TÂY SƯƠNG KÝ (MÁI TÂY)
Wednesday, November 20, 2013 5:00:23 AM
TÂY SƯƠNG KÝ (MÁI TÂY)
TỰA CỦA LÝ TRÁC NGÔ
Người viết vở "Mái Tây" là thợ trời. Người viết vở "Tỳ Bà" chỉ là thợ vẽ. Người thợ vẽ, có thể cướp được cái khéo của thợ trời. Nhưng thực ra thợ trời nào có khéo đâu!
Trăm giống hoa, trời sinh nó, đất nuôi nó, người ta thấy nó đem lòng yêu. Nhưng tìm xem cái khéo ở chỗ nào thì đố tìm ra được! Có lẽ tại ta không đủ thông minh để tìm ra đấy! Nên biết rằng thợ trời vốn không khéo. Dẫu thần thánh cũng không tìm ra cái khéo ấy! mà ai tìm được đâu! Cứ thế mà suy, thì thợ vẽ khéo cho mấy nữa, cũng vãn là hạng kém.
Việc viết văn, để tấc lòng lại nghìn đời, đáng thương biết mấy! Mà như điều tôi biết thì; giống ngựa lướt mây, đuổi chớp, quyết không quan hệ ở mầu lông; con người hẹn ngọc thề vàng, há dễ phân bì học thức! mà hạng văn như làn gió thoảng qua trên mặt nước, nào phải hay đâu vì một chữ, một câu! Đến như cấu kỹ, đối chọi khéo, nghĩa lý phải chăng, lời lẽ phép tắc, đầu cuối hợp nhau, sự thực theo nhau, những cái vặt ấy đều dùng để nói chuyện văn, nhưng không thể dùng để nói chuyện những áng văn thật hay của thiên hạ được!
Các vở hát của tạp kịch viện đều là những vở tuyệt hay cả. Vở "Mái Tây" viết có khéo đâu! Viết khéo thì thực không vở nào bằng vở "Tỳ Bà"! Người viết vở Tỳ Bà thực đã đem hết tài, hết sức mà viết. Vì người viết đã cố viết cho thật khéo, không còn dư tài sức nữa, nên lời hết thì ý cũng hết, mà văn đọc xác ra không còn ý vị gì! Tôi đã từng ôm cây tỳ bà mà đàn vở ấy chơi. Đàn một lượt thấy dạ bùi ngùi. Đàn hai lượt thấy người thổn thức. Đàn ba lượt thì thấy cái bùi ngùi, thổn thức lúc trước không còn thấy nữa! Tại làm sao vậy? Có lẽ tại nó như thật nhưng chưa được thật, cho nên không cảm sâu vào được lòng người! Vì rằng cái khéo dù đến đâu nữa, cũng chỉ thấm đến da ta, thịt ta, xương máu ta. Cho nên chỉ cảm ta được đến thế thôi, có lấy gì làm lạ. Vở "Mái Tây" thì không thế. Trong khoảng trời đất này vốn có những đáng yêu như thế. Họ viết văn cũng như thợ trời lặn muôn loài, cái khéo của họ ta không thể tìm biết được? Vả chăng những kẻ thạt biết văn ở đời, ban đầu định vào viết văn! Chỉ vì trong bụng họ có một chuyện lạ lùng, quái gở. Bên lòng họ có một món "khạc chẳng ra, nuốt chẳng vào"! Cửa miệng họ lại thường thường có những câu muốn nói mà không biết nói với ai! Những cái đó chất chứa đã lâu ngày, không thể nén được nữa. Một buổi sớm kia, cảnh vật gợi trêu, tình riêng rạo rực, họ mới: giật chén rượu trong tay người, tưới khối hận trong đời mình! Kể lể hết nỗi lòng uất ức: tiếc thương cho số phận chông chênh! Thế là văn họ đã đủ cho tài nhả ngọc, phun châu, át cả bóng sông Ngân mà sáng rực trời rồi! Kể ra họ cũng tự phụ lắm! cho nên mới phát điên, phát cuồng, khóc to, gào lớn không sao nín đi được. Thà rằng để cho kẻ nghe, kẻ đọc, nghiến răng, trợn mắt, muốn đem mình ra mà băm vằm, mổ xả! Chứ không nỡ đem văn mình mà dìm xuống nước, ném vào lửa, hay giấu kín vào non xanh! Tôi đọc vở này mà tưởng tượng ra người viết. Con người ấy, lúc ở đời, trong khoảng bạn hữu vua tôi, tất có điều gì bất mãn lắm? Cho nên mới mượn chuyện nhân duyên tan hợp của đôi vợ chồng để nói cho hả một đôi phần. Vì thế mới than giai nhân là khó tìm, khen Trương sinh là may mắn, giận thói đời hay lật lường coi người đời như rác bẩn! Tức cười nhất là một bức thư tình con con, mà dám cho là có tài hơn bao nhiêu danh sỹ? Thơ Nghiêu Phu có câu: "Đường, Ngu nhường nhịn ba be rượu; Thang, Vũ nhung nhăng một cuộc cờ?" Đường, Ngu, Thang, Vũ, sự nghiệp to tát thế nào! Thế mà lại coi như ba be rượu với cuộc cờ? Than ôi! Xưa nay các bậc anh hùng, đều như thế cả. Trong cái nhỏ họ tìm thấy cái lớn. Trong cái lớn họ tìm thấy cái nhỏ. Họ muốn quay bánh xe phép ở giữa một hạt bụi, dựng chùa thờ Phật ở đầu một chiếc lông! Không phải nói đùa đâu, chí lý là thế. Nếu ai không tin thì những lúc sân vắng trăng soi, chiều thu lá rụng, phòng văn vắng vẻ, thao thức một mình, thử đem chương "ý đàn" mà gẩy đi, gẩy lại coi! Sẽ thấy trong đó có kho vô tận, không thể tưởng tượng mà nói ra được. Đến như cái khéo thì dễ biết lắm! Trời ơi! Ước gì tôi được gặp một người như người viết vở "Mái Tây"./.
hết: TỰA CỦA LÝ TRÁC NGÔ, xem tiếp: LỜI DẪN TRUYỆN CỦA THÁNH THÁN
Lời bình: Kim Thánh Thán
Dịch thuật : Nhượng Tống
Đánh máy: Phong Nguyệt
Nguồn: VNTQ
Được bạn: mickey đưa lên
vào ngày: 1 tháng 6 năm 2005












Minhcineenebo # Wednesday, November 20, 2013 5:08:37 AM
Mái chùa Nam, sư Bản tu hành.
Trên thềm Bắc bà bầy tiệc ngọc.
Dưới Mái Tây cô đợi trăng thanh.
Minhcineenebo # Wednesday, November 20, 2013 5:50:48 AM
CẬU TRƯƠNG – (vãn cảnh): Nói: - Chùa làm đẹp thật!
Hát:
Trên điện Phật dạo chơi đã hết
Dưới phòng tăng xem biết đã tường
Trước mặt,kìa là gác chuông!
Này nơi nhà tổ, nọ buồng cơm chay!
Hành lang dạo đó đây hồ khắp.
Vào động rồi, lên tháp xa trông.
Phật tiền khấn vái đã xong.
Xem bà mụ thiện, lễ ông Thánh Hiền.
Nói: - Kìa lại còn một toà chùa nữa! Để tôi sang vãn cảnh một thể!
PHÁP THÔNG – (nắm áo cậu Trương giữ lại) Ấy chết! Bên ấy là biệt thự nhà quan Thôi Tướng Quốc. Xin thầy ở lại đây thôi!
CẬU TRƯƠNG – (nhác trông thấy Oanh Oanh và con Hồng thơ thẩn ở vườn hoa).
Ví không duyên nợ kiếp xưa.
Kiếp này hồ dễ tình cờ xui nên!
Mắt trông kể vạn, kể nghìn,
Con người đẹp thế, đã nhìn thấy ai!
Mắt hoa miệng những nghẹn lời,
Thần hồn tơi tả, lưng trời bay xa!
Nói năng đùa cợt mặc ta!
Nghiêng vai chỉ bứt bông hoa mỉm cười!
Phải chăng đây là cảnh Bồng lai?
Sao tôi lại gặp con người thần tiên!
Trâm hoa cài lệch một bên,
Mặt xuân mừng, giận càng nhìn càng say.
Mày in trăng mới xinh thay,
Cong cong bên mái tóc mây rườm rà!
Sượng sùng miệng chửa nói ra.
Răng là ngọc chuốt, môi là son tươi,
Lâu lâu mới nói nên lời,
Véo von oanh hót bên ngoài lớp hoa!
OANH OANH - Hồng ơi! Ta đi vào trong bà đi!
CẬU TRƯƠNG :
Chân tay mềm mại nõn nà,
Bước đi êm ả, trông mà thấy yêu!
Dịu dàng yểu điệu trăm chiều,
Như cành liễu trước gió chiều thướt tha.
(Oanh Oanh cùng con Hồng vào)
Cánh hồng rải lối bước qua,
Bụi thơm in vết hài hoa rành rành!
Kể chi khoé mắt long lanh,
Chân đi cũng đã hữu tình với ai!
Dùng dằng bước một bước hai,
Khuất mành mới thật đôi nơi cách trùng.
Rõ ràng như thế, phải không?
Bảo sao tôi chẳng trong lòng mê tơi!
Gót tiên cách nẻo trần ai,
Bâng khuâng phong cảnh vắng người buồn tanh!
Buồn trông khói liễu xanh xanh!
Buồn nghe đàn sẻ trước mành xôn xao!
Vườn hoa lê cửa đóng lúc nào!
Tường cao, cao quá! kể cao bằng trời!
Trách trời sao chẳng chiều người?
Làm khuây chẳng được, đứng lười không đang!
Nghĩ hươu, tính vượn trăm đường.
Hương lan còn thoảng, tiếng vàng đã xa.
Gió lay cành liễu la đà.
Tơ hồng vướng vít cánh hoa tơi bời!
Rèm châu lấp lánh mặt người!
Nuốt thầm nước bọt! trông hoài nẻo xa!
Ai bảo dinh quan Tướng phủ Hà?
Tôi thì rằng: chính chùa đức phật bà Quan Âm
Mai đây gió bắt mưa cầm.
Bệnh tương tư sẽ đau ngầm tận xương!
Hại thay cặp mắt như gương,
Liếc ai trong lúc bàng hoàng quay đi!
Dẫu người sắt đá tri tri,
Dễ cầm lòng chẳng say mê được nào!
Trước sân hoa, liễu xinh sao!
Trời trưa bóng tháp thu vào tròn xoe!
Cảnh xuân rực rỡ bốn bề.
Mà con người ngọc đi về nơi nao?
Cảnh Phật đây mà hoá nguồn Đào!
Minhcineenebo # Wednesday, November 20, 2013 5:03:12 PM
TÂY SƯƠNG KÝ (MÁI TÂY)
LỜI PHÊ BÌNH CẢ CHƯƠNG
Đức Mạn Thù Thất Lợi bồ tát hay bàn về những cái rất nhỏ. Hồi xưa Thánh Thán được nghe, lấy làm thích lắm … Kìa như thế giới Sa bà, lớn đến nỗi không thể đo lường được, vậy mà duyên cớ lại bắt đầu từ cái rất nhỏ! Cho đến hết thảy các món có ở trong thế giới Sa Bà, duyên cớ nó cũng nhất nhất bắt đầu từ cái rất nhỏ cả! Câu chuyện đó to lắm, không thể đem ra chỗ này mà bàn được. Nay chỉ mượn lấy câu "rất nhỏ" của bồ tát, để xét đến ý niệm của người viết văn. Kìa như giữa thu xế chiều, trời đất trong suốt, mây nhẹ lăn tăn, nhỏ như cánh hoa, đó thực là cảnh rất đẹp ở trong đời. Vịt trời hàng đàn bay ngang không, người thuyền chài tung lưới bắt được. Xem lông bụng nó, phớt mầu mực loãng, lăn tăn cũng như mây trên trời, nhỏ như vân xuyến. Đó lại là cái rất đẹp ở trong đời … Hoa các loài cỏ cây, từ trong đài tràng, nở ra thành cánh. Nếu ta tỉ mỷ nhìn kỹ cánh của nó thì từ cuống lên đầu màu không nhất định. Đó cũng là rất đẹp ở trong đời … Ngọn đèn nhìn từ dưới lên trên: Chỗ gần bấc mầu hơi biêng biếc; lên chút nữa, mầu hơi trăng trắng; lại lên chút nữa, mầu hơi tia tía; lại len chút nữa thì mầu đỏ nhợt, rồi mới đến khói đen tuôn lên như bọt nhỏ. Đó cũng là cái rất đẹp ở trong đời … Lòng … người đời bây giờ, dọc cao, ngang rộng, không biết là bao nhiêu dặm! Mông mông, mênh mênh, trâu ngựa cũng nhìn không rõ! Ví phỏng có ai nói cho nghe những chuyện ấy, thì có lẽ họ đã phanh ngực cả cười, cho rằng: người ta sinh ra ở trong đời, quý nhất là dư mặc, thừa ăn! Rỗi hơi đâu mà để bụng dạ vào những chuyện như thế! Họ không biết để bụng dạ vào những chuyện như thế, nào có phải là phí hoài đâu! Mây thu lăn tăn nhỏ như vân xuyến. Xuyến vì chỗ có, chỗ không chen nhau mà thành vân, song trong chỗ lăn tăn kia; thì có những là chỗ có chỗ không chen nhau mà thôi! Ta từ dưới này trông lên, cách mây không biết mấy trăm nghìn dặm, thì thấy cái lăn tăn kia, cách nhau không đầy một tấc. Thế nhưng nếu đến tận nơi mây mà đo, thì thực chưa biết là mấy tầm mấy trượng nữa. Nay ta thử nghĩ, nếu cách nhau hàng mấy tầm, mấy trượng, mà chỉ là chỗ có chỗ không chen nhau, thì ta từ dưới trông lên, quyết là không đẹp được đến thế. Nay từ dưới trông lên mà đẹp đến như thế, thì tất là giữa khoảng cái lăn tăn này với cái lăn tăn khác, tất có vô số tầng lớp, như liền với nhau, như theo với nhau. Cái gọi là rất nhỏ, chính ở chỗ đó, không thể không xét được. Cái lăn tăn của mây trên trời, cách nhau hàng tầm hàng trượng, cho nên khoảng giữa có nhiều tầng lớp. Cái đó cũng chưa đáng kể. Đến như cái lăn tăn ở lông bụng con vịt trời, cách nhau rất hẹp hòi, chỉ bằng độ hạt gạo hay hạt thóc! Nay thử xem nó sở dĩ đẹp như vân xuyến, có phải chỉ là vì chỗ có chỗ không chen nhau mà thôi sao? Nếy thật chỉ là vì chỗ có chỗ không chen nhau, thì ta thử lấy ngọn bút nhỏ, thấm chút mực lại vẽ từng nét một coi nào? Cớ sao đứa trẻ lên bảy cũng khúc khích cười là chẳng giống chút nào cả! Tiếc thay không có ai là Ly Châu để nhìn cho kỹ, nhận cho rõ đó thôi! Nếu nhìn kỹ nhận rõ ra, thì trong đó cũng có vô số tầng lớp, như liền với nhau; từ cái nọ lăn tăn đến cái kia, thật cũng chẳng khác gì cách nhau hàng trượng. Cái gọi là cái rất nhỏ, chính là ở đấy, không thể không xét được! Hoa các loài cỏ cây, từ trong đài, tràng, nẩy ra thành cánh … Thiên hạ cho rằng bấy nhiêu cánh, ấy là một hoa … Có biết đâu hôm qua có lẽ hoa ấy chưa có; lại hôm kia nữa, có lẽ đài cùng tràng cũng chưa có. Ở trong chỗ không đài không tràng không hoa, mà nẩy bật ra đài, nẩy bật ra tràng, lại nẩy bật ra hoa, trong khoảng đó tất có cái rất nhỏ, như người đi thong thả, dần dần tới xa. Vậy thì một cánh hoa tuy là nhỏ, nhưng từ cuống cánh đến đầu cánh, bắt đầu từ đây, tận cùng chỗ kia, tất phải gân chuyển mạch rung, sớm nhạt chiều thẫm, phấn non hương già … Tự ta coi thì một cánh hoa chỉ lớn bằng móng tay! Song tự hoa tính ra thì biết đâu đường lối chẳng xa xôi vượt bờ kia, sang đỗi nọ? Tự ta coi thì từ khi mới nở đến giờ chỉ trong chớp mắt! Song tự hoa tính ra thì biết đâu thọ mạnh chẳng lâu dài chồng đời nọ đến kiếp kia? Đó cũng là cái rất nhỏ không thể không xét được! Ngọn lửa trên bấc đèn coi nhàn nhạt, không biết trong năm màu ở thế gian đó là màu gì? Tôi thường nhìn kỹ từ đầu bấc lên đến hết chỗ khói; từ chỗ biêng biếc đến hết chỗ trăng trắng, nó giáp nhau ra làm sao; lại từ chỗ trăng trắng đến chỗ tia tía, nó giáp nhau ra làm sao; lại từ chỗ tia tía đến chỗ đỏ nhạt, từ chỗ đỏ nhạt đến chỗ khói đen, nó giáp nhau ra làm sao? … Trong chỗ giáp nhau đó tất có những cái rất nhỏ, ban đầu chia ra còn có thể chia được; nhưng lại thong thả mà chia ra nữa, thì khiến ta chẳng có thể chia ra được nào! Đó lại là một điều không thể không xét được! Nếu ta biết suy rộng tấm lòng ấy ra, thì cầm bút mà chép những câu mời chào nhau của người làng, người xóm, tất cũng có văn. Mà chép những tiếng cãi cọ nhau của nàng dâu, mẹ chồng, tất cũng có văn! Mà chép hai người gặp gỡ giữa đường, vái nhau xong đi thẳng, tất cũng có văn. Sao vậy? Trong đó tất có những cái rất nhỏ … Người khác nóng lòng chẳng xét, thì không sao viết được đành chịu gác bút bỏ đấy! Song ta từ dưới cửa bậc đại chí là đức Man Thù Thất Lợi bồ tát, học được phép ấy, thì tuy nhặt nắm cặn bã ở bên đường, ta cũng có thể ép ra được hàng chum nước! Trong đời này lại còn đầu đề nào nhỏ hẹp, đủ trói buộc cánh tay ta không cho nhúc nhắc nữa đâu! Đọc Mái Tây, đến chương "hoạ vần", sau chương "xin trọ", trước chương "quấy đám", bất giác tôi phải cảm mãi đến lời của Bồ Tát, lại xin nguyện các bạn tài tử gấm vóc trong thiên hạ đọc kỹ càng coi! - Trên là chương "xin trọ", phàm điều cậu Trương muốn nói đều đã nói hết! Dưới là chương "quấy đám", phàm điều cậu Trương chưa nói, đến đấy mới có thể nói được! Nay vào giữa khoảng hai chương đó, bỗng đem tả chuyện cách tường hoạ thơ, mà cũng muốn rồi rào tự thành một chương, thì thật là bút vướng mực khan, "nàng dâu khéo, nhưng không gạo nấu sao lên cháo!" Tác giả bỗng dưng nghĩ đến rằng: Đêm ấy Thôi, Trương hoa thơ nhau, thì hai người tất là cùng ở dưới màn sương trong bóng nguyệt. Nhân bịa ra câu chuyện đêm nào cũng thắp hương, rồi do chỗ xem thắp hương mà sinh ra tình, mà bầy ra cảnh, tả nên những ý văn lạ lùng! Kẻ nóng lòng, không biết nỗi khổ tâm ấy, đọc lên chỉ biết đấy lại là ít câu hát hay! Có biết đâu một chữ, một câu, cho đến một tiết, đều là tách bóc ở trong một hạt nếp mà ra cả.
hết: LỜI PHÊ BÌNH CẢ CHƯƠNG, xem tiếp: CHƯƠNG IV – QUẤY ĐÁM
Lời bình: Kim Thánh Thán
Dịch thuật : Nhượng Tống
Đánh máy: Phong Nguyệt
Nguồn: VNTQ
Được bạn: mickey đưa lên
vào ngày: 1 tháng 6 năm 2005
Minhcineenebo # Wednesday, November 20, 2013 6:50:14 PM
Văn chương có phép "dời nhà cho hợp cây". Ví như ngày hè đọc sách, đã được nơi đọc sách, nhưng sau nhà có cây, rất nhiều bóng mát. Nay muốn bỏ cây đó ở sau nhà, thì thực không bằng đem cây đó lại trước nhà … Song cây lớn không thể dời lại đằng trước; chi bằng nhà mới ta dời quách về phía sau! Nếu không thế, cứ để cây ở sau nhà thì cố nhiên nhà vẫn là nhà đẹp, cây vẫn là cây đẹp, thế nhưng nhà đã không ăn thua gì với cây, mà cây lại càng không ăn thua gì với nhà! Vậy nay thử tính bề hơn thiệt, dời nhà lại cho hợp với cây, thì cây vẫn còn nguyên mà nhà đã thêm nhiều bóng mát. Đó thực là một việc rất tiện ở trong đời … Kìa như Oanh Oanh với cậu Trương, nào khi xướng hoạ, trong lòng vốn đã cảm thầm; tại buổi làm chay, chính mắt lại từng trông thấy. Đó thực là miệng tuy không nói nhưng lòng nào tạm quên … Nay trong khi bất ý chẳng ngờ, bỗng dưng vỗ tay ứng mộ, viết thư cầu cứu, lại chính là con người ấy. Lúc đó thì dẫu muốn cố tình ngậm miệng, giả vờ không để ý đến, mà sao có đặng! Cứ lý, cứ tình, cứ thế thì tất phải cảm tạ trời đất, bụng nghĩ sao, miệng nói vậy, trút ra cho hết những nỗi lo buồn uất ức ở trong lòng … Để tỏ ra rằng con người xinh xinh đã lọt vào con mắt ta kia, vốn chẳng phải là hạng cùng vời cùng đứng với vô số, vô số người ở trong hai dãy hành lang! Thế nhưng một là bà lớn ngồi bên, có nói sao được! Hai là tăng chúng đông đảo, có nói sao được! Ba là thế giặc đương mạnh, có nói sao được! Đã không thể nói được mà đành chịu không nói, thì kẻ đọc truyện đến đây, sao cho khỏi ngờ Oanh Oanh lúc ấy, đối với việc cậu Trương ứng mộ, có lẽ cũng thoáng qua chẳng để vào lòng! Tác giả vốn đã hiểu trong văn chương có phép "dời nhà cho hợp cây", nên trước khi chưa nghe tin biến, phải tả ra bao nhiêu là nỗi nhớ niềm mong, để tỏ ra rằng cậu Trương đối với Oanh Oanh, đã là giọt máu ở đầu tim, tấc hơi ở cuống họng, cùng mật, cùng lòng, cùng thân, cùng mạng! Cho đến đoạn dưới chỉ thuận tay điểm qua, là đủ mượn ngấm tất cả bao nhiêu những lời tâm sự ở đoạn trên xuống. Đó là một điều mà các bạn viết văn sau này cần phải khéo bắt chước lấy. (Trong Tả Truyện nhiều đoạn trước kinh đã chua chuyện, tức là phép ấy.)
Trong văn chương có phép "trăng rọi hành lang". Ví như đêm xuân ấm hoà, người đẹp chưa ngủ, đốt hương cuốn mành, thao thức chờ trăng. Lúc ấy mới tối, trăng mọc từ phương Đông, ánh sáng lạnh lùng, tất phải từ mái hiên soi xuống cột hiên, lại soi xuống bao lan; rồi mới dần dần soi đến ngoài hè, soi đến ngoài song, sau đó mới soi đến người đẹp … Trong bao nhiêu thì giờ ấy, người đẹp kia kể cũng đã lâu, vẫn chịu đứng chờ trong bóng tối. Nhưng dù ra sao nữa, trăng kia có thể nào không soi tới người đẹp! Thế nhưng trước khi soi tới người đẹp, ánh trăng tất phải từ mái hiên xuống bao lam, rồi mới xuống ngoài hè, xuống ngoài song; như vậy thì trước khi soi tới người đẹp mới như mờ, như tỏ, như gần, như xa, nẩy ra biết bao nhiêu là cảnh đẹp! Nếu không thế mà con người kia lại đột nhiên ở dưới trăng, thì là điều rất đáng chê! Vì rằng không có thân phận vậy! Kìa như Oanh Oanh với cậu Trương, nào khi xướng hoạ, trong lòng tuy đã cảm thầm; tại buổi làm chay, chính mắt lại từng trông thấy; thế nhưng mình là bậc quý nhân ngàn vàng, trên thờ mẹ già, dưới vâng thầy dạy, cái cậu Trương người dưng nước lã kia, tấc dạ châu ngọc, há rằng lại nên nghĩ đến? Cửa miệng hoa sen há rằng lại nên nhắc đến? Thế thì tác giả biết làm thế nào? Ví phỏng Oanh Oanh thật vì cớ sợ thầy, sợ mẹ, tấc lòng châu ngọc, trước sau không dám nghĩ, cửa miệng hoa sen trước sau không dám nhắc, thì suốt cả truyện Mái Tây, đành chịu không có câu nào để tả Oanh Oanh thương nhớ cậu Trương hay sao? Tác giả vốn đã biết trong văn chương có phép "trăng rọi hành lang", nên trước hết hãy thong thả tả xuân tàn; lại thong thả tả đến con người ở cách tường, lại thong thả tả chuyện xướng hoạ ở dưới trăng … Đến đây bỗng lại thu bút lại, tả đến ý: ta là kẻ con nhà, ta tự biết giữ mình ta, cứ đợi gì người khác phải đề phòng xét nét … Thế rồi mới xuống đến câu "Riêng có ai mới gặp là đã sinh thân …" Nên viết cả một đoạn văn ở trên, cốt yếu là chỉ để tả một câu ấy, để phục sẵn cái cớ Oanh Oanh phải mừng lòng thích mắt về việc cậu Trương vỗ tay ứng mộ ở bên dưới. Mà theo phép viết văn cho có tầng thứ, thì tất phải thong thả tả dần, chứ không thể nói một câu nói buột ngay ra được. Đó lại là một điều mà các bạn viết văn sau này cần phải khéo bắt chước lấy.
Trong văn chương có phép "thúc trống tẩy uế"! Ví như câu ba Lý (Đường Minh Hoàng" ngày ba, tháng ba, ngồi dưới lầu Hoa Ngạc, sắc sai lấy bộ chén pha lê xanh, rót rượu nho Tây Lương cùng Quý Phi uống chơi. Uống dở say, vừa hay năm đức ông, ba bà dì, cùng đến cả một lúc. Lòng vua rất vui, sai nhạc công cử nhạc. Hôm ấy toà Thái Thường vừa mới chế xong một bài đàn, đặt tên là khúc "Núi vắng không sầu", vua sai đem gẩy ngự nghe. Cứ xong một đoạn, nhà vua lại cau mày, hoặc nhìn Quý Phi, hoặc nhìn ba bà dì, hoặc nhìn năm đức ông, mặt rồng ra vẻ bạo bực kém tươi. Kế đó sắp đến đoạn thứ mười một, nhà vua nhẩy vọt dậy, miệng phán: "Hoa nô! Mau đem trống đây! Ta muốn tìm cách tẩy uế!" Liền đó tự tay thúc trống, theo nhịp "Ngự dương tam qua". Tiếng trống "thình thình", làm cho các hoa chưa nở ở trong vườn, chốc lát nở hết … Kìa như Oanh Oanh khi nghe tin giặc đến vây chùa, không có lẽ không viết thành một chương. Thế nhưng khi viết ra, thật là bút vắn, mực khan, chả có gì là thú! Kẻ đọc buồn tênh! Mà người viết cũng sốt ruột! Không biết làm thế nào được, thì chợt nhớ đến vốn văn chương có phép "thúc trống tẩy uế", tác giả liền buông ngọn bút chết, cầm ngọn bút sống, thình lình mượn vai người đưa thư, bịa ra một chú Huệ Minh bố láo! để cho hả hê cái bạo bực đã nghẹn ngào chứa chất ở ngọn bút hàng nửa ngày trời! Thơ Đỗ Phủ có câu "Cây tiên lật gió rung ngày trắng! Cá kình đạp sóng vùng bể khơi!". Lại có câu: "Trắng tan xương mục, hùm, rồng chết! Đen kịt trời chiều, sấm, sét vang!" Đều là một lối văn lạ lùng thế cả! Có những câu văn ấy, đủ làm cho cả chương lập tức sáng ngời như có hào quang soi tỏ! Đó lại cũng là một điều mà các bạn viết văn đời sau nên khép bắt chước lấy!
hết: LỜI PHÊ BÌNH CẢ CHƯƠNG, xem tiếp: CHƯƠNG II – MỜI TIỆC
Lời bình: Kim Thánh Thán
Dịch thuật : Nhượng Tống
Đánh máy: Phong Nguyệt
Nguồn: VNTQ
Được bạn: mickey đưa lên
vào ngày: 2 tháng 6 năm 2005
Minhcineenebo # Friday, November 22, 2013 1:28:35 PM
Vương Thực Phủ
TÂY SƯƠNG KÝ (MÁI TÂY)
LỜI PHÊ BÌNH CẢ CHƯƠNG
Vì sao con Hồng lại dạy Quân Thuỵ câu chuyện gẩy đàn? Thánh Thán ngậm ngùi mà than rằng: Từ đây mà đi, tôi mới biết lễ là cái có thể ngăn đón được người đời vậy! Kìa như Quân Thuỵ là tay tài tử nhất đời! Lại như Song Văn cũng là bậc giai nhân nhất đời!
Lấy tay tài tử nhất đời bắt gặp bậc giai nhân nhất đời, thì thế tất cũng không nề nghĩa chết, muôn chết, cố cầu cho họp nhau! Mà dẫu bậc giai nhân nhất đời nữa, thoáng nghe có tay tài tử nhất đời, thế tất cũng không nề nghìn chết, muôn chết, mà cố cho họp nhau! Sao vậy? Vì tài tử là giống rất quý ở đời, mà giai nhân cũng là giống rất quý ở đời … Trời sinh ra ở đây một giống quý, trời cũng biết khó lòng mà kiếm cho đủ đôi … Tự nhiên một ngày kia mà hai giống gặp nhau, hai giống thương nhau, hai giống tìm nhau, hai giống họp nhau, thì khi đó trời cũng sướng lắm! Sướng sao sướng vậy! Vì được một việc mà ra được cả hai việc: đem giống rất quý này sánh đôi với giống rất quý kia, tức là đem giống rất quý kia sánh đôi với giống rất quý này … Có lẽ nào trời lại cho thế là không phải, lại ép uổng đem một viên ngọc sánh đôi với một hòn đá; rồi lại lấy một viên đá cho sánh đôi với một viên ngọc, mà lại lấy làm sướng hay sao! Thế nhưng tôi thường lấy làm nghĩ: Tài tử có tấm tình thế tất phải đến, thì giai nhân cũng có tấm tình thế tất phải đến. Thế nhưng tấm tình thế tất phải đến ấy, ở tài tử chỉ có thể cất giấu ở trong lòng tài tử, mà ở giai nhân chỉ có thể cất giấu ở trong lòng giai nhân. Dù cực chẳng đã, lâu mãi! lâu mãi! Muôn một xảy ra chuyện không may, vì tấm tình thế tất phải đến ấy, mà tài tử đến sắp chết, thì tài tử cũng đành chịu chết! Mà giai nhân đến sắp chết, thì giai nhân cũng đành chịu chết! Chứ tài tử cũng không có cách gì để tỏ tình được với giai nhân; mà giai nhân cũng không có cách gì để tỏ tình được với tài tử. Vì sao? Vì các đấng vua đời xưa đã đặt ra lễ, thì muôn đời cũng không bỏ đi được! Lễ dạy rằng: "Lời nói ở ngoài không dám để lọt vào trong cửa buồng; lời nói ở trong không dám để lọt ra ngoài cửa buồng". Hai câu ấy như có quỷ thần xét soi, học từ lúc bé, mà cho đến lúc chết cũng không dám phạm! Tài tử yêu giai nhân thì yêu thật, song tài tử còn yêu các vua đời xưa hơn. Có thế tài tử mới được là tài tử! Giai nhân thì yêu tài tử thật, song giai nhân còn sợ lễ hơn. Có thể giai nhân mới được là giai nhân! Cho nên trai lớn tất phải có vợ, gái lớn tất phải có chồng, đó là chuyện rất thường xưa nay, tưởng không cần gì phải dấu diếm cả. Vậy mà tuy là tài tử giai nhân, cũng cần phải cha mẹ bằng lòng, mối lái nói trước; lê, táo, giò, nem, thành tâm đưa đến; họ hàng làng xóm, rượu cỗ khuyên mời … Không thế thì cha, mẹ, mọi người trước đã coi khinh; mà con hiếu, cháu hiền về sau còn lấy làm xấu hổ mãi mãi! Sao vậy? Chỉ ghét về tội trái lễ đó thôi! Cho nên tài tử như Quân Thuỵ, giai nhân như Oanh Oanh, thật hai con người rất quý ở trong trời đất vào khoảng niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường! Tài tử yêu giai nhân như Quân Thuỵ với Oanh Oanh, giai nhân yêu tài tử như Oanh Oanh với Quân Thuỵ, thì thật không nề nghìn chết, muôn chết, mà suýt suýt nữa cả đôi đều muốn dồn cả hai cái chết làm một … Thế thì trước khi chưa có những chuyện quân giặc vây chùa, bà lớn hứa gả thì: Quân Thuỵ yêu Oanh Oanh thật, song vẫn không biết nàng có hiểu mình yêu, mà yêu đến mực ấy hay không? Oanh Oanh yêu Quân Thuỵ thật, song cũng vẫn không biết chàng có hiểu mình yêu, mà yêu đến mực ấy hay không? Quân Thuỵ đã không có cách gì nói ra miệng để lọt vào tai Oanh Oanh, mà Oanh Oanh cũng không có cách gì nói ra miệng để lọt vào tai Quân Thuỵ; cái đó hai bên cùng thế cả. Đã vậy thì thật là không hiểu lẫn nhau … Kể hai người yêu lẫn nhau, yêu đến như thế là cùng, vậy mà vẫn không sao hiểu lẫn nhau, như vậy thì hai người có thể chết được lắm chứ! Thế nhưng hai người dù có chết cũng là chết toi, chứ mối tình kia thì vãn không có cách gì để cùng nhau nói ra miệng, cùng lọt vào tai! Ấy là vì theo lễ phải thế, không có thể phạm được! Nghìn sự không may! Muôn sự không may! Mà cái may thật là may lù lù đưa đến. Rồi bỗng không mà quân giặc vây chùa, bỗng không mà bà lớn hứa gả! Theo ý tôi thì trong khi đó Quân Thuỵ có thể không cần tỏ tình với Oanh Oanh mà Oanh Oanh cũng có thể không cần tỏ tình với Quân Thuỵ nữa! Vì sao? Vì bà mẹ đã hứa, mà ba trăm người ở dưới hành lang đã chứng kiến cho rồi! Từ đây mà đi, Oanh Oanh mới thật là Oanh Oanh của Quân Thuỵ! Tấm tình chung của đôi người, dù tự miệng nói ra suốt ngày đêm, cho đến suốt cả tháng, cho đến suốt cả năm, cho đến suốt trăm năm nữa, nào có khó gì! Nào có cần chi phải có một kẻ đứng giữa để đón từ bên đây đưa sang bên kia? Trời thực cũng không ngờ rằng mụ già lại còn xoay kế khác vậy! Từ khi cái kế của mụ già thình lình xoay khác, khi đó chừ Oanh Oanh lại vẫn chưa phải là Oanh Oanh của Quân Thuỵ, mà Quân Thuỵ lại vẫn chưa phải là Quân Thuỵ của Oanh Oanh! Vì thế, mà giữa khoảng hai người, không thể không phiền đến một kẻ ngoài, để đón bên đây, đưa sang bên kia, lại mong được ở bên kia để trả lời bên đây! Tuy rằng ở Oanh Oanh thì dù đến chúng ta đây cũng phải dặn hộ rằng: Đó là chuyện cần phải giữ ý giữ tứ, dù sao thì em cũng không thể đem mà nói rõ với người; thế nhưng ở Quân Thuỵ thì còn có kiêng nể gì mà chẳng viện lý, viện lời, để nói cho ai nấy đều biết? Tục ngữ có câu: "Lòng chẳng phụ ai, mặt không bẽn lẽn!" Ví phòng bà lớn mà chưa hứa, thì Quân Thuỵ dù chết nữa thực cũng không dám, vì rằng còn vướng có lễ! Thế nhưng bà lớn đã hứa, thì Quân Thuỵ dù có không kiêng nể gì, nghiễm nhiên dám mượn một tay sứ giả, đẩy cửa buồng ra mà nói rõ với Oanh Oanh, tôi tưởng cái đó lễ cũng không thể theo mà ăn vạ được nữa! Vì sao? Chỗ đuối ở bên ấy chứ không phải bên này! Thế nhưng ta chỉ không biết người sứ giả đó thì biết trả lời ra làm sao? Bà lớn hứa, chuyện đó tai ta được nghe … Bà lớn lật, chuyện đó tai ta lại được nghe … Chả cần Quân Thuỵ phải nói! Quân Thuỵ dù không nói, song ta há không phải giống người hay sao mà không hậm hực ở trong lòng? Cho nên cái đó thật cũng không cần Quân Thuỵ phải van lơn. Quân Thuỵ dù không van lơn, song ta há không phải giống người hay sao, mà nỡ không ra tay giúp đỡ? Vả chăng nay ta đem lời Quân Thuỵ mà nói với Oanh Oanh, thì chẳng qua cũng như rót nước vào nước mà thôi! Vì sao? Vì tấm lòng uất ức vừa đây, hiện ra nét mặt, ta thì đã xét rõ lắm. Vậy thì đem lời Quân Thuỵ nói với Oanh Oanh cũng chẳng khác gì đem lời của Oanh Oanh nói với Oanh Oanh mà thôi! Thực ra trong đời còn có chuyện gì dễ dàng hơn chuyện ấy nữa! Thế nhưng riêng con Hồng thì cho chuyện ấy thế mà có chỗ cực kỳ khó! Vì sao? Vì rằng: Nhà họ Thôi thì thâm nghiêm kín đáo, vinh một quan Tướng quốc giúp vua trị nước ở triều đình; bà lớn họ Thôi thì đường hoàng bệ vệ, một bà nhất phẩm phu nhân, mà nay lại sắt sói, gớm ghê, một bà mẹ goá lòng băng mặt sắt; con gái bà lớn là Oanh Oanh thì thướt tha yểu điệu, như Trời, như Phật, một cô tiểu thư nghìn vàng, gió xuân còn chửa được thổi, nắng xuân còn chửa được soi … Đến như con Hồng sở dĩ là con Hồng thì chẳng qau dưới gối bà lớn có tiểu thư, bên cạnh tiểu thư có người hầu, mà trong bọn người hầu ấy có một con xinh xinh nho nhỏ, thế thôi! Tiểu thư mà đãi nó vào hạng tầm thường, thì đó là thể của tiểu thư! Tiểu thư mà đãi nó vào hạng tay chân, thì đó là ơn của tiểu thư! Nói về thể của tiểu thư, thì không dám nông nổi đem một câu chuyện bâng quơ mà xúc phạm đến vẻ tôn nghiêm, cái đó chẳng những con Hồng phải thế, mà phàm những người hầu cạnh tiểu thư ai cũng phải thế cả, mà con Hồng không thế cũng không được! Đến như nói về ơn của tiểu thư, thì cái không dám nông nổi đem một câu chuyện bâng quơ mà xúc phạm đến tôn nghiêm, tôi nghĩ cũng chỉ có một mình con Hồng là biết thế mà thôi… Nếu không thế thì sao tấm lòng châu ngọc của tiểu thư, ngày thưởng chẳng chịu để ý đến ai, mà lại riêng đoái thương đến con Hồng? Cứ đó mà suy, thì vâng lời Quân Thuỵ, tuy là sự Hồng không vâng không xong, nhưng thưa với Oanh Oanh thì là sự Hồng không thưa không được! Vì rằng đó là một sự cực kỳ khó nên chẳng những Hồng lấy làm khó, thì Quân Thuỵ khi ấy cũng đã lấy làm khó cho Hồng; chẳng những Thánh Thán lấy làm khó, mà hết thảy các bạn tài tử gấm vóc ở đời hiện nay có lẽ cũng không ai không lấy làm khó cho Hồng! Coi đó đủ biết các vua đời xưa đặt ra lễ, có trong, có ngoài, có cao, có thấp, chẳng những lời nói ở ngoài không dám để lọt lên trên … Ấy nghiêm trọng cẩn thận là thế! Cốt để ngăn ngừa những sự gian tà lếu láo ở đời, không cho nấp bên cạnh, lấn đằng trước, quấy đằng sau, phá phách không biết đến đâu là cùng; dụng ý thật rất sâu xa vậy! Coi đó thì biết con Hồng sở dĩ dạy Quân Thuỵ về chuyện gảy đàn, ý nó nào có phải muốn Quân Thuỵ lấy đàn mà ghẹo Oanh Oanh vì đàn mà cảm Quân Thuỵ! Chẳng qua vì Oanh Oanh đứng vào địa vị tôn nghiêm quá, mình là con hầu, tất không thể nói được. Đã không thể nói được thì vừa rồi nhận lời với Quân Thuỵ, đành bỏ mặc đó hay sao? Như vậy thực chẳng nỡ lòng nào !Vì thế phải giở đến ngón ranh mãnh tinh ma, mà thình lình gửi cả vào cây đàn… Rồi đó một bên thì dạy cho gẩy, một bên thì dứ cho nghe … Dứ cho nghe rồi giả vờ vào … Giả vờ vào rồi đứng rình đấy … Đứng rình đấy rồi khi bắt được chân tình cùng câu nói, liền đâm xổ ra cho không thể nào mà chối được! Ấy thế rồi thong thả dử dần cho cá cắn vào câu! Than ôi! Ví phỏng Oanh Oanh ngồi rú mà không ra, hay ra mà không nghe, hay nghe mà không nói, thì ai còn giở ngón ra được nữa! Vì vậy Thánh Thán đọc Mái Tây lòng còn thao thức mà cảm đến các vua đời xưa! Các cô tiểu thư tôn nghiêm giữ lễ sau này, đối với con hầu thân thiết của mình, phải coi chừng cho cẩn thận mới được.
(Trác Sơn nói: Sau chuyện lật hẹn, trước chuyện gửi thư, sao lại nẩy ra chương Ý đàn này? Có lẽ tấm tình khăng khít của đôi bên, trước còn chưa tả hết ý, nên cần phải nói thêm lần nữa hay sao? Giờ đọc lời phê bình của Thánh Thán mới hiểu ra. Cả đến những câu "chạy đâu ra mà thở chẳng ra hơi … vv " ở cuối chương, cũng đều như mới tắm xong cả! Mắt Thánh Thán thật to bằng cái rổ!)
Tôi xem cách dùng bú của người viết "Mái Tây" thật là lạ tuyệt xưa nay! Chương "mời tiệc" trước, chỉ dùng một vai con Hồng, vậy mà lại là văn tả Quân Thuỵ và Oanh Oanh! Đến chương "ý đàn" này dùng cả Quân Thuỵ và Oanh Oanh, bỏ rớt hẳn con Hồng, thì lại chính là văn tả con Hồng! Mờ mịt bên trời, gửi lời nhắn các bạn tài tử gấm vóc đâu ta: Tôi muốn cùng bạn khêu đèn ngồi chờ, chuốc rượu vui cười, đọc đi! hát đi! giảng đi! bàn đi! gọi đi! lạy đi! Đời không ai hiểu thì đốt đi! khóc đi (Trác Sơn nói: Tôi xin khóc trước!).
hết: LỜI PHÊ BÌNH CẢ CHƯƠNG, xem tiếp: CHƯƠNG I - LẦN TRƯỚC
Lời bình: Kim Thánh Thán
Dịch thuật : Nhượng Tống
Đánh máy: Phong Nguyệt
Nguồn: VNTQ
Được bạn: mickey đưa lên
vào ngày: 2 tháng 6 năm 2005
Minhcineenebo # Friday, November 22, 2013 1:49:19 PM
Chữ ông thánh dạy, chớ viết nhăng thư tình!
Chí chim hồng, đừng nản bởi tiếng Oanh!
Cánh bằng đừng để tơ mành vấn vương!
Ví một cô trướng rủ, màn buông,
Mà giá một người thềm ngọc, ngựa vàng giảm đi!
Rồi nay buồn, mai thảm ly bì,
Gầy gò, hốc hác, có hay gì cái ốm tương tư!
Minhcineenebo # Friday, November 22, 2013 1:55:16 PM
Thánh Thán hỏi Dự Thúc: Đánh "song lục" có đạo lý gì không? Sao trong đó cũng có người được tiếng là đánh cao?
Dự Thúc nói: Không! Không! À có! Có! Cái đó tôi biết, tôi có thể nói được, nhưng lời lẽ không nhã, khó để lọt vào tai người khác! Riêng anh tính hay nghĩ tỷ mỉ đến những chuyện nhảm, thì thuật qua anh biết cũng không sao! Phàm hết thảy các trò chơi lặt vặt ở đời, không cứ gì là song lục, phàm các tay đánh cao, họ đều dùng có một phép này: Ấy là phép "xắn vén!" Xắn, nghĩa là xắn vào … Vén nghĩa là vén ra … Xắn được một giây thì vén được một giây … Xắn được một bước thì vén được một bước. Trong giây thứ nhất, bước thứ nhất, không dám biết đến giây thứ hai, bước thứ hai, huống hồ là giây thứ ba, bước thứ ba! Trong giây thứ nhất, bước thứ nhất, sao cho được giây thứ nhất, bước thứ nhất ấy đã, chứ chớ có tham giây thứ hai, bước thứ hai, mà bỏ lỡ giây thứ nhất, bước thứ nhất ấy …
Thánh Thán nghe nói thế, đã lấy sửng sốt lấy là lạ rồi.
Dự Thúc lại nói: Phàm trò chơi vặt, tất phải đánh tay đôi với một người nữa. Ban đầu người kia muốn làm bằng được ngay! Thế nhưng ta cứ việc xắn vén như vẻ không cần làm … Phàm muốn làm bằng được ngay, thì tất là có chỗ làm, có chỗ không kịp làm. Còn ta ra vẻ không cần làm, thì nào có phải là không làm thật đâu! Kế đó họ vì cớ muốn làm bằng được ngay, nên sẽ có nhiều chỗ không kịp làm, mà thế tất không làm bù không được! Đến khi đã phải làm bù thì những cái làm trước sẽ đến vất đi như không làm vậy! Còn ta thì vì cớ ta biết xắn vén, đi từng tấc một, từng đốt một… Trước đã không cần làm bù, mà lúc nào cũng là lúc ta làm … Sau cùng, hoh vì cớ phải làm bù, nên bao nhiêu công làm trước, đã mất toi như chưa từng làm, mà giờ lại không kịp làm nữa! Còn ta thì không phiền phải làm bù, nên họ phải nhường ta làm trước; cho đến trọn ván, thành thử chỉ có mình ta làm cả đó thôi!
Thánh Thán nghe nói thế, bất giác lấy làm lạ lắm!
Dự Thúc lại nói: Cái "xắn vén" sở dĩ đáng quý là vì xắn vén thì trí bình tĩnh; trí bình tĩnh thì lòng nhiệm nhặt; lòng nhiệm nhặt thì mắt sáng suốt. Người ta mà bình tĩnh, nhiệm nhặt, sáng suốt, thì tuy một hạt thóc cũng có thể phân ra gốc, ngọn; một tiếng ho cũng nhận ra thanh âm … Cái mà người ta không trông thấy, họ ngắm nghía chơi! Cái mà người ta không để ý, họ đảo lộn chơi! Cái mà người ta không xét nổi, họ thọc móc vào rồi họ bày giãi ra chơi! Trong thời gian một giây, một phút, họ có thể coi như một năm! Trong không gian một hạt bụi, họ có thể lập thành một nước! Thoáng nghe một tiếng mà hiểu ngay gió lạnh ở Tây sang, mây đen lại ở Bắc sang? Sẽ hạ một con mà biết ngay sao đi dọc lại được một nước, đi ngang lại mất chín nước? Hạng người đó thì là hạng không có thầy dạy, chỉ do lòng hiểu đó thôi!
Thánh Thán nghe nói thế, lấy làm lạ lắm lắm!
Dự Thúc lại nói: Cái hay của đạo xắn vén, có những chỉ riêng ở các trò chơi lặt vặt mà thôi đâu! Phàm các việc ở thế gian đều dùng đạo ấy cả. Đời xưa có những người theo đạo ấy, ví dụ như Đào Chu ba lần làm nên giầu có vậy; như Doanh Vương một mình làm tướng mấy triều. Nhờ có nó mà Tôn Vũ ra trận mới có tài xuất quỷ nhập thần; mà Y Doãn dạy vua, mới có công thay lòng đổi chí … Tiến lên một bậc nữa thì: rút con hoả phù, thành tựu được đạo cả; ung dung bước chậm, ra vào được Tam muội; trừ đạo ấy ra, chả còn đạo nào! … Vì sao? Vì ở đời chỉ có cái đạo rất bình dị, rất tầm thường, mới là cái đạo thật hay, thật lạ, thật mầu nhiệm thôi vậy! … Kỳ thực ở đời có đạo nào là hay, là lạ, là mầu nhiệm đâu! … (Trở lên là lời dẫn Dự Thúc, vì người viết chương này, chính là dùng đạo "xắn vén" đó). Thánh Thán nghe đến đấy, bàng hoàng đứng dậy mà rằng: Ồ! Ra thế kia đấy! …
Từ hôm ấy mới biết Dự Thúc là một bậc trí nhân thông minh rất mực, độ lượng phi thường! Thế nhưng Dự Thúc không có nói đó là một đạo rất tốt để dùng vào việc viết văn… Một ngày kia, Thánh Thán mới đem phép ấy, dạy riêng các học trò rằng:
- Ta làm văn từ thủa nhỏ, nhưng vạch ngang vẽ dọc nào có hiểu gì! Khi đứng tuổi mới gặp được một bậc trí nhân, dạy cho ta cái đạo gồm có hai chữ là "xắn vén" … Tuyệt thật! Người ấy không nói gì về văn, mà riêng lòng ta thì hiểu đó là một tay cao trong làng văn … Sao vậy? Phàm viết văn tất phải có đầu đề. Đầu đề là cái đẻ ra văn. Thế nhưng ta thường đem các đầu đề ra nhìn kỹ mà xem, thấy trong đó chả có gì là văn cả, thì những tay giỏi văn trong thiên hạ, họ moi đâu cho ra văn? Ta nghĩ kỹ ra, bấy giờ mới biết công dụng của "xắn vén" không phải là nhỏ … Vì sao? Phàm đầu đề, có cái ra bằng một chữ, có cái ra bằng ba, năm, sáu, bảy chữ cho đến mấy chục, mấy trăm chữ …
Minhcineenebo # Friday, November 22, 2013 2:52:21 PM
- Thưa rằng đó là vì Song Văn là một người con gái rất tôn quý, rất hữu tình, rất thông minh và rất đài các ở trong đời! … Vì Song Văn là người tôn quý, cho nên nào các anh em họ xa, họ ngoại, nào các người trong bọn quan lại, tự tào, họ đi lại ra vào, nàng gặp kể cũng đã lắm. Trong đó tuy cũng có một đôi người có tài, có đức, song được như Quân Thuỵ thì chưa có ai! Một ngày kia bỗng thấy trong khoảng trời cao đất thấp lại có một người là Quân Thuỵ, làm cho nàng mắt đắm đuối nhìn, lòng xao xuyến động, đương không biết làm ra thế nào! Dè đâu từ miệng mẹ già, lọt vào tai gái thơ, lại là câu chuyện đẹp duyên, phỉ nguyền! Trời xui khiến chăng? Người gây dựng chăng? Song Văn là gái hữu tình, khi đó chắc đã chải mái tóc mới, ướm bức quần mới, đinh ninh nhắc nhỏm, ngóng tin xuân sắp đến nay mai! Tự cổ chí kim, các con gái trong đời, còn ai sướng bằng Song Văn khi ấy nữa! Vậy mà thình lình mở tiệc, thình lình lật hẹn! Trò gì những trò ấy? Khi đó bất tất Quân Thuỵ phải viết thư sang … Dù rằng Quân Thuỵ có học sách thánh hiền, quá ư câu nệ, chẳng viết thư sang nữa, thì Song Văn thực lòng cũng muốn viết thư sang … Vì sao mà tôi biết vậy? Thế biết vậy vì đêm nghe đàn … Trong đêm ấy tôi nghe thấy có những câu: "Giữa một hàng con tiện khẳng khiu, với vài lần giấy hồng điều bồi song, phải đâu mây nước muôn trùng, lấy ai tin tức đưa thông trong ngoài?" Đó chẳng phải là đã muốn gửi thư sang sao? Chẳng những thế mà thôi, trước đó sau khi hoạ vần, trước khi hứa gả đã thấy có những câu: " … Hai bài thơ mới bao nhiêu sự lòng! Lòng đôi bên cách một bức tường Đông, Kim vàng ai đó, xin giắt sợi chỉ hồng cho ai!" Đó lại chẳng phải là ý muốn gửi thư sang sao? Song Văn muốn gửi thư sang là chuyện rất sướng! Là điều vẫn mong đêm mong ngày mà chưa thấy. Là món mở rồi đọc, đọc rồi gấp, gấp rồi lại mở, mở rồi lại gấp, cho đến lúc chữ nhoè, giấy rách, mà vẫn chưa nỡ dời tay? Chứ sao lại có chuyện bừng bừng nổi giận? Song Văn sở dĩ bừng bừng nổi giận, ấy lại là vì cái thông minh của nàng … Lòng nàng cho rằng: Như Quân Thuỵ, thật là tay tài tử ở trong đời! Nếu chàng không thật là tay tài tử ở đời, thì sao ta lại say mê chàng đến quá như thế? Rồi lòng nàng lại nghĩ thầm: Ta là một cô gái đáng giá nghìn vàng, con quan Tướng quốc, dù ai có là tài tử nữa, ta cũng chả nên say mê quá đến như thế, thì cái quá đến như thế ấy, tưởng không nên để cho một người nào biết chuyện. Vì vậy Song Văn muốn viết thư cho Quân Thuỵ kể đã lâu lắm, nhưng liếc mắt thấy con Hồng đành phải thôi. Lại liếc mắt thấy con Hồng đành lại phải thôi. Cho đến luôn luôn liếc mắt thấy con Hồng đành luôn luôn là cứ phải thôi. Cái đó không lạ gì. Ở trong đời, chỉ có lòng ta là lòng của Quân Thuỵ, và chỉ có lòng Quân Thuỵ là lòng của ta, thế thôi! Đến như lòng con Hồng thì có sao lại là lòng của Quân Thuỵ được? Lòng con Hồng đã không thể là lòng của Quân Thuỵ, thì có sao lại là lòng của ta được? Cho nên Song Văn đã lâu vẫn muốn gửi thư cho Quân Thuỵ, nhưng chỉ ngại có con Hồng, là vì ý nàng không muốn cho một kẻ vẫn dòm trộm hai người, bỗng dưng lại biết được lòng của một người trong hai người ấy vậy. Một buổi sớm kia, trong nơi buồng kín, bên hộp nữ trang, lại sờ sờ có bức thư đây, cái đó không phải tự con Hồng, thì còn ai vào đây nữa? Mà con Hồng đã làm thế, thì là Quân Thuỵ đã nói ra rồi. Mà Quân Thuỵ đã nói rồi thì ra chàng ta đã đem ta mà nói hết với con Hồng, không còn tiếc rẻ gì nữa! Thì ta vẫn đã ngờ mà: Lúc nó về, không đi mà ra đi! Không cười mà ra cười! Không nói mà ra nói! Mọi ngày có dám vạch màn đâu! Vậy mà hôm nay nó dám đưa tay vạch! Mọi ngày có dám nhìn trộm đâu! Vậy mà hôm nay nó dám lật chăn nhìn! Mọi ngày nó có dám nói hỗn đâu! Vậy mà hôm nay nghiễm nhiên mỉa ta: lười đâu lười thế! Đó rõ ràng là những vẻ sau khi Quân Thuỵ đã nói hết với nó! Kể như ta là một bậc quý nhân, nhìn xuống một con hầu thơ yếu, có khó gì không bảo cho nó được biết tấm lòng của ta! Chỉ vì không chịu nổi những vẻ đó mà đành nín nhịn cho đến bây giờ! Cho đến bây giờ, mà ta có ngờ đâu cái con hầu thơ ấu này lại dám thế … Như vậy thì thà rằng ta quyết tuyệt hẳn với Quân Thuỵ cũng chẳng có sao! Chứ lấy mình là bậc quý nhân, ai mà chịu được những nước ấy! Ấy thiện tính của Song Văn đài các là thế! Thế nhưng đối với Quân Thuỵ, nàng không sao mà quyết tuyệt được! … Chẳng những không quyết tuyệt được, mà còn để đến nỗi không thể chậm một, hai ngày nữa mà không gặp nhau! Cầm lấy bút viết thật nhanh, rồi đề, rồi phong, rồi đưa tay cho nó, và nói dối rằng: Ta muốn bảo cậu ấy từ rầy đừng có thế nữa! Kỳ thực thì có phải thật muốn chàng từ rầy đừng thế nữa đâu! Thì thơ vẫn còn đây! Thơ rằng: "Cửa hé theo luồng gió … Trăng chờ dưới mái tây … Chạm tường hoa động bóng … Người ngọc đến đâu đây!” Muốn người ta đừng có thế nữa, mà lại nói như vậy sao? Vả chăng một bài thơ chưa đủ, lại còn có cả đầu đề. Đề rằng: "Trăng sáng đêm rằm". Muốn người ta đừng có thế nữa, mà lại thơ kia chưa đủ, phải đề thêm như thế nữa sao? Thực ra thì Song Văn là người hữu tình, mà cho là ai cũng hữu tình như mình … nàng lại là người thông minh, mà cho là ai cũng thông minh như mình … Vừa rồi ta nổi giận, thật là nóng nảy vô cùng. Chắc con Hồng thế nào cũng mách lẻo … Lại vừa rồi ta đưa thư cho nó, đã dặn đi dặn lại rằng: Ta muốn đừng có thế nữa. Chắc con Hồng thế nào cũng thuật lại … Quân Thuỵ biết ta giận lắm; lại biết khi ta đưa thư ân cần dặn rằng đừng có thế nữa; mà khi mở thư coi, lại thấy như thế, thì ta chắc hẳn ban đầu tuy giật mình, kế đó tuy hồ nghi, nhưng nghĩ kỹ lại, thì ai mà không hớn hở hiểu ra … Khi Quân Thuỵ đã hớn hở hiểu ra rồi, thì gấp mau thư mà cất đi, giả vờ than thở cho xong chuyện đi! Cám ơn con Hồng mà bảo về đi! Rồi đó nằm hoặc ngồi, thong thả mà chờ … Chờ đến canh khuya, cất lẻn mà sang … Chàng là tay tài tử ở đời, cớ sao không biết cách ba lần lật bàn tay, ba lần giơ ngón tay, như Thôi Thiên Ngưu ra hiệu với ả Hồng Phất? Thế mà lại không thế: Canh chưa khuya, người chưa vắng, ta đương thắp hương, con Hồng còn đứng đó, mà đã một mình xông xáo tìm vào, thì lại còn đem thơ ta mà nói hết cả với con Hồng, chả còn tiếc rẻ gì nữa! Đó là chuyện Song Văn đâu có ngờ! Mà cũng là chuyện Song Văn đâu có chịu! lại cũng là chuyện Song Văn không nín nhịn được nữa! Ấy nàng là người tôn quý đài các, tính trời đã như vậy, có chừa bớt đi, thế nào được!
Cứ đó mà suy, thì "tán thơ" nào phải bản tâm của nàng, mà "lật thơ" lại càng không phải bản tâm của nàng! Vậy mà người đọc Mái Tây không xét, cứ thoáng mắt bỏ qua! Kỳ thực thì thứ văn trăm kúc chiết; nghìn khúc chiết; muôn khúc chiết ở đời, còn hơn đâu chương "lật thư" ở Mái Tây? Sao không chịu buông trí nghĩ tìm ra đầu cuối, để nhởn nhơ trong đó mà chơi? (Tả Song Văn như vậy, thật là một người con gái chưa quen những chuyện ấy! Có bao giờ đã viết thư hẹn cậu Trương mà còn giấu con Hồng? Thật vẽ ra một cô gái nghìn vàng vừa ngây thơ, vừa đài các, vừa đa tình, lại vừa thông minh, không phải là hạng con gái nhà đối cửa ở Lạc Dương vậy.)
hết: LỜI PHÊ BÌNH CẢ CHƯƠNG, xem tiếp: CHƯƠNG IV - LẦN SAU
Lời bình: Kim Thánh Thán
Dịch thuật : Nhượng Tống
Đánh máy: Phong Nguyệt
Nguồn: VNTQ
Được bạn: mickey đưa lên
vào ngày: 14 tháng 6 năm 2005
Minhcineenebo # Friday, November 22, 2013 5:32:22 PM
Vương Thực Phủ
TÂY SƯƠNG KÝ (MÁI TÂY)
CHƯƠNG III - TIỆC KHÓC
Cảnh thứ I: Dọc đường
BÀ LỚN - (ra) Hôm nay tiễn cậu Trương vào kinh. Hồng ơi! mau mau giục cô cùng ra ngoài trường đình. Ta đã sai chúng nó bày sẵn tiệc rượu. Một mặt đã cho mời cậu Trương, chắc cậu ấy cũng đã thu xếp xong rồi.
OANH OANH - (cùng con Hồng ra) Hôm nay là buổi tiễn hành. Nỗi ly biệt vốn khiến người thương cảm … Huống chi lại gặp trời chiều cuối thu, xui lòng buồn tủi biết bao!
CẬU TRƯƠNG - (ra) Hôm qua bà lớn bắt tôi phải vào kinh thi Hội. Thi đậu làm quan về mới gả tiểu thư cho tôi. Biết làm thế nào? Tôi đành phải đi một chuyến vậy. Bây giờ tôi hãy ra trước trường đình, đợi tiểu tư ra, sẽ cùng nhau từ biệt! (Lên ngựa đi trước).
OANH OANH - (cùng bà lớn, con Hồng cùng lên xe)
Vui buồn, tan,hợp, ba tuần rượu!
Nam, Bắc, Đông, Tây vốn có câu.
Bầu trời thăm thẳm xanh lơ.
Đìu hiu mặt đất lơ thơ hoa vàng.
Gió Tây thổi buốt can tràng.
Về Nam nhạn Bắc kêu thương lạc loài!
Rừng phong anh nguộm đỏ tươi.
Đều là nước mắt những người biệt ly.
Tơ liễu dài, dài có ích chi?
Buộc sao được gót ngựa phi dặm trường?
Sum vui sao khéo muộn màng?
Chia lìa sao khéo vội vàng xót xa!
Rừng thưa ơi, có thương ta?
Vì ta mi níu lấy bóng tà lại nao!
Ngựa kia chầm chậm chứ nào.
Xe này liều liệu theo vào cho mau!
Tương tư vừa mới qua cầu.
Biệt ly lại chuốc mối sầu mênh mang.
Chợt nghe một tiếng "lên đường"
Rụng rời tay ngọc xuyến vàng rộng thênh!
Xa trông mười dặm trường đình.
Thờ ơ mặt ngọc da xanh mấy phần.
CON HỒNG - Thưa cô! Hôm nay cô còn chưa chải lại đầu, bới lại tóc?
OANH OANH - Ồ Hồng ơi! Em có biết đâu nỗi lòng của ta!
Thấy nào xe ngựa sắp bầy,
Lòng riêng thổn thức vơi đầy đã ghê!
Thôi nào son phấn mà chi.
Công đâu trang điểm vuốt ve bây giờ?
Nhìn nào chăn gối đêm xưa
Mắt những là bải hoải vẩn vơ muốn nằm
Mặc nào khăn nào áo ướt đầm,
Lệ muôn hàng chua xót âm thầm nhỏ sa!
Nỗi buồn chết nửa lòng ta!
Lòng ta chết nửa biết là ai hay?
Còn nghĩ chi nào thư, nào thiếp sau này,
Mong ai tháng tháng ngày ngày gửi trao!
Cảnh thứ II: Trường đình
BÀ LỚN - (Cùng Oanh Oanh, con Hồng cùng tới trường đình. Cậu Trương lạy bà lớn. Oanh Oanh quay mặt đi)
Cậu Trương! Cậu lại gần đây! Người một nhà cả bất tất phải nề hà! Con! Lại đây chào cậu! (Cậu Trương và Oanh Oanh chào nhau) Cậu ngồi đây! Tôi ngồi đây! Ngồi đây con! Con Hồng đâu! Rót rượu! Cậu Trương! Cậu uống cạn chứn này. Giờ tôi đã hứa gả con Oanh cho cậu, cậu vào kinh đừng để tủi cho em. Thế nào cũng cố kiếm lấy cái trạng nguyên về nhé.
CẬU TRƯƠNG - Chúng tôi tài sơ học thiển, nhưng nương nhờ phúc ấm ông lớn, bà lớn, thế nào cũng tranh lấy cái Trạng nguyên về để kiếm cho tiểu thư lấy đạo sắc phong. (cùng ngồi)
OANH OANH - (thơ dài)
Lá vàng gió thổi rụng mau …
Cỏ vàng khói nhuộm đẫm màu thê lương!
Lả mình tựa ghế bàng hoàng.
Lo buồn đã trải đau thương đã từng!
Mắt ai nước mắt rưng rưng,
Sợ người biết đến ngạp ngừng không dám sa!
Cúi đầu lần vạt áo là,
Bỗng dưng ngoảnh mặt quay ra thở dài …!
Mai sau dù đủ lứa no đôi,
Lúc này hồ dễ gượng cười làm khuyây!
Chập chờn như dại như say!
Mới đêm qua với hôm nay lâu gì
Mà vòng lưng gầy sút hẳn đi!
Đương sum vui bỗng chia ly ai ngờ!
Nào khi gắn bó hôm xưa?
Đêm qua cách mặt bây giờ chia tay!
Mùi tương tư nếm đã bao ngày!
Ai hay ly biệt đắng cay gấp mười!
BÀ LỚN - Con Hồng hầu cô để cô rót rượu mời!
(Oanh Oanh rót rượu, cậu Trương thở dài)
OANH OANH - (nói sẽ) Thì anh uống lấy một chén rượu trong tay em!
Quyết tình dứt áo lên đường.
Coi khinh ân ái xem thường xa xăm!
Nào khi đôi gối cùng nằm.
Má kề bên má tay cầm trong tay.
Nghĩ như làm rể nhà này
Kể sang vì vợ xưa nay thế thường.
Chồng loan vợ phượng yêu đương
Chẳng hơn bia đá bảng vàng hay sao.
(Lại vào ngồi thở dài)
Chúng mày không có mắt chút nào.
Cơm đâu đã vội dâng vào tự nhiên.
Bây giờ ngồi sóng đôi bên,
Rồi ra lát nữa ai nhìn được ai.
Ví không vướng mẹ cùng ngồi,
Cỗ này sao chịu đôi nơi cách trùng?
Giây phút ra cũng thể vợ chồng!
Còn đây còn đáng ăn chung một bàn.
Tấc gang mà cách mấy quan san,
Dẫu rằng hoá đá khôn hàn tấm thương.
BÀ LỚN - Hồng! Rót rượu con!
CON HỒNG - (rót rượu mời cậu Trương rồi mời Oanh Oanh) Thưa cô, sớm nay cô không dùng cơm sớm, xin mời cô xơi ít thang.
OANH OANH :
Thức ăn dù nấu có ngon,
Nếm vào như thể đất bùn nếm qua!
Nhưng đất bùn còn có vị riêng, mà
Đây thì nào thấy có ra vị nào.
Cơm ăn mà nuốt trôi sao?
Dạ sầu chất chứa biết bao hận lòng.
Rượu đào mà thấy nhạt không,
Chén mời pha lẫn muôn dòng lệ châu.
Công danh vì chuyện không đâu,
Lứa đôi nỡ để xa nhau một trời.
Đây một người đấy một người,
Đáp nhau bằng tiếng thở dài buồn tênh.
Chốc đà mâm chén bổ ghềnh,
Bánh xe vó ngựa rắp ranh lên đường.
Đông Tây cách biệt đôi phương.
Nhớ nhau ngoảnh lại bàng hoàng trông nhau!
Trông nhau nào thấy nhau đâu!
Non xanh bốn mặt đẫm màu tà dương!
Ngủ đâu đêm vắng dặm trường?
Chiêm bao hồ dễ biết đường tìm nhau!
BÀ LỚN - Hồng! Bảo chúng nó sắp xe! Mời cậu lên ngựa, ta cùng cô lại nhà thôi. (cùng đứng dậy, Cậu Trương lạy bà lớn) Giờ cậu đi, cũng không có chuyện gì cần dặn cậu. Chỉ xin lấy công danh làm trọn rồi mau chóng chở về.
CẬU TRƯƠNG - Bà lớn dặn chúng con xin nhớ. (Cùng Oanh Oanh lạy lẫn nhau).
OANH OANH - Anh đi, đậu hay không đậu cũng liệu mà về sớm cho đấy!
CẬU TRƯƠNG - Em cứ yên tâm! Trang nguyên không phải của nhà em thì còn của nhà ai nữa. Thôi! Tôi xin đi.
OANH OANH - Khoan đã. Anh đi em chả có gì đưa tặng. Xin đọc miệng mấy câu để tiễn anh lên đường.
“Rẻ rúng thôi đành phận,
Van lơn nhớ buổi đầu.
Xin đem lòng lúc trước,
Thương lấy kẻ về sau!”
CẬU TRƯƠNG - Em dậy lầm. Củng này còn dám thương ai nữa. Bài thơ ấy, một là vì tôi lúc này tấc lòng đã rối, hai là vì có nói em cũng không tin. Vậy để khi thi đậu trở về sẽ xin hoạ lại.
OANH OANH :
Vạt hồng em thấm ướt hàng châu.
Áo xanh anh cũng lệ sầu chứa chan.
Vì đâu nhạn lẻ hồng tan?
Chưa lên đường đã hỏi han độ về.
Uống đâu mà đã thấy say ghê.
Chén mời cạn một người đi dặm ngàn.
Khói mây mờ mịt quan san!
Máu hòa giọt ngọc tro tàn lòng xuân.
Vào kinh đưòng lối khó khăn,
Độ đi chớ gắng cơm ăn cho thường.
Nào ai giúp đỡ dọc đường?
Liệu mà giữ ngọc gìn vàng cho hay.
Một yên một ngựa đêm ngày
Dãi dầu trong ngọn gió Tây vô tình.
Nắng mây điếm cỏ nhà tranh,
Ngủ xin ngủ sớm! Dậy đành dậy trưa.
Kêu ai cho được bây giờ?
Trên vai nặng gánh tương tư đã chồn.
Trời xanh nào xét đến tấc son.
Hận chồng núi thấp! Lệ tuôn sông đầy.
Chiều hôm tựa mái lầu Tây,
Bóng tà lối cũ, liễu gầy dặm khơi.
Khi đi giắt díu đi đôi.
Khi về lủi thủi mình tôi trở về.
Về nhìn qua cửa màn the,
Nỗi lòng càng nghĩ càng tê tái lòng.
Xưa sao chăn ấm đắp chung?
Giờ sao mộng cũng lạnh lùng vì ai?
Thở than thì sự đã rồi.
Một người lên ngựa, hai người rơi châu.
Thương nhau nhớ lấy lời nhau:
Xem hoa chốn khác chớ lâu như ở chốn này.
Chẳng lo: tài cao mà phúc không dầy.
Chỉ lo: lòng quên vợ cũ lại say mê vợ nào.
Mịt mù sông rộng, trời cao,
Thư đi, từ lại, đổi trao đôi miền!
Chim xanh em không thể đắm tìm!
Bảng vàng anh chớ thề chẳng có tên chẳng về!
CẬU TRƯƠNG - Lời vàng ngọc của em, tôi xin ghi lòng tạc dạ. Ngày về cũng không xa mấy, em bất tất quá thương. Thôi, tôi xin đi.
Nén lòng chua xót vờ tươi mặt.
Nín lệ vùng quanh phải cúi đầu!
OANH OANH :
Không nói can tràng đà dứt nát,
Chắc gì hồn mộng có theo nhau.
(Cậu Trương đi. Nàng thở dài)
Non xanh chẳng nể nang nhau!
Rừng xanh thôi cũng ra mầu khẩy trên?
Mịt mùng sương bạc khói chiều,
Người đi ta biết trông theo lối nào.
Lên xe mà dạ xôn xao,
Về sao chậm chạp? Đi sao vội vàng!
Tà tà bóng ác xuyên ngang,
Nào nghe người nói trên đường cái quan.
Mênh mông đồng lúa xanh rờn,
Còn nghe ngựa thét trong làn gió thu:
BÀ LỚN - Hồng đỡ cô lên xe. Trời chiều đã muộn, thôi ta về thôi!
Dầu rằng chiều chuộng lòng con trẻ,
Cũng phải làm nghiêm lối mẹ già!
(vào)
CON HỒNG - Xe bà đi trước xa rồi! Xin mời cô về thôi!
OANH OANH - Em coi cậu đâu rồi.
Bốn bề sắc núi đìu hiu.
Một roi trong lớp bóng chiều sắp tan.
Bao nhiêu phiền não nhân gian,
Mình ta xếp lại đầy chan bên lòng,
Liệu xe này mang có nổi không?
hết: CHƯƠNG III - TIỆC KHÓC, xem tiếp: LỜI PHÊ BÌNH CẢ CHƯƠNG
Lời bình: Kim Thánh Thán
Dịch thuật : Nhượng Tống
Đánh máy: Phong Nguyệt
Nguồn: VNTQ
Được bạn: mickey đưa lên
vào ngày: 15 tháng 6 năm 2005
Minhcineenebo # Friday, November 22, 2013 6:21:22 PM
TÂY SƯƠNG KÝ (MÁI TÂY)
CHƯƠNG IV - TAN MỘNG
Một cảnh: Quán trọ
CẬU TRƯƠNG - (cùng Hề ra) Từ Bồ Đông ra đi đến đây đã ba mươi dặm! Trước mặt là quán Thảo Kiều. Ta nay vào trọ một đêm, ngày mai đi sớm.
Con ngựa này sao lại cứ không chịu đi thế này!
Đau lòng trông lại cảnh xưa:
Trời chiều mây bạc rừng thưa lá vàng,
Gió mau đàn nhạn bay ngang.
Người buồn ngựa cũng ngại đường chẳng đi.
Vết sầu chồng chất đầm đìa,
Vỗ đầu thử hỏi đêm gì đêm nay?
Đêm qua đệm thuý hương bay,
Nhích mình kề má luồn tay gối đầu,
Dưới đèn tỉ mỉ nhìn nhau,
Càng nhìn càng thấy mọi mầu mọi tươi,
Tóc mây lược ngọc ngang cài,
Rõ vành trăng mới chân trời mọc lên!
Này đã đến rồi đây. Chủ quán đâu? Chủ quán!
CHỦ QUÁN - (ra) Quán Thảo Kiều nhà cháu, bẩm quan! lịch sự có tiếng. Xin mời quan vào nghỉ phòng đầu.
CẬU TRƯƠNG - Hề đâu! Tháo yên cương cho ngựa. Thắp đèn đây. Ta không cần cơm cháo chi hết. Chỉ cần nằm nghỉ thôi.
HỀ - Con cũng mệt quá. Cần phải nằm nghỉ. (Trải nệm lên giường. Đi ngủ trước)
CẬU TRƯƠNG - Đêm nay thì ma ngủ nào mà ám ảnh được mắt mình!
Lạ nhà tựa gối ngồi chong,
Bốn bề nghe rộn tiếng trùng nỉ non.
Giục cho lòng khách thêm buồn,
Phập phồng động giấy gió lùa qua song.
Bao giờ cho đỡ lạnh lùng?
Chăn đơn lại mới nằm không một mình.
(Nằm ngủ … Trằn trọc ngủ không được … Lại nằm ngủ … Ngủ say … Chiêm bao … Tự hỏi mình):
Rõ ràng là tiểu thư. Trời ơi! Tôi ở đâu thế này? Tôi thử đứng dậy nghe coi. (Lắng nghe)
Tiếng hát trong màn:
Qua mấy quãng đồng không mông quạnh,
Trái tim non đập mạnh liên hồi.
Thở không ra tưởng đứt hơi.
Mau mau theo đuổi hoạ thời kịp chăng.
CẬU TRƯƠNG - Rõ ràng là tiếng tiểu thư. Không biết đuổi theo ai? Để tôi nghe thử lại coi.
Tiếng hát trong màn:
Trông dặm liễu bạn vừa lên ngựa,
Lòng này đà chết nửa vì ai!
Như ngây như dại cả người,
Những là khóc đứng, khóc ngồi không xong.
Kể từ lúc vầng hồng sắp lặn,
Tủi thân càng thêm giận cho thân!
Xác ve gầy hẳn mấy phần,
Lệ sầu ướt đẫm mấy lần áo thay.
Cơ cực ấy thân này đã trải …
CẬU TRƯƠNG - Phải đó em! Thế nhưng em ở đâu đấy? (Lại nghe)
Tiếng hát trong màn:
Mối nhân duyên vừa mới bắt đầu,
Công danh làm dở dang nhau,
Gán cho ôm lấy mối sầu biệt ly!
Lối viện sách oanh đi cú lại.
Nỗi nhớ thương vừa mới dãn dần!
Đường trường gió giục mây vần,
Lưới sầu lại vướng biết lần sao ra?
CẬU TRƯƠNG - Lòng em thế nào thì lòng tôi cũng thế! Chua xót biết là bao nhiêu! (thở dài, lại lắng nghe)
Tiếng hát trong màn:
Làn sóng biếc bao la sương bạc,
Lớp khói xanh lác đác lá vàng!
Càng nhìn phong cảnh càng thương.
Cao cao, thấp thấp, bước đường quanh quanh!
Trận gió thổi năm canh hiu hắt,
Tiếng dế kêu bốn mặt âm thầm!
Canh khuya thân thiếp dãi dầm!
Quê người biết bạn ăn nằm nơi nao?
CẬU TRƯƠNG - Tôi ở đây! Vào đây em ơi! (chợt tỉnh) Trời ơi! Đây là đâu thế này? (nhìn quanh). À phải! Đây là quán Thảo Kiều! (gọi Hề. Hề ngủ say. Không đáp. Lại nằm ngủ. Trằn trọc ngủ không được … Ngồi dậy nhìn quanh ngẫm nghĩ) không biết bây giờ là mấy giờ rồi?
Phải mưa chiều vùi lấp tiếng trùng?
Hay gió mai đang thổi trăng trong xế tàn?
Buồng khuya nín thở nhịn than!
Đêm dài dằng dặc kéo tràn như năm!
Phải chi quá chén rượu tăm,
Tỉnh ra chẳng biết mình nằm nơi nao!
(Lại ngủ, lại chiêm bao)
OANH OANH - (gõ cửa) Mở cửa, mở cửa!
CẬU TRƯƠNG - Ai gõ cửa đấy! Quái! Tiếng con gái! Mình chớ có mở!
Phải người thì nói phân minh!
Phải ma thì biến cho nhanh kẻo mà!
OANH OANH - Em đây mà! Mở cửa mau!
CẬU TRƯƠNG - (mở cửa đón nàng vào)
Nắm áo là nhìn kỹ thì ra,
Phải ai đâu. Lại chính là cô em! Cô em!
OANH OANH - Em nghĩ anh đi rồi, em có sống làm sao được! Cho nên theo đến đây để cùng đi với anh!
CẬU TRƯƠNG - Thế thì quý hoá quá! Mấy người nghĩ được như em!
Có công lặn lội, theo tìm,
Đường xa sao chẳng mặc thêm áo dầy?
Hài thêu, sương ướt bùn lầy,
Bàn chân đi vội chắc chầy da non!
Nào khi lòng rượi rượi buồn,
Quên ăn, biếng ngủ, mất giòn, kém xinh.
Hoa rơi ai kẻ thương tình?
Mình sầu, có kẻ thương mình là ta.
Vừa gần sao đã vội xa,
Nghĩ lòng ai khỏi xót xa bồn chồn?
Chăn đơn, gối chiếc, lầu son,
Loan đôi gió rẽ trăng tròn mây che.
Đời người khổ nhất biệt ly!
Thương nhau nghìn dặm ra đi một mình …
Gan rầu ruột héo sao đành!
Thà rằng dứt đứt ân tình còn hơn.
Phen này trăng khuyết hoa tàn,
Sợ khi trâm gẫy, bình tan nửa đường.
Giầu sang em cũng chẳng màng!
Anh hào em cũng coi thường như không!
Cùng em tôi đã quyết lòng!
Sống chung một gối chết chung một mồ!
(Quân giặc ra, cậu Trương hoảng hốt)
QUÂN GIẶC - Vừa thấy một đứa con gái qua đò, không biết nó đi đâu rồi. Bật hồng mau! Nó chạy vào trong quán này! Đem nộp ra đây! Đem nộp ra đây.
CẬU TRƯƠNG - Làm thế nào bây giờ. Em hãy lánh vào phía sau. Mặc tôi với chúng. (Oanh Oanh vào)
Chùa Phổ Cứu bốn bề vây kín.
Thật đem gươm mà chẹn cổ ta
Trời sinh những giống gian tà …
QUÂN GIẶC - Hắn là con gái nhà nào, mà anh dám chứa chấp?
CẬU TRƯƠNG :
Em chớ nói, hãy lánh ra đàng ấy!
Đỗ tướng quân chúng mày biết đấy!
Tiếng anh hùng lừng lẫy ai tầy!
Kìa đương phi ngựa bạch lại đây,
Chốc sẽ thấy rừng thây xương máu!
(Quân giặc sợ hãi kéo nhau chạy. Cậu Trương ôm lấy Hề)
Em! Hú vía nhỉ?
HỀ - Thưa cậu sao ạ?
CẬU TRƯƠNG - (tỉnh giấc bẽn lẽn) Trời ơi! Thì ra một giấc chiêm bao lớn! Hãy mở cửa ra coi nào! Chỉ thấy sương mù đầy đất, mây mỏng ngang trời, trăng bàng bạc chưa tàn, sao mai mới mọc …
Cành cao chưa động đàn chim sẻ!
Gối chiếc khôn tròn giấc mộng loan!
Xanh rờn liễu phủ ngang tường!
Vắng tanh cửa đóng đêm sương mịt mùng!
Rì rào lá rụng rừng phong!
Lờ mờ vầng nguyệt dòm song lưng trời!
Bóng tre: rồng ngược rắn xuôi!
Khách tiên giấc quế hồn mai mơ màng!
Tiếng trùng rền rĩ kêu thương.
Nhịp chầy uể oải nện vang ngoài thành!
Thảm thay là tấm ly tình.
Tiếc thay là giấc mộng lành đêm qua.
Rầy rầy đắm nguyệt say hoa.
Trông vời người ngọc biết là đi đâu.
HỀ - Trời đã gần sáng! Đi sớm lấy độ đường! Con xin dong đóm đi trước!
CẬU TRƯƠNG :
Cành dương tha thướt buông chùng …
Đoái trông thêm bận tấm lòng hôm mai!
Nước khe róc rách chẩy xuôi …
Vẳng nghe còn tưởng tiếng người khóc than!
Chập chờn trăng xế đèn tàn …
Nỗi buồn chất lại tim gan đã đầy!
Sầu xưa đổ lôn hận dầy.
Gỡ càng thêm rối! Gột ngày nào phai?
Trừ đem bút giấy thay lời.
Trăm thương nghìn nhớ ai người biết cho? …
hết: CHƯƠNG IV - TAN MỘNG, xem tiếp: LỜI PHÊ BÌNH CẢ CHƯƠNG
Lời bình: Kim Thánh Thán
Dịch thuật : Nhượng Tống
Đánh máy: Phong Nguyệt
Nguồn: VNTQ
Được bạn: mickey đưa lên
vào ngày: 15 tháng 6 năm 2005
Minhcineenebo # Friday, November 22, 2013 6:21:56 PM
Vương Thực Phủ
TÂY SƯƠNG KÝ (MÁI TÂY)
LỜI PHÊ BÌNH CẢ CHƯƠNG
Người thủa xưa đọc vở Mái Tây, đến hết mười lăm chương trên rồi, đến chương mười sáu, bỗng thấy viết ra câu chuyện "Tan mộng", liền đập bàn kêu là hay tuyệt! Ý nói rằng: Một cuốn văn dài, thu thúc như vậy, thực khiến cho có vẻ như sương, như sóng, man mác không cùng! Rồi đó người nọ truyền người kia, không ai là không nói theo thuyết ấy. Riêng Thánh Thán ngày nay, lòng trộm nghĩ là không phải thế! Sách nói rằng: "Bậc trên cùng là lập đức. Thứ nữa là lập công. Thứ nữa là lập ngôn". Thế nào là lập đức? Như Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ, Chu Công, Khổng Tử, lấy chí đức của mình, giúp trời hoá dân, để cho muôn đời hưởng phúc mãi mãi, thế là lập đức. Thế nào là lập công? Như Vũ san đất khơi nước; Hậu Tắc tìm ra các giống thóc; Nhân Toại dậy cách dùng lửa; Thần Nông nhận xét các vị thuốc; cho đến những người đem mình che chở một thành; đem sức giúp đỡ cho một làng; đem trí tạo ra món đồ; đem tài dựng ra một nghề nghiệp; truyền cho đời sau, lợi dụng không dứt, thế là lập công. Thế nào là lập ngôn? Như Chu Công soạn ra Phong, Nhã; Khổng Tử viết ra Xuân Thu. Phong, Nhã là những lời nói thái hoà vui vẻ; Xuân Thu là những lời cứng cáp, khắc khổ; dưới nữa đến các bậc đại gia trong mấy nghìn năm nay, vuốt ngực nghĩ, vung bút viết, làm cho sách của họ cả nước cùng học, thuyết của họ mọi nhà đều tin; lại dưới nữa đến những ông già, bà lão, những đàn bà trẻ con, ở vào nơi ngõ hẻm hang cùng, nói được một câu hợp lý, nghĩ được một chữ có ích, truyền khẩu lẫn nhau, đời đời nhắc lại, thế là lập ngôn. Ngôn so với đức và công, tuy rằng có kém, nhưng cũng có thể lâu bền được ở đời, cho nên cùng gọi là "lập". Cứ thế mà suy, thì "nói" tuy là việc nhỏ, song thực cũng quan hệ. Văn Vương mất rồi, còn ta ở lại … Dù cho sợ, có tránh làm sao khỏi … Có thể không để ý đến được đâu! …
Vở Mái Tây, chẳng qua chép toàn những lời trai, gái say mến lẫn nhau. Nếu quả cho nó là không đáng trọng khinh, thì có thể đem mà xé, đem mà đốt, cho mất hẳn tăm tích! Triệu Uy hậu đã có nói: "Đó là bọn giắt nhau đi làm những cái vô ích, sao đến nay còn chưa đem mà giết đi?" Thế nhưng ta lại ăn dở, bỏ dở, tiếc rẻ khác nào miếng sườn gà! Như vậy thì tưởng nên xem đi xét lại, tìm cho ra chỗ dụng tâm của người viết mới phải. Vì rằng sách của người ta một khi viết xong, trăm năm còn để, mà lại có thể tới được từng nhà, đến từng ngõ, chỗ nào cũng có cả, như vậy biết đâu nó chẳng riêng có một thâm ý, một sức mạnh, đủ để tự lưu truyền và tự bênh vực lấy mình? Hôm qua nhân cũng đã xét kỹ vở ấy: Chương thứ nhất đã thình lình mà tới, thì chương thứ mười lăm cũng đã thình lình mà đi rồi …Thình lình tới, nhân đó mà viết … Thình lình đi, nhan thế mà có lúc viết xong … Thế thì qua đoạn đó rồi, thật là nhạt như nước tuyết … Khác nào gió tới thì ống hót; gió ngớt rồi ống lại rỗng không … Cớ chi chẳng sợ phiền, lại còn viết thêm một chương? Rắn có chân đâu? Sao bác lại thêm chân cho rắn? Nhưng tôi lại xét kỹ thêm nữa, bấy giờ mới biết rằng: Viết vở hát tuy là nghề mạt, tục thường bảo "xướng ca vô loài" … Thế nhưng lòng đã có một mối mối cảm sâu, thì bút tự khắc viết nên lời chý lý …
Thực ra thì trời đất vốn là cảnh mộng! Chúng sinh vốn là hồn mộng! Từ đời "không trước" ta không rõ cùng vào cõi mộng là năm nào? Sau đời "không sau" ta không rõ cùng ra khởi mộng là năm nào? Đêm mơ khóc mếu, sớm ra được ăn uống … Đêm mơ ăn uống, sớm ra phải khóc mếu … Ta thì lại biết đâu không phải là đêm phải khóc mếu nên sớm ra mơ ăn uống, mà đêm được ăn uống mà sớm ra mơ phải khóc mếu? Có cứ gì đêm mới mơ mà sớm ra không phải là mơ? …
"Người nước Trịnh mơ bắt được con hươu, giấu vào trong hố, hái tàu lá chuối mà đậy" … Hắn cho là không phải mộng, cho nên hái tàu lá chuối mà đậy … Không hái lá chuối mà đậy, thì sợ người ta lấy mất hươu! Hắn cho không phải là mộng, cho nên sợ người ta lấy mất hươu! Ví phỏng người nước Trịnh đương lúc chiêm bao, mà biết là mộng, thì hắn chẳng những không hái lá chuối mà đậy chi, hắn còn không sợ người ta lấy mất hươu nữa! Chẳng những không sợ người ta lấy mất, mà còn không cần giấu vào trong hố nữa! Chẳng những không cần giấu vào trong hố, mà còn không cho là có hươu nữa! Truyện dạy rằng: "Bậc cao không có mộng". Không có mộng ở đây, không phải là không mộng thật đâu … Cùng ở trong mộng nhưng mặc cho nó tự nhiên, đối với chuyện đó coi dửng dưng vậy! Kinh dậy rằng: "Hết thảy phép có làm, nên coi như thế cả!" Thế cho nên gọi là không có mộng vậy!
"… Không bao lâu người nước Trịnh tỉnh dậy, thuận đường ra về, miệng bép xép chuyện đó. Người hàng xóm nghe vậy, không kịp hỏi lại, vội tin là thật! Chạy ra xem cái hố, lật lá chuối lên, liền thấy con hươu!…" Đó chẳng phải là chuyện ngụ ngôn của ông Ngữ Khấu đâu! Việc đời nhiều khi cũng có như thế nữa! Truyện dậy rằng: "Người ngu không có mộng …" Không có mộng ở đây, không phải là không mộng thật đâu! Thực ở trong mộng mà không cho là mộng! Bao nhiêu chuyện huyễn hoặc, đều cho là thật có! Kinh dạy rằng: "Cõi đời hư không, vốn tự không có. Sức nghiệp xoay chuyển, hoà hợp nên có…" Thế cho nên gọi là không có mộng vậy!
"Rồi đó người hàng xóm nấu hươu mà người nước Trịnh chạy sang tranh …" Thì thật rất đỗi tội nghiệp vậy! Hắn vốn không cho là chiêm bao, cho nên vớ được hươu thật! Còn như anh thì đã biết là chiêm bao, mà làm gì có hươu! … Nếu đó là con hươu ở trong mộng, thì ra anh muốn tranh lấy con hươu hươu! Nhược bằng muốn tranh lấy con hươu thật, thì ra anh tranh lấy con hươu không phải của anh rồi! Cái con người ấy thật là chí ngu! Mộng hươu thực là giấc chiêm bao, mà tranh hươu lại là một giấc chiêm bao! Vậy thì vừa rồi tỉnh mộng mà biết là không có hươu, thôi lại cũng là một giấc chiêm bao nốt. May mà ông Ngữ Khẩu còn chưa muốn nói hết … Ví phỏng đương tranh nhau mà mộng lại chợt tỉnh, thì có phải sẽ hối hận về việc tranh nhau đó lắm lắm không?
"… Vậy mà vua nước Trịnh, lại còn chia phần hộ chúng nó! …" Kỳ thực thì con hươu lúc đó, có việc gì mà phải chia! Ví phỏng con hươu đó là con hươu hươu, thì cho cả anh người nước Trịnh, anh hàng xóm nào có ự gì! Chứ sao lại còn phải chia phần cho chúng nó? Vậy thì chia con hươu hươu cho anh hàng xóm hay chia co hươu thật cho annh người nước Trịnh? Nếu chia con hươu hươu, thì ra anh hàng xóm hôm nay lại mơ được nửa hươu! Nếu chia co hươu thật, thì ra anh người nước Trịnh hôm trước chỉ mơ có nửa hươu! … Cho hay đã mộng rồi thì thật là khó mà tỉnh vậy! Trong khi mộng lại mộng nữa, thì tự đoán coi ngay ở trong mộng … Đến khi tỉnh, biết là mộng, thì lại muốn đoán xem; đoán mộng ở trong mộng, thế là điều gì … Nào có biết đâu sự đoán mộng trong lúc này cũng vẫn còn là loanh quanh trong cõi mộng! … Cho nên truyện của ông Nam Hoa kể thật là chí lý: "Trang Chu nằm mơ hoá ra bướm, tự thấy thích chí. Chẳng còn biết có Chu là gì. Đến khi tỉnh dậy thì lại thù lù vậy. Chu vẫn là Chu. Thật không biết Trang Chu năm mơ hoá ra bươm bướm, hay là bươm bướm nằm mơ hoá ra Trang Chu nữa!" Trang Chu với bươm bướm, chỗ đó tất có phân biệt … Phân biệt thế nào? Chu thì là Chu, bướm thì là bướm, đã là Chu còn là bướm sao được? Đã là bướm còn là Chu được sao? Vả chăng bướm đã tỉnh mà là Chu, mà còn nhớ được lúc mơ làm bướm, thì thật là không biết Chu đương mơ làm bướm, hay bướm không hề tự nhớ mình nguyên vẫn là Chu! … Sao vậy? Mơ làm bướm thì thực là mộng, thế nhưng nhớ lại lúc mơ làm bướm, thì cũng lại là mộng … Mơ là Chu; không nhớ lúc làm bướm, thì Chu tỉnh rồi. Nếu Chu không tự nhớ mình là Chu, thì Chu đã tỉnh lắm … Bướm kia không thế, nó vốn không tự nhớ mình là Chu, vì thế cũng không tự nhớ mình là bướm nữa! Bướm không tự nhớ mình là Chu, thế thì bướm tỉnh đấy! Bướm lại cũng không tự nhớ mình là bướm nữa, thế thì bướm tỉnh lắm rồi! Cái đó gọi là "vật hoá"… Ta có biết đâu thân ta bây giờ chẳng phải là thân ta trước kia, khi đương mơ làm bướm? Ta lại có biết đâu thân ta bây giờ trước kia đã tỉnh mà làm Chu? … Ta may mà không nhớ thân trước của ta, thì thân này tuy là bướm, chưa nẩy ra lòng a-lốc-đa-la-tam-riễu-tam-bồ-đề, nhưng có thể là rất tỉnh! Ta không may mà còn nhớ thân này của ta, thì thân này dẫu là Chu, đã nẩy ra lòng a-lốc-đa-la-tam-riễu-tam-bồ-đề, nhưng cũng vẫn là đương mê! Kinh dậy rằng: "Các Phật mình mầu vàng, trang nghiêm trăm phúc tướng, biết phép nói người nghe, thường là có mộng đẹp …" Tôi thì tôi bảo: Mộng nữa mà làm chi! Kinh lại dậy rằng: "… Hoặc mộng làm vua chúa, bỏ cung đền, các vợ cùng mội điều ham muốn, đi bộ tới đạo tràng…" Tôi thì tôi lại bảo: Mộng nữa mà làm chi! Tuyệt biết bao! Đức tiên sư ta là cụ Khổng bỗng dưng ngậm ngùi mà than rằng: "Ta suy lắm mất rồi! Lâu nay ta không lại chiêm bao thấy cụ Chu!" Thực ra thì cụ có những không chiêm bao thấy cụ Chu mà thôi đâu, lúc đó cụ cũng không còn chiêm bao thấy cụ nữa! Cụ cũng không còn chiêm bao thấy cụ nữa, nghĩa là cụ thì cụ làm thế thôi: làm quan được thì làm quan, về nghỉ được thì về nghỉ, ở lâu được thì ở lâu, đi mau được thì đi mau, làm chuột được thì làm chuột, làm sâu được thì làm sâu, làm đạn được thì làm đạn, làm trứng được thì làm trứng: không gì được mà không gì không được, ấy có lớn như thế mới là trời đất! … Ví phỏng bảo rằng không phải thế, mà cho là người ta sống ở đời, Trời đất thực là trời đất, vợ chồng thật là vợ chồng; giầu sang thật là giầu sang, sống chết thật là sống chết, thì ra chưa đọc đến thơ "Tư Can" … Thơ rằng: "Trên chăn dưới đệm mới yên giấc ngủ. Ngủ rồi thì dậy bèn đoán mộng ta. Đoán mộng thế nào? Nào rắn, nào rết! nào gấu, nào heo! Thái nhân đoán rằng: Nào gấu, nào beo ấy là điềm con trai. Nào rắn, nào rết ấy là điềm con gái …" Trời ơi! Trai làm vua, gái làm hoàng hậu, mà ban đầu chẳng qua là một con gấu, một con rắn phảng phất ở trong chiêm bao. Vậy thì người ta ở đời, chả cần phải xếp gối Hàm Đan, rung lá cây hoè, bấy giờ nghỉ gánh ăn cơm, rửa chân lên sập … Đọc sách Chu Lễ, thấy có chép: "Hết năm thì viên quan Chưởng mộng, dâng mộng lên nhà vua" … Nếu mộng mà có thể coi được, lại có thể đem dâng, thì đó há lại không phải là ý lập ngôn của chương mười sáu trong vở Mái Tây đó sao. Những bọn gượng ốm nói ngông như Nhạc Quảng Vệ Giới có hiểu làm sao nổi …
Hiểu được lời giảng này của Thánh Thán có hai cụ Thánh Mặc Tổng Trì, và hai cư sĩ, thầy Hàn Sĩ hiệu Quán Hoa, thầy Vương Y hiệu Đạo Thụ, đều là bạn cùng học theo phép được biên cả vào đây …
hết: LỜI PHÊ BÌNH CẢ CHƯƠNG, xem tiếp: PHÉP ĐỌC VỞ MÁI TÂY