ðỉnh mà chúng tôi muốn giới thiệu cùng bạn đọc hôm nay, là cuốn sách hiếm quý cho những bạn trẻ, muốn tìm hiểu nền triết học hiện đại của thế kỷ XX, không chỉ để thực dụng trong lãnh vực văn chương, mà còn để tìm một cách sống, một cách suy nghĩ, tìm hiểu chính mình để vượt mình.

Triết Học Hiện Sinh nằm trong loại sách nghiên cứu triết học của những giáo sư đại học có uy tín tại miền Nam. Ðó là các giáo sư Trần Thái Ðỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Trần Văn Toàn, Nguyễn Văn Trung, Nguyên Sa Trần Bích Lan.

Trần Thái Ðỉnh còn có bút hiệu là Trần Hương Tử, viết Triết Học Nhập Môn, Triết Học Hiện Sinh (1967), Triết Học Kant (1969), Biện Chứng Pháp Là Gì (1969), Hiện Tượng Học Là Gì (1969). Lê Tôn Nghiêm viết Heidegger Trước Sự Phá Sản Của Tư Tưởng Tây Phương (1969), Ðâu Là Căn Nguyên Tư Tưởng (1970). Trần Văn Toàn viết Hành Trình Ði Vào Triết Học (1965), Xã Hội Và Con Người (1965), Tìm Hiểu Triết Học Karl Marx (1965), Tìm Hiểu Ðời Sống Xã Hội (1967). Nguyễn Văn Trung viết rất nhiều tác phẩm, vừa triết học thuần túy, vừa triết học áp dụng vào văn chương, vào phê bình văn học, phê bình chính trị, phê bình xã hội v.v... Tác phẩm của Nguyễn Văn Trung gồm những cuốn như Biện Chứng Giải Thoát Trong Phật Giáo (1958), Nhận Ðịnh (5 tập), Xây Dựng Tác Phẩm Tiểu Thuyết (1962), Lược Khảo Văn Học (3 tập), Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp Ở Việt Nam, Thực Chất Và Huyền Thoại (1963), Nhà Văn, Người Là Ai? Với Ai? (1965), Hành Trình Trí Thức Của Karl Marx (1966), Ca Tụng Thân Xác (1967), Ngôn Ngữ Và Thân Xác (1968), v.v... Nguyên Sa Trần Bích Lan viết những sách về văn học và triết học: Quan Ðiểm Văn Học Và Triết Học (1959), Descartes Nhìn Từ Phương Ðông (1966), Một Bông Hồng Cho Văn Nghệ (1967), Một Mình Một Ngựa (1971).

Nếu trong một ngày gần đây, những cuốn sách của các tác giả này được lần lượt tái bản ở trong nước, thì hẳn chúng sẽ giúp đỡ rất nhiều cho giới trẻ, phần lớn còn thiếu vốn ngoại ngữ, nhưng muốn tìm hiểu tiến trình tư tưởng của con người trong thế kỷ XX. Ðối với những văn nghệ sĩ muốn cách tân thơ văn, vấn đề lại càng khẩn thiết. Vì hầu như mọi hình thức văn nghệ đều gắn bó với các trào lưu tư tưởng, mà muốn cập nhật hóa văn nghệ thì trước hết phải cập nhật hóa tư tưởng.

Ở ngoài nước, vấn đề cũng không khác: Các tác giả ngoài nước có cảm tưởng rằng sự tự do và đọc được ngoại ngữ sẽ đương nhiên đưa tới việc đổi mới và cập nhật với văn chương thế giới. Mọi sự có lẽ không đơn giản như vậy: Từ việc biết ngoại ngữ để làm việc sinh sống, đến việc tìm hiểu tư tưởng của thế kỷ để đào sâu sáng tác của mình, không hiển nhiên dễ dàng, nhất là phần lớn những người cầm bút hải ngoại còn phải lo cuộc sống cơm áo hàng ngáy, sáng tác nằm trong lãnh vực cuối tuần, trà dư tửu hậu. Trong sách báo hải ngoại, đôi khi có những tác giả muốn bước thẳng vào những cái mới nhất của thời đại này, họ đưa ra những isme thật tân kỳ, ầm ỹ, nhưng thường họ lại không giải thích được cặn kẽ nội dung những điều muốn nói, rút cục lại cũng rơi vào cái trống rỗng của những người muốn bước vọt quá cao mà không dựa trên một nền tảng suy luận vững chắc về "cái biết" của mình. Bi kịch chung của người viết trong nước và ngoài nước hôm nay là có một khoảng trống tư tưởng của nhân loại chưa cập nhật được, một phần của khoảng trống đó là triết học Hiện Sinh.


*


Trong thế kỷ XX, Hiện Sinh là triết học chủ yếu, đã đưa con người trở lại với con người. Con người của thế kỷ XX, từ chối vai trò Thượng Ðế, cho nên nhà văn cũng từ chối vai trò sáng tạo theo phong cách Thượng Ðế của các thế kỷ trước, nghĩa là "biết tất cả". Nhà văn trong thế kỷ XX, nhũn nhặn trở lại địa vị con người, sáng tác bằng những gì thuộc khả năng của mình, họ viết với tri giác, với trí tưởng tượng và hồi ức của họ. Về mặt hình thức, Hiện Tượng luận của Husserl đưa ra cách mô tả mới. Ðó là cách nhìn sự vật từ nhiều hướng khác nhau, giúp các tiểu thuyết gia có những phương tiện mới để nhận thức về sự vật. Cho nên khi chúng ta than phiền là văn học Việt Nam khô cứng, truyện ngắn, tiểu thuyết Việt Nam không phát triển được, thơ ca của chúng ta bế tắc, thì đó là bởi chúng ta vẫn còn nhìn sự vật theo lối nhìn của thế kỷ XIX, viết theo kiểu viết của thế kỷ XIX và có lẽ đó là cơ nguyên sâu xa của sự khô cứng hiện nay.


Cuốn Triết Học Hiện Sinh của Trần Thái Ðỉnh là một trong những cuốn sách mở cửa cho chúng ta vào nền tư tưởng chủ yếu của thế kỷ XX, vào sự tìm hiểu con người. Sách được chia làm 10 chương. Ba chương đầu nói về lập trường của triết học Hiện Sinh, những đề tài chính của triết học Hiện Sinh và hai ngành của triết học Hiện Sinh. Bẩy chương sau vết về bẩy triết gia hiện sinh: Kierkergaard, ông tổ hiện sinh chính thực, Nietzsche, ông tổ hiện sinh vô thần, Husserl, ông tổ văn chương triết lý Hiện tượng luận, Jasper, hiện sinh hướng về siêu việt, Marcel, hiện sinh và huyền nhiệm, Sartre, hiện sinh hư vô, Heidegger, hiện sinh và hiện hữu.

Trong phần đầu, trình bầy lập trường của triết học Hiện Sinh, Trần Thái Ðỉnh lược kể mục đích của triết học cổ điển từ Aristote đến Hegel, để người đọc có thể so sánh sự khác biệt giữa triết học cổ điển với triết học Hiện Sinh và đó cũng là mấu chốt sâu xa của sự khác biệt giữa văn học cổ điển và hiện đại.


Triết học cổ truyền Tây phương, thay vì giúp con người suy nghĩ về thân phận và định mệnh mình, lại chỉ khuyến khích con người quên mình để tìm hiểu những lẽ huyền vi của tạo hóa. Câu định nghĩa của triết học kinh viện là: Triết học là khoa học về vạn vật, lấy những nguyên nhân tối cao để giải nghĩa chúng. Như thế, con người không có chỗ đứng riêng, con người cũng bị coi là trong hàng vạn vật. Trong cả bộ triết học Aristote, không dành phần nào cho con người hiện sinh hết, không bàn đến tự do, không bàn đến nhân vị, không bàn đến định mệnh và những gì đợi chúng ta sau khi chết. Vũ trụ to quá, át tất cả. Con người bị bỏ quên. (trang 11, 12).

Vũ trụ quan của Aristote cho ta thấy một con người bị chìm trong vũ trụ.

Descartes với sự khám phá ra chủ thể tính con người và tự do mang nặng chất hiện sinh, đã hé nhìn thấy đường đi của triết học. Ðối với Descartes, không thể có triết học về vũ trụ mà chỉ có khoa học về vũ trụ và triết học về tinh thần. (trang 15)

Ðáng tiếc là Descartes đã chỉ dừng lại ở tinh thần con người mà không tìm hiểu con người như một thực thể sinh tồn, có thần, có xác.

Kant và Hegel còn đẩy xa tinh thần hơn nữa thành thử triết học vẫn luẩn quẩn trong thái độ ý niệm, coi con người là một vật thể, cho con người là thế này, thế kia. Trong khi con người có thể thế này mà cũng có thế thế kia, có thể là quỷ hay là thánh, có thể sống làm thân trâu ngựa, sướng đời con vật, hay trái lại cũng có thể chọn đời tù ngục, miễn là nói được sự thực và sống xứng đáng tự do. (trang 15)


*


Như vậy, nội dung của triết học Hiện Sinh không phải là con người phổ quát, con người viết hoa của Aristote, mà là khảo sát con người có xương có thịt đang sinh hoạt hàng ngày trong xã hội. Con người đó là tôi, là anh, là chúng ta hết thẩy và từng người một. (trang 15)

Là con người sinh hoạt, tôi là một chủ thể và tôi là một nhân vị tự do. Chủ thể tính và nhân vị tự do là hai đề tài chủ yếu của triết học Hiện Sinh.

Triết học Hiện Sinh xây dựng trên chủ thể tính, không coi con người là một sự vật của toàn bộ vũ trụ như trong triết học cổ điển nữa mà coi con người như một hữu thể đứng trên vũ trụ và có quyền gán cho vũ trụ một giá trị tùy quan điểm của mỗi người. (trang 19)

Khi con người đã ý thức được chủ thể tính của mình thì vũ trụ liền mất vẻ thần thánh của nó: những sấm sét, những tinh tú, mặt trời, mặt trăng không còn là những thần linh cao quang nữa ... Con người nhận định một cách sáng suốt rằng: Không có sự vật gì có giá trị tuyệt đối.

Con người hiện sinh là con người tỉnh ngộ, dám nhìn thẳng vào sự thật với nhãn quan, với khả năng của mình. Nhãn quan này không phải là nhãn quan của Thượng Ðế, cũng chẳng phải là nhãn quan của thần linh, của các bề trên, của vua chúa đời xưa, của lãnh đạo, lãnh tụ đời nay, của ông thầy hay của bất cứ ai ban bảo. Mà là nhãn quan của cá nhân mình.

Tự do ở đây không phải là cái tự do của thế giới tự do. Tự do ở đây là tự do hiện sinh, tức là tự do bên trong, tự do phát xuất từ bản thể. Tự do lựa chọn, tự do quyết định. Tự do ở đây là dám là mình. Nếu tôi cứ sống như cái máy, ở trên bảo sao tôi làm vậy, người ta bảo sao mình làm vậy, thì tôi mới chỉ sống như một sinh vật, chưa sống cái kiếp người của tôi. Cuộc sống ù lì đó, sống chỉ để sinh tồn, sống như cây cỏ đó, Sartre gọi là buồn nôn, Camus cho là phi lý, Heidegger gọi là tầm thường, và con người muốn vượt khỏi cuộc sống tầm thường, buồn nôn, phi lý, thì phải vượt lên trên mình, phải sống một cách độc đáo (unique), phải là một chủ thể độc đáo (sujet unique). Ðộc đáo ở đây không có nghĩa lập dị mà chỉ có nghĩa là tự do chọn lấy một lối sống riêng, không bắt chước người khác và cũng không chịu sự sai bảo, kiềm chế của người khác. Ðộc đáo là tự xác định nhân vị của mình. Nhân vị và tự do là nội dung của Hiện Sinh.


Về mặt hình thức, tri thức của triết gia cổ truyền là tìm biết bản tính sự vật và cả bản tính con người nữa. Thí dụ, triết học cổ truyền cho biết: bản tính con người là "một con vật có lý trí". Vì có lý trí nên có suy luận, có suy luận thì biết chọn điều thiện, bỏ điều ác v.v... (trang 29)

Văn chương cổ điển rập theo khuôn khổ triết học cổ điển ấy, cũng tìm hiểu tâm lý nhân vật, giải thích tại sao người này làm thế này, tại sao lại làm thế kia, nhân vật này nghĩ thế này, nhân vật kia nghĩ thế kia v.v... Tóm lại, triết học cổ truyền chủ trương rằng con người có thể biết được bản tính của sự vật và con người. Triết học Hiện Sinh, ngược lại, cho rằng chỉ có Thượng Ðế mới biết được bản tính của muôn loài, còn chúng ta, con người, chỉ có cái nhìn phiến diện về sự vật. Vì chúng ta chỉ có cái nhìn phiến diện về sự vật nên đã phát sinh trường phái cái nhìn (Ecole du regard) trong tiểu thuyết mới: tức là nhà văn phải nhìn nhiều lần sự vật trong nhiều chiều hướng khác nhau, mỗi lần nhìn, nhà văn biết rõ thêm một chút về sự vật.

Bởi vậy, nhà văn hiện sinh mô tả sự vật, đặt sự vật dưới nhiều ống kính khác nhau. Lối mô tả này phát xuất từ Hiện tượng luận của Husserl, khác hẳn với lối mô tả trong văn hiện thực cổ điển.

Tóm lại, triết học Hiện Sinh là triết học chỉ cho ta những suy nghĩ về thân phận làm người, văn hiện sinh là văn mô tả, chủ ý của triết học Hiện Sinh là làm sao cho con người thấy sự buồn nôn của lối sống tầm thường, bảo sao nghe vậy, sống để sinh tồn giống như sinh vật, để vươn lên một đời sống độc đáo, có nhân vị của con người tự do. (trang 30)


*


Triết học Hiện Sinh có hai gốc đối lập nhau:

- Gốc Kierkergaard -bắt nguồn từ những truyền thống Hy Lạp (Socrate) và Thiên Chúa Giáo- hướng về Thượng Ðế.
- Gốc Nietzsche -bắt nguồn từ những tư tưởng ngược chiều với truyền thống Hy Lạp- Nietzsche chủ trương tiêu diệt Thượng Ðế để tiến tới con người, con người siêu nhân (surhomme).




Kierkergaard

Trước hết là Kierkergaard, ông tổ Hiện Sinh đích thực. Kierkergaard sinh ngày mùng 5 tháng 5 năm 1813 tại Copenhague, Ðan Mạch; ông là triết gia đầu tiên đã đem đời mình, đời cha mình ra để suy nghiệm về nỗi thống khổ của con người. Với ông, con người không phải là con người trừu tượng, con người phổ quát, con người được đem ra làm vật thể để lý luận như trong triết học duy lý của Hegel, con người mà ông khảo sát ở đây là chính bản thân ông, với những giai đoạn trong đường đời. Ðó là lý do khiến ông trở thành ông tổ đích thực (authentique) của triết học Hiện Sinh. Sau này, Sartre, Camus, Simone de Beauvoir và những tác giả có khuynh hướng hiện sinh khác, như các nhà văn trong phong trào tiểu thuyết mới v.v... hầu như tất cả đều viết về mình, đều tra khảo chính mình để tìm hiểu sự thật dưới các dạng thức khác nhau. Triết học của Kierkergaard là triết học nghiệm sinh trên cá nhân tác giả.

Kierkergaard nhìn thấy trong kinh nghiệm sống của mình, ba giai đoạn hiện sinh:

Giai đoạn đầu là giai đoạn hiếu mỹ: thời còn sinh viên, chìm đắm trong sắc dục, bị cám dỗ. Kierkergaard bắt đầu suy nghĩ về tội lỗi, về buồn chán, về khổ đau. Những tội lỗi mà Kierkergaard luôn luôn nhắc đến, có thể chỉ là trụy lạc trong trí tưởng tượng, trụy lạc của cảm giác thẩm mỹ. Giai đoạn thứ nhì là giai đoạn đạo hạnh: Kierkergaard yêu người con gái tên Régine Olsen, ông chấm dứt thời kỳ phiêu đãng, ăn chơi. Ông muốn người yêu cùng với mình vươn lên tới giai đoạn thứ ba: giai đoạn tôn giáo. Ðặc tính của đời sống tôn giáo gồm hai chữ độc đáo và tin yêu. Theo Kierkergaard, con người tôn giáo là con người đã tìm được nhân vị của mình, không còn bị trói buộc bởi những luật lệ phổ quát của luân lý nữa. Nếu hỏi: Tại đâu con người có thể biết mình là một nhân vị độc đáo? Kierkergaard trả lời: Tự ý thức về tội lỗi. Chính tội lỗi là cái làm cho con người tự cảm thấy đơn độc. Tội lỗi làm cho con người có tương quan với tuyệt đối, dám tiếp xúc với thực tại cao cả nhất là Thượng Ðế. (trang 92)

Kierkergaard vạch mặt, chỉ tên những người như Hegel chỉ lấy lý luận để mong giải nghĩa tất cả. Ông trình bầy một tâm hồn hiện sinh luôn luôn bị dằn vặt, vật lộn với chính mình để vượt qua những chặng đường đời. Kierkergaard đã thật sự mang triết học về với con người. Là một linh mục, Trần Thái Ðỉnh đã dành cho Kierkergaard những trang phân tích tràn ngập ưu ái và đồng cảm.





Nietzsche


Viết về Nietzsche, Trần Thái Ðỉnh phê bình có khắc nghiệt hơn, nhưng đồng thời ông cũng cho người đọc thấu nhận những giá trị chân xác của Nietzsche.

"Hãy là mình", câu nói của Nietzsche trở thành châm ngôn sống cho nhiều thế hệ ở phương Tây. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, Nietzsche đã tiên đoán rằng phải đến rạng đông của thiên niên kỷ thứ ba, ông mới được thật sự đọc và hiểu một cách thấu đáo.

Nhắc lại lời tiên tri này, nguyệt san văn học có tiếng của Pháp, Le magazine littéraire ra một số đặc biệt về Nietzsche trong tháng 10/2001. Vẫn tờ Le magazine littéraire này, số tháng 11/2001 có chủ đề Hiện tượng luận. Như thế, triết học của Nietzsche cũng như Hiện tượng luận của Husserl vẫn còn là những trào lưu tư tưởng đang được khám phá và những áp dụng vào văn học, nghệ thuật, vào đời sống hàng ngày của con người sẽ còn được kéo dài trong thế kỷ XXI.

Trong cuốn Triết Học Hiện Sinh, Trần Thái Ðỉnh dành chương năm và chương sáu để viết về hai triềt gia Nietzsche và Husserl. Nietzsche được coi là ông tổ Hiện Sinh vô thần và Husserl là ông tổ văn chương triết lý hiện tượng luận.


Frédéric Nietzsche sinh ngày 15 tháng 10 năm 1844 tại Roecken, miền trung nước Ðức; cha là mục sư. Từ hồi nhỏ, Nietzsche đã say mê âm nhạc, soạn nhiều bài thơ và bản nhạc để ca tụng thiên chúa. Năm 20 tuổi, Nietzsche theo học ngành triết học và thần học tại đại học Bonn, rồi chuyển sang đại học Leipzig. Những năm ở đại học đã khiến Nietzsche xa dần tôn giáo. Ông say mê học thuyết của Schopenhauer và âm nhạc Wagner. Từ năm 1869, Nietzsche giảng dậy ở đại học Bâle. Ba năm sau, ông cho in tác phẩm đầu tiên, tựa đề Nguồn Gốc Của Bi Kịch (La naissance de la tragédie).

Sau mười năm dậy học Nietzsche từ chức giáo sư đại học và bắt đầu cuộc đời phiêu bạt, nay đây mai đó giữa Ðức, Pháp, Ý. Từ 1889 trở đi, hoạt động tinh thần của Nietzsche ngày càng phong phú. Ông viết không ngừng. Hầu như mỗi năm đều có sách phát hành. Từ 1879, mang bệnh nhức đầu kinh niên, nhức mắt, buồn nôn. Nietzsche mất năm 1900, trong điên loạn và tê liệt hoàn toàn tại Weimar ở tuổi 56.

Trần Thái Ðỉnh viết: Tư chất của Nietzsche thực là họa hiếm. Nietzsche đã nhằm một cuộc cách mạng tinh thần như chưa từng thấy: Ông nhằm đổi lại cái bảng giá trị luân lý và xã hội. Những gì người ta vẫn tôn trọng tự trước đến nay sẽ bị ông thóa mạ và lên án; tóm lại ông sẽ đặt lại và tạo ra những nhận định hoàn toàn mới về thiện và ác. Cho nên triết học của ông có thể mệnh danh là "Ðảo lại tất cả các giá trị". Thay vào những giá trị tư tưởng hoàn toàn duy niệm của truyền thống Socrate, Nietzsche đã đề cao những giá trị của Hiện Sinh, và thay vào những giá trị "yếm thế" của các tôn giáo, Nietzsche đã thay vào cái lý tưởng của người hùng (le surhomme) và ý chí hùng cường (volonté de puissance). (trang 114)

Nietzsche chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của Schopenhauer, triết gia Ðức đầu thế kỷ XIX. Tư tưởng Schopenhauer có ba điểm chính:

1. Vai trò vô cùng quan trọng của chủ thể. Schopehauer chủ trương: Vũ trụ là cái nhìn của tôi. Câu này chứng tỏ không có một vũ trụ bất biến cho tất cả mọi người mà chỉ có những cái nhìn từ những quan điểm nhất định nào đó về vũ trụ. Schopenhauer xác định chủ thể tính là một trong những tính chất cơ bản của triết học Hiện Sinh.

2. Ðiểm thứ nhì là vai trò quan trọng gán cho ý chí. Các triết gia trước Schopenhauer đều coi trí tuệ là thành phần chủ lực trong con người. Nhưng Schopenhauer chủ trương và chứng minh rằng: "Ý chí mới là yếu tố căn nguyên và nền tảng trong con người; chính ý chí hướng dẫn và cai trị trí tuệ và tiềm năng". Theo ông, chân lý bao giờ cũng là một thái độ của một người đối với một hoàn cảnh nhất định. Cho nên chỉ có chân lý khi có tôi và đối tượng của tôi. Không có chân lý viết sẵn cho tất cả mọi người. Thành thử các chân lý của các triết gia cổ điển chỉ là một mớ sáo ngữ, và ông viết: "Mớ tri thức khổng lồ của người học giả thường chỉ là một thứ tri thức chết, một tri thức trừu tượng, sáo ngữ".

3. Ðiểm thứ ba: Vai trò quan trọng của thân xác và nhân vị. Schopenhauer cho rằng: "Chủ thể tri thức là một người sống thực, một nhân vị với thân xác nhất định. Sở dĩ tôi nghĩ thế này mà không nghĩ như anh Ất, anh Giáp và tất cả mọi người khác vì tôi là một nhân vị độc đáo." (trang 117)

Tóm lại, ba yếu tố chủ thể, ý chí và thân xác trong triết học Schopenhauer sau này sẽ là những thành tố quan trọng của triết học Hiện Sinh. Từ ảnh hưởng Schopenhauer, Nietzsche đã xây dựng nền triết học của mình trên hai cơ sở:

1. Phê bình các giá trị cổ truyền và dựng thuyết siêu nhân tức thuyết con người mới của Nietzsche. Ngay từ những tác phẩm đầu tay như Nguồn Gốc Của Bi Kịch và Sự Phát Sinh Của Triết Học (La naissance de la philosophie), Nietzsche đã đả phá triệt để triết học duy niệm mà ông coi Socrate là tổ phụ. Theo ông, Socrate đã mắc tội giết chết tinh thần hùng cường và sức sống mãnh liệt của Hy Lạp thời nguyên thủy, thời kỳ mà hai thần Apollon, thần của ánh sáng và mực thước, và Dionysos, thần của sức sống và say sưa, luôn luôn thay phiên nhau xuất hiện để chung đúc nên nền văn minh Hy Lạp với những thiên trường ca bất hủ của Homère. Nietzsche đem tinh thần sảng khoái, nghệ sĩ của Dionysos để đối lập với tính chất thuần lý của siêu hình học Socrate, và theo ông, chính cái tinh thần phóng khoáng, say mê, bất chấp thiện ác ấy là cái sức sống chưa tự ý thức về mình, là hiện sinh chưa bị trừu tượng hóa bởi những quan niệm và những ngôn ngữ khái quát, chưa bị mớ lý thuyết luận lý của Socrate triệt hạ. Và đó chính là lý tưởng nghệ thuật đối với Nietzsche. (trang 121)

2. Theo Nietzsche, không thể có chân lý trừu tượng. Chân lý trừu tượng chỉ là một thứ tri thức do người khác dạy và ta chấp nhận mà không xem lại. Cái hợp lý là cái trừu tượng, nó lạnh lùng như xác chết nên nó vô bổ cho cuộc hiện sinh. Nietzsche tranh đấu cho một tri thức mới: tri thứ cụ thể gắn liền với thực tế sống động. Tri thức cụ thể nằm trong cuộc sống hiện sinh của mỗi người và nó có những thước đo khác nhau tùy theo quan điểm của từng người.

*


Ðể phê bình nền luân lý cổ truyền, Nietzsche chia nền luân lý này làm hai loại: Luân lý chủ ông và luân lý nô lệ. Luân lý chủ ông là luân lý của giai cấp thống trị. Cái gì liên lạc tới bọn quý tộc, thống trị là tốt. Quý tộc thống trị có bản tính ngang tàng, kiêu hãnh, cho nên luân lý chủ ông xây dựng trên lòng tự tín, tự đại, kẻ hào hùng.

Luân lý nô lệ thì ngược lại, người nô lệ bị đàn áp, yếu hèn, cho nên họ lập ra bảng giá trị riêng của họ, họ lập ra đức nhẫn nại, khiêm tốn, từ bi ... đó là đức của những người bất lực. Nietzsche khinh bỉ các tôn giáo như Do Thái, Ki Tô và Phật giáo, ông cho rằng tôn giáo là sản phẩm của những kẻ bệnh tật, hèn yếu, không có can đảm để đấu tranh, sống cuộc sống hiện sinh ở đời này nên mới tạo ra những giá trị yếm thế, chối bỏ cuộc hiện sinh để mưu cầu cuộc sống hạnh phúc ở đời sau. (trang 126)

Trong cuốn Ainsi parlait Zarathoustra (Zarathoustra Ðã Nói Như Thế), một trong những tác phẩm nòng cốt của ông, Nietzsche mượn miệng Zarathoustra để nói ra những mặc khải mới của ông về con người. Zarathoustra là một bậc thánh hiền, có dòng máu Arya đã sống trên đất Ba Tư hồi thếkỷ thứ VI trước Tây lịch, và đã rao giảng một thứ đạo gần giống Bà La Môn ở Ấn Ðộ. Nietzsche mượn miệng Zarathoustra để nói lên tư tưởng hiện đại của mình.

Ðối với những hình thức luân lý hoặc tôn giáo cổ truyền khinh chê thân xác, Nietzsche bảo: thế thì đừng sống nữa, sống để chờ chết như thế là sống thừa, và ông tuyên bố: "Tôi là xác và hồn". Hoặc: "Tôi chỉ là thân xác mà thôi", câu này dẫn tới quan niệm tư thân (corp propre) của Marcel và Ponty sau này. (trang 130)

Triết lý người hùng (surhomme) của Nietzsche nhằm đả phá tất cả những học thuyết nào không giúp cho con người phát triển khả năng vô tận của cuộc hiện sinh, trong đó ông coi hiện sinh tôn giáo là hiện sinh nô lệ, vô bổ. Bởi vậy, phải giết Thượng Ðế thì con người siêu nhân mới có cơ xuất hiện.

Mà siêu nhân là gì? Ðây là định nghĩa của Nietzsche: Siêu nhân hay người hùng là con người hoàn toàn tự chủ, không lệ thuộc vào những thói tục do luân lý cổ truyền tạo nên để nô lệ hóa con người. Người hùng có ý thức sâu xa về tính cách tự chủ của mình, hắn muốn dùng cuộc đời của hắn để thể hiện quyền tự chủ vô cùng quý báu đó. Nietzsche viết: Hãy luôn luôn trở nên chính mình, hãy là ông chủ và nhà điêu khắc để tạc nên chính mình. Nói tóm lại, đừng nhắm mắt làm nô lệ kẻ khác, đừng để bảo sao làm vậy, phải có ý chí tự quyết, tự tìm lấy lối đi. Tự quyết, tự chọn là những ý chí căn bản của cuộc hiện sinh. Con người phải tự vượt mình.


*

Theo Nietzsche, quần chúng tuy đông về số nhưng không có ai là người hết, họ chỉ là những bóng vật vờ, bảo sao nghe vậy. Nietzsche viết: "Ở ngoài công trường, ta nói với hết thảy mọi người mà kỳ thực không nói với người nào hết". Quần chúng chỉ là cái miệng để hoan hô, đả đảo. Những tay lãnh đạo bảo hoan hô thì quần chúng hoan hô, bảo đả đảo thì quần chúng lại đả đảo ngay. Quần chúng thực là một cái máy khổng lồ và vô hồn". (trang 141)

Ai muốn sống cuộc hiện sinh của mình thì phải thoát ra ngoài cuộc sống vô hồn ấy, phải dám suy nghĩ lấy, không để cho ai nghĩ hộ, phải luôn luôn tìm cách vượt chính mình, phải tìm con đường đi của mình, sống phải sáng tạo, phải dám nghĩ những cái chưa ai nghĩ, phải tự giác và tự giải thoát ... không cảnh nô lệ nào nhục nhã bằng nô lệ tinh thần. Kể cả nô lệ người thầy. Cho nên Zarathoustra nói rằng: "Ông thầy dậy ta làm người chứ không dậy ta làm học sinh suốt đời. Chư đệ phải xa ta ra. Phải chống lại ta. Biết đâu ta đã chẳng là một kẻ bịp bợm".

"Hãy coi chừng đừng để cho thần tượng đè chết". Tư tưởng của Nietzsche không phải là một học thuyết khép kín mà chỉ cho ta lối mở, lối đạp đổ tất cả những học thuyết đã có, phá tan những căn nhà tiền chế về tư tưởng, để lại bắt đầu. Bài học của Nietzsche là sự bắt đầu miên viễn, l'éternel retour. Con người phải bước qua Thượng Ðế, bước qua thánh thần, bước qua Nietzsche, bước qua chính mình mà đi. Tác phẩm của Nietzsche là tác phẩm mở. Từ một điểm nào đó trong tác phẩm của ông, chúng ta đều có thể bắt đầu làm lại, đi con đường khác, cho nên tác phẩm của ông luôn luôn là đề tài cho các cuộc tranh luận không ngừng, mỗi người có thể tìm thấy ở đó những cách đọc, cách hiểu khác nhau, kể cả Hitler lẫn Mussolini đều đã chịu ảnh hưởng thuyết người hùng của Nietzsche. Cho nên Trần Thái Ðỉnh đã có lý khi ông viết: Mặc dù các tội ác của bọn Ðức Quốc Xã không thể đổ cả cho Nietzsche, nhưng ai cũng biết rằng quân đội Hitler đã trao tay nhau những trang sách Nietzsche ca tụng người hùng và con người siêu nhân.

Tuy nhiên ảnh hưởng của Nietzsche đối với Tây phương ngày nay thực là lớn lao [...] Nietzsche đã xuất hiện như một trận bão táp kinh thiên động địa: những lời lẽ tuy ngạo mạn nhưng thống thiết của ông đã lay chuyển tư tưởng nhân loại, như ít khi thấy trong lịch sử. Ðọc Nietzsche, chúng ta thấy như bị tát vào mặt, ta thấy hổ thẹn vì thói ươn hèn của tư tưởng ta, ta thấy hổ thẹn vì thái độ nô lệ và thụ động của ta, ta chưa vươn tới mức làm người tự do." (trang 150) Ta thấy ta như lũ trẻ con ngày ngày nhai đi nhai lại những lời lẽ của thánh hiền, coi đó là những bùa hộ mệnh, tưởng chừng như những lời kinh hoa mỹ kia có phép màu để giải quyết cuộc nhân sinh của ta, mà ta không biết rằng ỷ lại như thế là sống thêm nô lệ. (trang 151)

Một lời răn của Nietzsche trong Zarathoustra Ðã Nói Như Thế: "Anh đã đi con đường từ giun lên làm người, nhưng vẫn còn rất nhiều giun dế trong anh. Xưa kia, anh là khỉ, và ngày nay, loài người vẫn còn khỉ hơn bất cứ con khỉ nào."

Với những lời như thế, triết học của Nietzsche trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI vẫn còn là một liều thuốc đắng cho những tâm hồn muốn vươn lên, thoát khỏi kiếp nô lệ để sống kiếp người.



Hiện tượng luận Husserl

Năm 2001 là năm kỷ niệm 100 năm ra đời của Hiện tượng luận Husserl. Sinh nhật này đã được những người làm văn học ở Tây phương đánh dấu một cách trân trọng với những buổi hội thảo, những số báo đặc biệt nhắc lại Hiện tượng luận và vai trò của nó trong văn học toàn cầu. Vậy Hiện tượng luận là gì?
Trần Thái Ðỉnh trong Triết Học Hiện Sinh viết:

"Husserl (1859-1938) đã coi khoa Hiện tượng học là một cái nhìn cách mạng triệt để, chấm dứt thời kỳ ngây thơ của những triết gia và khoa học gia đi trước ông. Ông thường gọi Hiện tượng học là Căn để chủ nghĩa (radicalisme), vì nó có chủ đích tìm hiểu đến nguồn ngọn tri thức của con người dưới tất cả mọi hình thức, từ hình thức thường nghiệm đến hình thức khoa học." (trang 153)


Nhưng cốt lõi của Hiện tượng luận là gì? Tại sao Hiện tượng luận lại đóng một vai trò quan trọng như thế trong văn học thế kỷ XX?

Như chúng ta đã biết, triết học cổ truyền đi đôi với văn học truyền thống và triết học Hiện Sinh đi đôi với văn học hiện đại.

Triết học cổ truyền, vì mải tranh luận về con người phổ quát, vì mải tìm đến con người lý tưởng, cho nên dễ bỏ qua con người bằng xương bằng thịt đang sống cuộc hiện sinh này. Ngoài ra, triết học cổ truyền cũng đã quá thản nhiên với cuộc đời, coi cuộc đời là thiên nhiên, và thiên nhiên thì lúc nào cũng thế. Husserl gọi thái độ trên đây của triết học cổ truyền là thái độ duy nhiên (naturaliste); và vì thấy duy nhiên là lối bí, nên ông mới khám phá ra Hiện tượng luận. (trang 155)

Có thể nói ngắn gọn, trước Husserl đã có hai quan niệm cổ điển về vũ trụ.

Theo Aristote thì vũ trụ là tất cả. Vũ trụ bất biến, cho nên khi người quân tử đã đạt được cái nhìn đích thực về vũ trụ rồi, tức là đã đạt được chân thiện mỹ rồi, thì không cần học nữa mà chỉ cần truyền bá cái đạo của mình mà thôi.

Quan điểm thứ hai là Hiện tượng luận Hegel. Ðó là Hiện tượng luận về tinh thần. Hegel chứng minh rằng: Tất cả vũ trụ hiện hữu này chỉ là phản ảnh tinh thần con người: tức là tôi nghĩ thế nào thì vũ trụ xuất hiện đúng như thế; vũ trụ Hegel là vũ trụ Kiều, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ, cho nên nhà tâm lý học chỉ cần nghiên cứu tâm trạng của con người là có thể biết hết về vũ trụ.

Tóm lại, có hai quan điểm về vũ trụ. 1) Vũ trụ bất biến, con người phải tìm ra cái nhìn đích thực về vũ trụ. 2) Chủ thể có quyền tuyệt đối về vũ trụ tức là chủ thể xác định vũ trụ. Hiện tượng luận của Husserl dung hòa hai quan niệm trên và đưa ra cái nhìn mới để ghi nhận những biến thái muôn mầu của vũ trụ.


*


Theo Husserl, chủ thể không có quyền tự đặt mình làm tuyệt đối và đối tượng (tức sự vật) cũng không phải là bất biến. Bởi vì cùng một sự vật mà mỗi người chúng ta thấy nó một cách khác nhau. Ðối với Husserl, thì tôi coi sự vật là đối tượng, tức là môt hiện diện, sự vật là một hữu thể đang đối diện và đối thoại với tôi. Cho nên tôi và sự vật (hay vũ trụ) là đồng hạng với nhau, không ai có quyền tuyệt đối trên ai.

Cái học thời cổ, là học trò lập lại những lời của thánh hiền. Tử viết, Aristote viết, Tử nói, Aristote nói, Socrate nói, bởi vì đó là những lời của người quân tử đã đạt tới chân thiện mỹ rồi. Học trò không cần xét lại. Chỉ học như con vẹt.

Nhưng nếu lấy Hiện tượng luận mà xét lại thì sẽ thấy ngay những lời Tử viết ấy, lời Platon, Socrate ấy, ngày nay còn chỗ nào có giá trị, chỗ nào đã lỗi thời. Cũng như nếu lấy Hiện tượng luận mà xét thì câu ca dao "Ta về ta tắm ao ta, vừa trong vừa đục ao nhà vẫn hơn" hủ lậu và thoái hóa vô cùng. Nếu triết học cổ điển công nhận có chân lý hiển nhiên và coi cái nhìn của ta về vũ trụ là hiển nhiên và tất nhiên, thì trái lại, với Husserl, không có cái gì là hiển nhiên và bất biến hết. Hiện tượng luận không dành ưu tiên cho bất cứ một cách nhìn nào về sự vật, về vũ trụ, nhưng nó quyết tâm tra vấn những cái nhìn đó, không coi cái nhìn nào là tất nhiên nữa, và quyết chí tìm cho ra cái nền tảng căn do đã làm cho ta nhìn thế này mà không nhìn thế kia. (trang 160) Thành thử nếu muốn nhập môn Hiện tượng luận, chúng ta phải lột xác, bỏ những ý kiến cố định đi để theo Husserl đứng vào những cách nhìn như ta chưa từng làm bao giờ hết. (trang 160)


*

Nhìn lại văn học thế kỷ XX, hầu như những tác giả lớn đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của Hiện tượng luận.

Jean Paul Sartre đã áp dụng Hiện tượng luận vào mọi thể loại văn học của ông, từ phê bình đến truyện ngắn, kịch ... Ví dụ cách mô tả nhân vật của Sartre qua Roquentin trong Buồn Nôn. Ông đã mổ xẻ đến kiệt cùng sự nhận thức của Roquentin về chính mình, về từng động tác, từng cảm giác, từng tri giác của chính mình. Trong truyện ngắn Le mur, Bức Tường, Sartre đã dùng Hiện tượng luận để mổ xẻ nỗi sợ của con người, chủ yếu là của những tử tù trước khi chết. Trong Les Mots, Chữ Nghĩa, Sartre đã dùng Hiện tượng luận để mổ xẻ xã hội trưởng giả mà ông xuất thân, qua ngôn ngữ của chính nó. Trong Qu'est ce que la littérature, Văn Chương Là Gì?, Sartre dùng Hiện tượng luận để tra khảo văn chương, tìm đến nguồn cội của sự viết, cách viết, tại sao viết ... Tóm lại, Hiện tượng luận cho phép tác giả đi đến kiệt cùng một hiện tượng, một vấn đề mà tác giả muốn trình bầy cho người đọc.

Trong tiểu thuyết mới, Alain Robbe Grillet là người chịu ảnh hưởng sâu sắc Husserl, ông áp dụng Hiện tượng luận để mô tả đến kiệt cùng một sự vật. Khác với Jean Paul Sartre, lối mô tả của Alain Robbe Grillet lả lướt và có nhiều hình tượng hơn, nhưng vẫn là Hiện tượng luận. Chỉ một màn cô gái xõa tóc chải đầu, trong cuốn La jalousie (Bức Mành Mành), Alain Robbe Grillet có thể viết thành một bài thơ dài, vừa mơ hồ, vừa chính xác. Ông nghe thấy "tiếng" tóc lao xao, bối rối mỗi lần bàn tay chuyển động, cái lược đưa lên, kéo xuống, da đầu xao động với cán ngà... Một vết con rết chết dí trên tường, cũng được ông quay đi quay lại đến mươi lần, và mỗi lần nhà văn lại lục lọi trong hồi ức, ra một kỷ niệm hay một nhận thức khác trước.

Tóm lại, Hiện tượng luận bắt buộc nhà văn phải nhìn hiện tượng dưới nhiều góc độ khác nhau, bắt buộc đạo diễn phải quay một cảnh dưới những ống kính khác nhau, và mỗi khi đổi vị trí, nhà văn hay đạo diễn lại khám phá ra một khía cạnh mới của hiện tượng, của sự vật. Trường phái cái nhìn, Ecole du regard, trong tiểu thuyết mới thoát thai từ Hiện tượng luận; do vậy, nhà văn "mới" không mô tả như nhà văn cũ. Cái khác nhau của họ là: đối với các nhà văn cổ điển, cái bàn là cái bàn, cái ghế là cái ghế, chúng chỉ có bốn chân, và tả thêm nữa thì nó làm bằng gỗ lim, gỗ gụ, nó tập tàng hay nó còn mới toanh ... nhưng nếu ở dưới mắt một nhà văn chịu ảnh hưởng Hiện tuợng luận thì sẽ thấy cái bàn ấy có bao nhiêu vết nứt, mỗi vết nứt có hình thù gì và mỗi vết nẻ là dấu ấn của một cuộc ẩm thực nào, của một buổi tiễn đưa nào v.v...

Hiện tượng luận bắt buộc nhà văn đặt đối tượng tức vật thể ở trước mắt để tra khảo trí nhớ, kỷ niệm của mình, tra khảo giác quan của mình mà mô tả. Như thể một người đã đỗ bằng bác sĩ, nếu học thêm về giải phẫu thì sẽ có thể mổ xẻ được những bộ phận của con người một cách tinh vi hơn, còn không thì anh ta chỉ là một bác sĩ toàn khoa, chuyên trị bệnh cảm cúm nhưng không thể đi sâu vào những khúc mắc bên trong mỗi phần thân thể riêng của con người.

Khi mô tả như vậy, đối tượng hay hiện tượng sẽ hiện ra dưới bộ mătï khác, khác hẳn với lối mô tả, dù là tả chân- trong cách viết hiện thực cổ điển. Bởi trong cách viết hiện thực cổ điển, nhà văn nhìn sự vật như một điều bất biến: Cô Huyền là một cô Huyền do tác giả tạo ra, tức là tác giả "hình dung" ra. Trong lối nhìn Hiện tượng luận, tác giả mang cô Huyền để trước mặt và chiếu nhiều ống kính hiển vi khác nhau vào cô Huyền. Ta sẽ thấy cha cô Huyền nhìn cô Huyền một cách khác, mẹ cô Huyền nhìn cô Huyền một cách khác, anh cô Huyền nhìn cô Huyền một cách khác, người yêu cô Huyền nhìn cô Huyền một cách khác ... Và càng chiếu nhiều ống kính khác nhau vào cô Huyền thì chân dung cô Huyền càng sống động, nó không chỉ có một chiều duy nhất như tác giả cổ điển nghĩ ra. Tóm lại, Hiện tượng luận không cho nhà văn nghĩ ra, tức là bịa ra một cái gì đó để viết, mà nhà văn phải khảo sát, phải kiểm nghiệm, phải để đối tượng trước mắt để ngắm nhìn, phải cho đối tượng sống lại bằng hồi ức, kỷ niệm, kinh nghiệm sống của nhà văn, phải nhìn kỹ, nhìn đi, nhìn lại để khám phá ra những bí mật của đối tượng.


Triết học cổ điển chủ trương con người có thể biết thấu bản tính, biết đến đáy lòng của sự vật và của con người. Nhưng triết học Hiện Sinh, đặc biệt là Hiện tượng luận của Husserl, cho rằng chúng ta không biết rõ bản tính của ai hết, kể cả của người lẫn vật, những cái nhìn của chúng ta về sự vật thường phiến diện, vì vậy chúng ta phải có cái nhìn trắc diện, đo, đạc và phải có nhiều cái nhìn trắc diện khác nhau, nhìn trước, nhìn sau, nhìn từ phía trên, nhìn từ phía dưới, tóm lại là luôn luôn đổi cái nhìn thì mới mong đi sâu vào sự hiểu biết sự vật, tìm thấy những sắc thái mới mẻ của nó, và cho đến mãi mãi, sự vật vẫn dành cho ta những bỡ ngỡ nếu ta biết thay cái nhìn để tìm hiểu nó hơn. (trang 166)

Hiện tượng luận dựa trên phương pháp khoa học được Husserl gọi là những giảm trừ (reduction). Có ba giảm trừ chính:

- Giảm trừ triết học: buộc ta phải xét lại tất cả những học thuyết của tiền nhân.
- Giảm trừ yếu tính: giúp ta đặt vũ trụ hiện hữu vào trong ngoặc đơn để chỉ nhắm nó như một hiện tượng.
- Và sau đó là giảm trừ Hiện tượng luận: nhờ đó ý thức được gỡ ra khỏi tất cả những bám víu của thái độ duy nhiên trước đây để chỉ còn là những cái nhìn thuần túy, trắc, diện về mọi sự, kể cả những tâm tình của chủ thể. (trang 172).


Cho nên Husserl luôn luôn nhắc đến nhiều đợt (couches) khác nhau, nhiều hình thái khác nhau của ý thức: cũng là cái nhìn, có khi sâu, có khi nông, cũng là hoài niệm, có khi là hoài niệm đầu tiên, có khi là hoài niệm thứ nhì, tức là ta nhớ rằng ta đã nhớ như thế này, thế nọ v.v... Ví dụ cũng là cái nhà số X đường Tú Xương chẳng hạn, hằng ngày tôi vẫn đạp xe qua đó đến trường, tôi nhìn thấy đó là một cái nhà, sau đó, tôi cần mua nhà để ở, tôi bắt đầu để ý đến chiếc nhà đó, cái nhìn của tôi đã đào sâu hơn, sau khi đã bàn bạc trong gia đình, và đã gần như đồng ý mua, tôi lại nhìn nó bằng đôi mắt khác, vì ý hướng đã mỗi lần mỗi đổi khác, cho đến khi vào hỏi chủ nhà, được mời đi xem trước sau, trong ngoài, cái nhìn của tôi càng sâu hơn, tâm tình và ý hướng tôi càng đổi mãi; thành thử theo Hiện tượng luận, tôi phải tả được những "hiện tượng nhà" mà tôi đã kinh nghiệm đối với cái nhà số X đường Tú Xương đó. Ðối với những cảnh vật và những người mà tôi giao tiếp cũng thế, và càng hơn thế nữa: tôi phải dùng Hiện tượng luận để mô tả đúng những cái nhìn của tôi đối với họ ở mỗi chặng đường đời, ở mỗi tình trạng riêng biệt [...]. Không nói thêm. Không nói bớt. Nhất là không sáo ngữ. (trang 187)


*


Nhiều người làm văn học hay mượn cớ lãng mạn để viết phóng, viết bịa ra những tình cảm hoặc mô tả những con người không có thực trong đời sống, tóm lại tác giả nhầm lẫn sự hư cấu với sự bịa đặt, không sống thực, nhầm lẫn tưởng tượng văn học với tưởng tượng bịa đặt.

Tưởng tượng văn học là vẽ lại những hình ảnh mình đã kinh qua trong đời sống một cách nghệ thuật. Nhà văn phải viết bằng tri giác và kinh nghiệm sống và khi họ bước ra ngoài hai lãnh vực ấy để bịa ra những mẩu đời, những mẩu tâm tình không ăn nhằm gì với cuộc sống, thì họ thất bại.

Cũng phải nói thêm rằng lối mô tả trong hiện thực cổ điển chỉ là lối chụp ảnh thiên nhiên và hiện tượng theo lối nhìn cổ điển, tức là nhà văn trước hết đã thấu suốt hết mọi lẽ, mọi sự và anh ta chỉ việc đưa ra cái ảnh của cái gọi là sự biết ấy của anh về sự vật, về thế giới, là xong.

Ngược lại, trong cái nhìn Hiện tượng luận, nhà văn, trước hết, không biết gì về hiện tượng mà anh mô tả và anh ta phải truy lùng, phải tìm kiếm, phải vật lộn với tri giác và kinh nghiệm sống mới có thể viết về đối tượng mà anh ta khảo sát, và những điều mà anh ta đưa ra cũng không bao giờ là kết quả cuối cùng về sự vật, về hiện tượng đó mà chỉ là một cách tìm kiếm mà thôi.


Ðó là lý do mà một nhà văn như Alain Robbe Grillet cứ viết đi viết lại một chủ đề án mạng, trong nhiều tác phẩm, với những nhân vật giống nhau, và mỗi lần viết, ông ta lại tìm ra những nhận xét mới. Cho nên, nếu đi sâu vào Hiện tượng luận thì nhà văn sẽ khó có thể bí đề tài, bởi bất cứ một đề tài nào, ta cũng có thể đào bới nó bằng trăm cách nhìn, cách viết khác nhau: Một mái đình làng, một cuộc lễ hội, một đám cháy v.v... tất cả đều có thể được khảo sát đến vô cùng bằng phương pháp nội soi vừa khoa học, vừa triết học, vừa văn chương của Hiện tượng luận.


Thụy Khuê
Paris, tháng 11/2001

© Copyright Thuy Khue 2001




Triết học đương đại Việt Nam....(tự luận)Bạn có thuộc về đám đông không?

Comments

Minhcineenebo Friday, August 16, 2013 8:07:22 AM


Thụy Khuê

Phê bình văn học thế kỷ XX

Chương 15

Phê bình văn học Pháp

Jean Paul Sartre (1905-1980)





Tóm tắt lịch trình phê bình nửa đầu thế kỷ XX

Những khuynh hướng khác nhau trong phê bình văn học nửa đầu thế kỷ XX, gần như đã phát triển một cách độc lập. Những trường phái, phong cách, ít có điều kiện trao đổi hoặc phối hợp với nhau bởi sự giao lưu tư tưởng giữa các nhà phê bình chưa được phát triển vì hai lẽ: Đại chiến thứ nhất và Cách mạng tháng mười kéo dài hậu quả phân chia thế giới, lãnh địa. Việc dịch thuật chưa mở rộng kể cả ở những nước tiên phong như Pháp, Đức... Vì vậy, phê bình Nga và Đức hầu như không "biết" nhau. Thêm nữa, các thể chế độc tài Cộng sản và Đức Quốc Xã thống trị trên sự đàn áp tư tưởng, tác phẩm nghiên cứu của nhiều nhà phê bình bị vùi dập, bản thân nhà phê bình bị đe dọa. Để trốn tránh chế độ độc tài, một số nhà phê bình Nga và Đức phải chạy ra nước ngoài. Rồi đại chiến thứ nhì gây thêm đổ vỡ, tan nát, làm chựng việc giao lưu tư tưởng. Đó là những lý do khiến những khuynh hướng phê bình trong nửa đầu thế kỷ XX, tuy phong phú, nhưng không liên lạc mật thiết với nhau. Mỗi cá nhân, mỗi xu hướng làm việc riêng rẽ, ít có sự kết hợp tư tưởng một cách "toàn cầu" như hiện nay.

Tại Nga, trường phái hình thức khai trương khoa khảo sát văn bản từ thập niên 1920-1930, dựa trên ngữ học; Mikhail Bakhtine đứng riêng một cõi, những tác phẩm của ông bị trù dập đến giữa thế kỷ. Xuất phát từ nhóm hình thức nhưng Bakhtine cực lực chống lại tính cách "máy móc" của họ, ông cho rằng một chủ trương phê bình chỉ chuyên chú vào văn bản và chỉ dựa vào những quy ước ngôn ngữ không thôi thì sẽ đi ra ngoài văn học. Theo Bakhtine, đằng sau tác phẩm là tác giả, là một con người và đằng sau con người là một xã hội, một lịch sử. Vì vậy, sự nghiên cứu văn bản chỉ có ý nghĩa khi chúng ta -thông qua văn bản- tìm thấy đời sống, tìm thấy xã hội và con người. Bakhtine muốn xây dựng một nền xã hội học phê bình, khác với nền ngữ học phê bình của trường phái hình thức. Hai khuynh hướng đối lập giữa Bakhtine và trường phái hình thức, thực sự, lại bổ sung cho nhau, đưa phê bình Nga lên ngôi vị hàng đầu, trong việc khai phá phê bình văn học trong nửa đầu thế kỷ XX.

Song song và độc lập với phê bình Nga là phê bình Đức trước thế chiến. Nếu phê bình Nga dựa trên ngữ học, thì phê bình Đức dựa trên bác ngữ học. Điểm đáng chú ý đầu tiên là các nhà bác ngữ Đức, như Auerbach, Spitzer, đã mở rộng không gian phê bình ra ngoài biên giới quốc gia, phát sinh tinh thần Âu châu hợp nhất, ngay trước thế chiến, và họ là những người đầu tiên đã sử dụng và phát triển khái niệm so sánh như một phương pháp trong phê bình văn học. Bác ngữ là khoa học đào sâu đến tận nguồn gốc lịch sử ngôn ngữ. Phê bình bác ngữ học tìm mối tương quan giữa các ngôn ngữ cùng chung gốc La tinh. Đối với những nhà phê bình Đức, phê bình không nên chỉ nhắm vào một đối tượng là cuốn sách này, cuốn sách kia, hoặc khoanh tròn trong nền văn học của nước này hay nước khác, mà phải mở rộng lãnh vực, và họ đề nghị nghiên cứu nền văn học Âu Châu, gồm các thứ tiếng có nguồn gốc ngữ tự La tinh, như một toàn thể, vì các tác gia trong các nước ấy, cùng có chung một nền văn hoá gốc, cùng chung những khuôn mẫu tư tưởng gốc. Một quan niệm Âu Châu toàn khối như thế, có thể xem như đã manh nha cho tinh thần "toàn cầu" sau này, nhưng ở thời điểm đó, còn mang thêm một ý nghiã khác: chống lại tinh thần dân tộc cực đoan của Đức Quốc Xã và gợi ý cho một nền nghiên cứu văn học so sánh, một cái nhìn liên văn bản mà nửa sau thế kỷ XX, sẽ được mở rộng và đào sâu thêm. Giả sử Á Châu có một nền nghiên cứu văn học về các ngôn ngữ có nguồn gốc chữ Hán như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam thì chúng ta cũng sẽ tìm ra được rất nhiều mối tương giao giữa những nền văn học này, bởi chúng cùng phát xuất từ nền văn hoá gốc Trung Hoa. Khi đọc tiểu thuyết của những tác giả Nhật, như Murasaki, Kawabata, Inoué, Mishima... đặc biệt Murasaki và Kawabata, ta thấy lại những hình ảnh trong Cung Oán, Chinh Phụ, Kiều... dưới những bối cảnh khác hẳn: vừa gần gụi vừa lạ kỳ; như thể những hình ảnh đó, từ mầm Hán nhưng khi được gieo sang những mảnh đất khác nhau, đã thấm nhuần phong thổ, khí hậu, văn hoá và được nuôi dưỡng trong tâm hồn các dân tộc khác nhau, chúng lớn lên trong những thân xác mới, trở thành những tư tưởng mới; nói khác đi, chúng đã được Nhật hoá, Triều hóa, Việt hóa một cách tài tình.

Phê bình Nga và Đức, vì các điều kiện lịch sử như trên đã nói, không phát triển được ở Âu Châu trước và trong thế chiến. Khoảng giữa thế kỷ XX, một trường phái khác đã giữ vai trò chủ chốt trong việc phát triển phê bình ở đại học, đó là trường phái Phê bình ý thức ở Genève. Trường phái Thụy Sĩ, trước tiên, chủ trương chống lại ba phương pháp phê bình thịnh hành trong thế kỷ XIX là phê bình thực nghiệm, dựa trên triết học thực nghiệm Auguste Comte, đem những kinh nghiệm thực chứng trong đời sống áp dụng vào phê bình, chỉ ra cái "sai" cái "đúng" của tác phẩm, Vũ Ngọc Phan đi theo con đường này; phê bình ấn tượng, nói lên những ấn tượng mà văn bản gây nên cho bản thân nhà phê bình, Hoài Thanh chịu ảnh hưởng của phê bình ấn tượng và phê bình tiểu sử, nhà phê bình dựa trên tiểu sử nhà văn để tạo nên những chân dung văn học trong đó văn bản được đưa vào như những chứng từ. Đại diện tiêu biểu ở Pháp của phê bình thực nghiệm và phê bình tiểu sử là Sainte Beuve.

Đả phá những lối viết phê bình thế kỷ XIX, mà họ cho là dựa trên những yếu tố ngoài văn bản, trường phái ý thức chủ trương khám phá quan hệ nội tại giữa người đọc và người viết qua tác phẩm. Vai trò của người đọc được đưa ra, được khảo sát và đề cao. Georges Poulet, một trong những thành viên chủ chốt cho rằng phê bình ý thức là sự đồng quy giữa hai ý thức: ý thức người viết và ý thức người đọc. Phê bình Thụy Sĩ có thể coi là chiếc cầu nối giữa hai nền phê bình Đức và phê bình Pháp.





Phê bình nửa sau thế kỷ XX

Phê bình Pháp phát triển vào giữa và nửa sau thế kỷ XX. Những tên tuổi lớn chia làm hai nhóm:

Nhóm thứ nhất gồm những nhà phê bình độc lập, phi trường phái như Jean Paul Sartre, Gaston Bachelard, Maurice Blanchot v.v... Tác phẩm chính của họ xuất hiện khoảng thập niên năm mươi, với ba tư thái văn học khác nhau.

Nhóm thứ nhì, thường được gọi chung là Phê bình mới, như Phê bình ký hiệu học, Phê bình liên văn bản v.v... xuất hiện thập niên bẩy mươi, xây dựng lý thuyết văn bản trên các ngành khoa học như ký hiệu học, liên văn bản, văn học so sánh, với những tên tuổi như Roland Barthes, Gérard Genette, Julia Kristeva... ở Pháp hoặc Umberto Eco... ở Ý.

Chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu ba nhà phê bình độc lập J.P. Sartre, Gaston Bachelard, Maurice Blanchot trước và sau đó Phê bình ký hiệu học với Umberto Eco và Roland Barthes.

Phê bình Ký hiệu học sẽ được mở đầu với Umberto Eco, người Ý. Bởi muốn hiểu nội dung phê bình ký hiệu học, trước tiên phải hiểu lý thuyết về ký hiệu học, một lý thuyết khá rắc rối, mà nếu độc giả chưa có kinh nghiệm chuyên môn, đọc thẳng sách của Roland Barthes hay Kristeva rất khó hiểu. Umberto Eco là một trong những người giải thích khái niệm ký hiệu học rõ ràng và mạch lạc nhất trong các nhà lý thuyết hiện đại. Và sau cùng chúng tôi sẽ đi sâu vào địa hạt phê bình ký hiệu học của Roland Barthes.

Đối với một số bạn đọc quen với dư luận văn học Mỹ, những tên tuổi như Bachelard, Blanchot... có lẽ không được nhiều người biết đến như lý thuyết Postmoderne - Hậu hiện đại của Jean François Lyotard hoặc Déconstruction - Tái kiến trúc của Jacques Derrida. Mặc nhiên, Bachelard và Blanchot vẫn là những triết gia và phê bình gia đã đóng góp những tìm tòi sâu sắc cho nền phê bình hiện đại.

Về lý thuyết Hậu hiện đại của Lyotard chúng tôi sẽ trình bầy trong phần chót như một phụ bản. Bởi trái với những gì đã được tôn sùng trong đại học Mỹ một thời, đưa đến những hậu quả muộn màng ở Việt Nam, lý thuyết Hậu hiện đại không đem lại những giá trị thực tiễn cho phê bình, nên sớm bị lỗi thời.

Riêng khái niệm hủy diệt văn bản, thay vì lý thuyết thời thượng của Jacques Derrida, chúng tôi chọn Maurice Blanchot, như một triết gia phê bình đã đi xa nhất trong việc phân tích, không chỉ hành động viết, mà toàn bộ hành động của tư tưởng.



Cũng xin lưu ý bạn đọc một số vấn đề liên quan đến dịch thuật: Để giới thiệu lý thuyết của J.P. Sartre với độc giả Việt Nam, phần lớn chưa quen với văn hoá và xã hội Âu Châu, cần phải thận trọng trong việc dịch những thuật ngữ cơ bản. Phê bình của Sartre đưa ra hai khái niệm quan trọng: dấn thân - engagé và trưởng giả - bourgeois. Khái niệm dấn thân sẽ được trình bày kỹ càng, nhưng khuôn khổ địa hạt nghiên cứu không cho phép chúng tôi đi sâu vào khái niệm trưởng giả, thường được dịch sai, ở Việt Nam trong những năm gần đây, cho nên cần được giải thích.

Khái niệm bourgeois - mà Nguyễn Văn Vĩnh dịch là trưởng giả, rất thông dụng trong ngôn ngữ phê bình văn học và xã hội học Pháp, đặc biệt Sartre, sau đến Barthes. Đối với Sartre, phê bình là phê bình toàn bộ xã hội trưởng giả Âu châu, từ thời Trung Cổ, đã tạo nên nền chính trị trưởng giả, ngôn ngữ trưởng giả, văn học trưởng giả. Hệ thống tư tưởng trưởng giả này bao trùm lên toàn thể đời sống con người Âu châu, xuyên qua nhiều thế kỷ.

Về ngữ căn, chữ trưởng giả dùng để chỉ giai cấp có thế lực trong xã hội. Nguyên thủy thời trung cổ, giai cấp này gốc nhà buôn, nhờ giàu có mà tiến dần lên địa vị cao và có quyền trong xã hội thay thế cho giai cấp quý tộc mất dần ảnh hưởng. Nhưng trong giai đoạn kế tiếp nhà buôn lại mất dần chỗ đứng và quyền lực chuyển dần sang giai cấp trí thức khoa bảng (nhà khoa học, luật sư, kỹ sư, bác sĩ...). Tất nhiên giai cấp trưởng giả qua các thời đại thường giàu có, nhưng cũng có thể chỉ trung lưu, thậm chí nghèo, nhưng vẫn giữ nề (ví dụ Barthes xuất thân trong một gia đình trưởng giả thanh bạch). Khi Sartre chống lại văn hoá trưởng giả là ông chống lại tất cả hệ thống tư tưởng trưởng giả được hình thành tại Âu Châu từ thời Trung cổ đến ngày nay.

Vì vậy, ở đây nên tránh dịch chữ bourgeois thành tư sản hay tư bản như một số dịch giả trong nước, trừ vài trường hợp đặc biệt, chữ bourgeois được dùng (sai) trong nghiã tư sản. Vì tư bản hay tư sản - capitaliste, chỉ có nghiã là kẻ có tiền, có tài sản, khác với chữ bourgeois, ngụ cả trình độ văn hoá và phong cách sống nữa. Ngoài ra, trong hệ thống thuật ngữ cộng sản, tư sản, tư bản luôn luôn ngụ ý mại bản, bóc lột, mà những nghiã này không hàm chứa trong từ bourgeois của Pháp. Vì vậy, khi dịch bourgeois thành tư sản, tư bản, là người dịch đã vô tình hay hữu ý, không những kéo Sartre, Barthes về phe những người đả kích "văn hoá tư bản", một thực thể không có thật, bởi nghiệm cho cùng, tư bản làm gì có văn hoá? Văn hoá là sản phẩm của con người có ý thức và có tư tưởng; mà còn ép hai ông dùng thứ ngôn ngữ có dụng ý chính trị của những người cộng sản mà hai nhà văn này luôn luôn đả phá.





Triết học hiện sinh và phê bình của Sartre

Khi viên bộ trưởng nội vụ định bắt giam J.P. Sartre vì "tội" xuống đường ủng hộ thanh niên biểu tình chống chiến tranh Algérie, De Gaulle bảo: "Không ai bỏ tù Voltaire".

Sartre là khuôn mặt mà nhà xã hội học Pháp Pierre Bourdieu gọi là trí thức toàn diện (intellectuel total). Tư tưởng của Sartre đi vào đời sống, ảnh hưởng lên toàn bộ tri thức của người Pháp trong thế kỷ XX như một hiện hữu không thể tách rời. Sartre là người nói: Bên cạnh đứa bé sắp chết đói, cuốn Buồn nôn không có nghĩa lý gì. Đối với dân tộc Pháp, Sartre trở thành lương tâm thời đại. Sartre -với những khúc mắc, những sai lầm, những ngõ quanh lịch sử, những thất bại, những ngộ nhận, những gặp gỡ, và những đấu tranh không ngừng- là nhà văn, nhà tư tưởng trường kỳ đứng về phía những thành phần yếu kém, suốt đời bị đàn áp. Sartre đặt con người trước tự do và trách nhiệm của mình.

Sinh tại Paris ngày 21/6 năm 1905 và mất tại Paris ngày 15/4 năm 1980. Sartre sống gần trọn thế kỷ với Paris, trong lòng đất Pháp. Và con người ấy, chính Sartre chứ không ai khác, đã gánh trọn vẹn ý thức thời đại của người Pháp thế kỷ XX.

Con người tự do và nhân bản, là hai yếu tố chính trong triết học hiện sinh của Sartre. Ý thức về con người tự do và nhân bản xuyên suốt các tác phẩm tiểu thuyết, kịch bản, truyện ngắn, tiểu luận của Sartre, ảnh hưởng lớn đến tầng lớp thanh niên, và cũng là rường mối chính trong trong phê bình văn học của Sartre. Điểm đáng chú ý đầu tiên ở Sartre, là ba lãnh vực triết học, sáng tác và phê bình thường không chia ranh giới. Chúng tôi giới hạn chủ đề trong phê bình của Sartre. Nhưng để tìm hiểu về phê bình của Sartre, có lẽ nên hiểu sơ lược xem chủ nghiã hiện sinh là gì?

Bên cạnh tác phẩm đồ sộ thuần túy triết học L'Être et le Néant - Hữu thể và Hư vô, in năm 1943, trong đó Sartre giãi bày quan niệm nhân sinh của mình (sách dày hơn 700 trang, viết cho độc giả có trình độ triết học), Sartre còn trả lời câu hỏi: chủ nghiã hiện sinh là gì cho một quần chúng bình dân rộng lớn, một cách khái quát và dễ hiểu, ông tuyên bố: "Chủ nghiã hiện sinh là một chủ nghiã nhân bản". Đó là đầu đề bài diễn thuyết ở Paris ngày 29/10 năm 1945, sau này được in thành sách. Trong bài này Sartre đã tóm lược, và phổ thông hoá triết học hiện sinh, ngay trên đầu đề, bằng một xác định "Chủ nghiã hiện sinh là một chủ nghĩa nhân bản". Tiếp đó, ông đặt câu hỏi: Thế nào là hiện sinh? Và ông tự trả lời: Rất nhiều người dùng hai chữ này, nhưng khi hỏi nghiã là gì thì họ bối rối không giải thích được, bởi vì bây giờ nó đã trở thành cái mốt, người ta cứ nói phứa nhạc sĩ này, hoạ sĩ kia là hiện sinh. Và nghiệm cho cùng thì hai chữ hiện sinh đã bị kéo toác ra đến nỗi chúng chẳng còn có nghĩa gì nữa (L'existentialisme est un humanisme - Chủ nghĩa hiện sinh là một chủ nghiã nhân bản, nxb Folio Essais, trang 25). Đi thẳng tới đích, Sartre giải thích: Thực sự có hai dòng hiện sinh: dòng đầu, gồm những người có đạo, tôi xếp Jaspers và Gabriel Marcel vào hàng những người có đức tin Thiên chúa giáo và dòng thứ nhì, vô thần, gồm Heidegger và những người hiện sinh vô thần khác trong đó có tôi. Điểm chung của cả hai dòng này là chúng tôi cùng cho rằng hiện hữu (existence) có trước bản chất (essence). (sđd, trang 26)



Vậy: Hiện hữu có trước bản chất là gì? Sartre lấy ví dụ: một quyển sách hay con dao rọc giấy. Khi người thợ quyết định làm một con dao rọc giấy thì trước tiên anh ta phải có cái "khái niệm rọc giấy" trước, rồi anh ta mới nghĩ cách tạo ra nó: phải dùng chất liệu gì, áp dụng kỹ thuật sản suất như thế nào? Tóm lại: con dao rọc giấy phải được cấu tạo như thế nào để cho nó có một công dụng rõ ràng. Và như vậy, ta có thể nói rằng, đối với con dao rọc giấy: bản chất có trước hiện hữu, bởi vì bản chất (tức là toàn bộ từ cách chế tạo lẫn công dụng) của con dao đã được người thợ xác định trước khi làm dao. (Trang 26-27)

Về con người, thì có thể nói rằng trong bất cứ quan niệm hữu thần nào, người ta cũng thừa nhận có một đấng tối cao là con tạo (thợ tối cao) nặn ra con người (như người thợ tạo ra con dao rọc giấy) đúng với "khái niệm người" đã định sẵn theo khuôn mẫu linh thiêng của Thượng Đế. Như thế, con người, trong quan niệm hữu thần, có một "bản chất người" trước khi hiện hữu. Và mỗi người là một mẫu riêng, xây dựng trên khái niệm chung về người, do con tạo thực hiện.

Chủ nghiã hiện sinh vô thần không công nhận có Thượng đế. Vậy ai tạo ra "bản chất" con người? Vì vậy cho nên không thể có chuyện "bản chất". Nhưng, nếu không có Thượng đế, thì cũng có một hữu thể mà sự hiện hữu có trước bản chất (l'existence précède l'essence), đó là con người, hoặc nói theo Heidegger: đó là thực tế con người (la réalité humaine). Tóm lại, theo quan niệm hiện sinh vô thần, con người hiện diện trước, có mặt trên thế giới trước, rồi hắn mới tự xác định "bản chất" của mình sau (trang 28-29). Nói cách khác, con người là những gì mà nó sẽ làm nên, hoặc dễ hiểu hơn: Nếu anh chẳng làm gì cả, anh chẳng có một dự trình, dự phóng gì hết, thì anh cũng chẳng là cái gì cả. Đó là nguyên tắc đầu tiên của triết học hiện sinh.

Tóm lại, con người là một projet, tức là một dự phóng, một dự tính, một dự trình. Nếu anh dự tính rằng mình sẽ trở nên một cái gì, thì anh phải có trách nhiệm. Không những trách nhiệm đối với mình mà còn có trách nhiệm với người khác, trách nhiệm với tất cả mọi người (trang 30, 31). Và nếu anh đã biết trách nhiệm của mình, vậy khi anh chọn lựa làm cái này hay cái khác, thì: thứ nhất, anh phải biết rõ cái giá trị mà anh lựa chọn và thứ nhì, anh phải chịu trách nhiệm về cái mình sẽ chọn, cho nên anh không thể chọn làm điều ác. Cái mà anh chọn phải là tốt, và nếu nó đã tốt cho anh thì tất nhiên nó không thể không tốt cho người, cho mọi người (trang 32). Ở đây ta thấy lại quan niệm lương tri trong đạo đức học của Kant.

Ngoài ra, nếu anh đã chấp nhận là không có Thượng đế, tức là không có đấng tối cao, không có mệnh lệnh từ trên soi xuống để dẫn đường dìu dắt, chỉ bảo cho anh, thì anh sẽ không thể dựa vào đâu để van nài xin tha thứ, tìm sự cứu rỗi khi anh phạm lỗi. Đó là cái mà Sartre gọi là "l'homme est condamné à être libre" tức là "con người bị bắt buộc phải tự do" (trang 39): Bị bắt buộc bởi vì con người không tự sinh ra mình, nhưng một khi anh có đó, anh tự quyết định hành động của mình thì anh phải tự gánh trách nhiệm mỗi hành động của anh, anh phải chịu trách nhiệm những khát vọng, đam mê của anh. Anh là kẻ nô lệ của chính anh và anh cũng là tương lai của chính anh. Tóm lại: anh là gì? Anh là chính cuộc đời anh, chứ không phải là cái gì khác. Đó là định nghĩa con người của Sartre trong triết học hiện sinh.

Triết học hiện sinh là một triết học hành động. Nó không để cho con người ù lỳ, cam phận; nó thúc đẩy con người phải hành động. Và trong hành động phải có ý thức: Ý thức tự do và ý thức trách nhiệm. Cả hai ý thức ấy đi đôi trong triết thuyết hiện sinh của Sartre, trở thành ý thức chung của con người thời đại và đã ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của thanh niên, trí thức Pháp, thế kỷ XX.



Phê bình của Sartre đặt trên nền móng triết học hiện sinh và hiện diện dưới nhiều dạng thức. Trong tập triết luận L'imaginaire - Vùng tưởng tượng, in năm 1940, Sartre phân tích hiện tượng luận về óc tưởng tượng và hệ quả của nó là vùng tưởng tượng. Tác phẩm trả lời những câu hỏi: hình ảnh là gì? Làm sao tạo được một hình ảnh? giúp ta hiểu rõ thế giới tưởng tượng, nền tảng của văn chương nghệ thuật.

Cuốn Baudelaire, ra đời năm 1947, phân tâm hiện sinh Baudelaire như một thần tượng điển hình cho mẫu người thi sĩ bị nguyền rủa. Tác phẩm bắc cầu giữa triết học và phê bình văn học. Sartre tạo dựng chân dung văn học Baudelaire bằng cách đi từ sự cấu thành nội tâm của nhà thơ, một "nội tâm" tan nát từ nhỏ, từ bi kịch gia đình: đang sống trong tình yêu thần thánh giữa hai mẹ con, coi mẹ như một thần tượng, rồi cha chết lúc 6 tuổi, rồi mẹ đi lấy chồng lúc 7 tuổi, bỏ con vào nội trú. Vết rạn cuộc đời Baudelaire bắt đầu từ đây. Ấn tượng bị bỏ, bị ruồng, tạo nên khối cô đơn không hàn gắn. Cô đơn trở thành định mệnh. Baudelaire tự coi mình khác với mọi người, mình là một Người khác (L'Autre). Baudelaire là kẻ đứng ngoài mình, nhìn vào trong mình như một người khác, Sartre viết:

"Baudelaire cúi xuống chính mình, muốn treo hình ảnh mình trên con sông xám đang thầm lặng trôi, rình những khát vọng và những phẫn nộ của mình để chộp bắt cái nền sâu thẳm, là bản chất của chính mình. Bởi chủ tâm không ngừng nghỉ ấy đối với tính khí của mình, mà anh trở nên Charles Baudelaire của chúng ta. Thái độ tiên thiên ở anh là thái độ của một người cúi xuống. Cúi xuống chính mình như Narcisse [1]. Ở anh, không có cái ý thức tức thời nào mà không bị cái nhìn sắc nhọn đâm thủng." (Baudelaire, Folio Essais, 1998, trang 23).

Cùng đi từ đời tư tác giả để xác định con người qua tác phẩm, nhưng cách viết của Sartre đã xa lắm đối với lối phê bình tiểu sử thế kỷ XIX, ông đã đạt cốt lõi của vấn đề: mổ xẻ Baudelaire như một hiện tượng, một hiện tượng văn học trong con người, được phanh phui trần trụi từ thể xác đến tâm hồn.

Về mặt thuần túy phê bình, trong bộ tiểu luận 10 cuốn Situations - Tình thế (in từ 1947 đến 1976), có hai cuốn Tình thế I và II, dành riêng cho phê bình văn học. Tình thế I (1947) viết về 13 tác giả: Faulkner, Dos Passos, Nizan, Mauriac, Nabokov, Giraudoux, Camus, Blanchot, Ponge, Renard, Rougemont, Bataille, và Parain. Hai cuốn Saint Genet, comédien ou martyr - Thánh Genet, nhà trò hay tuẫn đạo, 1952, và L'Idiot de la famille - Chàng ngốc trong gia đình, 1971, là những chân dung hiện sinh về Jean Genet và Gustave Flaubert. Cuốn tự truyện Les mots- Chữ nghiã, 1964, là một kiệt tác trong thể loại kết hợp sáng tác và phê bình xã hội xuyên qua ngôn ngữ.

Trong Tình thế II (1947) có tập tiểu luận Qu'est-ce que la littérature-Văn chương là gì? Sartre trình bày lý thuyết của ông về việc viết và đọc. Chúng tôi lựa chọn giới thiệu lý thuyết văn học của Sartre qua cuốn Văn chương là gì?





[1] Nhân vật trong huyền thoại Hy lạp, một chàng trai rất đẹp, nhìn và yêu bóng mình phản chiếu dưới nước. Chết vì không thể nắm được hình ảnh tuyệt vời mà anh mê mẩn. Nơi anh chết, mọc lên một đoá hoa mang tên anh.





© Copyright Thụy Khuê 2005, 2012

Minhcineenebo Friday, August 16, 2013 8:10:00 AM


Thụy Khuê

Phê bình văn học thế kỷ XX

Chương 16



Jean Paul Sartre: Qu'est-ce que la littérature - Văn chương là gì?



Trong cuốn L'imaginaire - Vùng tưởng tượng, Sartre dùng hiện tượng luận để phân tích trí tưởng tượng - l'imagination dẫn đến vùng tưởng tượng nói chung, giúp ta giải mã một số câu hỏi nền tảng của văn chương nghệ thuật, nói riêng: Thế nào là một hình ảnh (image)? Làm sao để có một hình ảnh? Khi nói: "Tôi có hình ảnh Pierre (trong đầu)", có nghiã là óc tôi đã trải qua bao nhiêu giai đoạn? Tóm lại, khi nói: Tôi có hình ảnh Pierre, thì chắc chắn Pierre là đối tượng trong ý thức hiện tại của tôi. Một khi ý thức này chưa thay đổi, tôi có thể tả được một khía cạnh của Pierre đang hiện ra trong óc (ví dụ: Pierre đứng hay ngồi, Pierre ở Paris hay Berlin...) nhưng tôi không tả được hình ảnh này đúng như nó hiện ra. Nói cách khác: Tôi thấy Pierre hiện ra trong óc, nhưng muốn mô tả Pierre như thế nào thì tôi chịu. Để xác định rõ đặc tính hình ảnh này, tôi phải vận dụng đến một hành động mới của ý thức: tức là tôi phải suy nghĩ. Có nghiã là tôi phải bỏ Pierre sang một bên để hướng về cái cách mà Pierre hiện ra trong óc. Động tác suy nghĩ này giúp tôi xác định: "Tôi có một hình ảnh". Vậy động thức suy nghĩ cấp cho ta cái bản chất của hình ảnh.

Sartre chứng minh hình ảnh có bốn đặc tính: 1- Hình ảnh là một ý thức (conscience). 2- Hình ảnh là một hiện tượng gần như quan sát (quasi-observation). 3- Ý thức hình ảnh coi đối tượng của nó như một hư vô (un néant). 4- Tính tự nhiên bột phát (la spontanéité) của hình ảnh.

Trong 4 đặc tính ấy, về điểm thứ ba: ý thức hình ảnh coi đối tượng của nó như một hư vô, Sartre muốn nói: Vật thể nằm trong hình ảnh là một vật thể đã vượt qua đối tượng của nó, nói một cách triết học là đã thăng hoa (transcendant), nghiã là đã vượt trên đối tượng có trong thực tế, để trở thành phi thực (irréel), thành một vật thể tưởng tượng (objet imaginaire). (L'imaginaire, Folio Essais, 1983, trang 15- 39)

Bởi vì vật thể nằm trong hình ảnh không cùng "da thịt" (tức là chất cấu thành) với đối tượng của nó: hình ảnh của cái ghế, cái bàn, Pierre, trong đầu tôi, không cùng thứ "da thịt" cấu thành cái ghế, cái bàn, Pierre, trong thực tế. Hình dung một vụ án mạng, tôi "thấy" con dao cắm phập, tôi "thấy" máu chảy, tôi "thấy" nạn nhân đổ xuống... Nhưng tôi không "thấy" những hình ảnh này "ngoài ý muốn" của tôi, mà "thấy" chúng tự nhiên bột phát, bởi vì tôi đã suy nghĩ từ trước rồi.

Vật thể hình ảnh trong đầu tôi là phi thực, nó hiện ra trong đầu, nhưng tôi không nắm bắt được, không đổi chỗ nó được, trừ phi tôi làm một cách phi thực, nghiã là không dùng đến chân tay thật, mà dùng thứ nắm đấm ma, nện cho "cái bàn này", "cái mặt này" những cú đấm phi thực. Tóm lại, muốn tác động trên những vật thể phi thực này, tôi phải nhị hoá nhân cách: phải phi thực hoá tôi. Nhưng lại chẳng có hình ảnh nào đòi tôi phải ra tay, ứng xử như vậy. Chúng không nặng, không nhẹ, chẳng vội vã, chẳng bó buộc: chúng cứ ì ra đó, chúng đợi. Cuộc đời yếu đuối mà tôi bơm vào chúng, là do tôi, tự nhiên bột phát trong tôi. Nếu tôi quay mặt đi, chúng tan rã, tận diệt. Hình ảnh khác với nhận thức (perception), nhận thức là biết từ từ, từng bước một, còn hình ảnh là biết tức thì.

Hình ảnh, vật thể thụ động, sống nhờ ta giữ nó một cách nhân tạo trong đầu, bất kỳ lúc nào nó cũng có thể chết, và nó cũng không thể thoả mãn được khát vọng của ta (khi tôi đói, tôi không thể ăn được củ khoai, bát cơm trong đầu. Khi tôi nhớ người yêu, tôi không thể ôm được hình ảnh người yêu trong đầu cho thoả chí), tuy vậy nó cũng không hoàn toàn vô ích: Tạo ra một hình ảnh, tức là một vật thể phi thực, là để đánh lừa cái khát vọng trong chốc lát, nhưng lại làm cho chúng trầm trọng hơn, điên dại hơn, tựa như khát mà uống nước biển. (sđd, trang 240-243).

Sự phân tích của Sartre, áp dụng vào văn chương dẫn ta đến hai nhận thức khác biệt:

1- Trong màn án mạng trên đây, đối tượng là một hư vô: Hoạt cảnh xẩy ra trong đầu tôi là hư vô, nhưng nó xẩy ra bởi tôi đã suy nghĩ từ trước: thực tại trong tiểu thuyết là một hư vô.

2- Viết, không thể thoả mãn được khát vọng trong đầu mà chỉ kích thích cho cái khát vọng đó lớn thêm.

Hai điểm trên đây chính là nền tảng của hư cấu, của tiểu thuyết, của sáng tác. Để trả lời câu hỏi: Viết là gì? Câu trả lời: Viết là phản ảnh đúng thực tại đã xẩy ra, mà ta thường dùng, nên được thay bằng: Viết là phản ảnh thực tại đã thăng hoa, đã vượt trên thực tế, đã trở thành hư vô, trong một vùng tưởng tượng, để gửi cái khát vọng mà tác giả có trong đầu cho độc giả.







I- Viết là gì?



Trong tác phẩm Qu'est-ce que la littérrature - Văn chương là gì? Trong ba chương đầu, Sartre đặt ba câu hỏi nòng cốt: Viết là gì? Tại sao viết? Viết cho ai đọc? Chương cuối, số IV, bàn về Tình trạng của nhà văn trong năm 1947, năm Sartre viết tác phẩm.

Trong chương đầu, Viết là gì? trước khi phân tích hành động viết, Sartre phân biệt rõ hai hình thức thể hiện khác nhau: Làm việc với màu sắc và âm thanh là một. Làm việc với chữ nghiã là một việc khác. Và ông giải thích công việc của nghệ sĩ trong địa hạt âm thanh và mầu sắc, trước khi đào sâu hành động viết của nhà văn, cũng là đối tượng chính của tác phẩm.

Sartre cho rằng, đối với người nghệ sĩ, những yếu tố như màu sắc, hoa lá hoặc âm thanh tiếng thìa chạm vào điã, đều là những sự vật (choses) ở mức độ thăng hoa. Là nghệ sĩ, anh sẽ dừng lại trước chất lượng của những âm thanh hay hình thái ấy, anh trăn trở không ngừng và anh sẽ hoan hỷ khi nắm bắt được chúng; anh sẽ tìm cách chuyển cái màu sắc-vật thể (couleur-objet) ấy vào tranh. Sự thay đổi duy nhất mà người nghệ sĩ làm, là anh ta phải làm sao biến cái màu sắc-vật thể ấy thành một vật thể-tưởng tượng (objet imaginaire).

Vì vậy, không có gì lầm lẫn cho bằng khi coi màu sắc hay âm thanh cũng là ngôn ngữ. Bởi hiển nhiên họa sĩ không vẽ những ký hiệu (signe) trên tranh, mà chỉ muốn tạo ra một sự vật (une chose). Khi hoạ sĩ pha trộn các màu xanh, đỏ, tím, vàng với nhau, thì cũng không để tạo ra một cái gì đó có ý nghiã xác định. Ví dụ như cái vết xé vàng trên nền trời Golgotha (nơi Chúa bị đóng đinh câu rút) trên tranh của Le Tintoret: thì hoạ sĩ không vẽ để cho nó có nghiã là kinh hoàng thống khổ (angoisse), ông cũng không vẽ để kích thích nỗi kinh hoàng thống khổ, mà cái vết xé đó vừa là nỗi kinh hoàng thống khổ vừa là mảnh trời vàng bị xé cùng một lúc. Vết xé đó cũng không phải bầu trời thống khổ, hay trời bị thống khổ, mà nó là nỗi kinh hoàng thống khổ đã trở thành sự vật, nỗi kinh hoàng thống khổ đã biến thành vết rách trên bầu trời (Qu'est- ce que la littérature? các trang 14-15-16). Nói cách khác Le Tintoret đã thăng hoa nỗi kinh hoàng thống khổ thành vết rách trên bầu trời.

Cho nên, theo Sartre, trái với nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ không vẽ hoặc làm nhạc để tạo nghiã. Nhà văn viết văn để tạo nghiã, nhưng lại còn phải phân biệt: văn xuôi thuộc lãnh vực ký hiệu, trong khi thi ca nghiêng về hội họa, điêu khắc, âm nhạc.



Nhà thơ viết như thế nào?

Sartre phân tích và định vị hành động làm thơ như sau:

Nhà thơ đưa chữ ra khỏi tư thế ngôn ngữ phương tiện, ngôn ngữ tiêu dùng; hắn coi chữ như một sự vật (chose) chứ không như một ký hiệu (signe) ngôn ngữ. Thơ giống như hội hoạ, âm nhạc là những ngành nghệ thuật coi âm thanh và màu sắc như những sự vật. Nhà thơ bước ra ngoài địa hạt ngôn ngữ, hắn nhìn chữ lộn ngược (il voit les mots à l'envers) như thể hắn không ở trong vị thế con người và hướng về phía người, hắn thấy ngôn ngữ như một hàng rào cản.

Thay vì nhận biết sự vật bằng tên gọi hàng ngày của nó, thì nhà thơ âm thầm tiếp xúc với sự vật trước, rồi mới quay lại với một thứ sự vật khác là chữ, nhà thơ mân mê sò mó những con chữ và thấy chúng loé ra một độ sáng riêng, tương ứng dị kỳ với nước, trời, vạn vật... Cho nên, thay vì dùng chữ như ký hiệu để chỉ định tên hoặc một vẻ của vạn vật, thì nhà thơ lại nhìn thấy trong những con chữ mà hắn đang sờ mó, cái hình ảnh (image) của một trong những vẻ ấy. Cho nên, ngôn ngữ hình ảnh mà hắn chọn cho cây liễu, cây tùng không nhất thiết phải là những chữ mà chúng ta dùng để chỉ cây liễu, cây tùng.

Nói cách khác, thay vì nói: "Thân thiếp phụ nữ, yếu đuối như cây hoa leo, vạn sự nhờ chàng, thân nam tử như cây tùng che chở" thì Kiều nói với Mã Giám Sinh: "Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân, tuyết sương che chở cho thân cát đằng". Ngôn ngữ của Kiều khác hẳn thứ ngôn ngữ hàng ngày của chúng ta, bởi Nguyễn Du không dùng ngôn ngữ ký hiệu, mà dùng cát đằng (cây leo) để chỉ người phụ nữ, dùng tùng quân, tuyết sương để chỉ người đàn ông, đó là ngôn ngữ hình ảnh. Vì vậy, thơ không thể dịch được. Khi dịch Nguyễn Du sang tiếng Pháp, người ta mới chỉ đi được chặng đầu tức là giải thích câu thơ Nguyễn Du sang văn xuôi tiếng Pháp, còn giai đoạn hai, làm cho câu văn ấy trở thành thơ Pháp thì chưa ai làm nổi.



Sartre lấy ví dụ chữ Florence, là tên một thành phố nổi tiếng bên Ý. Ông phân tích:

Chữ Florence, đối với nhà thơ, không còn là một ký hiệu ngôn ngữ nữa, mà Florence vừa là thành phố vừa là hoa (nhờ âm flor) vừa là người con gái (có tên Florence) hoặc có thể là cả ba: thành phố hoa (ville-fleur), thành phố phụ nữ (ville-femme), hoa nữ (fille-fleur) cùng một lúc. Florence, vật thể lạ lùng ấy vừa lỏng như dòng sông (qua âm fl như fleuve) lại có sức thiêu đốt dịu dàng như vàng (nhờ âm or), và đắm say trong đoan trang thầm kín qua âm ence (như décence), nhỏ dần và kéo dài vô tận với chữ e câm ở cuối (sđd, trang 21).

Như thế, theo Sartre, mỗi chữ trong thơ là một vũ trụ nhỏ. Và khi nhà thơ chắp nối những vũ trụ nhỏ này lại với nhau -giống như hoạ sĩ kết hợp màu sắc trên tranh- ta cứ tưởng hắn đang làm một câu, nhưng chỉ là bề ngoài thế thôi, thực ra hắn đang tạo ra một vật thể (objet). Những vật thể-chữ (mots-choses) này kết hợp với nhau trong sự pha trộn nhiệm màu giữa tương hợp và tương phản, hệt như màu sắc và âm thanh, chúng cuốn hút, đưa đẩy nhau, đốt cháy trong nhau để tạo thành đơn vị thơ, đó là vật thể-câu (phrase-objet) (sđd, trang 22).

Sartre vừa phân tích chữ của nhà thơ bằng hiện tượng học, đồng thời ông cũng đọc thơ bằng sự mẫn cảm và với kiến giải bác học của ngữ học hiện tượng.



Nhà văn viết như thế nào?

Văn, theo Sartre, ở một vị trí khác. Tuy nhà văn và nhà thơ đều viết, nhưng họ chỉ có chung với nhau động tác cầm bút viết ra chữ, ngoài ra họ ở trong hai vũ trụ khác hẳn, không thông thương được với nhau bởi những gì xứng với vũ trụ này lại không xứng với vũ trụ kia.

Văn xuôi từ bản chất đã có giá trị thực dụng; tôi (Sartre) định nghĩa nhà văn là kẻ dùng chữ (un homme qui se sert des mots). Nhà văn là kẻ phát ngôn (le parleur): hắn chỉ định, chứng minh, ra lệnh, khước từ, chất vấn, van nài, chửi bới, bóng gió, thuyết phục. Khi hắn nói trống không, cũng không có nghiã là hắn làm thơ, mà hắn chỉ phát ngôn để chẳng nói gì. Chúng ta đã thấy ngôn ngữ lộn ngược trong thơ, bây giờ thử nhìn ngôn ngữ theo chiều xuôi.

Nghệ thuật văn xuôi dựa trên phát ngôn, chủ đích của nó là biểu thị. Đối với nhà văn, chữ, trước tiên không phải là những sự vật (choses) mà là những ký hiệu để biểu thị vật thể (désignations d'objets) (trang 25). Và Sartre lập luận: Những chữ ấy không có đó để cho ta thích hay không thích, mà là để ta xem chúng có biểu thị đúng một sự vật hay một khái niệm nào đó hay không. Ta thường thấy mình có thể nhớ rất rõ một ý niệm đã đọc hay học được ở đâu, nhưng không thể nhớ được một chữ nào trong đoạn văn hay lời dạy đó. Vì chữ, trong trường hợp này, chỉ có đó, để biểu thị một ý tưởng, và khi ta đã nắm được ý tưởng đó rồi, ta thải những chữ ấy đi. Để giải thích hiện trạng này, Sartre lấy một thí dụ cụ thể trong đời sống: lúc gặp hiểm nguy, ta nắm lấy bất cứ vật gì, nhưng khi tai nạn qua rồi, lại chẳng nhớ cái mình vừa nắm là cái gì, cuốc hay xẻng. Mà ta cũng chẳng bao giờ biết đến nó, chỉ biết là khi sắp chết đuối, thân mình đã vươn ra nắm lấy cái cành, cái gậy, bằng ngón tay thứ sáu, bằng bàn chân thứ ba, tóm lại là thuần túy cơ năng. Ngôn ngữ cũng vậy, nó vừa là cái mai che chở, vừa là dây ăng-ten của ta: nó che chở ta trước kẻ khác, đồng thời nó cho ta những thông tin về kẻ khác, ngôn ngữ là giác quan nối dài của ta.

Chúng ta ở trong ngôn ngữ như ở trong thân thể, chúng ta cảm thấy nó như chân tay của mình khi ta vượt qua nó để tiến đến những cứu cánh khác, chúng ta nhận ra nó khi người khác sử dụng giống như chúng ta nhận thấy chân tay của người khác. Có chữ ta đã sống và có chữ ta bắt gặp. Nhưng trong cả hai trường hợp, chữ đều bật ra trong lúc thể hiện một ý đồ, một dự trình mà ta gửi đến kẻ khác hoặc kẻ khác gửi đến ta. Lời nói là một khoảnh khắc đặc biệt nào đó của hành động và nó chỉ có thể hiểu được trong bối cảnh đó (sđd, trang 26). Người ta hay hỏi những người viết trẻ: "Anh có điều gì muốn nói? (ngụ ý: anh có điều gì "đáng" nói). Chữ "đáng" ở đây phải hiểu như thế nào? Nếu ta không dựa vào những hệ thống giá trị tiên nghiệm?

Một số người làm văn chương tưởng lầm rằng lời nói là cơn gió thoảng, và người phát ngôn (tức là nhà văn) chỉ là kẻ tóm lược trong một số chữ, cái mà anh ta nhìn thấy phớt qua sự vật. Không phải vậy. Sartre khẳng định:

Viết hay nói là hành động. Tất cả những gì được viết ra, được nói lên, được đặt tên, sẽ không còn như trước nữa. Ví dụ khi ta nói lên cái hành vi của một kẻ nào đó, thì trước tiên, ta cho hắn biết là hắn đã hành xử như vậy: hắn sẽ tự thấy mình. Và vì ta nêu điều đó ra, đặt tên cho nó, nên tất cả mọi người đều biết, và hắn cũng biết là tất cả mọi người đều biết. Cái hành vi vụng trộm mờ ám làm xong hắn đã quên ngay rồi, bây giờ lại hiện lên tỏ tường trước mặt mọi người, trong những chiều kích mới, lại còn được đặt tên. Sau vụ đó, hắn sẽ không còn "như trước" nữa. Hoặc là hắn ngoan cố làm tiếp, mặc dù biết rõ hậu quả, hoặc hắn ngừng hẳn. Như vậy, khi nói, là ta đã vén màn cho thấy cái tình thế mà ta muốn thay đổi. Ta vén màn cho ta và cho người khác thấy, để mà thay đổi cái tình thế đó đi, ta đánh trúng tim đen của nó, ta mổ xẻ và nhìn kỹ nó; và từ bây giờ, mỗi lời ta nói ra, ta lại càng dấn thân thêm vào thế giới chung quanh (sđd, trang 27-28).

Sartre đặt tên cho hành động viết: Nhà văn là kẻ đã chọn hành động thứ yếu, tạm gọi là "vén màn" (dévoiler). Vậy cần phải hỏi hắn: anh muốn vén màn lên khía cạnh nào của thế giới, và anh muốn nó thay đổi như thế nào? (sđd, trang 28). Và từ đó, Sartre khai triển khái niệm nhà văn dấn thân.



Nhà văn dấn thân

Nhà văn dấn thân (écrivain engagé) biết rằng lời lẽ là hành động: hắn biết vén màn là thay đổi và người ta chỉ có thể vén màn khi muốn thay đổi. Và đây là những điều quan trọng Sartre nói về nhà văn dấn thân:

"Nhà văn dấn thân có thể là một nhà văn tầm thường, thậm chí biết mình viết dở, nhưng không ai viết văn mà không muốn thành công, cho nên dù khiêm tốn thế nào, hắn cũng vẫn xây dựng tác phẩm để nó sẽ có tiếng vang lớn. Hắn không bao giờ tự nhủ: "Giá mình có được ba nghìn người đọc", mà hắn nghĩ: "Nếu tất cả mọi người đều đọc cuốn sách này thì sao?".(...)

Hắn biết mình là người nói lên điều chưa ai dám nói, đặt tên cho cái chưa có tên. Hắn biết hắn là kẻ làm "bật" ra lời yêu, tiếng ghét, và cùng với chúng là tình yêu hay sự căm hận giữa người với người.

Nhà văn dấn thân biết chữ nghĩa -nói như Brice Parain- là những "khẩu súng đã nạp đạn". Nếu hắn nói ra là hắn bắn. Hắn có thể im lặng, nhưng vì hắn đã chọn nói, tức là hắn đã chọn bắn, thì hắn phải bắn như người lớn, tức là bắn trúng đích, chứ không bắn như đứa con nít, nhắm mắt, bắn tầm bậy, cốt để nghe tiếng súng nổ chơi (...).

Vậy ta có thể kết luận rằng: nhà văn chọn "vén màn" cuộc đời, tức là làm lộ con người, trước mặt mọi người, để cho tất cả đều nhìn thấy đối tượng trần trụi trước mắt mà biết trách nhiệm của mình.

Không ai có thể nói là mình không biết pháp luật, bởi vì luật pháp luôn luôn được viết thành văn. Cũng không ai cấm anh phạm luật, nhưng anh biết trước là nếu phạm luật thì anh sẽ bị tội gì. Chức năng của nhà văn cũng tương tự như thế tức là anh phải làm thế nào để cho không ai có thể chối là mình không biết đến thế giới xung quanh, và cũng không ai có thể cãi là mình vô tội vạ. Một khi trót đã dấn thân vào thế giới chữ nghiã rồi, thì anh không còn có thể giả vờ bảo rằng tôi không biết "nói"[1], vì nếu anh đã vào thế giới của ý nghĩa rồi, thì anh không thoát ra được nữa (...) Trong thế giới ý nghĩa này, ngay cả yên lặng cũng có nghĩa (...) Yên lặng là một khoảnh khắc của ngôn từ, im không có nghĩa là câm, mà là từ chối nói, tức là có nói (...). Nếu một nhà văn chọn im lặng trên một khía cạnh nào đó của thế giới, thì người ta có thể hỏi hắn: tai sao anh lại chọn khía cạnh này, mà không chọn khía cạnh kia? Tại sao anh muốn thay đổi cái này mà không muốn thay đổi cái kia?

Nhưng sự chọn lựa vấn đề chưa làm nên nhà văn, mà chính là cách viết. Anh không thành nhà văn vì anh đã chọn nói một số vấn đề, mà vì anh đã nói những vấn đề ấy lên bằng một cách nào đó. Vì vậy, cách viết (hay văn phong) mới làm nên giá trị của nhà văn (Sartre dùng chữ style, sau này Barthes dùng chữ écriture, đặt trọng tâm trên écriture và phân tích sự khác biệt giữa style và écriture, nhưng ở đây tạm coi style và écriture cùng một nghiã, tức là cách viết, lối viết, văn phong). Nhưng cái văn phong ấy lại phải làm sao cho không lộ liễu. Cái đẹp phải nhuần nhuyễn tế vi. (...) Không thể xác định trước là phải viết như thế nào: mỗi người tạo ra cách viết của riêng mình và cách viết ấy sẽ được đánh giá sau.

Chẳng có sự dấn thân nào chán ngắt như việc đả phá Xã hội Thiên chúa giáo, vậy mà Pascal đã viết được cuốn Les Provinciales. Tóm lại, phải biết trước là mình muốn viết về vấn đề gì: con bướm hay thân phận người Do Thái. Và khi đã xác định xong chủ đề rồi ta mới chọn cách viết như thế nào. Có khi hai việc là một, nhưng những tác giả lớn chẳng bao giờ chọn văn phong trước khi chọn chủ đề như Giraudoux bảo: "Việc duy nhất là tìm thấy văn phong, ý tưởng đến sau" là sai." (Qu'est-ce que la littérature, trang 29- 30- 31).



Đọc và phê bình

Sartre có một lối trình bày độc đáo về việc đọc, về chức năng phê bình:

"Chúng ta nên nhớ rằng hầu hết các nhà phê bình đều là những kẻ kém may mắn và đến lúc gần tuyệt vọng thì hắn kiếm được một chân gác nghĩa địa. Chỉ có thánh mới biết nghĩa địa tịch lặng như thế nào: Nhưng cũng chẳng có nghiã địa nào vui tươi như thư viện. Người chết nằm đó: họ đã viết và họ đã rửa khỏi tội sống từ lâu rồi, ngay cả về cuộc đời họ chúng ta cũng chỉ biết qua sách vở của những kẻ viết về họ, và chính những kẻ này cũng đã chết rồi (...)

Nhà phê bình sống nheo nhóc, quanh năm túng bấn, vợ hắn không màng tới những cái gì hắn viết, con cái hư đốn. Nhưng hắn vẫn có thể bước vào thư viện của mình, cầm lấy một quyển mở ra. Một mùi ẩm mốc nhẹ nhàng toát ra, một thao tác mới bắt đầu và hắn quyết định gọi nó là "đọc".

Dưới một khía cạnh nào đó, đọc là bị ma ám: ta cho người chết mượn thân xác ta để họ có thể sống lại. Và ở một khía cạnh khác, đọc là sự tiếp cận với thế giới bên kia. Cuốn sách, thực ra, nó không phải là một vật thể, nó cũng chẳng phải là một hành động, và nó cũng chẳng phải là một tư tưởng: cuốn sách, được một kẻ đã chết viết về những sự việc đã chết, cho nên nó không còn chỗ đứng nào trên trái đất này, bởi vì nó chẳng nói đến những gì trực tiếp liên hệ với chúng ta.

Nếu cứ bỏ xó, để mặc nó, thì nó sẽ lún xuống, tàn tạ, chỉ còn lại những vết mực trên giấy mốc và khi nhà phê bình hồi sinh những vết mực này thành chữ, thành lời, thì chúng sẽ kể cho hắn nghe những đam mê mà hắn chưa biết, những hờn giận vô cớ, những sợ hãi cùng những hy vọng đã cáo chung. Tất cả một thế giới thoát phàm bao bọc lấy hắn, ở đó, những xúc động tình người không còn làm cho hắn thổn thức nữa, bởi chúng đã trở thành những mẫu mực tình người, chúng đã trở thành những giá trị. (Trang 33- 34)

Một tiếng khóc nức nở trần trụi không thôi, thì không có gì đẹp, nó chỉ gây thương tổn. Một lập luận hay cũng gây thương tổn, như Stendhal đã nhận thấy. Nhưng một lập luận ẩn tiếng nức nở, chính là cái đáng làm ta chú ý. Lập luận bác tính hắc ám của tiếng khóc, và tiếng khóc gợi nguồn từ một thứ tình cảm đắm đuối sẽ bác tính chinh phục của lập luận; khiến chúng ta, vừa không bị mềm lòng vừa không bị thuyết phục, sẽ yên tâm hơn trong cái thú tao nhã là thưởng lãm tác phẩm nghệ thuật.

Văn chương "đích thực" và "thuần tuý" là thế: là tính chủ quan được phó thác trong những tượng chứng khách quan, là một phát biểu được bố trí lạ lùng như một câm nín, là một tư tưởng có sức tự phản biện, là Trí Tuệ ẩn dưới mặt nạ điên khùng, là cái Vĩnh Cửu ngỏ cho thấy nó chỉ là một khoảnh khắc của Lịch Sử, là cái khoảnh khắc ngỏ cho thấy vĩnh cửu. (trang 38).



[1] Sartre dùng chữ parler, trong nghiã phát biểu, tức là nói hoặc viết.



© Copyright Thụy Khuê 2005, 2012

Minhcineenebo Friday, August 16, 2013 8:10:52 AM

Minhcineenebo Friday, August 16, 2013 8:31:52 AM

Tư liệu nguồn & tra cứu
NHÂN KỶ NIỆM 65 NĂM XUẤT BẢN LẦN ĐẦU TIÊN
Tự do và trách nhiệm cá nhân trong “Tồn tại và hư vô” của J. -P. Sartre.
Đỗ Minh Hợp
Tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
09:05' AM - Thứ tư, 01/07/2009
Tự do và trách nhiệm cá nhân trong “Tồn tại và hư vô” của J. -P. Sartre.
Thông tin liên quan:
Hư Vô: Một tên gọi khác của Thượng Đế? (06/08)
Bạn đang "Sống" hay đang "tồn tại"? (29/07)
Một mình - Tồn tại hay không tồn tại? (18/07)
K. Jaspers - Nhà triết học Hiện sinh Tôn giáo (23/02)
Bàn về Tự do (09/01)
xem toàn bộ
“Tồn tại và hư vô” của J.-P.Sartre được công bố lần đầu tiên vào năm 1943 tại Paris. Đây là tác phẩm không chỉ đánh dấu cột mốc quan trọng trong dòng chảy của triết học hiện sinh, mà còn cho thấy rõ tư tưởng triết học hiện sinh độc đáo của J.-P.Sartre. Trong bài viết này, tác giả tập trung luận giải quan niệm của J. -P. Sartre về tự do với tư cách phương thức hiện hữu của tồn tại người và duy nhất phù hợp với tồn tại người trong mối quan hệ không thể tách rời với trách nhiệm - trách nhiệm đối với thế giới và đối với bản thân mình của con người.

Vốn là người đại diện cho phong trào cánh tả vào những năm 60 của thế kỷ XX, là người đã tuyên bố chủ nghĩa Mác là “triết học của thời đại chúng ta” , J.-P.Sartre giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển của triết học phương Tây hiện đại. Đó chính là vì, trong tác phẩm Tồn tại và hư vô, ông đã đặt ra vấn đề “tự do và trách nhiệm cá nhân” một cách căn bản, hòa nhịp với lý tưởng chung của toàn bộ triết học phương Tây, bắt đầu từ thời cận đại, đặc biệt là triết học Mác. Đây chính là vấn đề mà, khi bước sang một thiên niên kỷ mới, loài người ngày càng ý thức rõ hơn và coi đó là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với số phận tiếp theo của nền văn minh nhân loại, đối với sự sống của bản thân loài người.

Tồn tại và hư vô của J.-P.Sartre được công bố lần đầu tiên vào năm 1943 tại Paris dường như cùng một lúc với vở kịch hay nhất của ông là Ruồi. Tác phẩm này không chỉ đánh dấu một cột mốc quan trọng trong dòng chảy của triết học hiện sinh, mà còn cho thấy rõ tư tưởng triết học hiện sinh độc đáo của Sartre. Mặc dù, cấu trúc về nội dung chung của Tồn tại và hư vô có rất nhiều điểm tương đồng với Tồn tại và thời gian của M.Heidegger, song cặp khái niệm trung tâm ở hai triết gia này lại khác nhau căn bản – “Tôi tồn tại ở đây” (“Dasein”) của Heidegger và “Tồn tại cho mình” ("L'être pour-soi") của Sartre. Sự khác nhau này là rất quan trọng, vì nó cho thấy Sartre nhấn mạnh nhiều hơn đến tính tích cực nội tâm của chủ thể.

Tính tích cực nội tâm này bắt nguồn từ chính sự đặc thù của tồn tại người (theo thuật ngữ của Sartre là “tồn tại cho mình”) mà, đến lượt mình, nó lại làm nảy sinh ra các vấn đề thuần tuý thiên về con người và hơn nữa, nó còn cho thấy sự xuất hiện của một kiểu tồn tại đặc biệt – “tồn tại người” với tư cách một sự kiện tuyệt đối, không thể giải thích được về mặt nguồn gốc lịch sử. Tính tuyệt đối và tính đặc thù của kiểu tồn tại này thể hiện ra ở chỗ, chỉ có sự xuất hiện của nó mới buộc “tồn tại tự nó”, lần đầu tiên, phải tập hợp lại dưới dạng thế giới, một thế giới hiện hữu, hiện diện chỉ nhờ “tồn tại cho mình” với tư cách “hư vô”.

Sartre giải thích rõ rằng, không nên hiểu sự xuất hiện ấy của thế giới là sự sáng tạo ra thế giới từ hư vô (thuyết tạo hoá). Tồn tại luôn hiện diện, nó không được sáng tạo ra và con người cũng không thể tiêu diệt được nó. Song, triết học có nhiệm vụ là phải làm sáng tỏ nghĩa của tồn tại. Sứ mệnh, công lao của triết học hiện sinh, theo Sartre, là chứng minh tham vọng chính đáng của triết học - đặt ra vấn đề về nghĩa (mục đích) của tồn tại và làm sáng tỏ nghĩa đó. “Bản thể luận mới” của triết học hiện sinh chỉ có thể làm được điều đó nhờ phát hiện ra một tồn tại hoàn toàn đặc biệt, làm sáng tỏ và mô tả nó bằng các phương pháp cũng hoàn toàn đặc biệt (hiện tượng học). Kết luận được Sartre rút ra từ cách tiếp cận như vậy là quan niệm về tồn tại người như “hư vô” (l).

Với tư cách thực chất của tồn tại người, “hư vô” được Sartre mô tả trước hết là sự vượt ra khỏi quyền lực của quyết định luận phổ biến, là sự chạy trốn khỏi “trật tự nhân quả của thế giới”. Theo Sartre, đặt ra vấn đề về thế giới có nghĩa là tránh xa thế giới, là vượt ra khỏi khuôn khổ của nó, là đứng ở bên ngoài nó. Tồn tại người tạo ra “hư vô” trong thế giới nhờ bản thân sự hiện diện của nó, còn “hư vô” thì làm cho tồn tại người trở nên khác biệt với toàn bộ thế giới còn lại và trở nên “bất khả tri”, theo Sartre, - đó chính là tự do.

Với Sartre, tự do không chỉ là phương thức hiện hữu, mà hơn nữa, còn là phương thức duy nhất phù hợp với tồn tại người (2). Nói cách khác, với Sartre, thuật ngữ “hư vô” được sử dụng để chỉ khả năng tự do sáng tạo ra bản thân mình của con người nhờ năng lực ý thức - cái duy nhất vốn có ở con người. Rằng, khi ý thức được sự khác biệt của mình với thế giới và vốn dĩ là một phương thức tồn tại độc đáo, là “tồn tại cho mình”, “hư vô” và “tồn tại người”, về thực chất, là tự do. Sartre coi đó là nghĩa cơ bản của tồn tại người và của tính chủ quan con người.

Với quan niệm này, Sartre còn nhấn mạnh sự khác biệt của tồn tại người với thế giới, sự không phụ thuộc của nó vào thế giới thông qua một đặc trưng khác của ý thức - sự định hướng vào thế giới. Theo ông, ý thức luôn thể hiện ra như là cái có một quan hệ xác định với thế giới và do vậy mọi ý thức đều là “ý thức có lập trường” theo nghĩa đó; còn sự khác biệt căn bản của tồn tại người với thế giới trước hết thể hiện ra ở chỗ nó là “hư vô”. Ý thức có thể đặt ra vấn đề về thế giới nhờ vượt ra khỏi giới hạn của mình và lại đi vào “hư vô”, tức là đi vào cái không có trong thế giới. Tính quy định duy nhất của ý thức bởi tồn tại - đó là trở nên khác với tồn tại. Nhưng qua đó, ý thức bao giờ cũng là một cái khác với bản thân mình như một phương thức tồn tại xác định, tức là phương thức đã bộc lộ ra, đã hình thành, đã được lựa chọn. Do vậy, một trong các tính quy định cơ bản của ý thức với tư cách một phương thức “tồn tại cho mình”, tồn tại người là ở chỗ, nó “không phải là tồn tại hiện có của nó” (3). Điều đó có nghĩa là, ý thức luôn nằm ở bên ngoài nó, thường xuyên siêu vượt hóa. Nói cách khác, siêu vượt hóa là bản chất của ý thức và của tồn tại người. Con người chỉ có được tồn tại đích thực người khi nó không dừng lại, không thỏa mãn với bản thân mình, với những cái mình đã đạt được; nó cần phải thường xuyên vượt lên trên chính mình, phải thường xuyên sáng tạo ra những giá trị mới. Đây là thực chất của cái gọi là “hư vô hóa hư vô”, sáng tạo nhờ xuất phát từ năng lực tự do suy nghĩ và hành động. Điều đó cũng có nghĩa là siêu vượt hóa không được định trước cho con người, mà là con người không ngừng vượt ra khỏi giới hạn của mình, tách mình ra khỏi những cái đã và đang hiện hữu, và liên tục hướng tới cái khác. Gắn sự siêu vượt hoá với tồn tại xác định, Sartre cho rằng, khi tự dự phóng mình và cố hiện thực hoá dự phóng đó, “tồn tại cho mình” không tuân thủ một tiêu chuẩn khách quan nào đó có sẵn, ở bên ngoài nó, bởi chính chúng là những vật cản thủ tiêu tự do của con người, biến con người thành “vật”. Con người không tạo ra và cũng không thể tạo ra một chuẩn mực hành động nào, nó chỉ bộc lộ cấu trúc và dự phóng cơ bản của tồn tại người - tồn tại khác với thế giới, không phụ thuộc vào thế giới.


J.-P. Sartre - nhà triết học hiện sinh

Từ đó, Sartre cho rằng, bản chất nhân văn của chủ nghĩa hiện sinh là ở chỗ nó khẳng định chỉ có con người mới có khả năng vượt lên trên thế giới, vượt ra khỏi giới hạn của mình để khẳng định chân lý thuần tuý mang tính người của mình. Rằng, chỉ có con người mới có thể quyết định lấp đầy cái gì vào “hư vô” của tồn tại người, vào “lỗ hổng của tồn tại”. Bức tranh về thế giới, (thế giới và tồn tại nói chung) chỉ phụ thuộc vào con người (con người là kẻ bảo vệ nghĩa và chân lý của tồn tại). Với quan điểm này, Sartre kết luận: con người hoàn toàn chịu trách nhiệm về thế giới do nó tạo ra (thế giới người, xã hội người, thế giới văn hóa và nôi trường sống của con người) và về tất cả những gì diễn ra trong thế giới ấy. Rằng, con người luôn hướng tới sự tự quyết, luôn cố gắng vượt lên trên chính mình, song con người lại không thể đạt tới lý tưởng đó và do vậy, nó luôn cảm thấy bất hạnh. Sở dĩ như vậy là vì, khi thực hiện dự phóng của mình, con người đã đánh mất tự do và "tồn tại cho mình" - tồn tại với tư cách là sự phủ định, là "hư vô".

Coi phủ định là cấu trúc phát sinh của tồn tại người, đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với sự siêu vượt hoá, Sartre cho rằng, tồn tại người bao giờ cũng là vấn đề, là đặt vấn đề về tồn tại, là vạch trần, bác bỏ, hư vô hóa cái thực tại đang phong toả nó và chính bản thân nó, tức là để có được tồn tại đích thực, phù hợp với bản chất - tự do của mình. Do vậy, theo ông, con người luôn có sứ mệnh sử dụng năng lực ý thức của mình để tự chất vấn mình, tìm kiếm những giá trị mới và bộc lộ tự do sáng tạo của mình. Rằng, siêu vượt hoá là lối thoát của con người ra khỏi giới hạn của cái hiện có và tự quy định mình thông qua cái vẫn chưa hiện diện. Do vậy, phủ định là thành tố cấu trúc cơ bản của tồn tại người, mức độ phù hợp với nó là tiêu chuẩn cơ bản về tính đích thực của tồn tại người. Song, việc thoát ra khỏi giới hạn của mình cũng đồng thời là lối thoát dẫn đến những khả năng vô hạn, nhưng lại là bất định, không có các tiêu chuẩn khách quan và lịch sử cũng không thể đưa ra được một sự chỉ dẫn nào, tất cả đều phụ thuộc vào chính sự lựa chọn của con người (4).

Với luận điểm này, Sartre không hẳn đề cao tự do sáng tạo ra nhân tính của con người, mà chủ yếu nhấn mạnh trách nhiệm đối với thế giới, đối với chính mình của con người với tư cách kẻ sáng tạo ra thế giới người (“tự nhiên thứ hai”, “thế giới văn hóa” - môi sinh duy nhất của con người do con người sáng tạo ra). Song, Sartre không dừng lại ở đây, mà còn đi xa hơn nữa. Theo ông, con người bao giờ cũng lựa chọn một cách có ý thức, biết lựa chọn cái gì mà nó cần và tự mình lựa chọn, không có gì ở bên trong hay ở bên ngoài nó bảo đảm nó sẽ lựa chọn cái gì.

Tuy nhiên, theo Sartre, điều đó không có nghĩa là con người tự ý hành động mà không có nguyên nhân nào. Điều đó chỉ có nghĩa là, mọi khả năng đều có cơ sở của nó và khi thực hiện một lựa chọn nào đó, con người đều có thể chỉ ra cơ sở ấy và qua đó, giải thích được điều đã lựa chọn. Nhưng tất cả những gì mà sau đó, chúng ta coi là nguyên nhân của hành vi này hay khác, theo Sartre, đều là không quan trọng đối với cấu trúc của tồn tại người. Con người chỉ che giấu người khác và che giấu chính mình rằng, hành vi lựa chọn là tuyệt đối tự do. Với quan điểm này, Sartre đã phê phán quan niệm của Freud về cái vô thức với tư cách cơ sở hoạt động tinh thần của con người. Sartre phủ định mọi nguyên nhân (tâm - sinh lý, kinh tế, chính trị, v.v.) của hành vi con người. Theo ông, tồn tại người luôn mở rộng cho mọi khả năng lựa chọn của con người; ở đây, toàn bộ kinh nghiệm quá khứ không có vai trò quyết định.
Như vậy, có thể nói, lập trường của Sartre là nhất quán trong việc luận giải ý đồ mà Husserl đã đưa ra - làm sáng tỏ cấu trúc bản thể luận của tồn tại người và đưa các hình thức biểu hiện cụ thể của nó (các quy định tâm sinh lý, lịch sử xã hội, các quan điểm chính trị, đạo đức, khoa học tự nhiên, v.v.) ra khỏi sự phân tích bản thể luận. Theo Sartre, những tìm tòi bản thể luận này luôn dừng lại trước vấn đề siêu hình học và đạo đức học; nhưng sau bản thể luận, dẫu sao vẫn cứ phải xác định thiện - ác là gì, bởi tự do và trách nhiệm cá nhân là những đặc trưng quan trọng bậc nhất của tồn tại người, và chúng cần phải được xác định dựa trên một quan niệm nào đó về thiện - ác. Và, Sartre đã đặt ra hàng loạt vấn đề có liên quan tới đề tài này ở cuối tác phẩm Tồn tại và hư vô.

Vấn đề bản thể luận của tự do được Sartre trình bày trong Tồn tại và hư vô có nhiều điểm tương đồng với quan điểm của Heidegger trong Tồn tại và thời gian. Cả hai nhà triết học này đều cố gắng đưa “tự do” vào hệ thống những khái niệm cơ bản của bản thể luận. Các ông coi tự do, theo một nghĩa nào đó, là cái được “diễn dịch” ra từ tính tích cực ý hướng của chủ thể siêu nghiệm, bởi sự kiến tạo thế giới đối tượng siêu vượt trong các hành vi ý hướng chính là tính tích cực tự do của chủ thể. Song, khác với Heidegger, Sartre có thiên hướng lý giải tự do như một đặc trưng bản thể cơ bản, sâu xa hơn cơ sở của tính tích cực người. Theo ông, “điều kiện đầu tiên của tính tích cực là tự do” (5). Với quan điểm này, mặc dù không phủ nhận tính tích cực là một đặc điểm của giới tự nhiên; song, theo Sartre, tính tích cực này khác về nguyên tắc so với tính tích cực gắn trần với tự do. Bởi lẽ, thế giới của tính tích cực, tổng thể những hành vi là một thực tại đặc biệt. Nó giả định cần phải có sự hiện diện của “những động cơ” mà, xét về một phương diện nào đó, có thể chế định việc xác định các nhiệm vụ và lựa chọn mục đích, mặc dù “những động cơ” này không phải là nguyên nhân của hành vi, chúng chỉ là một bộ phận cấu thành của hành vi. Mọi hành vi đều chịu sự quy định của mục đích và động cơ và do vậy, “hành vi là sự biểu hiện của tự do” (6).

Ssartre cho rằng, “định nghĩa” tự do là rất khó, vì nó “không có bản chất”, không thể được khuôn về một tính tất yếu nào đó. Trong tự do, “sự hiện sinh có trước bản chất và quy định bản chất” (7). Tự do chỉ hiện diện ở tình thái đơn nhất. Điều này có nghĩa là, tự do không phải là cái giống nhau ở những người khác nhau; thậm chí, nó cũng không phải là một trong các tình huống tồn tại khác ở một con người. Hơn nữa, mọi thử nghiệm chuyển phương thức hành động (sở thích, sự lựa chọn) vào bối cảnh khác còn có nghĩa là đánh mất tự do. Nói cách khác, tự do là cái quyết định lối ứng xử trong một tình huống và cố gắng lặp lại nó trong tình huống khác; hành động một cách “tự động”, tức là hoàn toàn không tự do. Tự do trở nên hiển nhiên trong các hành vi “hư vô hoá”, biến những gì không phải là đối tượng ý hướng thành hư vô. “Tự do không phải là cái gì khác ngoài sự hư vô hoá đó”; còn sự “hư vô hoá” trong tự do không có cơ sở nào khác ngoài bản thân tự do. Trong trường hợp ngược lại, “chúng ta sẽ không có tự do, chúng ta không còn là những người tự do”(8), “tự do bị bóp nghẹt dưới sức nặng của tồn tại”. Tự do không có cơ sở, cũng như con người vốn dĩ đã được tự do. Con người và chỉ có con người mới có quyền tự do quyết định mình sẽ trở thành người nào và như thế nào. Con người xuất phát từ lương tâm, từ thế giới nội tâm của mình để tự quyết định việc đó, chứ không phải do người khác, cái khác quyết định thay cho mình; con người quyết định mà không chịu sự chi phối của những thiên kiến (“tâm thế nhân tạo”). Con người không tự do là cái thực tại, cái hiện hữu giống như khách thể; nó hiện hữu nhưng không hành động với tư cách con người theo nghĩa hiện sinh. Do vậy, tồn tại với tư cách tự do nhất thiết phải phủ định tồn tại hiện có.

Cố gắng phát hiện ra tính đặc thù của con người và thế giới người, chủ nghĩa hiện sinh nói chung luôn bác bỏ quan điểm “đa thành phần” về con người, bác bỏ quan niệm coi con người như một thực thể được quyết định bởi dục vọng, hay tự do. Điều này sẽ có nghĩa có thể tồn tại một nửa là tự do, một nửa là nô lệ. Nhưng, với Sartre, “con người hoặc là tự do, hoặc là không tự do mãi mãi và hoàn toàn” (9) .Theo Sartre, không nên lý giải tự do là “sự kiện của ý thức” theo lối tâm lý học. Tự do là toàn vẹn, là “tổng thể”. Tự do mang tính tổng thể, bởi nó có thể hợp nhất động cơ, mục đích, cái khách quan của một tình huống nào đó với cái chủ quan, cảm xúc, nguyện vọng, dục vọng, với những cái cho phép con người thực hiện hành vi ý hướng. Tuy nhiên, “cái khách quan” trong trường hợp này, theo Sartre, cần phải hiểu là mọi mục đích và hành vi đều được tạo ra một cách tự do trong “dự phóng” của chủ thể hành vi. Rằng, không nên lẫn lộn tự do với thói đỏng đảnh và thói tuỳ tiện như trong quan niệm quyết định luận về thế giới, bởi “thế giới của tự do” không đồng nhất với “thế giới vật tự nó” cũng như các dục vọng quyết định. Do vậy, tự do hoàn toàn không phải là tính không thể tiên đoán được của hành vi và nguyện vọng con người. Tự do thể hiện ở việc tìm kiếm bản thân mình, chính xác hơn là ở việc lựa chọn bản thân mình (tính nhất thể của mình) và qua đó, ở việc lựa chọn thế giới đối tượng của mình như một “phát hiện”. Nhưng, sự lựa chọn, nếu là lựa chọn đích thực, thì đó là sự lựa chọn vô điều kiện! Song, mọi sự lựa chọn một cách tự do đều luôn vấp phải những trở ngại hay những hạn chế nào đó. Hơn nữa chính sự hiện diện những trở ngại hay hạn chế đối với tự do đã làm cho tự do trở nên hiển nhiên! Trở thành người tự do không có nghĩa là có được tất cả những gì mong muốn; đó chỉ là ở vào tâm trạng mong muốn chính cái mà mình ưa thích. “Thành công hoàn toàn không quan trọng đối với tự do” (l0) . Do vậy, định nghĩa triết học duy nhất về tự do đó là sự tự lựa chọn.

Theo Sartre, chúng ta là những cá nhân, vì chúng ta thực hiện sự lựa chọn của mình và chỉ của mình; “chúng ta là tự do đang tiến hành lựa chọn, nhưng chúng ta không lựa chọn tồn tại là người tự do, chúng ta buộc phải có tự do…, bị quẳng vào tự do” (11) . Rằng, tự do hoàn toàn không giống với sự lựa chọn ngẫu nhiên, không giống như trò chơi sổ xố. “Tự do” theo kiểu đó không là gì cả, ngoài một cái gì đó “tự nó”. Tự do “cho nó” - đó là sự chiếu sáng của tồn tại hay là “bước nhảy trong tồn tại”, là thời điểm quyết định. Cuộc sống của con người tự do chỉ là sự lựa chọn bản thân mình, là chuỗi những sự đột phá trong tồn tại được thực hiện cùng với mỗi hành vi lựa chọn.

Tồn tại tự do - đó là tồn tại trong tình huống; còn tình huống thì chủ yếu là động cơ: động cơ tấn công hay phòng thủ. Tình huống tự nó là sản phẩm của sự tương tác giữa “tồn tại cho mình” và “tồn tại tự nó”, giữa hoàn cảnh và tự do. Sống trong tình huống có nghĩa là sống có tính người theo nghĩa đích thực của từ này, đó là thực tại người Không có tự do theo cách nào khác, ngoài cách trong tình huống; không có tình huống theo cách nào khác, ngoài thông qua tự do” (12).

Theo Sartre, tự do không thể tách rời trách nhiệm. “Vốn có thiên mệnh phải trở thành tự do, con người mang toàn bộ sức nặng của thế giới trên đôi vai mình. Con người chịu trách nhiệm về thế giới và về bản thân mình, và đó là phương thức tồi tại của nó” (13). Do cái Ngã chỉ có nghĩa là những “dự phóng của Tôi”, nên trách nhiệm cũng là cái tuyệt đối như tự do: tất cả những gì xảy ra với Tôi đều là của Tôi! Tôi phải chịu trách nhiệm về tất cả những sự lựa chọn của Tôi. Song, Tôi không thể chịu trách nhiệm về sự ra đời của Tôi, nghĩa là, Tôi chỉ không phải chịu trách nhiệm về trách nhiệm của tôi! Sự tồn tại của Tôi không có căn cứ. Tôi chỉ đơn giản là bị “quẳng vào” thế giới; nhưng sau đó và cùng với đó, Tôi bắt đầu phải chịu trách nhiệm về bản thân; Tôi tự do và có trách nhiệm, khi vẫn không có căn cứ cho sự tồn tại của mình. Trách nhiệm ở đây là trách nhiệm hiện sinh, chứ hoàn toàn không phải là trách nhiệm trước một người nào đó, trước một cái gì đó. Với quan niệm này, Sartre đã chế nhạo tất cả những ai có ý định từ bỏ giá trị của bản thân để tìm kiếm các căn cứ cho sự tồn tại của mình và minh biện cho sự sống và cái chết của mình ở cái khác, tức là tồn tại bị tha hoá, tồn tại không phải với tư cách “tồn tại tự nó”.



Thừa nhận con người là hữu hạn, hữu tử, song Sartre không vì thế mà bênh vực những cái thủ tiêu sự sống và toàn bộ những giá trị của nó. Ông luôn gắn liền hiện tại với tương lai, coi hiện tại là cái cần phải mở ra viễn cảnh cho tương lai. Sự vô trách nhiệm đối với tương lai sẽ làm giảm giá trị của tự do. Con người sống vô nghĩa là con người chỉ biết đề cao hiện tại. Chỉ có trách nhiệm đối với tự do mới quy định trách nhiệm đối với cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Xét về mặt triết học, tính nhất thời, tính hữu hạn không nằm ở phía trước, mà nằm ở phía sau tự do và trách nhiệm.

Như vậy, có thể nói, Sartre hoàn toàn không bác bỏ giá trị cuộc sống. Sartre đề cao tự do gắn với trách nhiệm đối với cuộc sống và cho rằng, không nên đồng nhất tự do đích thực với tự do hình thức của kẻ đớn hèn. Lựa chọn cái hèn hạ, con người đã tự hạn chế tự do của mình. Để tránh sự chế ngự của cái hèn hạ, chúng ta cần phải phân cấp giá trị, phải kêu gọi con người phát hiện ra những giá trị quan trọng, mở ra viễn cảnh cho tự do và sáng tạo. Mỗi người đều có thể sáng tạo một cách phù hợp với những năng lực của mình, nhưng những hành vi khác nhau lại có giá trị khác nhau, nếu nhìn từ góc độ tự do và trách nhiệm. “Hành vi của những con người trung thực có mục đích tối hậu là tìm kiếm tự do tự nó. Sáng tạo bao giờ cũng có, song cần phải xem xét nó có được thực hiện vì tự do hay không” (14).

Theo Sartre, tự do và trách nhiệm là những phương diện hiện sinh quan trọng nhất của con người. Xét về bản tính khởi thuỷ của con người, con người phải gánh vác trách nhiệm. Tự do và trách nhiệm luôn đòi hỏi tình đoàn kết và thống nhất giữa mọi người, bởi chúng có quan hệ không những với “tồn tại cho mình”, mà còn với “tồn tại cho tha nhân”. Tự do và trách nhiệm còn được Sartre sử dụng làm các tiêu chí xuất phát để xác định các phẩm chất đạo đức khác của con người, như thiện, ác, lương tâm, trung thực, tội lỗi, hèn nhát, bổn phận. Với Sartre, thiện là phương diện hiện sinh của tự do, là trách nhiệm về tự do. Ác là sự từ bỏ thiện. Không trung thực là thông tin xuyên tạc về tình hình thực tế, là định hướng chống lại các lý tưởng về tự do. Lương tâm là sự tự đánh giá của cá nhân trên bình diện tính cấp thiết của nó đối với tự do. Tội lỗi là sự từ bỏ trách nhiệm. Hèn nhát là sự che giấu tự do nhờ viện dẫn vào hoàn cảnh. Bổn phận là phục tùng những giá trị mà bản thân mình đã lựa chọn.

Với những quan niệm đó, Sartre đã được coi là một biểu tượng cho lương tâm của người Pháp vào những năm 50 - 60 của thế kỷ XX, là “nhà triết học của thế kỷ XX”. Với tư cách này, Sartre luôn lo lắng trước một thực tế phũ phàng là không có ai dám gánh vác trách nhiệm đích thực về nền giáo dục đang suy thoái, về sự tự làm trống rỗng tinh thần của con người và về việc triết học đang đánh mất ý nghĩa của mình trong cuộc đấu tranh của con người vì bản tính đích thực người. Lý giải vấn đề này, Sartre cho rằng, xuyên tạc tự do là nguyên nhân dẫn tới mọi thất bại của con người hiện đại; khôi phục sự tự do lựa chọn cách làm người và biết chịu trách nhiệm về lựa chọn ấy là con đường duy nhất dẫn con người quay trở lại với bản tính khởi thuỷ đích thực của mình. Sartre coi đây là mệnh lệnh đạo đức mang ý nghĩa. thực sự cấp bách trong bối cảnh mà những mối nguy hiểm chết người đang treo lơ lửng trên đầu nhân loại. Với mệnh lệnh này, Sartre đòi hỏi mỗi chúng ta phải tự ý thức một cách tỉnh táo về bản thân mình và hướng nỗ lực của mình vào tha nhân như một định hướng duy nhất phù hợp với đạo lý làm người trong thời đại ngày nay.

(l) Xem: J.-P.Sartre. Tồn tại và hư vô. Mátxcơva, 1994, tr. 46-68.
(2) Xem: J.-P.Sartre. Sđd., tr. 100-108.
(3) J.-P.Sartre. Sđd., tr.c126.
(4) Xem: áP.Sartre. Sđd.. tr. 145.
(5) J.-P.Sartre. Sđd.,,tr. 508.
(6) J.-P.Sartre. Sđd., tr. 513
(7) J.-P.Sartre. Sđd., tr. 513.
(8) J.-P.Sartre. Sđd., tr. 515.
(9) J.-P.Sartre. Sdd., tr. 516.
(l0) J.-P.Sartre. Sđd., tr. 563.
(11) J.-P.Sartre. Sđd., tr. 565
(12) J.-F.Sartre. Sđd., tr. 569.
(13) J.-P.Sartre. Sđd., tr. 639.
(14) J.-P.Sartre. Sđd., tr. 340-341

Nguồn: Tạp chí Triết họ

How to use Quote function:

  1. Select some text
  2. Click on the Quote link

Write a comment

Comment
(BBcode and HTML is turned off for anonymous user comments.)

If you can't read the words, press the small reload icon.


Smilies

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28