My Opera is closing 1st of March

Một “siêu lý thuyết” về giáo dục

,

Một “siêu lý thuyết” về giáo dục

"Siêu lý thuyết" (metatheory) nghe ghê gớm thật ra chỉ là lý thuyết về... lý thuyết! Nếu giáo dục là đối tượng nghiên cứu (lý thuyết), đồng thời là hành động thực hành (dạy và học) thì "siêu lý thuyết" bàn về cả hai lĩnh vực ấy. Nó sẽ giúp ta có cái nhìn tổng quan về đời sống giáo dục với tất cả sự phức tạp và phong phú của nó.

siêu lý thuyết, giáo dục
Siêu lý thuyết giáo dục

Trong mớ bòng bong của thế giới giáo dục, Wolgang Brezinka (1928-), một trong những nhà lý luận giáo dục hàng đầu hiện nay, cho ta cái nhìn khá sáng sủa, dễ hiểu khi phân biệt ba lớp lý thuyết, gồm: khoa học giáo dục, triết học giáo dục và sư phạm thực hành ("Siêu lý thuyết về giáo dục", 1978).

Khoa học giáo dục

Là một "khoa học", khoa học giáo dục (hay giáo dục học) quan sát, mô tả, phân tích nhân quả, rút ra những dự đoán và thao tác theo hướng "công nghệ học":

- trước hết, nó mô tả những hiện tượng và những gì liên quan đến giáo dục từ thực tại quan sát được, thử tìm các mối quan hệ nhân quả giữa những hiện tượng ấy, đưa ra các dự đoán, và, từ đó, phát triển một "công nghệ học", tức phương tiện và phương pháp nhằm tạo ra những kết quả được mong muốn nhưng chưa có trong thực tế. Khoa học giáo dục chỉ mang lại những thông tin về sự kiện và các mối quan hệ, nhưng không đưa ra những đánh giá có tính quy phạm.

Triết học giáo dục

Triết học giáo dục (hay triết lý giáo dục) thì khác! Là một bộ môn triết học, nó tra hỏi những khái niệm và những vấn đề cơ bản, có tính nguyên tắc của giáo dục, tức tra hỏi về tiến trình giáo dục lẫn về ngành giáo dục. Triết học không mô tả như khoa học giáo dục, trái lại, từ những mô tả ấy, đưa ra những đánh giá và đề ra những quy phạm cho nền giáo dục. Những đánh giá ấy thường vượt ra khỏi phạm vi khoa học đơn thuần, nhưng rất cần thiết cho việc lấy quyết định (chẳng hạn, về mục tiêu của giáo dục đối với cá nhân và xã hội v.v..). Nói cách khác, triết học giáo dục sử dụng kết quả của khoa học, có tính chặt chẽ khoa học (đón mời phản biện và phản đề nghị), nhưng lại sử dụng phương pháp đặc thù triết học.

Sư phạm thực hành

“Chính bạn phải là sự thay đổi mà bạn muốn nhìn thấy trong thế giới này".
Mahatma Gandhi
Trong trường hợp lý tưởng, sư phạm thực hành sẽ tiếp thu có chọn lọc các thành tựu của khoa học giáo dục và triết học giáo dục để đề ra lý thuyết giáo dục. Hướng đến hành động, lý thuyết giáo dục thường được soạn thảo từ một quan điểm triết học, đạo đức, thế giới quan hay tín ngưỡng nhất định nào đó. Chẳng hạn, lý thuyết giáo dục (mác xít, tự do, Phật giáo, Kitô giáo v.v..) cho ta biết những gì nên làm và không nên làm trong lĩnh vực giáo dục nơi một bối cảnh văn hóa-lịch sử cụ thể. Từ đó, có đường lối, chính sách và định chế giáo dục tương ứng.

Một hay nhiều triết học giáo dục?

Câu chuyện giáo dục của chúng ta sẽ diễn ra trong khuôn khổ cuộc Trò chuyện triết học, vì thế, hướng trọng tâm vào các vấn đề thuộc triết học giáo dục. Đây hoàn toàn là do đặc tính của cuộc trao đổi chứ không phải do việc đặt nặng hoặc xem nhẹ một trong ba hướng tiếp cận đều có tầm quan trọng riêng: khoa học giáo dục, triết học giáo dục và sư phạm thực hành.

Đi vào triết học giáo dục, lập tức ta gặp phải mấy khó khăn lớn:

- trước hết là sự đa tạp đến vô cùng của những ý kiến khác nhau. Trong nhiều ngành khoa học khác, nhất là trong khoa học chính xác và khoa học tự nhiên, tuy vẫn có ý kiến khác biệt, nhưng hầu như đều dễ đồng thuận về những vấn đề cốt lõi giữa những nhà chuyên môn có thẩm quyền và đều thừa nhận công trình nào thật sự có đóng góp vào chuyên ngành. Trong triết học nói chung, và triết học giáo dục nói riêng, tình hình khác hẳn: bên cạnh những nhà chuyên môn, ai cũng thấy mình có quyền tham gia ý kiến, và cho ý kiến mình là đúng, chưa nói đến việc sẵn sàng sử dụng quyền lực và quyền uy! Ranh giới đúng/sai thường mập mờ, và chỉ còn có thể chờ đợi ở thiện chí và tinh thần đối thoại.

- Các chủ đề thường rất rộng, khó bao quát hết, lại đụng chạm ngay đến những xác tín, niềm tin cố hữu của mỗi cá nhân, tập thể, dễ gây chia rẽ, phân hóa hơn là đoàn kết, đồng thuận. Thử điểm qua một vài trong vô số quan điểm đối lập khó bề hòa giải: - giáo dục là truyền đạt kiến thức hay tăng cường năng lực tự trị trong nhận thức và phán đoán? - những kiến thức, năng lực ấy là gì và trong chừng mực nào chúng là linh hoạt, mềm dẻo hay có thể tác động, lèo lái, đưa vào khuôn khổ? - giành ưu tiên cho giáo dục tự do hay giáo dục "sứ mệnh", giáo dục cá nhân hay giáo dục công dân? - đâu là sự khác biệt giữa giáo dục với giáo huấn, với huấn luyện và nhồi sọ? - giữa quyền hạn của trẻ em, phụ huynh, nhóm chủng tộc và xã hội, và, trong trường hợp có xung đột, ai được hưởng quyền ưu tiên? - giữa giáo dục và cải cách xã hội: giáo dục để cung ứng nhân lực và tái sản xuất xã hội sẵn có hay là nhân tố để thay đổi xã hội? v.v..và v.v..

- Giáo dục và tư tưởng giáo dục có lịch sử quá lâu dài với vô số triết thuyết khác nhau từ Đông sang Tây. Giáo dục đi liền với sự hình thành văn minh nhân loại, trong đó biết bao nhiêu châu ngọc bị vùi lấp và lãng quên cần phải được khai quật và mài dũa cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Liệu có thể bàn về triết học giáo dục "từ hư vô" với lòng kiêu mạn ngây ngô của kẻ phát minh cái bánh xe?

Vâng, có bao nhiêu loại triết học, bao nhiêu nền triết học, bao nhiêu cách triết lý thì có bấy nhiêu loại triết học giáo dục và bấy nhiêu cách thức "làm ra" chúng. Theo nghĩa ấy, không hề có cái gì gọi là "triết học giáo dục nói chung", mà chỉ có những nền triết học giáo dục có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau mà thôi. Khó mà không đồng tình với nhận định trên đây cùa Bách Khoa Thư Giáo dục Gale!

Thế nhưng ai và quốc gia nào cũng kêu than về sự khủng hoảng, thiếu vắng triết lý giáo dục và hô hào xây dựng một nền triết lý giáo dục thật đặc sắc và vô địch cho riêng mình!

Sống trong nhiều viễn tượng!

Trong hoàn cảnh nhất định, mỗi người, mỗi quốc gia đều công khai hay mặc nhiên bị chi phối bởi một triết học giáo dục. Thụ động chấp nhận hoặc mù quáng tuyệt đối hóa nó đều trái với tinh thần... triết học! Khác với mọi sinh vật khác, con người có thể sống trong nhiều viễn tượng: nhất quán với mình, đồng thời biết rằng bên cạnh mình còn có nhiều viễn tượng khác đáng được trân trọng và khám phá. Triết học giáo dục, nếu có, khó có thể là cái "túi khôn" bao chứa và thâu thái mọi tinh hoa, trái lại, theo thiển ý, chỉ có thể là một thái độ, một tầm nhìn, một cách ứng xử văn hóa.

Chúng ta sẽ đến với kho tàng triết học giáo dục trong tinh thần ấy.

(Theo Bùi Văn Nam Sơn/ Người Đô Thị)

Dostoevsky TỘI ÁC VÀ SỰ TRỪNG PHẠTBà Ba Sương chia sẻ dự định mới

Comments

Minhcineenebo Sunday, November 3, 2013 6:59:55 AM

Giáo dục: Một nhân quyền cơ bản

"Không nên để học vấn mãi làm người khách trọ. Hãy cử hành hôn lễ với chàng (nàng) thôi!". Lời khuyên ấy của De Montaigne (1533-1592), nhà hiền triết người Pháp, dẫn đến lời khuyên tiếp theo của cụ Nguyễn Du: "Trăm năm tính chuyện vuông tròn/phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông".

Câu chuyện giáo dục - mở đầu cuộc Trò chuyện triết học dang dở và... bất tận, nay được hân hạnh tái ngộ bạn đọc - sẽ thử làm công việc ấy một cách thật khái quát, góp phần vào nỗ lực suy nghĩ và thảo luận chung về vấn đề giáo dục đầy bức xúc.

giáo dục, nhân quyền
Những học sinh lớp 1 năm học 2013 - 2014 tại lễ khai giảng. Ảnh: Văn Chung

KHẢ THỂ CỦA MỘT “QUYỀN TỰ NHIÊN”

Trước khi đi tìm “ngọn nguồn lạch sông” của vấn đề giáo dục về cả hai phương diện: phương diện lịch sử (các chủ thuyết hay các triết học giáo dục tiêu biểu) và phương diện hệ thống (các khái niệm “nền tảng” của giáo dục), hãy thử đặt giáo dục vào đúng “cương vị” của nó : như môt nhân quyền cơ bản.

Điều 26 của Tuyên Ngôn Phổ Quát về Nhân quyền của Liên Hợp Quốc ngày 10.12.1948 đã trịnh trọng khẳng định:

“1. Mọi người đều có quyền được hưởng giáo dục. Giáo dục phải miễn phí, ít nhất là ở bậc tiểu học và trung học cơ sở. Giáo dục tiểu học phải là bắt buộc, Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề phải đến được với mọi người, và giáo dục đại học hay cao hơn phải theo nguyên tắc công bằng cho bất cứ ai có khả năng.

2. Giáo dục nhằm giúp con người phát triển đầy đủ về nhân cách và thúc đẩy sự tôn trọng các nhân quyền và các tự do cơ bản của con người. Giáo dục cũng phải nhằm tăng cường sự hiểu biết, lòng khoan dung và tình hữu nghị giữa tất cả các dân tộc, các nhóm chủng tộc hay tôn giáo, cũng như phải nhằm đẩy mạnh các hoạt động của Liên Hợp Quốc về duy trì hòa bình.

3. Cha mẹ có quyền ưu tiên lưa chọn các hình thức giáo dục cho con cái họ.”

Cùng với quyền được hưởng giáo dục vừa nói, các quyền về lao động, nghỉ ngơi, giải trí, an toàn và an sinh xã hội cũng được lần lượt nêu đầy đủ từ các Điều 22 đến 26. Vài nhận xét:

- Chỉ được gọi là nhân quyền cơ bản khi con người sở hữu nó chỉ vì họ là... con người, nghĩa là, thuộc về con người mọi lúc và mọi nơi. Quyền ấy được “tự nhiên ban cho”, nhờ thế, có cương vị của một “quyền tự nhiên”. Liên Hợp quốc hoàn toàn có lý khi gọi bản tổng hợp này là “Tuyên Ngôn”, chứ không phải Công ước hay Thỏa ước v.v.. Chúng có tính ràng buộc mà không cần thỏa thuận. Chúng có giá trị hiệu lực trước và độc lập với mọi sự đặt định. Vì thế, chỉ cần “tuyên bố” mà không cần “quyết nghị”. Một “Công ước” hay “Hiệp ước” về nhân quyền là một sự mâu thuẫn nội tại! Cách dịch quen thuộc Tuyên Ngôn quan trọng này ra tiếng Việt thành “Tuyên Ngôn quốc tế về nhân quyền” dễ dẫn đến sự ngộ nhận vừa nói, bởi không làm nổi bật tính “phổ quát” (“universal”) đúng theo tinh thần và lời văn chính thức của Tuyên ngôn.
- Nhiều quyền xã hội được nêu trong các điều trên (chẳng hạn quyền lao động, nghỉ ngơi, giải trí, an sinh…) là rất quan trọng, cần được bảo vệ. Nhưng, liệu chúng có quyền yêu sách là thuộc cương vị những nhân quyền phổ quát? Thắc mắc ấy chính đáng, bởi chúng phụ thuộc vào các điều kiện xã hội nhất định, không “phổ quát” (chẳng hạn, quyền lao động, và cùng với nó, là quyền nghỉ ngơi, giải trí, an sinh.., chỉ có ý nghĩa trong xã hội có lao động làm thuê v.v..). Chúng quan trọng, nhưng không… tuyệt đối, không phải do “tư nhiên ban cho”, trái lại thuộc về pháp luật thực định. Thực tiễn chính trị đã nhận ra điều ấy, và không phải ngẫu nhiên khi chúng được gọi là “quyền”, thay vì “nhân quyền” khi được đưa vào các “Công ước quốc tế“ về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của Liên Hợp Quốc ngày 19.12.1966.

- Ngoại lệ ở đây chính là quyền được hưởng giáo dục như một nhân quyền cơ bản đích thực! Biện minh cho điều này thật không dễ dàng và vượt ra khỏi khuôn khổ câu chuyện của chúng ta, vì phải chứng minh được hai điểm rất khó: quả có nhân quyền tự nhiên cơ bàn, và giáo dục là một trong những quyền ấy!

HÀI HÒA CÁC MỤC ĐÍCH: HẠT NHÂN CỦA GIÁO DỤC

Bảo quyền tự nhiên là dựa vào “ý Trời” sẽ khó thuyết phục với người không có tín ngưỡng. Bảo nó là “sự kiện hiển nhiên” không cần và không thể chứng minh (như quan niệm nổi tiếng của Kant về “mênh lệnh nhất quyết”: khác với châm ngôn chủ quan, mệnh lệnh nhất quyết về luân lý là khách quan: “Hãy hành động sao cho châm ngôn chủ quan của bạn lúc nào cũng có thể trở thành một quy luật phổ quát” ) thì có vẻ chưa đủ vì chưa cho thấy sự tất yếu tại sao tôi phải tuân thủ nó. Khó thật, nhưng ít ra phải thừa nhận sự tất yếu rằng tự do của ta không phải vô giới hạn: thứ nhất là tất yếu tự nhiên vì tôi không thể tàng hình đến thăm bạn được, và thứ hai là tất yếu lôgíc khi không thể vừa muốn ăn vừa muốn giữ lại miếng bánh ngọt! Nghĩa là, ta tất yếu phải... muốn một số điều nhất định thôi, bởi hai sự tất yếu trên đây không cho ta có lựa chọn khác. Trong số các điều... “muốn” ấy, có các quyền cơ bản. Tại sao?

“Đặc điểm của tâm hồn có giáo dục là biết thưởng lãm ý kiến mà mình không đồng ý”.
(ARISTOTELES)
Thưa, vì ai ai cũng muốn đạt được những mục đích của mình. Mục đích khác với mong ước, vì mục đích, về nguyên tắc, không thể bất khả thi. Nó đòi hỏi phải tìm ra và sử dụng những phương tiện thích hợp, kể cả và nhất là để loại bỏ những trở ngại (muốn vào nhà, phải mở cửa!). Ta không thể đồng thời theo đuổi những mục đích trái ngược nhau đã đành, mà cũng không thể biết hết mục đích của những người khác. Cách duy nhất để tránh xung đột là phải có những quy tắc chung đảm bảo sự hài hòa phổ quát về các mục đích, khiến ta có thể nêu thành công thức: ai ai cũng muốn có sự hài hòa về mục đích theo những quy tắc chung. Từ đó mới có Ý niệm về (pháp) quyền, về (pháp) quyền khách quan và (pháp) quyền chủ quan.

Muốn chứng minh một quyền là nhân quyền cơ bản, ta phải chứng minh rằng thiếu nó sẽ không thể có sự hài hòa phổ quát về mục đích (đó là lý do một số quyền kinh tế, xã hội không hoàn toàn là những quyền cơ bản). Sự hài hòa ấy cũng không thể đạt được bằng cưỡng bách, nếu không muốn chỉ có sự hài hòa giả tạo, bề ngoài.

Vậy, chỉ có giáo dục mới góp phần thực hiện được sự hài hòa đích thực, qua hai bước khai minh: - dù có ý thức hay không, con người mặc nhiên muốn có sự hài hòa về mục đích (với mình và với người khác); - thấy rằng bạo lực, kỳ cùng, không thể mang lại sự hài hòa đích thực và lâu bền.

Từ đó, có thể phát biểu mục tiêu cơ bản của giáo dục theo tinh thần của Tuyên Ngôn, nhất là khoản 2, điều 26 với tư cách một nhân quyền cơ bản như sau:

Mọi người đều có quyền được hưởng giáo dục để giúp họ có thể thấu hiểu ý niệm về (pháp) quyền và nhận ra rằng bạo lực không phải là phương tiện thích hợp để đạt được những mục đích của mình.

Triết học phát triển những phương pháp để đặt cơ sở hoàn toàn thuần lý cho các chuẩn mực đạo đức và pháp quyền, vì thế, đã và sẽ luôn có mặt trong mọi nghị luận về giáo dục.

(Theo Bùi Văn Nam Sơn/ Người Đô Thị)

Bài 2: Một “siêu lý thuyết” về giáo dục

How to use Quote function:

  1. Select some text
  2. Click on the Quote link

Write a comment

Comment
(BBcode and HTML is turned off for anonymous user comments.)

If you can't read the words, press the small reload icon.


Smilies

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28