Chuyện ít biết về cuộc sống 10 năm sau song sắt của Nguyễn Thanh Chấn
Monday, November 18, 2013 9:03:29 AM
Phút sẻ chia thầm lặng
Người ta thường nói: Có hai nơi không nên gặp nhau là nhà tù và bệnh viện, thế nhưng ông Nguyễn Thanh Chấn và ông Đỗ Văn Toản đã gặp nhau trong hoàn cảnh trớ trêu ấy. Tại đây, ông Chấn từng có một thời gian dài ở cùng buồng giam với ông Đỗ Thanh Toản. Và rất nhiều lần cả hai người chuyển trại, chuyển đội cuối cùng lại gặp nhau ở chung một phòng.
Chuyện ít biết về cuộc sống 10 năm sau song sắt của Nguyễn Thanh Chấn
Ông Chấn xúc động đọc lá thư cho PV báo Đời sống và Pháp luật nghe.
Xin kể thêm về những ngày đầu tại trại giam Vĩnh Quang (xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc), ông Nguyễn Thanh Chấn (SN 1961, trú tại làng Me, Nghĩa Trung, Việt Yên, Bắc Giang) được giao về đội phạm nhân số 22, phân trại số 1. Đội 22 vốn được coi là mảnh đất của những phạm nhân thuộc diện “tù lâu, án dài”. Các tội danh từ cướp của, giết người, buôn bán ma túy... đủ cả. Trong thời gian này, ông Chấn vẫn thường được gọi là phạm nhân chưa “an tâm cải tạo” bởi suốt ngày nhờ giám thị trại giam gửi đơn kêu oan. Đã thế, bởi trong bản án đóng đinh dòng chữ ông Chấn hiếp dâm không được nên xuống tay giết người diệt khẩu lại càng khiến ông Chấn khó khăn hơn trong môi trường mới.
“Tôi luôn kêu oan, nhưng không phải anh em nào trong trại cũng tin vào điều đó, tôi không trách họ được. Nhưng dần dần mọi việc cũng qua đi. Rất may những tháng ngày trong trại, tôi nhận được sự tin tưởng và chia sẻ từ người bạn tù cùng phòng, ông Đỗ Thanh Toản”, ông Chấn xúc động tâm sự với PV báo Đời sống và pháp luật.
Ăn cùng nhau, ngủ cùng phòng nên giữa những người tù luôn có sự sẻ chia, cảm thông với nhau. Theo lời kể của ông Chấn, ông Toản là một trong số những người bạn đặc biệt nhất ông có. Theo đó, sau nhiều đêm trằn trọc tâm sự với nhau về cuộc đời, về gia đình và về cả những tội lỗi gây ra, ông Toản dần dần tin rằng ông Chấn thực sự là một trường hợp oan sai, và tin tưởng rằng công lý rồi cũng sẽ đến, sẽ có ngày ông Chấn được minh oan, được đoàn viên cùng gia đình.
Vào những đêm khuya, ông Toản vẫn to nhỏ động viên người bạn tù của mình hãy vững tâm. Cũng có những thời gian ông Toản còn khuyên ông Chấn nên viết đơn theo hướng này, hướng kia, trình bày vấn đề một cách cụ thể, rõ ràng, xúc tích để cơ quan có thẩm quyền hiểu và xem xét. Những lúc vợ con lên thăm, báo tin đơn kêu oan gửi đi nhưng chưa có kết quả gì, ông Chấn buồn ra mặt. Rồi cả lúc ông Chấn chán nản bởi những tiếng kêu oan trong vô vọng nên đã định nghĩ đến cái chết. Những ngày ấy, ông Toản luôn phải “để ý” đến ông Chấn sợ bạn làm liều. Rồi những sự sẻ chia, động viên của những người bạn tù với nhau khiến ông Chấn vững tâm hơn và có niềm tin vào công lý.
Theo lời kể của ông Chấn, ông Toản cũng sinh năm 1961, cầm tinh con trâu giống như ông. Ông Toản quê ở huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc và vào tù vì rất nhiều tội, với tổng hình phạt lên tới 21,5 năm tù. Thế nhưng, giữa con người đầy tì vết ấy với người nông dân Nguyễn Thanh Chấn dường như không hề có khoảng cách. Cả hai cảm thấy rất tâm đầu ý hợp và có thể chia sẻ với nhau mọi điều.
Năm 2006, khi ông Chấn và ông Toản đang ở cùng phòng giam thì ông Chấn biết tin vợ ông Toản ốm nặng. “Thế rồi chẳng hiểu sao hôm sau đó, vợ ông ấy trốn nhà, trốn con cái bắt xe vào trại giam thăm ông Toản. Hôm sau nhận được tin bà ấy qua đời bị bệnh nặng khiến ông Toản như chết lặng. Ôm những món quà mà vợ mới gửi vào trong tay mà nước mắt tuôn rơi trên khuôn mặt người đàn ông khắc khổ ấy”, ông Chấn thương cảm nhớ lại.
Sau mất mát lớn lao đó, ông Toản suy sụp rất nhiều nhưng cũng giống như những gì ông Toản làm với mình khi trong cơn bĩ cực, ông Chấn cũng tìm mọi cách để an ủi người bạn tù, phân tích những điều hay lẽ phải để ông Toản thêm động lực cải tạo tốt, sớm trở về với cộng đồng. Ông Chấn không bao giờ quên khoảng khắc mắt ông Toản nhòe lệ, cám ơn những lời từ sâu thẳm ruột gan của ông rôi chia sẻ: “Tôi tù có thời hạn, rồi sẽ lại ra. Còn ông là tù chung thân, chẳng biết lúc nào sẽ ra. Nhưng tôi tin rằng nhất định sẽ có một ngày cả hai được gặp nhau ở ngoài kia, khề khà chén rượu mà hưởng cái thú tự do”.
Khoảng khắc không tưởng
Thế rồi do đặc thù của các biện pháp cải tạo, giữa ông Toản và ông Chấn cứ hợp rồi lại tan, tan rồi lại hợp, chuyển qua nhiều phòng để rồi đến những ngày cuối cùng sống trong thân phận phạm nhân của Nguyễn Thanh Chấn, 2 người đàn ông cùng sinh năm 1961 lại được ở cùng phòng với nhau.
Ngày VKSND Tối cao đến trại giam Vĩnh Quang thông báo ông Chấn sẽ được thả, cả trại giam ai cũng vui mừng. Không chỉ có phạm nhân mà ngay cả những cán bộ quản giáo cũng vui mừng cho số phận của “người tù chung thân” Nguyễn Thanh Chấn. Trước lúc ông Chấn được thả tự do, lãnh đạo trại giam Vĩnh Quang cũng đã trích quỹ Tấm lòng vàng của trại hỗ trợ 2 triệu đồng và điều xe đưa ông Chấn về nhà, đồng thời cấp tiền ăn dọc đường. Theo lời Đại tá Trần Mạnh Hùng - Giám thị Trại giam Vĩnh Quang, ngoài việc động viên, chuyển đơn thư kêu oan giúp cho ông Nguyễn Thanh Chấn thì đó là tất cả những gì họ có thể làm để giúp đỡ một người vô tội. Bởi mọi người đều tin dù muộn, nhưng cuối cùng công lý sẽ được trả về đúng vị trí vốn có của nó.
Khi chào mọi người và cảm ơn để về nhà, ông Chấn nhận được cái xiết ôm thật chặt của ông Đỗ Văn Toản và một lá thư nhòe nước mắt của người bạn tù gần một thập niên gắn bó, chia sẻ với ông. Giờ đây khi đã được đoàn viên cùng gia đình, mỗi khi lấy lá thư đó ra đọc, ông Chấn vẫn không cầm được nước mắt.
Dẫu giờ đây, ông Chấn đã được trở về sum họp với gia đình nhưng trong ký ức của ông về quãng thời gian 10 năm sẽ không bao giờ hết, những trận hỏi cung hay những trận đánh không lý của trưởng buồng nhưng bên cạnh đó vẫn có những tình cảm chân thành mà người bạn tù dành cho nhau và đặc biệt là người bạn tù thân thiết Đỗ Văn Toản.
Đức Nguyễn – Cao Tuân












Minhcineenebo # Monday, November 18, 2013 9:04:10 AM
06:00 | 18/11/2013
Trong những ngày qua, dư luận cả nước bất bình trước vụ án ông Nguyễn Thanh Chấn bị kết án oan sai (đã thụ án 10 năm vì tội giết người) bởi kết luận điều tra sai của Công an tỉnh Bắc Giang và những lời phán quyết của TAND Tối cao. Ông Chấn chỉ được minh oan khi kẻ giết người thực sự ra đầu thú.
Điều tra kiểu bức cung - nhục hình, không oan mới lạ
5/9 công dân bị oan trong vụ trộm tượng đến cảm ơn các luật sư Văn phòng luật sư Hà Đăng (Đoàn luật sư thành phố Hà Nội) hôm 12/7/2006 vì đã cứu mình thoát tội trộm tượng sau gần 3 năm bị giam cầm, đánh đập dã man. Bị cáo Dương Văn Trung (thứ 2 từ trái sang) đã chết do ảnh hưởng bởi giam cầm sau khi được thả và minh oan.
Và lúc này, 6 điều tra viên (không kể 1 điều tra viên đã chết vì tai nạn) đã hoàn tất việc nộp bản tường trình về quá trình điều tra vụ án này, tất cả đều có chung cam kết: Không bức cung, nhục hình với ông Nguyễn Thanh Chấn.
Ở đây, tôi chưa bàn đến sự trung thực của các điều tra viên này, chỉ có điều những gì ông Chấn đã kêu oan, tố cáo (về việc bị các điều tra viên bức cung nhục hình, bắt nhận tội) ngay từ bị đưa ra xét xử đến nay đã 10 năm đã nói lên điều gì?
Là một nhà báo, đã từng tham gia (cùng các luật sư: Mỹ Hà, Hà Đăng… Văn phòng Luật sư Hà Đăng, nay là Công ty Luật Hà Đăng, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội) đấu tranh giành giật tự do cho 09 công dân bị Công an tỉnh Bắc Giang bắt oan sai vào năm 2003 (được thả tại Tòa vào năm 2006) thì tôi tin rằng những điều ông Chấn tố cáo bị bức cung nhục hình là có thật.
Đó là các vụ án trộm cổ vật xảy ra ở một số đình, chùa tại tỉnh Bắc Giang từ giữa năm 2001 đến 2003. Cơ quan cảnh sát điều tra (CSĐT) các huyện Lục Nam, Lạng Giang, Yên Dũng đã cho khởi tố vụ án hình sự. Song, điều tra mãi mà chẳng tóm được tên trộm nào nên đã có quyết định đình chỉ vụ án.
Tháng 9/2003 Công an huyện Lục Nam được Công an xã Khám Lạng giao nộp một đối tượng bị truy tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản (xe máy). Đối tượng này là tiểu Thích Đạo Sơn (tên thường gọi là Nguyễn Quý Đoan) sinh 1980, tu hành tại chùa Đồng Ngư, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Sau một thời gian bị giam tại Công an huyện Lục Nam, “bỗng dưng” Đoan tự khai nhận mình là tác giả của các vụ trộm tượng, đồng thời chỉ mặt các đồng phạm của mình là 8 người khác, trong đó có sư phụ của mình là sư Thích Đức Chính (tức Phan Hữu Hường). Sau khi bị chỉ điểm, các đối tượng này bị Công an tỉnh Bắc Giang truy bắt, cùng được nhốt tại trại giam Kế - Công an tỉnh Bắc Giang. Ngày 12/01/2006, Toà án Nhân dân tỉnh Bắc Giang (sau khi đã phải hoãn 2 lần trước đó) mở phiên toà sơ thẩm đưa các đối tượng trộm cắp “cổ vật” ra xét xử.
Căn cứ kết quả xét hỏi, tranh luận tại Toà, TAND tỉnh Bắc Giang đã buộc trả hồ sơ cho VKSND tỉnh Bắc Giang làm rõ nhiều tình tiết, trong đó chủ yếu là vấn đề các bị cáo bị bức cung, nhục hình; nhiều bị cáo đưa ra chứng cứ ngoại phạm… Phiên tòa lại thêm một lần nữa bị hoãn để điều tra bổ sung.
Thế nhưng, tại phiên toà (bắt đầu thẩm vấn và tranh tụng từ ngày 19/6/2006 đến 23/6/2006), những yêu cầu này của Toà đến nay vẫn không được Viện KSND tỉnh Bắc Giang và Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Giang thực hiện một cách nghiêm túc.
Thậm chí, kết luận điều tra bổ sung còn dẫn không trung thực lời khai của các nhân chứng, nên đã bị những nhân chứng này tố cáo ngay tại Toà.
Với những chứng lý yếu ớt, đầy rẫy vô lý của bản cáo trạng, cộng với thực tế tranh tụng tại Tòa, Hội đồng Xét xử đã buộc thả tự do cho các bị cáo (gọi tế nhị là “thay đổi biện pháp ngăn chặn”) … Một tháng sau, Viện KSND tỉnh Bắc Giang bắt đầu công khai xin lỗi việc bắt giam oan sai này một cách hạn chế, mang tính đại diện, chứ không “chăm sóc” cẩn thận từng đêm như trong tù với các bị cáo này (chỉ xin lỗi công dân Dương Phúc Thịnh và Dương Văn Trung).
Ở vụ án này, đa số các công dân này đã may mắn hơn ông Chấn vì thời gian sống trong ngục tù chỉ gần 3 năm, nhưng những thiệt thòi thì không thể so sánh ai hơn ai được.
Với những điều chứng kiến tại tòa (các bị cáo tố cáo các điều tra viên, kiểm sát viên bức cung nhục hình) và sau này phỏng vấn và được xem trực tiếp các vết thương của họ, tôi mới thấy: Nếu lời tố này là đúng thì họ đã gặp ác quỷ!
Bị cáo Hùng (với vết sẹo lằn to ở hai cổ tay do bị còng và treo ngược người lên trong nhiều giờ, nhiều ngày) mô tả việc bị bức cung ở trại giam Kế với chúng tôi.
Bị cáo Nguyễn Quý Đoan chỉ vì chưa kịp trả xe máy đã mượn theo lời hẹn (mặc dù đã gọi điện nhắn lùi thời gian trả xe) nhưng vẫn bị bắt, rồi bị đánh đập ép cho bằng được nhận tội buôn bán, tàng trữ vũ khí trái phép và trộm tượng. Nói với chúng tôi, Đoan kể: Tôi bị các anh ấy đánh rất đau, bị lấy bật lửa đốt râu; bị lột truồng, rồi họ đốt ni-lông cho chảy, nhỏ vào dương vật … Và, một kịch bản đã được soạn trước cho tôi chỉ việc ký. Mặc dù bị bắt vì tội lừa đảo, nhưng bị cáo Đoan chỉ bị khai thác chi tiết về tội “trộm tượng”. Sau này được thả tại Tòa, cơ quan tố tụng tỉnh Bắc Giang cũng “quên” luôn tội lừa đảo và tàng trữ vũ khí trái phép của Đoan (!?).
Bị cáo Lê Văn Thương (Thích Tâm Thương -1973) tu hành tại chùa Tranh Khúc, Xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì Hà Nội tố với tôi rằng: Tôi bị lột truồng, xích tay treo lên cao, rồi bị điều tra viên lấy dây cước buộc vào một bên tinh hoàn, kéo giật, lắc lư như quả lắc đồng hồ … Sau ngày được thả, ông Thương được đưa đi điều trị gấp tại Bệnh viện Thanh Nhàn.
Bị cáo Phạm Mạnh Hùng (Thanh Xuân, Hà Nội) thì bị còng số 8 từ phía sau, rồi kéo treo ngược lên xà nhà cho đầu dốc xuống đất từ 9h tối hôm trước đến sáng hôm sau. Đến nay, Hùng vẫn còn lằn vết sẹo to quanh cổ tay vì bị còng số 8 làm rách khi bị treo ngược như vậy. Bị cáo Dương Phúc Thịnh (Cầu Giấy – Hà Nội) bị các điều tra viên đặt chân bàn lên ngón chân cái, rồi ngồi lên; bị nhét chuột vào mồm …; thậm chí còn bị đưa cho xem ảnh (đã bị chỉnh sửa) vợ mình trần truồng với giải thích: “Vợ mày đi làm điếm rồi, nhận tội nhanh để hưởng khoan hồng, sớm ra tù mà nuôi con”.
Can đảm nhất là bị cáo Dương Văn Trung (Thích Nguyên Kiên - 1962), trụ trì chùa Phương Quế (xã liên Phương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây cũ) là nhà sư chuyên sản xuất tượng, đem cung tiến ở nhiều chùa cũng bị cho là kẻ tiêu thụ tượng bị trộm. Công khai trước Tòa, ông Trung cho biết bị các điều tra viên lột truồng rồi dùng thước kẻ học sinh, cây xương rồng đánh vào dương vật. Tuy nhiên, trong tất cả các bản cung ông đều không nhận tội. Và, với những đòn roi ngày nào trên cơ thể cường tráng đã khiến ông sư này trở nên tiều tụy. Nay ông Trung đã chết do ảnh hưởng bởi giam cầm sau khi được thả và minh oan.
Các bị cáo khai các điều tra viên: Hà Văn Quang, Chu Bá Huy, Thân Văn Túc, Nguyễn Ngọc Oanh… và kiểm sát viên tên Nam viết trước các bản cung rồi bắt các bị cáo chép lại hoặc ký nhận ở dưới.
Để có được các bản cung này, các điều tra viên, kiểm sát viên đã “đi cung” đêm: Dùng que, gậy vụt vào đầu, mặt, chọc vào cổ họng và hàng loạt cách tra tấn dã man như đã nêu ở trên.
Trong số các bị cáo bị tra tấn theo kiểu này, đặc biệt có Phan Hữu Hường đã chết. Theo phân tích của luật sư thì có nhiều điểm “bất bình thường” trong bản kết luận về nguyên nhân cái chết của bị cáo này.
Bản Kết luận điều tra số 14/PC16 (ngày 20/4/2004) ghi: Bị can Phan Hữu Hường bị chết do suy tim độ 3, suy gan và suy kiệt cơ thể. Giải phẫu các bộ phân nội tạng của Hường đều có xung huyết; hậu môn có phân, bộ phận sinh dục có tinh trùng… Với những dấu vết này thì thường chỉ thấy ở nạn nhân bị đánh chết do bị tác động mạnh làm nghẹt thở (bị bóp cổ hoặc treo cổ) hay bị đánh thuốc độc.
Trong hồ sơ vụ án, có nhiều điểm mâu thuẫn mà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền Công tố tại Toà không lý giải được. Đơn cử như việc cáo trạng nêu các bị cáo đã nhiều lần thuê xe ôtô của anh Phạm Mạnh Hùng (xóm Mới, Duyên Hà, Thanh Trì, Hà Nội) để gây án nhưng khi đi xác minh thì anh Hùng khẳng định chưa bao giờ cho những đối tượng này thuê xe và gia đình cũng chẳng hề có các loại xe ôtô, biển số xe như trong cáo trạng nêu.
Hoặc việc Dương Văn Trung bị tố cáo là nhận các pho tượng trộm cắp từ tay đồng bọn để đưa đi tiêu thụ nhưng cơ quan CSĐT không làm rõ được số tượng này đã được Trung đưa đi tiêu thụ ở những đâu và cũng chẳng thu được vật chứng nào.
Trước CQĐT, bị cáo Trung không nhận việc mình đã phạm tội mà chỉ là do các bị cáo cùng vụ khai ra (điều này đều được các bị cáo khác khẳng định là bị bức cung) song Trung vẫn bị bắt, đưa ra truy tố. Đến nay, mới có 2/8 công dân được xin lỗi là Dương Văn Trung và Dương Phúc Thịnh, còn công dân Phan Hữu Hường đã chết ngay trong trại giam, nhưng chắc chắn rằng những gì mà Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Giang đã làm với họ thì không bao giờ gột rửa được.
Sau vụ án oan này, đã không thấy có vụ án nào được khởi tố về hành vi bức cung nhục hình, và cũng không rõ các điều tra viên, kiểm sát viên gây ra án oan sai này đã bị xử lý như thế nào? Chỉ thấy rằng, đã tiếp tục phát hiện thêm vụ ông Chấn bị oan. Sẽ có bao nhiêu người bị oan nữa vì cách điều tra kiểu này?
Theo Bắc Hà
Báo Thanh Tra
Minhcineenebo # Monday, November 18, 2013 9:40:09 AM
-Chỉ khi đó, những bi kịch mang tên Nguyễn Thanh Chấn, những bi hài kịch Vinakhủng mới bị hạn chế, ngăn ngừa.
Và người dân Việt, sẽ không phải đau khổ đóng vai quýt làm… nhân dân chịu.
I-Có hai vụ án- một án oan về số phận một cá nhân và một án không hề oan, về số phận tập thể, bỗng trở thành vật đối chứng, để nói một điều kỳ lạ. Về phẩm cách người đàn bà- đàn ông, về ý chí quyết liệt của con người trước pháp luật, và về những sự… kỳ lạ của ngành tư pháp. Phép so sánh vừa nên thơ, vừa đắng cay, vừa bi kịch và vừa hài kịch. Giữa cuộc đời giống như một sân khấu, mà cánh gà lớp kịch này vừa khép, thì cánh gà lớp kịch khác lại mở ra.
Câu chuyện bi kịch cá nhân Nguyễn Thanh Chấn chưa kết thúc. Nhưng trong màn bi kịch đó, tình yêu, niềm thương của người đàn bà dấn thân không mệt mỏi trước số phận người thân, mới chính là âm hưởng chủ đạo.
Vụ án được phá, hài hước nhất, không thuộc các vị cán bộ tư pháp được đào tạo bài bản, kiến thức luật pháp đầy mình, mà lại thuộc về những người đàn bà nông quê, chân yếu tay mềm, ở đây là bà Nguyễn Thị Chiến, vợ nạn nhân Nguyễn Thanh Chấn, chỉ biết ruộng vườn, con gà con lợn, chữ nghĩa chẳng bao lăm.
Thuộc cả về một người đàn bà vì lòng thương đồng loại mà đồng hành suốt với bà Nguyễn Thị Chiến 10 năm trời- bà Thân Thị Hải, vợ một người công an. Và về cả một người đàn bà, không chính diện, không phản diện, chỉ nhờ cái tính “đàn bà” mà thành đầu mối của sự phá án- bà Nguyễn Thị Lành, mẹ kế của hung thủ Lý Nguyễn Chung.
đàn bà, đàn ông, Vinakhủng,
Ảnh: VietNamNet
Tình yêu, sự trực cảm và cực kỳ nhạy cảm đàn bà của người vợ tin chồng mình là người lương thiện, đã khiến bà Nguyễn Thị Chiến biến thành một “thám tử tư” bất đắc dĩ. Từ việc lần tìm tất cả các chứng cứ khẳng định chồng có bằng chứng ngoại phạm trong thời gian chị N.T.H bị sát hại, cho đến khi bất lực trước kết luận của tòa phúc thẩm, 10 năm trời đội đơn đi gõ cửa công đường, kêu oan cho chồng, quả là một tính cách “văn học” đắng cay.
Cũng phải 09 năm sau, đầu mối vụ án mới hé mở. Bởi lương tâm hay sự hối hận của một vài người đàn ông phía gia đình hung thủ, bất ngờ thú nhận sự thật. Nhưng giữa 09 năm đó, là bi kịch của một gia đình nông dân lương thiện sau lũy tre làng, phải mang tiếng gánh một cái án “giết người” tày đình, trước sự khinh thị, tẩy chay đầy định kiến của dân làng, và cả sự quỵ ngã của bà Nguyễn Thị Chiến, không chịu nổi nỗi đau của chồng, và sự “kết án” của cộng đồng bà con lối xóm.
Trời đất không phụ người lương thiện. Chính sự “buột miệng lỡ lời” của phía họ hàng hung thủ, đã mở lối thoát “sinh tử” cho chồng bà- Nguyễn Thanh Chấn. Nhưng cũng phải dấn thân dò la tin tức, sử dụng cả máy ghi âm, để rồi chắp nối những thông tin rời rạc, mà bà Nguyễn Thị Chiến cuối cùng đã “đánh trống công đường” thành công.
Hỗ trợ tích cực cho bà Nguyễn Thị Chiến, là luật sư Nguyễn Đức Biền- người được chỉ định bào chữa cho ông Nguyễn Thanh Chấn ở 02 phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm cách đây 10 năm. Là ông Thân Ngọc Hoạt, người anh em đồng hao của ông Nguyễn Thanh Chấn. Và nhất là bà Thân Thị Hải, một người đàn bà không họ hàng huyết thống với bà Nguyễn Thị Chiến, chỉ vì “giữa đường thấy chuyện bất bằng chẳng tha”, suốt 10 năm hành trình cùng gia đình bà Chiến trong cuộc chiến âm thầm trả lại cái kết luận oan cho … tòa án.
Bi kịch Nguyễn Thanh Chấn, dẫu sao cũng có chút hài. Vào lúc vụ án oan vỡ lở, cả xã hội bất ngờ, khâm phục bà Nguyễn Thị Chiến, vẫn có vị quan chức của UBTP thuộc QH nhận xét đầy lạc quan: “Cơ quan điều tra VN thuộc diện giỏi nhất thế giới”, nhờ dựa vào nhân dân (VietNamNet, ngày 06/11).
đàn bà, đàn ông, Vinakhủng,
ĐBQH Nguyễn Đình Quyền. Ảnh: Lê Anh Dũng
Không biết đó là câu nói của những người thích đùa, hay là sự đánh tráo khái niệm? Bởi dựa vào dân rất khác về bản chất với khi dân buộc phải vào cuộc. Dựa vào dân, là một tư tưởng đầy chủ động, một chiến lược và chiến thuật trong bảo vệ an ninh xã hội. Nó rất khác khi dân phải vào cuộc, thụ động, may rủi, mà vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn mang tính ăn may là một minh chứng bi hài.
Điểm sáng lớn nhất, duy nhất, là con tim, tình yêu sâu đậm của người đàn bà chân quê giầu đức hy sinh giữa màn u tối một phiên tòa cẩu thả thời hiện đại.
II- Không hẹn mà gặp, những ngày qua, có một vụ án gây sốc bao nhiêu, thu hút bao nhiêu sự quan tâm của cả xã hội, thì lại tiếp tục gây “bất ngờ” bấy nhiêu ở kết cục… không có hậu, khi thi hành án. Đó là vụ Vinakhủng, lớn nhất nước, từng làm thất thoát gần 1000 tỷ đồng, và những nhân vật chính xuyên suốt của vở bi kịch không hề oan sai này là gần chục vị quan chức, đứng đầu là ông Phạm Thanh Bình.
Trái ngược hẳn với vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn khi vỡ lở sự thật, cả xã hội thương xót, thậm chí rơi nước mắt cho họ, những người nông dân hiền lành, chất phác. Vụ án Vinakhủng, khi vỡ lở, cả xã hội bất bình, phẫn nộ, quá thất vọng về phẩm cách, năng lực, đạo đức cán bộ. Cái thanh (dư âm) cho ông Thanh Chấn nó khác biệt hẳn với cái thanh cho ông Thanh Bình. Bởi khác nhau ở mỗi chữ ... tội. Một bên vô tội, và một bên có tội nặng.
Thất thoát gần 1000 tỷ đồng, vậy nhưng đến giờ khắc này, lớp lang thi hành án dân sự của các nhân vật chính trong vở bi kịch bỗng “thắt nút”, đẩy tới cao trào ở một góc độ bất ngờ kiểu khác- rất khó thi hành án trong vụ này- với con số 1200 tỷ đồng mà các bị cáo phải nộp lại cho phía các bị hại- các công ty Nhà nước.
Thắt nút, bởi một điều kiện tối thiểu khi xét xử, tòa án phải áp dụng biện pháp đảm bảo thi hành án dân sự, thì câu trả lời thực tiễn đến giờ của tòa án, hóa ra là số 0 to tướng. Đó là kỹ năng nghiệp vụ sơ hở, thua kém, hay tòa án lại “quên”, như mấy vị quan chức có trách nhiệm trong vụ án Nguyễn Thanh Chấn năm xưa- 2004?
Thắt nút, bởi có tới 06 doanh nghiệp Nhà nước- bên bị hại- hờ hững không gửi đơn yêu cầu thi hành án dân sự, làm cơ sở cho việc Tổng cục Thi hành án dân sự (Bộ Tư pháp) tổ chức thi hành án? Nếu đây là các công ty tư nhân, liệu cái việc thờ ơ với đồng tiền cha chung, không ai khóc có xảy ra không?
Khi còn Vinakhủng, các DNNN này đã thờ ơ với đồng tiền “bị hại” của mình. Nay Vinakhủng đã khai tử, để khai sinh ra Tổng Công ty công nghiệp tàu thủy (SBIC), thì liệu đồng tiền “bị hại” có rơi vào số phận “bức tử”?
Điểm thắt nút bất ngờ nhất, còn là câu chuyện khi phải thi hành án dân sự, mới hay các bị cáo của vụ án, toàn các quan chức doanh nghiệp, một thời là các đại gia- nguyên Tổng Giám đốc, nguyên Phó Tổng GĐ, nguyên GĐ công ty, đều rất… nghèo.
Tỷ như tài sản của ông Phạm Thanh Bình, hiện chỉ có mỗi căn hộ chung cư, cả gia đình ông chung sống, trong khi số tiền ông này phải nộp thi hành án tới khoảng 500 tỷ đồng. Các vị tù nhân khác cùng hội cùng thuyền với ông cũng vậy, “người nghèo tám lạng, người khổ nửa cân”.
Khiến xã hội hồi hộp xem những nút thắt của lớp kịch thi hành án dân sự, bỗng ngơ ngẩn hỏi nhau: Con voi chui lọt lỗ kim từ khi nào?
Có điều, trong vở bi kịch Vinakhủng này, không có sự “phá án” về tài sản của họ, trừ những người đàn bà trong gia đình họ là biết rõ nhất.
Cũng khác hẳn cái kết có hậu của bi kịch mang tên Nguyễn Thanh Chấn, dù khởi đầu, là quýt làm cam chịu, nhưng cuối cùng, lương tâm thức tỉnh, và biết khó thoát trước pháp luật, Lý Nguyễn Chung phải ra thú tội trước bình minh.
Ngược lại, bi kịch Vinakhủng, không biết lương tâm các vị quan chức- tù nhân có thức tỉnh hay không, mà cái kết hệt câu thành ngữ hiện đại mang tính ngụ ngôn muôn đời: Quýt làm…nhân dân chịu.
Có thước đo nào để đo giữa lương tâm của một kẻ giết người, và lương tâm của các quan chức phạm tội trong Vinakhủng, xem ai hơn ai?
III- Một thông tin mới, rất nhanh chóng loang trên mạng truyền thông- Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với 184/192 phiếu- số phiếu cao nhất trong số 14 nước thành viên mới.
Nhân quyền vốn là một khái niệm, phản chiếu tầm văn minh của một quốc gia hạnh phúc. Khi nhìn vào các quyền con người trong xã hội được bảo đảm bằng các chính sách ứng xử, nâng đỡ, từ người bình thường đến người khuyết tật, không may gặp rủi ro.
đàn bà, đàn ông, Vinakhủng,
Các nước chúc mừng VN trở thành Thành viên Hội đồng nhân quyền.
Cũng chính vì thế, nhân quyền luôn là một vấn đề cực kỳ nhạy cảm với bất cứ quốc gia nào, nhưng đặc biệt luôn chứa đựng những khát vọng, cùng đau đớn, trên hành trình của các quốc gia đang phát triển,
Sự kiện này là tin vui cho nước Việt, nhưng quan trọng hơn, là một cơ hội, và một thách thức đặt ra cho nước Việt hàng loạt vấn đề phải hành động.
Từ sự kiện cao nhất, trọng đại nhất- sửa đổi dự thảo Hiến pháp năm 1992, cho tới thiết kế, cải tổ thiết chế chính trị phù hợp, xây dựng nền quản trị quốc gia văn minh, tiên tiến, hợp với văn minh thời đại và nhân loại, cho tới việc bảo đảm quyền con người được thể hiện rõ trong hàng loạt các lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng…
Nó chứng minh sự thành tâm và nhất quán của nước Việt trong hội nhập quốc tế, thực hiện những cam kết vì một mục đích nhân bản- bảo đảm quyền con người của người Việt, trong một xã hội đang phát triển đầy những thách thức, âu lo lẫn bất ổn.
Tuy nhiên, thực hiện điều đó không đơn giản.
Nếu như ngay trong lĩnh vực kinh tế- việc gia nhập WTO (Tổ chức Thương mại thế giới), là một cán mốc cam kết sự thay đổi thật sự cả nhận thức lẫn tầm tư duy và tổ chức điều hành nền kinh tế trên con đường phát triển và hội nhập, thì để Việt Nam được công nhận có nền kinh tế thị trường- đến thời điểm này, vẫn còn là một dấu hỏi- với các quốc gia hùng mạnh về kinh tế thị trường.
Nếu như ngay trong lĩnh vực giáo dục, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á, quốc gia thứ hai trên thế giới tham gia ký Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em. Nhưng làm sao, giáo dục có thể hạn chế “quyền học thêm” từ bậc tiểu học- trả lại cho trẻ em tuổi thơ “bị đánh cắp”? Làm sao, xã hội có thể ngăn chặn, chống lại những tội ác của những kẻ vô lương bóc lột lao động, xâm hại tình dục, bạo hành trẻ em, khiến lương tâm người lớn chúng ta nhức nhối?
Và ngay trong lĩnh vực tư pháp này thôi, vụ án oan sai Nguyễn Thanh Chấn, hẳn sẽ cúi đầu, hổ thẹn mà đi vào lịch sử tư pháp. Khi mà “suy đoán vô tội”, một nguyên tắc của luật tố tụng hình sự được áp dụng phổ biến ở các quốc gia văn minh, nhưng còn khá mới mẻ với Việt Nam. Khi mà Bào chữa vẫn chỉ là “hư quyền” (Tuần Việt Nam, ngày 14/11), thì vấn đề quyền con người trong lĩnh vực tư pháp vẫn là một khoảng trống cần lấp đầy. Bằng chính công cuộc cải cách ngành này.
Quyền con người- là khát vọng lớn nhất của mỗi con người sinh ra trong đời sống hôm nay. Quyền đó, chỉ thực sự thành hiện thực theo nghĩa trọn vẹn, với một điều kiện cần và đủ- một nhà nước pháp quyền đúng nghĩa, một nền tư pháp văn minh, minh bạch, kế thừa tinh hoa nhân loại, trên nền tảng một tư duy và nhận thức quản trị quốc gia trẻ trung, chống lại sự xơ cứng, trì trệ, trây ì, nhưng lại nhân danh những ngôn từ văn hoa, hoa mỹ.
Chỉ khi đó, những bi kịch mang tên Nguyễn Thanh Chấn, những bi hài kịch Vinakhủng mới bị hạn chế, ngăn ngừa.
Và người dân Việt, sẽ không phải đau khổ đóng vai quýt làm… nhân dân chịu.
Kỳ Duyên
Xem bài cùng tác giả:
Án oan, ép cung và dê tế thần
Nước mắt của nhân dân, là khóc cho bi kịch của một quốc gia - khó phát triển.
Bác sĩ, đàn bà và sự mê dụ tàn nhẫn
Xét cho cùng, đồng tiền đâu có lỗi. Lỗi là ở con người, vừa nặng tham- sân- si, vừa trì trệ và xơ cứng tư duy...